Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 02 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Theo cảnh báo của Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT, hiện nay có 37 tỉnh có nguy cơ cháy rừng cao, trong đó có 9 tỉnh nằm trong cấp cực kỳ nguy hiểm.
9 tỉnh nằm trong “báo động đỏ” là: Bình Phước, Đồng Nai, Gia Lai, Khánh Hòa, Kon Tum, Lâm Đồng, Sơn La và Tây Ninh. Đặc biệt, tỉnh Tây Ninh có nguy cơ cháy rừng được xác định trên toàn tỉnh.
Theo thông báo của Cục Kiểm lâm, nếu cháy rừng xảy ra tại những nơi được xác định nằm trong cấp cực kỳ nguy hiểm thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh. Trước đó, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã có công điện khẩn đề nghị các địa phương chủ động chỉ đạo công tác phòng cháy, chữa cháy rừng với 8 nội dung. Hiện Cục Kiểm lâm cũng đang chỉ đạo các địa phương thực hiện theo đúng công điện này.
Mùa khô 2013 - 2014, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp. Ngay từ đầu mùa khô đã diễn ra một số vụ cháy rừng ở các địa phương, mới nhất xảy ra trong dịp Tết tại Lào Cai. Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, thời gian tới, tình hình nắng nóng, khô hạn tiếp tục xảy ra ở nhiều địa phương nên cần đề phòng cao nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra.
Cục Kiểm lâm sẽ liên tục cập nhật các số liệu do vệ tinh quét được để cảnh báo tới các địa phương tổ chức các biện pháp phòng, chống cháy rừng. (Tuổi Trẻ 11/2) đầu trang(
Năm 2013, Hà Nội xảy ra 46 vụ cháy rừng, không những gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sống. Hiện nay, đang là cao điểm mùa hanh khô, nguy cơ cháy rừng đang ở mức cao. Trước thực trạng đó, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã và đang triển khai nhiều biện pháp phòng, chống cháy rừng tới người dân và chủ rừng trên địa bàn.
Năm nào cũng vậy, huyện Sóc Sơn là địa phương để xảy ra số vụ cháy rừng nhiều nhất. Năm 2013, toàn huyện xảy ra 36 vụ cháy, thiêu rụi gần 22ha rừng. Chỉ hơn một tháng đầu mùa khô 2013-2014, (từ ngày 20-9 đến 25-10) rừng ở huyện Sóc Sơn đã 7 lần bị cháy, thiệt hại khoảng 10ha rừng. Vụ cháy gần đây nhất là vào ngày mùng 4 Tết Giáp Ngọ tại khu rừng xã Quang Tiến, thiệt hại 0,5ha rừng...
Ông Nguyễn Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sóc Sơn cho biết, Sóc Sơn có hơn 4.500ha rừng, phần lớn là rừng trồng lâu năm, rừng thông, keo, bạch đàn đã già, có độ che phủ cao, thảm thực vật dày 0,5-1m nên rất dễ bắt lửa. Vào mùa hanh khô (từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau), cấp độ báo động cháy rừng luôn ở cấp cực kỳ nguy hiểm.
Đáng nói, có tới 80% số vụ cháy xảy ra vào ban đêm, gây khó khăn cho việc chữa cháy. Hơn nữa, rừng thông được quy hoạch đẹp nên thu hút học sinh, sinh viên vào vui chơi, du lịch. Họ dùng lửa nấu ăn hoặc đốt nến xếp hình, khi gặp gió tạt lửa vào lớp thực bì gây ra cháy.
Nghiêm trọng nhất là trong các khu rừng của Sóc Sơn có nhiều công trình xây dựng xen kẽ nên khó kiểm soát được việc sử dụng lửa của công nhân. Khi gây cháy rừng, họ dập lửa không được đã bỏ chạy. Khi cháy lan rộng, cơ quan chức năng tổ chức dập lửa rất khó khăn và tốn kém. Ngoài ra, một số địa phương, chính quyền cấp xã nhận thức chưa đầy đủ trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng, coi đó là nhiệm vụ của lực lượng kiểm lâm nên lơ là công tác tuyên truyền.
"Để phủ xanh lại diện tích rừng đã bị cháy mất rất nhiều công sức, tiền bạc và thời gian, thậm chí có những khu rừng phải 40-50 năm sau mới khôi phục lại được". - Ông Thành cho hay.
Ông Lê Quang Tiến, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cho rằng, quan ngại nhất ở những khu rừng sản xuất, người dân được giao quyền trồng rừng, tự quản lý và khai thác thường lơ là chủ quan. Đa số hộ khi đốt thực bì, chuẩn bị cho đợt trồng rừng mới đã không áp dụng các biện pháp kỹ thuật về phòng, chống cháy rừng (PCCR), gặp thời tiết hanh khô đám cháy bùng phát mạnh không kiểm soát được mới kêu cứu lực lượng chức năng thì đã muộn.
Để nâng cao nhận thức PCCR cho người dân các huyện, thị xã có rừng, bước vào mùa khô 2013-2014, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã triển khai nhiều biện pháp PCCR. Đối với những khu rừng trọng điểm, khu du lịch, các di tích có nguy cơ cháy rừng cao, các hạt kiểm lâm cơ sở đã tăng cường công tác kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm những trường hợp phá rừng, gây nguy hiểm cho rừng; đồng thời, phối hợp với các địa phương củng cố lực lượng PCCR tuyến cơ sở, đầu tư trang thiết bị, chủ động xây dựng và thực hiện phương án PCCR theo phương châm "4 tại chỗ", trực ban 24/24h trong 7 tháng mùa khô.
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội còn mở hàng chục lớp tập huấn nghiệp vụ PCCR cho cán bộ, nhân dân, tổ đội xung kích, chủ rừng, lực lượng quân đội với gần 1.000 người; tổ chức 14 đợt tuyên truyền lưu động đến tận thôn, xã có rừng, dựng biển cảnh báo cháy rừng để nhắc nhở du khách chấp hành quy định PCCR; phối hợp với ngành giáo dục - đào tạo tuyên truyền tới học sinh 28 trường THCS, THPT các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức và tổ chức cuộc thi viết tìm hiểu Luật Bảo vệ và PCCR...
Ở khu vực rừng giáp ranh, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội tổ chức hội nghị liên kết giữa các tỉnh có rừng là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nam, Thái Nguyên để trao đổi kinh nghiệm, xây dựng phương án PCCR phối hợp chữa cháy kịp thời và tham gia quản lý bảo vệ rừng cho nhau.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tiến Lâm, Trưởng phòng Quản lý và bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm, hiện nay chính sách đầu tư cho cán bộ, kiểm lâm viên còn hạn chế, nhân lực quản lý, bảo vệ rừng quá mỏng nên không thể quán xuyến hết công việc. Vì vậy, biện pháp trọng tâm nhất vẫn là công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức bảo vệ rừng và PCCR đến từng người dân và chủ rừng. (Hà Nội Mới 12/2) đầu trang(
Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phòng chống cháy rừng trong mùa khô, đến nay đại bộ phận người dân trong xã Nậm Khắt, huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) đều đã hiểu được giá trị, nguồn lợi của rừng và tích cực bảo vệ rừng, nhất là thực hiện đầy đủ các cam kết phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Xã vùng cao Nậm Khắt có tổng diện tích rừng trên 6.000ha, trong đó rừng tự nhiên trên 4.841ha. Khí hậu nơi đây khắc nghiệt, chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau. Đồng bào Mông chiếm tới trên 90% dân số toàn xã và chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp với tập quán đốt nương làm rẫy có từ lâu đời, vì thế nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn vào mùa khô luôn ở mức cao.
Những năm trước đây, khi giá thảo quả lên ngôi, việc người dân lấn chiếm đất rừng trồng thảo quả diễn ra khá phổ biến ở các thôn bản. Do tập quán làm nương rẫy và trồng thảo quả xen kẽ với rừng phòng hộ, việc thu hoạch và sấy thảo quả cũng tiến hành trong rừng nên từ nhiều năm nay Nậm Khắt là một trong những xã có nguy cơ cháy rừng cao ở Mù Cang Chải.
Trước thực trạng trên, để giải quyết tận gốc nạn cháy rừng, xã xác định cần đẩy nhanh nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương; tập trung chỉ đạo quy hoạch vùng sản xuất, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đầu tư nâng cấp công trình thủy lợi, mở rộng diện tích lúa nước theo quy hoạch để tăng năng suất, tăng thu nhập cho người dân, giảm việc phá rừng làm nương rẫy.
Đặc biệt, trước nguy cơ cây thảo quả mọc đến đâu mất rừng đến đấy, xã đã tập trung quản lý diện tích thảo quả hiện có, vận động nhân dân không phát triển loại cây này mà tập trung trồng sơn tra vừa giữ rừng lại tăng thu nhập cho đồng bào.
Từ năm 2008, xã đã vận động nhân dân trồng sơn tra dưới các tán rừng phòng hộ. Bình quân mỗi năm toàn xã trồng được 10 - 15ha sơn tra. Chỉ tính riêng năm 2013, trồng mới được 70ha, tập trung ở các bản Nậm Khắt, Hua Khắt. Theo thống kê của UBND xã Nậm Khắt, năm 2013 vừa qua, toàn xã thu về trên 450 tấn sơn tra, với giá bán dao động từ 30.000 - 40.000 đồng/kg, đem về cho người dân trong xã trên 1,8 tỷ đồng.
Ngoài việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, ngay trước mùa khô hanh, xã đã kiện toàn Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng của xã, các tổ đội xung kích PCCCR; tổ chức ký cam kết với từng hộ dân trong xã về bảo vệ rừng và PCCCR. Xác định công tác tuyên truyền giữ vị trí quan trọng, Ban chỉ huy PCCCR xã đã phân công nhiệm vụ cho từng thành viên xuống các thôn, bản tổ chức tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức giữ rừng. (Báo Yên Bái 12/2) đầu trang(
Ngày 14-11-2013, bản tin Chào buổi sáng của VTV1 phát một phóng sự ngắn “Phát hiện đường dây phá rừng lớn tại Quảng Nam”.
Ngay sau đó, UBND tỉnh Quảng Nam đã có Công văn số 4486/UBND-KTN chỉ đạo xử lý, ngày 15-11-2013, UBND huyện Phước Sơn đã triển khai thực hiện theo nội dung công văn này, thành lập Tổ công tác liên ngành gồm CA, Kiểm lâm, Thuế, TN-MT, UBND xã Phước Hòa để kiểm tra, xác minh.
Cũng trong ngày 14-11-2013, Hạt Kiểm lâm đã tổ chức lực lượng cùng ông A Đạo (trú xã Phước Xuân, Phước Sơn), người đã trực tiếp dẫn đường và trả lời phỏng vấn trong phóng sự của VTV1, để kiểm tra, xác minh hiện trường, địa điểm tập kết gỗ khai thác trái phép. Vị trí này có tọa độ UTM:0803793-1717555 thuộc khoảnh 4, tiểu khu 647 Phước Hòa, tuy nhiên số gỗ không còn tại hiện trường.
Kiểm tra khu vực xung quanh, phát hiện 25 phách gỗ xoan đào nhóm VI, với khối lượng 3,271m3. Mở rộng kiểm tra hiện trường, nhưng không phát hiện gì thêm, Hạt Kiểm lâm Phước Sơn đã thu gom số gỗ trên về trụ sở để bảo quản và tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
Từ đó đến nay, Hạt Kiểm lâm đã tổ chức lực lượng điều tra, xác minh đối tượng đã khai thác gỗ trái phép, nhưng chưa tìm ra đối tượng vi phạm. Tổ công tác liên ngành cũng đã kiểm tra, xác định hiện trường khai thác gỗ, nhưng do địa bàn rộng, thời tiết mưa lớn nên chưa xác định được vị trí, hiện trường khai thác gỗ.
Tiếp tục kiểm tra tại Cty TNHH MTV Thương mại và Du lịch Thanh Nhàn, là đơn vị được UBND tỉnh chủ trương cho thuê đất để trồng cao su tại tiểu khu 647 với 155 ha song Cty này cho hay chưa tác động đến rừng và đất rừng tại khu vực tiểu khu 647, diện tích khu vực được quy hoạch là rừng sản xuất do xã Phước Hòa quản lý. Kiểm tra tại cơ sở chế biến gỗ của Cty này cũng không phát hiện việc cất giữ, chế biến gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp.
Tuy nhiên, trong tháng 12-2013, tất cả các công văn, báo cáo của các cơ quan chức năng và UBND H. Phước Sơn đều khẳng định, mặc dù chưa xác định được đối tượng đã khai thác gỗ trái phép, chưa xác định được chính xác hiện trường khai thác gỗ, nhưng việc phản ánh thông tin của VTV1 về tình trạng khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu 647, Phước Hòa, Phước Sơn, Quảng Nam là có thật...
Báo cáo của UBND H. Phước Sơn ngày 2-12-2013 cũng nêu rõ: Trong 10 tháng đầu năm 2013, ngành chức năng của huyện đã kiểm tra, phát hiện xử lý 169 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tạm giữ 34, 962 m3 gỗ tròn, 199,905 m3 gỗ xẻ các loại, 18 ô-tô, 15 mô-tô và nhiều phương tiện dụng cụ khác, khởi tố 5 vụ hình sự, thu nộp ngân sách 1,5 tỷ đồng.
Trong khi đó, tại địa bàn xã Phước Hòa, báo cáo này ghi nhận mức độ và phạm vi của việc khai thác gỗ trái phép chỉ nhỏ lẻ, nhiều vụ vi phạm đã được UBND huyện, Hạt Kiểm lâm và ngành chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý. Tuy nhiên, chỉ riêng năm 2013, tại địa bàn xã Phước Hòa, ngành chức năng đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 46 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng, tịch thu hơn 11 m3 gỗ tròn, hơn 67 m3 gỗ xẻ các loại, tạm giữ 3 ô-tô, cho thấy tình trạng khai thác, xâm hại rừng ở địa bàn này vẫn “nóng” đến mức độ nào.
Theo báo cáo của CAH Phước Sơn ngày 9-12-2013, trong quá trình kiểm tra tình hình khai thác lâm sản trái phép, tổ công tác liên ngành huyện đã phát hiện các công cụ, phương tiện phục vụ cho việc khai thác khoáng sản trái phép tại khu vực 38- 39, tiểu khu 647 Phước Hòa, đã phá hủy 3 lán trại, 4 máy nổ, đẩy đuổi hàng chục đối tượng làm vàng trái phép ra khỏi địa bàn. Trong năm 2013, CAH cùng các ngành chức năng đã nhiều lần tổ chức truy quét, chốt chặn để đảm bảo tình hình ANTT trên địa bàn.
Theo đánh giá của CAH, tình hình khai thác khoáng sản đầu năm 2014 có khả năng tái diễn nếu không có cơ quan chức năng kiểm soát. Nên vậy, CAH Phước Sơn sẽ tiếp tục cử lực lượng kiểm tra, xác minh đồng thời tăng cường công tác chốt chặn, tổ chức các đợt truy quét tại khu vực 38-39, tiểu khu 647 Phước Hòa để ổn định tình hình. (Công an TP Đà Nẵng 11/2) đầu trang(
Dịp Tết là thời gian các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép thường hoạt động mạnh, nhất là địa bàn huyện Khánh Vĩnh. 2 năm qua, Đội Kiểm lâm cơ động (KLCĐ) tỉnh Khánh Hòa đã đóng chốt tại dốc A Meo (thị trấn Khánh Vĩnh) để kịp thời ngăn chặn.
Hiện nay, huyện Khánh Vĩnh có khoảng 86.000ha rừng với nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao. Những cánh rừng tại các địa điểm Km43, Km60, Km64... trên đường đèo Khánh Lê (xã Sơn Thái) luôn bị các đối tượng nhòm ngó. Vì vậy, bên cạnh việc chốt chặn các vụ vận chuyển gỗ trái phép, lực lượng KLCĐ còn thường xuyên tuần tra đến các địa điểm này nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn khai thác gỗ trái phép.
Ông Nguyễn Văn Tỉnh cho biết: Tết Quý Tỵ - 2013, lực lượng KLCĐ tỉnh phát hiện, bắt giữ 13 vụ vận chuyển, cất giấu gỗ trái phép trên tuyến đường Khánh Vĩnh - Lâm Đồng và trên sông Cái đoạn qua huyện Khánh Vĩnh. Qua đó tạm giữ hơn 25,5m3 gỗ xẻ, hộp; 2,7m3 gỗ tròn (chủ yếu là gỗ nhóm IIA), 1 ô tô tải và 5 xe máy.
Còn Tết này, tình hình khai thác, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép trên địa bàn huyện đã giảm rõ rệt về cả số vụ lẫn khối lượng. Lực lượng KLCĐ tỉnh chỉ phát hiện, bắt giữ 6 vụ vận chuyển, tập kết gỗ trái phép; số lâm sản tạm giữ chờ xử lý chỉ khoảng 5,3m3 gỗ các loại.
Ông Trần Minh Thu - Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên tại Khánh Vĩnh khá nóng và phức tạp nên Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã điều động Đội KLCĐ đến đóng chốt tại dốc A Meo. Qua 2 cái Tết làm nhiệm vụ tại đây, tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh đã bớt nóng, được kiểm soát tốt hơn.
Các đối tượng không còn ngang nhiên vận chuyển gỗ trên đường mà lén lút vận chuyển bằng đường sông với khối lượng ít. Trong dịp Tết Giáp Ngọ, số vụ vi phạm đã giảm nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tiếp tiếp tục chỉ đạo Đội KLCĐ không được chủ quan, lơ là. Trong thời gian tới, Chi cục sẽ bổ sung thêm lực lượng làm nhiệm vụ tại chốt A Meo nhằm tăng cường tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng”. (Báo Khánh Hòa 11/2) đầu trang(
Ngày 11/2, Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà- Cục Hải quan Đồng Tháp phối hợp với Công an xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp bắt giữ một xuồng máy chở gỗ lậu.
Xuồng chở gỗ lậu trên bị bắt giữ tại khu vực sông Sở Hạ, ấp Chiến Thắng, xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Khi lực lượng kiểm tra áp sát để bắt giữ thì các đối tượng điều khiển phương tiện đã phóng lên bờ, trốn thoát.
Tổ công tác đã áp giải tang vật, phương tiện về trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà để kiểm tra. Qua kiểm tra thực tế, số gỗ nói trên có khối lượng khoảng 5 m³.
Kết quả xác định ban đầu, số gỗ trên có thể là gỗ Hương hoặc gỗ Căm xe, trị giá khoảng 150 triệu đồng. Hiện Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà đang tiếp tục kiểm tra, xác định loại gỗ và tiến hành các bước xử lý theo quy định. (Hải Quan 11/2; Chinhphu.vn 11/2) đầu trang(
Người nuôi voi ở Đắk Lắk không còn nghĩ đến chuyện có voi sinh sản, dẫu đàn voi nhà ở đây chỉ còn lại hơn 50 con, và dự báo sẽ tuyệt chủng trong mươi năm tới.
Cũng ít ai nghĩ đến khoản tiền 600 triệu đồng do tỉnh hỗ trợ người nào có voi cái mang thai. Chỉ một người vẫn làm mọi cách, dám vượt qua những điều cấm kỵ của buôn làng với hy vọng voi của mình sẽ đẻ. Đó là người có nhiều voi nhất Việt Nam - ông Đàng Năng Long - ở thị trấn Liên Sơn (huyện Lắc, tỉnh Đắk Lắk).
Những ngày sau tết, đàn voi của ông Đàng Năng Long phải phục vụ khách du lịch suốt ngày bên hồ Lắc, một trong hai trung tâm du lịch lớn nhất Đắk Lắk. Nhưng khi mặt trời xuống núi, những chú voi dưới 45 tuổi vẫn được ông Long đưa vào xích trong rừng, với hy vọng mùa xuân đem lại hứng thú giao phối cho voi.
Theo quan niệm của đồng bào Tây Nguyên, việc sắp xếp cho voi nhà sinh sản như ông Long đang làm là trái tự nhiên, buôn làng nào phạm vào sẽ bị Yàng (trời) quở phạt, người gây ra cũng bị làng phạt vạ. Do vậy một người chú trong dòng họ Đàng từng cảnh báo ông Long: "Mày coi chừng, sinh thời bố mày cũng chưa dám làm như vậy”.
Bố ông Đàng Năng Long là Đàng Nhảy - người có nhiều voi, có kinh nghiệm chữa bệnh voi, buôn bán voi, từng nổi tiếng khắp Đông Dương hồi đầu thế kỷ trước. Kế thừa nghiệp nuôi voi của bố, ông Long hiện đang sở hữu 9 con voi, trở thành người sở hữu nhiều voi nhất Việt Nam tính đến thời điểm này.
