Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 13 tháng 06 năm 2014
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

Chiều 12/6, Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV Công an tỉnh Tây Ninh, cho biết: Đã phối hợp với Công an xã Tân Đông (huyện Tân Châu) tiến hành khám xét nhà của bà Giao Thị Ngờ (64 tuổi, ngụ ấp Đông Tiến, xã Tân Đông), phát hiện bên trong có cất giấu 108 lóng gỗ trắc không rõ nguồn gốc.
Cùng ngày, cơ quan Công an tiếp tục khám xét khu vực nhà ở của bà Trương Thị Hòa (66 tuổi, ngụ ấp Đông Tiến, xã Tân Đông) thì phát hiện bên trong cất giấu 107 lóng gỗ trắc có nguồn gốc nhập lậu từ Campuchia. Xác định số gỗ trên là của Nguyễn Thanh Vũ (24 tuổi) và Đặng Văn Thuận (24 tuổi), cùng ngụ xã Tân Đông. (Công An Nhân Dân 13/6) đầu trang(
Các nhà khoa học Nga vừa công bố hai loài cóc đốm mới là cóc đốm tre (kalophrynus cryptophonus) và cóc đốm Hòn Bà (kalophrynus honbaensis).
Hai loài cóc đốm mới này có đặc điểm hình thái gần giống với loài cóc Kalophrynus interlineatus – một loài khá phổ biến có vùng phân bố rộng khắp Đông Nam Á.
Theo đó, cóc đốm tre (Kalophrynus cryptophonus), tên loài đươc đặt theo một danh từ xuất phát từ tiếng Hy Lạp, “cryptos” có nghĩa là "ẩn", "bí ẩn" và “phonus” có nghĩa là "tiếng kêu". Trong một đợt nghiên cứu ở Bảo Lộc, Lâm Đồng, nhà nghiên cứu người Nga đã  phát hiện tiếng kêu rất lạ của một loài ếch. Khi xác định vị trí tiếng kêu và phải mất hai tuần sau các nhà nghiên cứu mới bắt được loài này trong một chiếc ống tre ở độ cao 800m so với mực nước biển.
Cóc đốm Hòn Bà (Kalophrynus honbaensis) với tên được đặt theo địa danh khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà thuộc tỉnh Khánh Hòa. Loài này được phát hiện ở các khu rừng có độ cao 1.500m so với mực nước biển.
Nhà nghiên cứu Phùng Mỹ Trung cho biết: “Việc phát hiện hai cóc đốm mới ở Việt Nam đã làm gia tăng số lượng loài thuộc giống Kalophrynus lên ba loài và chứng tỏ Việt Nam là quốc gia có đa dạng sinh học cao trong khu vực. Do đó, các cơ quan chức năng cần phải quan tâm, bảo tồn đa dạng sinh học này”. (Tuổi Trẻ 13/6) đầu trang(
Vụ đốt cháy rừng gây thiệt hại hàng tỷ đồng xảy ra cách đây 2 năm tại thôn Chiêm Sơn, xã Duy Sơn (Duy Xuyên) đã được cơ quan điều tra kết luận. Thế nhưng, khi Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) huyện thông báo đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can đã khiến nhiều người dân bức xúc.
Vụ cháy rừng xảy ra ngày 20.8.2013 tại khu vực Đá Mái, xã Duy Sơn. Khi các ông Bùi Hải, Bùi Thuận, Hồ Quyền, Nguyễn Khắc Bảy đốt thực bì cho chủ rừng Hồ Phước Tường tại khu vực rừng xã Duy Trung gặp lúc gió lớn đã làm đám cháy lan rộng sang khu vực rừng Đá Mái, gây thiệt hại gần 40ha keo hơn 3 năm tuổi của hàng chục hộ dân. Hai năm qua, các cơ quan chức năng đã vào cuộc điều tra, xác minh vụ việc. Ngày 8.10.2012, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Xuyên ra Quyết định khởi tố hình sự số 51 và Quyết định khởi tố bị can số 40 đối với Hồ Phước Tường về tội “hủy hoại rừng”.
Tuy nhiên, ngày 18.12.2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện lại ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố hình sự và khởi tố bị can trước đó, từ tội “hủy hoại rừng” sang tội “vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Và ngày 24.4.2014, Viện KSND huyện Duy Xuyên đã ra Thông báo số 49/2014/KSĐT đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can đối với Hồ Phước Tường, khiến người dân không đồng tình.
Ông Võ Thiện Chánh, đại diện cho 33 hộ dân thôn Chiêm Sơn bức xúc: “Nhiều năm nay, người dân chúng tôi đợi chờ cái ngày cơ quan bảo vệ pháp luật làm rõ vụ việc. Bao mồ hôi, công sức, tiền của chúng tôi đã đổ xuống đây nhưng đã bị đốt trơ trụi. Tiền lãi vay ngân hàng để trồng rừng chồng chất mỗi ngày, bà con không có vốn để trồng lại rừng, trong khi người phóng hỏa vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật”. Nhiều người trồng rừng bị thiệt hại bảo, đối tượng gây cháy rừng không hề đặt vấn đề thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho các hộ dân. Trong khi đó, hàng chục hộ có diện tích rừng keo bị cháy, hộ thiệt hại nhiều nhất hơn 5ha, hộ thiệt hại ít nhất cũng 0,5ha.
Theo thống kê, vụ đốt rừng đã thiêu rụi gần 40ha keo, thiệt hại hơn 1,1 tỷ đồng. Trong đó, số tiền thiệt hại về lâm sản của các hộ dân được Nhà nước giao rừng hơn 850 triệu đồng và rừng do Ban quản lý Dự án trồng rừng huyện quản lý hơn 270 triệu đồng. Sau khi các hộ dân khiếu nại, các ngành chức năng của tỉnh đã xem xét và đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật huyện Duy Xuyên giải quyết theo thẩm quyền. Trao đổi với PV, các hộ dân cho biết, tài sản thiệt hại của họ là rất lớn nên đề nghị các cơ quan thực thi pháp luật yêu cầu ông Hồ Phước Tường có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Thượng tá Dương Trung Nhi - Trưởng Công an huyện Duy Xuyên cho rằng, trong quá trình điều tra, công an đã tốn nhiều thời gian, công sức, xác minh thiệt hại về rừng hơn cả tỷ đồng nên đơn vị đã chuyển toàn bộ hồ sơ sang Viện KSND huyện đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Vụ đốt cháy rừng này đã từng có ý kiến trong kỳ họp HĐND của huyện. Tuy nhiên, quan điểm của Viện KSND là đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can.
Viện trưởng Viện KSND huyện Duy Xuyên Phạm Đăng Anh cho rằng, diện tích rừng bị cháy tại Duy Sơn do hành vi đốt thực bì của các ông Bùi Hải, Bùi Thuận, Hồ Quyền, Nguyễn Khắc Bảy để trồng lại rừng mới sau khi khai thác cho ông Hồ Phước Tường. Việc dọn vệ sinh rừng theo phương pháp đốt để trồng lại rừng mới cũng là công việc bình thường theo tập quán địa phương. Các bị can đã trực tiếp phát hỏa nhưng không đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy nên đám cháy lan rộng vượt ngoài diện tích phát ranh cản lửa và không kiểm soát được.
Tuy nhiên, các bị can là người lao động làm thuê, trình độ học vấn thấp nên nhận thức về phòng cháy, chữa cháy còn hạn chế. Hậu quả là do sự rủi ro trong lao động sản xuất. Việc miễn trách nhiệm hình sự, xử lý hành chính cũng đảm bảo giáo dục về phòng ngừa chung.
Rõ ràng, các cơ quan bảo vệ pháp luật của huyện Duy Xuyên vẫn có nhiều quan điểm trái chiều trong giải quyết vụ đốt cháy rừng ở xã Duy Sơn. Ai là người chịu trách nhiệm bồi thường và bao giờ thì quyền lợi của người dân được xem xét giải quyết thỏa đáng cho đến nay vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ... (Báo Quảng Nam 13/6) đầu trang(
Bảo tồn đa dạng sinh học tại VN: Khoảng trống giữa nhận thức và hành động
Theo kết quả khảo sát nhận thức về đa dạng sinh học (ĐDSH) của Tổ chức Liên minh Đạo đức Thương mại Sinh học (UEBT) từ 2009 – 2014 vừa được công bố mà Việt Nam là năm đầu tiên tham gia, cho thấy, mặc dù nhận thức về ĐDSH đã được tăng lên nhưng nhận thức được giá trị của bảo tồn thiên nhiên còn là một khoảng trống chưa có lời giải đáp...
Theo kết quả khảo sát của UEBT được biết có đến 98% người Việt Nam khi được hỏi đều cho rằng, họ chú ý đến nguồn gốc sản phẩm có xuất xứ của sản phẩm, người tiêu dùng Việt Nam hay nhiều nước trên thế giới ngày càng hướng tới sự minh bạch. 77% người được hỏi nói rằng họ muốn biết về nguồn gốc của nguyên liệu tự nhiên.
Điều này cho thấy người tiêu dùng Việt Nam ngày càng nhận thức cao về đa dạng sinh học. Và câu hỏi được đặt ra là liệu bản thân họ đã đóng góp gì vào việc bảo tồn đa dạng sinh học, thì có tới 48% người được hỏi cho rằng, sự đóng góp cho đa dạng sinh học của mỗi cá nhân là cần thiết và 84% người cho rằng vừa cần thiết và vừa quan trọng.
Bên cạnh đó, nhiều chiến dịch tuyên truyền, nâng cao hiểu biết trong việc bảo vệ các loài động, thực vật quý hiếm được đẩy mạnh, có sức lan tỏa lớn như: Chiến dịch "Thay đổi hành vi - Giảm tiêu thụ các sản phẩm động thực vật hoang dã" hay đưa loài gấu hoang đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao vừa chính thức có mặt trong tem và bưu thiếp của Việt Nam. Những hành động này đã đóng góp thiết thực vào công tác bảo tồn Gấu nói chung và các loài quý hiếm của Việt Nam nói riêng.
Mặc dù nhận thức về giá trị của bảo tồn đa dạng sinh học đang được nâng cao trong cộng đồng, nhưng để có những hành động thiết thực và có những ứng xử văn minh với thiên nhiên vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ với người dân. Thậm chí, con người còn có những hành xử thô bạo với thiên nhiên.
Với việc quan tâm đến những sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên không đồng nghĩa với việc giữ gìn và bảo tồn, mà ngược lại, con người đang coi đó là một sản phẩm được “thiên nhiên ban tặng” hay đó là “thần dược” có công dụng vạn năng nên khai thác một cách kiệt quệ, gây nên mất cân bằng sinh thái.
Một thực tế đáng buồn là do nhận thức được giá trị của đa dạng sinh học nên việc săn bắn, buôn bán trái phép động thực vật vẫn diễn ra không ngừng. Tại Việt Nam từ năm 2000 đến tháng 6/2013, Cục Kiểm lâm ghi nhận gần 18.500 vụ vi phạm, tịch thu hơn 199.000 cá thể tương đương gần 700.000 kg.
Tuy nhiên, theo ước tính, con số này mới chỉ chiếm 5 - 10% số lượng trên thực tế. Bình quân mỗi năm có khoảng 3.700 - 4.500 tấn động vật và gần 50.000 tấn thực vật hoang dã bị khai thác và buôn bán bất hợp pháp, chủ yếu là các loài linh trưởng, gấu, tê tê, cá, rùa, rắn, hoa lan và các thành phẩm, dẫn xuất của các loài động thực vật hoang dã. Việt Nam vô hình chung đang là “điểm nóng” trong việc tiêu thụ và buôn bán động vật hoang dã trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó, việc coi một loạt các sản phẩm từ thiên nhiên như sừng tê giác, cao hổ cốt, mật gấu... là những “thần dược” chữa được bách bệnh cũng đang tồn tại trong một bộ phận không nhỏ người dân. Trong giới thượng lưu, nhu cầu này ăn sâu bén rễ tới mức họ sẵn sàng chấp nhận bất cứ mức giá nào để có được các món như sừng tê giác, cao hổ cốt…
Với nhiều người, việc ăn thịt thú rừng hoặc sử dụng các sản phẩm từ thú rừng càng quý, độc và dị thì được coi là một sự sành điệu, là cách để chứng tỏ đại gia nhiều tiền. Những điều này minh chứng cho thấy rằng, khoảng cách từ nhận thức, hiểu biết đến hành động thiết thực trong đại bộ phận dân cư trước sự kiệt quệ của “mẹ thiên nhiên” vẫn là một khoảng xa vời…(Tài Nguyên & Môi Trường 12/6) đầu trang(
Xã Pú Xi được chia tách từ xã Mường Mùn (huyện Tuần Giáo) theo Nghị quyết số 45/NQ - CP ngày 25/8/2012 của Chính phủ, song đến giữa năm 2013 mới chính thức đi vào hoạt động. Xã đã thành lập ban chỉ huy phòng chống cháy rừng và các tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng tại thôn bản; đồng thời triển khai các giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ tốt tài nguyên rừng.
Xã Pú Xi hiện có 4.561,4ha rừng, chủ yếu là rừng đặc dụng (hơn 3.500ha) phân bố ở các bản Thẩm Táng, Thẩm Mú, còn lại là diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất trạng thái IIa, IIb. Rừng sau nhiều năm được khoanh nuôi bảo vệ theo các chương trình dự án nên phát triển tốt, độ tán che từ 0,5 - 0,6m; chiều cao trung bình mỗi cây từ 8 -12m.
Anh Lường Văn Hoài, kiểm lâm địa bàn xã Pú Xi cho biết: Do phần lớn diện tích rừng ở Pú Xi là rừng đặc dụng và rừng đầu nguồn phòng hộ, số lượng động, thực vật quý còn khá phong phú, trong khi đó nhu cầu ngoài thị trường về những loại sản vật này rất cao nên không ít đối tượng bất chấp quy định khai thác trái phép.
Quyết tâm giữ rừng, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng hiện có, lực lượng chức năng phối hợp chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra, kiểm soát, truy quét các đối tượng khai thác tài nguyên rừng trái phép; rà soát các khu rừng nguy cơ cao có thể xảy ra cháy rừng trong mùa khô để có phương án bảo vệ, phòng cháy chữa cháy tại cơ sở.
Kiểm lâm địa bàn phối hợp với ban chỉ huy bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng của xã đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tới người dân về công tác bảo vệ và phát triển rừng; lồng ghép nội dung tuyên truyền trong các cuộc họp dân tại thôn bản, nhất là đối với các hộ dân sinh sống gần rừng. Tổ chức cho 100% hộ dân ký cam kết bảo vệ rừng, không phá rừng, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép. Nhờ đó, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xã Pú Xi không xảy ra cháy rừng và xâm hại tài nguyên rừng trái phép.
Thực hiện kế hoạch giao đất giao rừng cho nhân dân, đến nay, xã Pú Xi đã hoàn thành phân loại trạng thái rừng, trữ lượng rừng trước khi giao cho nhân dân. Toàn bộ diện tích rừng hiện có trong xã được giao cho 100% thôn bản quản lý, bao gồm: Hát Khoang, Hát Lẩu, Hua Mức 1, Hua Mức 2, Hua Mức 3, Hua Mùn, Pú Xi 1, Pú Xi 2, Thẩm Mú và Thẩm Táng. Bản Thẩm Táng cách trung tâm xã Pú Xi gần 25km, giao thông khó khăn, song công tác quản lý và bảo vệ rừng rất tốt.
Ông Vừ A Của, Trưởng bản Thẩm Táng cho biết: Bản có 36 hộ dân, 100% là dân tộc Mông. Diện tích rừng đặc dụng nhiều nhất xã với trên 2.800ha đều nằm trong lưu vực sông Đà. Cuộc sống của bà con còn nhiều thiếu thốn, vất vả, song bà con đều ý thức giữ rừng bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái; không ai trong bản phá rừng, xâm hại rừng. Mùa làm nương dân bản đều thực hiện đúng quy trình đốt nương theo quy định của cán bộ kiểm lâm địa bàn, vì vậy không để xảy ra tình trạng đốt nương cháy lan vào rừng. Mới đây, mỗi hộ dân trong bản được nhận hơn 15 triệu đồng tiền tạm ứng chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bà con rất phấn khởi và ký cam kết bảo vệ rừng tốt để có thêm thu nhập từ rừng.
Nhằm bảo vệ và phát triển diện tích rừng trên địa bàn, cùng với việc tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xã Pú Xi với sự hỗ trợ của Nhà nước về cây giống và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc. Đây được xem là giải pháp trọng tâm để xã đạt mục tiêu nâng cao tỷ lệ che phủ rừng lên 40% vào năm 2020. (Báo Điện Biên Phủ 13/6) đầu trang(
23 giờ ngày 11-6, nhận được tin báo từ người dân về việc lực lượng kiểm lâm Hạt Kiểm lâm Hòa Vang phát hiện, bắt giữ một xe tải chở đầy gỗ lậu, nhóm PV lập tức lên đường. Suốt hơn một giờ đồng hồ vượt quãng đường quanh co dài hơn 40km, PV đến hiện trường và chứng kiến việc đấu tranh, bắt giữ gỗ lậu của lực lượng kiểm lâm đầy gian nan, nguy hiểm.
Sau khi được “thổ địa” tên Như (người dân tộc Cơtu, thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang) dẫn đường, PV tìm đến Trạm quản lý, bảo vệ rừng sông Nam đóng ở thôn Tà Lang. Vượt qua hàng rào ba-ri-e của trạm này, phải mất thêm gần 15 phút chạy xe máy lần theo con đường đất lởm chởm, khúc khuỷu dài gần 2km, PV mới tới được nơi chiếc xe tải chở gỗ lậu bị bắt giữ ở tiểu khu 21, địa bàn thôn Tà Lang (xã Hòa Bắc).
Tại hiện trường, trước mắt là chiếc xe tải BKS 92C-02388 nằm ép vào bên vệ đường chỉ rộng vừa đủ chiếc xe. Trên xe là hàng trăm tấm gỗ đã được xẻ vuông vức và được buộc khá chắc bằng sợi xích sắt to.
Ông Nguyễn Đức Toàn, Tổ trưởng Tổ kiểm lâm cơ động thuộc Hạt Kiểm lâm Hòa Vang kể, khoảng 22 giờ ngày 11-6, sau khi lực lượng kiểm lâm phát hiện, bắt giữ chiếc xe chở gỗ lậu, thì đến 22 giờ 30 cùng ngày, lực lượng chức năng phát hiện hai đối tượng xuất hiện gần chiếc xe. Sợ đối tượng manh động lao vào lấy gỗ hay đuổi đánh, ngay sau đó, Tổ kiểm lâm cơ động đề nghị lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Hòa Vang chi viện thêm lực lượng. Và sau khi có lực lượng chi viện thêm, các đối tượng này đã bỏ đi.
Có mặt tại hiện trường, ông Lê Đình Thám, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, động viên tinh thần lực lượng kiểm lâm phải thức trắng đêm quyết tâm bảo vệ tang vật, không để xảy ra việc lâm tặc manh động tấn công, tẩu tán gỗ lậu. Sao không đưa chiếc xe về đơn vị ngay trong đêm để tiện cho việc xử lý?
Ông Lê Đình Thám cho rằng, địa thế rừng núi hiểm trở, vắng vẻ nên việc tổ chức đưa xe về rất khó khăn, bởi lẽ chỉ cần tài xế manh động trút gỗ xuống sông hoặc bỏ chạy thì rất khó ngăn chặn kịp. Đó là chưa kể trên đường đi, các đối tượng đồng bọn có thể dùng gạch đá, cây gậy tấn công lực lượng chức năng...
Vậy là suốt cả đêm, gần 10 cán bộ Hạt Kiểm lâm Hòa Vang thức trắng, túc trực canh giữ chiếc xe chở gỗ lậu. Giữa đêm khuya thanh vắng, người thì trải bạt nằm dưới đất, người thì mắc võng trên thùng xe nằm canh giữ. 2 giờ 30 ngày 12-6, ai nấy đều mệt lả. Mọi người quây quần bên nhau chia từng cái bánh ngọt, chai nước lọc còn sót lại để lót dạ chờ trời sáng.
Sáng 12-6, lực lượng Kiểm lâm Hòa Vang đưa xe vào Trạm quản lý, bảo vệ rừng sông Nam tiến hành lập biên bản vi phạm, với sự chứng kiến của cán bộ Trạm quản lý, bảo vệ rừng sông Nam. Trưa cùng ngày, lực lượng chức năng áp tải chiếc xe chở gỗ lậu về trụ sở Hạt Kiểm lâm Hòa Vang để xử lý.
Tài xế xe Nguyễn Hoàng (SN 1985, trú tổ 2 Nam Mỹ, xã Hòa Bắc) cho biết, chiều 11-6, Hoàng lái xe tải BKS 92C-02388 đi qua cổng ba-ri-e Trạm quản lý, bảo vệ rừng sông Nam để vào khu vực đèo Mũi Trâu chở keo lá tràm của người dân. Nhưng tối cùng ngày, gặp một người tên Thịnh ở Nam Ô, phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên Chiểu) thuê với giá 3 triệu đồng vận chuyển gỗ lậu đi tẩu tán. Sau khi chiếc xe chất đầy ắp gỗ trên đường chuẩn bị chạy ngược ra hướng cổng ba-ri-e Trạm quản lý, bảo vệ rừng sông Nam, thì bị lực lượng kiểm lâm Hạt Kiểm lâm Hòa Vang bắt giữ tại Khe Nước khu vực đèo Mũi Trâu.
Theo quan sát, khác với những chiếc xe chở gỗ lậu thông thường, gỗ lậu trên xe tải BKS 92C-02388 được chở công khai, không hề giấu giếm. Thùng xe chất đầy tràn những phách gỗ được xẻ vuông vức, không hề che đậy bạt kín, hay dùng cây lá ngụy trang. Có mặt tại Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, bà Vũ Thị Nga (SN 1980, trú tổ 132, phường Hòa Hiệp Nam) - chủ số gỗ lậu nói trên - cho hay người đàn ông tên Thịnh là chồng bà, và số gỗ này bà mua lẻ trước đó của lâm tặc để về làm nhà chứ không buôn bán.
Qua kiểm tra, tổng số gỗ lậu được thu giữ gồm 61 phách, mỗi phách dài khoảng 2,5m, trong đó có 58 phách xoan đào, 3 phách kiền kiền, tổng cộng hơn 6,2m3. Một cán bộ Hạt Kiểm lâm Hòa Vang nhận định, loại gỗ xoan đào, kiền kiền này chỉ có ở trong vùng rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa. Cán bộ kiểm lâm này cũng nói thêm, việc vận chuyển này cho thấy những đối tượng trên thực hiện công khai, không hề sợ sệt.
Theo ông Lê Mạnh Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, trước mắt lực lượng chức năng của Hạt lập biên bản tạm giữ phương tiện, tang vật vi phạm; đồng thời phối hợp với Công an huyện Hòa Vang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Chiều 12-6, một lãnh đạo Sở NN&PTNT thành phố Đà Nẵng khẳng định sẽ chỉ đạo lực lượng kiểm lâm điều tra, xử lý nghiêm đối tượng có hành vi khai khác, vận chuyển gỗ lậu, cũng như những cá nhân liên quan nếu có. (Báo Đà Nẵng + Công An Nhân Dân + Nông Nghiệp VN + VOV 13/6) đầu trang(
Rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim tại tiểu khu 165, giáp ranh xã Trạm Hành, TP.Đà Lạt và thị trấn Dran, H.Đơn Dương (Lâm Đồng) đang bị xâm hại.
Cả một khu rừng bị san ủi để trồng chè; cách đó không xa, nhiều khoảnh rừng bị “thôn tính” dần để trồng cà phê . Ngày 11.6, lãnh đạo xã Trạm Hành thừa nhận có một phần đất rừng bị xâm lấn nằm trên địa bàn xã. (Thanh Niên 13/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng đã phối hợp với chính quyền địa phương, các ngành liên quan tổ chức hơn 180 đợt truy quét tại các vùng giáp ranh và khu vực trọng điểm, đã phát hiện 517 vụ vi phạm về lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Trong đó, chủ yếu là vi phạm về lĩnh vực khai thác , mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép với 496 vụ. Các cơ quan chức năng đã xử lý 503 vụ, tịch thu gần 320 m³ gỗ các loại, 90 xe máy độ chế và một số phương tiên khác, thu nộp ngân sách hơn 2,4 tỷ đồng. (Báo Ninh Thuận 12/6) đầu trang(
Cây keo đã tạo nguồn dăm gỗ xuất khẩu, hằng năm đem lại nguồn thu lớn cho nhiều hộ dân Quảng Ngãi. Nhưng cũng từ việc trồng keo ồ ạt thiếu quy hoạch, thiếu quy trình kỹ thuật khai thác... dẫn đến môi trường bị tàn phá nghiêm trọng, đang là mối lo ngại ở nhiều địa phương trong tỉnh.
Trên đường lên huyện miền núi Ba Tơ, đi ngang qua khu vực đèo Đá Chát vùng giáp ranh giữa huyện miền núi Ba Tơ với Nghĩa Hành, Đức Phổ hay về huyện miền núi Minh Long, qua khu vực xã Hành Thiện (Nghĩa Hành) Long Mai (Minh Long) sẽ chứng kiến nhiều khu đồi keo sau thu hoạch trơ ra những đá là đá.
Nhiều hộ trồng keo ở các xã Long Mai, Thanh An (Minh Long) cho biết, sau thu hoạch keo, đất bị xói mòn nghiêm trọng. Có người giải thích: "Cây gỗ keo có sức sống dữ lắm. Hễ cắm được xuống đất là cây keo lớn nhanh nên mình cứ việc chọn những nơi đất chưa lộ đá mà trồng. Thậm chí, nơi nào đất bào mòn hết thì cũng cố "cắm" cây xuống rồi lấy đá chất bao quanh. Mưa xuống, đất ở phía trên đồi trôi xuống tụ lại cây sẽ bén rễ".
Cái "lý" trồng cây bất chấp xói mòn đất đai của nhiều hộ trồng rừng đã làm cho đất rừng ngày càng bị bào mòn nghiêm trọng hơn. Và chuyện đồi đất biến thành đồi đá là điều không tránh khỏi.
Tại khu đồi nằm ở Km số 8 Quốc lộ 24, và ở nhiều địa phương như xã Ba Động, Ba Thành, Ba Giang... (Ba Tơ) hay Sơn Hạ, Sơn Ba... (Sơn Hà), Long Mai, Long Sơn... (Minh Long) ngày trước "rừng che bộ đội" và bên dưới là những cánh đồng phì nhiêu. Nay, thay vào đó là những rừng keo mà sau khi thu hoạch đã bị mưa bào mòn, trơ ra những đồi đá. Nhiều lần trong các cuộc tiếp xúc đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, cử tri đã phản ánh về môi trường bị tàn phá do trồng keo. Thế nhưng, vẫn chưa có giải pháp khắc phục.
Cây keo bây giờ không chỉ được trồng ở đồi thấp mà còn "liên thông" lên các núi cao. Đến kỳ thu hoạch, công việc đầu tiên là các chủ hộ, chủ dự án trồng keo thuê xe lên mở đường. Thế là những con đường ngang dọc trên núi hình thành. Mưa xuống, theo những con đường này nước từ trên đỉnh núi ào xuống cuốn theo đất đá trên đồi nên sự bào mòn núi nhanh và khủng khiếp hơn.
Ông Võ Đình Tiến - Phó Chủ tịch UBND huyện Minh Long cho biết, đã nhiều lần huyện chỉ đạo các xã thông báo cho những hộ dân, tổ chức khai thác keo, không được mở đường tràn lan, chia cắt quả đồi, ảnh hưởng môi trường. Tuy vậy, đó cũng là nhắc nhở chứ chưa có biện pháp xử lý nghiêm túc, nên đến mùa khai thác, những con đường vận chuyển keo lại mở tăng thêm.
Ở huyện miền núi Ba Tơ, những con đường keo càng chằng chịt hơn. Những quả đồi cao như đồi Kiến, đồi Cây Xoài, núi Dốc Đứng, Hố Bay... hay những quả đồi vùng Tân Long Thượng xã Ba Động, Ba Xa, Ba Ngạc, Ba Tô và các huyện miền núi khác, cứ mỗi mùa thu hoạch keo là có những con đường mới. Mùa mưa lũ, nước từ trên những ngọn núi ào xuống qua đồi trọc, qua những "con đường keo" dẫn đến sạt lở đất nhanh hơn và sông, suối nước dâng lên đột ngột. Còn mùa nắng càng gay gắt hơn.
Nhìn vào kết quả trồng rừng hằng năm của Sở NN&PTNT cho thấy, độ che phủ của rừng năm sau tăng hơn năm trước. Nhưng con số này không đem lại sự lạc quan về môi trường. Bởi một chu kỳ của cây keo từ 5 - 7 năm. Sau khai thác, rừng trở thành đồi trọc. Chưa kể keo do dân trồng, vì đời sống khó khăn, họ thu hoạch trước chu kỳ, dẫn đến đồi ngày càng "trọc" hơn. Sau nhiều chu kỳ trồng và khai thác keo, môi trường lại bị ảnh hưởng.
Cơn lũ lịch sử xảy ra ở Quảng Ngãi vào cuối năm 2013 đã đi qua hơn sáu tháng. Tuy nhiên, đến bây giờ, ở nhiều địa phương trong tỉnh, dấu vết của trận lũ lịch sử vẫn còn. Tại cánh đồng Mang K'Rá xã Ba Xa (Ba Tơ), những cây to cả người ôm bị lũ cuốn trôi cùng với đất, cát, đá tấp, lấp cả những dãy ruộng dài. Dòng sông Re, qua những cơn mưa lớn, nước từ các dãy núi "trọc" ào xuống gây nên cảnh lũ quét dọc triền sông và xẻ cánh đồng ra làm ba phía.
Già Phạm Văn Xí xã Ba Xa thở dài: "Ngày trước, mùa mưa về, nước cũng lớn, cũng dâng cao, nhưng đâu chảy xiết như bây giờ. Sau mưa lũ, đồng đọng phù sa nên cấy sạ lúa lên xanh tốt. Còn giờ thì lũ muốn... "bứng" cả cánh đồng này đi luôn.
Ở huyện Nghĩa Hành, hậu quả của cơn lũ hồi trung tuần tháng 11 năm 2013 đến nay vẫn còn nhiều cảnh đá chồng lên đá xóa luôn cả đất sản xuất của dân. Gần 3ha keo, 3 năm tuổi của ông Hồ Thanh Bộ thôn Long Bình xã Hành Tín Tây bị mưa lũ, sạt núi cuốn hết phân nửa. Ông Bộ ngao ngán: "Trồng và khai thác hết keo nên đất trơ ra. Trời mưa, đất rừng bị cuốn phăng thì mình chịu chứ biết quy tội cho ai".
Mùa mưa lũ thì như vậy, còn mùa nắng nóng những năm gần đây càng gay gắt hơn. Những cánh rừng tự nhiên bị tàn phá rồi biến thành rừng keo trơ đá không giữ được nước nên mùa nắng lượng nước ở vùng đầu nguồn bổ sung cho các hồ đập rất ít nên ao hồ khô kiệt. Năm nay, mới đầu mùa hạ, mà các dòng sông lớn đã cạn dòng, nhiều nơi đã xảy ra hạn. Theo dự báo của ngành chức năng,  năm nay, toàn tỉnh có khoảng 24.000ha lúa và hoa màu có khả năng bị hạn. Đây là con số lớn hơn nhiều so với các năm trước.
Sông, suối khô cạn có thể làm cho khoảng 22.150 người bị thiếu nước sinh hoạt, hơn 17.800 con gia súc có khả năng thiếu nước uống. Một số nơi trong tỉnh hiện nay đang "gồng mình" chống hạn và tìm nguồn nước để sinh hoạt.
Thực tế này cho thấy "ăn của rừng rưng rưng nước mắt". Đằng sau những đồi gỗ keo bạc tỷ, Quảng Ngãi cũng đang "trả giá" cho việc biến rừng tự nhiên thành rừng sản xuất và khai thác gỗ keo một cách thiếu quy hoạch, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người. (Báo Quảng Ngãi 12/6) đầu trang(
Khoảng 10h30 ngày 7/6, xe khách chạy tuyến thị trấn Bút Sơn (huyện Hoằng Hóa) lên xã Thanh Quân, Thanh Phong (huyện Như Xuân) đã bị lực lượng kiểm lâm truy đuổi và bắt giữ xe đưa về Hạt kiểm lâm huyện Như Xuân.
Tang vật thu giữ là 3 hộp gỗ dài trên 3m, rộng khoảng 50cm, dầy chừng 30cm. (Bảo Vệ Pháp Luật 13/6) đầu trang(
10-6, Chủ tịch UBND tỉnh đã có Công điện số 03/UBND-CĐ về việc tăng cường công tác phòng chống cháy, chữa cháy rừng gửi  Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Công ty TNHH MTV LCN Long Đại, Công ty TNHH MTV Bắc Quảng Bình, Công ty CP Giống lâm nghiệp Bắc Trung Bộ, UBND các huyện, thành phố; nội dung như sau:
Trong thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh đã có nắng nóng gay gắt, nhiệt độ cao, tại một số địa bàn đã xảy ra cháy rừng. Theo dự báo sẽ còn xảy ra nhiều đợt nắng nóng, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao; để chủ động phòng chống và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cháy rừng, bảo vệ tài nguyên rừng trên địa bàn, UBND tỉnh yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện kế hoach bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương liên quan, các chủ rừng thực hiện nghiêm túc các nội dung sau:
1. Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh:
- Phối hợp với Đài PT-TH tỉnh, Báo Quảng Bình tăng cường công tác tuyên truyền, cảnh báo, dự báo cháy rừng trong những ngày nắng nóng dễ xảy ra cháy rừng; đồng thời, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng;
- Chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, Công an tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh và các lực lượng liên quan khác có phương án bảo đảm lực lượng, vật tư, trang thiết bị, phương tiện và hậu cần thường trực để sẵn sàng ứng phó trong trường hợp xảy ra cháy rừng.
2. Sở Nông nghiệp và PTNT:
- Chỉ đạo Ban Quản lý Rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình tổ chức lực lượng thường trực, tuần tra bảo vệ rừng; có phương án bảo đảm lực lượng, vật tư, trang thiết bị và hậu cần thường trực để sẵn sàng phối hợp với các lực lượng ứng phó trong trường hợp xảy ra cháy rừng;
- Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã kiểm tra, nghiêm cấm những người không có nhiệm vụ tự ý vào rừng khai thác lâm sản trái phép; không được mang lửa, chất nổ và chất dễ cháy vào rừng; không đốt nương làm rẫy; thu dọn thực bì làm giảm vật liệu cháy, không xử lý thực bì bằng biện pháp đốt trong những ngày nắng nóng, chuẩn bị kỹ phương án chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ, thường xuyên cảnh báo cháy rừng ở những khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, tổ chức lực lượng trực 24/24 giờ trong ngày để phát hiện và dập tắt kịp thời những đám cháy khi mới xuất hiện.
3. Công ty TNHH MTV LCN Long Đại, Công ty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình, Công ty CP Giống lâm nghiệp Bắc Trung Bộ và các chủ rừng khác trên địa bàn tăng cường tuần tra, canh gác, trực 24/24 giờ trong ngày để phát hiện cháy rừng và huy động lực lượng, phương tiện dập lửa khi có cháy rừng xảy ra; đồng thời báo cáo ngay với các cơ quan, đơn vị có liên quan để phối hợp, ứng cứu kịp thời.
4. UBND các huyện, thành phố, thị xã:
- Tăng cường công tác tuyên truyền các nội dung, biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trên các phương tiện thông tin để các chủ rừng và người dân biết, thực hiện;
- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các địa phương và các chủ rừng trên địa bàn thực hiện nghiêm túc công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; xử lý nghiêm tình trạng đốt lửa trái phép trong rừng, ven rừng, đặc biệt là người dân đốt lửa làm nương rẫy.
- Chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị liên quan, UBND các xã (nơi có rừng), các Ban quản lý rừng phòng hộ tổ chức lực lượng thường trực, tuần tra bảo vệ rừng;  có phương án bảo đảm lực lượng, vật tư, trang thiết bị và hậu cần thường trực để sẵn sàng phối hợp với các lực lượng ứng phó trong trường hợp xảy ra cháy rừng. Những địa phương để xảy ra cháy rừng, phá rừng nghiêm trọng phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và xử lý đối với người đứng đầu đơn vị.
5. Các thành viên Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ đôn đốc, chỉ đạo hướng dẫn UBND các huyện, thành phố, thị xã, các sở, ban, ngành, đơn vị triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn.
Yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, các sở, ngành, đơn vị liên quan, UBND các huyện, thành phố thực hiện nghiêm túc công điện này. Giao Văn phòng Thường trực Các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh theo dõi, đôn đốc các sở, ngành, đơn vị, địa phương thực hiện.   (Báo Quảng Bình 12/6) đầu trang(
Các nhà khoa học vừa công bố phát hiện loài thằn lằn ngón mới ở khu vực mũi cực đông thuộc tỉnh Khánh Hoà.
Loài mới có tên khoa học Cyrtodactylus cucdongensis. Tên của chúng được đặt theo vùng phân bố thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà. Loài này có đặc điểm hình thái gần giống với thằn lằn ngón cát tiên Cyrtodactylus catienensis được phát hiện ở Vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai năm 2010.
Theo Website sinh vật rừng Việt Nam, thằn lằn chân ngón cực đông có kích thước trung bình, trên lưng chúng có các đốm màu nâu nhạt. Chúng có chiều dài đầu và thân hơn 65 mm. Đây là loài thằn lằn ngón thứ 33 được ghi nhận ở Việt Nam.
Điểm cực đông là nơi tiếp giáp vùng đất liền gần nhất với Biển Đông của Việt Nam và là khu vực có khí hậu thời tiết khá khắc nghiệt. Nơi này rất khó tiếp cận vì các khu rừng ven biển phong phú các loài thực vật có gai, mọc chen vào các tảng đá mẹ.
Các nhà khoa học từng phát hiện hai loài mới ở đây trong năm 2011 và 2013 là tắc kè trường Gekko truongi và thằn lằn ngón kingsadai Cyrtodactylus kingsadai. (VnExpress 12/6) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng tàn phá rừng lấy đất sản xuất tại khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa diễn ra khá công khai, thế nhưng không thấy chính quyền địa phương và cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều hộ dân di cư tự do đến khu vực này, để có đất làm nương rẫy, họ đã phá rừng. Trong khi đó, 9.345ha (chủ yếu là rừng và đất lâm nghiệp) nơi đây chưa được phân định rõ quyền quản lý…
Một ngày đầu tháng 6/2014, nhận được tin báo của quần chúng, nhóm phóng viên vượt hơn 100km từ TP Buôn Ma Thuột về xã Ea Trang, huyện MĐrắk (Đắk Lắk) để tìm hiểu tình trạng phá rừng ở khu vực giáp ranh giữa Đắk Lắk và Khánh Hòa. Từ UBND xã Ea Trang, men theo QL26, đi xuôi hơn 10km, PV có mặt tại hai dãy núi Mẹ Bồng Con và Cư Mư. Men theo con đường rừng ngoằn ngoèo hơn 1km, trước mặt PV là cảnh hàng trăm hécta rừng tự nhiên mới bị người dân cạo trọc, chuẩn bị cho việc trồng tỉa vụ mới khi có mưa.
Hàng trăm cây rừng bị cưa đốn ngổn ngang, đốt cháy nham nhở. Nhìn một phần ngọn núi có độ dốc lớn bị cạo trọc, PV hình dung ra phần nào tác hại và những cái giá phải trả của chính con người khi ra tay triệt hạ rừng nơi đây.
Qua tìm hiểu được biết, trong tổng số 9.345ha đất tự nhiên ở khu vực chưa xác định được ranh giới giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa nằm trên địa bàn các xã Ea Trang, huyện MĐrắk (Đắk Lắk) và xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa), lại do tỉnh Đắk Lắk quản lý theo hiện trạng từ năm 1977. Chính do hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa chưa thống nhất được phương án giải quyết địa giới hành chính nên việc quản lý đất đai, nhất là quản lý và bảo vệ rừng tự nhiên ở khu vực này bị buông lỏng, thậm chí là thiếu trách nhiệm.
Trao đổi với ông Y Liêm Byă, Phó Chủ tịch UBND xã Ea Trang cho biết: “Ea Trang là xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, dân số 1.052 hộ với 5.120 nhân khẩu, trong đó có 169 hộ với 947 nhân khẩu là dân di cư tự do. Toàn xã có diện tích rừng là 23.000ha (tổng diện tích tự nhiên 265.093ha), trong đó Ban Quản lý rừng phòng hộ Núi Vọng Phu quản lý 10.892ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp MĐrắk quản lý 8.632ha; phần còn lại UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho một số doanh nghiệp thực hiện dự án trồng và chăm sóc rừng. Hiện nay, toàn xã vẫn còn 32% số hộ thuộc diện nghèo, 70 hộ thiếu đất sản xuất và 41 hộ thiếu đất ở. Chính vì vậy, việc người dân lén lút chặt phá rừng lấy đất sản xuất là không tránh khỏi, khi chính quyền địa phương phát hiện được thì sự việc đã rồi”.
Còn ông Y Thu Niê, cán bộ kiểm lâm huyện lại cho rằng: Ngoài sự buông lỏng quản lý rừng và đất lâm nghiệp của các chủ rừng như: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp MĐắk, Ban Quản lý rừng phòng hộ Núi Vọng Phu, Công ty TNHH Tam Phát, thì còn do áp lực về đất của số dân di cư tự do mới chuyển đến và số hộ dân còn thiếu đất sản xuất. Việc phát hiện và xử lý những vụ phá rừng của các hộ dân di cư tự do đã và đang gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng. Đó là sự bất đồng về ngôn ngữ, hơn nữa những hộ phá rừng lại thuộc diện nghèo, không có tài sản, nên việc xử phạt hành chính cũng không có tác dụng.
Ngoài ra, khu vực này có địa hình đồi núi dốc, chỉ có một con đường mòn từ chân núi lên đỉnh núi, lực lượng tuần tra bảo vệ rừng rất khó phát hiện những hành vi phá rừng. Thậm chí khi phát hiện các đối tượng phá rừng, lực lượng chức năng cơ động đến nơi thì họ đã kịp tẩu thoát khỏi hiện trường, khiến cho nhiều khu rừng bị phá mà không biết, không bắt được đối tượng.
vì vậy, từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn xã Ea Trang đã xảy ra hàng chục vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích rừng bị phá trắng 14ha, trong đó có 3,8ha nằm ở khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Lắk với Khánh Hòa. Nếu cộng lũy kế từ trước đến nay, thì trên địa bàn các xã Ea Trang (MĐrắk) và Ninh Tây (Ninh Hòa) có tới hàng trăm hécta rừng bị phá làm nương, rẫy.
Từ thực tế đang diễn ra tại khu rừng thuộc khu vực núi Mẹ Bồng Con, Cư Mư, Cư Pao và Cư San, PV cho rằng, muốn ngăn chặn được nạn phá rừng, trước hết cần nhanh chóng phân định rõ địa giới hành chính giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Việc làm này sẽ khắc phục được khoảng trống về quản lý địa giới và góp phần ngăn chặn được nạn phá rừng lấy đất sản xuất tràn lan, hoặc sang nhượng trái phép một cách vô tội vạ như hiện nay. Cùng với đó, chính quyền các cấp, nhất là cấp xã cần phối hợp chặt chẽ với chủ rừng tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời xử lý nghiêm những hành vi phá rừng, mua bán và khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. (An Ninh Thủ Đô + Công An Nhân Dân 12/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Đoàn kiểm tra 736 thuộc UBND tỉnh Bình Phước cho biết qua kiểm tra phát hiện 4 nhà máy thủy điện trên địa bàn còn nợ hơn 18,7 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, trong đó CTCP thủy điện Thác Mơ trên 11,9 tỷ đồng, CTCP thủy điện Srok Phu Miêng IDICO hơn 5,5 tỷ đồng, Nhà máy sản xuất thủy điện Bù Cà Mau hơn 729,5 triệu đồng và Nhà máy thủy điện Đắc U hơn 451,3 triệu đồng. (Tuổi Trẻ 13/6) đầu trang(
Từ ngày 12 - 24/6, đoàn công tác của HĐND tỉnh chia thành 2 tổ thực hiện giám sát “Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững" trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012 - 2015.
Ngày 12/6, tổ 2 do bà Giàng Thị Hoa, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn giám tại 2 xã: Mường Tùng và Sa Lông (huyện Mường Chà).
Qua giám sát cho thấy, công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục cho người dân về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được chú trọng thực hiện, nhờ đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm người dân bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Các xã đã và đang hoàn tất việc rà soát hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo Kế hoạch 388 của UBND tỉnh. Đến nay, xã Mường Tùng có 13/15 bản được giao đất giao rừng với tổng diện tích trên 4.600ha.
Tại xã Sa Lông, 100% diện tích rừng trên địa bàn được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính Phủ. Tuy nhiên, việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn xã còn gặp nhiều vướng mắc nên đến nay, người dân chưa được nhận tiền.
Ghi nhận những nỗ lực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng của 2 xã Mường Tùng và Sa Lông trong công tác bảo vệ, phát triển rừng bền vững, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Giàng Thị Hoa nhấn mạnh, thời gian tới, các địa phương cần tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn nữa việc thực hiện Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững; tập trung trồng mới, phát triển diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu “giữ rừng để hưởng lợi từ rừng”.
Cũng trong ngày 12/6, tổ 1 do ông Nguyễn Quốc Tuân, uỷ viên Thường trực HĐND tỉnh làm trưởng đoàn giám sát “Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững” tại xã Mường Nhà và Núa Ngam (huyện Điện Biên). Báo cáo cho thấy, chương trình đã đạt được những kết quả khả quan; diện tích rừng được quản lý bảo vệ tốt, nhờ đó tỷ lệ che phủ rừng năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ che phủ rừng xã Mường Nhà đạt trên 58%. Tuy nhiên tình trạng xâm canh phá rừng làm nương; khai thác lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra. Xã Mường Nhà đề nghị tỉnh có biện pháp di dời 70 hộ dân 2 bản Pa Lay và Pa Thanh nằm trong khu vực rừng phòng hộ, để công tác quản lý và bảo vệ rừng được tốt hơn.
Còn tại xã Núa Ngam, thực hiện “Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững” từ năm 2012 đến nay xã đã tổ chức giao đất gắn với đất lâm nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng, tạo thu nhập từ rừng cho người dân. Xã Núa Ngam kiến nghị với tỉnh nâng mức hỗ trợ cho người trực tiếp tham gia công tác bảo vệ rừng; hỗ trợ giống cây lâm nghiệp cho nhân dân...
Trưởng đoàn giám sát đánh giá cao kết quả thực hiện Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững” tại các địa phương và đề nghị thời gian tới, chính quyền xã, các tổ chức đoàn thể cần tăng cường tuyên truyền để nhân dân hiểu được lợi ích của rừng để nâng cao trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Điện Biên Phủ 12/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Thạch An trồng 112 ha rừng tập trung, đạt 52% kế hoạch, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2013.
Trong đó, rừng phòng hộ 20 ha, đạt 40%; rừng sản xuất 92 ha, đạt 55,8%. Công tác chăm sóc rừng phòng hộ được 40 ha, bằng 40% kế hoạch năm.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng tiếp tục được duy trì, tuy nhiên vẫn xảy ra 5 vụ vi phạm, tăng 3 vụ so với cùng kỳ năm 2013, xử phạt hành chính 4 vụ, số tiền 9 triệu 350 nghìn đồng.
Thời gian tới, huyện tiếp tục chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tăng cường vận động nhân dân trồng rừng theo kế hoạch, thực hiện tốt công tác phòng, chống cháy rừng. (Báo Cao Bằng 12/6) đầu trang(
Thực hiện Kế hoạch trồng rừng năm 2014, ngay từ đầu năm với sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với các địa phương trong tỉnh chủ động chuẩn bị các nội dung phục vụ cho công tác trồng rừng như: Khảo sát, lập hồ sơ thiết kế trồng rừng; Chuẩn bị đủ cây giống, phân bón đảm bảo chất lượng; Tăng cường phổ biến, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng đến các chủ rừng.
Đẩy mạnh tuyên truyền hướng dẫn nông dân về  một số điểm mới trong chính sách hỗ trợ được ban hành tại Quyết định số 39/2013/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND về việc hỗ trợ các chương trình sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2012-2015; Trong đó đáng lưu ý là quy định về diện tích được hỗ trợ của các hộ, nhóm hộ gia đình là từ 0,5 ha trở lên (Quyết định số 23 là từ 1,0 ha trở lên); Công khai các khoản hỗ trợ cho công tác khuyến lâm, chi phí quản lý dự án.
Kết quả tính đến ngày15/5/2014, trên toàn tỉnh đã trồng được 5.979/6.450 ha trồng rừng tập trung đạt 93% kế hoạch; Trong đó: Dự án bảo vệ và phát triển rừng 3.322/3.405 ha (trồng rừng sản xuất 3.006/3.010 ha, rừng phòng hộ 156/235 ha, rừng đặc dụng 160/160 ha); Khoán bảo vệ rừng 33.200 ha; Trồng rừng ngoài dự án bảo vệ và phát triển rừng là 2.657/3.045 ha
Trong thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tiếp tục phối hợp với các ngành, cơ quan chức năng tiếp tục đẩy nhanh tiến độ trồng rừng xong trong tháng 5 và tập trung chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn nông dân công tác quản lý và chăm sóc rừng sau trồng đảm bảo chất lượng. (Sở NN&PTNT Phú Thọ 12/6) đầu trang(
Từ 10 đến 14-6, huyện Phú Lương phối hợp với Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững (một tổ chức phi chính phủ với sự hỗ trợ ngân sách của Tổ chức Manos Unidas (Tây Ban Nha) đã tổ chức công bố Quyết định thành lập Tổ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại 5 xóm thuộc 3 xã trên địa bàn gồm: Na Pặng, Bản Cái, Thâm Trung (Ôn Lương), Đồng Xiền, Đồng Mỏ, Ó (Yên Lạc) và Đồng Nghè (Động Đạt).
Theo cơ cấu, Tổ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có từ 10-15 người, trong đó có 1 Tổ trưởng, 1 Tổ phó do người dân trong xóm bầu. Ngoài ra trong Tổ có ít nhất 1 kiểm lâm viên của xã, các thành viên khác chủ yếu là người dân địa phương tham gia với tinh thần tự nguyện, trong đó số tổ viên nữ tối thiểu phải chiếm 30%. Định kỳ Tổ sẽ họp 1 lần/tháng để thông báo kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho từng tổ viên.
Theo đó Tổ có trách nhiệm tham gia hỗ trợ người dân thực hiện những quyền lợi chính đáng, đúng pháp luật, đồng thời cùng với các cơ quan chức năng của nhà nước thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Đây là Dự án được triển khai tại 2 tỉnh: Thái Nguyên và Phú Thọ. Để các Tổ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hoạt động có hiệu quả, huyện đã thành lập Ban Quản lý dự án VM048 nhằm giám sát, triển khai chương trình theo đúng kế hoạch. (Báo Thái Nguyên 12/6) đầu trang(
Từ năm 2008, tại Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc (viết tắt là BQL) đã xảy ra vụ tranh chấp hơn 480ha rừng trồng, giữa 28 hộ dân với Công ty CP trồng rừng Trường Thành, khiến quyền lợi chính đáng của người trồng rừng bị xâm phạm.
BQL, quản lý, bảo vệ hơn 9 nghìn héc-ta rừng, trong đó có gần 5 nghìn héc ta rừng sản xuất, rừng trồng và được giao khoán cho các hộ dân theo Quyết định số 661/QĐ-TTg, ngày 29-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ. Trong số 28 hộ nhận khoán, có 12 hộ được BQL lập hồ sơ, khế ước giao khoán vào ngày 16-6-2001 với thời gian là 50 năm.
Còn lại 16 hộ, có hợp đồng trồng và chăm sóc rừng. Các hộ nhận trồng rừng cũng được hưởng quyền lợi theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12-11-2001 của Thủ tướng Chính phủ: 3 năm đầu được Nhà nước đầu tư 4 triệu đồng/ha (bao gồm cả tiền cây giống); từ năm thứ 4 trở đi được chi trả 100 nghìn đồng/ha/năm cho công tác bảo vệ rừng trồng; kinh phí, công lao động 30 triệu đồng/ha.
Như vậy, về mặt pháp lý, các hộ dân nhận khoán là chủ rừng và hoàn toàn được quyền hưởng lợi từ rừng.
Thế nhưng, từ tháng 10-2008 đến nay, đã xảy ra tranh chấp giữa 28 hộ dân nhận khoán với Công ty CP trồng rừng Trường Thành. Nguyên nhân là do ngày 3-10-2008 UBND tỉnh Đắc Lắc Quyết định thu hồ 568,43ha đất của BQL để giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành thuê (Quyết định số 2572/QĐ-UBND).
Trước khi ban hành quyết định trên, tỉnh Đắc Lắc đã tổ chức đoàn liên ngành kiểm tra thực địa. Tại biên bản phúc tra ngày 7-4-2008, ông Nguyễn Thế Anh Sơn, trên cương vị Giám đốc BQL đã đề nghị không giao diện tích đất đã giao khoán hợp pháp cho 28 hộ dân.
Trong các ngày cuối tháng 4 và đầu tháng 5-2014, PV tìm hiểu hiện trạng rừng do 28 hộ dân đầu tư trồng, chăm sóc thì thấy, cây thông đang vào thời kỳ khai thác nhựa, cây keo đã đến tuổi khai thác, nhưng do xảy ra tranh chấp nên hiện bà con chưa khai thác được.
Trao đổi với PV, ông Vũ Đình Triều, thôn Tam Hà, xã Cư Klông bức xúc nói: “Gia đình tôi phải vay ngân hàng hơn 200 triệu đồng để đầu tư trồng rừng. Cây sắp khai thác được thì xảy ra tranh chấp, khiến gia đình tôi lâm vào cảnh nợ nần”.
Còn nhóm bốn hộ CCB: Phan Khắc Văn, Ngô Văn Vực, Hà Thế Việt và Đồng Phúc Chính thì “mạnh tay” bỏ vốn đầu tư 61ha, mỗi héc-ta khoảng 30 triệu đồng; 3,5 tỷ đồng xây dựng 4 hồ đập thủy lợi, 5 km đường nội bộ với hy vọng làm giàu từ rừng… nhưng nay tranh chấp không được giải quyết, rừng đã đến tuổi khai thác mà không khai thác được, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Thậm chí rừng keo quá 10 tuổi chưa khai thác được đang có hiện tượng rỗng ruột!
Trong khi đang xảy ra tranh chấp, thì ngày 24-5-2014, Công ty CP trồng rừng Trường Thành cử tốp 7 công nhân, do ông Uông Xuân Thu, sinh năm 1956 chỉ huy, sử dụng 2 cưa lốc vào rừng thông do nhóm hộ của CCB Phan Khắc Văn (trú xã Cư Klông) trồng tại tiểu khu 316 thuộc xã Ea Tam để chặt hạ rừng.
Theo biên bản hiện trường do Công an xã Ea Tam lập vào hồi 17 giờ ngày 24-5-2014, đã xác nhận: “Tại tiểu khu 316, có khoảng 700-800 cây thông trồng từ năm 2006 bị cắt thành từng khúc có chiều dài 2m trên diện tích bị chặt 8.000m2...”.
CCB Phan Khắc Văn ước tính tổng thiệt hại do Công ty CP Trường Thành gây nên khoảng hơn 300 triệu đồng.
Sau khi rừng trồng bị chặt hạ trái pháp luật, nhóm hộ CCB Phan Khắc Văn đã có đơn tố giác tội phạm tới cơ quan chức năng huyện Krông Năng.
Ông Nguyễn Văn Lương, Phó giám đốc BQL cho biết: “Hiện 28 hộ đang làm các thủ tục kiện ra tòa án”.
Đề nghị Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắc Lắc phải vào cuộc ngay có giải pháp khắc phục những sai trái trong định Quyết định số 2572/QĐ-UBND của UBND tỉnh theo hướng không đưa diện tích rừng các hộ dân đã trồng theo Chương trình 661 vào diện tích thu hồi để giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành; đồng thời xử lý nghiêm hành vi tổ chức hủy hoại tài sản mà Công ty CP trồng rừng Trường Thành gây ra; bảo vệ quyền lợi chính đáng cho 28 hộ dân bỏ công sức, tiền của trồng 486ha rừng theo đúng quy định của pháp luật. (Cựu Chiến Binh 12/6) đầu trang(
12-6, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA) tổ chức lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng 3 do UBND TP.HCM thừa ủy quyền của Chủ tịch nước trao tặng.
Ông Huỳnh Văn Hạnh -  Phó Chủ tịch thường trực HAWA cho biết, Hội hiện có 310 hội viên. Hoạt động nổi bật của HAWA trong các năm qua là đào tạo nâng cao năng lực cạnh tranh cho hội viên và xúc tiến thương mại.
Riêng trong năm 2013, HAWA đã mang lại cơ hội tiếp cận thị trường cho 98 DN với tổng mức bán lẻ tại Hội chợ đồ gỗ - nội thất (VIFA Home) là 16 tỷ đồng; và 131 DN tiếp cận thị trường quốc tế với tổng giá trị hợp đồng tại Hội chợ quốc tế đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ (VIFA Fair) là 4,25 triệu USD.
Ban chấp hành HAWA nhận định thách thức mà ngành đồ gỗ hiện phải đối mặt là làm sao nâng cao tỷ lệ hiệu dụng gỗ và giảm chi phí vận chuyển, tìm nguồn gỗ hợp pháp và trách nhiệm giải trình nguồn gốc gỗ, kiểm soát hàng tạm nhập và tái xuất để lấy xuất xứ, công tác quản lý...
Đến nay chưa có một thương hiệu nào mang tên gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới. Đó là chưa kể việc thị trường quốc tế đưa ra những quy định ngặt nghèo về nguồn gốc xuất xứ gỗ hợp pháp cũng khiến các DN gặp khó khăn. Những thách thức này càng gay gắt trong thời gian tới, khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và khi ASEAN hình thành Cộng đồng kinh tế chung vào năm 2015.
Ông Huỳnh Văn Hạnh cho rằng, so với 10 nước XK đồ gỗ nhiều nhất trên thế giới, Việt Nam có ưu thế về sản xuất; tiềm năng và cơ hội của ngành còn nhiều. Do vậy, nếu có chính sách ưu tiên phát triển, ngành gỗ nội thất Việt Nam có thể nâng thị phần từ 1,5% hiện nay lên 5%, tương đương tăng thêm 15 tỉ USD trong vòng 5-7 năm tới.
Trong mục tiêu phát triển đến năm 2020, HAWA hướng đến trở thành “Hội hoạt động vì sự phát triển bền vững gắn với môi trường kinh tế lâm nghiệp” và vận động hội viên xây dựng “Việt Nam là nhà máy sản xuất xuất khẩu đồ gỗ từ nguồn gỗ hợp pháp”. (Người Lao Động 13/6; Vietnamplus + Hải Quan + TBKTSG-Online 12/6) đầu trang(
Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã đạt được những thành quả đáng kể, đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES-payments for environmental services) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm chủ trương xã hội hoá nghề rừng, từng bước xói đói giảm nghèo cho các hộ dân tại khu vực miền núi. Việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9 .2010 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đạt được sự đồng thuận cao của tất cả các cấp, các ngành từ tỉnh đến chính quyền tại các địa phương và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, do vậy công tác chi trả DVMTR đã đạt được những kết quả đáng kể, đem lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ rừng.
Sau khi chính sách ra đời, tỉnh Quảng Nam đã được các tổ chức nước ngoài hỗ trợ thực hiện thí điểm để từ đó làm cơ sở triển khai trong toàn tỉnh. Cụ thể như năm 2011, Dự án Tài chính bền vững khu vực Trường Sơn (Dự án WinRock International) hỗ trợ thực hiện chi trả DVMTR theo hình thức tiếp cận đến "hộ" tại 2 thôn: A Bông và A Xờ, xã Mà Cooih, huyện Đông Giang, với diện tích rừng giao khoán: 2.520,2 ha/111 hộ. Tiếp đến, năm 2012 và 2013, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ thực hiện chi trả DVMTR theo hình thức tiếp cận đến "nhóm hộ" tại 5 thôn của xã Mà Cooih, huyện Đông Giang và 2 xã Tà Pơơ và Chà Vàl, huyện Nam Giang, với diện tích rừng giao khoán là 21.033,11ha/73 nhóm hộ.
Từ những kết quả của các dự án thực hiện thí điểm trên, tỉnh Quảng Nam đã triển khai đồng thời việc xây dựng 7 đề án chi trả DVMTR tại các lưu vực thủy điện, như Phú Ninh, Sông Kôn 2, An Điềm I - An Điềm 2, Sông Tranh 2 - Trà Linh - Tà Vi, ĐăK Mi 4, A Vương - Za Hung, Khe Diên với tổng diện tích cung ứng DVMTR là 180.543,74ha/9 huyện của tỉnh Quảng Nam.
Hiệu quả trước tiên của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR là đã tạo được nguồn kinh phí bền vững cho công tác giao khoán bảo vệ rừng ổn định, lâu dài đến người dân địa phương, làm cho rừng thực sự có chủ. Trong năm 2013, tổng diện tích lập hồ sơ giao khoán rừng thực hiện chi trả DVMTR là 177.281,33ha/827 nhóm hộ/15.911 hộ trên địa bàn 10 huyện của tỉnh Quảng Nam, được thực hiện tại 9 đơn vị chủ rừng và 3 đơn vị quản lý rừng (hạt kiểm lâm).
Ngoài ra, còn 24.295,52ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng đã được rà soát nhưng hiện đang được lồng ghép thực hiện chi trả bởi các nguồn vốn khác, như bảo vệ và phát triển rừng, Chương trình 30a, Dự án CarBi... Phần diện tích này sẽ được đưa vào chi trả bằng nguồn DVMTR khi các dự án trên kết thúc.
Hiệu quả bảo vệ rừng cũng được nâng cao hơn, người dân thật sự xem rừng là tài sản của mình nên tích cực bảo vệ, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến rừng. Theo kết quả nghiệm thu rừng năm 2013 thì hầu hết diện tích rừng giao khoán được bảo vệ tốt, diện tích được nghiệm thu thanh toán là 177.268,03ha.
Đối với tỉnh Quảng Nam, hầu hết diện tích thực hiện chính sách chi trả DVMTR thuộc lâm phận của các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng: A Vương, Sông Tranh, Phú Ninh, Đăk Mi, Sông Kôn, Nam Sông Bung; Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh; Khu bảo tồn loài Sao La; Vườn quốc Gia Bạch Mã và các tổ chức không phải là chủ rừng được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng như các Hạt Kiểm lâm: Nông Sơn, Đại Lộc, Nam Trà My. Do vậy, công việc thực hiện chi trả DVMTR được tiến hành chặt chẽ, hiệu quả từ khâu chỉ đạo thực hiện chính sách của UBND tỉnh, Sở NNPTNT và phối hợp thực hiện giữa Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, các chủ rừng đến các nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Theo ông Huỳnh Đức - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam, việc triển khai chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua đạt được kết quả cao là do tổ chức thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR để nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, chính quyền, nhân dân địa phương và các tổ chức liên quan bằng nhiều hình thức như tập huấn, họp thôn tuyên truyền, in ấn và cấp phát các tờ rơi, áp phích, tuyên truyền trên báo, đài truyền hình...
Ngoài ra, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam còn phối hợp chặt chẽ, thường xuyên đôn đốc các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (thuỷ điện, nước sạch, du lịch) thực hiện tốt các hợp đồng đã ký kết; xây dựng các đề án chi trả DVMTR, tổ chức thực hiện giao khoán rừng làm cơ sở lập hồ sơ chi trả tiền DVMTR – đây là nhiệm vụ trọng tâm cốt lõi của việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Trong năm 2014, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Quảng Nam tiếp tục xây dựng mới 5 đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng tại các lưu vực thuỷ điện: Nam Sông Bung, Bắc Sông Bung, Sông Cùng, Đại Đồng, Trà My I - II để làm cơ sở giao khoán rừng (với diện tích rừng cung ứng dự kiến khoảng 85.015,83ha), nâng tổng diện tích rừng có cung ứng DVMTR trên địa bàn tỉnh lên 286.579,38 ha/410.823ha rừng tự nhiên toàn tỉnh, chiếm 70%. Đây là điều kiện thuận lợi để tỉnh Quảng Nam tiếp tục thực hiện có hiệu quả công cuộc bảo vệ rừng trên địa bản trong thời gian đến.
Qua thời gian thực hiện chi trả DVMTR, hiệu quả của chính sách đã được thể hiện rõ nét, đã tạo ra nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng miền núi của tỉnh Quảng Nam. (Dân Việt 13/6) đầu trang(
Không triển khai, triển khai rất chậm hoặc có dấu hiệu sang nhượng lại dự án là tình trạng chung của hầu hết các dự án do tư nhân đầu tư liên quan đến rừng và đất rừng trên địa bàn huyện Đạ Tẻh.
Sau khi khai thác tận thu lâm sản, các chủ đầu tư hầu như “đắp chiếu” dự án. Chính điều này đã khiến cho một lượng lớn diện tích rừng bị xâm hại, gây thiệt hại lớn về tài nguyên rừng và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trong 5 năm trở lại đây, tại huyện Đạ Tẻh có 22 doanh nghiệp (DN) được UBND tỉnh Lâm Đồng cấp phép đầu tư các dự án nông lâm nghiệp. Tổng diện tích đất giao cho các DN là 8.790ha. Trong tổng diện tích này, diện tích khoanh nuôi bảo vệ là 2.196ha; diện tích cải tạo để trồng cao su là 4.957ha và trồng rừng kinh tế là 1.120ha.
Điều này đồng nghĩa với việc có khoảng 6.000ha rừng được cho là nghèo kiệt đã được cấp phép để “khai thác tận dụng lâm sản”. Trên thực tế, hầu hết các DN chỉ tập trung khai thác tận dụng lâm sản ngay sau khi được cấp phép và hoàn toàn “phớt lờ” mục tiêu chính là trồng lại rừng kinh tế hoặc trồng cao su để triển khai dự án.
Rất nhiều DN thuê đất rừng tại huyện Đạ Tẻh hiện tại hầu như không triển khai dự án hoặc triển khai với mức độ cầm chừng và đa phần đã quá hạn theo giấy chứng nhận đầu tư. Trong khi đó, diện tích được phê duyệt để khai thác tận thu lâm sản lại được nhiều DN xin gia hạn hoặc bổ sung thêm. Không chỉ khai thác ở diện tích đã được cấp phép, một số DN còn khai thác lấn sang diện tích khác.
Từ tháng 5 năm 2008, Công ty TNHH Hương Vĩnh Phát đã được UBND tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận đầu tư để triển khai Dự án bảo vệ rừng, trồng rừng và trồng cao su tại xã Quốc Oai, với tổng diện tích là 488ha. Theo kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án là từ năm 2008 đến hết năm 2011 sẽ hoàn thành các hạng mục đầu tư.
Thế nhưng, cho đến thời điểm hiện tại, Công ty Hương Vĩnh Phát mới trồng được 50ha cao su, chỉ đạt 14,5% so với kế hoạch trồng 345ha. Đối với việc trồng rừng kinh tế (keo lai), Công ty hoàn toàn chưa triển khai. Mặc dù vậy, hiện tại Công ty vẫn đang làm đơn xin gia hạn tiến độ đến hết năm 2014 sẽ hoàn thành tất cả các hạng mục trong giấy chứng nhận đầu tư (!?).
Điều đáng nói là từ tháng 3/2009, Công ty Hương Vĩnh Phát đã được cấp phép cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt (khai thác tận dụng lâm sản) với diện tích 107ha. Không chỉ khai thác trên diện tích đã được cấp phép, Công ty này còn khai thác lấn thêm 8,8ha chưa được cấp phép.
Tương tự, mặc dù được cấp phép từ tháng 8/2008 và thời gian cam kết thực hiện dự án là đến hết năm 2010, thế nhưng đến nay, Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Đỉnh Thuận triển khai dự án rất chậm và đang tiếp tục xin gia hạn thời gian hoàn thành dự án. Với Dự án bảo vệ rừng, trồng rừng và trồng cao su, Công ty Đỉnh Thuận đã được cho thuê 416ha đất tại xã Quốc Oai.
Ngay sau đó, Công ty này đã 2 lần được cấp phép khai thác tận dụng lâm sản với tổng diện tích gần 160ha. Đến nay, Công ty đã trồng 110/206ha cao su. Diện tích rừng trồng do bị sâu bệnh nên đã xin chuyển đổi sang trồng cao su. Đây chỉ là 2 trong số nhiều DN trên địa bàn huyện Đạ Tẻh có tiến độ triển khai dự án chậm và chủ yếu chỉ khai thác tận thu lâm sản.
Đi dọc tuyến tỉnh lộ 725 nối huyện Đạ Tẻh với Bảo Lâm, có thể dễ dàng nhận thấy những khu đồi trọc rộng lớn của Công ty CP Đầu tư Kinh doanh vàng bạc, đá quý Kim Minh Đạt sau khi khai thác tận dụng lâm sản đã không triển khai trồng rừng, trồng cao su. Cách đó không xa, diện tích đất giao cho Công ty TNHH SX TM XNK Hoàng Thịnh cũng chỉ được trồng vài trăm hàng cao su phía mặt đường. Sâu vào trong, một lượng lớn cao su đã trồng khoảng 2 – 3 năm tuổi cũng bị bỏ hoang, mọc lẫn với cây bụi um tùm.
Và, một diện tích lớn rừng đã được khai thác tận thu nhưng hoàn toàn không trồng cao su. Diện tích này chủ yếu còn lại cây bụi và không khó để phát hiện những gốc cây lớn đã được đốn hạ nằm lẫn trong đám cây bụi. Anh L (một người chuyên “đấu thầu” khai thác tận thu lâm sản) cho biết: Hầu hết các DN sau khi được cấp phép tận thu lâm sản đều “bán” diện tích được cấp phép khai thác lại cho một cá nhân hay công ty khác. Trước khi mua, các đơn vị này sẽ đi “đạp rừng” để kiểm tra trữ lượng gỗ và ra giá. Mặc dù vậy, thường thì sau khi khai thác xong hoặc ngay trong quá trình khai thác, các đơn vị này đều “kêu” khai thác không đủ sản lượng và tìm cách khai thác lấn sang diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ.
Có thể khẳng định, hầu hết các DN sau khi thuê rừng chỉ chú tâm khai thác tận thu lâm sản mà ít quan tâm đến việc bảo vệ rừng và triển khai dự án. Tiến độ triển khai chậm và công tác quản lý, bảo vệ rừng lỏng lẻo là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng và xâm chiếm đất rừng.
Theo kết luận thanh tra của Thanh tra tỉnh Lâm Đồng (năm 2013) đối với các dự án trồng cao su của các DN tại huyện Đạ Tẻh, công tác quản lý, bảo vệ rừng của các DN còn để xảy ra nhiều vi phạm về lấn chiếm đất rừng, khai thác rừng trái pháp luật. Tại huyện Đạ Tẻh có 51ha rừng bị xâm hại với khối lượng gỗ thiệt hại là 825 m3. Công tác lập, thẩm định hồ sơ thiết kế khai thác tận dụng lâm sản trên diện tích rừng được chuyển đổi sang trồng cao su của các DN còn có một số sai phạm như: Việc xác định trữ lượng gỗ, nhóm gỗ không chính xác, từ khâu thiết kế đến thẩm định.
Tại một số dự án, khối lượng gỗ thực tế khai thác lớn hơn giấy phép là trên 2.000 m3. Các công ty xảy ra tình trạng này, gồm: Công ty TNHH Hoàng Minh Hồng, Công ty TNHH Đầu tư Sản xuất Ánh Quang, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Xuất nhập khẩu Hoàng Thịnh, Công ty TNHH Đỉnh Thuận, Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Hương Vĩnh Phát, Công ty TNHH Toàn Xá. Đặc biệt, trong công tác khai thác tận dụng lâm sản, các DN chỉ chú trọng đến việc khai thác gỗ lớn, không chú trọng đến việc khai thác các loại gỗ tận dụng, gỗ nguyên liệu, củi. Mặc dù các DN đã nộp tiền bồi thường giá trị tài nguyên rừng, thế nhưng việc không tận dụng hết gỗ tận dụng, gỗ nguyên liệu, củi… là rất lãng phí. (Báo Lâm Đồng 13/6) đầu trang(
Hà Tĩnh: Bế tắc trong xử lý lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp
Đã 18 tháng nay, người dân xã Hòa Hải, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) vào sẻ phát, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp để trồng keo trái phép tại TK 192, đồng thời ngăn cản Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê thực hiện khai hoang, trồng mới cao su trên diện tích đất đã được UBND tỉnh cho thuê để trồng cao su.
Trong thời gian qua, vụ việc người dân xã Hòa Hải, huyện Hương Khê vào sẻ phát, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp để trồng keo trái phép tại TK 192, đồng thời ngăn cản Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê thực hiện khai hoang, trồng mới cao su trên diện tích đất đã được UBND tỉnh cho thuê để trồng cao su, diễn ra từ tháng 11/2012, tính đến nay đã 18 tháng.
Dù Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Thường trực Huyện ủy, UBND huyện Hương Khê đã chỉ đạo giải quyết, xử lý vụ việc tranh chấp bằng nhiều văn bản (trong đó Thường trực Tỉnh ủy có một văn bản, UBND tỉnh có 6 văn bản, Thường trực Huyện ủy và UBND huyện Hương Khê có 12 văn bản) và tổ chức 15 cuộc họp nhưng vẫn chưa giải quyết được.
Đặc biệt ngày 19/12/2013, UBND tỉnh Hà Tĩnh có thông báo số 503/TB-UBND về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp triển khai một số nhiệm vụ cấp bách cuối năm và các nhiệm vụ sau kỳ họp HĐND tỉnh; trong đó có giao nhiệm vụ cho Sở Nông nghiệp & phát triển Nông thôn: “… khẩn trương phối hợp với các Sở, ngành, địa phương liên quan chỉ đạo xử lý tranh chấp đất, rừng tại huyện Hương Khê (Tiểu khu 226, 192) và các nội dung có liên quan đến rừng và đất lâm nghiệp …”
Để tìm hiểu về vụ việc tranh chấp, PV báo ĐS&PL đã có cuộc tiếp xúc với ông Trần Thanh Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê. Ông Hà cho biết: Trong việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên, Công ty đã thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nội dung: Phối hợp chặt chẽ với tổ công tác của BTV Huyện ủy, cấp ủy chính quyền xã Hòa Hải để thực hiện công tác tuyên truyền đến tận nhà các hộ dân; hoàn thành việc đóng mốc ranh giới ngoài thực địa trên diện tích Công ty được UBND tỉnh cho thuê để trồng cao su và giao quản lý bảo vệ; xây dựng phương án, kế hoạch chốt chặn đồng thời phối hợp với UBND xã, các phòng ngành huyện Hương Khê triển khai thực hiện phương án bảo vệ rừng tại TK 192.
Để đẩy nhanh tiến độ xử lý vụ việc tranh chấp, Công ty đã tổ chức các cuộc họp với các ngành: Tài nguyên Môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tư pháp, Thanh tra, Hạt kiểm lâm, Công an huyện, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND, Trưởng công an, cán bộ địa chính, lâm nghiệp xã Hòa Hải.
Đồng thời, Công ty đã phối hợp với các thành phần nêu trên tiến hành khảo sát thực địa trên toàn bộ diện tích 324,5ha, Công ty được UBND tỉnh cho thuê để trồng cao su, tuyến đường vào khoảnh 9a, khoảnh 10 Tiểu khu 192 (Diện tích UBND xã Hòa Hải có phương án giao đất, giao rừng cho các hộ dân), kiểm tra hiện trạng rừng, đất lâm nghiệp sau cơn bão số 10 và số 11, theo thông báo số 140/TB-UBND ngày 09/12/2013 về kết luận của Chủ tịch UBND huyện tại cuộc họp chỉ đạo, xử lý tranh chấp đất, rừng tại Tiểu khu 192, xã Hòa Hải; kết quả cuộc họp và khảo sát thực tế tại hiện trường, Công ty đã có báo cáo UBND tỉnh, các ngành, UBND huyện tại văn bản số: 86/BC-CSHK ngày 17/2/2014 và số 114/BC-CSHK ngày 27 tháng 02 năm 2014.
Ngoài ra, Công ty đã có nhiều phương án hỗ trợ nhân dân mở đường vào khoảnh 9a,khoảnh 10 Tiểu khu 192 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được giao đất, giao rừng với tổng chiều dài 5.538m; hỗ trợ cho các hộ dân đã sẻ phát, xâm chiếm, trồng cây keo trái phép trên đất của Công ty (bao gồm cả tiền nhân công và cây giống); hỗ trợ 50% kinh phí cho các hộ dân làm thủ tục, hồ sơ nhận đất, nhận rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khoảnh 9a, khoảnh 10 của tiểu khu 192.
Sau 2 năm tranh chấp, vụ việc vẫn chưa được các bên làm sáng tỏ. Ngày 03/04/2014, Công ty đã gửi phương án cho UBND huyện và các phòng, ngành có liên quan, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay, Công ty chưa nhận được sự phản hồi và ý kiến chỉ đạo tiếp theo, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất tại Tiểu khu 192 vẫn tiếp tục bị ngưng trệ, Công ty bị lỡ thời vụ và thiệt hại hơn 20 vạn cây giống cao su (giá trị 5 tỷ đồng). Năm 2014, khi mùa vụ trồng cao su đã đến gần, với tình hình hiện tại, Công ty tiếp tục gánh chịu những tổn thất nặng nề về kinh tế, chưa kể các khoản đã nộp vào ngân sách tỉnh, xã và các khoản chi phí thuê tư vấn khảo sát cận dự án, đánh giá tác động môi trường.
Sự việc chưa dừng lại ở đó, hiện nay, người dân vẫn tiếp tục lén lút xẻ phát, xâm chiếm trồng cây keo trái phép trên các diện tích còn lại trong số diện tích Công ty đã được UBND tỉnh cho thuê. Đặc biệt nghiêm trọng hơn, người dân sử dụng lửa để xử lý thực bì gây nên cháy rừng trong mùa nắng nóng. (Đời Sống & Pháp Luật 12/6) đầu trang(
Sáng 11-6, Trạm Thú y huyện Dầu Tiếng phối hợp cùng Chi cục Thú y tỉnh Bình Dương mở lớp tập huấn chăn nuôi động vật hoang dã cho 48 hộ chăn nuôi động vật hoang dã.
Tại lớp tập huấn, các hộ chăn nuôi động vật hoang dã thuộc 2 xã Minh Tân và Long Tân được nghe cán bộ Chi cục Thú y tỉnh Bình Dương hướng dẫn cho những hộ chăn nuôi những kiến thức về chăm sóc, vệ sinh và phòng bệnh, bên cạnh đó triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về chăn nuôi động vật hoang dã.
Được biết, hiện toàn huyện Dầu Tiếng có 73 hộ nuôi động vật hoang dã với tổng số 14 loài, tổng đàn trên 5.100 con. Trong đó, loài động vật hoang dã được nuôi nhiều nhất là cá sấu với gần 2.400 con. Ngoài ra, các hộ dân ở Dầu Tiếng còn nuôi các loài động vật hoang dã khác như nhím, cua đinh, rùa đất, kỳ đà, trăn đất…
Thời gian qua, việc nuôi động vật hoang dã có tiềm ẩn những nguy cơ như mất an toàn, lây lan bệnh dịch, thậm chí còn ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của con người; nhiều hoạt động quản lý còn chưa theo kịp sự phát triển và đòi hỏi của thực tiễn, thiếu các quy định về quản lý an toàn chuồng, trại, vệ sinh môi trường và quản lý dịch bệnh đối với các loài hoang dã. (Báo Bình Dương 12/6) đầu trang(
Hà Tĩnh: Rừng ngập mặn bị thu hẹp
Những cánh rừng ngập mặn tại Hà Tĩnh đã phát huy hiệu quả bảo vệ cuộc sống và sản xuất cho cư dân sống ven biển. Tuy nhiên trong khi tác động sâu rộng của biến đổi khí hậu, thì diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh này đang bị thu hẹp dần; dẫn đến cuộc sống, sản xuất của người dân, trước hết là các vùng dân cư ven biển đứng trước nguy cơ bị đe dọa. (Đời Sống & Pháp Luật 12/6) đầu trang(
Thực hiện chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT, Ban chỉ đạo (BCĐ) Kiểm kê rừng của tỉnh, sáng 11-6, tại huyện Ia Pa đã diễn ra Hội nghị tập huấn triển khai kiểm kê rừng
Tham dự có đại diện BCĐ kiểm kê rừng thị xã Ayun Pa, huyện Krông Pa và Ia Pa; lực lượng kiểm lâm địa bàn; cán bộ lâm nghiệp; các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng được giao hoặc thuê rừng và các hộ trồng rừng ngoài đất lâm nghiệp.
Trong 3 ngày tập huấn, trên 100 cán bộ chuyên trách và các chủ rừng được các giảng viên hướng dẫn công tác đo đạc, đánh giá trữ lượng rừng, trạng thái và đất chưa có rừng; cách xây dựng, biên tập bản đồ điều tra, kiểm kê rừng; hướng dẫn kiểm tra, nghiệm thu thành quả điều tra hay cách sử dụng thiết bị, phần mêm phân tích trong quá trình công tác…
Đây là Hội nghị đầu tiên được tổ chức tại địa bàn, dự kiến đến cuối tháng 6-2014, sẽ có thêm 6 lớp khác được tổ chức trên phạm vi toàn tỉnh. Theo nhận xét của các học viên tham dự, lớp tập huấn mang lại nhiều kiến thức thực tế cũng như kinh nghiệm trong thực hiện kiểm kê rừng trong thời gian đến. (Báo Gia Lai 12/6) đầu trang(
Theo UBND tỉnh, tính đến hết tháng 5, các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã đăng ký trồng mới 2.376 ha rừng, đạt gần 80% kế hoạch.
Trong đó, rừng tập trung là 1.150 ha và rừng kinh doanh gỗ lớn là 1.226 ha. Hiện tại, ngành lâm nghiệp cũng đã phê duyệt hồ sơ thiết kế của 3 doanh nghiệp bao gồm: Công ty cổ phần Đông Bắc có diện tích trồng 69 ha, Công ty TNHH Bảo Lâm: 200 ha và Công ty TNHH Mai Khôi: 191 ha.
Được biết, theo kế hoạch trong năm 2014, ngành lâm nghiệp tỉnh sẽ phấn đấu trồng khoảng 3.000 ha rừng theo chương trình trồng rừng phân tán tại các hộ dân và doanh nghiệp tư nhân, các công ty lâm nghiệp quốc doanh… nhằm không ngừng nâng cao độ che phủ, cũng như chất lượng rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Đắc Nông 12/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
1.600 con gấu trúc làm bằng giấy có mặt tại nhiều địa điểm trên thế giới trong chiến dịch bảo vệ động vật hoang dã và nâng cao nhận thức bảo tồn thiên nhiên.
1.600 con gấu trúc giấy có mặt tại sân bay Hong Kong hôm 9/6. Đây là một trong nhiều hoạt động thuộc chiến dịch "1.600 Pandas World Tour", kéo dài một tháng, nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy các chương trình bảo vệ gấu trúc trước nguy cơ tuyệt chủng.
Gấu trúc được làm từ giấy tái chế, gạo và các loại sơn thân thiện với môi trường. Chúng có thể ở ngoài trời trong điều kiện thời tiết tốt hoặc mưa nhỏ.
Theo các chuyên gia của Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF), hiện chỉ còn khoảng 1.600 con gấu trúc sống trong môi trường tự nhiên. Với số lượng ít ỏi này, gấu trúc được xếp vào danh sách các loài động vật đang gặp nguy hiểm. (VnExpress 12/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang