|
Ngày 12 tháng 07 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Tỉnh Đồng Tháp đã phê duyệt quy hoạch và đầu tư hơn 31 tỷ đồng cho cho công tác giám sát chế độ ngập nước và phòng cháy rừng ở Vườn Quốc gia Tràm Chim. Việc quy hoạch và đầu tư này nhằm bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc gia Tràm Chim giai đoạn 2013 - 2020.
Theo đó, Vườn quốc gia Tràm Chim thiết lập một cơ chế kỹ thuật về quản lý chế độ ngập nước ở các phân khu chức năng để đáp ứng các mục tiêu bảo tồn các sinh cảnh đất ngập nước và các loài động, thực vật quý, hiếm; đồng thời góp phần giảm thiểu điều kiện gây cháy rừng và đồng cỏ trong mùa khô cũng như quy hoạch hệ thống vận hành và cơ chế quản lý chế độ ngập nước trong mùa khô để làm cơ sở cho việc quản lý rừng tràm, đồng cỏ và đa dạng sinh học.
Vườn cũng hoàn thiện Quy chế quản lý chế độ thủy văn vừa đáp ứng đặc điểm ngập nước của từng loại sinh cảnh, vừa phòng cháy rừng tràm và đồng cỏ; quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững các sinh cảnh rừng tràm, đồng cỏ ngập nước theo mùa và các sinh cảnh đất ngập nước khác; bảo tồn các loài chim nước quý, hiếm, đặc biệt là loài chim sếu đầu đỏ...
Quy hoạch các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng và đồng cỏ trong mùa khô có sự tham gia của cộng đồng vùng đệm và các lực lượng tại chỗ; xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; xây dựng cơ sở hạ tầng và mua sắm trang, thiết bị, phương tiện phòng cháy và chữa cháy.
Mùa khô năm 2013, Vườn quốc gia Tràm Chim đã được UBND tỉnh Đồng Tháp thống nhất đề xuất bơm nước khu A2 (diện tích rừng trên 700 ha) để giữ độ ẩm cho rừng và đốt cỏ chủ động phòng, chống cháy rừng và đốt cỏ phục hồi bãi năng với tổng diện tích là 640 ha. Mục tiêu của phương án này là làm giảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng; tạo đường băng trắng phòng cháy lan từ khu vực đồng cỏ vào khu vực rừng tràm.
Trên cơ sở hiện trạng rừng và đồng cỏ, Vườn xác định vị trí cắt băng trắng và đốt cỏ ở các phân khu. Vườn cũng đã thực hiện việc đốt cỏ để phục hồi bãi năng tại khu A1, A3, A4, A5 với tổng diện tích là 370 ha nhằm làm giảm lớp thực bì tạo điều kiện cho cây năng phát triển và tạo củ. Vì vậy, mùa khô năm nay Vườn Tràm Chim đã hạn chế được các vụ cháy rừng xảy ra .
Mục tiêu lâu dài của Vườn Tràm Chim là bảo vệ và bảo tồn một khu rừng đặc dụng với các cảnh quan tiêu biểu, các hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù, các loài động, thực vật quý, hiếm của vùng Đồng Tháp Mười . (Tin Tức 12/7)đầu trang(
Nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng trong năm 2013 trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương chỉ đạo các sở, ngành, địa phương liên quan trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo triển khai, thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Theo đó, toàn tỉnh tích cực thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ, tiếp tục thực hiện Công điện số 300/CĐ-TTg ngày 06/3/2012 về việc ‘‘Phòng cháy, chữa cháy rừng’' của Thủ tướng Chính phủ.
Phối hợp tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn công tác PCCCR trên địa bàn, Luật Phòng cháy và chữa cháy, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của các Bộ ngành Trung ương về công tác PCCCR... trên phương tiện thông tin đại chúng.
Tập trung chú trọng PCCCR vào thời điểm nắng nóng, hanh khô, mùa đốt nương làm rẫy. Đặc biệt tại các khu vực rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng trồng, vùng trọng điểm có nguy cơ cháy ở cấp cao...
Đồng thời, thông tin về kết quả thực hiện PCCCR của các ngành, các cấp, các đơn vị, địa phương, gương người tốt, việc tốt và những vấn đề tồn tại trong công tác PCCCR, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân trong việc chủ động PCCCR.. (Binhduong.gov.vn 11/7)đầu trang(
Từ đầu năm 2013 đến nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn xã An Vinh được chú trọng.
Xã đã phối hợp với các ban, ngành liên quan xã đã tổ chức 12 đợt tuần tra, truy quét các khu vực rừng trong xã, phát hiện và tịch thu 20 hộp gỗ vắng chủ có khối lượng 1.739 m3 khối gỗ các loại, chủ yếu gỗ nhóm IIA.
Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng ở xã được kiện toàn gồm 20 người, tại 7/7 thôn với 167 người tham gia và tổ chức cho 477 hộ gia đình trong xã tham gia ký kết thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, đạt 100% kế hoạch.
Tranh thủ những ngày có mưa, thời quan qua , nhân dân xã An Vinh đã trồng phân tán 81 ha keo lai, đạt 100% kế hoạch năm. Được biết, hiện nay, xã An Vinh đang quản lý, bảo vệ 4.016,9 ha rừng tự nhiên, chăm sóc 869,3 ha rừng trồng. (Anlao.Binhdinh.gov.vn 12/7)đầu trang(
Thời gian qua, vấn nạn cháy rừng, phá rừng, khai thác rừng trái phép đã trở thành tâm điểm của dư luận trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Cuộc chiến giữ rừng đang ngày càng phức tạp trong khi rừng vẫn đang bị đe dọa từng ngày. Điều này cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn còn gặp nhiều khó khăn và thách thức.
Phóng viên Báo Gia Lai đã có cuộc trao đổi với ông Kpă Thuyên-Giám đốc Sở NN&PTNT về vấn đề này.
Ông Kpă Thuyên cho biết: Từ đầu năm đến nay, qua công tác tuần tra, kiểm tra, lực lượng Kiểm lâm và các cơ quan chức năng đã phát hiện 549 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó: 14 vụ phá rừng trái phép với tổng diện tích thiệt hại là 22,83 ha; 34 vụ vi phạm về khai thác rừng; 4 vụ cháy rừng thiệt hại 411,1 ha; 467 vụ mua bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép; 3 vụ vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã; 7 vụ vi phạm quy định về chế biến gỗ và 21 vụ vi phạm khác.
Đến thời điểm này, chúng tôi đã xử lý được 508 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Tuy nhiên, phần lớn các vụ vi phạm đều ở mức xử phạt hành chính (498 vụ). Đối với những vụ vi phạm có thủ đoạn chặt phá, lấn chiếm rừng một cách tinh vi và phức tạp, các đối tượng vi phạm tổ chức thành băng nhóm, lợi dụng sơ hở để xâm nhập vào rừng để chặt cây lấy gỗ với số lượng lớn sẽ bị đưa ra xem xét khởi tố hình sự. Vừa qua, đã có 10 vụ vi phạm bị khởi tố hình sự nhưng tất cả 10 vụ này đều đang trong giai đoạn điều tra, chưa truy tố và xét xử.
Cũng theo ông Kpă Thuyên, dù công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) trên địa bàn tỉnh trong thời gian 6 tháng đầu năm có nhiều chuyển biến tích cực, song nhìn chung vẫn còn những hạn chế, yếu kém nhất định, thể hiện qua thực tế như: Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy ở các huyện Đức Cơ, Chư Pah, Đak Đoa vẫn còn tiếp diễn và trở thành thách thức lớn đối với các ngành chức năng trong việc kiểm soát.
Vụ cánh rừng gỗ hương quý hiếm bị hạ trong khu rừng thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Krông Pa vào đầu năm 2013 đã thực sự làm “nóng” dư luận. Đây là một vụ phá rừng, triệt hạ gỗ quý hiếm lớn nhất từ trước tới nay và là một vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nghiêm trọng. Mặc dù cơ quan chức năng thường xuyên phối hợp tiến hành tuần tra, kiểm soát nhưng cũng không thể kiểm soát hết và lộ rõ nhiều sơ hở nên đã dẫn đến tình trạng phá rừng nặng nề.
Từ những vụ phá rừng thông trồng ở huyện Mang Yang, cháy rừng trồng ở Chư Pah, hay tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép từ các tỉnh giáp ranh và Camphuchia ở các huyện Đức Cơ, Ia Grai, Chư Pưh cho thấy: Công tác phổ biến pháp luật, tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia bảo vệ rừng chưa có sự vào cuộc của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Hình thức tuyên truyền chủ yếu là tổ chức các hội nghị, họp dân ở thôn, làng... nên công tác vận động các tầng lớp nhân dân còn hạn chế, chưa làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của người dân về nghĩa vụ quản lý bảo vệ rừng. Tình hình vi phạm lâm luật còn diễn ra dưới nhiều hình thức dẫn tới việc khó kiểm soát. Cháy rừng mùa khô vẫn còn diễn biến khá phức tạp ở một số địa phương và đòi hỏi các ngành chức năng phải luôn trong tâm thế sẵn sàng ứng phó.
Mới đây nhất là vụ vận chuyển gỗ trái phép từ huyện Sa Thầy (Kon Tum) được tập kết tại bến sông làng Tung (xã Ia Khai-huyện Ia Grai). Qua việc phát hiện đường dây gỗ lậu có quy mô lớn này, cho thấy sự phối hợp của một số đơn vị chủ rừng, chính quyền xã và các ngành chức năng Hạt Kiểm lâm còn thiếu sự gắn kết trách nhiệm, mạnh ai nấy làm. Khi lực lượng bị phân tán thì không thể tạo được sức mạnh tổng hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Điều này dẫn đến việc quản lý địa bàn lỏng lẻo, không đủ khả năng kiểm soát, ngăn chặn tình hình vi phạm, đối với những vụ việc phức tạp không xử lý được đến nơi, đến chốn.
Để khắc phục tình trạng trên, theo ông Kpă Thuyên, ngoài những giải pháp đã đề ra như tuyên truyền, giáo dục, tăng cường công tác hoạt động của kiểm lâm, xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng cho từng khu vực, tăng cường công tác phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm với các đơn vị chức năng thường xuyên triển khai truy quét tại các điểm nóng, các tụ điểm phá rừng trái pháp luật… thì chúng ta cần phải có sự đồng bộ và gắn kết trách nhiệm với nhau trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Trước mắt cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy các ban quản lý rừng phòng hộ. Người lãnh đạo phải có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn đặt ra trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Chỉ đạo các ban quản lý rừng rà soát, đánh giá lại chất lượng đội ngũ công chức, viên chức và người lao động của đơn vị; kịp thời củng cố, sắp xếp và phân công nhiệm vụ một cách phù hợp, bảo đảm phát huy được nhiệm vụ bảo vệ rừng tại gốc…(Báo Gia Lai 11/7)đầu trang(
Trước tình trạng khai thác lâm sản trái phép có diễn biến phức tạp, huyện Bạch Thông đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân.
Đồng thời, chỉ đạo lực lượng Công an, Kiểm lâm, Quân đội thực hiện quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tuần tra nắm tình hình, phát hiện và xử lý nghiêm các vụ vi phạm theo quy định của pháp luật.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện, 6 tháng đầu năm 2013 các trạm kiểm lâm trực thuộc và cán bộ kiểm lâm địa bàn đã phối hợp với chính quyền địa phương, các ngành chức năng của huyện kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và lập biên bản xử lý 25 vụ vận chuyển lâm sản và khai thác lâm sản trái phép. Trong đó, tịch thu được 4,413m3 gỗ, 5 xe máy, 1 ô tô, 1 cưa xăng, nộp ngân sách hơn 87 triệu đồng.
Huyện cũng đã quán triệt Chỉ thị số 08 CT/TU ngày 2/7/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tổ chức ngăn chặn xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường tới các cơ quan, đơn vị và nhân dân các xã, qua đó nhằm nêu cao tinh thần và trách nhiệm bảo vệ, phát hiện và tố giác những tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Đồng thời, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức thống kê việc sử dụng gỗ nghiến và tàng trữ gỗ tại nhà trên địa bàn xã Cao Sơn. Qua kiểm tra cho thấy các vụ việc vi phạm khai thác gỗ trái phép chủ yếu là sử dụng vào mục đích làm nhà, mục đích thương mại đã được cơ quan chức năng ngăn chặn kịp thời.
UBND huyện còn chỉ đạo các ngành chức năng kiểm tra, rà soát các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản. Tăng cường việc tuần tra, kiểm tra tại các khu rừng giáp ranh, nhất là vùng có lâm sản quý hiếm. Cơ quan chức năng trong huyện đã đưa ra xét xử lưu động 3 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng qua đó vừa răn đe vừa tuyên truyền cho người dân nêu cao nhận thức trong việc bảo vệ rừng.
Đồng thời, kiểm điểm nghiêm túc những tập thể, cá nhân vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng, trước hết là lãnh đạo các xã và trưởng thôn. Huyện Bạch Thông đã ban hành quy định khu vực cấm dùng cưa xăng khi chưa được cấp giấy chứng nhận và đăng ký sử dụng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - (giáp xã Cao Sơn, Vũ Muộn), phạm vi áp dụng tại xã Cao Sơn, Vũ Muộn, hiện đã tổ chức cho nhân dân 2 xã đăng ký, quản lý cưa xăng với kiểm lâm của Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ.
Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Bạch Thông còn nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của chính quyền địa phương, các ngành chức năng nên đã thu được những kết quả tích cực. Các hành vi khai thác gỗ, buôn bán lâm sản trái phép từng bước được ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Tuy nhiên, để việc quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện hiệu quả, về lâu dài huyện Bạch Thông cần có cơ chế, chính sách đồng bộ về phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định đời sống cho người dân, đặc biệt là nhân dân ở vùng sâu, vùng xa nhằm nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc bảo vệ rừng. (Báo Bắc Kạn 12/7)đầu trang(
Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS) vừa trao tặng máy chữa cháy cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện Thủ Thừa và 5 bộ máy vi tính cho xã Tân Lập (thuộc huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An).
Tổng trị giá các thiết bị nói trên là 350 triệu đồng. Việc VWS tặng máy vi tính sẽ giúp xã Tân Lập có điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính; riêng máy chữa cháy sẽ giúp cơ quan huyện Thủ Thừa tăng cường khả năng phòng cháy chữa cháy ở các khu rừng tràm. Ngoài việc hỗ trợ thiết bị, nhiều năm qua, VWS còn tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương cho những gia đình nghèo tại Long An. (Người Lao Động 12/7)đầu trang(
Đảo Lý Sơn có 5 ngọn núi, gồm: Thới Lới, giếng Tiền, hòn Vung, hòn Sỏi và hòn Tai. Việc đầu tư trồng cây xanh trên đảo rất khó khăn nên việc giữ rừng càng trở nên quan trọng hơn. Thế nhưng, chỉ trong một thời gian ngắn trên đảo liên tiếp xảy ra hàng loạt vụ cháy rừng, khiến những vạt rừng là vốn quý của đảo đang bị teo tóp dần.
Theo ông Trần Ngọc Nguyên, Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, cho biết: Hiện nay, huyện Lý Sơn đã thành lập Ban PCCR nhưng hoạt động chưa thật sự hiệu quả. “Con người thì có, nhưng phương tiện chữa cháy rừng thì không có, chủ yếu là chữa cháy bằng phương pháp thủ công nên việc dập tắt đám cháy là rất khó khăn và mất thời gian khá lâu.
Bình chữa cháy cũng có nhưng chỉ là loại bình chữa cháy cá nhân thì làm sao dập được cháy rừng. Còn nguồn nước thì càng khó khăn hơn. Trước mắt huyện chỉ còn biết tổ chức tuyên truyền, vận động người dân cần nâng cao và cảnh giác hơn nữa để hạn chế tối đa các vụ cháy rừng xảy ra”– ông Nguyên nói.
Từ năm 2008 đến nay trên địa bàn huyện đã triển khai 3 dự án trồng rừng có quy mô lớn. Theo đó, có hai dự án trồng rừng của Chính phủ gồm: Dự án trồng rừng cảnh quan môi trường huyện đảo Lý Sơn vào tháng 4/2008; Chương trình dự án 661 của Bộ NN&PTNT và dự án trồng rừng phòng hộ và cảnh quan môi trường huyện đảo Lý Sơn do Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh thực hiện. . (Báo Quảng Ngãi 12/7)đầu trang(
Hiện tại, tất cả các xã trên địa bàn huyện Tây Giang đã thành lập được các tổ tự quản về quản lý, bảo vệ rừng. Tại xã Lăng có 7 thôn chia làm 7 tổ tuần tra rừng (mỗi tổ có khoảng 7 - 8 người) bao gồm dân quân, xã đội phụ trách địa phận của mình.
Đều đặn một tháng tuần tra rừng 2 lần, mỗi đợt tuần tra trong khoảng 4 -5 ngày. Mỗi lần đi sẽ có 2 cán bộ kiểm lâm tham gia hỗ trợ tuần tra giám sát. Khi đi tuần tra rừng trong nhiều ngày, tổ tuần tra có sự chuẩn bị chu đáo về bản đồ khu vực tuần tra, máy ảnh, la bàn, máy định vị, lương thực, thực phẩm, trang thiết bị làm trại và tư trang cá nhân đi rừng. Ngoài ra còn phải ghi chép nhật ký tuần tra chu đáo.
Nhờ những thông tin kịp thời từ nhân dân, lực lượng chức năng thu thập và xác minh được nguồn tin về các hoạt động phạm pháp đã và đang xảy ra trên địa bàn, phá được hàng trăm vụ phá rừng nghiêm trọng nhằm giữ sự bình yên cho rừng.
Thời gian qua, rừng ở vùng biên Tây Giang không còn cảnh triệt hạ ngang nhiên như trước. Số vụ phá rừng và khối lượng gỗ bị tịch thu đã giảm đáng kể. Tình trạng lâm tặc lập các lán trại để khai thác gỗ trái phép giảm; người dân dần có nhận thức về bảo vệ rừng, không còn bị một số đối tượng lợi dụng khai thác rừng trái phép...
Ông Trần Công Anh - cán bộ phụ trách thanh tra pháp chế Hạt Kiểm lâm huyện Tây Giang cho biết: “Qua hơn 1 năm thực hiện, nhờ có những lực lượng tuần tra cộng đồng mà anh em kiểm lâm đã phát hiện đẩy đuổi hàng chục vụ khai thác rừng trái phép, tiến hành tháo gỡ và cứu sống hàng trăm động vật quý bị dính bẫy. Giờ đây, công tác quản lý và bảo vệ rừng của anh em kiểm lâm đỡ vất vả hơn rất nhiều”.
Ông Blúp Mắt – Tổ trưởng tổ tuần tra thôn Anonh (xã A Nông, huyện Tây Giang) chia sẻ: “Hình thức tuần tra rừng cộng đồng là việc làm mang lại lợi ích xã hội. Ở đây, người dân đi làm rẫy phát hiện có những đối tượng lạ vào rừng sẽ thông báo ngay cho những người có trách nhiệm để xử lý kịp thời. Bởi vậy, chúng tôi ví người dân cùng tham gia bảo vệ rừng như là đôi mắt của cán bộ kiểm lâm”.
Còn anh Bling Rích - dân quân phụ trách tổ tuần tra thôn Tary (xã Lăng) nói: “Công tác tuần tra rừng của chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, phải băng rừng, lội suối mà đi, có những hôm bị thú dữ tấn công. Tuy vậy anh em vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Có những trường hợp lâm tặc đi quá đông, tổ tuần tra phải nhờ tới sự giúp đỡ của nhân dân để phối hợp đẩy đuổi”. (Báo Quảng Nam 12/7)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
10-7, tại kỳ họp HĐND tỉnh Bình Phước, các đại biểu đã nghe báo cáo của UBND tỉnh về việc quy hoạch và thực trạng các dự án thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn; báo cáo sự tác động của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A.
Theo đó, các đại biểu HĐND được yêu cầu cho ý kiến, nhận xét về dự án thủy điện Đồng Nai 6-6A để tổng hợp gửi QH. UBND tỉnh Bình Phước cũng đề nghị trước khi tiến hành thực hiện, cần xem xét thận trọng, thấu đáo trên cơ sở khách quan, khoa học mang tính bền vững, lâu dài việc tác động của dự án này đến cảnh quan môi trường, an sinh xã hội trong toàn khu vực có liên quan đến ảnh hưởng của vùng dự án.
Chiều cùng ngày, HĐND tỉnh Bình Phước đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với 14 chức danh do HĐND tỉnh bầu (kết quả được công bố vào hôm nay 11-7). Ông Nguyễn Tấn Hưng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, cho biết hai trường hợp gồm: ông Nguyễn Văn Trăm - Chủ tịch UBND tỉnh và ông Nguyễn Văn Thành - Chánh Văn phòng UBND tỉnh không phải lấy phiếu tín nhiệm vì mới được bầu bổ sung vào tháng 4-2013. (Pháp Luật TPHCM 11/7)đầu trang(
Theo dự kiến, từ nay đến năm 2020, tỉnh Lâm Đồng sẽ khai thác 6.720 ha rừng thông ba lá (trung bình 840 ha/năm) và được trồng lại trong vòng 1 năm sau khi khai thác.
Mục tiêu của chương trình khai thác rừng thông ba lá tự nhiên được đặt ra là phát triển theo hướng bền vững về diện tích, chất lượng và cơ cấu rừng thông qua các giải pháp kỹ thuật lâm sinh; và đặc biệt là cải tạo rừng tự nhiên thông 3 lá thuần loại năng suất thấp, chất lượng kém sang rừng trồng thông 3 lá có năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị cao hơn theo hướng sản xuất (SX) công nghiệp; đáp ứng tốt yêu cầu phòng hộ, đảm bảo môi trường sinh thái...
Với 6.720 ha rừng thông ba lá dự kiến sẽ được khai thác từ nay đến năm 2020, theo tính toán của các nhà chuyên môn, tổng sản lượng gỗ thu được sẽ là con số rất đáng kể: 1.173.100 m3, trung bình mỗi năm khai thác 146.638 m3. Trong đó, từ 2013 - 2015, bình quân mỗi năm khai thác 136.000 m3. Toàn bộ gỗ khai thác trong giai đoạn này đều được đưa vào chế biến tinh ngay tức thời với tỷ lệ thành phẩm tinh chế chiếm ít nhất là 75% để đạt được giá trị sản phẩm gần 3.000 tỷ đồng.
Ở giai đoạn tiếp theo (2016 - 2020) sẽ được khai thác trung bình 153.000 m3 mỗi năm; tỷ lệ thành phẩm tinh chế được nâng lên 85%, giá trị sản phẩm chế biến sẽ là con số 6.500 tỷ đồng.
Như vậy, về lý thuyết mà nói, giá trị sản phẩm gỗ tinh chế (từ 75 - 85%) đạt được cho cả giai đoạn khai thác và chế biến rừng thông ba lá SX của tỉnh gần 9.500 tỷ đồng, một con số không hề nhỏ.
Về vấn đề trồng rừng, toàn bộ 6.720 ha rừng thông ba lá SX trong diện khai thác sẽ được trồng lại rừng theo hình thức “cuốn chiếu”: Khai thác năm trước thì năm sau trồng lại ngay, và cây rừng đưa vào trồng cũng là thông ba lá giống chọn lọc.
Năm trồng ít nhất là 2013 này với dự kiến khoảng 269 ha; năm cao nhất là 2015 với diện tích phải trồng là 939 ha; các năm khác trồng từ 725 ha (năm 2014), 848 ha (2018), 849 ha (2019)… đến 861 ha (2020), 928 ha (2016).
Việc trồng lại rừng sau khai thác, đề án nêu rõ: Tuân thủ nghiêm việc trồng rừng ngay sau khai thác; áp dụng quy trình kỹ thuật trồng rừng thông 3 lá thâm canh, thực hiện các biện pháp kỹ thuật mũi nhọn về giống - phân bón - kỹ thuật làm đất để tạo rừng trồng đạt năng suất cao, chất lượng cao nhất.
Một trong những giải pháp lâm sinh được đặt ra là thực hiện tốt công tác khuyến lâm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về SX cây giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng để nâng cao hiệu quả trong công tác xã hội hóa nghề rừng. (Nông Nghiệp VN 11/7)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tỉnh Bắc Giang đã trồng được 4.268 ha rừng tập trung, đạt trên 112% chỉ tiêu kế hoạch, cao gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó, rừng sản xuất 4.188 ha, rừng phòng hộ 80 ha. Đến nay, các địa phương đã trồng được 679.852 cây các loại, gấp 10 lần so với cùng kỳ.
2 đơn vị hoàn thành kế hoạch trồng rừng sớm nhất là Ban Quản lý hỗ trợ trồng rừng sản xuất huyện Yên Thế và Sơn Động, chủ yếu trồng các dòng keo ươm từ hạt, keo lai hom, bạch đàn Urophyla; loài cây trồng rừng phòng hộ là thông mã vĩ xen keo ươm từ hạt. Đây đều là những cây lâm nghiệp có năng suất, giá trị kinh tế cao. (Nông Nghiệp VN 11/7, tr20)đầu trang(
Vừa qua, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị sơ kết công tác Kiểm lâm, và hoạt động Công đoàn 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2013.
Hội nghị đánh giá 6 tháng đầu năm, an ninh rừng trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản ổn định, các huyện miền núi không để xảy ra cháy rừng; công tác chống buôn lậu lâm sản được tăng cường, các hoạt động nghiệp vụ được triển khai đồng bộ, trong đó trồng rừng theo dự án 147 đạt trên 60% kế hoạch; công tác cập nhật diễn biến rừng và đất lâm nghiệp thực hiện theo đúng tiến độ; công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh;
Thực hiện nghiêm qui định “03 không” trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân; thực hiện ISO 9001: 2008 đúng quy trình; công tác thi đua khen thưởng có bước đổi mới toàn diện và hiệu quả. Phát huy kết quả đạt được lực lượng Kiểm lâm Thanh Hóa quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2013. (Theo Kiểm lâm Thanh Hóa 11/7)đầu trang(
Thực hiện Chương trình phối hợp số 02 giữa Ban Dân vận Tỉnh uỷ và Chi cục Kiểm lâm tỉnh về tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng từ năm 2013 đến 2015, ngày 9/7, Hạt Kiểm lâm và Ban Dân vận huyện uỷ Quan Hoá đã tổ chức lễ ký kết Chương trình phối hợp về tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia BVR, PTR&PCCCR giai đoạn 2013 – 2015.
Mục đích nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đồng bào các dân tộc trong huyện chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời tăng cường mối quan hệ phối hợp trong việc củng cố nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng của khối dân vận cấp xã, tổ dân vận thôn (bản), Kiểm lâm địa bàn về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về BVR, PTR&PCCCR.
Theo đó, Hạt Kiểm lâm và Ban Dân vận tăng cường chỉ đạo, tham mưu tốt cho cấp Uỷ, Chính quyền địa phương triển khai có hiệu quả các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác BVR, PTR&PCCCR; vận động và tổ chức cho các hộ gia đình ký cam kết với chính quyền địa phương, cơ quan Kiểm lâm trong BVR, PTR&PCCCR; khuyến khích phát triển kinh tế trang trại lâm nghiệp, các mô hình thâm canh rừng bền vững; tổ chức tập huấn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác tuyên truyền cho đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên, Khối dân vận xã, các thành viên “Tổ dân vận” ở thôn (bản). (Theo Kiểm lâm Thanh Hóa 12/7)đầu trang(
Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2015, tỉnh Khánh Hòa sẽ trồng khoảng 1,2 triệu cây để phủ kín diện tích đất ngập mặn còn lại với kinh phí thực hiện khoảng 26 tỷ đồng. Tỉnh cũng vận động, khuyến khích các tổ chức tham gia khôi phục lại rừng ngập mặn.
Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Khánh Hòa cho biết, hiện ở vùng đầm; ven biển, đảo của tỉnh còn khoảng 741 ha đất ngập mặn; trong đó còn đến 663 ha chưa được trồng rừng, chiếm trên 89% tổng diện tích.
Đến thời điểm này, tỉnh Khánh Hòa chỉ còn lại khoảng 78 ha rừng ngập mặn so với khoảng 2.500 ha trước những năm 1990. Rừng ngập mặn ở Khánh Hòa bị suy giảm mạnh là do phong trào phá rừng để lập đầm nuôi trồng thuỷ sản trước đây. Trong khi, việc khôi phục lại rừng ngập mặn cũng gặp không ít khó khăn, do đất ngập mặn trước đây đã biến đổi khiến cây giống mới khó thích nghi.
Từ năm 2006, trên địa bàn tỉnh triển khai nhiều dự án trồng và khôi phục lại rừng ngập mặn, như ở xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh; xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh; khu vực Đầm Bấy trong vịnh Nha Trang… Tuy nhiên, tỷ lệ cây ngập mặn sống và phát triển đạt khá thấp, chỉ từ 50 - 60%, có nơi từ 10 - 20%. Ở một số khu vực trồng cây ngập mặn, người dân vẫn tiến hành nhiều hoạt động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
Thời gian qua, cộng đồng dân cư xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hoà đã khôi phục được 25 ha rừng ngập mặn ở khu vực đầm Nha Phu; Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện dự án khôi phục rừng ngập mặn ở Cam Ranh, Vạn Ninh; vịnh Nha Trang đã khôi phục được khoảng 10 ha rừng ngập mặn… (Tài Nguyên&Môi Trường 11/7)đầu trang(
Khẳng định quá trình giải quyết vụ án và bản án của TAND huyện Quỳnh Lưu có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và nội dung, Bản kháng nghị số 1063/QĐ/VKS-P5, ngày 27/6/2013 của Viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An chỉ rõ một loạt vi phạm pháp luật trong Bản án sơ thẩm số 11/2013/DSST ngày 31/5/2013 của TAND huyện Quỳnh Lưu:
“Vi phạm quy định về người tiến hành tố tụng: Vụ án được thụ lí lần đầu vào năm 2010, sau đó do chuyển thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp huyện, vụ án được thụ lý lần thứ hai vào năm 2011. Tháng 12/2011, TAND Quỳnh Lưu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án và quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án này. Quyết định của TAND Quỳnh Lưu bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm và TAND tỉnh đã xử hủy Quyết định sơ thẩm của TAND Quỳnh Lưu. TAND Quỳnh Lưu tiếp tục thụ lí vụ án lần thứ 3.
Trong 2 lần thụ lí trước, Thư ký toà án (TKTA) trực tiếp ghi lời khai của các đương sự (bl 173), ghi lời khai của những công nhân trồng rừng đã tham gia góp vốn và trồng rừng trên đất tranh chấp (bl 125 – 160), làm thư ký ghi biên bản hòa giải ngày 23/11/2011 (bl 294-295). Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm ngày 31/5/2013, Hồ Diên Tuấn lại tiến hành tố tụng với tư cách là TKTA ghi biên bản phiên tòa. Như vậy, việc TKTA Quỳnh Lưu Hồ Diên Tuấn đã từng tiến hành tố tụng với tư cách là TKTA trong vụ án này trước đây, nay lại tiến hành tố tụng với tư cách là TKTA ghi biên bản phiên tòa là trái với quy định tại khoản 2 điều 49 BLTTDS”.
“Xác định bị đơn chưa thống nhất: Tại bản án sơ thẩm thể hiện bị đơn trong vụ án là ông Lê Duy Nguyên, nhưng tại biên bản phiên tòa thể hiện bị đơn trong vụ án tham gia phiên tòa sơ thẩm là DN tư nhân trồng rừng Lê Duy Nguyên do ông Lê Duy Nguyên làm đại diện.
Xác nhận không đúng điều luật áp dụng: Tại biên bản nghị án ở phần biểu quyết áp dụng điều luật và phần quyết định của bản án có ghi điều luật áp dụng là Mục II, III Quyết định số 02 ngày 10/1/1993 của UBND huyện Quỳnh Lưu là không đúng. Quyết định của UBND huyện Quỳnh Lưu về việc cấp đất rừng cho ông Lập chỉ là 1 văn bản hành chính, không phải là văn bản pháp luật làm căn cứ để TA áp dụng giải quyết vụ án dân sự.
Không đưa người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng: Hồ sơ vụ án thể hiện diện tích đất tranh chấp do DN tư nhân trồng rừng Lê Duy Nguyên quản lý và sử dụng, không phải do cá nhân ông Lê Duy Nguyên sử dụng. DN tư nhân trồng rừng này được thành lập có Ban giám đốc và quyền lợi của hơn 30 công nhân trồng rừng. Trên đất tranh chấp lại còn có tài sản là cây cối có giá trị không nhỏ do các công nhân gây trồng và 80% lợi nhuận từ trồng rừng là của những người công nhân. DN tư nhân không có tư cách pháp nhân nhưng TA không đưa những cá nhân trong DN tư nhân trồng rừng Lê Duy Nguyên vào tham gia tố tụng là thiếu sót, dẫn đến giải quyết vụ án không triệt để.
UBND huyện Quỳnh Lưu là đơn vị trực tiếp cấp lâm bạ cho ông Trần Xuân Lập. TA nhận định rằng quy trình cấp lâm bạ không phù hợp nên bác đơn khởi kiện của ông Lập nhưng không đưa UBND huyện Quỳnh Lưu vào tham gia tố tụng để xác minh làm rõ về quy trình cấp lâm bạ là vi phạm quy định tại khoản 4 điều 56 BLTTDS.
Vi phạm trong việc giải quyết về án phí: Buộc những người có quyền và nghĩa vụ liên quan phải nộp tạm ứng án phí trong khi họ không có yêu cầu độc lập: Những người con ông Lập bà Vạn là anh Bắc, anh Quang, chị Quyên và anh Thành được TA đưa vào tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có đơn yêu cầu độc lập. Việc TA cấp sơ thẩm buộc họ phải nộp tiền tạm ứng án phí 400.000đ/người là trái với quy định tại khoản 1 điều 130 BLTTDS về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí.
Bản án tuyên về án phí không rõ ràng: "Buộc ông Trần Xuân Lập phải nộp 53.610.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Miễn giảm cho ông Lập và bà Vạn 23.610.000đ tiền án phí. Ông Trần Xuân Lập và bà Lê Thị Vạn còn phải nộp 30.000.000đ...". Như vậy, nếu hiểu theo bản án này thì ông Lập phải chịu hai khoản án phí, một khoản 53.610.000 đồng một mình ông phải chịu; một khoản 30.000.000đ thì cả ông Lập và bà Vạn cùng phải chịu.
Giải quyết về án phí không đúng quy định tại điểm a khoản 2 điều 17 Nghị quyết 01/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC: Trong dự án này, ông Lập khởi kiện yêu cầu ông Nguyên trả lại quyền sử dụng đất rừng cho ông. TA xử bác đơn khởi kiện của ông Lập nhưng lại buộc ông phải chịu án phí đối với vụ án có giá ngạch là không đúng với quy định trên. Trường hợp này, vợ chồng ông Lập chỉ phải chịu án phí không có giá ngạch.
Vi phạm trong việc tuyên quyền kháng cáo: Tại phần quyết định của bản án về kháng cáo có ghi: "Người được nguyên đơn ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Xuân Lập, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án". Việc TA tuyên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lập cũng được quyền kháng cáo là trái quy định tại điều 243 BLTTDS.”
Kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An chỉ rõ: TAND huyện Quỳnh Lưu giải quyết vụ án không căn cứ vào những tình tiết khách quan có trong vụ án và không phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm ở phần “Xét thấy”, HĐXX nhận định: "Về đơn xin cấp đất hiện nay chưa xác định được là do ông Lập hay ông Nguyên viết, nhưng có sơ sở xác định là tên ông Lập trong đơn theo ghi nhận tại quyết định số 02 ngày 10/1/1993 của UBND huyện Quỳnh Lưu". Tại các lời khai của ông Nguyên có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện thời điểm 1992 do ông chưa nghỉ hưu nên không thể được cấp đất trồng rừng, ông phải nhờ ông Lập đứng tên xin cấp đất.
Tại bút lục 108 có trong hồ sơ vụ án, ông Nguyên tự khai như sau: Năm 1992 sau khi quan sát thấy ở vùng Minh - Thanh xã Quỳnh Lập có nhiều đất trồng đồi trọc, ông nảy ra ý định trồng rừng. Ông bàn với ông Lập và ông Ngoạn nhận đất chung để trồng rừng. Hai người đồng ý. Ông tìm hiểu thủ tục xin đất và về thảo đơn xin đất. Đơn mang tên ông Lập và ông Ngoạn (hai người trong nhóm đã bàn cùng nhận đất để trồng rừng chung) và anh Nam (trường hợp ông nhờ đứng tên)...
Điều này chứng tỏ, chỉ có anh Nam là người ông nhờ đứng tên, còn lại trường hợp ông Lập là người "cùng nhận đất để trồng rừng chung" chứ không phải là ông nhờ ông Lập đứng tên hộ. Lâm bạ số 02 ngày 10/1/1993 là cấp cho ông Lập do ông Lập là người đủ tiêu chuẩn và điều kiện được cấp đất lâm nghiệp. Bản án chỉ dựa vào việc ông Nguyên đi nhận lâm bạ và ký tên ông Lập vào lâm bạ trong khi không thu thập được hồ sơ xin cấp đất của ông Lập để xác định Quyết định số 02 ngày 10/1/1993 của UBND huyện Quỳnh Lưu giao đất rừng cho hộ gia đình ông Trần Xuân Lập đã vi phạm về trình tự thủ tục giao đất, cấp giấy phép chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng là chưa phù hợp.
Tại điều 8, Nghị định 30/1989 quy định về việc giao đất như sau: "Người xin đất trồng, đồi núi trọc để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp phải làm đơn nộp UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc nơi có đất trống, đồi trọc; trong thời hạn 1 tháng, cơ quan có thẩm quyền ghi trong điều 13 Luật Đất đai phải trả lời". Việc giao lâm bạ, ký tên vào lâm bạ và giao nhận đất không phải là điều kiện để được cấp lâm bạ và quy trình để được cấp lâm bạ mà chỉ là quy trình sau khi cấp lâm bạ, do đó không thể là những căn cứ để cho rằng quy trình cấp lâm bạ của UBND huyện Quỳnh Lưu cho ông Trần Xuân Lập là không đúng theo quy định tại Nghị định nêu trên”.
Đánh giá về những vi phạm của bản án sơ thẩm của TAND huyện Quỳnh Lưu, Kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An nhận định: “Bản án dân sự sơ thẩm nên trên đã vi phạm pháp luật dân sự cả về nội dung và thủ tục tố tụng. Những vi phạm này là nghiêm trọng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần áp dụng khoản 3 Điều 275, Điều 277 BLTTDS để hủy bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích trên”.
Với kháng nghị nêu trên, có thể nói, bản án sơ thẩm nêu trên của TAND huyện Quỳnh Lưu chứa đựng quá nhiều vi phạm khó hiểu trong áp dụng pháp luật. Có những vi phạm lặp đi lặp lại trong quá trình giải quyết vụ án như vi phạm qui định về người tiến hành tố tụng; giải quyết vụ án không căn cứ vào những tình tiết khách quan có trong vụ án và không phù hợp với quy định của pháp luật... Đặc biệt, còn áp dụng điều luật sai một cách kỳ lạ: “Nâng cấp” văn bản hành chính về cấp đất rừng của UBND huyện Quỳnh Lưu thành văn bản pháp luật để làm căn cứ áp dụng giải quyết vụ án dân sự.
Cùng với quyết định đình chỉ vụ án sai luật trước đây và bản án sơ thẩm bác quyền khởi kiện của nguyên đơn đầy vi phạm mới đây, TAND huyện Quỳnh Lưu đang buộc dư luận phải đặt dấu hỏi về sự không khách quan khi các nội dung phán quyết đều nhằm xóa đi vụ kiện mà ẩn chứa bên trong nó là hành vi giả mạo chữ ký, giả mạo giấy tờ của ông Lê Duy Nguyên với sự tiếp tay của nhiều cán bộ chủ chốt ở xã Quỳnh Lập và huyện Quỳnh Lưu.
Cần nhắc lại rằng, cùng với việc khởi kiện ông Nguyên ra Tòa dân sự, gia đình ông Lập cũng làm đơn tố cáo hành vi giả mạo và hành vi thông đồng của nhiều cán bộ xã Quỳnh Lập và huyện Quỳnh Lưu tới cơ quan công an. Nhưng Công an huyện Quỳnh Lưu lại không giải quyết đơn tố cáo, mà vận dụng sai pháp luật để cho rằng, do TAND huyện Quỳnh Lưu thụ lý đơn khởi kiện của gia đình ông Lập trước nên việc giải quyết thuộc TAND huyện Quỳnh Lưu.
Trong khi đó, tại các phiên tòa xét xử dân sự, trước những chứng cứ rõ ràng về hành vi giả mạo của ông Nguyên, LS Lương Quang Tuấn đã nhiều lần đề nghị HĐXX xem xét có kiến nghị đến Cơ quan điều tra khởi tố và điều tra hành vi giả mạo giấy tờ chiếm đoạt tài sản theo Điều 141 Bộ luật Hình sự của ông Nguyên và sự tiếp tay của một số cán bộ xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu, nhưng không được HĐXX quan tâm.
Phải chăng, chính vì muốn “dìm đi” nội dung tố cáo nguyên Đại biểu Quốc hội, Giám đốc doanh nghiệp Lê Duy Nguyên cùng nhiều cán bộ xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu đã có dấu hiệu về hành vi thông đồng làm giả nhiều giấy tờ, tài liệu, chữ ký (với chứng cứ giả mạo rõ ràng), nên TAND huyện Quỳnh Lưu phải ra cho bằng được phán quyết “đình chỉ vụ án” hoặc “bác đơn khởi kiện”?
Nếu không, thì tại sao những thẩm phán được Nhà nước đào tạo bài bản, khi “cầm cân nẩy mực” trên công đường lại mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng về pháp luật đến thế? Lại nhớ, Xi-rê-on, luật sư và là nhà hùng biện nổi tiếng La mã cổ đại, từng nói: “Quan toà là đạo luật biết nói, còn đạo luật là vị quan toà câm”. Khi quan tòa không phải là “đạo luật biết nói”, dĩ nhiên, pháp luật không thể cất lời...
“Chuyện “ngũ lạ” ở Quỳnh Lưu” cũng đang làm nhiều người nhớ lại nội dung trả lời chất vấn tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 22/3/2013 của Viện trưởng VKSNDTC Nguyễn Hòa Bình: “Báo cáo Quốc hội, đã có một thời các cơ quan tư pháp bị phê bình là hình sự hóa dân sự, bây giờ làm một hồi, thì có vẻ như đang dân sự hóa hình sự...”!?(VOV 11/7)đầu trang(
Hàng loạt vụ vận chuyển sản phẩm động vật rừng hoang dã như vẩy tê tê, ngà voi, xương hổ, móng vuốt hổ, sừng tê giác… bị lực lượng chức năng bắt giữ và chuyển giao cho Chi cục Kiểm lâm (CCKL) Hà Nội.
Tuy nhiên, không hiểu vì lý do chuyên môn yếu hay cố tình làm ngơ cho sai phạm, CCKL Hà Nội đã bỏ qua những quy định cơ bản về định giá tang vật để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt. Để rồi kết quả xử lý với những vụ việc có tính chất nghiêm trọng, vi phạm Bộ luật Hình sự như trên chỉ dừng lại ở mức phạt nhẹ nhàng đến bất ngờ: Cảnh cáo, trả lại phương tiện tham gia vận chuyển trái phép!
Vụ việc xử lý lô hàng 263kg vẩy tê tê bị bắt giữ vào ngày 16/1/2013, trên đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ (đoạn qua địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội) là một trong những bất thường trong việc xử lý của CCKL Hà Nội.
Bất thường bởi lẽ, cơ quan này đã tham mưu và trình lên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt ký quyết định xử phạt ở mức: Cảnh cáo đối với lái xe Nguyễn Văn Tài, Bùi Mạnh Phú về hành vi vận chuyển trái phép 263kg vẩy tê tê. Ngoài ra, phạt bổ sung, tịch thu toàn bộ tang vật. Hai phương tiện vận chuyển trái phép được trả lại cho chủ xe! Trong khi đó, chủ hàng đích thực lại không tìm ra? Và, số phận của lô hàng phi pháp này được UBND TP Hà Nội mang cho song cũng không đắt, buộc phải nhận lại.
Sau khi Báo Thanh tra có bài viết phản ánh những bất thường này, phía CCKL Hà Nội đã có Công văn số 205/KL-TTPC khẳng định việc xử lý đã tuân thủ những quy định chặt chẽ của pháp luật. Lý giải cho mức phạt “cảnh cáo”, Chi cục Trưởng CCKL Hà Nội Trần Đình Phúc đã “bóng chuyền” sang “các cơ quan có thẩm quyền của huyện Thường Tín (Cảnh sát Điều tra, Tư pháp, Tài chính, Viện Kiểm sát, Kiểm lâm) không định được giá tang vật nên không thể áp dụng các quy định tại Điều 20, Nghị định 99 để phạt chính bằng tiền các đương sự”.
Tuy nhiên, trên thực tế, lô hàng 263kg vẩy tê tê có thể định được giá, để thẳng tay xử phạt bằng tiền, răn đe người vi phạm nếu CCKL Hà Nội tuân thủ đầy đủ những quy định chặt chẽ của pháp luật.
Cụ thể, CCKL Hà Nội đã phớt lờ quy trình xác định trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt được quy định tại khoản 1 Điều 38, Nghị định 99/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản: “Sau khi tiến hành tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải tiến hành định giá làm căn cứ cho việc xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt đối với vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm về việc định giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính”.
Quyết định xử phạt cảnh cáo việc vận chuyển trái phép 263kg vẩy tê tê được đẩy lên cho Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt ký. Theo lý, khi các cơ quan cấp huyện Thường Tín không định được giá chuyển vụ việc lên, phía CCKL Hà Nội phải tiến hành lập Hội đồng Thẩm định giá cấp thành phố. Song, việc này đã không xảy ra, khiến dư luận một lần nữa hoài nghi phía CCKL Hà Nội chuyên môn yếu hay cố tình làm ngơ, “bảo kê” cho sai phạm?
Tiếp tục đi sâu tìm hiểu quy trình, kết quả xử lý một số vụ mua bán, vận chuyển sản phẩm động vật hoang dã của CCKL Hà Nội trong thời gian gần đây, có thể nhận thấy dường như có một mẫu số chung cho xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật này là: Cảnh cáo do không định được giá.
Nói không ngoa, bởi ngày 6/12/2012, CCKL Hà Nội có Công văn số 392/KL-TTPC đề nghị xử phạt vi phạm hành chính vận chuyển trái pháp luật sản phẩm động vật rừng 25,2kg mẫu vật ngà voi bị lực lượng chức năng tạm giữ tại Sân bay Nội Bài. Theo đó, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt ký Quyết định số 5850/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 phạt cảnh cáo chủ hàng là bà Đặng Thị Hòa về hành vi vận chuyển 25,2kg mẫu vật ngà voi; lái xe Nguyễn Hữu Sơn là con bà Hòa lại được miễn trách nhiệm xử lý hành chính.
Riêng chiếc xe ôtô du lịch biển kiểm soát 30M - 5255 là phương tiện vận chuyển trái phép mẫu vật ngà voi được “ưu ái” trả lại cho chủ xe. Tuyệt nhiên, không có hình thức phạt tiền với các đương sự trong sự vụ này. Trong khi mẫu vật ngà voi là sản phẩm động vật hoang dã, thuộc Phụ lục II danh mục các loài động vật hoang dã theo Công ước CITES mà Việt Nam đã tham gia ký kết và được cộng đồng quốc tế bảo vệ nghiêm ngặt.
Chưa hết, những bất thường trong xử lý vi phạm của CCKL Hà Nội còn thể hiện rõ hơn trong vụ việc xử lý lô hàng 11kg xương hổ và các sản phẩm khác từ động vật hoang dã bị bắt vào ngày 27/7/2012 tại Trạm Soát vé Phù Đổng, huyện Gia Lâm. Theo tìm hiểu của phóng viên, lô hàng này gồm 11kg xương hổ, 2 bộ da hổ, 4 răng nanh hổ, 22 móng vuốt hổ; 3 răng nanh gấu, là những sản phẩm động vật rừng quý hiếm thuộc nhóm IB (không xử phạt vi phạm hành chính mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 7 Điều 3, Nghị định 99/2009/NĐ-CP; Điều 190, Bộ luật Hình sự bổ sung và sửa đổi một số điều năm 2009 - PV); 1 miếng sừng tê giác; 4kg xương khỉ; 119kg sừng nai đỏ.
Tính chất của vụ việc nghiêm trọng, quy mô số lượng vận chuyển lớn nhưng khi hồ sơ được chuyển tới tay các cán bộ của CCKL Hà Nội thì mức phạt tham mưu cho lãnh đạo TP Hà Nội ra quyết định xử lý cũng chỉ là cảnh cáo đối với ông Nguyễn Tuấn Anh; trả lại xe ôtô CAPTIVA biển kiểm soát 20L - 0172 cho Nguyễn Tuấn Anh!
Thiết nghĩ, UBND TP Hà Nội cần tiến hành lập ngay đoàn thanh tra, kiểm tra lại toàn bộ quy trình xử lý vi phạm trong các phi vụ buôn bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật hoang dã mà CCKL Hà Nội đã từng tiếp nhận xử lý. Bởi với cách vận dụng đúng pháp luật “ích người, thiệt hại cho Nhà nước” như đã nêu ở trên, thì không biết đến bao giờ công cuộc đấu tranh với nạn buôn bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật hoang dã tại Việt Nam mới được đẩy lùi? (Thanh Tra 11/7)đầu trang(
6 tháng đầu năm 2013, Hạt kiểm lâm thành phố Buôn Ma Thuột đã phát hiện và xử lý 26 vụ vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng, tăng 4 vụ so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó chủ yếu là vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép, qua đó lực lượng kiểm lâm đã tịch thu trên 33 mét khối gỗ các loại, giảm hơn 12 mét khối so với cùng kỳ năm trước; đối với lĩnh vực săn bắt, buôn bán động vật hoang dã phát hiên 1 vụ, tịch thu 11 kg thịt rừng.Nhìn chung số vụ vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố trong 6 tháng đầu năm 2013 có tăng, nhưng số lâm sản trịch thu giảm hơn 1/3…
Qua xử lý phạt hành chính và bán lâm sản sau xử lý, lực lượng kiểm lâm đã thu gần 195 triệu đồng nộp vào ngân sách nhà nước, giảm hơn một nửa so với cùng kỳ năm 2012.
Ngoài ra, Hạt kiểm lâm thành phố còn lập biên bản chuyển 7 vụ vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng khác lên Chi cục kiểm lâm tỉnh xử lý. Qua xử lý đã tịch thu 41 mét khối gỗ các loại, thu 513 triệu đồng, trong đó phạt hành chính 365 triệu đồng, bán lâm sản 148 triệu đồng. (Buonmathuot.gov.vn 11/7)đầu trang(
Thống kê mới đây của Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn cho biết, hiện nay có 1.200 khối gỗ quý hiếm đã bị “lâm tặc”chặt hạ đang “nằm” trong các khu rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn. Tuy nhiên, hiện nay tỉnh chưa có biện pháp gì để thu gom, xử lý số tài sản lớn này.
Cụ thể, tại ba khu rừng đặc dụng là Vườn quốc gia Ba Bể, Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh nam Xuân Lạc có 400 khối, các khu rừng khác là 800 khối. Phần lớn trong số này là gỗ nghiến thuộc nhóm IIa, loại gỗ quý hiếm chỉ có trên rừng núi đá.
Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Kạn Hoàng Văn Hải cho biết: “Số gỗ này đang nằm ở các khu rừng có địa hình rất phức tạp, hiểm trở, việc bảo vệ gặp rất nhiều khó khăn, nên dễ mất mát, thất thoát. Gỗ càng để lâu trong rừng thì càng xuống cấp, giảm giá trị. Chúng tôi đã báo cáo thực trạng, hướng xử lý số gỗ này lên UBND tỉnh”.
Gỗ đang “nằm” trong các khu rừng là gỗ quý hiếm, giá trị kinh tế cao (khoảng 15 triệu đồng/ khối), là khối tài sản lớn, nếu bỏ mặc trong rừng sẽ là sự lãng phí lớn nên không thể không thu hồi để sử dụng, bán đấu giá, sung công quỹ nhà nước.
Với 400 khối gỗ đang nằm tại các khu rừng đặc dụng, tỉnh muốn thu hồi thì phải báo cáo, được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Địa phương có quyền thu hồi 800 khối gỗ đã bị chặt ở các khu rừng khác. Tuy nhiên, việc thu hồi số gỗ này hiện nay gặp nhiều khó khăn bởi địa hình hiểm trở, ở nơi xa xôi hẻo lánh, xẻ và vận chuyển gỗ ra ngoài cần phải có phương tiện, lực lượng và kinh phí.
Để giải quyết khó khăn này, thiết nghĩ tỉnh nên có cơ chế bán đấu giá cho các tổ chức, doanh nghiệp có khả năng về chuyên môn và tài chính để thu hồi số gỗ này, trước mắt là 800 khối gỗ nằm ngoài các khu rừng đặc dụng. Việc thiết kế, thu hồi phải đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng nhằm tránh lợi dụng tận thu gỗ “nằm” để hạ cây đứng. (Nhân Dân 11/7)đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn liên tiếp xảy ra các vụ phá rừng phòng hộ đầu nguồn, gây ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự, môi trường. Những sự việc này cho thấy đơn vị được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng và người dân vẫn còn thiếu ý thức trong việc giữ rừng.
Chỉ trong vòng 3 tháng (từ tháng 4 - 6/2013), tại huyện Chợ Mới (Bắc Kạn) xảy ra 3 vụ phá rừng trên địa bàn các xã Như Cố, Yên Hân, Nông Hạ và Tân Sơn. Đây là những cánh rừng tái sinh, rừng phòng hộ, có vai trò quan trọng trong việc điều hòa không khí, bảo vệ và chống lũ quét, lũ ống, sạt lở đất...
Theo thượng úy Nguyễn Công Soạn, cán bộ Đội điều tra về kinh tế, ma túy, môi trường (Công an huyện Chợ Mới), sau khi nhận được báo cáo của UBND xã Như Cố, ngày 23/4, đoàn liên ngành gồm kiểm lâm, Viện kiểm sát, công an huyện Chợ Mới đã kiểm tra và phát hiện hơn 5,9 ha rừng tại khu vực Bon Đăm, thôn Bản Quất, xã Như Cố bị chặt hạ với 31,476 m3 gỗ tạp thuộc nhóm 5 đến nhóm 8 và một khối gỗ tròn dài từ 4-8 m, đường kính từ 15-30 cm đã được cưa đổ, nằm rải rác trên rừng.
Sau khi điều tra và thu thập chứng cứ, kiểm lâm huyện Chợ Mới đã xác định thủ phạm là bà Hoàng Thị May ở thôn Bản Chất. Vụ án đang được hoàn thiện hồ sơ để đưa ra xét xử.
Vụ phá rừng ở khu vực Bon Đăm, thôn Bản Quất, xã Như Cố chưa lắng xuống thì ngày 16/6, tại thôn Nặm Rất, xã Tân Sơn (huyện Chợ Mới) lực lượng chức năng đã phát hiện trưởng thôn Triệu Tài Đức khai thác gỗ trái phép trên diện tích rừng do Hợp tác xã Tân Sơn quản lý. Số gỗ mà cơ quan chức năng thu được gồm 15 m3 gỗ tròn, 2,6 m3 gỗ xẻ thuộc nhóm 3 là xoan đào, muồng, sao.
Gần đây nhất, nhận được tin báo của quần chúng, Đội kiểm lâm cơ động huyện Chợ Mới tuần tra và phát hiện trên thửa đất số 239, khoảnh 18, tiểu khu 426, thôn Nà Quang, xã Nông Hạ (huyện Chợ Mới) do Lâm trường Chợ Mới quản lý có rất nhiều cây gỗ lớn bị chặt hạ, cắt khúc và xẻ hộp với 16 cây gỗ bị chặt hạ, khối lượng trên 12,6 m3; trong đó gỗ tròn nhóm 5 đến nhóm 8 là 10,8 m3, gỗ xẻ nhóm 6-7 là 1,15 m3. (Tin Tức 11/7)đầu trang(
11.7, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đã có bản kết luận điều tra, chuyển Viện KSND cùng cấp đề nghị truy tố đối với các bị can có liên quan trong vụ mất trắng hơn 1.300 héc ta rừng.
Các bị can Thân Văn Minh (70 tuổi), nguyên giám đốc; Thân Văn Hòa (39 tuổi), nguyên Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc; Trần Văn Lợi (48 tuổi), nguyên quyền giám đốc; Đặng Bá Long (43 tuổi), Đặng Quốc Hởi (49 tuổi), nguyên đội trưởng; Phan Trọng Chân (51 tuổi), Ngô Đức Tuấn (35 tuổi) và Nguyễn Trọng Kim (57 tuổi) nguyên đội phó Đội quản lý bảo vệ rừng, đều thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín (trụ sở tại xã Quảng Tín, H.Đắk RLấp) bị truy tố về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo kết quả điều tra, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín được UBND tỉnh Đắk Nông giao quản lý, bảo vệ hơn 9.853,4ha rừng và đất rừng tại 16 tiểu khu thuộc 2 xã Đắk Ngo và Quảng Trực của H.Tuy Đức. Sau khi được giao rừng, công ty đã liên doanh liên kết để triển khai dự án khai hoang trồng, chăm sóc cao su và quản lý bảo vệ rừng với 9 doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã.
Tuy nhiên, sau khi ký kết hợp đồng liên doanh, liên kết, các đối tượng trên đã thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng công tác quản lý… dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm rừng bị phá mất trắng với một diện tích rất lớn.
Theo kết quả điều tra, tổng diện tích rừng thiệt hại, mất trắng trong vụ này là hơn 1.328 ha, tổng thiệt hại tính bằng tiền là hơn 198 tỉ đồng. (Tin Tức 11/7)đầu trang(
Hình dạng không khác nhiều so "khủng long 6 sừng" giông Axolotl, mỗi con cá cóc Tam Đảo - loài lưỡng cư nguy cơ tuyệt chủng được rao bán tràn lan với giá chỉ 50.000-200.000 đồng.
Có tên gọi khác là cá sấu đá, cá cóc Tam Đảo - loài lưỡng cư họ thằn lằn một thời được liệt vào danh sách những động vật có nguy cơ tuyệt chủng bậc cao. Thậm chí, nhiều người mê sưu tầm sinh vật cảnh cho rằng, loại cá này thậm chí còn quý và đẹp hơn “khủng long 6 sừng” là giông A. Rộ lên với dân chơi sinh vật cảnh tại khu vực phía Nam thời gian gần đây, song giá của các cóc Tam Đảo so với giông Axolotl chỉ bằng 1/4, thậm chí có một thời gian, loài sinh vật sắp tuyệt chủng này được bán với giá 10.000-15.000 đồng/cá thể.
Tại Hà Nội, cách đây khoảng 3 năm, nhiều tiệm kinh doanh cá cảnh vẫn công khai chào báo loại cá này. Song hiện tại, chỉ còn một số điểm lẻ tẻ vẫn bán và khách hàng phải hỏi mới có thể biết hàng còn hay hết. Song trên thế giới mạng mua bán sinh vật cảnh, loại cá cóc của Tam Đảo có nguy cơ tuyệt chủng vẫn được bán tràn lan, dù đây là động vật bị cấm buôn bán, theo quy định tại Nghị định 32 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
Anh Hùng, ở Mê Linh (Hà Nội) đang rao bán các cóc Tam Đảo cho biết, giá mỗi con 20 cm là 65.000 đồng, mua nhiều sẽ vận chuyển tận nơi. Lý giải giá tăng so với cách đây 1-2 năm, anh Hùng cho hay vì hiện tại loài cá này đang hiếm. “Trước kia, có thể bắt được trong các khe suối ở vùng Tây Thiên, Tam Đảo thuộc Vĩnh Phúc, nhưng hiện nay, rất ít người bắt được loài cá này.
Hơn nữa, cơ quan chức năng cấm khai thác, bắt cá cóc, nên hàng trở nên khan hiếm”, anh chia sẻ. Chủ nhân của rao vặt bán cá sấu đá nói trên cũng cho biết thêm, loại anh đang cung cấp cho thị trường là cá cóc Tam Đảo thuần chủng, có thân màu đen và bụng màu da cam.
Ở thị trường TP.HCM, một chủ petshop cho biết giá các cóc Tam Đảo hiện nay dao động từ 100.000 đồng/cá thể trở lên đến vài trăm nghìn đồng. Loại cá cóc có kích thước 18 cm chiều dài được anh này phát giá 250.000 đồng/con. Mức giá này đã tăng đáng kể so với cách đây 1-2 năm, vì hiện nay, ngoài những loại khác đang “hot” như sóc bay, cá đuối, tép cảnh, cua phù thủy và “khủng long 6 sừng”, cá sấu đá Tam Đảo cũng được dân mê sinh vật cảnh sưu tầm nhiều. (Theo Infonet 11/7)đầu trang(
Sai phạm trong công tác quản lý đất lâm nghiệp tại xã Quế Hiệp (Quế Sơn) vừa được cơ quan chức năng địa phương làm rõ. Mới đây, UBND huyện ra quyết định giải quyết vụ việc, tuy nhiên, vấn đề tranh chấp tài sản rừng trồng trên đất giữa các bên có liên quan vẫn chưa ngã ngũ.
Cuối năm 2011, 19 hộ dân thôn Nghi Sơn và Nghi Thượng (xã Quế Hiệp) gửi đơn khiếu nại tố cáo đến các cơ quan chức năng địa phương nhờ can thiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình đối với 27,5ha đất lâm nghiệp tại khu vực Mương Đôi (thôn Nghi Thượng). Các ông Nguyễn Chỉnh (thôn Nghi Thượng) và ông Nguyễn Công Tưởng (thôn Nghi Sơn) được giao quyền đại diện cho nhóm hộ gửi đơn khiếu nại tố cáo.
Nguyên do bắt nguồn từ việc nhóm hộ trên phát hiện 9 hộ dân cùng địa phương “bỗng dưng” có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (GCNQSDĐLN) đối với diện tích đất 27,5ha nói trên. Họ cho rằng, các cán bộ địa phương đã có nhiều sai phạm trong công tác quản lý đất lâm nghiệp, bởi những người được cấp đất đều là cán bộ xã hoặc là người thân của họ.
Ông Chỉnh cho biết, do có nhu cầu về đất trồng rừng để cải thiện kinh tế gia đình nên cuối năm 2006 nhóm hộ của ông vào phát đốt thực bì, trồng keo trên diện tích này. Một thời gian sau, cán bộ xã Quế Hiệp ra thông báo yêu cầu 19 hộ đến UBND xã nhận tiền hỗ trợ cây giống, công lao động và bàn giao lại diện tích đất trên cho chính quyền quản lý theo quy định. Chấp hành yêu cầu của xã, nhiều hộ ở thôn Nghi Thượng đã ký vào biên bản bàn giao đất cho xã.
“Cuối năm 2007, chúng tôi khấp khởi mừng khi nghe trên đài truyền thanh xã thông báo về việc đấu thầu quyền sử dụng đất đối với 27,5ha đất lâm nghiệp như đã đề cập tại Mương Đôi. Tuy nhiên, chờ hoài không thấy địa phương tổ chức đấu giá, chúng tôi thắc mắc thì chính quyền xã cho biết diện tích đất rừng nêu trên đã có người trúng thầu. Bức xúc vì cho rằng chính quyền địa phương thiếu công khai, minh bạch trong công tác quản lý đất rừng nên chúng tôi vẫn tiếp tục thực hiện quản lý, chăm sóc cây đã trồng trên diện tích đất trên”- ông Chỉnh nói.
Trên cơ sở Báo cáo số 05/BCKQ- ĐTTr ngày 30.12.2012 của Đoàn Thanh tra huyện Quế Sơn, ngày 25.1.2013, UBND huyện Quế Sơn có Kết luận thanh tra số 62/KL - UBND về việc thực hiện các quy định của pháp luật trong công tác giao đất, cấp GCNQSDĐLN tại Quế Hiệp. Kết luận này đã chỉ ra cụ thể các sai phạm trong công tác quản lý tài nguyên đất lâm nghiệp tại địa phương không ngoài mục đích nắm giữ đất cho bản thân, gia đình của một số cán bộ xã Quế Hiệp.
Các sai phạm này cụ thể như sau: Năm 2001, ông Trần Hân (thôn Lộc Đại, xã Quế Hiệp) đại diện cho nhóm 9 hộ (là cán bộ và người thân của cán bộ xã) có đơn xin nhận đất lâm nghiệp với tổng diện tích là 30ha. Đơn không có xác nhận của UBND xã Quế Hiệp và không được đưa ra họp xét công khai. Để có đủ hồ sơ gửi về huyện, UBND xã Quế Hiệp đã hợp thức biên bản ngày 5.11.2001 về việc xét duyệt và đề nghị giao đất lâm nghiệp cho nhóm hộ ông Trần Hân với diện tích 27,5ha tại khu vực Mương Đôi.
Phòng Địa chính huyện Quế Sơn khi ấy đã không phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan để thẩm tra hồ sơ mà trực tiếp tham mưu UBND huyện ban hành Quyết định số 2069/QĐ-UB ngày 11.11.2003 giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Đơn vị này cũng không phối hợp bàn giao đất ngoài thực địa mà đã tham mưu UBND huyện cấp GCNQSDĐLN cho nhóm hộ ông Hân.
Với những sai phạm được Đoàn Thanh tra huyện làm rõ, ngày 25.1.2013, UBND huyện Quế Sơn ra Quyết định số 121/QĐ-UBND xử lý kết luận thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật trong công tác giao đất, cấp GCNQSDĐLN tại Quế Hiệp. Theo đó, Phòng TN-MT huyện có trách nhiệm tham mưu UBND huyện thu hồi Quyết định 2069/QĐ-UB của UBND huyện và thu hồi GCNQSDĐLN đối với nhóm hộ của ông Trần Hân (tự nguyện trả lại đất).
Đồng thời xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan đến các sai phạm này. Tuy vậy, Quyết định 121/QĐ- UBND của UBND huyện lại cho phép nhóm hộ ông Hân được lập thủ tục khai thác tài sản rừng trồng trên đất khiến nhóm hộ ông Chỉnh không đồng tình và tiếp tục có đơn khiếu nại.
Bà Nguyễn Thị Lý - Chánh Thanh tra huyện Quế Sơn cho biết: “Hiện nhóm hộ ông Trần Hân đã tự nguyện giao trả lại GCNQSDĐLN. UBND huyện Quế Sơn cho phép nhóm hộ ông Hân được phép lập thủ tục khai thác tài sản rừng trồng trên đất nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhóm hộ này. Vì lúc trước nhóm hộ trên đã có thỏa thuận và thực hiện hỗ trợ, bồi thường cho nhóm hộ ông Nguyễn Chỉnh. Chúng tôi đang tiếp tục bổ sung, củng cố các chứng cứ liên quan để tham mưu UBND huyện hướng giải quyết dứt điểm, đảm bảo quyền lợi chính đáng của các hộ có liên quan”.
Bà Lý cũng cho biết, theo quy định cấp xã không có thẩm quyền tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất vì không có thẩm quyền giao đất. Và thực tế diện tích đất lâm nghiệp trên đã được cấp GCNQSDĐ nên việc có tổ chức đấu giá cũng chỉ là hình thức. (Báo Quảng Nam 12/7)đầu trang(
JK và Sojitz sẽ lập liên doanh để xây dựng nhà máy bột giấy ở Quảng Ngãi. Dự án có công suất 200.000 tấn/năm, vốn đầu tư dự kiến 180 triệu USD.
Ông Lê Văn Dũng, Phó trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) cho biết, JK (Ấn Độ) và Sojitz (Nhật Bản) đang có kế hoạch thành lập một liên doanh để xây dựng một nhà máy sản xuất bột giấy tại tỉnh Quảng Ngãi.
“Chúng tôi đang xem xét và hoàn thiện các bước cuối cùng để có thể cấp chứng nhận đầu tư cho liên doanh này vào quý III/2013 này”, ông Dũng nói và cho biết, theo kế hoạch, nhà máy này sẽ có công suất 200.000 tấn bột giấy/năm, với tổng vốn đầu tư khoảng 180 triệu USD.
Hiện tại, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khá lớn bột giấy cho sản xuất trong nước. Năm ngoái, mặc dù sản lượng bột giấy Việt Nam thiết lập được mức tăng trưởng lên tới 30% so với năm 2011, đạt tới 484.300 tấn.
Tuy nhiên, khối lượng này cũng mới chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu cho ngành sản xuất giấy. Bởi vậy, vẫn còn phải nhập khẩu lượng bột giấy và các sản phẩm giấy với số lượng gần tương đương sản lượng trong nước. (Đầu Tư 12/7)đầu trang(
THẾ GIỚI
Hàng trăm người Ôxtrâylia đang tắm biển, lướt sóng và dạo chơi trên bãi biển Bondi buổi sáng 7/7 đã được chứng kiến một sự kiện hiếm có, khi một chú cá voi ham vui lạc vào khu du lịch biển nổi tiếng này.
Mới đầu, mọi người hết sức thích thú quan sát chú cá voi bơi lội xung quanh khoảng 15 người lướt sóng. Tuy nhiên, niềm vui đã biến thành thảm họa khi bác sỹ Bishan Rajapakse, 38 tuổi, tới quá gần con cá khiến nó trở nên tức giận. Kết quả là bác sỹ Bishan đã nhận được một cú tạt đuôi và văng khỏi ván trượt. Mặc dù bị ngất ngay sau cú va chạm và chìm xuống nước một lúc nhưng may mắn nạn nhân đã được các nhân viên cứu hộ và người lướt sóng khác kéo lên bờ đưa tới bệnh viện. Hiện bác sĩ Bishan đã bình phục nhưng được tiếp tục theo dõi sức khỏe.
Vụ việc này một lần nữa làm dấy lên tranh cãi về việc người lướt sóng và bơi lội xung quanh thành phố Sydney thường xuyên bất chấp cảnh báo giữ khoảng cách đối với cá voi khi chúng xuất hiện tại các bãi biển trong mùa di cư. Theo quy định bảo vệ động vật hoang dã năm 2006 của Ôxtrâylia, mọi người phải giữ khoảng cách tối thiểu 30 m đối với động vật biển có vú như cá voi.
Những người chứng kiến sự việc cho biết con cá voi xuất hiện cách bờ biển Bondi chỉ 40 m trong khoảng 15 phút và có vẻ khá tò mò quan sát các hoạt động của con người. Một nhân chứng cho hay con cá voi này đã trưởng thành, dài khoảng 10 m và có khá nhiều con hàu bám trên lưng. Sau khi va chạm với bác sỹ Bishan khoảng 2 tiếng đồng hồ, con cá voi đã được lực lượng cảnh sát dẫn ra khỏi bãi biển và tiếp tục di cư về phía Bắc. (Tin Tức 12/7)đầu trang(
Chính phủ Canada vừa ký thêm thỏa thuận xuất khẩu gỗ vân sam đặc chủng sang Ấn Độ với hy vọng sẽ mang lại lợi ích kinh tế lớn cho cả hai bên.
Phát biểu trước báo giới của Bộ trưởng Thương mại quốc tế Canada Ed Fast cho biết thỏa thuận này sẽ mở ra thị trường mới cho ngành công nghiệp gỗ của Canada, cho phép các nhà xuất khẩu gỗ của Canada thâm nhập vào thị trường lớn đang phát triển mạnh mẽ của Ấn Độ.
Cũng theo ông Ed Fast, Ấn Độ là một trong những thị trường tiêu thụ gỗ tiềm năng nên góp phần mang lại nhiều công ăn việc làm và sự thịnh vượng lâu dài cho các doanh nghiệp cũng như người lao động Canada.
Theo thỏa thuận mới được hai bên ký kết, các nhà xuất khẩu gỗ của Canada có thể chiếm thị phần lên tới 77% khối lượng các sản phẩm gỗ nhập khẩu vào Ấn Độ. Các nhà máy sản xuất gỗ ở phía Đông Canada sẽ được hưởng lợi nhiều nhất vì đây là trung tâm phát triển của các loài cây vân sam đỏ, đen. Ngoài ra, thỏa thuận cũng sẽ tạo điều kiện cho nhiều loại gỗ khác của Canada tiếp cận thị trường Ấn Độ.
Trong nhiều năm qua, quan hệ thương mại giữa Canada và Ấn Độ đã được thúc đẩy mạnh mẽ, một phần nhờ vào cộng đồng người Canada gốc Ấn Độ. Cộng đồng này phát triển khá nhanh cả về kinh tế lẫn dân số và hiện đã lên tới gần 1,2 triệu người, sống rải rác trên hầu khắp lãnh thổ Canada.
Theo thống kê, trong năm 2012, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đạt 5,2 tỷ USD, tăng 12% so với năm năm trước. Trong đó, xuất khẩu gỗ và các mặt hàng gỗ của Canada sang Ấn Độ đạt 9,6 triệu USD, tăng gấp ba lần trong vòng năm năm qua.
Đối với Canada, ngành công nghiệp rừng có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế. Trong năm 2012, công nghiệp rừng tạo ra hơn 20 tỷ USD cho GDP. Hiện ngành này đang sử dụng hơn 235.000 lao động, phần lớn là những người tay nghề cao. (VietnamPlus.vn 12/7)đầu trang(
Muốn được gặp lại con người Việt Nam ân tình, lương thiện, muốn lại được đặt chân lên mảnh đất Việt Nam tươi đẹp là mong ước mà diễn viên nổi danh Lục Tiểu Linh Đồng - quen thuộc với các thế hệ thiếu nhi Việt Nam qua vai diễn Tôn Ngộ Không trong phim Tây du ký, phiên bản 1986 - vừa thổ lộ với PV Thanh Niên.
Diễn viên này chia sẻ: Từ ngày 14.6.2013, tôi đã được mời làm Đại sứ hình ảnh (duy nhất) của Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã Trung Quốc, không phải riêng vì hình tượng Tôn Ngộ Không mà còn vì bạn bè của Tôn Ngộ Không nữa.
Nhiệm vụ sau này của tôi rất nặng nề, phải tuyên truyền mọi phương án có liên quan tới Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã Trung Quốc khắp cả nước (có lúc còn phải ra nước ngoài nữa). Chẳng hạn như phải khiến người dân từ già trẻ lớn bé đều ủng hộ hoạt động này.
Nếu Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã của nước bạn muốn mời tôi làm đại sứ hình ảnh, tôi thực sự sẽ cảm thấy rất vinh dự. Nếu Việt Nam mời tôi làm Đại sứ hình ảnh Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã, tôi sẽ tìm hiểu rất kỹ lưỡng về tình trạng thực tế và tương lai của động vật hoang dã ở Việt Nam, sẽ viết một số đề xuất có liên quan gửi cho cấp lãnh đạo...
Đây là việc lớn có liên quan tới sự sinh tồn của nhân loại. Đây là việc nghĩa nên làm, và cá nhân tôi, tôi sẽ không yêu cầu bất kỳ một đòi hỏi về quyền lợi kinh tế nào. (Thanh Niên 12/7)đầu trang(
Hàng trăm con cá voi trắng đã tập trung về khu vực biển gần đảo Somerset của Canada để cùng nhau thưởng thức bữa tiệc cá tuyết và mực.
Loài cá voi trắng ở vùng biển gần đảo Somerset của Canada thường di trú xuống phía nam vì khu vực này bị đóng băng vào những tháng mùa đông.
Chúng sẽ trở lại vùng biển này vào mùa hè khi băng bắt đầu tan cùng với nguồn thức ăn dồi dào, bao gồm cá tuyết, mực, cá trích và cá bơn.
Cá voi trắng chỉ sống ở những vùng nước lạnh ở Bắc Cực và tuổi thọ của chúng thường là từ 25 đến 30 năm. Hiện nay, chúng đang bị coi là loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng. Những kẻ thù tự nhiên của loài cá voi trắng là cá kình và gấu Bắc Cực. Các bộ lạc sống ở Bắc Mỹ cũng được phép giết thịt loài cá này. (Đất Việt 12/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||