Dù được nhiều người cảnh báo, nhưng có lẽ quá sốt ruột trước sự suy giảm của đàn voi nhà Tây Nguyên, ông Long đã đưa ra những lý giải khác về chuyện cấm sắp đặt cho voi giao phối. Theo ông, người ta kiêng kỵ cho voi nhà sinh sản chủ yếu do những rắc rối có thể xảy ra trong quá trình voi giao phối, mang thai. Thường khi voi thích nhau, người chủ rất khó điều khiển, sai bảo, chưa kể chúng còn trở chứng gây nguy hiểm cho người. Thời gian voi cái mang thai, nuôi con nhỏ lại kéo dài đến 4 - 5 năm nên không vận chuyển nông sản, kéo gỗ được, gây thiệt hại cho chủ voi.
Bây giờ có xe chuyên chở, Nhà nước cũng cấm khai thác gỗ, nhưng voi phải làm du lịch, ít ra là để tự nuôi mình - mỗi con voi ăn hết khoảng 500.000 đồng/ngày. Nếu voi cái bị thương, chủ voi đực sẽ phải bồi thường, bị buôn làng phạt vạ rất nặng - vì voi đực đã gây ra điềm gở cho cộng đồng. Trong khi đó, voi con sinh ra lại thuộc sở hữu hoàn toàn của chủ voi cái, nhà nuôi voi đực không được hưởng lợi gì.
Ông Long cho rằng, vì những lẽ trên mà từ xa xưa, đồng bào Tây Nguyên đã thích săn bắt voi rừng về thuần dưỡng hơn là cho voi nhà sinh sản. Và cái lý này đã góp phần làm tuyệt diệt nghề nuôi voi cùng các nghi lễ cúng voi, tạ ơn voi độc đáo và nhiều ý nghĩa của Tây Nguyên.
Trời chưa sáng hẳn, sương còn phủ trên mặt hồ Lắc, Ma Khang và Ma Ngớ - hai nài voi làm việc cho ông Đàng Năng Long - đã dẫn voi về từ một cánh rừng bên kia núi Đắc Sang, chuẩn bị cho một ngày chở khách du lịch. Đêm qua, voi cái H’Khun và voi đực Y Măm của ông Long được xích trong một khoảnh rừng nhiều cỏ tranh, lau lách, cách nhà khoảng 5 cây số.
Ma Khang cho biết, thường thì voi được xích xa nhau mới đủ thức ăn, nhưng hai "anh chị" này được cho ở gần nhau theo ý của ông Long. Cặp voi này được xem là “vợ chồng” hơn một năm nay rồi, đi đâu chúng cũng quấn quýt, vắng nhau một ngày là chúng buồn thấy rõ. Tôi hỏi sao voi yêu lâu thế mà chưa thấy gì, Ma Khang cười thật thà: “Mình cũng không biết nữa. Nhiều đêm mình với ông Long thức trắng rình chúng "yêu", một vài lần cũng thấy rồi, nhưng chờ mãi vẫn không có kết quả gì".
Từ chuyện ghép voi bên hồ Lắc, một dạo rộ lên tin đồn voi nhà ông Long có chửa, nhiều chủ voi khác nghe chuyện cũng bắt đầu hy vọng. Ông Long xác nhận: “Lúc đầu mình cũng tưởng thật, nhất là thấy voi cái khác thường như vú nở, bụng to, mông to... Nhưng hóa ra là chửa giả, voi cái chỉ nở nang, thay đổi bề ngoài như "gái phải hơi trai" ấy mà". Ngoài Y Măm - H’Khun, trong đàn voi của ông Long còn có cặp Thông Răng - H’Túc được nhiều người nhìn thấy giao phối hai lần nhưng cũng là “chửa giả”.
Ngay cả ông Huỳnh Trung Luân - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắc Lắc - cũng mấy phen mừng hụt. Nghe tin hai voi nhà - ở Bản Đôn và Lắc - có chửa, ông Luân mang máy siêu âm dành cho trâu, bò của Trường Đại học Tây Nguyên tìm đến dò thử. Lúc đó máy không cho kết quả vì da voi quá dày, nhưng mấy tháng sau ông Luân quay lại thì các biểu hiện thai nghén của voi cái đã... biến mất.
Nhưng ông Đàng Năng Long cho rằng, voi "yêu" cũng là kết quả rồi, vì có nhiều cặp ghép mãi mà không thấy "yêu". Như chuyện ông cho Y Thanh Uông - người buôn Chuôr (xã Yang Tao, huyện Lắc) - mượn voi đực Y Chum ghép với voi cái Bạch Khăm. Dòng họ Uông - người dân tộc M’Nông - vốn nổi tiếng nhiều voi, giờ số voi đếm chưa hết ngón trên một bàn tay.
Y Thanh bày tỏ nỗi lo hết voi, nhiều người nghe xong liền gật, chỉ chuyện cho mượn voi đực giao phối là không. Rồi Y Thanh gặp ông Long trong một đám cưới, ông Long đồng ý "tác hợp" hai voi, với điều kiện không cho nhiều người biết.
Hôm sau Bạch Khăm và Y Chum được gặp nhau trên một khu đồi vắng, nhưng ngay lần gặp đầu tiên này, “chàng” và "nàng" lại gườm gườm nhìn nhau, tỏ vẻ khó chịu. Dù được xích gần nhau trong rừng vắng, nhưng khi ăn mỗi voi lại dạt ra một hướng, không phát tín hiệu gì. “Gần hai chục ngày cơm đùm cơm nắm, ngồi suốt trên cây rình rập mà chẳng thấy voi "yêu", mình với ông Y Thanh cũng đành chia tay luôn" - ông Long kể.
Từ cuối năm 2012, HĐND tỉnh Đắk Lắk đã có hẳn một nghị quyết về bảo tồn voi, trong đó ngân sách hỗ trợ người nuôi voi tổng cộng đến 600 triệu đồng nếu có một voi cái mang thai. Nhưng đến nay, vẫn chưa ai nhận được số tiền này. Theo những người nuôi voi lâu năm, trước đây voi nhà vẫn đẻ sòn sòn, chỉ vài chục năm gần đây mới mất đi khả năng sinh sản một cách kỳ lạ. Ngày trước mùa động dục của voi kéo dài cả tháng, voi trở nên hung dữ, không ai dám đến gần, còn giờ chỉ thấy "động" vài ba hôm đã yếu xìu, lại hiền hơn trước...
Ông Đàng Năng Long cho rằng, có thể do voi nhà được nuôi cách biệt, "nhịn" quá lâu nên mất đi bản năng tính giao. Nhiều voi đực trông khỏe mạnh, rất “đàn ông” nhưng gặp voi cái lại... ngó lơ, như con Khăm Sen 30 tuổi nhà ông. Mặt khác do nguồn thức ăn tự nhiên, trong đó có những cây thuốc chữa bệnh, kích thích “quý ông” nay cũng không còn nữa.
Trước đây, voi được thả rông hằng tháng, được ăn hàng trăm loại cây, củ, quả, rễ trong các khu rừng rậm. Bây giờ chúng bị xích trong những bãi chăn chật hẹp, chỉ còn cỏ, lá tre hoặc được chủ cho thêm ít mía, gạo. "Ăn uống kham khổ vậy thì thể chất nói chung là yếu rồi, nói gì đến chuyện ham muốn nữa" - ông Long nói.
Ông Long cho rằng, phải có môi trường tự nhiên để voi tìm hiểu, kết giao trong một thời gian đủ dài thì may ra chúng mới sinh sản được. Rừng nguyên sinh Nam Ka là môi trường tốt nhất. Chỉ e nơi đó quá xa, hằng ngày voi còn chở khách du lịch, chưa ai dám thả voi vào đó. Đặc biệt, nạn giết voi lấy ngà, lấy lông đuôi voi làm đồ trang sức đang ám ảnh những người nuôi voi ở Đắc Lắc. Chỉ riêng đàn voi của ông Long đã có 1 con bị giết, 3 con khác bị chặt đuôi khi chăn thả trong các khu rừng gần hồ Lắc.
Mặc dù vậy, ông chủ nhiều voi nhất Việt Nam đã quyết định cho đàn voi nghỉ hẳn ba tháng, đưa vào rừng Nam Ka để chúng tự do ăn, nghỉ và... "yêu". Để thực hiện kế hoạch mạo hiểm này, ông phải chấp nhận thất thu một thời gian, bố trí người theo dõi, bảo vệ voi trong một phạm vi rất rộng giữa rừng nguyên sinh.
Ông chia sẻ: "Đây là quyết tâm cuối cùng của mình đấy, vấn đề còn lại là phải thu xếp mọi việc, lựa chọn thời điểm cho hợp lý. Mình mạo hiểm không phải vì tiền hỗ trợ, cũng không phải để có voi con làm du lịch, chỉ mong giữ lại chút vàng son của nghề nuôi voi do ông bà để lại". (Lao Động 11/2) đầu trang(
Nguồn tin từ Ban quản lý suối cá thần Lương Ngọc, xã Cẩm Lương (huyện Cẩm Thủy) ngày 10.2 cho biết: Ông Phạm Thanh Long (người gác đền Ngọc) vừa phát hiện một con rùa vàng (loài rùa nằm trong sách Đỏ) tại khu vực suối cá thần Cẩm Lương.
Tại thời điểm phát hiện, rùa đang trên đường bò hướng vào khu vực đền thờ làng Ngọc nằm bên hữu suối cá thần Lương Ngọc. Con rùa đến khu vực đền rồi “ngự” luôn tại đó mà không chịu bò đi nơi khác. Ban quản lý suối cá thần Lương Ngọc quyết định giữ lại rùa vàng, lập miếu thờ.
Theo BQL suối cá thần Lương Ngọc thì không lâu sau khi rùa vàng xuất hiện, có một số người đến hỏi mua với giá 500 triệu đồng. (Lao Động 11/2) đầu trang(
Những năm gần đây lượng khách đến với Cù Lao Chàm, ngày càng đông, vì thế cua đá được tiêu thụ rất mạnh nên bị nhiều người săn bắt ráo riết, đẩy loài động vật họ nhà cua này vào rơi vào nguy cơ tiệt chủng.
Cù Lao Chàm - nơi có 600 hộ dân với hơn 3.000 nhân khẩu, đa số sinh sống bằng nghề biển, trong số họ có khoảng vài chục người vì nhiều lý do đã trở thành người chuyên bắt cua đá. Được biết, với cua đá đã được dán nhãn sinh thái thì giá tối thiểu là 500.000 đồng/kg. Không một thành viên nào được phép bán cua đá với giá thấp hơn quy định. Các thành viên có nghĩa vụ đóng lệ phí quản lý cua đá 10% của giá bán.
Thế nhưng, nếu không có cách bảo vệ thì chắc chắn loài cua độc đáo này sẽ tuyệt chủng. Sớm thấy được hậu quả trên, từ cuối năm 2009, UBND TP.Hội An đã ban hành Chỉ thị 04 yêu cầu tạm dừng khai thác, vận chuyển, buôn bán cua đá tại xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm. Một chương trình bảo vệ cua đá với giá trị 50.000 USD do Liên Hợp Quốc (UNEP) hỗ trợ cũng đã được triển khai. Đây là chương trình bảo tồn và khai thác loài cua này theo tuổi của chúng.
Mới đây nhất, Ban quản lý Khu bảo tồn Cù Lao Chàm cho biết: Đã thành lập Tổ Khai thác và Bảo vệ cua đá Cù Lao Chàm, và tổ này đã kiến nghị UBND xã dán nhãn sinh thái cho cua đá cũng như quy định cách thức đánh bắt, tiêu thụ cua đá. Như độ lớn của cua được đánh bắt là có mai rộng 7cm trở lên và không mang trứng. Cua đá dán nhãn mới được bán và phải được giữ trong lồng có logo cua đá và khẩu hiệu tuyên truyền "Cua đá không dán nhãn là cua đá bất hợp pháp”.
Ông Huỳnh Ngọc Diên (Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm) khẳng định: "Đội tuần tra bao gồm các thành viên từ Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tổ môi trường xã Tân Hiệp, Ban bảo tồn thôn, Tổ khai thác và các cơ quan liên quan do UBND xã đảo Tân Hiệp thành lập có trách nhiệm kiểm soát hoạt động khai thác, bảo vệ cua đá. Các thành viên của tổ khai thác phải mặc đồng phục và có bảng tên của chính quyền cấp mới được bán cua đá”.
Các thành viên trong tổ còn thống nhất với nhau, việc quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý cua đá là một sinh kế trong các sinh kế chung của cộng đồng Cù Lao Chàm. Vì vậy, phải khai thác đúng theo quy định. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên thông tin đại chúng và các hỗ trợ khác như poster bảo vệ cua đá dán nhãn sinh thái cần phải được phổ biến rộng rãi tại Cù Lao Chàm, tại các nhà hàng, trên tàu vận chuyển khách, trung tâm du lịch, trung tâm bảo tồn biển… (Đại Đoàn Kết 11/2) đầu trang(
Chiều 11-2, phó giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau Phan Quốc Khải cho biết, vừa hỗ trợ 5 triệu đồng giúp gia đình lo hậu sự cho ông Trần Văn Tâm (58 tuổi) - người bị cây đè dẫn đến tử vong khi đốn trộm cây rừng.
Vào tối 8-2, ông Lê Quốc Khánh - nhân viên hợp đồng trạm kiểm lâm Cái Mòi thuộc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau - đến nhà bố vợ tương lai rồi cùng ông này và ông Tâm (ngụ ấp Cái Mòi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) vào rừng thuộc khu vực quản lý bảo vệ rừng số 7 đốn trộm cây rừng. Chặt đến cây đước thứ tư, ông Tâm bị cây đè trọng thương, được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Năm Căn (huyện Năm Căn) và tử vong tại đây.
Liên quan đến vụ việc trên, ban giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau tạm đình chỉ công tác đối với Lê Quốc Khánh vì vi phạm quản lý bảo vệ rừng, gián tiếp gây chết người.
Được biết, trước đó ông Khánh hỏi xin tập thể 10 cây đước để sửa lại căn nhà, chuẩn bị cưới vợ. Chưa được cấp trên cho phép thì ông Khánh rủ bố vợ tương lai và ông Tâm vào rừng đốn cây dẫn đến vụ việc nêu trên. (Tuổi Trẻ 12/2) đầu trang(
Ngày 16/5/2013 TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Trần Kiều Hưng - nguyên phó Bí thư xã Cửa Cạn (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) 03 năm tù giam, Huỳnh Thị Bích Phượng - vợ bị cáo Hưng 03 năm tù, cho hưởng án treo về tội “huỷ hoại rừng”. Do vụ án còn nhiều khuất tất, nên ngay sau nhận bản án sơ thẩm vợ chồng ông Hưng bà Phượng đã có đơn kháng cáo lên toà phúc thẩm.
Theo hồ sơ, vào khoảng năm 1987 ông Huỳnh Văn Mật cho con ruột là bà Huỳnh Thị Bích Phượng thửa đất thuộc ấp 3 xã Cửa Cạn (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang). Bà Phượng trồng 500 bụi tiêu và tràm bông vàng.
Năm 2010 bà Phượng và chồng là ông Trần Kiều Hưng làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất (GCNQSDĐ) với diện tích 17.440m2 của thửa đất nêu trên. Sau đó, UBND huyện Phú Quốc cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Hưng với diện tích 6.750,5m2.
Đến khoảng tháng 9/2011, bà Phượng và ông Hưng thuê một số người phát dọn đất, thì vào ngày 02/11/2011, Trạm Kiểm Lâm xã Cửa Cạn đến lập biên bản đình chỉ, vì cho rằng, phần đất mà vợ chồng ông Hưng phát dọn đã nằm ngoài diện tích mà họ được cấp giấy CNQSDĐ trước đó.
Ngày 25/5/2012, ngành chức năng huyện Phú Quốc kết hợp với chính quyền địa phương xã Cửa Cạn tiến hành kiểm tra thực địa, toạ độ, vị trí ranh giới tại hiện trường và xác định, diện tích 4.042m2 mà vợ chồng ông Hưng phát dọn nằm trong ranh giới Vườn Quốc Gia Phú Quốc (tại tiểu khu 81 phân khu phục hồi sinh thái).
Dựa trên kết luận đó, ngày 08/3/2013, Viện KSND huyện Phú Quốc ra cáo trạng số 24/KSDT-TA truy tố vợ chồng ông Trần Kiều Hưng và Huỳnh Thị Bích Phượng về tội “Huỷ hoại rừng”. Ngày 16/5/2013 TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Trần Kiều Hưng 03 năm tù giam, Huỳnh Thị Bích Phượng 03 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Huỷ hoại rừng”.
Theo bà Phượng: “Biên bản hiện trường vẽ không đúng thực tế. Trong bảng vẽ này sai rõ ràng nhất là việc có con suối đi qua diện tích đất tôi được cấp giấy CNQSDĐ. Đáng nói hơn Phòng tài nguyên môi trường cũng xác nhận điều này nhưng thực tế mảnh đất tôi được cấp giấy chứng nhận thì hoàn toàn không có con suối đi ngang qua. Chúng tôi khai phá trên diện tích đất được cấp giấy nhưng lại bị toà tuyên tội huỷ hại rừng, chúng tôi chẳng biết kêu ai bây giờ”.
Bà Huỳnh Thị Bích Phượng cho biết: “Tại toà, vợ chồng tôi và những hộ dân canh tác liền kề với mảnh đất mà vợ chồng tôi khai phá đều xác nhận là không nằm trong ranh giới Vườn Quốc Gia Phú Quốc. Hơn nữa, nếu đất nhà tôi thuộc Vườn Quốc Gia Phú Quốc thì làm sao cơ quan chức năng cấp giấyCNQSDĐ cho vợ chồng tôi? Đáng nói nhất là là 2 cột mốc 109 và 111 mà CQĐT thể hiện trong bản vẽ không liên quan gì đến các cột mốc diện tích đất mà tôi cach tác và hai cột mốc này cách thửa đất tôi hơn 1 kilomet.”
Cụ thể, ông Đào Hữu Phước - Nguyên phó chủ tịch xã Cửa Cạn cho biết: “Đất của vợ chồng ông Kiều Hưng là liền kề đất gia đình tôi và đất của ông La Quốc Chiến và có 3 cột mốc ranh giới là 103 - cấm trên đất ông Chiến, cột mốc 104 - cấm trên đất ông Hưng và cột mốc 105 là cấm trên đất tôi. Sự việc rõ ràng ra thế nhưng chẳng hiểu sao biên bản khám nghiệm hiện trường đã căn cứ vào các cột mốc 109 và 111 cách hiện trường hơn 1 kilomet để xác định vợ chồng ông Hưng về tội “Huỷ hoại rừng” là thiếu cơ sở.”
Ông Nguyễn Chí Hùng - Trưởng ấp 3 xã Cửa Cạn cho biết thêm: “Những cán bộ lão thành và những người dân lớn tuổi ở đây ai nấy điều biết rõ mảnh đất của vợ chồng ông Hưng, bà Phượng. Nên khi xem biên bản khám nghiệm hiện trường vẽ có con suối chảy qua đất của bà Phượng là chúng tôi đã thấy sai, vì thực tế và căn cứ vào bản trích đo địa chính thửa đất của bà Phượng do văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Phú Quốc và bản đồ địa chính ấp 3, xã Cửa Cạn,..thì con suối nằm ở phía Tây Nam của mảnh đất bà Phượng.
Do vậy nếu vợ chồng ông Hưng canh tác trên diện tích đất theo bản vẽ của CQĐT (có con suối đi qua) lấy làm căn cứ kết tội vợ chồng ông Hưng phá rừng thì ông Hưng còn bị thêm tội chiếm đất của hộ ông Lý Kiêm Huê.”
Bà Huỳnh Thị Bích Phượng cho biết: “Nếu căn cứ vào bản án sơ thẩm thì toàn bộ diện tích đất 6.750,5m2 do UBND huyện Phú Quốc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng tôi chỉ có ở trên giấy? Vì thực tế, nếu vợ chồng tôi canh tác trên diện tích này thì bị ngăn cản vì phạm tội huỷ hoại rừng. Còn nếu đến canh tác trên diện tích đất theo sơ đồ bản vẽ mới của CQĐT để buộc vợ chồng tôi phạm tội huỷ hoại rừng thì vợ chồng tôi lại đi chiếm đất của người khác. Bởi vậy, trước khi vụ án được làm sáng tỏ, bây giờ tôi chẳng biết đất tôi ở đâu nữa?”
Theo bản đồ địa chính ấp 3 và bản trích đo địa chính do văn phòng đăng ký QSDĐ huyện Phú Quốc cung cấp thì thửa đất bà Phượng hoàn toàn không có con suối đi ngang qua.
Theo luật sư Thái Hoàng Long - luật sư bào chữa cho vợ chồng bà Phượng, ở cấp sở thẩm có nhiều điểm vi phạm về mặt tố tụng nhưng cơ quan xét xử bỏ qua, chẳng hạn như biên bản khám nghiệm hiện trường không có giá trị pháp lí vì không có kiểm sát viên tham gia, việc này vi phạm điều 150 Bộ luật TTHS; Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kiểm tra thực địa, toạ độ,vị trí ranh giới giữa diện tích đất và diện tích đất rừng cũng không khách quan vì hạt kiểm lâm chủ trì.
Đặc biệt, 02 công văn của Phòng TNMT huyện Phú Quốc trả lời Hạt kiểm lâm và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc được ban hành vượt thẩm quyền; Cơ quan tố tụng không thu thập hồ sơ ranh giới Vườn quốc gia Phú Quốc tại tiểu khu 81 khi xét xử vụ án,… Và thực tế, căn cứ vào sơ đồ địa chính thửa 46 thể hiện trên giấy chứng nhận QSDĐ của chị Phượng áp với vị trí mảnh đất mà vợ chồng chị Phượng khai hoang thì hoàn toàn trùng khớp.
Sau khi vụ việc xảy ra, các thành viên trong ban lãnh đạo ấp 3 cùng nhiều bà con xã Cửa Cạn đã làm tờ trình, xác nhận vị trí các cột mốc 103-104-105 đúng như trên và gửi đến TAND tỉnh Kiên Giang với mong muốn các ngành chức năng xác minh lại hiện trường để có phán quyết đúng đắn, tránh oan sai cho gia đình chị Phượng. (Dân Trí 12/2) đầu trang(
Hơn 3.000m2 rừng trồng gỗ keo tại Tiểu khu 7721 thuộc thôn 8, xã Ea Lai (huyện M’Drak) đã bị kẻ gian chặt phá và khai thác trái phép.
Sau khi điều tra, lực lượng chức năng đã làm rõ đối tượng là Lê Văn Thành ở thôn 1, xã Ea Lai. Mặc dù biết đây là rừng keo do huyện M’Drak trồng và quản lý, nhưng tên Thành đã liều lĩnh thuê người đến chặt phá, khai thác hơn 350 cây để lấy gỗ đem bán.
Hiện Công an huyện M’Drak đã thu giữ 45m3 gỗ keo và tiếp tục làm rõ để xử lý tên Lê Văn Thành theo quy định. (Báo Đắk Lắk 12/2) đầu trang(
Ít người được vào khu vực thung lũng (khu 2 Tràng An - Ninh Bình), nơi còn một cánh rừng nguyên sinh, chim phượng bay ríu rít, bìm bịp và cá rô tiến vua bơi tung tăng. Nơi ấy được che chở bởi một cây si nghìn tuổi với bộ rễ ôm lấy cả thung lẫn núi.
Năm 2012, khi ông Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an về đảm nhiệm vai trò Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, nơi đặt chân đầu tiên của ông là thung lũng Tràng An. Ông Nam đi qua 3 chặng đường, với khoảng 2 giờ đồng hồ và xắn quần “móng lợn” để qua đầm lầy.
Nhóm ký giả kênh truyền hình CNN (Mỹ) còn ăn ngủ tại cánh rừng nguyên sinh này cả tháng trời để ghi lại những hình ảnh độc nhất về thung lũng, cho ra đời tác phẩm “Hãy lắng nghe lời thì thầm của thiên nhiên hoang dã”.
Đoạn phim với hình ảnh một miền đất Việt Nam đẹp hoang sơ, mang nhiều bí ẩn của thiên nhiên, đã lên sóng liên tục trong 2 tháng trên kênh CNN. Đánh giá của Invest Consult Group cho thấy, những người đã xem đoạn phim tại Mỹ, Anh, Pháp.., đều cảm thấy ngạc nhiên về vẻ đẹp của Tràng An.
Đi đò qua 12 hang động lắt léo quanh co, là đến đền Trần. Qua đền Trần thì đến thung lũng Tràng An nơi hiện chỉ dành cho những nhà nghiên cứu, nguyên thủ quốc gia. Người trông coi đền Trần, ông Dương Đình Thanh (Hoa Lư, Ninh Bình), kể, theo các tích để lại trên bia đá cho thấy, thung lũng Tràng An là nơi từng diễn ra vụ thảm sát khủng khiếp cách đây 1.000 năm.
Tướng Phạm Bạch Hổ đem 1.000 quân vào thung lũng ẩn náu, và lấy thung lũng làm căn cứ rèn đao luyện kiếm, khôi phục binh mã tính chuyện thôn tính Lê Hoàn nhằm giành lại quyền bính cho nhà Đinh.
Thông tin bị bại lộ, Lê Hoàn đem quân bao vây thung lũng. Khu vực độc đạo khiến quân lính của Phạm Bạch Hổ cạn lương nhanh chóng, ông cùng 1.000 binh sỹ đã thiệt mạng. Máu chảy khắp thung, nên ngày nay người Tràng An còn gọi thung lũng này là Vụng Thắm.
Câu chuyện như một huyền thoại của người Tràng An, còn chính sử thì ghi rằng: Tướng Phạm Bạch Hổ là người gắn với 3 triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê. Bia đá tại đền Trần ghi, sau khi chôn cất 1.000 binh sỹ, nhân dân đã trồng trên mỗi nấm mồ 1 cây si.
Nhưng chuyện lạ là 1.000 cây si ấy đã gắn kết lại với nhau, bộ rễ của nó lan tỏa ra 54ha. Mặc dù rất nhiều rễ vắt ngang dọc thung lũng và trùm lên mấy quả núi, song chúng chỉ dính vào một thân duy nhất.
Quan sát từ trên cao, thấy rõ tất cả các rễ đều hướng về một tâm. Cây si xanh tốt thì xuất hiện đàn chim phượng. Bây giờ, đàn chim phượng vẫn thường xuất hiện trên cây si trong những dịp lễ, Tết của đất nước.
Dưới nước là đủ loại cá, đặc biệt là cá rô tiến vua bơi lượn dưới những cánh hoa sen hoa súng. Hiện loài cá này đang được một số hộ gia đình tại Gia Viễn nuôi nhân giống. Du khách về đầu TP Ninh Bình (đối diện núi Kỳ Lân) vào buổi sáng là có thể thưởng thức đặc sản cá rô tiến vua.
Theo ông Thanh, loài cá này ngoài tự nhiên chỉ duy nhất còn lại tại thung lũng Tràng An nơi chúng được bảo vệ nghiêm ngặt như một loài nằm trong sách đỏ! (Tiền Phong số Xuân 2014) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Đầu năm 2014, những doanh nghiệp (DN) chuyên sản xuất (SX) đồ gỗ ở Bình Định phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc XK hàng do phải thực hiện yêu cầu kiểm dịch thực vật (KDTV). Đang vào mùa xuất hàng cao điểm, việc chậm trễ trong công tác kiểm dịch đã gây tổn thất lớn cho các DN.
Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định cho biết, kể từ ngày 10/1/2014, Hải quan cửa khẩu cảng Quy Nhơn (Bình Định) yêu cầu các DN ngành gỗ ở Bình Định phải thực hiện KDTV trước khi làm thủ tục cho thông quan đối với đồ gỗ XK đến hầu hết các quốc gia.
Tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều DN thì các nước NK và các DN NK mặt hàng này tại thị trường chính EU chưa có bất kỳ yêu cầu nào đối với các DN ngành chế biến gỗ Việt Nam về KDTV đồ gỗ trước khi XK. Điều đáng nói ở đây là khi thực hiện thủ tục này, các DN SX đồ gỗ ở Bình Định đã gặp ách tắc trong XK hàng do công tác kiểm dịch không đáp ứng kịp.
“Thời gian áp dụng thủ tục KDTV đúng vào cao điểm mùa hàng, khối lượng đồ gỗ XK rất lớn, bình quân trong 2 tháng đầu năm đạt từ 2.700-3.000 container hàng/tháng. Trong khi đó, lực lượng thực hiện kiểm dịch của cơ quan Kiểm dịch thực vật vùng IV đóng tại TP Quy Nhơn chỉ có 5 nhân viên, nên dẫu có “3 đầu 6 tay” cũng không thể cáng đáng nổi khối lượng công việc khổng lồ”, ông Nguyễn An Điềm, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định, cho biết.
Theo yêu cầu của của cơ quan kiểm dịch thực vật, sản phẩm đồ gỗ XK xuống cảng phải tập kết đầy đủ 100% thì mới được tiến hành kiểm dịch, và chỉ làm trong giờ hành chính nên đã gây khó cho các DN, làm nảy sinh tình trạng ứ hàng tại cửa khẩu, rớt hàng tại cảng xuất do không kịp làm thủ tục KDTV khiến DN tổn thất nhiều chi phí.
Ông Đỗ Xuân Lập, GĐ Cty CP Kỹ nghệ gỗ Tiến Đạt, bức xúc: “Đối với các quốc gia đã ký kết các Hiệp định hợp tác về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật đồ gỗ thì việc thực hiện thủ tục này là cần thiết. Tuy nhiên, những thị trường chính về NK đồ gỗ của Việt Nam không có yêu cầu này mà cứ cứng nhắc áp dụng thì vừa làm mất thời gian, vừa khiến cho các DN mất khả năng cạnh tranh, tăng chi phí, nhất là vào mùa hàng cao điểm.
Riêng Cty chúng tôi, trong 3 tháng cao điểm (tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau), mỗi tháng xuất từ 400-500 container hàng. Nếu công tác kiểm dịch làm đúng trình tự, đúng tiêu chuẩn, đầy đủ các công đoạn…thì chúng tôi sẽ bị rớt hàng hàng loạt. Vả lại, toàn bộ gỗ nguyên liệu NK đã thực hiện KDTV, sau khi chế biến lại phải thực hiện kiểm dịch đối với mặt hàng đồ gỗ XK là không cần thiết”.
Thực tế cho thấy, cảng Quy Nhơn chỉ là cảng nằm trên tuyến vận chuyển gom hàng từ TP Hải Phòng vào TP HCM để XK sang các nước khác nên mỗi tuần chỉ có một số chuyến tàu vận chuyển nhất định, tàu cũng không thể lưu lại lâu tại cảng để nhận hàng. Do đó, qua thủ tục KDTV, nhiều chuyến hàng đồ gỗ phải bị ứ lại, các DN bị chậm lịch giao hàng và thanh toán gây thiệt hại không nhỏ.
“Chỉ thời gian đầu áp dụng thủ tục KDTV mà có đến gần 60 DN là hội viên của Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định đã chịu cảnh rớt lại hàng trăm container hàng, chi phí thủ tục làm hàng XK tăng đột biến, dẫn đến nhiều khách hàng đòi bỏ hàng, đe dọa hủy đơn hàng do không kịp thời gian giao hàng. Trong quá trình chế biến, các sản phẩm gỗ đều được ngâm tẩm, xử lý ở nhiệt độ cao trong thời gian dài, gia công chi tiết, hoàn thiện sản phẩm, phun màu hoặc sơn phủ bề mặt, nhúng dầu bảo quản.
Quy trình công nghệ này đã được công nhận thực hiện, đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn, các quy định pháp luật nghiêm ngặt của các quốc gia NK mà không có bất kỳ yêu cầu KDTV nào đối với sản phẩm gỗ XK của Việt Nam”, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định, ông Nguyễn An Điềm cho biết thêm.
Trước những bức xúc nói trên của các DN SX đồ gỗ, trước khi nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014, UBND tỉnh Bình Định đã có cuộc họp bàn về việc KDTV cho sản phẩm đồ gỗ XK.
Tại cuộc họp này, Hiệp hội Gỗ và lâm sản đã kiến nghị UBND tỉnh Bình Định và các sở ngành liên quan kiến nghị lên Bộ NN-PTNT xem xét điều chỉnh, sửa đổi Thông tư số 40/2012/TT-BNNPTNT, không đưa đồ gỗ XK và danh mục vật thể thuộc diện KDTV; đồng thời kiến nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan phân đồ gỗ XK vào “luồng xanh” để tháo gỡ những khó khăn nói trên. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/2) đầu trang(
Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (DN) ngành giấy vẫn cần đến các chính sách của Nhà nước trong việc tiếp cận vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại đồng bộ; đào tạo, nghiên cứu thị trường, thuế.
Năm 2013, Tổng công ty Giấy Việt Nam (TCT) gặp nhiều khó khăn cả về sản xuất và thị trường. Do vậy, tổng doanh thu cả năm 2013 chỉ đạt 3.350 tỷ đồng, 98,2% kế hoạch năm. Trong đó sản xuất giấy các loại đạt 110.575 tấn, sản phẩm tiêu thụ là 115.799 tấn.
Ông Vũ Thanh Bình - Tổng giám đốc TCT cho biết, ngoài ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế nói chung thì DN còn gặp những khó khăn cả ở khâu sản xuất lẫn thị trường đầu ra. Ở lĩnh vực sản xuất, do thiết bị công nghệ sản xuất lạc hậu từ những năm 1970, vì vậy tiêu hao vật tư nhiên liệu tăng cao đặc biệt là nhiên liệu than cho sản xuất hơi và điện.
Giá vật tư nguyên liệu đầu vào cho giấy tăng cao, trung bình khoảng 14%/năm. Vùng nguyên liệu giấy bị thu hẹp do nhiều nguyên nhân như đất đai, quản lý, vốn. Thêm vào đó lượng lao động nhiều nhưng năng suất lao động thấp… là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Về mặt thị trường, nhu cầu tiêu dùng thấp, trong khi đó nguồn cung trong nước dồi dào, lượng giấy nhập khẩu ước đạt tăng 19% thị phần. Mặc dù công tác thị trường đã được cải thiện nhưng lượng giấy tồn kho cao ở các tháng đầu năm đã làm giảm hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh đó, nhiều công ty liên kết (Tân Mai, BBP) và đơn vị sự nghiệp… gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến TCT phải tiếp tục trích quỹ dự phòng tài chính lớn.
Cũng theo đánh giá của ông Bình, với hiện trạng như đã nêu thì TCT vẫn còn tiếp tục gặp nhiều khó khăn khác, đặc biệt là vốn cho tái đầu tư. Việc thực hiện tái cơ cấu DN, thoái vốn... theo đề án của Chính phủ cũng phần nào ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của DN.
Do vậy, mục tiêu chính của năm 2014 cũng ở mức khiêm tốn, phấn đấu công ty mẹ đạt khoảng 3.396 tỷ đồng doanh thu (tăng 1,6%); doanh thu công ty con đạt 11,2 tỷ đồng (tăng 25,6%). Sản xuất và tiêu thụ 115.500 tấn giấy các loại, tăng 4,5% so với năm 2013.
Số liệu thống kê từ Hiệp hội Giấy và Bột giấy cho thấy, tổng sản lượng giấy tiêu dùng cả năm 2013 đạt mức 3 triệu tấn, tăng 3% so với năm 2012. Nhưng sản xuất trong nước chỉ đạt 1,7 triệu tấn, số còn lại là sản phẩm nhập khẩu.
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, đây cũng là khó khăn chung của ngành giấy trong nước, tồn tại từ nhiều năm nay. Vấn đề lớn nhất của các DN nội địa là thiếu vốn cho đầu tư, nâng cấp trang thiết bị công nghệ, cùng với chi phí đầu vào biến động tăng không ngừng, dẫn đến sản phẩm có mẫu mã, chất lượng kém, giá thành cao.
Công tác thị trường, xúc tiến thương mại còn thụ động và yếu nên không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ bên ngoài, nhất là những dòng sản phẩm cao cấp. Hậu quả là nhiều DN phải dừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng.
Nghịch lý lớn nhất của ngành giấy là nguyên liệu dăm gỗ để chế biến, bột giấy luôn ở tình trạng bán thấp mua cao. Trong khi Việt Nam luôn đứng đầu thế giới về xuất khẩu dăm gỗ về sản lượng, nhưng giá trị rất thấp chỉ đạt trên 100 USD/tấn. Ngược lại, chúng ta lại phải trả trên dưới 1.000 USD cho một tấn bột giấy nhập khẩu.
Thứ trưởng Bộ Công Thương - bà Hồ Thị Kim Thoa cho rằng, trong bối cảnh kinh tế đất nước còn khó khăn như hiện nay, nếu không tập trung nguồn lực để phát triển đúng ngành nghề kinh doanh chính thì DN vẫn còn gặp khó khăn, trong đó có ngành giấy.
Do vậy để từng bước vượt qua khó khăn và phát triển, không còn cách nào khác là phải tận dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẵn có; Phát triển trồng rừng nguyên liệu, đẩy mạnh nghiên cứu sáng tạo nhằm tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để cạnh tranh.
Mặt khác phải chú ý đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của mỗi cá nhân đứng đầu đơn vị từ TCT cho đến các công ty thành viên, công ty liên kết; Tập trung tái cấu trúc DN, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường đầu ra...
Thị trường giấy ở Việt Nam vẫn được đánh giá là có tiềm năng lớn vì dân số đông, mức tiêu thụ bình quân đầu người còn thấp so với thế giới. Trong tương lai, nhu cầu sử dụng giấy và các sản phẩm giấy sẽ tăng cao khi nền kinh tế phục hồi.
Thực tế cho thấy, đã có nhiều DN trong ngành giấy nội địa biết tận dụng cơ hội để phát triển và đã đạt thành tích cao trong sản xuất, kinh doanh như Công ty giấy Việt Trì, Công ty Văn phòng phẩm Hồng Hà... Bên cạnh đó, nhiều DN nước ngoài đã và sẽ đầu tư vào Việt Nam ở lĩnh vực sản xuất chế biến bột giấy, sản xuất giấy vở học sinh, văn phòng phẩm... nhằm chiếm lĩnh thị trường.
Vẫn biết những chỉ dẫn cơ bản để thoát khỏi tình trạng hiện nay, nhưng TCT nói riêng và nhiều DN giấy nội địa vẫn chưa thoát khỏi cái “vòng luẩn quẩn” vốn - công nghệ - thị trường đầu ra.
Thiết nghĩ, để tháo gỡ khó khăn cho DN ngành giấy vẫn cần đến các chính sách của Nhà nước trong việc tiếp cận vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại đồng bộ; đào tạo, nghiên cứu thị trường, thuế... Có như vậy ngành giấy mới tồn tại và phát triển, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. (Thời Báo Ngân Hàng 12/2) đầu trang(
Năm 2013, tỉnh Quảng Trị đã tổ chức trồng 5.870 ha rừng, trong đó có 820 ha rừng phòng hộ, 5.050 ha rừng sản xuất.
Để đảm bảo việc trồng rừng diễn ra đúng tiến độ, Chi cục Lâm nghiệp đã kiểm tra và cấp lô 18 triệu cây giống lâm nghiệp cho các địa phương, đơn vị tham gia trồng rừng gồm các loại: keo lai tai tượng, keo lá tràm, keo dâm hom, sao đen và 10.900 kg hạt trẩu đảm bảo chất lượng. Đến thời điểm này, việc trồng rừng cơ bản hoàn thành, tỷ lệ sống đạt 85 - 90%.
Bên cạnh việc trồng mới, năm qua toàn tỉnh đã chăm sóc 37.174 ha rừng trồng các loại. Nhờ đẩy mạnh công tác chăm sóc và bảo vệ nên rừng trồng phát triển nhanh; diện tích rừng lâu năm ít bị xâm hại; không xảy ra hiện tượng cháy rừng, mất rừng. Vì vậy, độ che phủ rừng toàn tỉnh được nâng lên 47,8%, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường sinh thái. (Báo Quảng Trị 11/2) đầu trang(
Thời gian gần đây, cây keo được giá, đầu ra thuận lợi nên nông dân huyện miền núi Khánh Vĩnh đổ xô vào đầu tư trồng keo.
Với 1 ha cây keo từ 4 năm tuổi trở lên, sau khi trừ hết chi phí, người nông dân sẽ thu được lãi ròng khoảng 40 triệu đồng. Nhờ đó, nhiều gia đình thu nhập đến 500-700 triệu đồng. Nhưng đối với những hộ có ít đất sản xuất mà chỉ độc canh trồng cây keo sẽ gặp nhiều bất lợi. Bởi lẽ phải mất từ 4 đến 5 năm, cây keo mới có thể cho thu hoạch. Trong thời gian dài như vậy, bà con sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn để trang trải cho cuộc sống hàng ngày.
Ông Đỗ Kháng Chiến, Phó chủ tịch Hội nông dân huyện Khánh Vĩnh cho biết: “Việc trồng cây keo ở huyện Khánh Vĩnh hiện đang được nông dân Khánh Vĩnh tích cực trồng để xóa đói giảm nghèo. Hội nông dân cũng khuyến cáo bà con không nên trồng ở những nơi đồi dốc, khó khăn cho việc vận chuyển. Thứ 2 không nên trồng keo nếu có diện tích đất sản xuất hẹp vì nó không đạt hiệu quả kinh tế mà nên trồng cây lượng thực để ổn định cuộc sống ".(Đài PT - TH Khánh Hòa 9/2) đầu trang(
Chiều 10/2, ông Lê Văn Mơn, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa cho biết, sau lễ phát động “Tết trồng cây” của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, 22 huyện, thị xã, TP trên địa bàn đã triển khai chương trình này đến tận các cơ quan, đoàn thể và người dân.
Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh đã trồng được hơn 600 nghìn cây phân tán như sao đen, lát, xà cừ, sấu, keo, xoan, phi lao… Một số huyện trồng số lượng lớn gồm: Quảng Xương, Yên Định, Tĩnh Gia, Nông Cống, Bá Thước, Triệu Sơn, Thạch Thành…
Được biết, đợt phát động trồng cây đầu xuân Giáp Ngọ, tỉnh Thanh Hóa phấn đấu trồng 1,5 triệu cây, dự kiến hoàn thành trong tháng 2/2014. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/2) đầu trang(
Khoảng 15.000 cây xanh sẽ được bổ sung trong các trường học nhân dịp Tết trồng cây vừa được lãnh đạo Sở GD-ĐT Hà Nội phát động ngày 11-2.
Góp phần xây dựng cảnh quan nhà trường xanh- sạch- đẹp, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, mỗi trường sẽ trồng từ 8-10 cây xanh là tiêu chí đặt ra cho hoạt động có ý nghĩa đầu xuân này. (An Ninh Thủ Đô 12/2) đầu trang(
Năm 2013, tổng diện tích trồng rừng trên địa bàn thị xã Bắc Kạn là 500,05 ha/500 ha, đạt 100,01% kế hoạch.
Trong đó: Trồng rừng sản xuất: 344,8/455 ha, đạt 76% kế hoạch, trồng rừng phòng hộ: 59,3/45 ha, đạt 131,7% kế hoạch, trồng cây phân tán: 51,8/30 ha, đạt 172,7% kế hoạch. Năm 2014, thị xã Bắc Kạn xây dựng chỉ tiêu trồng rừng là 450ha, tỷ lệ che phủ rừng là 63,4%. (Đài PT - TH Bắc Kạn 12/2) đầu trang(
Ngày 11/2, Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cùng Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất đã tổ chức lễ phát động Tết trồng cây tại Khu đô thị Vạn Tường, thuộc Khu kinh tế Dung Quất.
Ngay sau lễ phát động 100 cây đuôi phượng đã được tự tay lãnh đạo tỉnh cùng lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trồng dọc theo các tuyến đường số 3 của Khu đô thị Vạn Tường. Theo kế hoạch sẽ có hàng ngàn cây xanh được trồng tại khu đô thị trong những ngày đầu Xuân và trong năm 2014.
Trước đó, sáng 5/2, tỉnh Quảng Ngãi đã phát động Tết trồng cây với hàng nghìn cán bộ, công nhân tham gia trồng cây xanh trên đường phố và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các làng nghề trong tỉnh. Tại thành phố Quảng Ngãi, lãnh đạo tỉnh và cán bộ, nhân viên, đoàn viên thanh niên đã ra quân trồng hơn 1.500 cây xanh.
Tại các huyện Tư Nghĩa, Mộ Đức, Sơn Tịnh, Đức Phổ cũng đã ra quân trồng hàng nghìn cây xanh tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề và khu du lịch Sa Huỳnh… (Kinh tế Nông thôn 12/2) đầu trang(
Ngày 6/2, Cục Hải quan tỉnh Lào Cai đã ra quân hưởng ứng Tết trồng cây Xuân Giáp Ngọ năm 2014.
Cục Hải quan tỉnh đã trồng 10 cây xanh, chủ yếu là các cây ăn quả, cây bóng mát tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp cho Trụ sở làm việc của đơn vị. (Tạp chí Tài Chính 12/2) đầu trang(
Đầu năm mới 2014, nhân dân Thừa Thiên Huế đã ra quân phát động Tết trồng cây, mở đầu cho mùa trồng cây trồng rừng mới, phấn đấu nâng tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh năm 2014 lên xấp xỉ 57%, xứng danh là thành phố du lịch sinh thái, thân thiện với môi trường.
Ông Nguyễn Trọng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết, kế hoạch năm 2014, toàn tỉnh trồng mới 4.020 ha rừng và gần 1 triệu cây phân tán, nâng diện tích rừng trồng toàn tỉnh lên 93.000 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng 3.580 ha.
Diện tích này được các chương trình, dự án trồng rừng thực hiện như: Chương trình bảo vệ phát triển rừng; các dự án hỗ trợ trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất của dự án JIPFRO, JICA, WB và các công ty lâm nghiệp, ban quản lý, hộ gia đình thực hiện trồng rừng sản xuất.
Cùng với việc chú trọng phát triển diện tích rừng trồng, đơn vị kiểm lâm, chủ rừng tăng cường công tác quản lý bảo vệ tốt những diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên hiện có. Mục tiêu của ngành kiểm lâm là tăng cường tuần tra, ngăn chặn, hạn chế tình trạng xâm hại rừng, triệt phá các điểm nóng phá rừng, vận chuyển gỗ rừng trái phép.
Nhờ làm tốt việc trồng rừng mới đi đôi với quản lý bảo vệ rừng, hiện độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 56,7%, phục vụ tốt cho việc giữ nước đầu nguồn, điều tiết nước các sông, ngòi, hạn chế tình trạng xói lở, hạn hán... Mục tiêu của tỉnh trong năm 2014 là tiếp tục nâng độ che phủ rừng đạt xấp xỉ 57%, góp phần nâng cao đời sống vật chất, cải thiện môi trường sinh thái ngày càng xanh, sạch, đẹp. (Báo TT - Huế 12/2) đầu trang(
Ngày 11/2, ông Hà Văn Khoát- Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Kạn đã đi kiểm tra công tác trồng rừng năm 2014 tại huyện Chợ Mới.
Hiện nay cả 4 xã trong huyện đã thiết kế được hơn 300 ha với các giống cây trồng chủ yếu là: quế, mỡ, keo và hồi. Ngoài xã Quảng Chu, tiến độ sản xuất vụ xuân và chuẩn bị trồng rừng của 3 xã còn lại của khu vực phía Đông vẫn chậm hơn so với các khu vực khác của huyện Chợ Mới. (Đài PT - TH Bắc Kạn 12/2) đầu trang(
Luồng là cây xóa đói, giảm nghèo của đồng bào các dân tộc huyện Quan Hóa. Tuy nhiên, trước sức ép mưu sinh, cây luồng đã bị khai thác đến mức suy thoái. Trong khi đó, Đề án “Thâm canh vùng luồng theo hướng kinh tế bền vững, giai đoạn 2012-2015” của huyện lại chưa đạt được mục tiêu đề ra.
Cách đây khoảng 30 năm, diện tích luồng loại 1, loại 2 của huyện tương đối lớn. Bởi khi đó áp lực mưu sinh của người dân chưa tác động lớn đến rừng luồng. Những năm gần đây, do đời sống khó khăn, cây luồng đã bị người dân khai thác quá mức, thậm chí cả cây non trong mùa sinh măng cũng bị chặt hạ. Tính bình quân mỗi năm trên địa bàn huyện khai thác khoảng từ 7 đến 7,5 triệu cây luồng. Bên cạnh đó, việc tái đầu tư chăm sóc cho cây luồng, làm giàu quỹ đất lại ít được chính quyền và người dân quan tâm, dẫn đến đất bạc màu, xuất hiện sâu, bệnh hại nên hàng nghìn ha luồng rơi vào tình trạng suy thoái.
Qua điều tra khảo sát của phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, tổng diện tích rừng luồng của huyện Quan Hóa hiện có 25.148,2 ha; trong đó, 18.631 ha luồng phát triển bình thường, 6.517,2 ha luồng kém chất lượng. Để khắc phục tình trạng suy thoái và phát huy giá trị kinh tế của cây luồng, huyện Quan Hóa đã xây dựng Đề án “Thâm canh vùng luồng theo hướng kinh tế bền vững, giai đoạn 2012 - 2015”.
Theo đề án, trong 4 năm, huyện sẽ tiến hành phục tráng 6.517,2 ha luồng. Trong đó, năm 2012, phục tráng 1.895,9 ha luồng kém chất lượng thuộc 5 xã: Hiền Chung, Hiền Kiệt, Hồi Xuân, Phú Lệ, Xuân Phú; năm 2013, phục tráng 1.743,1 ha ở 3 xã: Nam Động, Thành Sơn, Trung Sơn; năm 2014, phục tráng 1.073,6 ha trên địa bàn 3 xã: Nam Tiến, Nam Xuân, Phú Sơn. Tuy nhiên, trong 2 năm qua, huyện mới triển khai phục tráng được 476 ha luồng.
Việc phục tráng mới dừng ở xây dựng các mô hình thí điểm, nếu triển khai rộng trên địa bàn sẽ khó thực hiện. Vì để phục tráng rừng luồng trên diện rộng theo kế hoạch, cần rất nhiều yếu tố như: con người, phương tiện, kỹ thuật và nguồn vốn. Hiện tại, nguồn vốn cho phục tráng, cải tạo rừng luồng của huyện vẫn trông vào ngân sách phân bổ hàng năm của các chương trình, dự án, việc huyện tự huy động các nguồn lực bên ngoài đầu tư cho cây luồng hầu như chưa có.
Bên cạnh đó, những năm gần đây các tổ chức nước ngoài như Tổ chức Grét; Tổ chức Tre Luồng sông Mê Công đã vào hoạt động nghiên cứu tại huyện, nhìn chung kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở các mô hình nhỏ. Do vậy, những tác động đến người dân trong việc trồng, chăm sóc, khai thác luồng chưa đủ mạnh để thay đổi nhận thức. Ngoài các yếu tố trên, những khó khăn về địa hình, giao thông, trình độ dân trí, đặc biệt là yếu tố làm sao bảo đảm cuộc sống hàng ngày để người dân yên tâm tham gia phục tráng rừng luồng,... cũng là rào cản khi triển khai đề án.
Huyện Quan Hóa đặt ra mục tiêu đến năm 2015 mỗi năm khai thác hơn 10 triệu cây luồng, tăng thu nhập cho người dân từ 2 đến 4 triệu đồng/ha/năm của diện tích rừng luồng suy thoái lên từ 6 đến 9 triệu đồng/ha/năm, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững.
Để đạt mục tiêu trên, huyện rất cần tỉnh có cơ chế, chính sách đối với người trồng luồng; các tổ chức trong, ngoài tỉnh, các doanh nghiệp đầu tư cho cây luồng tạo nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Có như vậy, Đề án “Thâm canh vùng luồng theo hướng kinh tế bền vững, giai đoạn 2012 - 2015”, mới trở thành “liều thuốc hồi sinh” cho vùng luồng suy thoái của huyện. (Báo Thanh Hóa 12/2) đầu trang(
Theo ông Hoàng Đức Lưu, Giám đốc Ban Quản lý rừng tỉnh Hải Dương, keo là loại cây chủ lực của rừng sản xuất. Thời gian gần đây, nhiều hộ dân trồng cây keo lai vì có khả năng sinh trưởng nhanh.
Thị xã Chí Linh hiện có khoảng 800 ha keo thuần loại, chưa kể hàng trăm héc-ta keo trồng hỗn giao với các loại cây khác. Người dân chủ yếu trồng keo tai tượng, keo lá chàm. Cây keo phân bố nhiều nhất tại 3 xã Hoàng Hoa Thám, Bắc An, Lê Lợi. Diện tích rừng sản xuất được phủ xanh bằng cây keo không chỉ có ý nghĩa thiết thực về môi trường mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân. (Báo Hải Dương 10/2) đầu trang(
Là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, kinh doanh đa ngành nghề trên lĩnh vực nông - lâm - thủy sản và du lịch, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ đóng trên địa bàn huyện U Minh, phấn đấu doanh thu và thu nhập khác năm 2014 là 81 tỷ đồng.
Công ty hiện đang quản lý trên 25.000 ha rừng, được phân chia thành 5 Liên tiểu khu. Năm qua doanh thu và thu nhập khác của đơn vị 65 tỷ đồng, vượt 71% kế hoạch, nộp ngân sách Nhà nước trên 3,5 tỷ đồng. Các chỉ tiêu về khai thác và trồng rừng đều đạt 100%, sản xuất 1,3 triệu cây keo lai giống và 4 triệu cây tràm giống để trồng rừng và cung cấp cây giống cho thị trường. Ngoài ra, công ty còn phối hợp với địa phương làm công tác an sinh xã hội trên 350 triệu đồng.
Trong năm 2014, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ sẽ đầu tư trên 21 tỷ đồng để trồng rừng, đầu tư phát triển doanh nghiệp 12 tỷ đồng, trong đó tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu du lịch sinh thái Sông Trẹm để thu hút khách tham quan. Làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và phấn đấu nâng tiền lương bình quân của cán bộ, công nhân viên đạt 68,5 triệu đồng/người/năm. (Đài PT - TH Cà Mau 10/2) đầu trang(
Lần đầu xuất hiện tại Điện Biên, mô hình nuôi hươu sao của gia đình anh Vũ Văn Đẩu, bản Kê Nênh, xã Tà Lèng, TP. Điện Biên Phủ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Nguồn thu từ bán nhung cũng như cung ứng con giống đã giúp gia đình anh Đẩu từng bước xóa đói giảm nghèo, vươn lên phát triển kinh tế, trở thành hội viên điển hình sản xuất kinh doanh giỏi của Hội Nông dân TP. Điện Biên Phủ.
Năm 2010, làm ăn thua lỗ, giá thức ăn cho vịt và cá mỗi lúc một tăng, gia đình anh Đẩu quyết định chuyển đổi mô hình làm kinh tế bằng việc mua 2 cặp hươu sao giống từ Nghệ An về chăm sóc. Qua 4 năm sinh trưởng, đàn hươu sao của gia đình anh bước đầu đã cho thu nhập, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ 2 cặp ban đầu, đến nay đàn hươu đã lên tới 10 con (4 đực, 6 cái).
Giá bán 1 cặp hươu con vào khoảng 13 triệu đồng (con giống khoảng 5 tháng tuổi trở lên). Đối với hươu sao đực, khoảng 1 năm rưỡi sẽ có nhung. Thời gian cắt nhung từ tháng 1 đến tháng 8. Ở những con phát triển tốt, một lần cắt sẽ cho hơn 1kg nhung/1 con, mỗi năm có thể thu hoạch từ 1 – 2 lần (phụ thuộc điều kiện chăm sóc).
Cũng theo anh Đẩu, giá nhung hươu sao dao động 7 – 8 triệu đồng/kg. Như vậy, mỗi năm gia đình anh Đẩu thu lời từ nhung hươu và con giống trên 70 triệu đồng. Từ những thuận lợi ban đầu, anh Đẩu còn tận dụng phân hươu làm thức ăn cho cá, bởi thế mà gia đình anh giảm được khoản chi phí lớn mua cám cho cá ăn, tạo thêm thu nhập để phát triển kinh tế. (Báo Điện Biên 12/2) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Hai nhân vật hàng đầu trong hoàng gia Anh là Thái tử Charles và Hoàng tôn William (con trai cả của Thái tử Charles) vừa xuất hiện trong clip kêu gọi mọi người trên thế giới bảo vệ môi trường. Chủ đề chính được hai người sẽ là vua nước Anh trong tương lai đề cập chính là nạn buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.
Thái tử Charles cho biết cứ 11 giờ là có một con tê giác trên Trái đất bị hạ sát và ông cũng cho biết số lượng hổ sống trong tự nhiên đã bị giảm xuống còn có 3.200. Chính vì vậy, Thái tử Charles lên tiếng: “Chúng ta hãy đoàn kết, như cha với con để lên tiếng giúp toàn cầu chống lại nạn buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp”.
Đáng chú ý là sau lời kêu gọi bằng tiếng Anh, hai ông Vua tương lai của nước Anh đã nói bằng 5 thứ tiếng khác để kêu gọi mọi người hãy đoàn kết để bảo vệ động vật hoang dã. (Một Thế Giới 11/2) đầu trang(
Ngày 10/2, một con hổ “thành tinh” chuyên lởn vởn gần những ngôi làng ở miền bắc Ấn Độ đã giết hại người thứ 10 trong vòng sáu tuần sau khi thoát ra khỏi một chiếc bẫy do thợ săn dựng lên với con mồi là một chú bê sống.
Con hổ cái này được cho là đã thoát ra từ Công viên Quốc gia Jim Corbett, công viên quốc gia lâu đời nhất Ấn Độ được thành lập từ năm 1936 để bảo tồn loại hổ Bengal đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Nạn nhân mới nhất của con hổ tinh ranh này là một người đàn ông 50 tuổi đi kiếm củi trong khu rừng bên ngoài ngôi làng Kalgarh ở bang Uttarakhand hôm Chủ nhật. Con hổ đã ăn một phần chân và bụng của nạn nhân trước khi bỏ đi vì bị dân làng xua đuổi bằng xẻng và gậy.
Tuy nhiên một số chuyên gia cho rằng đây không phải là con hổ cái trên mà là một con hổ đực đã từng giết hại một phụ nữ trong khu vực này hôm 14/1.
Ông Bivash Pandav, một nhà sinh vật học tại Viện Động vật Hoang dã Ấn Độ nhận định: “Có một khu rừng rậm ngăn cách hiện trường vụ giết người hôm Chủ nhật với vụ tấn công hôm thứ Năm. Trong khu rừng này có rất nhiều hổ, thế nên con hổ cái kia không thể đi qua lãnh thổ của những con hổ khác để đến ăn thịt người ở Kalagarh.”
Tuy nhiên, ông Samir Sinha, Giám đốc Công viên Quốc gia Jim Corbett cho biết: “Hiện chúng tôi chưa vội vàng đưa ra kết luận. Mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là xác định con hổ này. Hiện chúng tôi đã bố trí bẫy camera trong khu rừng này để chụp ảnh con hổ đó. Ngoài ra, các nhân viên kiểm lâm cũng tăng cường tuần tra bằng voi để thu thập thông tin của nó.”
Hôm thứ Bảy, các thợ săn được huy động truy lùng con hổ này suýt chút nữa đã tóm được nó bằng cách gài bẫy với một con bê sống. Con hổ gần như đã đi vào khu vực bẫy và tiến gần tới con bê. Tuy nhiên, dường như cảm nhận được mối nguy hiểm, con hổ tinh ranh đã không tấn công con bê và lặng lẽ bỏ đi.
Thông tin về một con hổ dữ thoát ra ngoài và chuyên đi ăn thịt người bắt đầu lan truyền từ ngày 29/12, khi một người đàn ông 65 tuổi bị vồ chết ở huyện Sambhal, bang Uttar Pradesh, giáp biên giới với bang Uttarakhand. Kể từ đó, hàng ngàn dân làng luôn sống trong nỗi lo sợ nơm nớp và phải thường xuyên tránh ra vào các khu rừng để đề phòng con hổ này.
Ông Rupek De, Giám đốc Sở Bảo vệ Động vật Hoang dã bang Uttar Pradesh nhận định: “Con hổ này bắt đầu tấn công con người vì nó không thể tìm thấy những con mồi khác trong tự nhiên. Con hổ đó chắc hẳn phải rất mệt mỏi vì không được nghỉ ngơi thích đáng.”
Ông này cho biết các thợ săn lão luyện được huy động để săn tìm con hổ này đã rất chật vật khi lần theo dấu vết của nó trong rừng rậm. Đội thợ săn này cũng bị thiếu nhân lực nghiêm trọng khi chỉ có 3 thợ săn trong tổng số 6 người được huy động có đủ can đảm để truy lùng con hổ dữ.
Ông De cho hay mặc dù ông đã đề nghị các quan chức kiểm lâm ở bang Uttarakhand giúp đỡ trong chiến dịch săn tìm nhưng có vẻ như lực lượng này không mấy mặn mà và không nhiệt tình phối hợp.
Tình hình tồi tệ đến mức hôm Chủ nhật, nhiều dân làng đã nổi giận và chiếm giữ một văn phòng kiểm lâm quốc gia để đòi cơ quan này bảo vệ an toàn cho người dân và bồi thường thiệt hại cho các gia đình có người thân bị hổ sát hại.
Một quan chức kiểm lâm Ấn Độ lên tiếng: “Chúng tôi có thể hiểu được tình trạng nguy hiểm của người dân. Những người dân này không có nhà vệ sinh ở trong nhà, và họ thường đi ra những khu vực hẻo lánh để giải quyết nhu cầu, và đây là lúc họ dễ bị hổ tấn công nhất. Tuy nhiên để bảo vệ được họ trong những điều kiện như thế này là rất khó khăn, thế nên chúng tôi đã khuyên họ nên đi vệ sinh theo nhóm.”
Hổ hoang dã ở Ấn Độ được coi là loài đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi nạn săn bắn trộm và sự thu hẹp nhanh chóng môi trường sống do quá trình mở rộng nơi định cư của dân số 1,2 tỉ người.
Hiện nay số lượng hổ ở Ấn Độ chiếm hơn một nửa trong tổng số 3.200 con hổ còn sinh sống trong tự nhiên trên toàn thế giới. Mặc dù nước này đã lập nên nhiều khu bảo tồn quốc gia, song số lượng hổ vẫn giảm đáng kể so với con số 5000-7000 cá thể vào những năm 1990, khi môi trường sống của loài hổ còn rộng gấp đôi bây giờ. (Khám Phá 12/2) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa