|
Ngày 11 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Hưởng ứng Ngày Voi Thế giới, chiều 10/8/2017, tại Hà Nội, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã tổ chức buổi thảo luận về loài voi ở Việt Nam và những nỗ lực bảo tồn loài động vật hoang dã này. Nhiều bạn trẻ ở Hà Nội đã tham dự.
Cuộc thảo luận có sự tham gia của đại diện Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF), TRAFFIC - Mạng lưới giám sát quốc tế về buôn bán động, thực vật hoang dã, và Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV). Hoạt động này nhằm chia sẻ những thông tin về loài voi, góp phần nhằm làm giảm nhu cầu tiêu thụ ngà voi bất hợp pháp cũng như các sản phẩm khác từ động, thực vật hoang dã.
Theo WWF, đàn voi rừng lớn nhất còn lại ở Việt Nam là quần thể voi Tây Nguyên ở Vườn Quốc gia Yok Don, với khoảng 70 cá thể - chiếm khoảng 70% số voi rừng trong toàn quốc. Dù đã có nhiều nỗ lực của lực lượng kiểm lâm, nhưng đàn voi rừng Tây Nguyên vẫn đang bị đe dọa bởi nạn săn bắn, bẫy bắt và mâu thuẫn voi - người. Từ năm 2009- 2016, riêng ở tỉnh Đăk Lăk, đã có 23 cá thể voi rừng chết, trong đó gần 75% là voi dưới 1 tuổi.
Với mục tiêu “Hành động khẩn cấp bảo vệ voi rừng đến năm 2020 của WWF Việt Nam và Vườn Quốc gia Yok Don” đã được hoạch định, chúng ta chỉ còn 3 năm để hành động quyết liệt, nếu không voi rừng Việt Nam sẽ tuyệt chủng như tê giác một sừng Java.
Phát biểu tại cuộc thảo luận, Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius bày tỏ: “Hôm nay, chúng ta được nghe các chuyên gia chia sẻ về những phương thức họ đang thực hiện để giúp bảo tồn loài voi ở Việt Nam. Với những thông tin thu được tại buổi thảo luận, các vị hãy tiếp tục thảo luận với những người khác nhằm tìm ra các giải pháp mới để giúp bảo vệ những sinh vật khổng lồ mà hiền lành này”. (Lao Động Thủ Đô 10/8) đầu trang(
Từ đầu năm 2017 đến nay, nhờ tăng cường tuần tra, chốt chặn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đã phát hiện và lập biên bản 543 vụ vi phạm về rừng; trong đó nổi cộm là khai thác rừng trái phép với 138 vụ, phá rừng trái phép 137 vụ, vận chuyển lâm sản lậu 117 vụ; mua bán, cất giữ, kinh doanh lâm sản trái phép 125 vụ...
Tổng số vụ việc đã xử lý là 482 vụ, trong đó chuyển Cơ quan điều tra xử lý hình sự 18 vụ nghiêm trọng. Tịch thu 201 phương tiện, dụng cụ phá rừng và vận chuyển gỗ trái phép; gần 746m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại; 74 cá thể và 85kg động vật rừng; xử phạt và thanh lý hàng vi phạm nộp ngân sách hơn 5,2 tỷ đồng...
Trong hành trình gian nan, vất vả bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm toàn tỉnh phải đối mặt với 5 vụ chống đối, cản trở người thi hành công vụ. Điển hình như: Tại huyện Đạ Huoai từ tháng 1 - 3/2017, xảy ra 3 vụ cản trở xe ô tô, đánh cán bộ kiểm lâm khi đang làm nhiệm vụ. Vụ người dân thôn Hang Hớt, Mê Linh kéo nhau đông người chống người thi hành công vụ ngày 7/2/2017...
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức 221 cuộc tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ rừng cho 11.443 lượt người tham gia; ký 547 bản cam kết bảo vệ rừng; lồng ghép nội dung bảo vệ rừng vào chương trình xây dựng nông thôn mới, gia đình văn hóa. Đến nay, Lâm Đồng thành lập và củng cố được 95 Ban Lâm nghiệp xã, gồm 1.494 thành viên tham gia; trong đó có 113 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn cụ thể. (Thanh Tra 11/8) đầu trang(
Gần đây, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh (thuộc huyện Đak Glei, tỉnh Kon Tum), người ta chứng kiến cảnh cây cu-li đang bị khai thác một cách rầm rộ. Cu-li được bày ra cả hai bên con đường dẫn vào rừng. Người dân trong vùng cho biết, họ khai thác cu-li là để bán cho Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Đak Glei.
Dọc theo con đường liên xã Mường Hoong - Đak Troong, có ít nhất là 5 điểm tập kết cây cu-li, kéo dài chừng hơn 100 mét. Cũng không thể biết tổng số lượng là bao nhiêu nhưng có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đây là khối lượng rất lớn, đồng nghĩa với việc loại cây này đang bị khai thác theo lối tận thu. Những người dân vào rừng chặt cu-li cho biết, họ khai thác để bán cho Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Đak Glei.
Những địa điểm bị khai thác mạnh nhất là khoảnh 1, khoảnh 2 tiểu khu 84; khoảnh 3 tiểu khu 83 xã Mường Hoong. Tổng diện tích bị khai thác ước chừng 200 ha.
Đại diện Hạt Kiểm lâm Đak Glei cho biết, Công ty lâm nghiệp Đak Glei khai thác cây cu-li trên lâm phần của họ, vì họ là chủ rừng theo Thông tư 20, 21.
Theo đó, chủ rừng được hưởng lợi từ rừng, tận thu lâm sản ngoài gỗ nên không cần giấy phép khai thác của các cấp có thẩm quyền. Công ty cũng đã lập hồ sơ khai thác và gửi thông báo cho Hạt Kiểm lâm.
Còn Hạt chỉ kiểm soát về khối lượng theo hồ sơ khai thác trên lâm phần theo quy định. Cơ quan chức năng cũng cho rằng, cây cu-li không nằm trong danh sách lâm sản quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng, nên họ được phép khai thác.
Được biết, trong hồ sơ đăng ký khai thác Công ty lâm nghiệp Đak Glei dự kiến khai thác với tổng khối lượng 200 tấn, và đã tiến hành công việc từ trước Tết Nguyên đán.
Đến nay chừng 106 tấn cây cu-li và cây “máu chó”. Được biết, theo giấy phép thì Công ty kể trên được quyền khai thác cho đến ngày 31/12/2017.
Như vậy, theo giấy phép, chỉ còn 94 tấn nữa là hết, nhưng cho tới thời điểm này với sự khai thác quá dữ dội thì e rằng lượng cu-li trong lâm phần này sẽ cạn kiệt nhanh chóng và đó thực sự là nỗi lo lớn.
Đáng nói là không chỉ Công ty lâm nghiệp Đak Glei khai thác, mà người dân trong vùng cũng “tranh thủ” khai thác, nên tốc độ phá hủy là rất lớn.
Cạn kiệt một loài cây (ở đây là cây cu-li và cây “máu chó”) sẽ tác động tới sự đa dạng sinh học. Với rừng tự nhiên, việc hao hụt số lượng của bất kì loại cây nào thì cũng đều khiến môi trường mất đi sự bền vững.
Một mối lo ngại nữa là khi người dân được thuê đi chặt cu-li, khi lâm phần khai thác cho phép cạn kiệt, họ hoàn toàn có thể tới nơi khác chặt tiếp.
Cách đó không xa là những khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng- những nơi có trữ lượng cây cu-li khá lớn. Nơi đây, đời sống của bà con còn nhiều khó khăn, mỗi ngày đi chặt cu-li bán cho Công ty được chừng 100 ngàn đồng cũng đã là một khoản thu nhập lớn. Vì thế, nếu không có biện pháp thích hợp thì hệ cu-li ở khu vực này bị phá hủy là đương nhiên.
Câu hỏi đặt ra là: Công ty lâm nghiệp Đak Glei thu mua cu-li bán đi đâu? Ai là người mua? Câu trả lời vẫn không rõ ràng. Nhưng chắc chắn là các cơ sở bào chế dược liệu tại mấy tỉnh trong khu vực Tây Nguyên không có nhu cầu.
Người dân trong vùng cho biết, cu-li được khai thác để bán cho thương lái nước ngoài. Còn về phía Công ty không đưa ra câu trả lời nào.
Theo TS Nguyễn Hưng Châu, việc khai thác cu-li dữ dội như đã và đang diễn ra tại vùng núi Ngọc Linh- là khu bảo tồn thiên nhiên và là thủ phủ của cây sâm Ngọc Linh quý hiếm là điều rất cần cân nhắc kĩ lưỡng.
Cây cu-li sống dưới tán rừng, có tác dụng giữ nước, giữ đất chống xói mòn rất hiệu quả cho các cánh rừng nguyên sinh. Nếu chúng bị tận diệt sẽ nhanh chóng biến đổi môi trường sống của nhiều loại cây ở đây, nhất là với cây sâm Ngọc Linh.
Còn nhớ, trước đó, hồi đầu năm 2016, tư thương tỉnh Kon Tum cũng thu mua cây cu-li với giá 2.000 đồng/kg, sau khi sơ chế bán lại hơn 10.000 đồng/kg.
Lúc bấy giờ, đoạn đường N5 nối từ đường Hồ Chí Minh lên cửa khẩu quốc tế Bờ Y, đoạn qua thôn 7, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, cây cu-li được thương lái thu mua đổ thành từng đống. (Đại Đoàn Kết 10/8) đầu trang(
Ngày 10/8, Sở NN&PT NT Quảng Nam cho biết đơn vị vừa báo cáo lên UBND tỉnh về việc bảo vệ đàn Voọc chà vá chân xám tại xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành (Quảng Nam).
Theo đó, đề nghị UBND tỉnh thống nhất chủ trương xây dựng đề án phục hồi sinh cảnh rừng (khoảng 80 ha) kết nối từ xã Tam Mỹ Tây đến xã Tam Trà huyện Núi Thành để tạo sinh cảnh cho đàn Vọoc chà vá chân xám sinh sống tại nơi đang phân bố.
Giao Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam phối hợp với chính quyền địa phương và các ngành liên quan theo dõi, giám sát thường xuyên hoạt động của đàn Voọc chà vá chân xám về số lượng, vùng hoạt động, kết hợp với công tác tuần tra chống săn bắt và phá rừng, khai thác gỗ trái phép tại khu vực này để quản lý bảo tồn loài và tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về loài; tăng cường quản lý bảo vệ diện tích rừng tự nhiên tại xã Tam Trà - khu vực tiếp giáp với khu rừng ở xã Tam Mỹ Tây, nơi đàn Voọc chà vá chân xám đang sinh sống nhằm tạo sinh cảnh để đàn Voọc di chuyển sang sinh sống và phát triển.
Ngoài ra, đề nghị Tổng cục Lâm nghiệp hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật để thực hiện việc kết nối sinh cảnh cho đàn Voọc chà vá chân xám đến khu vực thượng nguồn rừng phòng hộ Phú Ninh, và kêu gọi các cơ quan của Chính phủ, tổ chức, cá nhân và các nhà tài trợ Quốc tế hỗ trợ kinh phí và cùng hợp tác trong công tác bảo tồn Voọc chà vá chân xám ở Quảng Nam nói chung và khu vực huyện Núi Thành nói riêng...
Theo Sở NN&PT NT Quảng Nam, đàn Voọc chà vá chân xám tại Hòn Dồ, thôn Đồng Cố, xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành đã được phát hiện và được Chi cục Kiểm lâm theo dõi từ những năm 2000. Do tác động của cộng đồng địa phương tại đây như xâm lấn rừng để lấy đất sản xuất (lấy đất trồng rừng) nên sinh cảnh sống của loài này bị tác động mạnh, ảnh hưởng đến số lượng cá thể trong các quần thể Voọc chà vá chân xám. Hiện nay đàn Voọc này có khoảng 16 - 20 cá thể sinh sống biệt lập trên diện tích rừng tự nhiên nghèo khoảng hơn 5 ha và đang chịu áp lực tác động của người dân địa phương rất lớn, ảnh hưởng của thời tiết…
Tại Quảng Nam, loài này có phân bố về phía Trung và Nam của tỉnh như tại các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Nam Giang, Phước Sơn,… quần thể số lượng lớn nhất tập trung tại khu vực rừng Hòn Mỏ, xã Phước Ninh, huyện Nông Sơn (thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi), số lượng quần thể khoảng hơn 200 cá thể.
Trước đó, nhiều người dân phản ánh đàn Voọc chà vá chân xám khoảng 20 cá thể sống trên cụm rừng tự nhiên còn sót lại ở xã Tam Mỹ Tây bị lãng quên trong khi số lượng đàn Voọc giảm dần và điều kiện môi trường bị tác động ảnh hưởng đến môi trường sinh sống của đàn Voọc. (Tiền Phong 10/8) đầu trang(
Ở Việt Nam chỉ còn có thể thấy thông đỏ cổ thụ trên cao nguyên Langbian. Mấy chục năm nay, nhiều chuyên gia y tế cho rằng, đó là một loài cây thuốc đặc biệt quý hiếm. Bởi nửa thế kỷ trước ở Mỹ đã dùng nó để chiết xuất ra thuốc chữa bệnh ung thư.
Ở Lâm Đồng, người Cill bản địa dưới chân núi gọi nó là Bnơm Dà Rwas (diễn nghĩa theo tiếng phổ thông là núi có nguồn nước từ con suối Dà Rwas chảy xuống và ở đỉnh của nó mang dáng hình chiếc ngà Voi). Núi Voi - là quà tặng của Trời Đất, qua hàng trăm triệu năm vật vã để cấu trúc, hình thành và định dạng một loài. Rừng trên núi Voi này lại càng quý, vì nó có thông đỏ.
Gần nửa thế kỷ trước, sau khi nhà sinh hóa P.Poitier (người Mỹ) chiết tách được chất 10 deacetyl baccatin III (10-DAB III) từ lá của loài thông đỏ và chuyển hóa chất này thành chất có hoạt tính chống ung thư là Taxol và Taxotere trong thập niên 1970 - 1980, rồi đưa vào điều trị chữa ung thư buồng trứng, vú, phổi, tuyến tiền liệt…
Kể từ đầu thập niên 1994, dược chất Taxol được phổ biến ra thị trường Mỹ, rồi toàn thế giới. Khó có ai làm trong ngành y, dược ở Việt Nam mà có thể không nghe biết đến Taxol. 25 năm sau, Việt Nam đã nhận được thông tin quan trọng và tuyệt vời này. Và các nhà dược học trong nước đã tìm đến núi Voi để lấy cành lá của nó về phân chiết hóa học, rồi xác nhận đúng là có hoạt chất Taxol nhiều. Từ đó, các cơ quan nghiên cứu lâm sinh của Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học lâm nghiệp… cũng tìm lên ngọn núi đây để lấy mẫu của nó về nghiên cứu, nhân giâm tạo giống, cố giữ lấy nguồn gen.
Đó là những cây cổ thụ lâu năm, mà không thể xác định tuổi, bởi chúng được biết đến là loài phát triển rất chậm. Những cây cổ thụ ít ỏi này nằm chen trong một số loài cây thích nghi được với khí hậu núi cao lạnh khác. Hy vọng tạo ra được cây non, rồi sẽ thành rừng. Giấc mơ bảo tồn được nguồn gen cây rừng quý và giấc mơ về một chương trình sản xuất thuốc chữa ung thư hàng hóa từ loài cây hiện hữu trên đất nước mình lúc đó cứ vươn mãi. Ai cũng bàn tán, tụng ca, vinh danh thông đỏ. Vài cơ quan y dược, doanh nghiệp cũng lập dự án phát triển nó - sản xuất dược liệu. Những “cánh rừng hy vọng” được nói đến.
Nhưng rồi, chả có cánh rừng thông đỏ mới thực sự nào được hình thành trên đất nước từ dạo đó, ngoại trừ mô hình nhân nuôi giống nó mà Trung tâm Nghiên cứu Lâm sinh cùng Viện Sinh học Tây Nguyên lập ra để “chờ” đấy, cùng một trại khảo nghiệm thử bước đầu gần đây của Viện Nghiên cứu cây dược liệu. Nghĩa là, đến nay, chỉ có quần thể gần chục cây cổ thụ còn lại trên núi Voi là bằng chứng hùng hồn về sự tồn tại của loài thông đỏ - nguồn gen gốc.
Tôi không phải dân y học, hay lâm sinh, nhưng tôi quý nó vì hy vọng cho đồng loại kiệt cùng của mình đang nằm chờ phép màu ở các bệnh viện ung thư. Hoạt chất Taxol, một biệt dược, từ loài cây này. Trong vỏ và lá của nó chứa chất Paclitaxel, hàm lượng khoảng 0,045 - 0,13%, có tác dụng diệt một số loại tế bào ung thư. Taxus wallichiana Zucc - tên khoa học của nó - vẫn nằm chơi vơi trên núi Voi với tư cách một cổ thực vật lá kim, chưa là cứu tinh cho những con người sắp chết trên nước Việt. Tôi muốn bảo vệ tới cùng nó, cho một ngày nào đó có một đề án an toàn cho nó, để mọi người còn nguồn gen mà làm những việc lớn kế tiếp.
Nhưng tôi bất khả - vì một trái tim bé nhỏ đơn này không thể đương đầu với lâm tặc dưới chân núi Voi và quyền lực ở đâu đó. Tôi đã làm mọi thứ bằng sức phận của một người yêu cây cỏ, báo cho kiểm lâm, chính quyền thôn xóm đến tỉnh về những cuộc tận triệt loài cây đó. Nhiều khi tôi muốn hét vang trên đỉnh núi Voi để nó vọng hết thung lũng dưới kia, khắp vùng Định An này, cho âm thanh vọng xa hơn nữa về bài ca đạo lý cuối cùng khi cư xử với loài cây này và hơn cả một loài cây. Bởi vân cây thông đỏ cổ thụ cưa ra, quá đẹp. Giá 1,5 - 2 triệu USD cho một ký Taxol (Taxoid) không bằng một miếng gỗ mỗi cạnh 80cm họ bán 900 nghìn - 1,5 triệu đồng tiền tươi.
Sau này, khi thăm chơi nhà nhiều đại gia, quan chức tôi càng ngỡ ngàng không hiểu sao những tấm phảng nằm và bộ bàn ghế bằng gỗ thông đỏ có thể rơi xuống không gian đó. Có thể giới y dược, lâm sinh và kẻ rỗi hơi tôi coi nó quan trọng, nhưng với nhiều người, nhiều chỗ nó cũng chỉ là một thứ cây rừng, như bao loài cây rừng và bình minh lên mỗi ngày họ có việc khác quan trọng, cần kíp hơn, “vì cộng đồng” hơn.
Cứ đổ đèo Prenn, rời Đà Lạt, là ai cũng phải ngang qua dãy núi Voi. Xoay ánh mắt sang bên phải là tôi thương cho ngọn núi và cánh rừng còn sót lại trên đó. Tôi có thể định vị vị trí có thông đỏ, số lượng và kích cỡ của từng cây trên đấy. Vì tôi đã khám phá hết ngọn núi này và nay hay leo lên để xem những cây cổ thụ Taxus wallichiana Zucc kia có còn. Cứ vài tháng, một khoảng trống rừng lại trơ ra. Vài năm mỏng đi, vắng thêm những cây quen thuộc. Dưới những gốc thông đỏ đó, có khi những cành nhánh chứa Taxol kia đã khô, những tấm ván bìa vứt lại lăn lóc, hoặc những gốc nhựa ứa ra hãy còn tươi. Không phải dân dược học, nhưng tôi biết nhựa kia cứu được người.
Không phải dân lâm nghiệp, nhưng tôi biết đã gần kiệt một nguồn gen qúy hiếm. Không phải dân lâm sinh, nhưng tôi biết, cây nào đã bị cưa đổ là vĩnh biệt cây đó và quần thể thông đỏ cuối cùng trên đất nước bước đến gần hơn sự tuyệt diệt, vì xung quanh không có tái sinh, hay thế hệ cây non tiếp nối.
Tôi thương cho sự mất mát của núi rừng…, sự ly biệt của thông đỏ nghìn năm với đỉnh núi Voi. Tôi càng thương những người đang nằm trong các bệnh viện hy vọng sẽ được cứu từ phép màu mang tên “biệt dược”. Mỗi ngày, chỏm xanh nguyên sinh lại dồn lên đỉnh ngọn, nghĩa là đỉnh ngọn ngày còn nhọn hơn. Bởi cái ngọn nguyên hình khối ngà voi của nó được gọt, gọt mãi, như thể con người lật ngược một chiếc ngà voi lại để gọt bằng rựa từ gốc đến chóp. Là những vườn rẫy cà phê, trồng hoa màu liếm hết thân chiếc ngà voi, với rãy vườn bỗng dưng xuất hiện khắp thân thể chiếc ngà voi đó.
Thường dân dưới chân núi không ai không biết chủ nhân của vườn rẫy trên ngọn núi thiêng. Người ta chẻ đất, xé, tách, giao, gửi, “gả” rừng tá lả. Tất cả, cứ dần biến thành vườn, thành khu an dưỡng, biệt thự trên đỉnh núi.
Và cứ mỗi lần lên thăm đỉnh núi, tôi lại thấy thêm sự quang vắng của rừng, thấy sự ngạo nghễ của lòng tham con người. Trong cái gọi là “sinh thái” mà người ta mượn tiếng để chiếm rừng, xẻ núi kia, là sự bạo ngược với thiên nhiên.
Ngọn núi thanh cao đang bị cào cấu. Người Cill hẳn thấy ngọn núi ngày một mất thiêng rồi. Và sự thật nhiều người bản địa trong các bon dưới chân núi dù chậm chân giờ cũng đã nhảy lên “kiếm chút”, bỏ qua nhận thức bao đời “rừng thiêng”, Yàng (thần linh) luôn ở trên đó… Cùng nhau hư, hỏng và tàn ác với thiên nhiên thôi, cho dù họ vốn là cộng đồng đức hạnh sâu sa nhất trước Trời Đất.
Những cây thông đỏ này và làn hương Taxol không cần một cơ chế đặt biệt (dù đáng ra nó xứng đáng để có cơ chế đặc biệt!) cho riêng nó trong việc bảo vệ, nó chỉ cần luật pháp bảo vệ rừng được thi hành thật sự ở ngọn núi này. Cho dù, nơi tồn tại của nó cách Chi cục kiểm lâm tỉnh, Sở NN&PTNT Lâm Đồng chỉ một con đèo, theo đường chim bay, không đầy 3 cây số.
Cũng trên ngọn núi Voi ấy, 18 năm trở lại đây, bỗng dưng vườn tược mọc lên ào ào, đổ xuống khắp mặt núi, dù nó nằm ngay trước mắt, cửa ngõ lên Đà Lạt. Nhiều loài thực vật nguyên sinh khác đã ra đi để vườn tược thay chỗ. Nhiều khoanh rừng xứ Định An (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) đã biến thành đất của những “cụ” nọ, ông kia? Phép màu của Taxol trong chữa bệnh ung thư hẳn không bằng phép màu cho sự xuất hiện những vườn rẫy đó.
Và con suối Dà Rwas kia cũng ngày một ít nước chảy, có những mùa tôi thấy khô trắng, trống trơn, trơ ra toàn đá khe - tiếng róc rách ngàn đời đã rời quê hương. Tôi bước trên suối mà như lê ngược lên sa mạc dựng đứng.
Đã bao lần tôi đứng dưới ngước nhìn lên đỉnh núi Voi, chỗ có quần thể thông đỏ cổ thụ chỉ còn là cái chỏm có màu xanh rậm. Tôi nhận ra rằng, thảm xanh ấy cứ dần bị thu hẹp. Núi Voi đang trơ trọi, những cây thông đỏ cổ thụ cuối cùng như bất lực trước lòng tham của con người, như sự lay lắt của bao bệnh nhân ung thư mà tôi từng chứng kiến! (Tài Nguyên & Môi Trường 10/8) đầu trang(
Theo tin cảnh báo cháy rừng của Cục Kiểm lâm và thông tin dự báo thời tiết của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn TW, từ ngày 09/8/2017 đến ngày 14/8/2017 các huyện miền núi có mưa rải rác; các huyện đồng bằng, ven biển không mưa. Nguy cơ xảy ra cháy rừng ở các huyện từ cấp 2 tới cấp 4. Chi cục Kiểm lâm (Cơ quan thường trực BCĐ Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa) đề nghị UBND cấp huyện, xã và các chủ rừng nhà nước thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.
Các huyện: Tĩnh Gia, Hà Trung, TP.Thanh Hóa, Đông Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc. Dự báo cháy rừng cấp 4 (Cấp nguy hiểm), có nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn, tốc độ lan tràn lửa nhanh. Đề nghị thường xuyên kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng trọng điểm dễ cháy; lực lượng canh phòng phải thường xuyên trên chòi canh và ngoài hiện trường rừng, đảm bảo canh phòng 12/24 giờ (từ 9 đến 21 giờ trong ngày) nhất là các giờ cao điểm; phát hiện kịp thời điểm cháy, báo động và huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay..
Các huyện: Như Thanh, Thạch Thành, Triệu Sơn, Dự báo cháy rừng cấp 3, dễ xảy ra cháy rừng. Đề nghị thường xuyên kiểm tra trên các vùng trọng điểm dễ cháy, nhất là rừng trồng; tổ chức lực lượng tuần tra canh gác lửa rừng 10/24 giờ trong ngày (từ 10 giờ đến 20 giờ), đặc biệt chú trọng các giờ cao điểm; phát hiện kịp thời điểm cháy, báo động và huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay.
Các huyện thị xã còn lại dự báo cháy rừng cấp 2 (Cấp cao), ít xảy ra cháy rừng. (Đài PTTH Thanh Hóa 9/8) đầu trang(
Phiên tòa sơ thẩm lần thứ 3 vụ án “Buôn lậu” và “Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” do TAND TP.Đà Nẵng xử công khai từ ngày 2 - 9.8 đã hoàn tất và sẽ tuyên án vào sáng 14.8 tới đây. Quá trình tranh tụng đã xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy chỉ từ một thương vụ nhập - xuất khẩu gỗ đúng quy định pháp luật đã bị “hình sự hóa”, gây nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, nhân phẩm...
Khai báo tại phiên xử sơ thẩm lần 3 này, bị cáo Đỗ Danh Thắng - nguyên Chi cục trưởng Hải quan cảng cửa khẩu Đà Nẵng (bị khởi tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 285 BLHS) khẳng định rằng, việc lập biên bản kiểm tra lô gỗ xuất khẩu của Cty Ngọc Hưng tại cảng Đà Nẵng đã bị chỉ đạo làm lệch lạc số liệu, chủng loại... từ phía Cục Điều tra chống buôn lậu (ĐTCBL) Tổng cục Hải quan.
“Sau khi tôi kiểm tra xong, thấy không có vi phạm, sai phạm nên tôi đã cho thông quan theo quy định, nhưng tôi liên tục nhận được chỉ đạo từ cấp trên phải dừng thông quan, kiểm tra để tìm cho sai phạm. Nhưng kiểm tra nhiều lần vẫn không có sai phạm. Sau khi khám xét, một người tên Thành của Cục ĐTCBL đưa cho tôi một bản fax các con số cụ thể về gỗ trong lô gỗ do tôi kiểm tra và chỉ đạo ghi vào biên bản theo các con số đó, nhưng tôi không làm” - ông Thắng nói. Bị cáo Thắng cũng đã khai rằng ngay cả Biên bản khám xét đã lập ngày 14.3.2012 cũng bị chỉ đạo ký lại bản khác.
Minh chứng cho điều này, bị cáo Thắng trưng cho HĐXX văn bản báo cáo đề ngày 3.4.2012 của công chức hải quan Đặng Ngọc Vinh (Chi cục Hải quan CK cảng Đà Nẵng) có nội dung: “Cục ĐTCBL yêu cầu chúng tôi ký lại Biên bản khám xét 22 Container tại hiện trường đã ký ngày 14.3.2012 đã được các thành phần trong tổ khám xét đã ký, nhưng chúng tôi không ký”.
Các bị cáo cũng cho rằng các Biên bản kết luận giám định lô gỗ tang vật có nhiều bất thường: Theo biên bản niêm phong, mở niêm phong hải quan lập ngày 7.3.2012 có sự tham gia của ông Nguyễn Văn Quý - Phó Cục trưởng Cục ĐTCBL thể hiện vào lúc 11h tiến hành mở niêm phong kho gỗ để giám định; và đến 11h30 cùng ngày thì “đóng lại và niêm phong bằng seal hải quan”. Tại một tài liệu khác của cơ quan điều tra cho biết, Hội đồng giám định mẫu vật đã hoàn thành việc kiểm tra, phân loại, giám định toàn bộ lô hàng gỗ của Cty Ngọc Hưng từ ngày 21.2.2012 đến 7.3.2012. Ông Trương Huy Liệu - chủ lô hàng nói với HĐXX: “Làm sao có thể giám định lô gỗ trong 30 phút hoặc 13 ngày trong lúc lô gỗ có đến 75.944 phách, thanh, lóng đựng trong 22 container?”. Điều này phù hợp với lời khai của nguyên Chi cục trưởng Hải quan cảng CK Đà Nẵng: “Tôi không hề thấy các cán bộ đến hiện trường gỗ để làm công việc giám định”.
Như tin Lao Động đã đưa, sau khi phiên xử diễn ra 2 ngày, chiều 4.8 kết thúc phần luận tội của mình, Viện KSND TP. Đà Nẵng thừa ủy quyền của Viện KSND tối cao đã đề nghị HĐXX tuyên phạt các bị cáo thuộc nhóm tội “Buôn lậu” là vợ chồng giám đốc Cty Ngọc Hưng gồm Trương Huy Liệu từ 12- 14 năm tù và Trần Thị Dung 7- 8 năm tù; tuyên phạt các bị cáo nhóm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” gồm Đỗ Danh Thắng (Hải quan Đà Nẵng), Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành (Hải quan Quảng Trị) 2- 3 năm tù/ người.
Tuy nhiên sau 4 ngày tranh tụng, vào chiều 7 và sáng 8.8, vị đại diện cơ quan công tố đã thừa nhận “có trách nhiệm và nghĩa vụ tranh luận mọi vấn đề đặt ra nhưng với tài liệu hiện có thì còn rất nhiều vấn đề để bàn; chưa thể xem xét, giải quyết thấu đáo toàn diện”. “Còn thiếu rất nhiều tài liệu, do sai sót từ điều tra, không thể thu thập ngay mà phải có thời gian nên đề nghị HĐXX trả hồ sơ để yêu cầu Cơ quan CSĐT Bộ Công an điều tra bổ sung, làm sáng tỏ vụ án”, vị đại diện VKS kết luận.
Đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung của cơ quan công tố đã gặp phải sự phản ứng gay gắt của các luật sư và các bị cáo. Họ cho rằng, theo quy định của pháp luật, không được phép trả hồ sơ quá 2 lần trong một vụ án; nhưng nghiêm trọng hơn là chính cơ quan công tố tại phiên tòa này đã luận tội và đề nghị mức phạt tù đối với các bị cáo rồi mà vẫn còn đề nghị tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì đó là chuyện chưa từng có trong lịch sử xét xử. Trưa 9.8, hội trường xử án đã vỗ tay hoan hô khi Thẩm phán Nguyễn Thị Cảnh - Phó Chánh án TAND TP. Đà Nẵng làm chủ tọa phiên tòa đã công bố tòa sẽ nghị án và tuyên án vào sáng ngày 14.8. (Lao Động 11/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, UBND tỉnh tích cực chỉ đạo các ngành, đơn vị chức năng tổ chức tuần tra bảo vệ rừng tại gốc; bám sát địa bàn phụ trách, phối hợp, chủ động trong việc quản lý, bảo vệ rừng nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc khai thác rừng, lấn chiếm sử dụng đất rừng trái phép.
Thường xuyên cập nhật, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh năm 2017. Xác nhận vận chuyển động vật rừng gây nuôi 20 cá thể nhím; cấp đổi lại 01 giấy chứng nhận nuôi nhốt động vật hoang dã thông thường.
Ngành Nông nghiệp đã phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn; tham mưu cho UBND xã xây dựng phương án PCCCR. Phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương thực hiện tốt việc cảnh báo, dự báo và kiểm soát lửa rừng. Tiếp tục kiểm tra, đôn đốc các hộ nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng, tổ chức thường trực trong các ngày có dự báo cháy rừng thuộc khu vực có nguy cơ cháy rừng cao. Trong tháng toàn tỉnh trồng được 167 nghìn cây phân tán các loại và 24,6 ha diện tích rừng trồng lại sau khai thác. (Ninhbinh.gov.vn 10/8) đầu trang(
HĐND tỉnh vừa ban hành Nghị quyết số 21/2017/NQ-HĐND thông qua Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040.
Theo đó, mục tiêu của Quy hoạch là nâng cao chất lượng rừng tại các khu vực hệ sinh thái tự nhiên đã được khoanh vùng bảo vệ, tiến tới nâng tỷ lệ che phủ rừng lên mức 69-70% vào năm 2020; bảo tồn được loài và nguồn gen động, thực vật quý hiếm; bảo vệ môi trường và nét đẹp độc đáo của tự nhiên, trong đó tập trung hoàn thiện quy hoạch hệ thống khu bảo tồn và hành lang đa dạng sinh học gồm: 04 khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích khoảng 182.126 ha; 02 khu bảo vệ cảnh quan với diện tích khoảng 8.136 ha; 01 khu bảo vệ cảnh quan đất ngập nước với diện tích khoảng 200 ha; 01 hành lang đa dạng sinh học Khe Nét - Vũ Quang (chỉ quy hoạch phần ranh giới trên địa bàn tỉnh Quảng Bình) với diện tích khoảng 30.000 ha.
Bên cạnh đó, Quy hoạch cũng hướng tới kiểm soát chặt chẽ, giảm tối đa nạn buôn bán và tiêu thụ các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; sử dụng hợp lý các giá trị đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển dịch vụ hệ sinh thái có sự tham gia của cộng đồng địa phương, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia, từng bước nâng cao đời sống của người dân trong các khu vực bảo tồn.
Đến năm 2040, toàn tỉnh hạn chế tối đa về suy giảm đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên; quản lý, kiểm soát chặt chẽ, ngăn ngừa sự lây lan và diệt trừ, giảm thiểu tác hại của các loài sinh vật ngoại lai xâm hại; xây dựng và thực hiện chiến lược phòng trừ sự cố do sinh vật ngoại lai xâm hại gây ra.
Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Bình nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý các giá trị đa dạng sinh học; duy trì và phát triển dịch vụ hệ sinh thái, môi trường, cảnh quan đa dạng sinh học, góp phần xóa đói, giảm nghèo; bảo tồn đa dạng sinh học để thích ứng và giảm nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu. (Quangbinh.gov.vn 10/8) đầu trang(
TAND huyện Chiêm Hóa vừa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động tại xã Kiên Đài 2 vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng đối với các bị cáo Đặng Văn Hợi, sinh năm 1983 và bị cáo Đặng Văn Xuân, sinh năm 1971 cùng trú tại thôn Khuổi Chỉa, xã Kiên Đài về tội “Hủy hoại rừng”.
Theo cáo trạng của Viện KSND huyện, các đối tượng trên có hành vi chặt phá rừng sản xuất thuộc UBND xã Kiên Đài quản lý. Bị cáo Hợi đã hủy hoại 6.230 m2 rừng, làm thiệt hại 27 cây gỗ từ nhóm 5 đến nhóm 8 với tổng khối lượng 6,772 m3 và 1.370 cây vầu có tổng giá trị 7.352.100 đồng; bị cáo Xuân, hủy hoại là 5.348 m2, gồm 33 cây gỗ từ nhóm 5 đến nhóm 8 có khối lượng 5,363 m3, 886 cây vầu, tổng giá trị thiệt hại là 5.359.500 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 189; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đặng Văn Hợi 7 tháng tù, bồi thường 7.352.100 đồng; bị cáo Đặng Văn Xuân 6 tháng tù, bồi thường 5.359.500 đồng và tịch thu toàn bộ tang vật phạm tội. (Báo Tuyên Quang 9/8) đầu trang(
Kon Tum: Gian nan bảo vệ động vật hoang dã ở Vườn Quốc gia Chư Mom Ray
Để bảo vệ được đa dạng sinh học, xứng đáng với danh hiệu di sản ASEAN, Ban quản lý Vườn Quốc gia Chư Mom Ray cũng như chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực ngăn chặn nạn săn bắt trộm để bảo vệ các loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, chưa khi nào động vật trong vườn quốc gia này được an toàn và đa dạng sinh học thì đang từng ngày giảm sút.
Chỉ trong hơn 3 tháng vừa qua, Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Chư Mom Ray thu gỡ trên 2.000 bẫy thú các loại. Có vào trong rừng, tận mắt chứng kiến hệ thống bẫy thú giăng mắc tinh vi sẵn sàng cùm chân, thít cổ từ loài thú lớn móng guốc đến sóc, thỏ hiền lành… mới thấy việc bảo vệ động vật hoang dã ở vườn quốc gia này hết sức gian nan.
Lần theo hệ thống bẫy thú dài cả cây số mà các đối tượng săn bắt mới cài đặt, anh Rơ Manh Tý, nhân viên Trạm Đăk Tao, giải thích: “Họ rào kín không có đường nó đi thì nó phải dính. Anh em phải thường xuyên đi rừng để kiểm tra gỡ bẫy, càng ngày người ta làm càng nhiều bẫy”.
Đối tượng săn bắt động vật hoang dã trái phép ở Vườn quốc gia Chư Mom Ray có hai dạng, một là những kẻ đi săn chuyên nghiệp và hai là người dân địa phương vốn coi việc săn bắt thú như một phần văn hóa từ đời xưa.
Ông Đào Xuân Thủy, Phó giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Chư Mom Ray, cho biết, hoạt động săn bắt thú rừng đang gây ra sự giảm sút rất nhanh đa dạng sinh học của vườn. Để ngăn chặn việc các loài thú trở thành hàng hóa, thành món ăn trên bàn tiệc, đơn vị đã phải căng sức tuần tra, kiểm soát:
“Chúng tôi giao nhiệm vụ chính cho lực lượng kiểm lâm các trạm địa bàn. Hàng ngày, hàng tháng phải đi tuần tra và gặp những đường bẫy thì phải tháo gỡ, làm sao hạn chế đến mức thấp nhất những con thú bị săn bẫy. Mặt thứ hai là chúng tôi tăng cường kiểm tra phát hiện vi phạm để mà xử lý và tổ chức các đợt tuyên truyền trong cộng đồng để nâng cao nhận thức bảo vệ rừng nói chung, trong đó có bảo vệ các loài động vật hoang dã”.
Mặc dù đã tổ chức hàng nghìn cuộc tuần tra, truy quét, triển khai chốt chặn tại những điểm các đối tượng đột nhập săn bắt thú rừng, như khu vực đồng cỏ ở thung lũng Ya Book, trên tuyến quốc lộ 14C, các tỉnh lộ gần vườn và đi qua vườn, song tình trạng săn bắt thú rừng ở Vườn Quốc gia Chư Mo Ray không những không giảm mà ngày càng nóng hơn.
Nếu như trong hơn 2 năm, từ 2014 đến hết tháng 5 năm 2016 cán bộ nhân viên ở đây thu gỡ được trên 1.800 bẫy thì chỉ trong khoảng 4 tháng vừa qua, con số này đã lên tới trên 2.000 bẫy thú các loại. Bởi vậy song song với biện pháp ngăn chặn việc săn bắn thú rừng tại chỗ, Ban quản lý Vườn Quốc gia Chư Mom Ray và chính quyền các huyện Sa Thầy, Ngọc Hồi, Ia H’Drai của tỉnh Kon Tum đã phải phối hợp ngăn chặn từ xa.
Ông Đào Văn Mạnh, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy, cho biết: “Hạt đã có giải pháp như là chỉ đạo kiểm lâm địa bàn có vùng giáp ranh với Vườn quốc gia Chư Mom Ray tăng cường công tác tuyên truyền vận động người dân không được săn bắt động vật hoang dã. Đã tổ chức ký cam kết đối với tất cả các nhà hàng trên địa bàn thị trấn Sa Thầy là không được mua bán, sử dụng động vật hoang dã. Tăng cường công tác tuần tra truy quét, đặc biệt là chú trọng vào ngày nghỉ và ban đêm”.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, Vườn Quốc gia Chư Mom Ray ở tỉnh Kon Tum nằm ở vị trí ngã ba Đông Dương. Phía Tây Bắc tiếp giáp với Khu bảo tồn thiên nhiên Đông An Pha của nước bạn Lào. Phía Tây tiếp giáp với Vườn Quốc gia Vinachay của Vương quốc Campuchia.
Vị trí này, cộng với hệ động thực vật phong phú sẵn có tạo cho Chư Mom Ray tiềm năng lớn về mọi mặt để cấu thành một vùng bảo tồn thiên nhiên hoang dã lớn mang tầm quốc tế với hệ sinh thái điển hình khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên, nếu không ngăn chặn được triệt để nạn săn bắt thú rừng trái phép như hiện nay, thì chắc chắn trong tương lai không xa, nguồn tài nguyên tự nhiên của Chư Mom Ray sẽ bị tổn thương nghiêm trọng. Với tổng diện tích trên 56.000ha, Vườn Quốc gia Chư Mom Ray có trên 600 loài động vật, trong đó có 15 loài thú đặc hữu Đông Dương. (VOV 9/8) đầu trang(
9/8/2017, Chi cục kiểm lâm Hà Nội phối hợp với Tổ chức bảo vệ động vật thế giới hoàn thành chương trình tái gắn chíp cho khoảng trên 200 cá thể gấu nuôi nhốt tại Hà Nội, một trong những điểm nóng có số lượng trang trại và cá thể gấu bị nuôi nhốt lớn nhất trên cả nước. Với công nghệ mới nhất, loại chíp điện tử được sử dụng lần này sẽ là công cụ đắc lực và an toàn hơn, giúp công tác kiểm tra chíp được thực hiện dễ dàng vì không phải gây mê cho gấu trong mỗi lần kiểm tra.
Việc tái gắn chíp lần này là một phần trong chiến lược mới do một nhóm các tổ chức phi chính phủ về bảo vệ gấu, bao gồm Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV), Tổ chức bảo vệ động vật thế giới và tổ chức Four Paws International phát triển, nhằm hỗ trợ Chính phủ thúc đẩy tiến trình chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam.
Năm 2005, Bộ NN&PTNT và Tổ chức bảo vệ động vật thế giới (trước đây là Hiệp hội bảo vệ động vật thế giới - WSPA) đã khởi xướng chương trình đăng ký và gắn chíp cho hơn 4.300 cá thể gấu nuôi nhốt tại hàng trăm trang trại trên khắp cả nước. Đây là bước đi đầu tiên trong nỗ lực mang tính chiến lược và toàn diện nhằm chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam. Mục tiêu của việc đăng ký và gắn chíp cho gấu là nhằm thắt chặt công tác quản lý gấu và đảm bảo không có gấu mới phát sinh tại các trang trại.
Trong 12 năm qua, số lượng gấu nuôi nhốt đã giảm đáng kể nhờ cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ, cũng như nỗ lực thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng cùng sự hỗ trợ từ các tổ chức phi Chính phủ và cộng đồng. Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT, đến đầu năm 2015 chỉ còn hơn 1.200 cá thể gấu bị nuôi nhốt trên cả nước.
“Nhìn lại 12 năm kể từ khi chính phủ bắt đầu nỗ lực nhằm tiến tới xóa bỏ hoạt động nuôi gấu lấy mật tại Việt Nam, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Không chỉ số lượng gấu tại các trang trại đã giảm khoảng 70% mà tỉ lệ sử dụng mật gấu cũng sụt giảm khoảng 61%”. bà Bùi Thị Hà, phó giám đốc ENV cho biết. Bà Hà cũng nhấn mạnh rằng những đổi mới về chính sách và nỗ lực thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng hiện nay đã hiệu quả hơn nhiều so với 12 năm trước. Theo đó, các hoạt động nuôi gấu lấy mật sẽ sớm đi đến hồi kết và ENV cùng với các tổ chức phi chính phủ về bảo vệ gấu sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, các cơ quan thực thi pháp luật và cộng đồng để nỗ lực đẩy nhanh tiến trình này.
Trên cơ sở các kết quả đạt được của chương trình tái gắn chíp tại Hà Nội, Tiến sĩ Karanvir Kukreja - Tổ chức bảo vệ động vật thế giới (đơn vị đã đồng hành cùng Chính phủ khởi đầu nỗ lực chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu năm 2005) nhấn mạnh sự cần thiết phải ngay lập tức triển khai các hoạt động tiếp theo: “Chương trình tái gắn chíp cho gấu tại Hà Nội chỉ thực sự có ý nghĩa nếu các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, giám sát nhằm theo dõi hiệu quả số lượng gấu tại các cơ sở nuôi nhốt cũng như đảm bảo chủ cơ sở không khai thác, buôn bán gấu nuôi dưới mọi hình thức”.
Hiện Tổ chức bảo vệ động vật thế giới đang có kế hoạch mở rộng chương trình tái gắn chíp đến những địa phương trọng điểm khác. Ngoài ra, tổ chức Four Paws International hiện đang xây dựng một trung tâm cứu hộ gấu chất lượng cao tại tỉnh Ninh Bình để tạo thêm không gian cho những cá thể gấu tịch thu được hoặc được chuyển giao từ các cơ sở nuôi nhốt gấu trên khắp cả nước. (Khoa Học Phổ Thông 10/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức tuần tra, phát hiện và xử lý 243 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 39% so với cùng kỳ năm 2016.
Qua đó, đã tịch thu 410m3 gỗ quy tròn các loại, (trong đó, gỗ quý hiếm 50m3), tịch thu 39 phương tiện các loại và thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 1,5 tỷ đồng. Cũng trong 7 tháng qua, toàn tỉnh đã cấp phép khai thác lâm sản với tổng khối lượng gỗ các loại hơn 60.000m3.
Thgời gian tới, Chi cục Kiểm lâm sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra công tác giám sát khai thác rừng, theo dõi chặt chẽ diễn biến tài nguyên rừng, đảm bảo thống kê, cập nhật đầy đủ các nguyên nhân biến động về rừng và đất lâm nghiệp. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo kiểm lâm địa bàn phối hợp với tổ công tác liên ngành của tỉnh, huyện, tuyên truyền, hướng dẫn các thôn, bản, cộng đồng dân cư làm tốt công tác quản lý, phát triển rừng bền vững; tổ chức cho các hộ dân ký cam kết nâng cao ý thức bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Thái Nguyên 10/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Dù đã huy động nhiều nguồn lực tham gia trồng rừng nhưng đến nay, huyện Đắk Glong mới trồng được 937ha/2.920 ha diện tích, đạt 32% kế hoạch trồng rừng tập trung và thay thế năm 2017.
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2017, huyện Đắk Glong được giao triển khai trồng 2.268 ha diện tích rừng tập trung với 8 công ty và 109 hộ dân tham gia. Ngay khi nhận được kế hoạch UBND tỉnh giao, huyện Đắk Glong đã dựa vào tình hình thực tế địa phương chủ động xây dựng kế hoạch trồng rừng.
Cụ thể, Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với Trung tâm khảo sát thiết kế tỉnh tiến hành kiểm tra, xác định ranh giới, diện tích đưa vào trồng rừng đối với các hộ dân đăng ký trồng rừng và xây dựng hồ sơ thiết kế trồng rừng trình các cơ quan thẩm định. Sau quá trình triển khai đã có 109 hộ dân thuộc 5 xã Đắk Som, Đắk P’lao, Đắk R’măng, Quảng Sơn, Quảng Hòa đăng ký trồng 454 ha, vượt 69 ha kế hoạch được giao. Bên cạnh đó, có 67 hộ dân đăng ký trồng cây phân tán với diện tích 72 ha, tổng số cây khoảng 80.000 cây gồm sao đen, bời lời...
Tuy nhiên, tính đến nay, tiến độ trồng rừng do các hộ gia đình triển khai thực hiện mới được 162 ha/454 ha đăng ký. Cụ thể, xã Đắk R’măng trồng được 40 ha, Đắk P'lao 36 ha, Đắk Som 14 ha, các xã Quảng Sơn và Quảng Hòa vừa được cấp giống, đang chuẩn bị trồng... Riêng trồng rừng phân tán, hiện các hộ dân mới tiến hành trồng được khoảng 8.500/80.000 cây so với kế hoạch. Kinh phí dự kiến hỗ trợ cho trồng rừng theo Quyết định 38/QĐ-TTg trên địa bàn huyện Đắk Glong là 5 triệu đồng/ha và 2 triệu đồng/ha hỗ trợ thêm vùng đặc thù Tây Nguyên. Giống cây rừng trồng trên địa bàn năm nay chủ yếu là keo lai dâm hom và một số cây khác.
Đối với các công ty lâm nghiệp đang thuê đất trồng và quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn đã chủ động triển khai các phương án trồng rừng, liên hệ các đơn vị cung ứng giống ngay từ đầu năm. Tính đến nay, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn hiện đã triển khai trồng rừng được khoảng 480 ha. Cụ thể, Công ty Cổ phần Nông lâm nghiệp Khải Vy trồng được 190 ha; Công ty TNHH Nông - Lâm nghiệp sản xuất Thương mại, Dịch vụ Hào Quang trồng được 70 ha...
Bên cạnh trồng rừng tập trung, các đơn vị trồng rừng trên địa bàn huyện cũng đã triển khai trồng được 295 ha/652 ha rừng thay thế. Hiện các công ty trồng rừng cũng đang chạy đua với thời gian để thực hiện mùa vụ trong điều kiện thời tiết cao điểm mùa mưa. Công ty Cổ phần tập đoàn Tân Mai hiện đã phát dọn thực bì, chuẩn bị xong hiện trường trồng với diện tích 200 ha.
Thế nhưng, theo ông Huỳnh Văn Đậm, Trưởng phòng Tổng hợp Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Nông thì do thời tiết mưa nhiều nên công nhân chỉ tranh thủ ngày nắng ráo mới có thể phát dọn thực bì. Xí nghiệp đã ký hợp đồng với đơn vị cung ứng để nhập giống cây keo lai hom từ Đồng Nai về trồng. Theo kế hoạch, việc trồng rừng của Xí nghiệp sẽ phấn đấu hoàn tất trong tháng 11.
Theo ông Lê Văn Hà, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong thì do thời tiết mưa nhiều nên việc phát dọn thực bì không thực hiện được. Một số diện tích đất nằm trong kế hoạch trồng rừng đang bị lấn chiếm buộc huyện phải điều chỉnh phương án, vị trí nên đã kéo dài thời gian thực hiện. Ngoài ra, hiện nay, mặc dù đã bước vào cao điểm mùa trồng rừng nhưng kinh phí để chủ đầu tư cấp cây giống cho các hộ dân chưa được bố trí cũng là một trong những khó khăn trong vấn đề đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ.
Trước những khó khăn trên, hiện nay, các cơ quan chức năng và các đơn vị liên quan trên địa bàn huyện đang khẩn trương đôn đốc các đơn vị trên địa bàn huyện đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phấn đấu, nỗ lực hoàn thành kế hoạch trồng rừng được giao ở mức cao nhất. (Báo Đắk Nông 10/8) đầu trang(
Vừa qua, Báo Quảng Bình nhận được đơn tập thể của hàng chục hộ dân ở TDP 1, phường Bắc Lý (TP. Đồng Hới) kiến nghị về việc trên địa bàn hiện có người san ủi đất, phân lô bán đất đồi trồng cây lâu năm làm nghĩa địa, trong khi lô đất nói trên chỉ cách khu dân cư nơi họ đang sinh sống vài chục mét?
Theo các hộ dân ở đây, khu đất nói trên là đất đồi trồng rừng sản xuất. Thế nhưng, từ đầu tháng 7 đến nay, khu đất này được san ủi, tạo mặt bằng, phân lô để bán làm đất nghĩa địa. Ông Phạm Văn Đồng, một hộ dân ở đây bức xúc: Khu vực đất đó là đất rừng sản xuất, thế nhưng không hiểu vì sao gần đây, người ta san ủi, rồi phân lô để bán làm đất nghĩa địa. Nếu làm nghĩa địa thì phải có quy hoạch và thông báo đàng hoàng, nhưng chúng tôi chưa bao giờ nhận được thông báo gì cả. Ông Đồng cho biết thêm: Giá bán 1m2 đất ở phía mặt tiền khoảng 700 ngàn đồng, còn từ lối thứ 2 trở vào bên trong có giá từ 600 ngàn đồng trở xuống. Các lô đất đều đã có người mua để làm nghĩa địa hết cả rồi...
Ông Nguyễn Đình Hải thì cho biết, ở gần lô đất này có một khu nghĩa địa cũ của xã Lý Ninh trước đây, thế nhưng từ khi người dân chúng tôi có ý kiến về việc khu vực nghĩa địa này quá gần khu dân cư, ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân, UBND TP.Đồng Hới đã cấm không được mở rộng và cấm chôn cất ở đây. Thế nhưng, không hiểu vì sao có người lại tự tiện phân lô bán đất cho người khác làm đất nghĩa địa. “Bây giờ, họ mới phân lô bán nền, nên đề nghị chính quyền các cấp cần xem xét giải quyết dứt điểm, chứ khi đã có người chôn cất, mai táng ở đây thì khó mà giải quyết được”, ông Hải lo lắng.
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, khu vực nói trên là thửa đất số 167, tờ bản đồ số 45 thuộc quyền chủ sở hữu của ông Nguyễn Minh Trí và bà Phan Thị Liễu ở TDP 5, phường Bắc Lý, được UBND TP.Đồng Hới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 670809 ngày 31-12-2013, có diện tích 8.084,1m2. Mục đích sử dụng đất khi được cấp là đất trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, tại mục 2.1.13.2, Quyết định số 4261/QĐ-UBND, ngày 31-12-2016 của UBND tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của TP.Đồng Hới lại điều chỉnh 0,9ha của thửa đất nói trên từ đất trồng rừng sản xuất sang đất nghĩa trang. Theo các hộ dân ở đây, “bám” vào chính Quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch này, ông Trí đã phân lô bán đất để làm nghĩa địa.
Trước những bức xúc của các hộ dân ở TDP 1, ngày 24-7-2017, UBND phường Bắc Lý đã có buổi làm việc giải quyết đơn kiến nghị của các hộ dân nói trên. Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Minh Trí, chủ sở hữu lô đất nói trên cho biết, lô đất này đã được UBND TP.Đồng Hới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được UBND tỉnh ra quyết định điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất sang đất nghĩa trang, nghĩa địa. Vì có sự đồng ý của tỉnh nên ông đang san ủi, xây dựng móng và đã bán một số diện tích.
Tuy nhiên, những hộ dân ở TDP 1 bức xúc cho rằng, việc quy hoạch nghĩa trang nghĩa địa ở gần khu dân cư là không đúng quy định và yêu cầu UBND phường Bắc Lý nhanh chóng kiểm tra, giải quyết triệt để việc phân lô bán đất rừng sản xuất để làm nghĩa địa của ông Trí. Ngoài ra, các hộ dân này còn yêu cầu, phường cần có ý kiến đề nghị cấp trên xem xét lại việc chuyển đổi mục đích sử dụng lô đất nói trên? Kết luận buổi làm việc, ông Hoàng Bá Trọng, Chủ tịch UBND phường Bắc Lý đã đề nghị ông Trí dừng thi công xây dựng và hạn đến ngày 28-7-2017, phải tự giác tháo dỡ toàn bộ các hạng mục đã thi công. Trong quá trình nói trên ông Trí không được tổ chức mua bán các diện tích đã được phân lô nói trên.
Làm việc với phóng viên, ông Hoàng Bá Trọng, Chủ tịch UBND phường Bắc Lý cho biết, theo các quy định thì việc làm của ông Trí là sai, bởi hộ gia đình cá thể không thể tự ý tổ chức xây dựng, mua bán đất làm nghĩa địa. Muốn làm nghĩa địa phải trải qua nhiều bước như báo cáo chủ trương đầu tư, quy hoạch, quản lý... và tất cả đều phải được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong trường hợp này, ông Trí dựa trên cơ sở Quyết định số 4261/QĐ-UBND, ngày 31-12-2016 của UBND tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của TP.Đồng Hới. Tuy nhiên, chỉ dựa trên quyết định chuyển đổi này là chưa có cơ sở và chưa đầy đủ thủ tục. Vì vậy, UBND phường đã lập biên bản xử phạt hành chính 5 triệu đồng đối với ông Trí. Và phường tiếp tục đề nghị vụ việc lên UBND thành phố để có các biện pháp xử lý tiếp theo.
Liên quan đến vụ việc này, ngày 25-7-2017, UBND phường Bắc Lý có tờ trình số 408/TTr-UBND đề nghị UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND TP.Đồng Hới xem xét lại việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ 45 của ông Nguyễn Minh Trí và bà Phan Thị Liễu ở TDP5, phường Bắc Lý.
Theo đó, việc điều chỉnh 0,9ha đất trồng rừng sản xuất sang đất nghĩa trang là không hợp lý. Bởi trong nhiều năm qua, nhân dân TDP 1 sinh sống ngay cạnh khu nghĩa địa phường Nam Lý đã nhiều lần đề nghị đóng cửa, không cho chôn cất người chết. Hiện thửa đất của ông Trí nằm sát khu dân cư này (cách khoảng 30m). Có gần 400 hộ dân sinh sống ở khu vực này đang sử dụng nước giếng. Nếu chuyển đổi diện tích này sang đất nghĩa trang thì sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến việc bảo đảm vệ sinh môi trường và nguồn nước sinh hoạt cho người dân. (Báo Quảng Bình 10/8) đầu trang(
Công Đa là xã đặc biệt khó khăn của huyện vùng cao Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây nhờ trồng rừng nhiều hộ dân trên địa bàn xã vươn lên thoát nghèo. Với thu nhập hàng trăm triệu đồng/ha/chu kỳ, trồng rừng đang là hướng phát triển kinh tế thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu của người dân nơi đây.
Chúng tôi tìm về thôn Khuân Bén, thôn điển hình về phát triển kinh tế nhờ trồng rừng của xã Công Đa.
Ông Dương Văn Chinh, Phó Bí thư Chi bộ thôn Khuân Bén cho biết, nhiều năm về trước, người dân trong thôn chỉ biết trồng ngô, sắn… hiệu quả kinh tế không cao. Năm 1992, hưởng ứng theo lời vận động và được sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ kiểm lâm tỉnh, một vài hộ dân trong thôn mạnh dạn chuyển từ trồng sắn sang trồng rừng, chủ yếu là trồng keo. Sau khi thu hoạch thấy trồng keo cho thu nhập cao hơn nên nhiều hộ dân trong thôn học tập và làm theo.
Thôn Khuân Bén hiện có 83 hộ dân, 100% các hộ dân trong thôn trồng rừng, với tổng diện tích 220 ha. Nhờ nguồn thu nhập từ trồng rừng, nhiều hộ dân trong thôn vươn lên thoát nghèo. Hiện thôn có trên 80% hộ dân có nhà xây kiên cố và khoảng 20 hộ có thu nhập trên 200 triệu đồng nhờ trồng rừng, hộ nghèo trong thôn giảm từ 39 hộ (2016) xuống còn 35 hộ.
Là một trong những gia đình mới vươn lên thoát nghèo, anh Trần Văn Hà, thôn Khuân Bén chia sẻ, năm 2008, khi thấy nhiều gia đình trong thôn trồng rừng cho thu nhập cao, gia đình quyết định học tập. Thời điểm đó, gia đình bắt đầu trồng thử 2 ha keo, sau đó mở rộng diện tích trong những năm tiếp theo. Đến nay, gia đình có 6 ha rừng keo, chủ yếu là cây keo tai tượng. Năm 2015, gia đình bán 2 ha keo đầu tiên, thu về 200 triệu đồng. Nhờ nguồn thu nhập này, gia đình xây được nhà mới kiên cố và thoát được cái nghèo đeo bám nhiều năm.
Không chỉ thoát nghèo, nhiều hộ dân thôn Khuân Bén vươn lên làm giàu từ trồng rừng. Là một trong những gia đình làm giàu từ trồng rừng, ông Nguyễn Viết Trọng, thôn Khuân Bén cho hay, mặc dù là cây lâu năm (từ 7 -10 năm mới cho thu hoạch) nhưng so với trồng sắn, trồng ngô, trồng keo mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Hiện trung bình 1 ha rừng keo, cây tốt, đủ tuổi khai thác theo quy định… người trồng có thể thu về khoảng 100 triệu đồng/ha/chu kỳ.
Ông Trọng cho biết thêm, gia đình bắt đầu trồng keo từ năm 2000 với tổng diện tích 5 ha. Từ khi khai thác rừng keo lần đầu tiên năm 2010, cuộc sống của gia đình cải thiện nhiều. Đồ dùng trong gia đình như ti vi, tủ lạnh, xe máy… đều được mua sắm bằng tiền thu hoạch keo của gia đình. Đầu năm 2017, gia đình tiến hành khai thác rừng keo lần thứ hai với diện tích 1,5 ha thu về 190 triệu đồng. Với nguồn vốn này, ông sẽ tiếp tục đầu tư trồng và chăm sóc rừng keo. Đồng thời, đầu tư phát triển nuôi cá, nuôi gà… nâng thu nhập cho gia đình.
Với nguồn thu nhập ổn định, trồng rừng đang là hướng phát triển kinh tế chủ yếu của người dân xã Công Đa.
Ông Nguyễn Thành Đạo, Bí thư Đảng ủy xã Công Đa cho biết, Công Đa là xã đặc biệt khó khăn của huyện Yên Sơn, với 60% là đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, dân tộc Tày chiếm khoảng 52%. Mặc dù, sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng đã được triển khai ở Công Đa cách đây hơn 20 năm nhưng vài năm trở lại đây mới thực sự phát triển mạnh. Hiện, trồng rừng là ngành kinh tế mũi nhọn của Công Đa, 100% số hộ dân trên địa bàn xã trồng rừng với tổng diện tích rừng sản xuất trên 3.000 ha, bao gồm các loại cây như: keo, bồ đề, mỡ; trong đó, 200 ha đang trong độ tuổi khai thác. Thu nhập từ trồng rừng giúp các hộ dân ở Công Đa vươn lên thoát nghèo, từng bước cải thiện cuộc sống.
Cũng theo ông Đạo, với địa hình, khí hậu phù hợp để phát triển trồng rừng nên trong những năm qua, Đảng bộ chính quyền xã tập trung vận động người dân tích cực trồng rừng, không để đất trống, đồi trọc; thực hiện chỉ tiêu trồng rừng hàng năm được huyện giao, xã lên kế hoạch cụ thể dựa trên tình hình thực tế tại địa phương, sau đó giao xuống các thôn bản để người dân thực hiện. Nhờ sự nhất trí, đồng lòng của chính quyền và người dân địa phương nên diện tích trồng rừng hàng năm của xã đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.
Bên cạnh đó, xã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng… Thời gian tới, xã tiếp tục vận động người dân tập trung chăm sóc diện tích rừng mới trồng; sau khi khai thác sẽ triển khai trồng mới theo đúng kỹ thuật, thời gian, không để diện tích đất bỏ hoang để phát huy hơn nữa hiệu quả từ trồng rừng. Ngoài ra, xã tiếp tục vận động người dân nâng hệ số sử dụng đất, trồng thêm các loại cây ăn quả: cam, bưởi, nhãn; phát triển chăn nuôi… để giúp người dân nâng cao thu nhập, tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới. (Báo Ảnh Dân Tộc & Miền Núi 10/8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Quốc Dũng vừa ký quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng An Toàn thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn (An Lão).
Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng An Toàn thực hiện chức năng bảo vệ và phát triển rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn; chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn và chịu sự quản lý chuyên môn, nghiệp vụ, trang thiết bị chuyên ngành của Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Biên chế của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng An Toàn gồm 1 Hạt trưởng, 1 Hạt phó, bộ phận giúp việc gồm: Tổng hợp, Thanh tra pháp chế, Quản lý bảo vệ rừng. Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn kiêm nhiệm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm. (Báo Bình Định 10/8) đầu trang(
Việc các hộ dân ở xã Khánh Thuận, huyện U Minh (tỉnh Cà Mau) yêu cầu trả lại phần diện tích đất lâm nghiệp đã thu hồi là không có sơ sở để xem xét, giải quyết.
Gần đây, 130 hộ dân ở ấp 19, 20, 21 thuộc xã Khánh Thuận, huyện U Minh (tỉnh Cà Mau) đã nhiều lần kéo đến cơ quan chức năng khiếu nại để đòi lại hơn 529,86 ha đất được nhận khoán bị Lâm ngư trường Sông Trẹm (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ) thu hồi năm 1996.
Vụ việc bắt đầu từ năm 1993, khi Lâm ngư trường Sông Trẹm lập hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp cho các hộ dân trồng và bảo vệ rừng theo tuyến bờ bao từ kênh 14 đến kênh 25 thuộc Tiểu khu 001, 004 và 007 với diện tích giao khoán bình quân 10 ha/hộ (100m ngang, 1.000m dọc) nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng theo Quyết định 64/QĐ-UB ngày 28/3/1991 của UBND tỉnh Minh Hải về việc ban hành quy định chính sách, biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên đất đai - rừng và mặt nước.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp thực hiện giao khoán cho 130 hộ dân là 1.103,86 ha, thời hạn giao khoán đất từ năm 1993 đến năm 2013. Về quyền lợi, người dân nhận khoán được hưởng 30%, Lâm ngư trường Sông Trẹm hưởng 70%.
Trong quá trình quản lý, các hộ dân ấp 19, 20, 21 thuộc xã Khánh Thuận (huyện U Minh) không đủ sức bảo vệ và phát triển rừng, thậm chí còn để xảy ra cháy rừng…
Do đó, năm 1996, Lâm ngư trường Sông Trẹm thu hồi lại 500m chiều dọc (tương đương 50% diện tích đất giao khoán) phần hậu đất lâm nghiệp của 130 hộ dân đang thực hiện hợp đồng giao khoán.
Tuy nhiên, việc thu hồi đất của Lâm ngư trường Sông Trẹm không có chủ trương, không có phương án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, không bồi hoàn cho người dân và không thỏa thuận với người dân để lập lại hợp đồng mới; thời điểm đó, các hộ dân cũng mặc nhiên chấp nhận.
Đến năm 2012, các hộ dân ấp 19, 20, 21 thuộc xã Khánh Thuận làm đơn tố cáo Lâm ngư trường Sông Trẹm cắt phần hậu đất lâm nghiệp của các hộ dân thuộc diện nhận khoán, từ 1.000 m xuống còn 500 m để phân chia cho một số cán bộ và tổ chức; đồng thời yêu cầu trả lại hiện trạng giao khoán ban đầu cho các hộ dân hoặc cho người dân thuê, hợp tác đầu tư một số tổ chức, cá nhân khác.
Trước sự việc trên, UBND tỉnh Cà Mau đã khẩn trương chỉ đạo cơ quan chức năng vào cuộc kiểm tra, xác minh làm rõ vụ việc 130 hộ dân ấp 19, 20, 21 thuộc xã Khánh Thuận tố cáo cán bộ Lâm ngư trường Sông Trẹm thu hồi đất nhận khoán lâm nghiệp. Qua đó, làm cơ sở pháp lý để cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm vụ việc theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Sau nhiều lần tổ chức các cuộc họp xử lý những vấn đề liên quan đến thanh tra việc quản lý, sử dụng đất rừng tại Lâm ngư trường Sông Trẹm cũng như giải quyết nội dung khiếu nại của nhân dân, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đã ký Báo cáo số 149/BC-UBND ngày 5/8/2017 gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương chính thức báo cáo kết quả chỉ đạo, giải quyết vụ việc trên.
Theo Báo cáo số 149/BC-UBND, nội dung Kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau như sau:
''Việc các hộ dân yêu cầu trả lại phần diện tích đất lâm nghiệp đã thu hồi là không có sơ sở để xem xét, giải quyết.
Qua đó, chỉ đạo Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ tiến hành thu hồi lại diện tích đã giao khoán trước đây không trực tiếp sản xuất, các hộ nhận liên doanh liên kết đã hết hợp đồng.
Trên cơ sở quỹ đất của đơn vị, Công ty kết hợp với chính quyền địa phương xem xét lại từng trường hợp cụ thể, tiếp tục giao đất cho các hộ dân thực sự có nhu cầu và thực hiện trồng rừng tốt; không xem xét lại những trường hợp chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng.
Khi thực hiện phải lập phương án giao khoán đất lâm nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; lập phương đền bù, bồi hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất lâm nghiệp giao khoán đã thu hồi''.
Trao đổi với phóng viên TTXVN, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải cho biết: Quan điểm của tỉnh là giải quyết vụ việc trên tinh thần ''hợp tình, hợp lý'', đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tốt quyền lợi cho các hộ dân bị thu hồi đất lâm nghiệp nhận khoán.
Do vậy, các hộ dân cần đồng tình và ủng hộ chủ trương đúng đắn của tỉnh bởi đây là phần đất lâm nghiệp do Nhà nước quản lý nên việc người dân đòi lại đất là không đúng. Nếu người dân thực hiện các hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
UBND tỉnh chủ trương bồi hoàn cho người dân theo tỷ lệ người dân hưởng 80%, Nhà nước hưởng 20%. Đây là cách tính có lợi nhất cho các hộ dân và số tiền người dân được hưởng cao hơn rất nhiều so với tiền công chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng theo hợp đồng giao khoán đất trước đây (theo tỷ lệ Nhà nước hưởng 70%, người dân hưởng 30%)
Giá trị bồi hoàn được tính từ lợi nhuận bình quân thực nhận của hộ dân trên 1 ha đất giao khoán, sau đó chia cho một chu kỳ bảo vệ và khai thác rừng là 8 năm, rồi lấy kết quả kết trên nhân với 3 năm chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng.
Từ kết quả khảo sát, tỉnh Cà Mau đã xây dựng phương án bồi hoàn dựa vào khối lượng đào đắp của các hộ dân đã thống nhất ký tên trong biên bản với khối lượng 92.272,90 m3, tổng giá trị đào đắp khuôn hộ là gần 2,5 tỷ đồng; kinh phí bồi hoàn thành quả lao động trong 3 năm là hơn 4,1 tỷ đồng bao gồm công chăm sóc, bảo vệ rừng, chi phí xử lý thực bì và đào kênh.
Số tiền trên được tính toán bồi hoàn cho 130 hộ dân nhận khoán đất lâm nghiệp; trong đó có 61 hộ gốc được nhận khoán đất lâm nghiệp, 16 hộ dân được thừa kế từ năm 1993 các thành viên trong gia đình canh tác đến nay, 40 hộ gốc đã chuyển nhượng đất nhận khoán lâm nghiệp kể từ năm 1996 đến nay, 13 hộ gốc chuyển nhượng nhưng thất lạc hồ sơ nên cơ quan chức năng xác định dựa vào nguồn tài liệu danh sách giao khoán đất lâm nghiệp của Lâm ngư trường Sông Trẹm trước đây.
Tính từ thời điểm Lâm ngư trường thu hồi đất đến nay, đã có 53 trong số 130 hộ dân đã chuyển nhượng thành quả lao động cho người khác nhưng vẫn tham gia yêu cầu khiếu nại giống như các hộ gốc.
Đầu tháng 8/2017, cơ quan chức năng tỉnh đã họp dân ấp 19, 20, 21 để triển khai phương án bồi hoàn. Qua công tác kiểm tra, xác minh của cơ quan chức năng tỉnh, Lâm ngư trường Sông Trẹm điều chỉnh quy mô giao khoán và thu hồi lại phần hậu đất 500 m của 130 hộ dân đang nhận khoán đất lâm nghiệp nhưng không có phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều đáng nói, sau khi thực hiện thu hồi đất của người dân, Ban Giám đốc Lâm ngư trường Sông Trẹm tiếp tục sử dụng phần đất mới thu hồi để hợp đồng giao khoán và liên doanh liên kết với diện tích là 379,86 ha.
Tuy đây là đất lâm nghiệp do Lâm ngư trường Sông Trẹm được Nhà nước giao quản lý, có thẩm quyền giao khoán và thu hồi đất nhưng không thực hiện thanh lý hợp đồng, không bồi hoàn công đào đắp và chi phí bảo vệ rừng là có sai sót về mặt trình tự, thủ tục.
Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đã kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo xử lý đối với những cán bộ, đảng viên và một số cán bộ liên quan có khuyết điểm trong việc cắt đất hợp đồng giao khoán đối với người dân, gây nên vụ việc khiếu kiện phức tạp ở Cà Mau. (Bnews 10/8) đầu trang(
Để thu hút đầu tư trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh có lợi nhuận và bền vững dựa trên các sản phẩm và dịch vụ từ rừng tự nhiên, thách thức lớn hiện nay là làm rõ và đảm bảo các cách thức để doanh nghiệp thu được lợi ích nhờ quản lý bền vững rừng tự nhiên.
Theo số liệu được đưa ra tại “Diễn đàn về phát triển các cơ hội cho quản lý rừng tự nhiên bền vững”, Việt Nam hiện có trên 10 triệu ha rừng tự nhiên, chiếm 71% diện tích rừng Việt Nam, nhưng chủ yếu là rừng mới phục hồi, rừng nghèo; rừng giàu còn lại rất ít.
Ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) nhận định: Do nhu cầu phát triển kinh tế cùng những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý, bảo vệ rừng mà vẫn còn nhiều diện tích rừng tự nhiên giàu trữ lượng bị khai thác thiếu bền vững hoặc chuyển đổi sang mục đích khác. Những điều này khiến rừng tự nhiên bị suy giảm cả về chất và lượng.
Thực tế, từ khi Chính phủ ra lệnh đóng cửa rừng tự nhiên, nguồn thu khai thác kinh tế từ rừng tự nhiên chủ yếu trông chờ vào khoản thu phí dịch vụ môi trường rừng. Những doanh nghiệp hưởng lợi từ rừng tự nhiên thuộc các nhóm thủy điện, du lịch, khai thác nguồn nước… phải có trách nhiệm trả tiền cho những đối tượng bảo vệ, trồng và phát triển rừng. Tuy vậy, mức thu này quá thấp (chỉ khoảng 300 nghìn đồng/ha/năm), gần như không đáng kể.
Cho đến nay, rừng mới chỉ đóng góp xấp xỉ 1% tổng GDP của Việt Nam. Chương trình mục tiêu Phát triển rừng bền vững giai đoạn 2016 - 2020 đặt mục tiêu nâng con số này lên 2 - 3% cũng như tăng độ che phủ rừng lên 42% vào năm 2020. Để đạt đến cái đích này, quản lý rừng tự nhiên bền vững kết hợp khai thác hiệu quả các lợi ích kinh tế của rừng tự nhiên cần sự phối hợp của nhiều bên, từ Chính phủ đến doanh nghiệp và người dân.
Ông Hà dẫn chứng, năm 2010, ngành công nghiệp tre nứa ở Việt Nam đã tạo việc làm cho 400.000 người lao động; tổng doanh thu hằng năm khoảng 250 triệu USD từ măng, các chuỗi xử lý công nghiệp và cung ứng sản phẩm thủ công. Trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu đạt 20 tỷ USD mỗi năm và tiếp tục tăng, các nghiên cứu cho thấy, Việt Nam có thể tăng gấp 3 số việc làm và thu nhập từ ngành công nghiệp này. Ngành dược liệu thậm chí còn quan trọng hơn với doanh thu nội địa khoảng 1,5 tỷ USD. Ngoài ra, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 1,7 tỷ USD dược liệu mỗi năm, mặc dù, có đủ tiềm năng hoàn toàn tự cung tự cấp và trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới xuất khẩu mặt hàng này.
Nếu bảo vệ rừng tự nhiên hợp lý, ngoài nguồn lợi lớn từ khai thác các loại lâm sản có giá trị, rừng tự nhiên còn gắn với cảnh quan, đa dạng sinh học, là tiềm năng lớn thu hút du lịch, góp phần đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam. Do đó, cần xây dựng cơ chế chính sách để phát huy hết tiềm năng của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên và phát huy các giá trị về môi trường.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, việc xây dựng các mô hình kinh tế, mô hình kinh doanh bền vững và tạo cơ hội cho các thành phần kinh tế trong phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên còn thiếu hệ thống, kém hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư.
Các chuyên gia cho rằng, song song với huy động nguồn lực tài chính phải xây dựng các quy định về thu/chi để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các mô hình kinh tế dựa trên rừng tự nhiên. Đồng thời, cải thiện chính sách và tăng cường hệ thống giám sát, đánh giá về các mô hình kinh tế và lâm sản ở cấp địa phương và quốc gia. Các cơ chế chia sẻ lợi ích như chi trả dịch vụ môi trường rừng cần tiếp tục cải thiện, đặc biệt trong việc tái đầu tư nguồn tài chính này có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao hơn trong các hoạt động liên quan đến rừng tự nhiên, mở rộng phạm vi dịch vụ và tăng giá trị các dịch vụ cung cấp.
Ngoài ra, rừng tự nhiên có thể giao hoặc khoán lại cho một số dịch vụ du lịch sinh thái hoặc thí điểm mô hình sinh kế ngoài gỗ, song vẫn có nhiều thách thức về ổn định tài chính và lợi tức trong thời gian dài. Thách thức chủ yếu là biến các cơ hội, định hướng, chính sách và giải pháp thành hành động nhất quán và có hệ thống. Ông Kalmal Malhotra, Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cho rằng, Nhà nước cần xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế, để họ thấy được lợi ích lâu dài từ phát triển rừng tự nhiên bền vững, từ đó đạt được những lợi ích chung. (Tài Nguyên & Môi Trường 10/8) đầu trang(
Ngày 10-8, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, vừa ra quyết định xử phạt hành chính nhiều trường hợp khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tổng cộng số tiền 310 triệu đồng.
Theo đó, xử phạt Nguyễn Tiến Lộc (27 tuổi, ngụ phường Lộc Phát, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng) 75 triệu đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật với số lượng 11,8 m² gỗ xẻ , trong đó 54 hộp gỗ Căm xe (nhóm II), 19 hộp gỗ Bằng lăng (nhóm III), 7 hộp gỗ Dầu nước (nhóm IV).
Xử phạt hành chính đối với các cá nhân vi phạm về hành vi khai thác rừng trái phép. Cụ thể, xử phạt ông Đỗ Hữu Khang (46 tuổi) 40 triệu đồng; Hoàng Mạnh Hùng (32 tuổi) 75 triệu đồng; Nguyễn Văn Đoàn (35 tuổi) 40 triệu đồng; Hoàng Trung Mạnh (35 tuổi, cùng ngụ xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh) và ông Nguyễn Văn Luân (43 tuổi, ngụ xã Hà Đông, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng) 40 triệu đồng.
Ngoài ra, cơ quan chức năng còn tịch thu 5 xe máy do các cá nhân sử dụng trong quá trình khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản. Đồng thời tịch thu các hộp gỗ do các đối tượng vi phạm. (Sài Gòn Giải Phóng 10/8) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ trên địa bàn huyện Trùng Khánh có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết việc làm, nâng thu nhập cho người trồng rừng.
Trùng Khánh hiện có 8.018,51 ha rừng có cung ứng DVMTR, trong đó, rừng phòng hộ 4.809,26 ha; rừng đặc dụng 621,49 ha; rừng sản xuất 2.587,76 ha. Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các xã, thị trấn rà soát, lập danh sách đối với những diện tích rừng có cung ứng DVMTR; đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách DVMTR. Tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân. Các xã, xóm xây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng, thành lập các tổ, đội xung kích phòng, chống cháy rừng, xử lý các trường hợp vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng. Các hộ được giao khoán diện tích bảo vệ rừng thường xuyên kiểm tra, nếu phát hiện cây con bị chết, báo cáo cán bộ kiểm lâm tiến hành trồng lại để đảm bảo số lượng diện tích rừng.
Để đảm bảo việc chi trả DVMTR tới các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm thành lập tổ kiểm tra phối hợp với đội xung kích của các xóm đi thực tế rà soát, nghiệm thu để đánh giá, thống kê làm căn cứ cho việc chi trả tiền DVMTR. Việc chi trả được nhân dân họp lấy ý kiến, tiến hành khi người dân đồng thuận. Nhiều hộ đã sử dụng tiền chi trả DVMTR để tái sản xuất. Năm 2017, huyện đã chi trả cho 128 chủ rừng là cộng đồng, 285 chủ rừng là nhóm hộ và 2.908 chủ rừng là hộ gia đình tại 17, xã thị trấn nằm trên lưu vực cung cấp DVMTR thuộc 2 nhà máy thủy điện Thoong Gót 1, Nà Lòa với kinh phí 1 tỷ 760 nghìn đồng.
Ông Nông Văn Dũng, xã Thông Huề chia sẻ: Trước đây, khi chưa có chính sách chi trả DVMTR, ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng cộng đồng của tôi và một số hộ dân trong xóm chưa cao. Một số vụ cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất rừng xảy ra do thiếu kiểm tra, giám sát. Năm 2017, các hộ dân trong xóm được chi trả 17 triệu 472 nghìn đồng, gia đình tôi được 1 triệu 106 nghìn đồng từ chính sách chi trả DVMTR. Số tiền tuy không nhiều nhưng giúp đời sống của người dân được cải thiện, từ đó tích cực trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Để diện tích rừng luôn phát triển tốt, cứ 3 - 5 ngày, chúng tôi thay phiên nhau đi kiểm tra, tuần tra rừng.
Đặc biệt vào mùa khô, tổ xung kích đi kiểm tra rừng nhiều hơn với quyết tâm không để xảy ra cháy rừng.Việc triển khai chính sách chi trả DVMTR còn tạo nguồn tài chính ổn định để chính quyền địa phương đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Nhiều chủ rừng đã sử dụng nguồn kinh phí để chi trả cho các tổ cộng đồng trong việc tuần tra. Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm rõ rệt, năm 2015 xảy ra 5 vụ cháy rừng, 6 tháng năm 2017 giảm xuống còn 2 vụ, góp phần tăng độ che phủ rừng trong toàn huyện lên 46,8%… Qua đó, từng bước nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, tạo động lực vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Ông Hoàng Văn Dương, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Trùng Khánh cho biết: Để chính sách chi trả DVMTR tiếp tục mang lại hiệu quả, Hạt tăng cường việc kiểm tra, giám sát các đơn vị được chi trả DVMTR; tập trung tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến người dân, đặc biệt là các hộ dân nhận giao khoán bảo vệ rừng để nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Cao Bằng 10/8) đầu trang(
Chiều 10/8, Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Quốc Khánh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Ngọc Sơn chủ trì buổi làm việc về đề án khai thác tiềm năng, lợi thế rừng và đất lâm nghiệp để phát triển bền vững KT-XH. Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thị Nữ Y cùng dự.
Để phát huy hiệu quả và giải quyết những hạn chế trong hoạt động lâm nghiệp, UBND tỉnh đã giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp xây dựng “Đề án khai thác tiềm năng, lợi thế rừng và đất lâm nghiệp để phát triển bền vững KT-XH tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025”.
Hà Tĩnh hiện có 360.700 ha rừng và đất lâm nghiệp, phân bố trên 197 xã, chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên. Đến nay, toàn tỉnh có trên 90% diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho từng chủ quản lý; có gần 27 nghìn hộ, cá nhân được giao trên 70 nghìn ha, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và phát triển KT-XH. Diện tích rừng tăng lên hàng năm, nâng độ che phủ đến năm 2016 lên 52,43%.
Lợi ích kinh tế từ rừng được khẳng định, hàng năm cung cấp hàng vạn m3 gỗ nguyên liệu và các loại lâm sản khác phục vụ công nghiệp chế biến, góp phần đưa giá trị xuất khẩu lâm sản lên 47 triệu USD vào năm 2016. Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng bước đầu đạt một số kết quả.
Đề án đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 sẽ phát triển bền vững 360.700 ha rừng và đất lâm nghiệp hiện có; đưa tổng giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên đất lâm nghiệp lên khoảng 7.372 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 15%/năm; chuyển đổi khoảng 6.322 ha rừng và đất lâm nghiệp để phát triển các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp chủ lực, với giá trị đạt khoảng 5.400 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt khoảng 90 triệu USD/năm; 100% gỗ rừng trồng được chế biến tinh sâu và tiến tới sản xuất sản phẩm hoàn thiện; khai thác tiềm năng du lịch tại một số điểm; giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho khoảng 80.000 lao động.
Đặc biệt, đề án đã xây dựng nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện như: Tăng cường quản lý nhà nước, tuyên truyền, soát xét điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo phù hợp, thống nhất; bảo vệ, phát triển bền vững diện rừng phòng hộ, đặc dụng; khai thác các giá trị về bảo tồn đa dạng sinh học, các loại hình dịch vụ, lâm sản ngoài gỗ. Bên cạnh đó, tập trung đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả 173.000 ha rừng, đất rừng sản xuất; ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất; kêu gọi đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp lớn khai thác có hiệu quả tiềm năng, giá trị về du lịch sinh thái; đẩy mạnh hoạt động chế biến lâm sản theo hướng hiện đại; ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi...
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Quốc Khánh nhấn mạnh, đây là đề án có vai trò rất quan trọng, do đó, cần phải bổ sung để hoàn thiện chi tiết hơn. Trong đó, phân tích cụ thể về thực trạng, hạn chế để có giải pháp triển khai thực hiện tốt nhất; đánh giá, phân tích công tác quản lý rừng tại cơ sở; bổ sung quan điểm về mục tiêu phát triển rừng gắn với ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy KT-XH phát triển bền vững; bổ sung nhiệm vụ phát triển rừng gắn với xây dựng NTM.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về quản lý nhà nước cần có các giải pháp về tổ chức bộ máy theo hướng tinh giản, tăng cường phối hợp quản lý; phân tích, tính toán lại mục tiêu về lao động, việc làm…
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện rà soát số liệu của địa phương, sớm báo cáo Sở NN&PTNT để bổ sung vào đề án. Sở NN&PTNT tiếp tục rà soát lại toàn bộ số liệu, tổng hợp ý kiến các đại biểu, bổ sung các chính sách cần thiết, đặc biệt là về tăng cường cơ sở vật chất, lực lượng quản lý để hoàn thiện đề án trên cơ sở bài bản, khoa học, để báo cáo UBND tỉnh xem xét trước khi trình HĐND tỉnh. (Báo Hà Tĩnh 10/8) đầu trang(
Để đảm bảo chất lượng cây giống lâm nghiệp (CGLN), Bình Định đã áp dụng những biện pháp quản lý chặt.
Bình Định được đánh giá là tỉnh dẫn đầu phong trào trồng rừng SX ở miền Trung. Đi theo đó, tỉnh này còn được mệnh danh là “vựa cây giống lâm nghiệp” của cả khu vực với hàng trăm cơ sở SX cây giống. Để đảm bảo chất lượng cây giống lâm nghiệp (CGLN), Bình Định đã áp dụng những biện pháp quản lý chặt.
Chỉ riêng ở Bình Định, mỗi năm tỉnh này trồng mới và trồng rừng sau khai thác với diện tích khoảng 10.000 ha, cần đến 20 triệu cây giống lâm nghiệp, chủ yếu là keo. Vì vậy, suốt nhiều năm qua, cơ sở SX GCLN “mọc” lên khá rộ như “nấm gặp mưa”.
Theo ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm Bình Định, hiện trên địa bàn tỉnh có đến trên 130 cơ sở như vậy đang hoạt động, trong đó có 4 cơ sở quy mô lớn SX cây lâm nghiệp bằng phương pháp nuôi cấy mô. Đó là Cty Vũ Hà, Cty Nguyên Hạnh, Cty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn và Trung tâm Ứng dụng KHKTCN thuộc Sở KH-CN Bình Định, số cơ sở còn lại SX bằng phương pháp giâm hom.
Điều đáng quan ngại là ngoài những cơ sở “chính danh”, được cơ quan chức năng cấp phép, còn có nhiều cơ sở “chui”. Và tất nhiên, chất lượng cây giống được SX từ những cơ sở “chui” này khó đảm bảo. Tất cả đặt ra nhiều thách thức cho ngành chức năng trong việc quản lý chất lượng cây giống.
Theo quan sát của PV, dọc tuyến QL 19C đoạn qua địa phận các xã Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp, thị trấn Vân Canh (huyện Vân Canh), trước vụ trồng rừng thu đông 2017, hàng loạt vườn ươm, cơ sở SX CGLN đang ráo riết hoạt động để kịp cung ứng cho những hộ trồng rừng.
Bên cạnh các vườn ươm, cơ sở đầu tư xây dựng bài bản, được cấp phép, vẫn còn nhiều vườn ươm tự phát, hoạt động “chui”, SX cây giống không đảm bảo quy trình kỹ thuật. Chủ các cơ sở ươm giống không có chuyên môn kỹ thuật mà chỉ làm theo kinh nghiệm.
Ông Trần Văn Khổ, Phó Phòng NN-PTNT huyện Vân Canh, cho biết: Qua kiểm tra, toàn huyện có trên 10 vườn ươm cây giống lâm nghiệp không đảm bảo quy trình kỹ thuật, nhân giống bằng phương pháp giâm hom. Cây giống được SX tại những cơ sở này không có nguồn gốc xuất xứ, không được cấp phép hoạt động. Khi cơ quan chức năng kiểm tra thì các cơ sở tạm dừng SX, đợi qua đợt kiểm tra lại hoạt động.
Theo thống kê của Chi cục KL Bình Định, hiện bên cạnh các cơ sở SX CGLN quy mô lớn được cơ quan chức năng cấp phép; trên địa bàn tỉnh có trên 80% số cơ sở quy mô nhỏ hộ gia đình, công suất 200 - 300 ngàn cây giống/năm, chưa được quản lý. Hầu hết các cơ sở chưa được kiểm soát chất lượng nguồn gốc giống chặt chẽ và các quy trình SX chưa đảm bảo theo yêu cầu của Bộ NN-PTNT.
Để nâng cao chất lượng rừng trồng, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, việc quản lý, nâng cao chất lượng CGLN được Bình Định đặt làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Ông Nguyễn Thế Dũng cho biết, đơn vị đã tham mưu Sở NN-PTNT thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, phối hợp với Phòng NN-PTNT các huyện và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra hoạt động SX và thực hiện các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực SX CGLN tại các địa phương.
“Ngành chức năng quản lý chất lượng GCLN theo chuỗi hành trình. Cây giống phải có nguồn gốc từ vật liệu đến quy trình SX đến khi bán ra thị trường. Cơ sở SX phải đăng ký tại Sở NN-PTNT, ngành chức năng sẽ thường xuyên kiểm tra chứng nhận nguồn giống. Khi cây giống được đưa ra thị trường phải được cơ quan quản lý Nhà nước cấp giấy chứng nhận nguồn gốc của cây con”, ông Dũng nói.
Cũng theo ông Dũng, hiện nay người trồng rừng ở Bình Định rất quan tâm đến năng suất rừng trồng, nên họ lựa chọn cây giống rất kỹ, do đó những cơ sở SX cây giống bằng phương pháp cấy mô rất “ăn khách”. Cây giống cấy mô có sức tăng trưởng rất mạnh, năng suất cao hơn cây giống giâm hom khoảng 15%, đặc biệt nó có sức chống chịu rất tốt với gió bão. (Nông Nghiệp VN 10/8) đầu trang(
Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ba Tơ - Tỉnh Quảng Ngãi có tổ chức bán đấu giá gỗ rừng trồng như sau:
1. Tài sản bán đấu giá: Gỗ keo rừng trồng; Diện tích: 20,76 ha (rừng trồng năm 2012); Tổng sản lượng gỗ: 512,2 m3.
Toàn bộ sản phẩm gỗ rừng trồng bán đấu giá có chứng chỉ FSC® 100%.
2. Hình thức đấu giá bán cây đứng, được thông báo rộng rãi trong cả nước, các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực và có nhu cầu mua gỗ rừng trồng.
3. Thời gian mua hồ sơ, hướng dẫn xem rừng và đăng ký nộp hồ sơ để tham gia đấu giá gỗ từ ngày 10/8/2017, đến hết 11 giờ 30 phút ngày 18/8/2017 (trong giờ hành chính). Trong ngày 18/8/2017 xét duyệt hồ sơ năng lực và thông báo kết quả đến tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực tham gia đấu giá; Nhận tiền đặt cược của các tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá gỗ rừng trồng. Dự kiến thời gian mở phiên bán đấu giá gỗ rừng trồng sản xuất vào lúc 08 giờ 00 ngày 19/8/2017.
4. Địa chỉ liên hệ: Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ba Tơ; Km27, Quốc lộ 24, xã Ba Cung, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
ĐT: 055 3895456; 055 3606684 - Fax : 055 3863250. (Đấu Thầu 10/8) đầu trang(
Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh An Giang thông báo bán đấu giá tài sản như sau:
Vào lúc 09 giờ 00, ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh An Giang tổ chức đấu giá tài sản của người có tài sản đấu giá là Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang (Địa chỉ: Số 10/1 Châu Văn Liêm , P. Mỹ Bình, TP. Long Xuyên, An Giang), như sau:
Cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái tại phân khu dịch vụ hành chính rừng tràm Trà Sư, tại xã Văn Giáo, H. Tịnh Biên, An Giang, cụ thể:
Diện tích cho thuê: 159 ha thuộc phạm vi Khoảnh 3a và 3b, Tiểu khu 6, phân khu dịch vụ hành chính. Thời gian cho thuê: Không quá 20 năm. Giá khởi điểm cho thuê: 1.346.200.000/ 159 ha/ 1 năm; giá thuê điều chỉnh 5 năm một lần (tổng giá khởi điểm cho thuê của 20 năm, trong trường hợp nộp tiền thuê 01 lần cho 20 năm là 19.116.040.000 đồng). Phương thức thanh toán tiền thuê: Một trong các phương thức sau: 1 lần cho 5 năm, hoặc 10 năm, hoặc 15 năm, hoặc 20 năm.
Người trúng đấu giá phải thực hiện đầy đủ các quy định, điều kiện, nguyên tắc cho thuê và giải pháp bảo vệ và phát triển rừng tại Quyết định số 1745/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND tỉnh An Giang về phê duyệt Đề án Cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái tại phân khu dịch vụ hành chính rừng tràm Trà Sư.
Tiền mua hồ sơ: 5.000.000 đồng/ hồ sơ. Tiền đặt trước: 1.000.000.000 đồng/ hồ sơ. Thời gian, địa điểm, điều kiện, cách thức đăng ký tham gia đấu giá: Tổ chức, cá nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề dịch vụ - du lịch hoặc có liên quan đến du lịch nộp đủ hồ sơ tham gia đấu giá hợp lệ và tiền đặt trước tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh An Giang trong giờ hành chính từ ngày niêm yết việc đấu giá đến 09 giờ 00 ngày 29/8/2017.
Mọi chi tiết liên hệ: Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh An Giang. Địa chỉ: Số 01 Nguyễn Thái Học, P. Mỹ Bình, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Điện thoại: 0296 3857 763. Website: www.daugiaangiang.gov.vn. (Đấu Thầu 10/8) đầu trang(
Năm 2008, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được thành lập với mục đích huy động các nguồn lực xã hội để bảo vệ và phát triển rừng. Hơn 8 năm hoạt động, Quỹ đã tạo nên “dấu ấn” mạnh mẽ trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, đóng góp nguồn tài chính đáng kể cho ngành lâm nghiệp, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của những người làm nghề rừng.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam Nguyễn Bá Ngãi cho biết: Ngày 14/1/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (Nghị định 05) nhằm mục đích thu hút, tiếp nhận các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong những nguồn tài chính quan trọng của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Ngày 10/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 38 thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Sau 2 năm thí điểm được đánh giá thành công, ngày 24/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 (Nghị định 99).
Hơn 8 năm hoạt động, gắn với 5 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã đạt được nhiều kết quả, mang lại những hiệu ứng tích cực. Theo đó, Quỹ đã tham mưu cho Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, quản lý điều hành, hướng dẫn địa phương triển khai các chính sách. Đến nay, đã có 41 tỉnh, thành phố trên cả nước thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Hiện tại, các Quỹ đã ổn định về tổ chức và đang hoạt động hiệu quả.
Thành công bước đầu trong việc xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng đó là hàng năm, Quỹ đã huy động được nguồn lực hàng nghìn tỷ đồng từ xã hội để đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tổng số tiền thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng toàn quốc tính đến ngày 30/12/2016 là 6.510,7 tỷ đồng. Trong giai đoạn 5 năm 2011 - 2015, tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm thu được bình quân 1.200 tỷ đồng. Số tiền này tương đương với 22% tổng đầu tư bình quân năm của toàn xã hội cho ngành Lâm nghiệp. Đây là nguồn tài chính ổn định, bền vững và có khả năng sẽ tiếp tục tăng cao do khai thác các dịch vụ môi trường rừng, góp phần làm giảm đầu tư ngân sách nhà nước cho ngành lâm nghiệp.
Trên cơ sở đó, ngày 2/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 147/2016 (Nghị định 147) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99, đây là căn cứ quan trọng để góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách trước đó. Đồng thời, việc tăng mức chi trả đối với các cơ sở thủy điện (từ 20 đồng/kwh lên 36 đồng/kwh) và cơ sở sản xuất nước sạch (từ 40 đồng/m³ lên 52 đồng/m³), góp phần gia tăng nguồn thu tiền dịch vụ môi trường rừng. Qua đó người dân, đặc biệt là những đồng bào dân tộc nghèo vùng sâu, vùng xa được hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách bảo vệ và phát triển rừng.
Với Nghị định 147, người dân sẽ được hưởng số tiền dịch vụ môi trường rừng nhiều hơn, điều kiện cuộc sống đảm bảo hơn và khích lệ họ đóng góp công sức bảo vệ rừng. Nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đã giúp cho các tổ chức quản lý bảo vệ 4,602 triệu ha rừng được hưởng dịch vụ môi trường rừng. Bên cạnh những nguồn thu chính từ thủy điện, nước sạch, du lịch, Quỹ cũng đang tiến hành thí điểm những nguồn thu dịch vụ môi trường rừng mới như từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sắp tới là dịch vụ hấp thụ lưu trữ các bon.
Từ những kết quả thí điểm quan trọng này, sắp tới Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam sẽ tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định áp dụng rộng rãi trên cả nước, góp phần đa dạng hóa nguồn thu tiền dịch vụ môi trường rừng. Có thể nói, hoạt động cung ứng và chi trả dịch vụ môi trường rừng phù hợp với xu thế mới ở Việt Nam và xu thế chung của thế giới trong bảo vệ môi trường, góp phần quan trọng vào việc quản lý, khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên đất đai trong lâm nghiệp, phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước. Cùng với đó, góp phần cải thiện điều kiện sống, giải quyết việc làm cho hàng triệu người trên địa bàn rừng núi, thực hiện thành công chính sách giảm nghèo, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Với số tiền dịch vụ môi trường rừng thu được, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã đôn đốc các địa phương tiến hành chi trả cho các chủ rừng với số tiền đến nay là 5.024 tỷ đồng để các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức quản lý, bảo vệ 5,87 triệu ha rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc. Các địa phương được phép sử dụng gần 385 tỷ để hỗ trợ các chủ rừng xây dựng công trình lâm sinh phục vụ phát triển, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.
Từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều kết quả tích cực, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng và phát triển rừng, cũng như diện tích rừng bị thiệt hại trong giai đoạn 2011 -2015 giảm lần lượt là 32,9% và 58,2% so với giai đoạn 2006 - 2010. Hiện có hơn 500 ngàn hộ gia đình, cộng đồng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng qua hình thức chi trả trực tiếp và chi trả qua nhận khoán. Tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng bình quân chung trên cả nước khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm, góp phần nâng cao thu nhập, giảm khó khăn cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc. Mặc dù số tiền chi trả chưa lớn nhưng cũng là nguồn thu quan trọng cho các hộ gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa.
Ngoài ra, số tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần hỗ trợ chủ rừng kinh phí quản lý, bảo vệ rừng, nhất là các công ty lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên, các ban quản lý rừng đang gặp khó khăn về kinh phí và giúp người dân miền núi tăng thu nhập, nâng cao đời sống.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình tổ chức, hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng còn gặp một số khó khăn, tồn tại, như việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng vẫn còn thấp so với tiềm năng hiện có, ngoài những đối tượng đang triển khai thì các đối tượng khác như cơ sở công nghiệp, nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước từ rừng và dịch vụ hấp thu các bon chưa được thực hiện rộng rãi trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, tiền dịch vụ môi trường rừng thu từ các nhà máy thủy điện là 20 đồng/kwh và hiện nay là 36 đồng/kwh, thấp hơn nhiều so với giá trị dịch vụ môi trường do rừng tạo ra (giá trị giữ đất, giữ nước của rừng tính trung bình trên1 kWh dao động từ 63 - 368 đồng/kWh, trung bình là 214 đồng/kWh); tiền dịch vụ môi trường rừng thu từ các nhà máy sản xuất nước sạch là 52 đồng/m3, cũng thấp hơn nhiều so với giá trị dịch vụ môi trường rừng (giá trị dịch vụ môi trường rừng trong 1m3 nước sạch là 65 đồng). Trong khi thu nhập của các hộ gia đình từ dịch vụ môi trường rừng bình quân chung cả nước khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm là rất thấp, khó đảm bảo cuộc sống. Một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (nhà máy thủy điện, nước sạch và cơ sở kinh doanh du lịch) chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trả tiền, hoặc trả chậm, dẫn đến nợ đọng nhiều, ảnh hưởng đến kế hoạch thu, chi và quản lý, bảo vệ rừng của các tỉnh.
Về quy định pháp lý của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam chưa rõ ràng dẫn đến các địa phương vận dụng khác nhau, thiếu thống nhất; việc tự chủ tài chính còn hạn chế, do đó các Quỹ tỉnh gặp nhiều khó khăn trong tổ chức hoạt động. Mặt khác, tiền dịch vụ môi trường rừng là một nguồn tài chính mới, nhiều lãnh đạo, cán bộ chưa hiểu hết bản chất của tiền này, vẫn xem đây là một nguồn ngân sách nhà nước và vận dụng cơ chế quản lý ngân sách nhà nước vào quản lý, gây khó khăn trong việc quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Ông Nguyễn Bá Ngãi cho rằng, để tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trong thời gian tới, đề nghị Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi), trong đó bổ sung những nội dung liên quan đến Quỹ, cũng như chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; đề xuất Chính phủ cho phép và giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 05 trong năm 2018, cũng như sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn liên quan cho phù hợp với điều kiện thực tế, nhằm triển khai có hiệu quả Nghị định 147.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam sẽ tích cực đôn đốc các địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị định 147 cho các đối tượng liên quan và triển khai áp dụng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng mới. Đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành đảm bảo thu đúng, thu đủ các loại dịch vụ đã quy định đối tượng thu, mức thu; yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc việc thu nộp tiền dịch vụ môi trường rừng và các khoản đóng góp bắt buộc theo quy định trên phương tiện thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận của các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.
Ngoài ra, Quỹ sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách chi trả giải ngân kịp thời, đầy đủ đến các chủ rừng và hộ nhận khoán bảo vệ rừng, không để tồn đọng. Cùng với đó, Quỹ sẽ sớm hoàn thành dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng, làm cơ sở thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Ảnh Dân Tộc & Miền Núi 10.8) đầu trang(
Thực hiện Kế hoạch truyền thông năm 2017 của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân địa phương về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trong việc quản lý bảo vệ rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có hiệu quả, thúc đẩy các hoạt động phát triển sinh kế của các hộ gia đình, cá nhân; ngày 09/8/2017 tại Hội trường UBND xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng kết hợp tập huấn quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Tham dự Hội nghị Lãnh đạo UBND xã Đăk Na các tổ chức, đoàn thể của xã Đăk Na; Kiểm lâm địa bàn; Già làng, Thôn trưởng, các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, giao rừng và người dân trên địa bàn xã (100 người).
Tại Hội nghị, đại diện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tuyên truyền công tác quản lý, bảo vệ rừng và phổ biến chính sách chi trả DVMTR theo các Nghị định của Chính phủ: số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 và số 147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ; tình hình quản lý, bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn xã (Vai trò của nguồn lực tài chính trong phát triển sinh kế hộ gia đình, cá nhân; thông báo số tiền chi trả DVMTR của hộ gia đình, cá nhân được nhận trong năm 2016; Hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR; Giải pháp quản lý và bảo vệ rừng bền vững); tập huấn quản lý sử dụng tiền DVMTR trong phát triển sinh kế hộ gia đình, cá nhân (Giới thiệu một số loại hình phát triển sinh kế: hoạt động sản xuất nông nghiệp; hoạt động sản xuất lâm nghiệp; hướng dẫn bà con sử dụng tiền DVMTR trong phát triển sinh kế hộ gia đình). Với phương pháp có sự tham gia của người dân, bằng các hình thức làm bài tập nhóm, giới thiệu các nhóm tự lên trình bày, trao đổi trực tiếp người dân đã tham gia sôi nổi vào tất cả các nội dung.
Qua Hội nghị lần này, người dân trên địa bàn xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông đã phần nào hiểu rõ và nắm được cách thức áp dụng kiến thức được cung cấp vào việc quản lý và sử dụng tiền DVMTR có hiệu quả, góp phần phát triển sinh kế, quản lý bền vững tài nguyên rừng, qua đó giúp cho người dân gắn bó với rừng và bảo vệ rừng tốt hơn. (Quỹ Bảo Vệ & Phát Triển Rừng Kon Tum 10/8) đầu trang(
Vào thăm khu rừng gỗ quý rộng 3ha của ông Đinh Hữu Sinh (50 tuổi, ở thôn Tân Tiến, xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình), chúng tôi có cảm giác như mình đang lạc vào một khu rừng nguyên sinh với hàng trăm loại cây rừng thẳng tắp cao hàng chục mét, xanh ngút tầm mắt…
Sở hữu một khu rừng rừng trồng toàn giống cây gỗ rừng bản địa quý như lim, huỵnh, trầm gió… ông Đinh Hữu Sinh chỉ cần thu những sản phẩm phụ dưới tán rừng cũng đã có cuộc sống sung túc.
Ông Sinh kể: Trước đây cũng như bao người dân xã Cao Quảng khác, ông vốn là một “lâm tặc”. Thời đó, cuộc sống của gia đình dựa cả vào việc khai thác lâm sản trái phép của ông.
“Nhiều đêm đi rừng về rất mệt nhưng tôi vẫn không tài nào ngủ được. Cứ nhắm mắt lại là hình ảnh những cây rừng bị đốn hạ, những khu rừng vốn ken dày gỗ bị tàn phá đến hoang tàn cứ hiện về làm tôi cứ dằn vặt mãi. Cuối cùng tôi quyết định từ giã nghề “lâm tặc”, ông Sinh tâm sự.
Theo lời ông Sinh: Năm 1992, Nhà nước kêu gọi người dân phủ xanh đất trống đồi trọc, ông được giao 3ha đất rừng. Nhưng khác với mọi người ở thời điểm đó đều trồng rừng bằng các giống keo, tràm, ông Sinh quyết định đi kiếm các giống cây rừng bản địa về trồng. Và để có khu rừng toàn cây gỗ bản địa như hôm nay, ông đã mất gần 20 năm trồng và chăm sóc. “Ngoài lợi ích kinh tế, tôi còn muốn giữ lại cho muôn đời sau một cánh rừng tự nhiên như vốn có, dù đó chỉ là một khu rừng rất nhỏ…”, ông Sinh chia sẻ.
Hiện trong khu rừng của ông có nhiều cây gỗ như lim, huỵnh… mà nếu cưa lấy gỗ bán cũng đã thu được từ 30 đến 50 triệu đồng/cây. Nhiều người chơi cây cảnh cổ thụ muốn mua những cây lội, cây sưa với giá hàng chục triệu mỗi cây nhưng ông Sinh không bán. Bởi ông tâm niệm, “Đó là vốn liếng mà tui muốn để dành cho con cháu mai sau!”.
Tuy không bán gỗ rừng, nhưng nhiều năm qua gia đình ông Sinh có cuộc sống sung túc từ việc thu sản phẩm phụ của khu rừng này. Dưới tán rừng, ông đưa giống cây dứa (thơm) vào trồng - loại cây mà theo ông Sinh trồng dưới tán rừng rất phù hợp, vừa giữ đất khỏi bị xói lở, tránh cây dại, bình quân đưa về cho gia đình ông nguồn thu hơn 10 triệu đồng/năm.
Bên cạnh đó, để giữ đất và đỡ mất công phát cỏ, cây dại, ông Sinh còn vào rừng đào những cây dược liệu như: Giảo cổ lam, hà thủ ô, thổ phục linh, bổ cốt toái, cây lá vằng; các loại cây có thể sử dụng làm rau như: Lá trơng, lá bứa, rau tớn… về trồng và chăm sóc. Sản phẩm được các thương lái tìm vào đến nhà mua với số lượng không hạn chế.
Ngoài việc trồng rừng gỗ quý, tận dụng đất rừng, ông Sinh còn chăn nuôi thêm bò, gà thả vườn và trồng nhiều loại cây ăn quả như cam, mít… làm nấm lim, mật ong rừng, đặc biệt là hàng chục cây dẻ cổ thụ mỗi mùa cho thu hàng triệu đồng từ việc nhặt hạt...(Trang Trại Việt 10/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
8/8, Ủy ban châu Âu (EC) thông báo đã yêu cầu Ba Lan tôn trọng quyết định của Tòa công lý châu Âu (ECJ) về việc ngừng khai thác cây trong khu rừng nguyên sinh Bialowieza - di sản thế giới được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận. Theo phóng viên TTXVN tại Brussels, Phó Chủ tịch EC Frans Timmermans và Ủy viên phụ trách môi trường Karmenu Vella đã gửi thư tới các quan chức Ba Lan, yêu cầu nước này bảo đảm tôn trọng các biện pháp tạm thời của ECJ liên quan đến việc khai thác khu rừng nguyên sinh Bialowieza.
Sau đề nghị khẩn cấp của EC, cuối tháng 7, ECJ đã yêu cầu Ba Lan ngừng chặt cây trong khu vực di sản thiên nhiên được bảo vệ, một trong những khu rừng nguyên sinh lớn cuối cùng của châu Âu, trong khi chờ đợi tòa đưa ra quyết định cuối cùng về đơn kiện được EC trình lên ngày 13/7. Một nguồn tin EC đánh giá các thủ tục pháp lý này có thể dẫn đến những hình phạt tài chính chống Ba Lan. EC đang theo dõi tình hình tại Ba Lan với mối quan ngại sâu sắc và đánh giá tính cấp bách của vụ việc.
Tuy nhiên, hiện Bộ Môi trường Ba Lan vẫn phản ứng lại quyết định của ECJ, theo đó Warsaw sẽ tiếp tục khai thác gỗ đồng thời khẳng định việc này là hợp pháp.
Ba Lan lập luận rằng chặt cây là một trong các biện pháp ngăn chặn sự tấn công của sâu đục thân gỗ. Ngược lại, EC cho rằng các biện pháp mà chính quyền Ba Lan đang thực hiện sẽ đe dọa sự tồn tại của hệ động thực vật hoang dã của nước này. (Vietnam+ 8/8) đầu trang(
Loại mìn mới của Nga có thể giúp dập tắt các đám cháy rừng và trung hòa các chất hóa học độc hại từ khoảng cách ba km.
Các nhà khoa học thuộc Đại học Perm của Nga mới phát minh ra một loại mìn đặc biệt dùng để dập tắt các đám cháy rừng, Sputnik ngày 5/8 đưa tin.
Theo các chuyên gia Nga, loại mìn này được làm bằng nhiều hoạt chất khác nhau, trong đó aluminium là thành phần chủ yếu. Khi mìn được ném ra, các hoạt chất này được giải phóng và dập tắt các đám cháy rừng đang lan nhanh.
Điểm đặc biệt của loại mìn này là có thể dập tắt các đám cháy nhỏ từ xa, giúp giảm thiểu rủi ro và nguy cơ đối với lực lượng cứu hỏa, cũng như hạ thấp chi phí hoạt động của Bộ các tình trạng khẩn cấp của Nga.
"Đối với các khu vực khó tiếp cận. Phương pháp cứu hỏa truyền thống đòi hỏi sự tham gia của lực lượng nhảy dù, xây dựng các tuyến đường xung quanh khu vực cháy cũng như máy bay có người lái. Trong khi đó loại mìn mới có thể thả được từ thiết bị bay không người lái", một nhà khoa học tham gia dự án phát triển mìn tuyên bố.
Ngoài tác dụng chữa cháy, loại mìn mới cũng được sử dụng để trung hòa các khí độc hại trong các trường hợp rò rỉ hóa chất. (VnExpress 10/8)đầu trang(./.
|
|||