|
Ngày 11 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Lợi dụng lúc vắng người, các đối tượng trên đã tổ chức nhiều người đến khống chế bảo vệ, cướp xe công nông cùng toàn bộ lâm sản rồi tẩu tán.
Đại tá Đặng Quốc Vượng, Trưởng Công an huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) cho hay, ngày 30/7 cơ quan điều tra Công an huyện Hương Khê đã ra Quyết định số 44, khởi tố vụ án cướp đoạt tài sản theo điều 133 Bộ luật Hình sự; quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với 4 đối tượng, Trần Cơ Thạch (SN 1996), Nguyễn Văn Sơn (SN 1978), Trần Trọng Thái (SN 1993) ở xóm 4 và Nguyễn Văn Nhàn (SN 1986), xóm 7 thuộc xã Hương Lâm, Hương Khê.
Trước đó, vào lúc 22 giờ ngày 24/7, Hạt kiểm lâm Hương Khê phối hợp với lực lượng an ninh xã Hương Lâm, tổ chức tuần tra bảo vệ rừng.
Trên đường tuần tra lực lượng đã phát hiện xe công nông chở một khối lượng gỗ lớn do lái xe Trần Trọng Thái điều khiển. Qua kiểm tra số lâm sản trên, đều không có dấu búa kiểm lâm, không có bất kỳ một loại giấy tờ gì để chứng minh.
Lái xe buộc phải khai nhận, số gỗ này vận chuyển giúp cho ông Nguyễn Văn Toàn ở xóm 5 trong xã. Sau khi kiểm tra đo đếm trên xe bao gồm 15 hộp gỗ với khối lượng 2,124 m3 thuộc gỗ nhóm 2-4, lực lượng tuần tra lập biên bản, đồng thời áp tải số lâm sản nói trên về tập kết tại trụ sở UBND xã.
Đến khoảng 2 giờ ngày hôm sau (25/7), lợi dụng lúc vắng người, các đối tượng trên đã tổ chức nhiều người đến khống chế bảo vệ, cướp xe công nông cùng toàn bộ lâm sản rồi tẩu tán.
Thượng úy Trần Minh Hào, người trực tiếp thụ lý hồ sơ vụ án cho rằng, đây là một trong những vụ án cướp lâm sản cần phải được xử lý nghiêm. Cũng theo thượng úy Hào, hiện còn đối tượng Trần Văn Lợi liên quan đến vụ án đang bỏ trốn khỏi địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/8; Sài Gòn Giải Phóng 11/8) đầu trang(
Mỗi năm cả nước mất hơn 1.780 ha rừng ngập mặn là con số được Th.S Nhữ Văn Kỳ, Vụ Phát triển rừng - Tổng cục Lâm nghiệp, đưa ra tại diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp vừa được tổ chức tại Cà Mau.
Theo Th.S Kỳ, bờ biển nước ta có chiều dài khoảng 3.264 km qua 29 tỉnh/thành phố, với tổng diện tích vùng ven biển (gồm các xã tiếp giáp bờ biển và các xã chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng biển, triều cường) là 1,6 triệu ha, chiếm 4% diện tích tự nhiên, dân cư sinh sống chiếm trên 10% dân số cả nước.
Ở thời điểm năm 1943, tổng diện tích rừng ngập mặn toàn quốc là 408.500 ha, nhưng hiện tại chỉ còn 166.000 ha (mất đi hơn 242.000 ha, chiếm gần 60%). Nguyên nhân chủ yếu là do nạn phá rừng làm đầm nuôi tôm tự phát, quảng canh, chuyển mục đích sử dụng đất sang nuôi trồng thủy sản; thảm họa thiên nhiên như gió bão tàn phá rừng, sạt lở đất bờ biển, bờ sông. Đặc biệt là những tác động biến đổi khí hậu và nước biển dâng...
Theo Th.S Trần Thanh Cao (Viện Khoa học lâm nghiệp Nam bộ), cần thực hiện 3 nhóm giải pháp kỹ thuật là giám sát sức khỏe rừng, nuôi dưỡng rừng và sử dụng rừng ngập mặn bền vững. Muốn vậy, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thủy sản, lâm nghiệp, giao thông thủy, công trình cảng, du lịch, tài nguyên môi trường... và sự đồng thuận cũng như tham gia tích cực của cộng đồng cư dân ven biển.
ThS Cao cũng đưa ra một số mô hình quản lý, sử dụng rừng bền vững như khoán bảo vệ rừng với nhiều chính sách ưu đãi ở Cần Giờ (TP.HCM); đồng quản lý rừng ở Sóc Trăng; khoán bảo vệ rừng kết hợp nuôi thủy sản ở Cà Mau; khoán rừng và đất rừng cho các cộng đồng ở Kiên Giang…
Theo TS Phan Huy Thông - Giám đốc Trung tâm khuyến nông quốc gia, rừng ngập mặn có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ đối với người canh tác rừng mà nó còn có tác động rất lớn đến vấn đề sinh quyển, môi trường, an ninh quốc gia...
Do đó, các cơ quan chức năng địa phương cần có những chính sách, biện pháp, những hành động cụ thể để bảo vệ và khai thác rừng hiệu quả. Đặc biệt, chú trọng tuyên truyền, tập huấn để nâng cao ý thức của người dân trong việc khai thác bảo vệ rừng. (Thanh Niên 11/8, tr10) đầu trang(
Vào lúc hơn 10 giờ sáng 9-8, qua kiểm tra, Đội Cảnh sát kinh tế, Công an huyện Hướng Hóa phát hiện 30 thanh gỗ giáng hương (nhóm 1), khối lượng quy tròn hơn năm m3, được tập kết tại bờ sông Sê Pôn, thuộc thôn A Ho, xã Thanh, huyện Hướng Hóa.
Qua điều tra, công an làm rõ toàn bộ số gỗ trên là của Mai Văn Lâm, 41 tuổi, trú tại thôn Tân Sơn, xã Tân Lập (Hướng Hóa).
Mai Văn Lâm khai nhận, mua số gỗ trên từ Lào vận chuyển về địa bàn xã Thanh cất giữ, sau đó đưa về TP Đông Hà tiêu thụ. Vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ. (Nhân Dân 9/8; An Ninh Thủ Đô 11/8, tr2) đầu trang(
Cơ quan công an huyện Quế Phong vừa triệu tập 2 nghi can Thuận và Thế Anh (cùng trú tại thôn 3, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong) để điều tra về vụ việc hành hung ông Lưu Nhật Thành - Hạt phó Hạt kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt, kiêm Trạm trưởng trạm bảo vệ rừng Thông Thụ vào tối 4/8.
Ông Nguyễn Danh Hùng - Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cho biết Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn đã kết hợp với Công an huyện Quế Phong tiến hành thu giữ số gỗ lậu mà 2 đối tượng Thuận và Thế Anh nhận vận chuyển. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/8) đầu trang(
Chiều 10-8, ông Hồ Hoàng Nghiệp - chủ tịch UBND xã Tiến Thủy - cho biết địa phương đang phối hợp với lực lượng kiểm lâm tiến hành kiểm tra diện tích rừng thông phòng hộ trên địa bàn bị lửa thiêu cháy.
Theo ông Nghiệp, khoảng gần 11g trưa 9-8, một ngọn lửa lớn bất ngờ bùng phát tại rừng thông thuộc địa phận thôn Minh Sơn, xã Tiến Thủy. Ngay sau đó, người dân địa phương đã báo cáo lên chính quyền và các cơ quan chức năng.
Nhận được tin báo, UBND huyện Quỳnh Lưu đã huy động hàng trăm người, bao gồm lực lượng kiểm lâm, bộ đội biên phòng, quân đội, dân quân tự vệ địa phương và người dân đến để dập tắt đám cháy.
Tuy nhiên, do địa hình đồi núi dốc, đám cháy lại diễn ra vào thời điểm giữa trưa, gió thổi mạnh nên việc dập lửa gặp nhiều khó khăn.
Đến cuối chiều 9-8, đám cháy tiếp tục lan rộng sang rừng thông phòng hộ thuộc địa bàn xã Quỳnh Nghĩa.
Ngay trong đêm, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng 144, dân quân tự vệ, người dân đã phát băng cản lửa nhằm không để đám cháy lây lan. Khoảng 8g sáng 10-8, đám cháy cơ bản được khống chế.
Chính quyền địa phương 2 xã Tiến Thủy và Quỳnh Nghĩa đang cử lực lượng túc trực tại những nơi xảy ra cháy để kiểm tra, theo dõi tránh đám cháy bùng phát trở lại.
Theo thống kê ban đầu, có hơn 30ha rừng thông phòng hộ tại 2 xã Tiến Thủy và Quỳnh Nghĩa bị lửa thiêu rụi. (Thanh Niên 11/8, tr10; Nông Nghiệp Việt Nam 11/8, tr12) đầu trang(
Từ 10g sáng 9/8, các ngành chức năng tỉnh Bình Định đã huy động trên 700 cán bộ, chiến sĩ các ngành: kiểm lâm, công an, bộ đội, dân quân tự vệ cùng nhân dân địa phương tham gia dập ngọn lửa dữ trên núi Bà Hỏa (TP Quy Nhơn-Bình Định).
Nhưng đám cháy vẫn hung hãn hoành hành trước sự bất lực của lực lượng chữa cháy, đến 2g sáng ngày 10/8 ngọn lửa mới được dập tắt.
PV NNVN có mặt tại hiện trường trong đêm 9/8 ghi nhận, ngọn lửa bốc cháy dữ dội tại nhiều khu vực núi Bà Hỏa , cả 1 góc TP Quy Nhơn (Bình Định) sáng bừng, bụi bay ngập trời, những con phố nằm xa núi Bà Hỏa cũng ngập ngụa bụi. Các lực lượng chữa cháy dù đã dồn mọi nỗ lực dập lửa nhưng do địa hình dốc, gió thổi mạnh khiến ngọn lửa ngày càng bùng lên dữ dội hơn khiến cho các lực lượng khó tiếp cận để dập dập lửa.
Đại tá Trần Thanh Sơn, Phó Chỉ huy trưởng-Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định, cho biết: “Sau khi nhận được báo cáo của Ban Chỉ huy quân sự TP Quy Nhơn, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo UBND TP Quy Nhơn làm tham mưu cho các cấp đảng ủy, chính quyền điều động lực lượng tại chỗ để tham gia chữa cháy”. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, gió to nên đám cháy vẫn hung hãn hoành hành.
13 giờ chiều 9/8, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh điều động các lực lượng tham gia chữa cháy rừng. Đến thời điểm này, các lực lượng tham gia chữa cháy lên đến trên 700 cán bộ, chiến sĩ. Tại núi Bà Hỏa ngọn lửa vẫn không giảm. Lúc này, ngoài vận dụng hết lực lượng hiện có, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh còn đề nghị với quân khu điều động thêm các lực lượng liên quan ứng cứu với quyết tâm dập lửa ngay trong đêm.
Đại tá Trần Thanh Sơn cho biết thêm: “Trong khi ngọn lửa cháy lớn ở khu vực đỉnh núi, biện pháp chủ yếu là lập các đường ranh để ngăn lửa cháy lan từ trên đỉnh núi xuống các khu vực nhà dân”. Tuy nhiên, lực lượng chữa cháy của quân đội gặp khó khăn khi vật dụng chữa cháy chỉ là rựa, dao dùng để phát tuyến và dùng cành lá cây dập lửa. Ngay trong đêm, nhiều lực lượng ở các huyện Phù Mỹ, Phù Cát, thị xã An Nhơn cùng lực lượng của Bộ Quốc phòng cũng đã đến hỗ trợ việc chữa cháy. “Với tinh thân quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng tham gia, đến 2g sáng ngày 10/8 ngọn lửa đã được dập tắt”, Đại tá Trần Thanh Sơn, nói.
Từ đầu giờ chiều ngày 9/8, thấy đám cháy ngày càng dữ dội nên nhiều hộ dân sống dưới chân núi Bà Hỏa đã thu dọn những vật dụng quan trọng trong gia đình như: ti vi, tủ lạnh, máy giặt... để sẵn sàng di dời nếu ngọn lửa tấn công đến. Thậm chí, nhiều hộ dân có nhà ở sát chân núi Bà Hỏa đã tiến hành di dời đồ dùng quan trọng và trẻ nhỏ đến nhà người thân.
“Tôi sống ở khu vực này cũng đã hơn 10 năm nay nhưng chưa khi nào thấy một vụ cháy rừng khủng khiếp đến thế này. Mọi năm ở đây cũng có cháy rừng, mà chỉ cháy sơ sơ thôi không lo gì hết. Lần này cháy từ sáng đến tối khuya vẫn còn cháy. Ngọn lửa cháy lan khắp cả ngọn núi, những hộ dân sống gần núi Bà Hỏa hoảng quá, phải chuyển đồ đến nhà người thân cho an toàn. Nhà tôi cũng vậy. Những đứa cháu nhỏ cũng được đưa đến nhà người thân lánh nạn”, ông Nguyễn Bách (60 tuổi), ở tổ 9, KV 8, phường Ngô Mây, cho biết.
Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lê Hữu Lộc đã trực tiếp có mặt tại hiện trường để chỉ đạo công tác chữa cháy. “Nhờ chúng tôi điều động các lực lượng công an, quân đội, kể cả cả lực lượng công an, quân đội của Bộ đóng trên địa bàn tỉnh tập trung chữa cháy nên ngọn lửa mới được dập tắt, không lan xuống khu dân cư. Ngay trong thời điểm ngọn lửa đang hung hãn, chúng tôi đã chỉ đạo di dời một số hộ dân ở những khu vực có thể bị lửa uy hiếp để đảm bảo an toàn tính mạng”. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/8; Nông Thôn Ngày Nay 10/8; Thanh Niên 10/8) đầu trang(
Chủ quan dùng lửa đốt thực bì, ông Nguyễn Minh Khâm cùng vợ là bà Nguyễn Thị Một (ngụ ở thôn 4, xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức) bị bỏng và ngạt thở phải nhập viện. Đám lửa gặp gió lan rộng gây cháy lớn, ước khoảng gần 30ha rừng đã bị thiêu rụi.
Lúc 11h30, đám cháy từ phần rừng đã thu hoạch bắt đầu lan sang các cánh rừng keo tươi, ngọn lửa từ ngọn đồi này vượt sang ngọn đồi khác, các xe cứu hỏa liên tục được huy động để dập lửa, không để đám cháy lây lan.
Ông Lê Nở, một hộ trồng keo gần đó vẫn chưa hết bàng hoàng: “Sáng nay ông Khâm và bà Một đi đốt thực bì, thấy khói bốc lên thì chúng tôi hớt hải chạy lên núi, tới nơi thì hai ông bà đã bị bỏng ở mặt và ngất xỉu. Sau đó chúng tôi đưa hai vợ chồng đến bệnh viện rồi “bớ làng” để bà con chạy lên dập lửa”.
Ông Đặng Văn Sương - Phó công an xã Đức Chánh cho biết, rừng Văn Bân (thôn 4, xã Đức Chánh) thời gian gần đây hay xảy ra các vụ cháy nhỏ do người dân đốt thực bì. Công an xã đã phối hợp với thôn tuyên truyền cho người dân dọn thực bì ngay khu thu hoạch đề phòng hỏa hoạn nhưng nhiều người vẫn chủ quan.
Theo ông Sương, đây là vụ cháy lớn, gây hậu quả nghiêm trọng nhất từ trước đến nay ở rừng Văn Bân, nguyên nhân là thực bì đã khô sau nhiều ngày thời tiết nắng nóng, cộng với gió xoáy thổi mạnh. Các đám cháy trước đây phần lớn do người dân gây ra rồi tự dập lửa, nhưng đám cháy này đã ngoài vòng kiểm soát.
Chưa có thống kê đầy đủ về thiệt hại do vụ cháy, nhưng theo các chủ hộ trồng keo thì tổng cộng 30ha đã bị lửa thiêu rụi, bao gồm rừng đã thu hoạch và rừng keo chưa thu hoạch.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút, đám cháy đã bị dập tắt. (Lao Động 9/8) đầu trang(
Chiều 10.8, tại khu vực núi Nhạn, phường 1, ở trung tâm TP.Tuy Hòa xảy ra một vụ cháy, gây thiệt hại hơn 1.226 m2 rừng, ảnh hưởng đến nhiều loại cây đặc hữu trồng tại vườn thực vật núi Nhạn thuộc vườn thực vật Núi Nhạn.
Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Yên, khoảng 14g cùng ngày, người dân ở khu phố 1 và khu phố 2 nghe một tiếng nổ lớn, sau đó một cột khói lớn bốc lên tại đỉnh núi Nhạn.
Sau đó, lực lượng chức năng đã huy động 4 xe chữa cháy, hơn 20 chiến sĩ cùng cán bộ, viên chức và người dân địa phương đến hiện trường khống chế ngọn lửa. Nhờ vậy, các khu dân cư xung quanh không bị ảnh hưởng từ vụ cháy này.
Lực lượng chức năng đang điều tra làm rõ vụ việc. (Lao Động 10/8) đầu trang(
8.8, Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm đã bất ngờ kiểm tra một quán ăn tại tổ 13, thị trấn Lộc Thắng và đã phát hiện tại đây một số thịt thú rừng đông lạnh.
Kết quả kiểm tra cho thấy, vào thời điểm sáng ngày 8.8, chủ cơ sở (quán ăn) này là ông Dương Văn Bắc có trữ trong tủ lạnh 3kg chim sẻ, 2,4kg dúi và 1kg cheo cheo.
Cơ quan chức năng đã lập biên bản vi phạm đối với ông Dương Văn Bắc và chiều cùng ngày đã tiêu hủy toàn bộ số thịt đông lạnh có nguồn gốc từ động vật rừng hoang dã này. (Báo Lâm Đồng 8/8) đầu trang(
7/8, Ban điều hành Đề án 1 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với UBND xã Trí Phải, huyện Thới Bình tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và gây nuôi động vật hoang dã cho cán bộ và hộ kinh doanh, gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn xã.
Các học viên tham dự buổi tuyên truyền được báo cáo viên của Ban điều hành Đề án 1 triển khai các văn bản pháp luật có liên quan về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã. Hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký gây nuôi và các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã, đồng thời phổ biến cách thức gây nuôi cá sấu nước ngọt, trăn đất và một số loài động vật hoang dã cấm khai thác tại địa phương.
Được biết, huyện Thới Bình có hộ gây nuôi động vật hoang dã nhiều nhất trong tỉnh với trên 1.000 hộ, cá thể gây nuôi nhiều nhất là cá sấu và trăn. Thời gian qua, nhiều hộ gây nuôi chưa đến đăng ký với cơ quan chức năng gây khó khăn cho việc kiểm tra tổng đàn.
Qua buổi tuyên truyền này giúp cho hộ dân gây nuôi và kinh doanh động vật hoang dã trên địa bàn xã nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã, góp phần bảo tồn, phát triển số lượng động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh; đồng thời nâng cao năng lực, nhận thức cho đội ngũ thực thi pháp luật trên địa bàn xã. (Đài PTTH Cà Mau 8/8) đầu trang(
Ông Trần Thanh Tâm, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình cho biết, từ đầu năm đến nay, lực lượng Kiểm lâm tỉnh đã phát hiện và lập hồ sơ xử lý đối với 19 vụ vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép trên địa bàn, với tổng số tiền trên 1,8 tỷ đồng.
Theo ông Tâm, hầu hết các vụ vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép diễn ra trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đều là những vụ vận chuyển, buôn bán lâm sản không có giấy tờ hoặc không đúng chủng loại. Trong đó, chủ yếu là động vật hoang dã và gỗ thuộc loại quý hiếm.
Qua công tác kiểm tra, kiểm soát, lực lượng Kiểm lâm đã tịch thu 1.132,5kg động vật hoang dã, trong đó động vật quý hiếm là 1.079,5kg, xử phạt vi phạm hành chính và tịch thu tài sản với tổng giá trị trên 1,8 tỷ đồng.
Điển hình là ngày 28/3/2014, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an tỉnh tiến hành kiểm tra, thiết lập hồ sơ vụ vận chuyển trái phép động vật rừng gồm 197,3kg tê tê với tổng giá trị 586,6 triệu đồng. Sau khi bị lực lượng chức năng phát hiện và lập hồ sơ xử lý, đối tượng đã bỏ trốn và bỏ lại số tài sản trên.
Bên cạnh đó, lực lượng Kiểm lâm tỉnh cũng đã phát hiện và xử lý 31 vụ phá rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh, chuyển hồ sơ cho cơ quan Công an xử lý 2 vụ.
Ông Tâm cho biết, thủ đoạn vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép của các đối tượng ngày càng tinh vi, việc kiểm tra, kiểm soát gặp rất nhiều khó khăn.
Các đối tượng buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép khi bị lực lượng chức năng phát hiện thường chống đối, không hợp tác hoặc bỏ trốn, nên việc xử lý người buôn bán vận chuyển cũng gặp nhiều khó khăn. (Thanh Tra 8/8) đầu trang(
Từ các dự án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, người dân miền núi vừa được hưởng lợi trực tiếp, vừa có trách nhiệm bảo vệ và phát triển vốn rừng tự nhiên.
Hàng loạt chính sách lớn của Nhà nước như chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ, đầu tư phát triển rừng đặc dụng theo Quyết định số 24/QĐ-TTg, ngày 1.6.2012 của Thủ tướng Chính phủ... gần đây đã mở ra cơ hội giảm nghèo bền vững cho các địa phương miền núi.
Cụ thể, tiền hỗ trợ trao tận tay hàng quý, năm; không gian sinh kế cho đồng bào được mở rộng; người dân được tiếp cận với các cách thức, mô hình phát triển kinh tế bản địa, dần thay đổi thói quen làm ăn lạc hậu...
Với sự ràng buộc chặt chẽ về các hành lang pháp lý, người dân không thể thờ ơ với khoảnh rừng đã được Nhà nước giao, khoán trắng. Mặc dù vẫn còn khá mới mẻ, nhưng người dân miền núi đã bắt đầu làm quen với những khái niệm về quyền lợi và trách nhiệm dân sự khi nhận các hợp đồng giao khoán, bảo vệ rừng.
Theo báo cáo của ngành kiểm lâm, tính đến cuối tháng 7, thông qua dịch vụ chi trả môi trường rừng, toàn tỉnh có 231 nhóm hộ gia đình với 4.384 hộ thuộc các xã huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Đại Lộc, Nông Sơn và Phú Ninh được nhận giao khoán bảo vệ 54.536ha rừng.
Chưa kể, cộng đồng dân cư trong vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh đã được hưởng lợi đầu tư phát triển vốn rừng đặc dụng. Trong khi đó, cán bộ làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học thì đã phủ xanh 65ha rừng nghèo tại vành đai thủy điện Sông Bung 4 đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Thêm nữa, dự án CarBi thí điểm tại hai huyện Đông Giang và Tây Giang đã góp phần cải thiện sử dụng bền vững rừng tự nhiên trên cơ sở phục hồi hành lang rừng và tạo sinh kế, việc làm, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Theo thống kê, dự án này đã tài trợ mở tài khoản ngân hàng lên đến tiền tỷ cho hàng trăm hộ dân nơi đây có vốn trồng rừng và bảo vệ gần 30 nghìn héc ta rừng tự nhiên.
Từng chính sách, chương trình, dự án tạo điều kiện tốt nhất để người dân an tâm giữ rừng đã có tác dụng theo kiểu... mưa dầm thấm lâu. Theo ông Từ Văn Khánh – Trưởng phòng Quản lý, bảo vệ rừng (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh), diện tích rừng đã có chủ, đặc biệt chủ rừng là nhóm hộ, mấy năm gần đây gần như không xảy ra nạn xâm hại tài nguyên rừng.
Trước đây, năm nào “giặc lửa” cũng thiêu rụi hàng trăm héc ta rừng phòng hộ, đặc dụng mà “thủ phạm” chính được xác định là người dân tùy tiện sử dụng lửa. Thế nhưng, mùa khô năm nay, toàn tỉnh chỉ thiệt hại gần 9ha rừng trồng, không bị cháy rừng phòng hộ, đặc dụng đã giao khoán, bảo vệ cho dân.
“Đồng bào bây giờ đã chuyển biến rõ rệt trong nhận thức bảo vệ rừng. Họ an tâm giữ và phát triển vốn rừng vì thấy được lợi ích trước mắt lẫn lâu dài. Thời gian đến, hàng loạt mô hình trồng cây, nuôi con dưới tán rừng tự nhiên; các hình thức đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm từ các dự án khả thi sẽ giúp đồng bào có thể lấy rừng nuôi rừng được...” – ông Khánh nói. (Báo Quảng Nam 8/8) đầu trang(
Những ngày qua, nhiều người dân huyện miền núi Sơn Hòa, Đồng Xuân đổ xô đến các khu rừng già La Hiên, Suối Mun, Chín Cụm, Trại Tôn thuộc xã Phú Mỡ (khu vực lâm phần của rừng phòng hộ huyện Đồng Xuân) để cưa, hạ cây xay hái trái.
Anh T. V. Th ở xã Sơn Định (huyện Sơn Hòa) vừa đi hái xay về, trong nhà chất 10 bao tải trái xay, còn trước nhà thì phơi kín sân. Anh Th giãi bày: “Chuyến đi trước tôi cùng mấy người trong xóm sáng sớm vượt đèo dốc vào vùng rừng Suối Mây (khu vực giáp ranh giữa xã Sơn Định với xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân) hái xay. Đến nơi thấy hàng chục xe gắn máy của những người hái xay để dọc theo bờ suối. Tôi đã hái 2 ngày ở khu vực đó nên lần này phải lên La Hiên “nằm rừng” 3 đêm mới về”.
Hiện khu rừng già La Hiên, Suối Mun, Chín Cụm, cây xay cao 10 đến 15m, có cây cao đến 20m, thẳng đuột như trụ điện nên không thể trèo lên hái được. Trước đây những người hái xay lâu năm nghĩ ra cách, hai người leo lên hai cây xay cạnh nhau rồi mỗi người nắm chặt đầu dây rừng, người bên này dùng sức kéo để cành cây bên kia quặt xuống nghiêng đụng vào cây xay rồi chuyền qua dùng rựa chặt nhánh.
Ông N. P.L, một người hái xay ở xã Xuân Quang 1 (huyện Đồng Xuân), phân trần: “Thân cây xay rất cứng, nhánh nhỏ bằng đầu gối, dùng rựa “cốt” (chặt) cả buổi mới gãy, còn nay dùng cưa máy chỉ trong 10 phút thì cưa tiện sát gốc cây đường kính cỡ 50cm. Tuy nhiên trước khi đi, mọi người mang theo nhiều lưỡi cưa vì cưa cây to cứng nên lưỡi cưa bị gãy liên tục”.
Cây xay cũng giống như cây ươi, năm nào nắng hạn thì được mùa sai trái, tuy nhiên khác với trái ươi khi gặp mưa thì nở ra, sau đó rụng cuốn, còn trái xay “đeo” trên cành đến khi chín khô. Thêm một đặc điểm là cây xay cao, thân thẳng so với các loại cây khác.
Theo kinh nghiệm của những người chuyên hái xay, khi cây xay đến tuổi ra trái thì vươn cao hơn các loại cây khác mọc bên cạnh và hướng theo ánh nắng mặt trời để ra trái. Dù cùng “được mùa trong nắng hạn” nhưng trái xay lại không giống trái ươi ở chỗ, trái ươi ra trái thòng xuống, còn trái xay hướng ngược lên trời, nằm trên những tán lá.
Anh L. V. Đ ở xã Xuân Phước (huyện Đồng Xuân), người đi hái xay ở khu rừng phòng hộ huyện Đồng Xuân, đúc kết: “Xay “giấu” trái trên tán lá vì vậy đứng dưới gốc cây nhìn lên rất khó thấy. Muốn biết cây xay có trái hay không, phải “dựa thế” các cây bên cạnh, leo lên cách 5m mới nhìn thấy trái, thế nhưng trái xay lại “mà mắt” nhiều người, không phân biệt được xay chín và xay xanh vì từ trái già đến trái non đều có màu đen nhẵn thín”.
Chính vì xay “giấu” trái trên tán lá và nay cũng không ai bỏ công sức leo lên trên cao nhìn có trái hay không mà dùng cưa máy cưa cây. Nhiều người gắng sức rồ máy cưa, khi cây ngã lại phát hiện trái xay còn non ợt nên bỏ đi tìm cây khác, mặc cho thân cây xay ở khu rừng phòng hộ chảy nhựa rồi khô dần.
Trái xay có 3 loại. Xay trâu có vỏ màu nhung đen, trái to bằng ngón tay cái, cơm ngọt. Loại xay bét có vỏ màu lông chồn đèn, ít ngọt hơn. Còn xay sẻ là loại có trái cỡ ngón tay út, hơi chua. Một bao xay trung bình nặng 30kg.
Ông N.V.D, một người hái xay ở xã Xuân Phước, xởi lởi: “Tốp của tôi 4 người, dỡ gạo, mang theo cá mặn lên ăn ngủ tại rừng sâu Suối Mun, Trại Tôn chứ ở ngoài này người ta cưa hết rồi. Ở đó 4 ngày hái 17 bao xay. Xay mõ (xay chín) thương lái mua 35.000 đồng/kg, còn xay vàng mơ (ruột màu xanh) thì 30.000 đồng/kg. Xay vàng mơ phơi cỡ 4 nắng thì thành xay mõ trộn lại bán chung, trừ hao hụt bán được trên 17 triệu đồng, chia ra mỗi người được 4 triệu đồng”.
Do cây xay sai trái, cho thu nhập cao nên nhiều người đổ xô vào rừng hái xay, vì vậy rừng xay rất hỗn độn và không lường trước hiểm nguy. Khi đến rừng xay, từng tốp người chia ra mạnh ai nấy cưa cho cây xay ngã xuống rồi “xí chủ”; có người khi đang cưa cây chưa kịp ngã thì cây người khác cưa bên cạnh ngã trước trúng hướng đè người. Mới đây, tại xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân) đã có người bị thương rất nặng vì bị cây xay đè.
Hơn 1 tháng trước, cũng tại khu rừng phòng hộ huyện Đồng Xuân, nhiều cây ươi bị đốn hạ không thương tiếc, nay hết mùa ươi thì nhiều người quanh vùng đổ xô vào rừng tiếp tục cưa hạ cây xay.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Lộc, Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Đồng Xuân, thừa nhận: “Trước thông tin nhiều người vào rừng phòng hộ Đồng Xuân cưa cây xay hái trái, lực lượng của ngành Kiểm lâm đã tiến hành kiểm tra và vừa bắt một số đối tượng.
Chúng tôi vào rừng nghe tiếng máy cưa, khi băng rừng đến nơi thì họ bỏ chạy, kiểm lâm không thể vào rừng sâu vì khu vực này rất rộng, trên 22.000ha, trong khi đó người hái xay đi đến các nơi xa hẻo lánh, đêm ngủ tại rừng. Khu rừng này vừa hết mùa ươi lại đến mùa xay, thế nhưng vì cây xay rất cứng nên họ chỉ cưa cây nhỏ, cây to cỡ người ôm không thể cưa được”. (Báo Phú Yên 9/8; Tin Tức 11/8, tr12) đầu trang(
Xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé có hơn 500 hộ, gần 3.200 nhân khẩu sinh sống tại 6 bản và 1 nhóm dân cư, trong đó dân tộc Mông chiếm 98%. Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên cuộc sống của người dân trong xã luôn gắn bó mật thiết với rừng.
Mọi hoạt động sản xuất đều phụ thuộc vào rừng. Chính bởi vậy mà công tác phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng hàng năm luôn được Đảng ủy, chính quyền xã đặc biệt chú trọng.
Xã Nậm Vì hiện có 3.000ha rừng gồm hai loại: rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Để chủ động bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy (PCCC) rừng, xã đã thành lập ban chỉ huy PCCC rừng gồm 24 thành viên và 6 tổ tự quản tại các bản gồm 60 thành viên.
Ban chỉ huy PCCC rừng, bảo vệ rừng của xã có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc phát dọn nương rẫy của bà con, nắm bắt và xử lý kịp thời khi có tình huống cháy rừng xảy ra trên địa bàn.
Đồng thời luân phiên cử các tổ, đội phối hợp với đội tự quản ở các bản tuần tra bảo vệ rừng, ngăn chặn kịp thời các hộ dân lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm nương trái phép. Bên cạnh đó chính quyền xã chỉ đạo bảo lâm xã, các trưởng bản phối hợp với kiểm lâm địa bàn, tổ chức các buổi tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và công tác PCCC rừng để người dân hiểu và có ý thức giữ rừng.
Song song với công tác tuyên truyền vận động, các phương án ứng cứu rừng cũng được xã Nậm Vì xây dựng cụ thể đề phòng tình huống xấu xảy ra; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên ban chỉ huy PCCC rừng như: dân quân, công an xã, các tổ đội tự quản... chủ động ứng cứu, tìm kiếm cứu nạn khi có cháy rừng xảy ra. (Báo Điện Biên Phủ 8/8) đầu trang(
Việt Nam là một trong các khu vực có đa dạng sinh học cao trên thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu, có giá trị và là một trong 13 quốc gia còn có hổ sinh sống trong tự nhiên.
Tuy vậy, cùng với sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế, các nguồn tài nguyên quý giá của tự nhiên dần bị cạn kiệt, nhiều loài động vật, thực vật hoang dã trở lên nguy cấp và bị đe dọa tuyệt chủng, đặc biệt là các loài thú lớn trong số đó có phân loài hổ Đông Dương.
Theo kết quả điều tra của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2011, số lượng hổ hoang dã của Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng, ước tính còn khoảng từ 27-47 cá thể tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, Vườn Quốc gia Pù Mát, Vũ Quang, Chư Mom Ray và Yok Đôn.
Hổ Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do hai nguyên nhân chính đó là bị săn bắt, buôn bán trái phép và mất sinh cảnh sống. Tình trạng săn bắt, buôn bán trái phép hổ và con mồi của hổ diễn ra phức tạp, khó kiểm soát. Đây từng là nguyên nhân chính làm suy giảm quần thể hổ và cũng là mối de dọa nghiêm trọng đối với hổ ở Việt Nam.
Việc mất sinh cảnh sống, trong đó có sự suy giảm con mồi của hổ do các hoạt động phát rừng lấy đất canh tác nông nghiệp, chuyển đổi đất rừng thiếu quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng là nguyên nhân chính tác động đến quá trình tuyệt chủng loài hổ. Bên cạnh đó, các hoạt động tác động đến rừng như khai thác gỗ, mở rộng nương rẫy, cháy rừng, phá rừng trồng cây công nghiệp, xây dựng thủy điện, đường xá, khai khoáng... đe dọa trực tiếp đến khả năng phục hồi quần thể hổ, con mồi của hổ.
Diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam giảm từ 43% những năm cuối thế kỷ 20 xuống còn 17% hiện nay, đã và đang đẩy nhiều loài thú lớn như voi, hổ, tê giác đến nguy cơ tuyệt chủng do thiếu thức ăn và nơi cư ngụ. Hiện trạng hổ hoang dã còn rất ít, phân bố rải rác thành các quần thể nhỏ, không có sự giao lưu, trao đổi di truyền có thể sẽ dẫn đến hiện tượng suy thoái nguồn gen.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn động vật, thực vật hoang dã nói chung, các loài thú lớn trong đó có hổ nói riêng, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ chương, chính sách kịp thời cụ thể. Từ năm 1963, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh về cấm săn bắt chim, thú rừng.
Đưa hổ và nhiều loài động vật, thực vật vào danh mục bảo vệ, quy hoạch hệ thống các khu rừng đặc dụng đại diện cho các hệ sinh thái rừng trên cả nước, đổi mới về thể chế, chính sách cũng như huy động nhiều nguồn lực cho bảo tồn thiên nhiên, song vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.
Trước hết là quan điểm bảo tồn có sự khác biệt, chưa thống nhất từ cấp độ quốc gia đến quốc tế. Ở cấp độ quốc tế, đa phần các quốc gia, các chuyên gia cho rằng việc gây nuôi sinh sản hổ không có lợi cho bảo tồn, mặt khác hoạt động này còn khuyến khích việc tiêu thụ, buôn bán hổ trái phép. Nhưng một số chuyên gia lại cho rằng việc nuôi hổ góp phần duy trì nguồn gen phục vụ tái thả tự nhiên, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó giảm áp lực lên săn bắn trái phép.
Đối với bảo tồn hổ tự nhiên, theo các chuyên gia quốc tế thì việc bảo tồn hổ lại là yếu tố quan trọng bảo tồn đa dạng sinh học. Ngoài ra, cũng có ý kiến không nên tập trung vào bảo tồn một loài nhất định, mà nên tiếp cận theo hướng bảo tồn đa dạng sinh học nói chung.
Mặt khác, việc thiếu nguồn lực con người, tài chính, ưu tiên trong công tác bảo tồn loài, đặc biệt đối với hổ. Hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào điều tra sâu về phân bố, tập tính, sinh thái của hổ trong tự nhiên. Thiếu các nghiên cứu về bảo tồn ngoại vi, cứu hộ, tái thả hổ lại tự nhiên.
Việc chồng chéo trong quản lý, các văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu các chế tài đủ mạnh, thiếu các quy định về tội phạm buôn bán hổ và các loài nguy cấp, quý hiếm. Thiếu quy hoạch cho bảo tồn hổ, mặc dù hổ là loài biểu tượng của văn hóa, là chỉ thị sức khỏe các hệ sinh thái nhiều khu rừng thuộc châu Á, nhưng hiện tại chưa có một khu bảo tồn loài cho hổ, hay các khu được quy hoạch cho phục hồi hổ tại Việt Nam.
Cơ chế hợp tác liên ngành, hợp tác quốc tế còn lỏng lẻo, thiếu sự tham vấn, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan thực thi pháp luật và cơ quan quản lý dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao, thiếu sự thuyết phục với cộng đồng quốc tế.
Việt Nam là quốc gia nằm trong tuyến đường trung chuyển hổ, nhưng các vụ bắt giữ gần đây thể hiện rằng không có sự liên lạc với các quốc gia láng giềng. Chính vì vậy, việc xác định các tổ chức, cá nhân liên quan đến buôn bán trái phép hổ rất khó khăn. Chưa có một khu bảo tồn liên biên giới được thiết lập. Việt Nam đã ký các thỏa thuận hợp tác với Lào, Campuchia, Trung Quốc ở nhiều cấp độ khác nhau. Song các thỏa thuận mới chỉ ở mức độ nguyên tắc chung mà thiếu các hoạt động triển khai trên thực địa.Hoạt động giáo dục, bảo tồn nói chung và hổ nói riêng đã được thực hiện từ lâu, nhưng công tác này thường chỉ được thực hiện đơn lẻ tại một khu vực nhất định, đối tượng nhất định và thiếu một chiến dịch dài hạn. Các chương trình bảo tồn loài, đa dạng sinh học hiện nay thường được xây dựng và tiến hành độc lập với các chương trình, dự án vùng đệm.
Các hoạt động bảo tồn động vật, thực vật hoang dã nhằm phục vụ lợi ích cộng động dân cư địa phương. Để bảo tồn hổ và các loài hoang dã khác không chỉ tập trung vào nghiên cứu khoa học, thừa hành pháp luật mà cần một cách tiếp cận tổng thể trong đó cộng đồng địa phương được xác định là nhân tố cốt lõi của bảo tồn thiên nhiên, do vậy cần có sự kết hợp, lồng ghép với các chương trình phát triển cộng đồng khác của Nhà nước đã và đang được thực hiện.
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XI về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đã xác định các nhiệm vụ đến năm 2020. Đó là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng."
Ngày 16/4/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 539 phê duyệt Chương trình quốc gia về bảo tồn hổ giai đoạn 2014-2022. Đây được coi là một sự tiếp cận tổng thể, một chương trình đồng bộ lâu dài, cần được ưu tiên, tập trung nguồn lực thực hiện các giải pháp mang tính khả thi trong thời gian tới.
Trước hết, phải xây dựng chương trình giám sát quần thể hổ và con mồi của hổ trong tự nhiên và hoạt động gây nuôi hổ; lồng ghép hoạt động quy hoạch các khu vực ưu tiên bảo tồn hổ với quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng. Tăng cường công tác đấu tranh với các tội phạm buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã; nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý và thực thi pháp luật về bảo tồn, bảo vệ hổ và con mồi của hổ.
Nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ; giáo dục tuyên truyền nhằm thực hiện các nội dung của Chương trình bảo tồn hổ. Ưu tiên thực hiện các nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới về quản lý, bảo vệ và giám sát hổ, con mồi của hổ như công nghệ viễn thám (GIS), công nghệ quét radar trong theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Khuyến khích các sáng kiến, giải pháp khoa học kỹ thuật trong nước về quản lý, bảo tồn, bảo vệ hổ, con mồi của hổ.
Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho công tác quản lý, bảo tồn hổ; xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện Chương trình. Bảo đảm kinh phí cho công tác quản lý, bảo vệ hổ, chú trọng đầu tư cho hoạt động bảo tồn hổ ngoài tự nhiên và đấu tranh, phòng ngừa hoạt động săn bắt, buôn bán, tiêu thụ hổ trái phép.
Nghiên cứu và áp dụng các cơ chế tài chính mới và bền vững để đầu tư, hỗ trợ cho quản lý, bảo tồn hổ và con mồi của hổ như cơ chế đồng quản lý rừng, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường. Giáo dục và nâng cao nhận thức và khuyến khích cộng đồng tham gia bảo tồn hổ.
Việc hợp tác với các nước, đặc biệt với các nước có chung đường biên giới để nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động buôn lậu hổ xuyên biên giới, cũng như đánh giá tính khả thi thiết lập khu bảo tồn hổ liên biên giới đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Đi đôi với thực hiện giải pháp tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan về quản lý, bảo vệ hổ, nhằm bảo vệ và bảo tồn loài hổ Đông Dương theo hướng bền vững và lâu dài. (VietnamPlus 8/8) đầu trang(
Ngày 8-8, tại TP.HCM đã diễn ra tọa đàm với chủ đề “Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền không sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam”.
Theo bà Teresa Telecky, Giám đốc Bộ phận Loài hoang dã của HIS, Việt Nam là một trong những nước bị bọn tội phạm buôn bán động vật hoang dã xem là trạm trung chuyển hàng và Việt Nam cũng bị coi là nước có nhu cầu sử dụng sừng tê giác tăng cao trong thời gian gần đây.
Mặc dù, kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh, tuy nhiên vẫn có những lời đồn thổi về công dụng chữa bệnh ung thư hoặc hạ sốt.
Thực chất, sừng tê giác có cấu tạo bằng chất “keratine”, hoàn toàn giống với móng tay của con người. Thậm chí, bà Teresa Telecky cho biết: Để giúp tê giác không bị săn trộm, người ta đã tiêm các hóa chất độc hại vào sừng tê giác. (An Ninh Thủ Đô 9/8, tr2) đầu trang(
Chỉ sau 9 năm gầy dựng, một cử nhân kinh tế từ bỏ chốn phồn hoa đô thị về quê học làm nông đã có trong tay gia tài chim sinh sản và chim quý hiếm với nguồn gien đặc hữu để bảo tồn đồ sộ nhất Việt Nam
Nhiều người từng gọi Trần Nhữ Giáp là “vua chim Việt” nhưng anh không thích thế. Anh chỉ tự nhận mình là gã nông dân có giấc mơ bay bổng trên đôi cánh các loài chim. GS Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch Hội Các ngành sinh học Việt Nam, nhận xét: “Giáp yêu chim đến kỳ lạ. Nhiều lúc tôi thấy anh giống một cánh chim điên mang giấc mơ siêu thực”.
Từ một trang trại nuôi chim và các loài thủy cầm quý hiếm, Vườn Chim Việt ở khu sinh thái xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội giờ đã mang dáng dấp một khu bảo tồn chim tư nhân lớn nhất Việt Nam. Ông chủ vườn Trần Nhữ Giáp vẫn giữ thói quen dẫn bạn bè, khách khứa đến tham quan đi một vòng quanh khu đất rộng gần 2 ha để giới thiệu về từng loại chim.
Mỗi loại chim là một câu chuyện về chặng đường gian nan mà anh Giáp đã trải qua để gây dựng nên vườn chim xôm tụ như bây giờ. Tốt nghiệp Trường ĐH Thương mại Hà Nội năm 2001, với sự nhạy bén thương trường, chàng thanh niên quê Hà Nam nhanh chóng trở thành một doanh nhân trẻ thành đạt sau khi thành lập công ty tư vấn cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Khi đã có trong tay vốn liếng cả chục tỉ đồng, Giáp vẫn không nguôi nhớ về ruộng đồng ở miền quê chiêm trũng, nơi có hàng bầy cò trắng bay thẳng cánh và những đàn chim ca hót líu lo. Như một quy luật khắc nghiệt của thương trường, doanh nhân trẻ Trần Nhữ Giáp phất lên vùn vụt nhưng cũng trắng tay nhanh chóng.
Với tính cách quyết đoán, Giáp tự mày mò học hỏi cách nuôi chim trĩ đỏ để thành lập trại giống. Đầu tư thêm cả trăm triệu đồng mua giống rồi đi một số nước tham quan mô hình nuôi trĩ đỏ sinh sản nhưng anh vẫn thất bại. “Đã vay mượn vài trăm triệu đồng để đầu tư vào cuộc chơi này nên tôi quyết định không dừng lại. Sau hơn 1 năm nuôi thử nghiệm, tôi đã nhân giống thành công hơn 100 con chim trĩ đỏ khoang cổ và hơn 20 chim công xanh Ấn Độ” - anh kể.
Khi đó, Giáp gặp không ít khó khăn vì trĩ đỏ là loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Để nuôi loại chim này, anh phải xin giấy phép của ngành kiểm lâm và rất nhiều loại giấy chứng nhận khác. Đến năm 2009, khi đã nhân giống được hàng ngàn con, anh mới có được tấm giấy chứng nhận thành lập trại nuôi chim trĩ đỏ.
Khi Giáp khởi nghiệp với đôi chim trĩ đỏ, người thân và bạn bè không ai nghĩ chàng cử nhân kinh tế từ bỏ phố thị về quê này có thể thành công. “Nhưng tôi vốn là kẻ mang giấc mơ chim trời. Nuôi chim, yêu chim nên có lẽ tôi cũng lãng mạn và bay bổng. Có nhiều thứ chính tôi cũng không tin là mình làm được, cho đến khi thành công và được các nhà khoa học hàng đầu ghi nhận” - anh tâm sự.
GS Võ Quý, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về động vật hoang dã, nhận xét: “Trần Nhữ Giáp là người có công đưa chim trĩ đỏ ra ngoài Sách đỏ. Không những thế, Giáp còn phổ biến kỹ thuật nuôi trĩ đỏ sinh sản, giúp nhiều nông dân thoát nghèo từ loài chim này”.
Tham vọng của Giáp không chỉ dừng lại ở trĩ đỏ. Sắp tới, anh tự tin sẽ đưa được cả chim công ra ngoài Sách đỏ Việt Nam. Ông chủ Vườn Chim Việt hào hứng: “Đó là sự khẳng định không chỉ với riêng tôi mà còn cho cả những người nuôi chim ở Việt Nam”. Từ 18 chim công giống, đến nay, anh đã nhân giống được hơn 600 con. Anh còn lai tạo ra những dòng mới như công ngũ sắc có 5 màu rất đẹp.
Chủ trang trại Vườn Chim Việt đã giúp nhiều địa phương như Quảng Ninh, Lào Cai, Vĩnh Phúc…thực hiện thành công mô hình nuôi chim sinh sản gồm công, sâm cầm, vịt trời... Hai trang trại của anh đã tạo việc làm cho 20 người, bảo đảm thu nhập ổn định. Vườn chim của Giáp có gần 5.000 cá thể trĩ đỏ, trĩ xanh, công, gà lôi trắng, vịt uyên ương, vịt trời, sâm cầm… - thuộc loại lớn nhất Việt Nam. Mỗi năm, anh đều sang Úc, Singapore, Thái Lan… học hỏi kỹ thuật nuôi chim về áp dụng cho trang trại của mình và hướng dẫn cho các hộ nông dân.
Một số loài chim mà nhiều người có lẽ đã biết tên nhưng phải đến trang trại của anh Giáp mới có thể nhìn thấy lần đầu. Sâm cầm là một trong số đó. “Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết “bầy sâm cầm nhỏ” vỗ cánh mặt trời khi miêu tả cảnh đẹp ở Hồ Tây của Hà Nội. Đây là loài chim di cư từ phương Bắc xuống nhưng sau nhiều năm bị săn bắn và tận diệt, chúng gần như không còn xuất hiện ở Hà Nội nữa” - GS Nguyễn Lân Dũng cho biết.
Anh Giáp hiện đã nuôi được sâm cầm sinh sản với hơn 100 con. Sâm cầm có giá trị kinh tế cao và là một vị thuốc nhưng để nuôi thành công, anh phải học hỏi mấy năm. “Trước đây, sâm cầm là vật phẩm tiến vua, chỉ dòng dõi quý tộc mới được thưởng thức. Thịt sâm cầm mềm, màu đỏ tươi, giàu đạm nên được coi là đại bổ và nhiều người săn đón. Để nhân được giống loài chim này, tôi phải đi nước ngoài học kỹ thuật nuôi rồi về áp dụng trong điều kiện Việt Nam” - anh kể.
Từ một thú chơi, với tất cả sự đam mê và tính cách không đầu hàng, giờ Trần Nhữ Giáp đã trở thành nhà điểu học am hiểu sâu sắc và có nhiều kiến thức thực tế về chim. “Tôi đánh giá rất cao việc Giáp cất công đi Singapore, Úc mang về nhiều giống loài chim cực kỳ quý hiếm để bảo tồn nguồn gien” - GS Võ Quý nhận xét. Những loài chim như hoàng hạc được Giáp đưa về có giá cả tỉ đồng với tuổi thọ lên đến 100 năm là một đóng góp quý với cả giới khoa học Việt Nam.
“Việc mang các loài chim quý về Việt Nam rất khó khăn vì nhiều nước không muốn đưa các nguồn gien quý ra ngoài. Tuy nhiên, sau khi trao đổi, các nhà khoa học, điểu học nước ngoài thấy tôi tâm huyết và nuôi chim với mục đích bảo tồn, nghiên cứu thì họ ủng hộ. Từ đó, rất nhiều loài chim mới xuất hiện ở Việt Nam” - anh Giáp tiết lộ. Vườn Chim Việt hiện đã có nguồn gien bảo tồn những loài quý hiếm như gà lôi trắng, trĩ “hoàng đế” - loài thường được vua chúa ngày xưa nuôi trong vườn thượng uyển, chim trĩ đỏ khoang cổ…
Trần Nhữ Giáp giới thiệu một đàn chim lạc hồng, còn được giới điểu học gọi là chim Việt - loài được in hình trên trống đồng, quốc bảo của Việt Nam nhưng lại rất ít người biết về nó.
Anh thổ lộ: “Tôi lấy tên loài chim này để đặt cho trang trại của mình. Người Việt có quyền tự hào về rất nhiều loài chim quý, đặc hữu nhưng vấn đề là chúng ta cần biết trân trọng, bảo tồn”.
Theo giáo sư sử học Lê Văn Lan, chim Lạc Việt xuất hiện trở lại mang một ý nghĩa lớn. “Chúng ta tự hào về nguồn gốc con Lạc cháu Hồng nhưng không mấy ai biết lạc là loài chim thế nào. Dù nghiên cứu sử học nhưng cũng phải đến khi xem loài chim đang được anh Giáp bảo tồn nguồn gien, chúng tôi mới hiểu thêm và có nhiều cứ liệu phục vụ nghiên cứu” - ông bày tỏ. (Người Lao Động 10/7, tr7) đầu trang(
Nhiều cựu chiến binh ở xã La Ngà, huyện Định Quán vừa bức xúc phản ánh tình trạng nhiều người ngang nhiên chặt phá rừng tại địa phương này. Những cánh rừng phòng hộ gỗ giá tỵ, tếch, săng lẻ... trù phú nay đã xơ xác, nham nhở, cháy sém.
PV được một số cựu chiến binh dẫn đường đến khu vực rừng phòng hộ thuộc ấp Mít Nài, xã La Ngà. Tại nơi này, từng vạt rừng phòng hộ dọc theo triền đồi bị đốn trơ trụi. Nhiều cây bị phạt từ gốc, bị đốt cháy khô và chết dần. Một số cây khác có dấu hiệu bị đổ độc chất vào gốc. Trên diện tích chưa đến 1 ha, có đến hàng trăm cây cao gần 20 m bị triệt hạ.
Từ chân đồi nhìn lên, khác với những cánh rừng phòng hộ vốn xanh tươi, rậm rạp vươn cao, nơi đây chỉ còn là khoảnh đất trơ trụi, xác xơ. Lên đến sườn đồi, hình ảnh đập vào mắt PV là cảnh rừng hoang phế, nhiều cây bị chặt hạ, cưa khúc, chất đống ngổn ngang. Trong vạt đồi trơ đất đỏ, hàng loạt gốc cây có đường kính 30-50 cm bị cưa ngang vẫn còn rỉ nhựa. Nhiều gốc cũ hơn bị đốt, lấp bùn đất để xóa dấu vết.
Cầm tập đơn phản ánh, cựu chiến binh Nguyễn Văn Vinh (ngụ ấp Mít Nài) cho biết tình trạng phá rừng đã xảy ra từ mấy tháng qua. Gần đây, nhiều lần người dân chứng kiến những người lạ mặt phá rừng nên đã gọi điện báo cho UBND xã nhưng chính quyền không mấy lưu tâm. “Cách đây khoảng vài tháng, người dân trong ấp đã bắt giữ những kẻ chặt phá rừng và cả xe chở gỗ đưa về trụ sở UBND xã. Sau đó, vụ việc được xử lý như thế nào người dân cũng không được biết” - ông Vinh kể.
Nhiều người dân cho biết mục đích chủ yếu của việc phá rừng là để lấy đất trồng cây ngắn ngày, đồng thời lấy gỗ. Tình trạng phá rừng diễn ra từ lâu, ai cũng thấy nhưng không hiểu sao các cơ quan chức năng lại không biết.
Hệ thống rừng phòng hộ tại tỉnh Đồng Nai được hình thành cách đây vài chục năm tại các khu vực ở huyện Định Quán, Tân Phú... Rừng được bảo vệ, gìn giữ bằng chính sách giao khoán cho người dân trồng các loại cây ăn trái xen canh.
Theo thông tin từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, nạn tàn phá rừng bùng phát từ đầu những năm 2000, đã có hàng chục ngàn cây bị tàn phá. Chỉ trong năm 2013, đã có tổng cộng gần 200 cổ thụ tại khu vực rừng phòng hộ được giao khoán cho người dân bị đầu độc bằng cách chặt sâu vào gốc và đổ thuốc diệt cỏ để cây chết dần.
Tại xã La Ngà, theo tìm hiểu của PV, diện tích rừng phòng hộ được giao khoán cho UBND xã. Năm 1994, xã La Ngà được thành lập, khoảng hơn 15 ha rừng phòng hộ được khoán hẳn cho những gia đình thân cận của các cán bộ xã trông giữ với nhiều quyền lợi đi kèm. Thế nhưng, lúc rừng bị tàn phá thì UBND xã cũng chẳng có biện pháp ngăn chặn.
Khi được PV thông báo cụ thể tình hình rừng bị tàn phá tại địa phương, bà Vũ Thị Thơ, Chủ tịch UBND xã La Ngà, chỉ nói ngắn gọn: “Chúng tôi đang báo cho Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán phối hợp nắm tình hình”. Bà Nguyễn Thị Thanh Yên, Chủ tịch UBND huyện Định Quán, cũng lạnh lùng: “Việc này không thể nói ngay được, cần phải có thời gian và lên lịch làm việc mới có thể nói cụ thể”.
Ông Phạm Minh Đạo, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, cho biết đối với rừng phòng hộ, sở có trách nhiệm quản lý chung, còn về trách nhiệm bảo vệ rừng trực tiếp thì đã giao khoán cho các đơn vị cụ thể, chẳng hạn các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ hoặc chính quyền huyện, xã...(Người Lao Động 9/8, tr10) đầu trang(
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn yêu cầu, từ nay đến cuối năm, các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Tại Hội nghị công tác bảo vệ và phát triển rừng khu vực Tây Nguyên năm 2014, tổ chức ngày 8/8, tại thành phố Buôn Ma Thuột, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn yêu cầu cùng với việc tập trung nắm thông tin, vùng trọng điểm về phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép, nhất là đối với khu vực rừng giáp ranh để có biện pháp xử lý kịp thời, các tỉnh Tây Nguyên cần rà soát các cơ sở chế biến, kinh doanh gỗ, thực hiện các biện pháp thống kê và kiểm tra xác định rõ nguồn gốc gỗ đối với các cở chế biến, kinh doanh gỗ.
Đồng thời, các tỉnh này cần sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức sản xuất lâm nghiệp, trọng tâm là đối tượng với các công ty lâm nghiệp theo đúng tính thần của Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp.
Ngoài ra, các tỉnh Tây Nguyên cũng chỉ đạo hoàn thành công tác trồng rừng thay thế (đạt kế hoạch 100%, với hơn 4.870ha) và chuẩn bị triển khai kế hoạch năm 2015 và những năm tiếp theo, hoàn thành công tác điều tra, kiểm kê rừng các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2013-2014.
Theo báo cáo về công tác bảo vệ và phát rừng khu vực Tây Nguyên, 7 tháng đầu năm nay, công tác quản lý bảo vệ rừng ở các tỉnh Tây Nguyên có nhiều tiến bộ, công tác phòng cháy, chữa cháy, chặt phá rừng, quản lý canh tác nương rẫy, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép… giảm nhiều so cùng kỳ này năm ngoái.
Chỉ riêng, số vụ vi phạm về phá rừng, canh tác nương rẫy trái phép từ đầu năm đến nay đã giảm 395 vụ, với diện tích bị phá giảm hơn 330ha so với cùng kỳ năm ngoái. Quản lý các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp sang mục đích khác và trồng rừng thay thế được triển khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Nhà nước…Tuy nhiên, các tỉnh Tây nguyên vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, trong đó, nghiêm trọng nhất là tình hình phá rừng, quản lý rừng giáp ranh ở các tỉnh Tây Nguyên. Cụ thể, việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép ở các địa bàn rừng giáp ranh ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi. Việc tổ chức triển khai thực hiện Quy chế phối hợp chưa cao, còn mang tính hình thức, công tác phối hợp xử lý vi phạm chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ, chưa sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, chưa bổ sung quy chế kịp thời.
Do đó, các khu rừng giáp ranh ở các tỉnh Tây Nguyên chủ yếu là loại rừng đặc dụng và phòng hộ còn gỗ quý hiếm, giàu trữ lượng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Một số vùng trọng điểm như khu vực rừng giáp ranh huyện Ma Đ’rắk (Đắk Lắk) giáp ranh với huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa) và huyện Sông Hinh (Phú Yên), huyện Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận) với huyện Di Linh và Đức Trọng (Lâm Đồng), huyện Ea Súp (Đắk Lắk) giáp ranh với huyện Chư Puh (Gia lai), Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Đắk Lắk) giáp ranh với huyện Krông Pa (Gia Lai)…
Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn chưa ngăn chặn có hiệu quả, chưa chỉ đạo quyết liệt xử lý các đối tượng “đầu nậu,” đường dây chuyên khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, xử lý các vụ án hình sự liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng còn chậm, trồng rừng đạt thấp, trồng rừng thay thế chậm triển khai.
Vì vậy, trong thời gian tới, các tỉnh Tây Nguyên sẽ sớm hoàn thành việc rà soát, đánh giá lại quy hoạch tổng thể rừng, xác định lâm phận ổn định từng vùng, từng địa phương làm cơ sở cho việc xác định tổ chức quản lý rừng và tái cơ cấu ngay sau khi kết thúc Tổng điều tra, kiểm kê rừng vào năm 2015.
Đồng thời, các địa phương tổ chức rà soát thực trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp để điều chỉnh những diện tích bất hợp lý, thống nhất giữa quy hoạch rừng trên bản đồ và trên thực địa, giữa ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với ngành Tài nguyên và Môi trường…
Ngoài ra, các tỉnh Tây Nguyên sẽ kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác, xử lý kiên quyết các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và việc mua bán đất lâm nghiệp trái phép kể cả đối với đất đã được giao cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. (VietnamPlus 8/8; Đại Đoàn Kết 9/8, tr2; Lao Động 9/8, tr9) đầu trang(
Loài cây thời tiền sử mang đặc tính vô sinh đã bị tận diệt trên toàn thế giới. Nơi duy nhất còn lại loại cây này là Tây Nguyên - Việt Nam đang được bảo vệ nghiêm ngặt.
Thủy tùng là loài thông nước, có đặc điểm hình dáng, lá... giống như thông, nhưng là loài sống ở sình lầy, có hoa, có quả nhưng không có hạt. Việc nhân giống theo tự nhiên, con người không thể can thiệp. Do đó, thủy tùng có thể được gọi là loài "vô sinh". Suốt một thời gian dài, loài cây này đã bị tàn phá rồi bị săn lùng đến cạn kiệt.
Một thời gian, "cơn sốt thủy tùng" nóng cả Tây Nguyên vì tin đồn, gỗ thủy tùng làm... thuốc chữa ung thư. Ngoài Ea Ral (xã Ea Ral, huyện Lắc) và Trấp Ksơr (xã Ea Hồ, huyện Krông Năng) là hai quần thể thủy tùng lớn nhất còn sót lại với các cá thể thủy tùng quý hiếm sinh sống dưới dạng một quần thể (Ea Ral: 270 cây; Trấp Ksơr: 28 cây), còn khoảng 6 cá thể cây khác mọc rải rác tại các buôn làng trong huyện Lắc.
Anh Phạm Văn Quang, cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Lắc cho biết: "Đối với những cá thể thủy tùng mọc nhỏ lẻ tại các buôn làng xa xôi, hạt kiểm lâm còn tiến hành giao và thuê chính những nhà người dân có cây sống trên phần đất của nhà họ trông giữ, trả lương cho họ và yêu cầu họ phải làm chòi cạnh gốc để bảo vệ cây!".
Tại buôn Hồ có hai cây thủy tùng được giao cho hai gia đình ông Vĩnh Bảo Hùng và bà Nguyễn Thị Mai quản lý. Mỗi tháng, kiểm lâm trả lương bảo vệ cho mỗi gia đình vài trăm ngàn đồng. Gia đình ông Hùng đã dọn cỏ sạch sẽ xung quanh gốc thủy tùng, phát quang những cây bụi, cây rậm để tránh ảnh hưởng tới khu vực cây sinh sống.
Cây thủy tùng cổ thụ thuộc phần đất của gia đình bà Nguyễn Thị Mai đứng ngay ở đầu cây cầu gần thị trấn buôn Hồ và ngay sát mé suối. Để bảo vệ cây quý, bà Mai đã làm hẳn một cái lán ngay dưới gốc cây, cử chồng ra trông coi ngày đêm.
Thủy tùng hiện đang được xếp vào nhóm gỗ 1A - loại đặc biệt quý hiếm và được bảo vệ nghiêm trọng. Nó càng trở nên quý hiếm hơn khi mà số lượng loài của nó còn sống sót chỉ tính được đến con số hàng trăm.
"Đây là loài thực vật ngành hạt trần rất cổ còn sót lại, có lịch sử phát triển sinh chủng loại khoảng 10 triệu năm, được ghi tên trong sách đỏ thế giới. Đến nay, chưa có phương án nào để nhân giống loài cổ thực vật này. Những cá thể còn sống, nhiều cây đang lão hóa theo thời gian...", ông Phạm Quang Vinh - Hạt kiểm lâm huyện Ea H'leo xót xa.
Những năm trước đây, các đại gia từ Sài Gòn về Ea H'Leo săn tìm gỗ thủy tùng đã khiến cả Ea H'Leo nóng lên vì cơn sốt gỗ thủy tùng. Một khúc gỗ thủy tùng rộng chừng 30 phân, cao chừng một mét, giá của nó là vài chục triệu đồng.
Chính vì giá trị kinh tế của gỗ thủy tùng lớn như thế, lại ngày càng quý hiếm, cho nên quần thể thủy tùng duy nhất tập trung còn lại của Tây Nguyên liên tục bị tấn công, nhất là khi có thông tin người ta mua về để chiết xuất ra chất có khả năng điều trị... ung thư.
Nhiều người đã phá lán lấy gỗ thủy tùng mà ngày xưa lấy về làm cọc chống dựng lán, làm cọc cho hồ tiêu bám... để đem bán. Nhiều kẻ xấu cũng lợi dụng người dân bản địa, thuê họ đi trục vớt những súc gỗ thủy tùng ở dưới lòng hồ hoặc mua lại giá cao. Những điều đó đã khiến thủy tùng càng thành "sốt".
"Chính những tin đồn thêu dệt đã là nguyên nhân.... giết chết thủy tùng. Thời gian rộ lên thông tin thủy tùng chữa được bệnh ung thư, hàng trăm người dân đổ vào nương, vào rẫy quanh khu vực bảo tồn thủy tùng Ea Ral để đào bới mong tìm được những gốc, những đoạn thủy tùng may ra còn sót lại. Nhiều kẻ táo tợn nửa đêm cắt lưới B40 để thâm nhập vào vườn thủy tùng, cưa trộm dù phải vượt qua vũng sình lầy ngập ngang người..." - ông Quang cho biết.
Đến nay, cơn sốt dường như đã qua nhưng thủy tùng vẫn được âm thầm săn tìm để làm đồ gỗ mỹ nghệ phục vụ thú chơi của đại gia. Giá trị của gỗ thủy tùng nằm ở bộ vân. Vân gỗ thủy tùng tự nhiên, rất đẹp, không cần đánh véc ni, sơn bóng... Dân chơi thủy tùng thường tiện thành các bình trang trí, làm tam đa, con giống... Gỗ thủy tùng thơm và mềm, dẻo, nhưng đồng thời cũng rất cứng nếu ở trên khô.
Tùy theo từng độ tuổi mà thủy tùng có vân gỗ và màu gỗ khác nhau. Những cây thủy tùng non, tươi thường có màu trắng, màu xanh đen. Thủy tùng cổ thụ, ngâm nước lâu có màu đen gụ, màu đỏ... Dù ở độ tuổi nào, vân gỗ thủy tùng đều có đường nét và hình dáng vô cùng đẹp, cho nên, một cặp bình cao chừng 40 phân, giá của nó có thể lên tới hàng chục triệu đồng. (VietnamNet 9/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xã Ma Nới (Ninh Sơn) đã phát hiện và lập biên bản 15 vụ vi phạm vận chuyển lâm sản trái pháp luật, tịch thu 7 chiếc xe mô tô độ chế, thu giữ 1,9 m3 gỗ xẻ.
Đồng thời phối hợp với Công ty Lâm nghiệp Ninh Sơn làm việc với các hộ dân có liên quan đến việc phá rừng làm rẫy trên địa bàn xã, xác minh và kê khai diện tích rừng bị phá, cho 29 hộ ký cam kết không chặt phá rừng. (Báo Ninh Thuận 7/8) đầu trang(
Quyết định xử phạt hành chính không đề cập đến việc tịch thu gỗ thì hạt kiểm lâm phải trả lại cho đương sự.
“Hơn bốn năm nay, tôi liên tục yêu cầu các cơ quan chức năng trả lại gỗ cho mình nhưng không được. Tôi không hiểu tại sao họ lại làm khó tôi như vậy” - ông Phạm Tiến Thành (Đắk Hà, Kon Tum) phản ánh.
Ông Thành cho biết cuối năm 2007, ông gửi khoảng 3 m3 gỗ trắc cho một công ty để nơi này giúp ông làm chân ghế, tay vịn… Hai năm sau, đoàn kiểm tra liên ngành xuống kiểm tra, trong đó có Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Hà, phát hiện ra số gỗ trên (cùng một số loại gỗ khác của công ty) nên đã tịch thu.
Tiếp đó, hạt kiểm lâm ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển giao cho công an huyện điều tra xử lý vì các cá nhân liên quan có dấu hiệu mua bán, cất giấu lâm sản trái phép.
Nhận được tin, ông Thành ngay lập tức cung cấp các giấy tờ liên quan đến số gỗ trên. Cùng lúc phía công ty cũng cung cấp được giấy tờ chứng minh số gỗ của mình là hợp pháp nên công an huyện đã đình chỉ vụ án vì hành vi không cấu thành tội phạm, trả hồ sơ về lại cho hạt kiểm lâm huyện.
Năm 2010, phó chủ tịch (thừa ủy quyền của chủ tịch) UBND tỉnh Kon Tum ra quyết định xử phạt hành chính đối với công ty trên vì có cất giấu một số gỗ trái phép.
Nhận thấy quyết định không đả động gì đến việc tịch thu gỗ của mình, ông Thành làm đơn xin lại. “Vậy mà hơn bốn năm nay, gỗ của tôi vẫn bị giữ không lý do. Tôi lấy làm khó hiểu là tại sao đến bây giờ phía hạt kiểm lâm lại làm như thế. Tôi mua gỗ về để gia công đóng ghế giao cho khách hàng. Việc giữ gỗ như vậy làm tôi bị thiệt hại rất nhiều” - ông Thành cho hay.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Phạm Văn Lập, Chánh Văn phòng UBND huyện Đắk Hà, cho biết UBND đã có công văn đề nghị hạt kiểm lâm huyện làm việc trực tiếp với ông Thành về số lượng gỗ nói trên.
Ông Ngô Trí Nam, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Hà, nhìn nhận một số gỗ của ông Thành gửi để gia công ghế có giấy tờ hợp pháp chứ không phải toàn bộ 3 m3 như yêu cầu của ông Thành.
Giữa tháng 7-2014, hạt đã có báo cáo việc này với UBND huyện và sẽ sắp xếp làm việc với phía ông Thành để giải quyết số gỗ trắc nói trên. Hiện hạt chỉ lấn cấn một điều là phía công ty mà ông Thành nhờ gia công gỗ chưa nộp phạt hành chính nên khiến việc giải quyết đối với số gỗ của ông Thành bị chậm trễ.
Luật sư Lại Thị Lệ Thanh, Đoàn Luật sư TP.HCM cho biết: Lẽ ra ngay sau khi công an huyện đình chỉ điều tra vụ án và quyết định xử phạt vi phạm hành chính của ủy ban không đề cập đến việc tịch thu số gỗ này của ông Thành thì hạt kiểm lâm phải trả lại cho ông. Bởi lẽ nó là tài sản hợp pháp của ông Thành.
Ngoài ra cũng không thể vin vào việc công ty vi phạm không nộp phạt hành chính mà giữ số gỗ của ông Thành. Bởi vì đây là hai việc hoàn toàn khác nhau. Nếu công ty không nộp phạt thì Nhà nước có biện pháp cưỡng chế.
Còn tài sản hợp pháp của ông Thành thì phải trả cho ông. Cẩn thận hơn, hạt kiểm lâm có thể yêu cầu công ty chứng kiến việc trả gỗ cho ông Thành theo đúng số lượng gỗ mà cơ quan này thu giữ. (Pháp Luật TPHCM 8/8) đầu trang(
Cây ươi vẫn chưa hết mùa ra trái nên nhiều người vẫn “dòm ngó” chờ thời cơ thuận lợi là vào rừng “hái lộc”. Nhiệm vụ bảo vệ sản vật rừng chưa bao giờ lại vất vả với cán bộ kiểm lâm như hiện nay.
Cây ươi đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể với người dân các huyện nghèo miền núi nằm bên vách đại ngàn Trường Sơn. Từ ươi mà nhiều gia đình ở rẻo cao các xã Trà Don, Trà Leng (Nam Trà My), La Dêê, Chà Vàl, Đắc Pring (Nam Giang) hay vùng cao Phước Sơn mua sắm được ti vi, xe máy, xây nhà…
“Lộc rừng” đã ban tặng cho địa phương, nhưng cũng lấy đi nhiều thứ. Nước mắt, máu và sinh mạng đã đổ xuống nơi đây. Bao cái chết tức tưởi vì ươi đã làm xôn xao vùng cao, nhiều gia đình tan nát bởi con mất cha, mẹ mất con… Những tai nạn gây tử vong, thương tích do phá rừng ươi thỉnh thoảng xuất hiện – điều hiếm gặp trước đây.
Đầu tháng 7, trong lúc trèo chặt cành ươi lấy quả, anh Hồ Thanh Hối (SN 1990, trú tại thôn 3, xã Trà Don, huyện Nam Trà My) đã bị thương nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu. Trước đó vài ngày, anh Hồ Văn Toán (SN 1999, xã Trà Leng, Nam Trà My) cũng tử nạn do cây ươi đè trong lúc đốn hạ.
Khi nhặt ươi ở khu rừng phòng hộ Sông Tranh (thuộc xã Trà Mai, huyện Nam Trà My), ông Võ Vui (quê Thăng Bình) đã bị rơi xuống hố chết đuối. Theo thống kê, chỉ riêng địa bàn Nam Trà My đã có ít nhất 7 người bị thương, tử vong vì ươi.
Điểm lại một số trường hợp tử nạn trên để gióng lên hồi chuông cảnh báo về hệ lụy “ăn của rừng”. Dọc ngang dải Trường Sơn cây ươi phân bố khá dày, đều khắp. Theo ngành kiểm lâm, cây ươi có đường kính phổ biến từ 20 - 40cm, trước đây không bị lâm tặc chặt phá vì gỗ ít có giá trị và người dân chỉ tham gia nhặt trái đã chín rụng xuống đất.
Tuy nhiên, thời gian qua, trái ươi được giá. Tận dụng thời gian quả chín ngắn nên người dân sở tại lẫn các địa phương lân cận ồ ạt kéo vào rừng khai thác kiểu tận diệt. Thiệt hại càng nhân đôi khi để triệt hạ một cây ươi nằm sâu trong rừng, người dân phải mở đường trái phép, phá hoại một số cây trồng khác.
Khi đã có Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 29.5.2014 của UBND tỉnh về bảo vệ nghiêm ngặt cây ươi, ngoài tăng cường kiểm lâm về cơ sở, các lực lượng chức năng đã kiểm soát, cương quyết chặn đứng đường dây tiêu thụ sản phẩm ươi không rõ nguồn gốc, cắt đứt việc đưa ươi khai thác trái phép ra ngoài.
Cũng trong tháng 7, lực lượng cảnh sát kinh tế (Công an Quảng Nam) kịp thời phát hiện và xử lý 2 trường hợp vận chuyển quả ươi trái phép với số lượng lớn. Đó là trường hợp bà Nguyễn Thị Kim Huệ (SN 1977, trú tại 158 Trần Cao Vân, TP.Tam Kỳ) vận chuyển trái phép hơn 3,6 tấn ươi; bà Nguyễn Thị Ngọc Thạch (SN 1973, trú tại số 70 Phan Châu Trinh, Tam Kỳ) vận chuyển trái phép hơn 2 tấn ươi.
Đến nay, lực lượng chức năng đã thu giữ hơn 10 tấn quả ươi trái phép, xử phạt hành chính và bán tang vật tịch thu sung quỹ nhà nước gần 1,8 tỷ đồng. Trong khi đó, ông Từ Văn Khánh, Trưởng phòng Quản lý - bảo vệ rừng (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh) cho biết, từ tháng 5 đến nay, lực lượng chức năng và các địa phương thực hiện hàng trăm đợt tuần tra, kiểm tra để ngăn chặn việc khai thác trái phép quả ươi.
Theo đó, thu giữ 21,5 tấn ươi, 20 ô tô, mô tô các loại, 43 máy cưa xăng, 4 chiếc ghe cùng nhiều phương tiện, dụng cụ khác phục vụ cho khai thác ươi. Tổng số tiền xử phạt và bán tang vật nộp ngân sách hơn 2,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, ngành kiểm lâm vẫn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thu hoạch ươi hợp pháp, chỉ đạo kiểm lâm địa bàn tham mưu cho chính quyền cơ sở xã thực hiện việc xác nhận nguồn gốc lâm sản thu hái đúng quy định pháp luật.
Theo ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trước “điểm nóng” quả ươi, từ các cơ sở pháp lý, ngành đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm, ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng tăng cường các biện pháp cấp bách nhằm bảo vệ nghiêm ngặt rừng ươi.
Các Hạt Kiểm lâm Phước Sơn, Bắc Trà My và Tiên Phước mở hàng trăm đợt tuyên truyền lưu động và đề xuất chính quyền các địa phương kiểm soát cửa ngõ vào rừng, khuyến cáo nhân dân chỉ khai thác khi trái ươi rụng.
“Sắp đến, các chủ rừng cần đánh giá lại hiệu quả giữ rừng trên diện tích tự bảo vệ hoặc ký kết với cộng đồng và hộ gia đình thực hiện các hợp đồng khoán quản lý, bảo vệ rừng. Cán bộ kiểm lâm khuyến khích mở rộng diện tích trồng ươi trên những địa bàn phù hợp để bảo tồn nguồn giống và cải thiện nguồn thu nhập cho người dân” – ông Tuấn cho biết. (Báo Quảng Nam 8/8) đầu trang(
Do ảnh hưởng của thời tiết, toàn bộ 22,5 ha rừng thông thuộc tiểu khu 344B tại xã Kỳ Phong (Kỳ Anh) đã bị sâu róm ăn trụi lá.
Theo nhận định, sâu đang ở độ tuổi từ 3 đến 5 ngày tuổi, mật độ trung bình từ 100- 150 con/1 cây, nhiều nơi có đến 200- 250 con/ 1 cây.
Trước nạn sâu róm gây hại trên diện rộng, trong những ngày qua, BQL rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm Kỳ Anh cùng các hộ dân được giao khoán khai thác nhựa thông tiến hành phun thuốc Boverin- BT phòng trừ sâu róm gây hại, không để lây lan trên diện rộng. (Báo Hà Tĩnh 8/8) đầu trang(
Sài Gòn có rất nhiều con đường gắn liền những hàng cây sao, cây dầu và những hàng me, đã đi vào thơ ca và trở thành những cây xanh đặc trưng của TP này.
Do đó, việc đốn hạ những cây dầu tại khu vực công viên Lam Sơn trên đường Lê Lợi (Q.1) đã khiến cho không ít người tiếc nuối. Tuy nhiên, thông tin từ Công ty công viên cây xanh (CVCX) TP.HCM: có tới 6/12 cây dầu cổ thụ khoảng 150 tuổi bị đốn đã bị mục rễ với tỷ lệ trên 60%.
Ông Nguyễn Trịnh Kiểm, cố vấn kỹ thuật - Công ty CVCX TP.HCM, đồng thời là Chánh văn phòng Hiệp hội CVCX VN, cho biết: Tôi đã trực tiếp đến xem những cây dầu cổ thụ ngay khi đốn hạ, thấy một điều lạ là có những cây không còn rễ cọc, chỉ cần chặt rễ xung quanh là có thể kéo ngã cây xuống.
Do đó, nguy cơ mất an toàn, dễ ngã đổ của những cây này là rất cao. Cây dầu có đặc tính sinh học là rễ cọc đâm sâu xuống đất, nó vững chắc là nhờ bộ rễ cọc đó. Có thể do ở khu vực này có mực nước ngầm nông, đã làm mục hết bộ rễ cọc của cây. Đã từng có những cây dầu ngã trên đường Nguyễn Thái Học, Ba Tháng Hai và may mắn là cây ngã lúc 3 giờ sáng không có người đi lại, chứ nếu trong giờ cao điểm thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Là người gắn bó với cây xanh đô thị, nhưng nhìn thấy những gốc cây dầu cổ thụ vừa đốn đi với những bộ rễ như thế, ông Kiểm cho rằng không thể nào làm khác. Ông cho biết, từ năm 1999, Công ty CVCX TP.HCM đã có kế hoạch rất cụ thể về việc cây nào đốn, cây nào giữ lại. Nhưng vì những năm đó dư luận không ủng hộ nên công ty đã không dám làm. Giờ thì đã đến lúc phải xới lại việc này. Bởi vì, ngoài các yêu tố về môi trường sinh thái, cây xanh trồng trong đô thị phải bảo đảm một yếu tố mà ông cho là tiên quyết, đó là an toàn đối với tính mạng và tài sản của người dân.
Ngoài hơn 3.000 cây dầu có tuổi thọ trên 150 năm, ở TP.HCM còn có nhiều loại cây cổ thụ khác. Cây xanh nói chung đều có tuổi thành thục, với độ tuổi phù hợp tùy theo môi trường tự nhiên hay môi trường đô thị. Đối với cây xanh trồng trong đô thị, tuổi thành thục sẽ ngắn hơn và sau độ tuổi đó thì phải đốn để thay thế.
Tuổi thành thục tùy theo từng loại cây, với cây sao và dầu có thể 100 năm; cây me khoảng 70 - 80 năm; cây lim xẹt khoảng 50 năm. Tuy nhiên, để thật chính xác thì cần phải có một nghiên cứu, nhưng hiện chưa có nghiên cứu nào về xác định độ tuổi thành thục đối với cây xanh đô thị.
Đại diện Công ty CVXC TP.HCM cho biết, vừa rồi công ty đã nhận lệnh đốn hạ 49 cây xanh ở khu vực thi công nhà ga Nhà hát TP, bao gồm 12 cây dầu, 10 cây lim xẹt, 19 cây viết, 8 cây liễu rũ và chỉ có 2 cây lim xẹt được bứng. Công ty cũng vừa nhận được văn bản của Ban Quản lý đường sắt đô thị về việc đốn bổ sung cây xanh trong phạm vi xây dựng nhà ga này. Cụ thể là 7 cây lim xẹt trồng trên dải phân cách đường Lê Lợi (đoạn từ Pasteur - Nguyễn Huệ) đã được phê duyệt và một số cây xanh trên đường Nguyễn Huệ không nằm trong phương án đốn hạ di dời, phải chờ ý kiến chỉ đạo của Sở GTVT.
Ông Nguyễn Trịnh Kiểm cũng nuối tiếc khi thấy những cây xanh bị đốn hạ mà lẽ ra có thể bứng di dời, mang đi chỗ khác dưỡng để trồng lại ở dọc hành lang của tuyến metro. Ông đề nghị, với những loại cây như viết, lim xẹt có thể bứng đi để trồng nơi khác, không nên đốn hạ.
Thậm chí cây liễu rũ (tràm bông đỏ), sọ khỉ hay như cây đa, cây sanh cả 200 tuổi vẫn bứng được. Sau khi làm nhà ga xong, đổ lại đất trên mặt, có thể trồng cây khác thay thế hoặc trồng lại cây dầu, những cây nhỏ không đâm rễ xuống sâu làm ảnh hưởng đến công trình. Những nơi không thể trồng lại cây lớn thì có thể trồng dây leo.
Theo ông Khương Văn Mười, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư (KTS) TP.HCM, bên dưới khu vực xây dựng nhà ga là 4 tầng ngầm nên rất khó giữ lại những cây xanh trên mặt đất. Giải pháp duy nhất là phải đốn để trồng mới.
Trong khi một KTS khác cho rằng TP có thể dùng phương pháp thi công khác bằng robot thay vì phương pháp top-down (làm tường vây và cọc chống trước, sau đó đào đất và thi công các sàn từ trên xuống) để giữ lại hàng cây bên trên. Ông này cũng cho rằng, chỉ những dự án làm metro bất đắc dĩ mới phải đốn cây, còn việc chỉnh trang đường phố, lót vỉa hè dọc đường Nguyễn Huệ hoàn toàn có thể giữ được xây xanh để tạo bóng mát cho phố đi bộ và tạo cảnh quan xanh mát cho khu vực trung tâm nơi khách du lịch đổ về rất đông.
“Nếu TP muốn tiếp tục đốn cây khi làm các công trình còn lại phải đưa ra HĐND TP lấy ý kiến, khi được đồng ý mới đốn, chứ không thể cứ âm thầm làm như việc đốn mấy chục cây hàng trăm tuổi ở trước Nhà hát TP vừa qua”, vị này nêu quan điểm.
Tại Hà Nội, đường Láng vừa mất đi dãy cây xà cừ đường kính cả mét, nhường cho mặt bằng dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông. Những cây xà cừ cổ thụ ở Kim Mã, dọc hồ Thủ Lệ, Ba Đình tới đây cũng sẽ bị đốn hạ để phục vụ dự án tàu điện metro đầu tiên của thủ đô.
“Tôi biết có người tiếc cây lắm. Nhưng đôi lúc để phát triển không thể tránh được việc phải hy sinh những hàng cây như thế”, GS-KTS Hoàng Đạo Kính nói về việc cổ thụ Hà Nội và nhiều TP đã phải nhường chỗ cho các dự án giao thông đô thị.
“Có dự án mở rộng đô thị mà tránh đi tránh lại cũng không thể tránh được việc phải chặt bỏ cây. Nhưng chặt cây đi rồi thì phải bù lại diện tích xanh đó như thế nào”, ông Kính nói.
“Chúng ta nói nhiều đến kiến trúc xanh. Nhưng cả quy hoạch đô thị lẫn xây dựng đều chưa cho thấy điều đó”, một KTS nói. Cũng theo KTS này, dường như việc đánh giá tác động môi trường của nhiều dự án giao thông chưa ổn. Kết quả là nhiều dự án sau khi hoàn thành thì không gian xung quanh bị bê tông hóa và mất đi sự thân thiện vì thiếu mảng xanh.
Về các giải pháp đi kèm, một nhà nghiên cứu đô thị cho biết nếu có thể bứng các cây xanh này đi chỗ khác thì nên làm bởi phải hàng chục năm mới có thể có được một diện tích xanh như vậy. Hiện tại chúng ta cũng không thiếu các khu công cộng đang thiếu cây xanh.
Chưa kể về kỹ thuật, hoàn toàn có thể thực hiện việc di dời cây xanh này. Việc đền bù xanh này cần phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt, không hình thức. “Không phải câu chuyện đền bù tiền, mà đây là đền bù một lá phổi TP”, vị này nói.
Nhà văn Nguyễn Quang Vinh cho rằng: Tại sao không đặt ra một yêu cầu giữ gìn bảo tồn cây xanh trong hợp đồng các dự án về môi trường đô thị? Điều này hoàn toàn có thể làm được, như việc Huế từng di dời và trồng lại 80 cây sứ trong một dịp làm festival trước đây.
Có thể đào và dịch chuyển các hàng cây này ra khu vực khác. Điều này hoàn toàn có thể làm được. Không phải không còn giải pháp nào khác. UBND TP.HCM, UBND TP.Hà Nội phải có ngân sách riêng về việc này, nghĩ cách để di dời hàng cây đi nơi khác. Nếu cứ làm dự án đô thị mà cứ đào, cứ phá thì sẽ tạo ra tiền lệ rất nguy hiểm cho các dự án khác nhau.
Cây xanh không chỉ đơn thuần là cây, mà còn là một bảo tàng sống của nhiều thế hệ, chứa chất nhiều kỷ niệm. Việc di dời, cưa cây trước mỗi dự án lẽ ra phải đưa ra trước HĐND TP. Nếu dự án đó không có tiền thì TP phải bỏ tiền, người dân TP sẽ bỏ tiền, thậm chí từng doanh nghiệp cũng sẵn sàng đóng góp. Cách làm như vậy mới nhân văn, mới tình cảm.
Còn kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào: Cây cối là hồn cốt, di sản của đô thị. Việc làm dự án đô thị phải có kế hoạch dài hạn, phải có kế hoạch bảo tồn, gìn giữ cây cối, không thể đối xử vội vàng.
Việc gìn giữ cây xanh khi quy hoạch đô thị cần phải thực hiện như việc bảo vệ gìn giữ cầu Long Biên, chúng ta phải có những hành xử thận trọng, tránh tạo tiền lệ. Việc gìn giữ di sản đô thị cũng là một phần để phát triển kinh tế. (Thanh Niên 9/8, tr4) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo các Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt thì tổng diện tích rừng trồng bù của các dự án thủy điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư hoặc có cổ phần khoảng 13.063 ha.
Đến nay, EVN đã thực hiện trồng bù rừng được 1.560,83 ha. Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐCP của Chính phủ về trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), EVN đã rà soát và lập chi DVMTR khoảng 1.192 tỷ đồng và số tiền này sẽ thanh toán vào cuối năm nay.
Theo đánh giá, đến nay, diện tích rừng trồng bù trên chủ yếu được thực hiện theo phương án chuyển tiền để địa phương thực hiện. Nguyên nhân trồng bù rừng chậm do chưa xác định được quỹ đất làm cơ sở lập phương án trồng bù; phương án trồng bù chậm được phê duyệt; chưa có hướng dẫn, quy định thống nhất đối với các dự án...
Dự kiến cả năm 2014, toàn bộ các dự án thủy điện của EVN sẽ chi trả phí DVMTR khoảng 846 tỷ đồng. (Nhân Dân 11/8) đầu trang(
Ông Bùi Việt Hà, phó giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Phước, cho hay qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra 736 trực thuộc UBND tỉnh Bình Phước xác định bốn nhà máy thủy điện đang hoạt động trên địa bàn còn nợ đọng trên 18,7 tỉ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Trong đó Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ trên 11,9 tỉ đồng, Công ty cổ phần thủy điện Srok Phu Miêng IDICO trên 5,5 tỉ đồng, Nhà máy sản xuất thủy điện Bù Cà Mau trên 729,5 triệu đồng và Nhà máy thủy điện Đắk U trên 451,3 triệu đồng.
Ông Hà cho biết thêm vì chưa có chế tài xử lý vi phạm đối với các nhà máy thủy điện không nộp hoặc chậm nộp tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy định nên các đơn vị cứ chây ỳ, phớt lờ trách nhiệm và nợ đọng cứ tồn từ năm này sang năm khác.(Tuổi Trẻ 11/8, tr2) đầu trang(
Nằm ở vùng miền núi phía Tây Nghệ An, thường xuyên chịu ảnh hưởng nắng nóng gay gắt và lũ lụt tàn phá, huyện Con Cuông không thuận lợi cho sản xuất lương thực.
Nhưng những năm gần đây, các cấp, các ngành, chính quyền địa phương đã chú trọng phát triển rừng. Ngoài chống biến đổi khí hậu thì khai thác tiềm năng phát triển kinh tế rừng đang là giải pháp hàng đầu về xoá đói giảm nghèo nơi đây.
Với lợi thế diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện Con Cuông có gần 154.600 ha, chiếm 88,91% tổng diện tích đất tự nhiên. Độ che phủ rừng đạt cao nhất tỉnh cũng như toàn quốc với 75,7%.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển lâm nghiệp. Nhờ đó, đã khuyến khích và huy động nhiều tập thể, hộ gia đình, cá nhân tích cực, hăng hái tham gia nhận đất trồng rừng. Bình quân, mỗi năm toàn huyện Con Cuông trồng mới trên 1.000 ha.
Riêng năm 2013, huyện đã trồng mới trên 2.500 ha, trong đó nhân dân tự bỏ vốn trồng mới gần 1.000 ha. Hiện nay, tiềm năng để phát triển kinh tế ngành rừng ở huyện miền núi Con Cuông còn rất lớn. Ước tính trong khoảng 5 năm tới, nhân dân các xã trên địa bàn huyện mới có thể trồng, phủ kín hết diện tích đó. Riêng giai đoạn 2011 - 2015, mỗi năm huyện Con Cuông phấn đấu trồng mới từ 1.500 - 2.000 ha. Bên cạnh quỹ đất, tiềm năng về lực lượng lao động là một trong những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế rừng ở Con Cuông.
Theo đánh giá của ngành chức năng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện Con Cuông ít. Hiện toàn huyện có khá nhiều lao động chưa có việc làm, đây là tiềm năng cần khai thác để huy động họ tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Vì thế, phát huy hiệu quả từ đất rừng đã và đang là hướng đi đúng được huyện quan tâm đầu tư, chú trọng, góp phần làm giàu thêm tài nguyên rừng cũng như trong việc xoá đói giảm nghèo của người dân huyện Con Cuông.
Gia đình chị Kha Thị Bích và anh Lộc Văn Thiệu ở bản Bủng, xã Châu Khê là một trong những hộ dân tiêu biểu trong phong trào trồng rừng mét ở bản Bủng. Là gia đình thuần nông, cuộc sống dựa vào sản xuất nông nghiệp nên rất khó khăn. Nhận thấy trồng rừng là hướng phát triển kinh tế bền vững, lâu dài, gia đình anh chị đã đầu tư trồng trên 1.000 gốc mét.
Đến thời điểm này, cây mét đã mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình chị, mỗi năm trên 200 triệu đồng. Cũng giống như gia đình anh Thiệu, gia đình ông Vi Văn Chính ở bản Khe Rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông vốn là hộ nghèo.
Nhưng từ năm 2005, gia đình đã vay vốn, đầu tư trồng 1 ha mét, đến năm 2010 cho thu hoạch, bình quân mỗi năm trên 100 triệu đồng (ông thu hoạch 3 lần/năm). Từ đó, ông quyết định mua thêm đất rừng đầu tư trồng thêm 2 ha mét. Hiện tại rừng mét mới trồng đến nay đã được 3 năm tuổi. Nhờ trồng mét mà gia đình ông thoát nghèo, nuôi 3 đứa con ăn học thành tài.
Việc tổ chức trồng và khai thác hợp lý rừng nguyên liệu góp phần tích cực tạo việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân. Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã và đang giàu lên nhờ trồng rừng nguyên liệu giấy. Cây mét, cây keo lá tràm đang là thế mạnh, dễ trồng, dễ chăm sóc, bảo quản và nhanh cho khai thác.
Ông Hồ Đăng Tài, Phó Chủ tịch UBND huyện Con Cuông cho biết: “Con Cuông có 13 xã, thị trấn, trong đó 10 xã nằm trong vùng đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ 135 của Chính phủ. Tất cả các xã, thị đều trồng rừng. Việc trồng rừng có nhiều cái lợi như phủ xanh, chống biến đổi khí hậu, chống xói mòn, giữ nước, trồng một lần thu hoạch lâu dài…”.
Trồng rừng nguyên liệu đã góp phần tích cực trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm và làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi. Mặt khác, nhờ làm tốt công tác trồng, quản lý và bảo vệ rừng, nâng độ che phủ rừng của toàn tỉnh Nghệ An nói chung, miền núi nói riêng đạt cao nhất cả nước, nên hơn 10 năm qua, Nghệ An ít bị ảnh hưởng lớn do thiên tai, bão lũ.
Có thể nói, những năm trở lại đây, phong trào trồng rừng nguyên liệu tại Con Cuông phát triển mạnh. Diện tích rừng trồng mới hàng năm vượt hơn 200% kế hoạch đề ra. Nhiều xã vùng sâu, vùng cao trước đây luôn là “điểm nóng” của việc phá rừng làm nương rẫy như: Đôn Phục, Mậu Đức, Thạch Ngàn, Cam Lâm, Lục Dạ, Châu Khê… thì nay bà con các dân tộc thiểu số đã nhanh chóng phủ xanh diện tích nương rẫy bằng rừng keo, rừng mét, đưa diện tích rừng trồng mới của Con Cuông đạt trên 2.000 ha mỗi năm.
Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, thôn bản trở thành đơn vị văn hoá tiêu biểu là nhờ có sự hỗ trợ đắc lực của kinh tế rừng. Đặc biệt, bà con dân tộc Đan Lai cũng đã tham gia mở rộng diện tích trồng rừng nguyên liệu. (Công An Nghệ An 9/8) đầu trang(
Nhận số tiền trên 1 triệu đồng từ cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, ông Ly A Páo, bản Sín Chải, xã Sín Chải (huyện Tủa Chùa) phấn khởi lắm.
Ông Páo nói rành rọt: “Số tiền này mình được cán bộ trả do làm tốt công tác bảo vệ rừng theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ về chi trả dịch vụ môi trường rừng đấy. Năm 2011 và năm 2012 mình được nhận 350.000 đồng/ha; năm 2013, gia đình mình được trả tạm ứng 200.000 đồng/ha”.
Nghe ông Páo nói một hồi, PV rất ngạc nhiên bởi ông không chỉ hiểu về định mức tính phí chi trả, mà còn hiểu rõ về trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ rừng đối với diện tích rừng được chi trả dịch vụ. Ông Páo tâm sự: Cuộc sống của gia đình còn nhiều khó khăn do chỉ trông vào sản xuất trên nương, năng suất thấp lại không ổn định.
Năm nào mưa thuận gió hòa còn đỡ vất vả, chứ gặp thời tiết khô hạn, sâu bệnh phát triển thì thiếu đói, đứt bữa vài ba tháng là chuyện thường. Nhưng cũng nhờ sản xuất trên nương nên ông Páo hiểu hơn ai hết tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát triển rừng, vì vậy gia đình ông đã nhận khoanh nuôi bảo vệ gần 2,5ha rừng sản xuất.
Và việc nhận số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ giúp cuộc sống của gia đình ông bớt phần khó khăn, có thêm tiền mua thóc, trang trải cuộc sống. Ông Páo bảo, mình đã ký cam kết với cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, cán bộ kiểm lâm rồi, sẽ không để xảy ra cháy rừng, phá rừng đâu!
Giống như gia đình ông Páo, đại diện cộng đồng bản Chế Cu Nhe nhận hơn 60 triệu đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, ông Vừ A Sinh tâm sự: Lần trước, cán bộ kiểm lâm và cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh xuống tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của Chính phủ, bà con trong bản đã hiểu và quyết tâm giữ rừng để được hưởng lợi từ rừng.
Cộng đồng bản hiện được giao quản lý, bảo vệ hơn 152ha rừng phòng hộ thuộc trạng thái IIa. Nhờ làm tốt công tác khoanh nuôi, bảo vệ nên những cánh rừng phát triển xanh tốt, không xảy ra tình trạng đốt, phá rừng làm nương trái phép.
Để công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả, ông Vừ A Sinh cho biết: Cộng đồng bản đã thành lập tổ tuần tra bảo vệ rừng, lập kế hoạch tuần tra, kiểm soát rừng cụ thể và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên.
Cuộc sống của bà con còn nhiều khó khăn và đều sống phụ thuộc vào sản xuất trên nương, nên ai cũng mong có thêm thu nhập ổn định từ rừng để cải thiện cuộc sống. (Báo Điện Biên Phủ 8/8) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn huyện Di Linh có trên 67 ngàn ha diện tích rừng thuộc 05 chủ rừng là tổ chức Nhà nước, 01 chủ rừng là cộng đồng thôn và trên 3200 hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng được chi trả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Các cơ quan chức năng ở địa phương đã phối hợp với các tổ chức, đoàn thể thường xuyên tuyên truyền, vận động giúp người dân tiếp cận, nắm bắt chính sách mới của Nhà nước về công tác bảo vệ rừng; nâng cao trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị chủ rừng.
Qua 3 năm thực, Di Linh đã tiến hành chi trả trên 23 tỷ 331 triệu đồng cho các tổ chức cá nhân nhận khoán, quản lý bảo vệ rừng.
Đây là một trong những chính sách phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người dân, góp phần từng bước cải thiện và nâng cao thu nhập của những đối tượng trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng. (Đài PTTH Lâm Đồng 9/8) đầu trang(
8 - 8, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) giai đoạn 2012-2014 theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Sau 3 năm triển khai chi trả DVMTR, có thể nói chính sách đã có những tác động tích cực tới công tác bảo vệ, phát triển rừng (PTR) và đời sống xã hội. Trong quá trình thực hiện các chính sách, ban điều hành quỹ đã chủ động phối hợp tuyên truyền, rà soát đối tượng sử dụng DVMTR để xây dựng hợp đồng.
Các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng DVMTR chuyển vào Quỹ bảo vệ và PTR số tiền dự kiến 17,462 tỷ đồng; trong đó năm 2013 là 7,716/7,547 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, năm 2014 dự kiến 9,746 tỷ đồng. Năm 2013, Quỹ bảo vệ và PTR đã giải ngân, thanh toán 5,882 tỷ đồng cho 1.203 chủ rừng là tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư với tổng diện tích rừng trong lưu vực được chi trả là 43.275 ha (trung bình 136.000 đồng/ha).
Chính sách chi trả DVMTR được thực hiện đã tạo một nguồn thu đáng kể để các tổ chức, cá nhân có thêm kinh phí triển khai thực hiện công tác bảo vệ rừng, góp phần cải thiện đời sống; đồng thời bảo đảm chất lượng dịch vụ chăm sóc, bảo vệ rừng theo đúng cam kết.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách chi trả còn có một số khó khăn, như: Số tiền chi trả trên đơn vị diện tích thấp hơn mức bình quân của cả nước; nhận thức của người dân về công tác chi trả DVMTR chưa cao; chưa có quy định chế tài xử phạt cụ thể đối với các cơ sở, doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm hoặc chậm nộp tiền DVMTR...
Tại hội nghị, các đại biểu đã kiến nghị một số giải pháp để huy động tối đa các nguồn lực khác vào công tác bảo vệ, PTR, đồng thời đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99/2010/NĐ-CP, như: Thay đổi mức chi trả tiền dịch vụ đối với nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch; quy định cụ thể đối tượng, mức thu đối với một số lĩnh vực khác có sử dụng DVMTR; quy định chế tài xử phạt đối với các đơn vị trốn tránh trách nhiệm... nhằm bảo đảm mức hỗ trợ tối thiểu cho người bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha. (Báo Thanh Hóa 8/8) đầu trang(
Tại thời điểm này ở khu vực Cửa khẩu Quốc tế (CKQT) La Lay (Quảng Trị) đang ùn tắc 130 xe chở gỗ quá tải từ Lào về Việt Nam.
Trong khi vụ việc đang được lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị tìm cách tháo gỡ thì dư luận thực sự quan ngại về một tiền lệ xấu và nguy cơ cả tuyến QL 15D thông thương với nước bạn Lào bị tàn phá nhanh chóng bởi những chiếc xe gỗ có trọng tải lên đến hàng trăm tấn.
Trước khi xảy ra vụ ùn tắc 130 xe chở gỗ nói trên, tháng 5-2014 một đoàn xe gỗ quá tải, quá khổ khoảng 200 chiếc cũng đã lưu thông trót lọt từ Lào vào Việt Nam qua CKQT La Lay. Do đặc thù của tuyến đường này, hàng năm có hàng ngàn lượt xe gỗ quá tải, quá khổ từ Lào về qua CKQT La Lay cũng như CKQT Lao Bảo và lưu thông trên các tuyến QL của Việt Nam khiến hạ tầng giao thông xuống cấp nhanh chóng kèm theo đó là các vấn nạn về ATGT.
Trong tổng số gần 130 xe chở gỗ quá khổ, quá tải bị buộc phải dừng lại trước ba-ri-e của CKQT La Lay (trên đất Lào), không được lưu thông vào nội địa Việt Nam từ ngày 20-7 đến nay, có đến 73 xe của một số doanh nghiệp ở Hương Khê (Hà Tĩnh).
Ngày 24-7, ông Trần Phát Đạt, với danh nghĩa Chủ tịch Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hương Khê đã gửi công văn đến UBND cùng Hải quan Quảng Trị đề nghị được hạ tải ở một bãi gỗ thuộc địa bàn xã Tà Rụt huyện Đakrông cách CKQT La Lay trên 15 cây số.
Lý do mà ông Đạt nêu ra là bãi hạ tải này có đủ điều kiện cần thiết cho việc hạ tải. Tuy nhiên theo tìm hiểu của PV thì nơi mà ông Đạt đề nghị đưa 73 xe của doanh nghiệp gỗ Hương Khê về hạ tải là bãi tập kết gỗ do doanh nghiệp khai thác từ lòng hồ trên đất Lào.
7-8, UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức cuộc họp với sở, ngành chức năng bàn hướng giải quyết ùn tắc đối với gần 130 xe gỗ quá tải tại CKQT La Lay. Hướng giải quyết được đưa ra tại cuộc họp này là hạ tải các xe gỗ nhưng cả 130 xe chở gỗ đang buộc phải dừng chờ đợi tại CKQT La Lay đều có tải trọng vượt rất nhiều lần tổng trọng tải thiết, khi lưu thông qua cửa khẩu vào nội địa Việt Nam sẽ phá nát cầu đường trên tuyến QL 15D.
Theo ông Lê Hữu Cường, Chi cục phó Chi cục Hải quan CKQT La Lay, do phía Lào không "nặng nề” về tải trọng nên các xe gỗ cứ chất hàng thoải mái. Tuy nhiên, khi vào Việt Nam, các xe bắt buôc phải tuân thủ quy định về trọng tải và Luật Giao thông đường bộ. Doanh nghiệp không thể "nắn” luật theo ý mình để phá nát cầu đường bằng xe quá tải.
Việc Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa của huyện Hương Khê gửi công văn đến UBND và Hải quan Quảng Trị nhằm bảo lãnh cho doanh nghiệp được vận chuyển gỗ vào sâu trong nội địa Việt Nam hàng chục cây số mới hạ tải không khác gì "vô hiệu hóa” Công văn số 8307 ngày 23-6-2014 của Bộ Tài chính gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố yêu cầu "không giải quyết thủ tục thông quan nhập cảnh, thủ tục kẹp chì hải quan đối với trường hợp xe ô tô chở hàng hóa vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong giấy đăng ký xe”.
Theo ông Lê Vĩnh Thịnh, Phó Chánh thanh tra Sở GTVT Quảng Trị, dù đã có quy định buộc hạ tải trước khi lưu thông vào nội địa Việt Nam đối với xe chở gỗ quá khổ quá tải nhập qua CKQT Lao Bảo và CKQT La Lay, nhưng qua kiểm tra thực tế các phương tiện chỉ hạ tải khoảng 20%, tổng trọng tải của các xe vẫn ở mức trên dưới 100 tấn/ xe.
QL 15D từ CKQT La Lay về đến trung tâm hành chính xã A Ngọ dài trên 15 cây số chỉ cho phép xe trọng tải 18 tấn trở xuống được lưu thông. Các cây cầu trên tuyến đường này cũng chỉ cho phép lưu thông xe trọng tải dưới 13 tấn. Quy định về trọng tải xe và sức chịu đựng của nền đường, cầu cống trên QL 15D rõ ràng không thể chịu được sức nặng của các xe chở gỗ hàng trăm tấn nhưng vì lợi ích của mình các doanh nghiệp gỗ đang bất chấp hòng "nắn” luật theo ý mình.
130 xe gỗ quá tải nếu được lưu thông vào nội địa Việt Nam hàng chục cây số mới san, hạ tải không chỉ phá nát hạ tần giao thông (mặt đường, cầu cống) mà còn tạo tiền lệ xấu về chấp hành các quy định quản lý đúng đắn được đưa ra bởi bộ ngành, địa phương nhằm duy trì kỷ cương, luật pháp.
Tối 8/8, các lực lượng chức năng gồm Công an huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế, Chi cục quản lý đường bộ 6 (thuộc Cục quản lý đường bộ 2) đã bắt giữ một đoàn xe 12 chiếc chở gỗ “siêu khủng” từ Cửa khẩu Quốc tế La Lay chạy về hướng Nam theo đường Hồ Chí Minh và rẽ xuống Quốc lộ 49 để về TP Huế.
Thanh tra Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thừa Thiên – Huế đã cân tải trọng số xe này, phát hiện các xe đều chở quá tải từ 170-360% so với tải trọng cho phép.
Như đã phản ánh, sau khi đoàn xe chở gỗ “siêu khủng” trên 100 chiếc từ Lào về để lưu thông vào nội địa Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế La Lay, UBND tỉnh Quảng Trị đã tổ chức cuộc họp liên ngành nhằm giải quyết, xử lý số xe chở gỗ quá khổ quá tải nói trên.
Theo đó, sau ngày 10/8, khi đã khảo sát thực tế tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế La Lay, UBND tỉnh Quảng Trị mới có quyết định cuối cùng về việc giải quyết, xử lý sự việc này. Điều đáng nói, khi công việc chưa được thực hiện, hàng chục xe chở gỗ “siêu khủng” lại tiếp tục lưu thông. (Công An Nhân Dân 11/8, tr2; Sài Gòn Giải Phóng 11/8, tr2; Tiền Phong 11/8, tr10; Đại Đoàn Kết 9/8, tr4) đầu trang(
Lần đầu tiên một hạt kiểm lâm sở tại của tỉnh Kon Tum bị phát hiện làm mất hồ sơ lâm sản thuộc diện phải lưu trữ tại đơn vị. Đáng chú ý, bộ hồ sơ lâm sản bị “làm mất” lại liên quan trực tiếp đến nghi vấn trốn thuế của một doanh nghiệp (DN) buôn gỗ.
Qua thu thập thông tin, tư liệu phục vụ công tác bảo vệ rừng, Cơ quan đại diện Báo Pháp luật Việt Nam tại miền Trung - Tây Nguyên tiếp nhận phản ánh của bạn đọc về dấu hiệu trốn thuế của Chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Minh Trung (gọi tắt là Chi nhánh Cty Minh Trung, trụ sở tại 213Đ Hùng Vương, thị trấn PleiKần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh KonTum).
Kèm theo tin báo, bạn đọc cung cấp bản sao hồ sơ lâm sản của một số lô gỗ đã được doanh nghiệp này bán cho khách hàng. Mỗi bộ hồ sơ lâm sản gồm có 01 hóa đơn giá trị gia tăng (liên 2, giao cho khách hàng), 01 hợp đồng kinh tế mua bán gỗ và 01 bảng kê lâm sản.
Xác minh cho thấy Chi nhánh Cty Minh Trung là DN có thật, chuyên hoạt động trong lĩnh vực mua bán lâm sản, do bà Nguyễn Thị Nhung (SN 1978, ngụ tổ 15, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, Việt Nam) làm Giám đốc.
Ngày 30/7/2014, nhóm PV Báo PLVN đã chọn ngẫu nhiên một trong số các bộ hồ sơ lâm sản của Chi nhánh Cty Minh Trung mà bạn đọc cung cấp để làm việc với Chi cục Thuế huyện Ngọc Hồi nhằm xác minh nghi vấn trốn thuế của doanh nghiệp này.
Thừa ủy quyền của Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện Ngọc Hồi, ông Nguyễn Hữu Hiệp (Phó Chi cục trưởng) đã chỉ đạo cán bộ liên quan tiến hành đối chiếu tờ hóa đơn giá trị gia tăng (liên 2) trong bộ hồ sơ lâm sản mà bạn đọc cung cấp với thông tin mà Chi nhánh Cty Minh Trung đã kê khai với cơ quan thuế này.
Kết quả đối chiếu như sau: Tờ hóa đơn giá trị gia tăng của Chi nhánh Cty Minh Trung mà bạn đọc cung cấp là Hóa đơn số 0000165, ký hiệu AA/11P, đề ngày 29/9/2012, người mua hàng là Nguyễn Văn Thông, (địa chỉ: TP.Vinh, tỉnh Nghệ An), hàng hóa là gỗ Giổi nhóm III, thành tiền 73.770.000 đồng, tiền thuế giá trị gia tăng 7.377.000 đồng, tổng cộng tiền thanh toán 81.147.000 đồng.
Tuy nhiên, tại bảng kê hóa đơn chứng từ của Chi nhánh Cty Minh Trung gửi đến Chi cục Thuế huyện Ngọc Hồi lại thể hiện: Hóa đơn số 0000165, AA/11P đề ngày 1/9/2012, người mua hàng là Nguyễn Đức Hợp, hàng hóa là gỗ Giổi xẻ nhóm III, thành tiền chỉ là 1.250.000 đồng, thuế giá trị gia tăng chỉ là 125.000 đồng, tổng cộng tiền thanh toán chỉ là 1.375.000 đồng.
Kết quả đối chiếu cho thấy Chi nhánh Cty Minh Trung có dấu hiệu trốn thuế bằng cách khai báo gian dối trong kinh doanh để chỉ phải đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng (mức đã đóng: 125.000 đồng, mức phải đóng: 7.377.000 đồng, chênh lệch gần 60 lần).
Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 4/1/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản (gọi tắt là Thông tư 01), DN muốn xuất lâm sản, buộc phải có một bộ hồ sơ lâm sản do Hạt Kiểm lâm sở tại xác nhận để chứng minh nguồn gốc gỗ là hợp pháp.
Hồ sơ lâm sản này gồm một số hạng mục giấy tờ, trong đó có hóa đơn giá trị gia tăng thể hiện giao dịch mua bán giữa chủ lâm sản và khách hàng. Cơ quan có thẩm quyền xác nhận lâm sản có trách nhiệm lưu giữ bảng kê lâm sản sau khi đã xác nhận (bản chính) và các tài liệu về nguồn gốc lâm sản (bản sao chụp) tại trụ sở cơ quan.
Để xác minh giao dịch giữa Chi nhánh Cty Minh Trung và khách hàng Nguyễn Văn Thông theo thông tin ghi trên hóa đơn mà bạn đọc cung cấp, nhóm PV đã có buổi làm việc với Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum), vì đây là đơn vị chịu trách nhiệm xác nhận lâm sản của Chi nhánh Cty Minh Trung mỗi khi DN này nhập, xuất lâm sản, cũng là đơn vị có trách nhiệm lưu trữ các bộ hồ sơ lâm sản mà mình đã xác nhận.
Ngày 31/7/2014, tại Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, nhóm PV đã làm việc với ông Võ Thanh Thành (Hạt trưởng) và ông Lê Thanh Tùng (cán bộ thanh tra pháp chế). Nội dung buổi làm việc được lập thành biên bản, thể hiện: Báo PLVN yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi xác minh 01 bộ hồ sơ lâm sản của Chi nhánh Cty Minh Trung, bao gồm: 01 hóa đơn giá trị gia tăng (số 0000165, ký hiệu AA/11P, ngày 29/9/2012), 01 bảng kê lâm sản (ngày 29/8/2012), 01 hợp đồng mua bán gỗ.
Trong đó, bảng kê lâm sản có xác nhận, chữ ký của ông Nguyễn Quốc Tuấn (khi đó là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi), ông Huỳnh Công Tuy (khi đó là cán bộ thanh tra pháp chế của Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi) và có đóng dấu của Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi.
Ông Võ Thanh Thành cho biết: Ông Nguyễn Quốc Tuấn đã chuyển công tác sang Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 2 (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum) ngày 3/12/2012; ông Huỳnh Công Tuy đã chuyển về Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Hà (tỉnh Kon Tum) ngay sau khi ông Tuấn chuyển công tác.
Sau khi kiểm tra, tìm kiếm các tài liệu được lưu tại Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, tại thời điểm kiểm tra, các cán bộ của Hạt Kiểm lâm không tìm thấy bộ hồ sơ lưu của Chi nhánh Cty Minh Trung. Về nguyên nhân không tìm thấy bộ hồ sơ lâm sản này, ông Võ Thanh Thành cho biết có thể do bị thất lạc.
Báo cáo trước ngày 10/8/2014 Ngày 1/8/2014, nhóm PV Báo PLVN đã có buổi làm việc với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum để phản ánh về sự cố “làm mất hồ sơ lâm sản” của Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi. Thừa ủy quyền của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, ông Nguyễn Văn Tiến (Phó Chi cục trưởng) và ông Phạm Dục Tú (Kiểm lâm viên thuộc Phòng Thanh tra pháp chế) trả lời như sau:
Thông tư 01 quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp, kiểm tra nguồn gốc lâm sản phải lưu giữ tại Hạt Kiểm lâm sở tại nhưng không quy định rõ thời gian, còn với chủ lâm sản phải lưu giữ trong vòng 05 năm. Từ trước đến nay, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum chưa phát hiện và xử lý trường hợp Hạt Kiểm lâm nào trên địa bàn làm mất hồ sơ lâm sản được lưu giữ. Trường hợp Hạt Kiểm lâm sở tại làm mất hồ sơ lâm sản được lưu tại hạt thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
Cùng với đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum đã tiếp nhận biên bản làm việc giữa Báo PLVN và Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, thể hiện Hạt Kiểm lâm này không tìm thấy 01 bộ hồ sơ lâm sản của Chi nhánh Cty Minh Trung với lý do “có thể do bị thất lạc”.
Nguồn tin riêng của Báo PLVN cho hay, sau buổi làm việc với nhóm PV, ngày 4/8/2014 Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn số 80/CCKL-TTPC do ông Nguyễn Tấn Liêm (Chi cục trưởng) ký, yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi thực hiện một số nội dung sau:
Một là, chỉ đạo công chức phụ trách thanh tra, pháp chế phối hợp với ông Huỳnh Công Tuy (nguyên là công chức phụ trách thanh tra, pháp chế của Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi) tìm bộ hồ sơ xác nhận lâm sản lưu thông có Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000165, ký hiệu AA/11P, ngày 29/9/2012, Hợp đồng mua bán gỗ của Chi nhánh Cty Minh Trung và Bảng kê lâm sản ngày 29/8/2012 có xác nhận, chữ ký của ông Nguyễn Quốc Tuấn (nguyên là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi) và ông Huỳnh Công Tuy để lưu trữ theo đúng quy định.
Hai là, trường hợp bị thất lạc phải phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan tìm lại bộ hồ sơ nói trên để lưu trữ tại đơn vị theo đúng quy định. Kết quả thực hiện báo cáo về Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum trước ngày 10/8/2014 (kèm theo bản sao bộ hồ sơ lâm sản nêu trên). (Pháp Luật VN 9/8) đầu trang(
Nhằm phát huy vai trò của tuổi trẻ trong phát triển kinh tế xã hội, Huyện đoàn Pác Nặm đã phát động phong trào đăng ký trồng rừng năm 2014 đến các cơ sở đoàn trên địa bàn nên đã thu hút nhiều đoàn viên thanh niên tham gia.
Năm 2013, Huyện đoàn Pác Nặm bắt đầu tham gia phong trào trồng rừng và đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi, mạnh mẽ của đông đảo đoàn viên thanh niên trên địa bàn huyện. Các cơ sở Đoàn trên địa bàn huyện đều có diện tích trồng rừng, tùy vào quỹ đất cộng đồng mà địa phương có.
Để công tác trồng rừng năm 2014 đạt kết quả cao nhất ngay từ đầu năm, Huyện đoàn đã phối hợp với ban quản lý dự án 147 tiến hành triển khai xuống tất cả các Đoàn xã để vận động lực lượng thanh niên là chủ hộ cũng như lao động chính trong gia đình đăng ký trồng rừng.
Qua cuộc vận động đã có gần 300 đoàn viên thanh niên đăng ký đảm nhận và tham gia trồng rừng với diện tích trên 250ha, trong số đó có 45ha trồng rừng tập trung sử dụng quỹ đất cộng đồng do thanh niên trực tiếp trồng chăm sóc và quản lý.
Anh Nguyễn Anh Tuấn – Bí Thư Huyện Đoàn Pác Nặm cho biết: Thực hiện việc trồng rừng của địa phương thì theo chỉ đạo của Đảng ủy, UBND huyện và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Bắc Kạn, Huyện đoàn Pác Nặm đã tiến hành phân bổ chỉ tiêu giao cho các cơ sở diện tích, số lượng để các cơ sở triển khai thực hiện. Đề nghị các cơ sở Đoàn tiếp tục vận động đoàn viên thanh niên đăng ký và thực hiện công tác trồng rừng trong năm 2014.
Việc đoàn viên thanh niên tham gia trồng rừng đã phát huy tốt vai trò của tuổi trẻ, xung kích đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và xoá nghèo bền vững. Thông qua công tác trồng rừng đã tạo ra một phong trào hoạt động mà ở đó thanh niên được gắn kết trao đổi với nhau góp phần củng cố tổ chức Đoàn, hội ở cơ cở ngày càng vững mạnh.
Như vậy, việc tổ chức Đoàn đứng ra đăng ký trồng rừng không chỉ giúp chính quyền địa phương hoàn thành tốt chỉ tiêu kế hoạch đề ra mà còn khẳng định được vai trò đi đầu trong phát triển kinh tế xã hội của lực lượng thanh niên.
Đồng thời giúp đoàn viên thanh niên có được hướng phát triển kinh tế phù hợp, từng bước xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu hiệu quả. (Đài PTTH Bắc Kạn 8/8) đầu trang(
Huyện Ba Chẽ có con sông Ba Chẽ chảy dài hơn 80km qua địa bàn. Sông Ba Chẽ không những cung cấp nguồn nước tưới cho hầu hết các cánh đồng của huyện, còn tạo độ ẩm cho khu vực bên bờ sông, từ đó hình thành nên các khu rừng nguyên sinh, nhất là các rừng tre phát triển tốt.
Vài chục năm trước đây, ở Ba Chẽ bạt ngàn tre, bây giờ chỉ còn lác đác ở các xã dọc theo con sông, còn lại đã được thay thế bằng các rừng trồng cây keo.
Ban đầu, việc phát triển các rừng keo thay tre có ưu điểm là tiêu thụ được số lượng lớn, người dân được hỗ trợ một phần về vốn, giống, nên mọi người đã phá tre để trồng keo. Thế nhưng sau vài vụ keo, các rừng keo lại lộ rõ các nhược điểm, là các vụ keo sau phải kéo dài hơn vụ trước vài ba năm, có khi đến hơn 10 năm mới được khai thác, vì keo là giống cây “phàm ăn” làm đất chóng bạc mầu.
Người trồng keo phải chờ đợi trong thời gian quá lâu, trong khi nhiều người phải vay vốn ngân hàng để trồng rừng. Mặt khác thiên tai cũng luôn rình rập, như cơn bão số 14 năm 2013 đã làm 3.700ha rừng keo, thông, sa mộc trên địa bàn huyện Ba Chẽ bị gãy, đổ, tổng thiệt hại ước tính khoảng 30 tỷ đồng.
Trong khi các rừng tre vẫn “bình yên”, thậm chí tre trồng ven bờ sông còn có tác dụng chống xói lở, chắn gió bão. Huyện Ba Chẽ có nhiều con sông lớn nhỏ, chia cắt các khu dân cư khiến giao thông nhiều khu vực đi lại rất khó khăn, cũng là lý do khiến cho các rừng keo ở các khu vực này khi thu hoạch bị giảm giá đến vài chục triệu đồng/ha so với các rừng keo nơi giao thông thuận tiện.
Vậy là, khi cây keo đã không mang lại nhiều nguồn lợi cho người trồng rừng, thì nhiều người lại nhớ đến các rừng tre, vốn là cây bản địa có rất nhiều ở Ba Chẽ. Nhất là các thôn, bản nằm bên các con sông mà chưa được xây cầu tràn, đường sá đi lại khó khăn. Tìm hiểu những người dân sống ở các vùng bị cách trở bởi sông suối, buộc phải bán các diện tích keo với giá rẻ, họ đều hoài niệm về các rừng tre.
Vì đây là nguồn thu hàng năm, thậm chí là hàng ngày của họ, bởi tre khai thác quanh năm, măng tre là thực phẩm chế biến thành món ăn ngon miệng. Các rừng tre còn có tác dụng bảo vệ môi trường cao khi việc khai thác tre không phải đốt rừng như khi khai thác gỗ keo, thích hợp cho việc bảo tồn các loại gỗ quý, các loại thảo dược có khả năng chữa bệnh cao; khai thác tre xong không cần phải trồng mới vì “tre già măng mọc”; các rừng tre không cần phải chăm bón.
Việc vận chuyển tre ở các khu vực cách trở sông suối cũng dễ dàng hơn, bởi tre đóng bè vận chuyển qua sông dễ dàng, thậm chí thả trôi theo đường sông. Các đoạn đường rừng nhỏ hẹp thì việc vận chuyển tre ra khỏi rừng cũng dễ hơn gỗ keo, vì tre có thể bó thành những bó rồi cho trâu kéo.
Một đơn vị thu mua nhiều tre ở huyện là Công ty TNHH MTV Sản xuất hàng xuất khẩu ANT (gọi tắt là Công ty ANT) có 2 xưởng sản xuất giấy ở huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên luôn trong tình trạng “đói” nguyên liệu tre.
Ông Phạm Đình Tuân, Phó Giám đốc Công ty ANT cho biết: “Hai xưởng giấy của chúng tôi có công suất 1.300 tấn giấy sản phẩm/năm. Để chạy hết công suất, chúng tôi phải cần đến khoảng 13.000 tấn tre/năm. Nếu nguồn nguyên liệu dồi dào, chúng tôi còn có thể nâng công suất sản lượng cao hơn nữa. Việc sản xuất giấy tre của Công ty đã tạo công ăn việc làm ổn định cho gần trăm công nhân được đóng bảo hiểm, thu nhập trung bình khoảng 4 triệu đồng/người/tháng. Hiện Công ty còn có khoảng 600 lao động theo thời vụ thực hiện các công việc thu hoạch, vận chuyển tre, chăm sóc tre, thu nhập khoảng 3 triệu đồng/người/tháng theo thời vụ”.
Cũng theo ông Tuân thì hiện Công ty thu mua tre với giá tương đương với giá keo (tính theo kg). Do lượng tre trong tỉnh không đủ, nên Công ty phải thu mua cả ở tỉnh ngoài, giá vẫn vậy, nhưng phải chi phí thêm vận chuyển khá tốn kém. Trong sản xuất giấy, cây tre có thể sử dụng được gần hết, chỉ bỏ đi cành lá. Tre còn dùng làm bàn, ghế, đũa, phoi từ các sản phẩm này lại tận dụng để làm giấy.
Trung tuần tháng 7 vừa qua tại huyện đã diễn ra hội thảo về xây dựng Đề án “Phát triển sản phẩm từ tre và ngành tre huyện Ba Chẽ trong chương trình OCOP”. Theo Đề án do Ban điều hành OCOP (Ban Xây dựng nông thôn mới tỉnh) trình bày, mục tiêu của Đề án là phát triển sản phẩm từ tre và ngành tre theo hướng nội sinh, gia tăng giá trị bằng hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm hàng hoá tre gắn với quy hoạch xây dựng du lịch, môi trường, bảo tồn và phát triển văn hoá, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, lấy ngành tre và sản phẩm tre làm trung tâm cho phát triển dược liệu, nông sản phẩm khác; xây dựng các làng nghề làm sản phẩm tre như bàn, ghế, thuyền, mủng… tạo việc làm cho người dân địa phương và xuất khẩu.
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, thì việc khôi phục các rừng tre cũng có những khó khăn. Các rừng keo dễ bảo vệ hơn, thường không xảy ra mất trộm. Còn với trồng tre thì khó hơn, nhất là trong việc khai thác măng tre “tự phát”, nhẹ, dễ vận chuyển. Ở cả khu vực miền Đông của tỉnh mới chỉ có một đơn vị thu mua tre là Công ty ANT.
Khi cây tre được trồng nhiều liệu có thể thu mua được hết? Điều này buộc huyện phải tính đến việc mở rộng đầu ra cho sản phẩm tre đến tỉnh ngoài, thậm chí là nước ngoài. Việc xây dựng các làng nghề sản xuất sản phẩm tre như đan rổ, rá, thuyền nan… cũng không hề đơn giản vì cũng cần tính đến đầu ra. (Báo Quảng Ninh 8/8) đầu trang(
Theo các chuyên gia, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng ở cả trong và ngoài nước những năm qua là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ trong nước. Quy mô thị trường đồ gỗ toàn cầu khoảng 300 tỷ USD/năm.
Bên cạnh đó, đến năm 2015, khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành, các DN sản xuất đồ gỗ sẽ có thị trường tiêu thụ rất lớn với hơn 620 triệu dân. Tuy nhiên, đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đến nay mới chiếm khoảng 2% thị phần.
Ở thị trường trong nước, bình quân tiêu dùng đồ gỗ trong 5 năm gần đây chiếm khoảng 40% tổng giá trị thương mại của ngành đồ gỗ Việt Nam, với giá trị khoảng 2,25 tỷ USD/năm.
Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam dự kiến đạt 6,5 tỷ USD, hàng thủ công mỹ nghệ ước đạt trên 2 tỷ USD, song lợi nhuận các DN không cao do chi phí đầu vào tăng mạnh, nguồn nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu, giá trị gia tăng của sản phẩm thấp.
Để khắc phục những khó khăn trên, Việt Nam cần xây dựng khu công nghiệp đồng bộ về ngành gỗ. Các DN trong nước cần cải tiến kỹ thuật, đặc biệt thông qua hình thức liên doanh với công ty vốn nước ngoài, tạo mối liên kết với các nhà sản xuất quốc tế và thị trường toàn cầu, các liên kết giữa DN trong nước, chủ động liên kết, đầu tư cùng với nông dân để tạo ra vùng nguyên liệu. (Công Thương 11/8) đầu trang(
NHNN cho rằng, các bộ, ngành, địa phương cần rà soát, nghiên cứu cơ chế bảo hiểm rủi ro đối với các sản phẩm cây công nghiệp dài ngày.
Cùng với đó, các cấp chính quyền địa phương khẩn trương rà soát, thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường. Đặc biệt, các bộ, ngành liên quan phải xây dựng kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng đến năm 2020 làm cơ sở để NH cho vay.
Phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng đã và đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Bên cạnh nguồn vốn ngân sách thì vốn tín dụng của hệ thống NH được ví như “dòng nước” để giúp người dân phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Không chỉ cho vay theo cơ chế tín dụng thông thường của các TCTD, các lâm trường, công ty lâm nghiệp và các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trong các lâm trường còn được hưởng một số cơ chế tín dụng ưu đãi như: hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh, DN, hợp tác xã, chủ trang trại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại 64 huyện nghèo nhất trên cả nước.
Ngoài ra, họ còn được Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay để trồng rừng sản xuất, phát triển sản xuất nông nghiệp, chế biến nông - lâm - thủy sản tại địa bàn. Các lâm trường, công ty lâm nghiệp ngoài việc tiếp cận vốn vay theo chương trình tín dụng nông nghiệp, nông thôn còn được vay với lãi suất tín dụng đầu tư tại NH Phát triển Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP của Chính phủ.
Với cơ chế cho vay như vậy nên tín dụng trong lĩnh vực lâm nghiệp đang được NH giải ngân nhiều hơn. Số liệu thống kê từ NHNN cho thấy, tổng dư nợ cho vay phát triển rừng đạt 3.464 tỷ đồng (năm 2013 so với năm 2012 dư nợ tăng trên 10%), trong đó dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm 87,5%. Đặc biệt, dư nợ cho vay trồng mới rừng đạt 1.925 tỷ đồng, chiếm 55,57% tổng dư nợ cho vay phát triển rừng. Một điểm sáng nữa là dư nợ cho vay các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng trong các lâm trường, công ty lâm nghiệp của năm 2013 đã tăng 18,55% so với cuối năm 2012.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia về lâm nghiệp thì đa số cho vay trồng rừng hiện nay được các NHTM áp dụng lãi suất cho vay thông thường, trong khi trồng rừng phải đầu tư dài hạn nên người dân cũng phải tính toán thận trọng trước khi vay vốn đầu tư.
Đại diện lãnh đạo cấp vụ của NHNN cho rằng, thời gian tới cho vay phát triển rừng nói riêng và cho vay lĩnh vực lâm nghiệp nói chung sẽ được đẩy mạnh. Theo ông, một số lợi thế là: mạng lưới NH đã được mở rộng đến vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa để giúp các vùng kinh tế khó khăn; bên cạnh hệ thống NHTM, NH Chính sách xã hội đã được phủ đến tất cả các huyện thì hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đã thực sự trở thành người bạn đồng hành cùng với nông dân trong phát triển sản xuất.
Ngoài ra, hoạt động tín dụng NH ở những vùng nông thôn, vùng có đất rừng không còn là công việc riêng của ngành NH mà đã từng bước được xã hội hóa, thông qua việc phối hợp chặt chẽ giữa ngành NH với chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị, xã hội từ trung ương đến địa phương. Nhiều tổ vay vốn, tổ tiết kiệm hình thành ở các xóm, ấp, thôn, bản đã góp phần đưa nguồn vốn cho vay của NH đến các hội viên của các Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, góp phần phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.
Giám đốc Agribank chi nhánh của một tỉnh miền núi phía Bắc cho rằng, thủ tục vay vốn đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn từng bước được cải cách, tiết giảm cho phù hợp với đặc thù sản xuất nông, lâm nghiệp và trình độ nhận thức của người nông dân.
Thay vì phải trực tiếp đến ký kết các hợp đồng vay vốn với NH thì Agribank đã cải cách cho vay thông qua các sổ vay vốn cấp cho các hộ nông dân và cán bộ tín dụng định kỳ đến các thôn bản để giải ngân, thu nợ thay vì người dân phải đến trụ sở của NH. Đặc biệt, hiện nay các lâm trường quốc doanh sau khi được sắp xếp lại thành các công ty lâm nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đã chủ động hơn trong sản xuất, kinh doanh, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Tuy nhiên, theo các NHTM, việc cho vay lĩnh vực lâm nghiệp cũng gặp những khó khăn, vướng mắc bởi địa điểm trồng rừng cách xa khu dân cư, giao thông đi lại khó khăn làm ảnh hưởng đến công tác trồng rừng của người dân, cũng như công tác thẩm định, kiểm tra việc sử dụng vốn vay của cán bộ NH.
“Việc đầu tư trồng rừng đòi hỏi nguồn vốn dài hạn trong khi nguồn vốn này của NH chiếm tỷ trọng thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển và bảo vệ rừng. Thời gian thu hồi vốn dài dẫn đến các lâm trường, công ty lâm nghiệp, chủ hộ trồng rừng gặp khó khăn trong việc trả nợ NH”, lãnh đạo một NHTM lớn cho biết.
Ngoài ra, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận trang trại cho các hộ dân, tổ chức trồng rừng, cung cấp các hồ sơ thiết kế trồng rừng, giấy báo giá giống, vật tư cho phía NH còn chậm, dẫn đến việc chậm giải ngân vốn vay và tiến độ thực hiện dự án...
Để giải quyết những vướng mắc trên, NHNN cho rằng, các bộ, ngành, địa phương cần rà soát, nghiên cứu cơ chế bảo hiểm rủi ro đối với các sản phẩm cây công nghiệp dài ngày.
Cùng với đó, các cấp chính quyền địa phương khẩn trương rà soát, thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường để các nông, lâm trường thực hiện các thủ tục đảm bảo tiền vay và vay vốn NH, đồng thời xử lý dứt điểm việc thanh toán nợ đọng cho các nông, lâm trường để các nông, lâm trường hoàn trả được nguồn vốn vay NHTM.
Đặc biệt, các bộ, ngành liên quan phải xây dựng kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng đến năm 2020 làm cơ sở để NH cho vay. (Thời Báo Ngân Hàng 8/8, tr5) đầu trang(
Theo báo cáo, từ đầu năm 2006 đến nay, tổng diện tích đất trồng rừng trên đảo Nhím là 271,6 ha rừng tràm trên tổng số diện tích 385 ha đất không ngập (tính từ cos 24,4 trở lên).
Đã tiến hành tỉa thưa, thông qua hình thức bán đấu giá công khai 49,5ha rừng tràm trồng năm 1991, thu được 6,87 tỷ đồng nộp vào ngân sách tỉnh.
Hiện còn 12 hộ dân chưa chịu nhận tiền hỗ trợ, đền bù để thực hiện việc di dời, giao đất cho đơn vị trồng rừng, trong đó có 3 hộ chưa nhận tiền lần nào; 9 hộ chưa nhận lần cuối cùng. Tổng diện tích lấn chiếm đất rừng của 12 hộ này là 25 ha, hiện vẫn trồng cây ăn trái và khoai mì.
Ngoài ra còn có 83 hộ dân tự ý cất nhà, chòi ở trên đảo, trong đó có 24 hộ lấn chiếm đất rừng cất nhà ở trên đảo từ năm 2012 đến nay. Đơn vị trồng rừng đã phối hợp với chính quyền xã Suối Đá tiến hành lập biên bản yêu cầu các hộ không cất nhà trên đất rừng, nhưng các hộ dân không thực hiện.
Tình trạng trộm cắp cây rừng và cố ý làm cho cây rừng chết diễn ra rất phức tạp, đơn vị quản lý phối hợp chính quyền xã Suối Đá phát hiện xử lý 4 vụ trộm cắp cây rừng, 1 vụ cố ý phá hoại 24 cây xà cừ 5 năm tuổi.
Ông Lê Minh Súng, Bí thư Đảng ủy xã Suối Đá cho biết, hiện đơn vị thuộc Tỉnh đội đã hoàn thành nhiệm vụ, UBND tỉnh có chủ trương giao toàn bộ diện tích đất không ngập cho UBND huyện Dương Minh Châu quản lý, tiếp tục thực hiện việc trồng rừng phòng hộ.
UBND huyện giao xã Suối Đá trực tiếp quản lý, hiện công tác bàn giao đang được xúc tiến. “Việc trồng rừng phòng hộ trên đảo Nhím được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, kể cả diện tích 25 ha của 12 hộ chưa nhận tiền đền bù cũng phải trồng rừng theo quy định. Những hộ lấn chiếm đất, phá hoại cây rừng sẽ bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật”- ông Lê Minh Súng khẳng định. (Báo Tây Ninh 8/8) đầu trang(
Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống, đồi núi trọc, năm 2014, huyện Cẩm Thủy phấn đấu trồng mới trên 400 ha rừng.
Trong đó trồng cây nhân dân trên 100 ha, rừng dự án nguyên liệu giấy Công ty Lâm nghiệp Cẩm Ngọc 167 ha, cải tạo trên 110 ha; đồng thời chăm sóc, bảo vệ, phát triển tốt diện tích rừng sản xuất gần 10.000 ha, nâng độ che phủ của rừng lên 40,9%.
Để đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra, huyện chỉ đạo các ban, ngành chức năng và UBND các xã, thị trấn tiếp tục nâng cao hơn nữa trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; tăng cường công tác tuyên truyền; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
Ban quản lý các chương trình, dự án trồng rừng của huyện chú trọng hướng dẫn nhân dân trồng theo hướng thâm canh, xen canh, gắn với tăng cường bảo vệ, phát triển và phòng cháy, chữa cháy rừng.
7 tháng đầu năm, toàn huyện trồng mới 374 ha rừng, đạt 93,5% kế hoạch, tập trung chủ yếu ở các xã Cẩm Tâm, Cẩm Ngọc, Cẩm Sơn, Cẩm Quý với các loại cây trồng chính, gồm: keo, lát và luồng. Công tác bảo vệ rừng được quan tâm, không để xảy ra cháy rừng, các điểm nóng về khai thác và buôn bán lâm sản trái phép. (Báo Thanh Hóa 8/8) đầu trang(
Từ năm 2005 đến nay, huyện Phù Mỹ đã triển khai có hiệu quả công tác trồng rừng WB3 (Dự án phát triển ngành Lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới tài trợ), góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân địa phương.
Để làm tốt công tác trồng rừng, thời gian qua, Ban thực hiện Dự án WB3 huyện Phù Mỹ đã rà soát toàn bộ quỹ đất, lập kế hoạch diện tích thiết kế đo đạc, lập bản đồ, thiết kế lô…
Đồng thời, kiện toàn Ban thực hiện Dự án WB3 huyện và các tổ công tác thường xuyên của xã. Huyện cũng đã tổ chức tập huấn cho các hộ trồng rừng dự án, chuyển giao kỹ thuật xử lý thực bì, đào hố, bón phân chuồng; đồng thời, chọn cây giống ở những đơn vị có uy tín, đủ điều kiện, rõ ràng về mặt pháp lý, tuyệt đối không mua cây giống trôi nổi về trồng; tập huấn về phòng chống cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại cây rừng...
Nhờ vậy, chất lượng cây giống bảo đảm; việc chăm sóc rừng trồng áp dụng đúng quy trình kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh theo chu kỳ phát triển của từng giống cây, nên tỉ lệ cây sống đạt trên 90%. Ban thực hiện Dự án WB3 đã làm tốt công tác tham mưu cho UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), tạo điều kiện để các hộ tham gia Dự án tiếp cận nguồn vốn vay, nhằm đầu tư thâm canh rừng trồng có hiệu quả.
Qua 9 năm (2005 – 2013) huyện Phù Mỹ thực hiện dự án trồng rừng WB3, với 06 xã tham gia: Đến nay đã trồng rừng với tổng diện tích: 1.607,4 ha, tập trung 02 loại cây chính: keo và bạch đàn, tổng số hộ tham gia là: 1.328 hộ, với diện tích sổ đỏ trong dự án được cấp trên 1.472 ha/1.218 hộ,tổng vốn đã giải ngân trên 13 tỷ đồng.
Sau 9 năm thực hiện Dự án WB3, người trồng rừng được Dự án hỗ trợ rất thiết thực. Qua đó, nông dân nhận biết tốt hơn về trồng rừng thâm canh, ứng dụng kỹ thuật; được cấp sổ đỏ; được vay vốn đầu tư; sử dụng được đất đai, nhất là đất trống, núi trọc, đất rừng kém hiệu quả đưa vào khai thác có hiệu quả; cây trồng phát triển khá tốt. (UBND Huyện Phù Mỹ 7/8) đầu trang(
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Kiên Giang, trên địa bàn tỉnh có hơn 385km bờ sông, bờ biển bị sạt lở và nhiều đoạn, tuyến khác tiềm ẩn nguy cơ sụt lở cao ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống của người dân.
Theo đánh giá của các ngành chức năng, tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển tại tỉnh Kiên Giang rất nghiêm trọng nhất là cao điểm mùa bão, lũ sắp đến. Trong khi đó nguồn vốn đầu tư chống sạt lở khá lớn, vượt khả năng của địa phương.
Điển hình như tuyến bờ biển dài hơn 200km từ Mũi Nai (Hà Tiên) đến Tiểu Dừa (An Minh) tiếp giáp với tỉnh Cà Mau có nhiều đoạn bị sạt lở gần đến chân đê quốc phòng. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và nhiều tác động bất lợi khác...
Bên cạnh đó, đai rừng ngập mặn phòng hộ ven biển mỏng và nhiều đoạn rừng mất đi, không còn khả năng phòng hộ bảo vệ, làm giảm cường độ của sóng biển đánh mạnh vào bờ. Tình trạng khai thác đánh bắt ven bờ vừa gây suy kiệt nguồn lợi thủy sản, vừa ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái rừng, biển ven bờ làm mất khả năng tái tạo, phục hồi của rừng phòng hộ.
Tình trạng sạt lở hai bên bờ cũng xuất hiện ở hầu hết các con sông, kênh xáng, nhất là những dòng sông, kênh rạch dọc theo tuyến Quốc lộ 80, 61 và 63. Do lượng tàu thuyền lưu thông với mật độ dày, tạo sóng mạnh đánh vào bờ và xe có trọng tải nặng chạy trên đường, gây áp lực tải trọng mặt đường, nhất là những đoạn nền đất yếu.
Cùng với đó, trên vùng Tứ giác Long Xuyên, vào mùa lũ hàng năm, nước lũ thượng nguồn đổ về khối lượng lớn, cường độ mạnh kết hợp với mưa bão kéo dài gây sạt lở, nhất là những khu vực tiếp giáp nhiều nguồn nước tạo dòng xoáy tác động vào hai bên bờ sông, kênh rạch.
Theo ông Lâm Hoàng Sa, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang, tỉnh đang xây dựng dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển để thích ứng với biến đổi khí hậu. Dự án đã được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Đức thống nhất, đang trong quá trình hoàn thiện dự án, dự kiến sẽ thực hiện trong năm 2015.
Trong quy hoạch và xây dựng hệ thống thủy lợi đa mục tiêu vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ nay đến năm 2020, định hướng năm 2030 ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phục vụ phát triển sản xuất toàn vùng, Kiên Giang được phân bổ nguồn vốn đầu tư xây dựng hoàn thiện đê biển Tây, một số tuyến đê sông, xây dựng nhiều công trình thủy lợi trọng điểm. Các công trình này sẽ góp phần hạn chế, khắc phục tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển.
Trước mắt, tỉnh Kiên Giang chỉ đạo ngành chức năng phối hợp với các địa phương rà soát lại những bờ sông, bờ biển bị sạt lở, tập trung gia cố, bồi trúc và trồng cây gây rừng. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhanh những dự án khôi phục rừng ngập mặn phòng hộ ven biển tại các huyện An Biên, An Minh, Hòn Đất và Kiên Lương.
Khoán bảo vệ phát triển rừng cho hộ dân và kiểm soát chặt chẽ việc trồng rừng theo đúng tỷ lệ quy định để tái sinh, khôi phục nhanh rừng ngập mặn ven biển, tăng khả năng phòng hộ, ứng phó trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Các mô hình canh tác có hệ thống cây xanh chống xói lở, sạt lở đất, chắn gió bảo vệ mùa màng được khuyến khích xây dựng, ổn định mô hình sản xuất ngư-nông -lâm nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả, năng suất và chất lượng cao, góp phần phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương...(VietnamPlus 8/8) đầu trang(
Để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, từ nhiều năm nay, Đảng và Chính phủ đã có nhiều biện pháp, giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ dân đang sống trong rừng, sống gần rừng và hàng ngày vì mưu sinh đang có những tác động tới rừng.
Một trong những chương trình, dự án đã và đang làm được điều này là Dự án Phát triển lâm nghiệp Lâm Đồng (Dự án FLITCH Lâm Đồng) thuộc Sở NN-PTNT.
Từ thực tế của địa phương, Dự án FLITCH Lâm Đồng có mục tiêu chính là giảm tỷ lệ hộ đói, thu hẹp khoảng cách về thu nhập của các hộ nghèo so với các hộ trung bình, trong đó quan tâm thực sự tới thu nhập của cộng đồng DTTS - ở những địa bàn phải sống dựa vào rừng; giải quyết những nhu cầu thiết yếu về kết cấu hạ tầng KT-XH, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân… để thực hiện thành công việc “… quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học với sự tham gia của cộng đồng, các chủ thể nhà nước và tư nhân”.
Như vậy, với Dự án FLITCH Lâm Đồng, xóa nghèo bền vững cho cư dân sống trong rừng và sống gần rừng được xác định là giải pháp chính để bảo vệ rừng bền vững. Dự án FLITCH Lâm Đồng được triển khai từ năm 2007 tại 60 thôn DTTS thuộc 10 xã của các huyện Lạc Dương, Di Linh, Đam Rông, với tổng diện tích 181.515ha rừng và 7.048 hộ (36.053 khẩu) hưởng lợi trực tiếp.
Kỹ sư Phan Văn Tý (Dự án FLITCH Lâm Đồng) cho hay, 28% chủ hộ tham gia dự án hiện là phụ nữ DTTS. Bằng các nguồn vốn huy động được (chủ yếu là vốn ODA), Dự án FLITCH Lâm Đồng tới đầu năm nay đã trồng mới được 2.698ha rừng (trong đó trồng rừng hộ dân 1.441ha/1.209 hộ, trồng rừng doanh nghiệp 1.257ha), hỗ trợ 2.002 hộ nghèo cải tạo thành công 204ha vườn hộ trong khu dân cư, 2.011 hộ khác thực hiện 1.990ha nông lâm kết hợp, giao khoán quản lý 22.880ha rừng tự nhiên cho hơn 1.257 hộ.
Theo định mức đầu tư đã được các cấp có thẩm quyền thông qua, với hạng mục trồng rừng hộ gia đình, Dự án FLITCH Lâm Đồng đã hỗ trợ các hộ tham gia 10 triệu đồng/ha (trồng mới và 3 năm chăm sóc); các hộ này sau đó sẽ được dự án tiếp tục hỗ trợ việc nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và có nghĩa vụ nộp một phần giá trị lâm sản tương đương 150 USD/ha (theo tỷ giá tại thời điểm khai thác) cho quỹ phát triển xã.
Còn với việc sản xuất nông lâm kết hợp, từ năm 2010, Dự án FLITCH Lâm Đồng đã chuyển giao kỹ thuật, cây giống và hỗ trợ 6 triệu đồng vốn/ha cho bà con DTTS nghèo trong vùng dự án trồng bơ ghép, muồng đen xen trong vườn cà phê với mức bình quân 1ha/hộ. Cải tạo vườn hộ được triển khai với định mức hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ có diện tích vườn cần cải tạo dưới 500m2 và 2 triệu đồng/hộ có diện tích vườn cần cải tạo trên 500m2.
Bình quân mỗi hộ DTTS trong tổng số 1.257 hộ nhận khoán được giao khoán quản lý 19ha rừng cũng đã có thêm nguồn thu 5,2 triệu đồng/năm. Từ nguồn vốn đầu tư ban đầu và bằng các nguồn đóng góp từ những hộ hưởng lợi, tới nay, Dự án FLITCH Lâm Đồng còn thành lập được 10 quỹ phát triển xã; các quỹ này đã cho 904 hộ nghèo vay 3,8 tỷ đồng với lãi suất 0,65%/năm để phát triển sản xuất bền vững (qua khảo sát của dự án thì có 699 lượt hộ vay 2,92 tỷ đồng để sản xuất cây trồng, 191 lượt hộ vay 0,833 tỷ đồng để phát triển chăn nuôi, 14 lượt hộ vay 0,058 tỷ đồng để kinh doanh vật tư nông nghiệp).
Theo ông Hồ Quốc Thạnh, Giám đốc Dự án FLITCH Lâm Đồng, sau vài năm nữa chưa kể các nguồn thu nhập có được từ nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp và quản lý bảo vệ rừng, diện tích rừng của bà con DTTS nghèo được dự án hỗ trợ trồng sẽ cho khai thác gỗ với mức thu nhập không dưới 40 triệu đồng/ha; cây bơ ghép trong mô hình nông lâm kết hợp cũng cho thu nhập 30-40 triệu đồng/ha. Lúc đó, đời sống của các hộ DTTS nghèo trong vùng dự án sẽ thực sự thay đổi.
Còn hiện nay, tuy chưa có thu nhập từ rừng trồng và từ các loại cây nông lâm kết hợp nhưng đời sống của các hộ nghèo trong vùng đã bước đầu được cải thiện khi trên 40 công trình có tính bức thiết cao như công trình giao thông, thủy lợi, trạm xá… được Dự án FLITCH Lâm Đồng đầu tư đã đưa vào khai thác phục vụ phát triển KT-XH của địa phương. (Báo Lâm Đồng 8/8) đầu trang(
Dự án cần thu hồi đất (bao gồm cả dự án cần chuyển mục đích sử dụng đất): Tổng số dự án cần thu hồi đất để phát triển KT -XH vì lợi ích quốc gia, công cộng và các dự án có sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh 114 dự án với tổng diện tích thu hồi và chuyển mục đích 541, 26 ha bao gồm: đất trồng lúa 53,98 ha, đất rừng phòng hộ 39 ha, đất khác (các loại đất còn lại như đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất ở...) 448, 28 ha.
Cụ thể: dự án xây dựng trụ sở cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT -XH; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương: 15 dự án với diện tích 22,68 ha (trong đó, đất trồng lúa 18,77 ha; đất khác 3,91 ha); dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải: 63 dự án với diện tích 314,32 ha (trong đó, đất trồng lúa 18,81 ha; đất rừng phòng hộ 20,30 ha; đất khác 275,21 ha); dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư, dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng: 6 dự án với diện tích 24,15 ha (trong đó: đất lúa 0,65 ha; đất khác 23,50 ha); dự án xây dựng khu đô thị mới, KDC NTM; chỉnh trang đô thị, KDC nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng: 16 dự án với diện tích 58,48 ha (trong đó, đất lúa 14,75 ha; đất rừng phòng hộ 10,70 ha; đất khác 33,03 ha); Các dự án cơ sở SX -KD, sản xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, du lịch sinh thái có diện tích đất phải thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép: 14 dự án với diện tích 121,63 ha (trong đó, đất lúa 1 ha; đất rừng phòng hộ 8 ha; đất khác 112,63 ha).
Diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ cần chuyển mục đích sử dụng đất: Tổng số dự án cần chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ để phát triển KT -XH, vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh là 48 dự án với tổng diện tích chuyển mục đích sử dụng 59, 89 ha bao gồm: đất trồng lúa 20,89 ha, đất rừng phòng hộ 39 ha.
Cụ thể: Đất các dự án, công trình trụ sở cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT -XH: 3 dự án với diện tích 1, 61 ha đất lúa; đất các dự án, công trình cơ sở y tế: 1 dự án với diện tích 0, 18 ha đất lúa; đất các dự án, công trình cơ sở giáo dục, đào tạo: 1 dự án với diện tích 0, 04 ha đất lúa; đất các dự án, công trình giao thông: 16 dự án, với diện tích 25, 77 ha.
Trong đự: đất lúa 5,49 ha, đất rừng phòng hộ 20,28 ha; đất các dự án, công trình thủy lợi: 9 dự án, với diện tích 6, 43 ha đất trồng lúa; đất các dự án, công trình năng lượng: 11 dự án với diện tích 1, 07 ha.
Trong đự, đất lúa 1,05 ha, đất rừng phòng hộ 0,02 ha; đất các dự án, công trình chợ: 1 dự án với diện tích 0, 65 ha đất trồng lúa; đất các dự án đấu giá đất ở: 1 dự án với diện tích 2, 76 ha đất lúa; đất các dự án bố trí ổn định dân cư: 1 dự án với 10, 70 ha đất trồng rừng phòng họ; đất các dự án quy hoạch KDC: 1 dự án với 0, 73 ha đất lúa; đất các dự án mở rộng KCN Lương Sơn (cần chuyển mục đích đất trồng lúa), cơ sở SX -KD, du lịch sinh thái: 3 dự án với diện tích 9,95 ha, trong đó, đất trồng lúa 1,95 ha, đất rừng phòng hộ 8 ha. (Báo Hòa Bình 8/8) đầu trang(
Tình trạng đất rừng không xác định được ranh giới do không có mốc giới cụ thể trên thực địa và việc chỉ giao theo lô, khoảnh, trên bản đồ đã dẫn đến không ít những hệ lụy, trong đó đã xảy ra những vụ tranh chấp, lấn chiếm đất rừng...
Trở lại vụ việc bàn giao 4.745ha đất rừng thu hồi của Công ty Thành Tín cho hai xã Hà Lâu, Hải Lạng của huyện Tiên Yên còn đang dở dang đã khiến cho Tiên Yên như “ngồi trên đống lửa”.
Ông Đỗ Hữu Duy, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tiên Yên cho biết: Không chỉ đến thời điểm này, khi đất rừng của Công ty Thành Tín đã chính thức được thu hồi và đang thực hiện lộ trình giao lại cho địa phương mà ngay từ cách đây gần 1 năm, khi mới có thông tin về việc thu hồi này, nhiều người dân thôn Khe Ngà, Phò Mẩy (xã Hà Lâu), thôn Tiên Hải (xã Điền Xá) thuộc huyện Tiên Yên đã bắt đầu rủ nhau chặt phá cây trên rừng, cắm mốc trên diện tích rừng của Công ty hòng mục đích lấn chiếm đất để trồng rừng.
Ngay cả diện tích rừng măng của đơn vị này cũng bị người dân bản địa lén lút chặt phá. Thậm chí các đối tượng này còn tranh nhau chặt phá, lấn chiếm, xí phần đất rồi xảy ra mâu thuẫn, đánh chém nhau, gây mất an ninh trật tự...
Có mặt tại khu vực rừng trồng măng của Công ty Thành Tín tại xã Hải Lạng mới thấy toàn bộ diện tích này gần như đã trở thành đất trống đồi núi trọc. Tất cả số cây tre Bát độ ở đây đều đã bị đốn hạ, nằm ngổn ngang trên rừng hoặc đang được người dân kéo xuống đường, tận thu về làm chất đốt.
Ông Lộc Văn Sinh, Phó Chủ tịch UBND xã Hải Lạng cho biết: Ở những diện tích khác Công ty Thành Tín không triển khai trồng rừng thì không nói, song riêng diện tích này chỉ một năm trước đây đều xanh um các khóm tre. Nhiều khóm phát triển tốt, bắt đầu cho măng.
Vậy mà bây giờ thì chẳng còn gì nữa. Trước thực trạng này, các ngành chức năng của huyện Tiên Yên đã rất vất vả trong việc ngăn chặn, xử lý, tuy nhiên, cũng chỉ hạn chế được phần nào. Riêng diện tích rừng tre tại xã Hải Lạng trong tầm mắt của chúng tôi đã gần như mất hẳn dấu vết của những khóm tre xanh um như lời Phó Chủ tịch UBND xã Hải Lạng Lộc Văn Sinh nói.
Điều đáng nói là không chỉ có diện tích đất rừng thu hồi của Công ty Thành Tín xảy ra hiện tượng bị xâm hại, lấn chiếm, tranh chấp dẫn đến mất an ninh trật tự mà nhiều diện tích đất rừng khác trên địa bàn cũng đã xảy ra tình trạng tương tự. Tiêu biểu như vụ mất hơn trăm ha rừng ở xã Minh Cầm (huyện Ba Chẽ) năm 2013, hay như tranh chấp kéo dài giữa các diện tích rừng của các công ty lâm nghiệp với người dân, giữa người dân với người dân ở xã Tình Húc, Vô Ngại (huyện Bình Liêu), xã Tràng Lương (huyện Đông Triều), xã Hà Lâu (huyện Tiên Yên)…
Riêng sự việc tranh chấp hơn 230ha rừng thông ở huyện Bình Liêu đã diễn ra trong thời gian dài, qua nhiều cấp có thẩm quyền giải quyết đến nay vẫn chưa có biện pháp xử lý thoả đáng. Còn vụ việc ở xã Hà Lâu, huyện Tiên Yên đã diễn ra với mức độ nghiêm trọng hơn, khi đầu tháng 2 vừa qua, gần 30 hộ dân thôn Bắc Buông, xã Hà Lâu đã cùng nhau phá gần 1,6ha rừng tự nhiên thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên để trồng rừng.
Đặc biệt gần đây nhất, Công ty CP Phát triển Bền Vững đã hầu như không dám tổ chức các hoạt động tận thu gần 300ha rừng bị gãy đổ trong cơn bão Hải Yến cuối năm 2013 vừa qua trên địa bàn xã Thanh Sơn, huyện Ba Chẽ thuộc quyền quản lý của mình, bởi cứ làm đường, tận thu rừng đến đâu là bị người dân lấn chiếm, trồng kế cây rừng vào đến đó.
Thậm chí một số diện tích người dân còn không cho phương tiện của Công ty vào hoạt động khai thác, vận chuyển. Ông Nguyễn Văn Hoàng, cán bộ của Công ty CP Phát triển Bền Vững bức xúc nói: Thật là vô lý khi rừng của mình mà lại bị ngang nhiên lấn chiếm, và tình trạng này vẫn cứ diễn ra mỗi khi đơn vị có hoạt động khai thác rừng ở đây. Điều này đã gây thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đầu tư vào rừng của đơn vị…
Điều đáng nói là qua kết quả điều tra, xử lý của các đơn vị chức năng về các sự việc trên cho thấy tất cả đều có chung một yếu tố quan trọng trong quản lý nhưng bị bỏ qua đó là không có mốc giới trên thực tế.
Bởi vậy việc xác định ranh giới, diện tích rất mông lung, thậm chí không xác định được. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp cũng như bất cập làm khó các đơn vị chức năng khi xử lý, giải quyết sự việc. (Báo Quảng Ninh 7/8) đầu trang(
Việc không xác định được ranh giới đất rừng trên thực địa đã và đang dẫn đến không ít hệ lụy.
Để giải quyết vấn đề này, từ đó tăng cường phát huy giá trị rừng và đất rừng cũng như hiệu quả công tác quản lý và sử rụng đất rừng, thiết nghĩ cần một giải pháp mang tính tổng thể.
Điều đáng nói là tình trạng không xác định được ranh giới đất rừng trên thực địa có nguy cơ sẽ còn tiếp diễn và với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Bởi hiện nay ngoài một số ít rừng và đất rừng thuộc quyền quản lý của các tổ chức nhà nước đã được xác định rõ ranh giới, diện tích, còn lại một số lượng rất lớn diện tích đã giao cho các tổ chức, doanh nghiệp đều chưa được xác định ranh giới. Trong đó có những đơn vị được giao với diện tích rất lớn, hàng ngàn, đến vài ngàn ha, nhất là khối các công ty lâm nghiệp.
Đơn cử như diện tích của các Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên, Ba Chẽ, Đông Triều, Hoành Bồ… đều có từ 2.000ha đến trên 4.000ha đất rừng. Ngoài ra hiện nay vẫn còn những doanh nghiệp được giao đất rừng song chậm triển khai có nguy cơ bị thu hồi giống như trường hợp của Công ty Thành Tín.
Đơn cử như đối với Công ty CP Việt Mỹ, đơn vị này bị đánh giá là thiếu năng lực khi được giao gần 90ha đất lâm nghiệp để phát triển rừng tại một số xã thuộc huyện Đầm Hà từ gần chục năm qua nhưng đến nay chưa hề triển khai. Bên cạnh đó, đến thời điểm này một số công ty lâm nghiệp đã chính thức trả lại cho tỉnh trên 14.000ha rừng và đất rừng hoạt động thiếu hiệu quả.
Tất cả số diện tích này đều có nguy cơ bị tranh chấp, lấn chiếm, cần phải được khẩn trương giao cho địa phương, người dân để ổn định, phát triển sản xuất. Riêng về phía cơ quan quản lý nhà nước có chức năng bàn giao đất rừng cho các địa phương sẽ rất khó khăn khi mà chính đơn vị này cũng không biết chính xác diện tích đó cụ thể nằm ở đâu, tiếp giáp với diện tích đất rừng cũng như các diện tích các loại đất khác của đơn vị nào, hiện trạng rừng ra sao...
Thực tế trên cho thấy đã đến lúc cần phải có một giải pháp mạnh mẽ và mang tính tổng thể trong việc xác định ranh giới đất lâm nghiệp. Để làm được việc này, theo đại diện Sở TN-MT cần phải thuê tư vấn chuyên ngành để đo đạc cụ thể, đưa ra con số chính xác về diện tích, vị trí tiếp giáp, giá trị rừng... nhằm xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp. Song song với việc đó cần cắm mốc giới cố định, bền vững ngay tại hiện trạng rừng đã được xác định ranh giới.
Tuy nhiên, theo ông Vũ Trọng Tuấn, Trưởng Phòng Kế hoạch, Sở TN-MT, mặc dù các hoạt động trên đã bắt đầu được triển khai song hiện đang gặp khó khăn về kinh phí, khiến cho tiến độ và hiệu quả công việc chưa được đẩy nhanh như mong muốn.
Nói về việc này, ông Vũ Văn Diện, Chủ tịch UBND huyện Tiên Yên - địa phương được bàn giao 4.745ha đất rừng thu hồi của Công ty Thành Tín khẳng định: Việc xác định rõ ranh giới đất lâm nghiệp trên toàn tỉnh nói chung, đất thu hồi của Công ty Thành Tín bàn giao lại cho Tiên Yên nói riêng nhất định phải được triển khai thận trọng, khoa học và trong thời gian sớm.
Riêng đối với Tiên Yên, nơi mà người dân ổn định và cải thiện cuộc sống nhờ kinh tế rừng thì việc giao đất rừng cho dân để phát triển sản xuất còn mang ý nghĩa an dân, đảm bảo an ninh trật tự xã hội trên địa bàn nên thật sự rất cần thiết, cấp bách. Quan điểm của Tiên Yên là ưu tiên để làm việc này ngay công tác xác định ranh giới đất rừng trên thực địa thậm chí nếu cần huyện sẵn sàng gác lại một số mục tiêu để dành nguồn lực cho nhiệm vụ nói trên.
Vì thế huyện Tiên Yên rất mong tỉnh và các cơ quan chức năng sớm giải quyết các vấn đề liên quan đến xác định ranh giới đất rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho Tiên Yên cũng như các địa phương.
Cùng quan điểm với ông Vũ Văn Diện, ông Phạm Văn Phát, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Đất rừng cũng như các loại đất khác cần phải được xác định ranh giới, diện tích cụ thể, chính xác, không chỉ xác định trên bản đồ mà cả ngoài thực địa.
Có như vậy thì mới quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách hiệu quả, lâu dài được, cũng như là cơ sở để thắt chặt, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Bởi vậy tôi cho rằng việc xác định ranh giới đất rừng trên thực địa cần phải làm ngay, thậm chí dẫu khó cũng phải làm. (Báo Quảng Ninh 8/8) đầu trang(
Đó là ý kiến chỉ đạo của Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi tại buổi làm việc với đại diện các sở, ngành, huyện để nghe báo cáo tình hình rà soát quỹ đất thực hiện trồng rừng thay thế đối với các dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 829, ngày 23-4-2014 của Bộ NN&PTNT (gọi tắt là Đề án 829), được tổ chức sáng 7-8.
Theo Đề án 829, toàn tỉnh có 28 dự án thực hiện trồng rừng thay thế với diện tích 2.504 ha. Trong đó, 3 dự án (256 ha) trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng sang làm thủy điện; 25 dự án (2.248 ha) chuyển mục đích sử dụng rừng sang các mục đích khác gồm: 8 dự án quốc phòng - an ninh, 7 dự án định canh - định cư, 1 dự án đường giao thông, 1 dự án nghĩa địa và 8 dự án khác. Đề án 829 dự kiến thực hiện từ năm 2014 đến 2016.
Hiện diện tích có thể sử dụng để thực hiện trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh chủ yếu từ diện tích đất trống trong các nông - lâm trường và ban quản lý rừng; diện tích đất vùng bán ngập của lòng hồ Phước Hòa; diện tích đất bán ngập thuộc các lòng hồ thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Sork Phu Miêng.
Qua khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND các huyện, xã thì hầu hết diện tích vùng bán ngập đang bị lấn chiếm hoặc tái lấn chiếm nên không thể triển khai trồng rừng trong năm 2014. Hiện tiến độ thực hiện trồng rừng thay thế chỉ dừng lại ở bước triển khai các chủ trương, chính sách; đồng thời rà soát các dự án có diện tích rừng chuyển sang mục đích khác và rà soát diện tích có khả năng để trồng rừng thay thế.
Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi chỉ đạo: Sở Nông NN&PTNT khảo sát thực địa. Sau khi có kết quả sẽ giao diện tích vùng bán ngập để UBND các huyện quản lý, trồng những loại cây đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Đồng thời sở cần tham mưu xây dựng chính sách trồng rừng lâu dài và phải tổ chức sơ kết việc trồng rừng những năm gần đây trong thời gian gần nhất. (Báo Bình Phước 7/8) đầu trang(
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững, trong những năm qua huyện Chợ Đồn đã đề ra những chủ trương, giải pháp về phát triển kinh tế, tạo thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân…
Trong đó, phải kể đến việc thực hiện hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý.
Những năm 80 của thế kỷ trước, độ che phủ rừng của Chợ Đồn chỉ ở mức khoảng 35%, tỉ lệ đất trống đồi núi trọc ngày càng nhiều do nạn phá rừng làm nương rẫy, biến hàng chục nghìn ha rừng thành đất canh tác nông nghiệp. Việc khai thác gỗ rừng tự nhiên trái phép đã làm cho tài nguyên rừng ở địa phương này ngày càng cạn kiệt, môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng.
Thiệt hại về rừng khó có thể đo lường hết được. Hiện tượng đất rừng bị xói mòn xảy ra thường xuyên, nguồn nước từ các khe suối nhanh khô cạn. Những nương rẫy của nhân dân tự khai phá trên đồi có độ dốc lớn ngày càng nhanh bạc màu, năng suất cây trồng cũng thấp đi…
Đứng trước thực trạng đó, trên tinh thần của Nghị định 02/1994/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/01/1994, huyện Chợ Đồn đã ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã tiến hành thực hiện giao đất, giao rừng về cho hộ dân quản lý. Chính sách này đã xác định quyền làm chủ của người dân đối với tài nguyên rừng.
Bằng Lãng là một trong ba xã đầu tiên của huyện Chợ Đồn tiến hành giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình sử dụng từ 1992. Thực hiện 3 đợt (1992, 1993, 1997) xã giao được 1.276,97 ha, chiếm gần 50% diện tích đất lâm nghiệp trong đó diện tích rừng tự nhiên hơn 795 ha; diện tích đất trống gần 500ha cho 305 hộ dân trong toàn xã. Diện tích giao tính bình quân trên một hộ là 4ha. Phần đất còn lại chủ yếu đồi núi đá, những khu rừng xa dân cư do xã quản lý.
Nhờ giao đất, giao rừng người dân xã Bằng Lãng đã chủ động hơn trong việc khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng trên diện tích được giao. Không xảy ra tình trạng tự do khai thác lâm sản và phát đốt rừng làm nương rẫy như trước mà thay vào đó mỗi hộ dân đã tổ chức lại sản xuất, lựa chọn cây trồng và vật nuôi cho phù hợp với điều kiện đất đai, nhân lực và khả năng đầu tư sản xuất của hộ gia đình. Từ đó, độ che phủ rừng của Bằng Lãng cũng tăng theo thời gian và đời sống của người dân cũng từng ngày được cải thiện.
Với mục tiêu mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ và thay đổi tập quán của người dân, tạo việc làm, góp phần hạn chế sự tác động của con người đến hệ sinh thái rừng... Việc giao đất, giao rừng của huyện Chợ Đồn được khẩn trương thực hiện, đến năm 2000 cơ bản hoàn thành. Huyện Chợ Đồn đã cấp 91.155 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở, đất nông nghiệp) cho 7.900 hộ dân với diện tích 41.760,611 m2.
Để người dân mặn mà với rừng, khai thác hiệu quả quỹ đất được giao quản lý nhiều Dự án hỗ trợ trồng rừng như PAM, 661…được đưa vào thực tiễn. Người dân tích cực trồng rừng nhưng tư duy một bộ phận chưa thay đổi bởi cái nghèo, cái đói khiến họ coi trồng rừng như một công việc để đổi lấy gạo ăn.
Chỉ trong mấy năm huyện Chợ Đồn đã có mấy nghìn ha rừng trồng, những cánh rừng đồi núi trọc đã dần được phủ xanh. Phong trào trồng rừng của huyện đặc biệt phát triển mạnh mẽ từ khi có Dự án 147 được triển khai. Nhận thức của người dân từ trồng rừng thay đổi khi những diện tích rừng trồng từ những năm 1996-1997 được khai thác, hiệu quả kinh tế mang lại cao; người dân đã chú trọng hơn trong chăm sóc rừng trồng từ khâu trồng, chăm sóc…
Năm 2010 toàn huyện trồng mới được hơn 1.900 ha, năm 2011trồng mới 1.869ha, năm 2013 gần 1.400ha và trong năm 2014 phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng trên 1.500ha. Chỉ tính riêng diện tích rừng đã trồng của huyện Chợ Đồn hiện nay đã có trên 12.000 ha rừng ở các lứa tuổi.
Có thể khẳng định, cùng với chính sách giao đất, giao rừng và từ những Dự án hỗ trợ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã có hàng nghìn ha rừng được trồng mới, trồng trên những đất trống đồi núi trọc và đến thời điểm hiện nay những diện tích đó đã được khai thác, hiệu quả kinh tế được khẳng định qua thực tế; nhiều hộ dân đã thoát nghèo từ trồng rừng. Độ che phủ tăng theo từng năm: năm 2010, tỷ lệ độ che phủ đạt 57,3% thì đến năm 2012 tăng lên 60,07% và đạt gần 79% năm 2014.
Theo ông Hà Ngọc Bảo, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn: Giao đất, giao rừng là chính sách mới bởi vậy huyện Chợ Đồn cũng gặp nhiều khó khăn khi triển khai như đội ngũ cán bộ chuyên trách có chuyên môn còn hạn chế, mặt khác người dân mang một nỗi lo “nhận nhiều đất sẽ phải nộp thuế nhiều”.
Để làm cho người dân thay đổi nhận thức chính quyền các địa phương cùng với Hạt Kiểm lâm huyện đã tích cực tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động đến từng người dân, giúp cho họ hiểu lợi ích lâu dài của việc giao đất, giao rừng tự nhiên, từ đó người dân tích cực bảo vệ rừng, yên tâm quản lý, đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng được giao.
Qua đó người dân tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống và đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nhà nước với người dân trực tiếp tham gia bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng; gắn lợi ích kinh tế với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn thiên nhiên. (Báo Bắc Kạn 7/8) đầu trang(
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững, trong những năm qua huyện Chợ Đồn đã đề ra những chủ trương, giải pháp về phát triển kinh tế, tạo thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân…
Trong đó, phải kể đến việc thực hiện hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý.
Hiệu quả từ chính sách giao đất, giao rừng ở Chợ Đồn không thể phủ nhận. Ngày hôm nay đến Chợ Đồn dễ dàng nhận thấy những cánh rừng trồng, tái sinh phát triển xanh ngút ngàn.
Rừng trồng đã và đang giúp người dân có thu nhập; từng bước vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng. Nhờ có giao đất lâm nghiệp, người dân được làm chủ trên mảnh đất của mình, yên tâm đầu tư lao động, tiền vốn cho phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó, nhiều mô hình kinh tế hộ gia đình được xây dựng cho thu nhập hàng chục triệu đồng trên 1ha mỗi năm
Nà Pài là thôn điểm thực hiện chính sách giao đất, giao rừng của thị trấn Bằng Lũng. Đây là thôn của gần 100% là đồng bào Dao. Cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng, phát nương làm rẫy cứ hai, ba năm khi nương ngô này bạc màu lại phát rừng làm nương khác. Cứ quanh quẩn như vậy, có làm ruộng nhưng diện tích ít và chưa có sự chú trọng, đầu tư nên năng suất thấp, chăm làm nhưng cái nghèo vẫn “bám lấy” họ.
Khi thực hiện giao đất, giao rừng trung bình mỗi hộ dân thôn Nà Pài nhận quản lý trên dưới 20ha. Cùng với sự vào cuộc tuyên truyền, vận động của cán bộ và những dự án hỗ trợ về lâm nghiệp, người dân bắt đầu chú trọng đến trồng rừng.
Nhưng thật sự thành phong trào thì từ năm 2000 trở lại đây khi những diện tích rừng trồng từ Dự án PAM được khai thác, lợi ích từ trồng rừng có sức thuyết phục từ lợi ích kinh tế, bà con Nà Pài đã chú ý chăm sóc rừng trồng. Trung bình mỗi năm toàn thôn trồng mới từ 15-20ha rừng. Ngoài việc tích cực trồng rừng để phủ xanh, người dân còn khoanh nuôi và bảo vệ hiệu quả diện tích rừng của gia đình quản lý.
Như cứ đến vụ măng người dân khai thác trong vườn rừng của gia đình cũng có thêm khoản thu nhập đáng kể với mỗi kg măng tươi đầu vụ là 20 nghìn đồng. Nhờ đó, cuộc sống của người dân đã từng bước đổi thay.
Nhiều gia đình từ rừng mà thoát nghèo điển hình như hộ Chu Văn Hiền quản lý hơn 20ha rừng thì trong đó có 10ha rừng trồng các lứa tuổi. Hay hộ Đặng Huy Toàn có 15ha diện tích quế trồng từ Dự án PAM đến nay đã khai thác tỉa được 2/3 diện tích, nhờ đó mà có tiền xây nhà, ao…
Có thể khẳng định chính sách giao đất, giao rừng về cho hộ dân quản lý đã giúp người Dao thôn Nà Pài có sự thay đổi rõ rệt về đời sống vật chất cũng như tinh thần. Người dân không còn sống ở trên những “rẻo” nương cao nữa mà hạ sơn gần đường quốc lộ, có điện lưới quốc gia thắp sáng, nhà nhà có phương tiện nghe nhìn, đi lại…tỉ lệ hộ nghèo cũng đã ngày càng giảm. Hiện thôn còn 23 hộ nghèo/116 hộ, năm 2015 Nà Pài quyết tâm giảm 10 hộ nghèo.
Chỉ tay lên những cánh rừng xung quanh khu vực thị trấn, nay đã được phủ xanh bằng những rừng mỡ, rừng keo, ông Nông Đức Tranh, Chủ tịch UBND thị trấn Bằng Lũng cho biết: Những năm 90 của thế kỷ trước, độ che phủ của rừng tại thị trấn chỉ ở mức khoảng 20%, hầu hết rừng ở tình trạng đất trống, đồi núi trọc hoặc nương ót.
Năm 1995 thị trấn thực hiện đồng bộ giao đất, giao rừng về cho hộ dân quản lý. Qua hơn 10 năm đến nay thị trấn hầu như không còn hiện tượng đất trồng, đồi núi trọc mà thay vào đó người dân đã chủ động hơn trong trồng rừng, chăm sóc, khai thác, bảo vệ hiệu quả những diện tích của gia đình và tỉ lệ che phủ rừng tăng lên 85%.
Bình Trung là xã đi đầu trong phong trào trồng rừng ở huyện Chợ Đồn, gần 80% dân số sống dựa vào rừng. Nhờ rừng mà người dân có cuộc sống ổn định hơn, số hộ nghèo ngày một giảm (năm 2005 tỉ lệ hộ nghèo trên 40% hộ nghèo thì đến 2013 giảm còn 25,4%).
Diện tích rừng trồng ngày một tăng. Hiện, tổng diện tích rừng trồng ở Bình Trung có trên 2.000ha, trong đó rừng trồng của Dự án 147 chiếm hơn 1.000ha. Đồng thời, khai thác hiệu quả quỹ đất, rút ngắn thời gian đợi khai thác rừng trồng, trong những năm đầu người dân trồng xen canh những cây trồng ngắn ngày như lúa nương, ngô, sắn...Theo phương châm “lấy ngắn nuôi dài”.
Với hơn 63% diện tích đất tự nhiên là rừng và đất rừng, huyện Chợ Đồn có tiềm năng về khai thác thế mạnh từ rừng. Trong những năm qua, Nghị quyết Đảng bộ huyện Chợ Đồn xác định lâm nghiệp là tiềm năng lợi thế của địa phương, phát triển kinh tế rừng là hướng đi mang lại lợi ích kinh tế, giúp người dân từng bước thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Ở Chợ Đồn có hơn 70% số hộ sống ở nông thôn có thu nhập từ kinh tế rừng, bình quân thu nhập từ kinh tế rừng của các hộ gia đình chiếm 40-50% tổng thu nhập hàng năm.
Thực tiễn cho thấy, chính sách giao đất, giao rừng đã thật sự đi vào cuộc sống; đáp ứng nguyện vọng của người dân; tạo thêm việc làm; nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống; nhiều hộ dân có thu nhập khá từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên đất rừng được giao.
Để tiếp tục duy trì, phát triển và bảo vệ hệ sinh thái rừng hiện có, làm giàu rừng thông qua việc giao khoán khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng; đẩy mạnh việc trồng rừng phòng hộ và trồng rừng nguyên liệu, Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã xây dựng Đề án phát triển kinh tế rừng đến năm 2020 nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng phòng hộ, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái; giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo...
Đồng thời, lập các trạm chốt, tăng cường các biện pháp để ngăn chặn các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Giám sát, thực hiện hiệu quả các Dự án hỗ trợ trồng rừng cho người dân…(Báo Bắc Kạn 7/8) đầu trang(
Đến một số xã ở huyện Lạng Giang vào dịp này thấy nhà xưởng san sát, tiếng máy cưa rộn ràng; xe chở ván, nan xẻ hối hả ngược xuôi. Nghề chế biến gỗ đã giúp nhiều hộ trở nên khá giả.
Đang làm cán bộ quản lý, thu nhập ổn định tại Công ty Yamaha Motor Việt Nam ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội) anh Mã Trung Hiếu ở thôn Mỹ Hưng, xã Tân Hưng lại chuyển sang nghề chế biến gỗ. Lý do là năm 2009, đến nhà một số người bạn ở Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn chơi, anh thấy người dân phát triển nghề bóc, xẻ gỗ cho hiệu quả kinh tế cao. Liên tưởng tới quê hương mình có diện tích đất lâm nghiệp lớn, phong trào trồng rừng phát triển, anh Hiếu quyết định về quê mở xưởng.
Ban đầu vốn ít, anh mượn đất của người thân mua máy xẻ nan xuất khẩu, tích lũy dần để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay, với 5 máy xẻ, mỗi tháng xưởng sơ chế hơn 100m3 gỗ nguyên liệu. Năm 2013, đạt doanh thu hơn 4 tỷ đồng, gia đình anh đã vươn lên khá giả, xây dựng nhà ở khang trang, mua sắm tiện nghi đắt tiền.
Doanh nghiệp tư nhân Quảng Hiếu thành lập ngay tại quê do anh làm giám đốc. Để đáp ứng nhu cầu phát triển, anh Hiếu đang chuyển xưởng sản xuất ra khỏi khu dân cư, đồng thời mua thêm máy móc, nâng công suất chế biến lên gấp đôi hiện tại, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân trong vùng.
Không riêng gia đình anh Hiếu, xã Tân Hưng hiện có hơn 20 hộ xây dựng xưởng xẻ nan, ngoài giúp các chủ xưởng làm giàu còn giúp hàng trăm lao động có việc làm, thu nhập từ 4 đến 6 triệu đồng/người/tháng. Ông Hoàng Văn Điểm, Chủ tịch UBND xã Tân Hưng cho biết, nghề chế biến gỗ trong xã tự phát nên nhiều hộ thiếu mặt bằng và vốn, khó mở rộng sản xuất.
Trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới, UBND xã dành riêng khu vực cho tiểu thủ công nghiệp nhưng chỉ rộng hơn 9 nghìn m2, chưa đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất của các hộ. Xã đang đề nghị UBND huyện cho mở rộng, quy hoạch thêm các điểm công nghiệp đồng thời đề nghị các tổ chức tín dụng tạo điều kiện cho các hộ chế biến gỗ vay vốn.
Tại xã Hương Sơn, các xưởng lại chủ yếu bóc ván gỗ. Theo thống kê của UBND xã, hiện có hơn 50 hộ xây dựng xưởng ở các thôn Chí Mìu, Phú Lợi, Đồn 19, Việt Hương. Trước đây, người dân chủ yếu làm nông nghiệp nên vào lúc nông nhàn họ phải đi khắp nơi làm thuê để có thêm thu nhập. 5 năm trở lại đây, nghề bóc ván gỗ phát triển, nhiều hộ thu lời từ 300 triệu đến 1 tỷ đồng/năm, thu hút hơn 500 lao động trong xã và một số xã lân cận với mức tiền công bình quân khoảng 6 triệu đồng/người/tháng.
Chưa có con số thống kê chính thức nhưng theo ước tính, toàn huyện Lạng Giang hiện có hơn 100 hộ chế biến gỗ, năm 2013, giá trị sản xuất ước đạt hơn 300 tỷ đồng. Tuy nhiên, sản xuất vẫn là sơ chế thô, chưa đầu tư được dây chuyền chế biến gỗ thành phẩm nên giá trị đem lại chưa cao.
Nhiều cơ sở đã quan tâm xây dựng lò đốt rác, xử lý ô nhiễm môi trường như thu gom mùn cưa, phế phẩm, đầu mẩu bán cho các đơn vị sản xuất viên gỗ nén. Mặc dù vậy, hầu hết các xưởng cưa, bóc đều được xây dựng trong khu dân cư theo kiểu "tiện đâu làm đấy", khói, bụi, tiếng ồn... ảnh hưởng đến các hộ xung quanh.
Những năm gần đây, UBND huyện Lạng Giang đã chú trọng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, huyện đã xây dựng 5 cụm công nghiệp được UBND tỉnh phê duyệt, tổng diện tích 133,2ha gồm: Tân Dĩnh - Phi Mô; Non Sáo; Vôi - Yên Mỹ; Nghĩa Hòa; Đại Lâm. Đến hết tháng 7-2014, huyện Lạng Giang đã thu hút được 136 dự án, tổng số vốn đăng ký thực hiện hơn 3.000 tỷ đồng.
Trong đó, có 29 dự án xây dựng xưởng chế biến hoặc sản xuất viên gỗ nén từ phế phẩm chế biến gỗ. Tiêu biểu như các Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo số 1 Việt Nam, Công ty cổ phần Sản xuất dịch vụ thương mại Thiên Ân, Công ty TNHH Phú Thịnh... đang triển khai dự án thu gom phế phẩm, công suất hàng nghìn tấn sản phẩm/năm.
Ông Nguyễn Bá Tiến, Phó Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện cho biết: "Huyện luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiệp, hộ gia đình triển khai dự án; khuyến khích các dự án đầu tư chế biến gỗ vào các cụm công nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tránh ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ trong khu dân cư.
Huyện có thế mạnh về hệ thống đường giao thông, hạ tầng lưới điện tốt, môi trường, chính sách thu hút đầu tư hợp lý nên nhiều doanh nghiệp đã và đang triển khai dự án". Hy vọng rằng với những định hướng và lợi thế đó, nghề chế biến gỗ sẽ trở thành thế mạnh, giúp người dân Lạng Giang làm giàu. (Báo Bắc Giang 8/8) đầu trang(
Ở xã Bắc Thành - Yên Thành ai cũng nể phục anh Nguyễn Trọng Lộc, bằng nghị lực vượt qua bao khó khăn thử thách làm giàu ngay trên quê hương mình bằng nghề trồng rừng, tạo nhiều việc làm cho người lao động với mức thu nhập ổn định.
Trang trại của anh Nguyễn Trọng Lộc nằm ở vùng Trổ Đó, xã Bắc Thành (Yên Thành) phủ một màu xanh bạt ngàn của trên 20 ha keo lai, bạch đàn đã đến tuổi cho thu hoạch. Sinh năm 1972 trong một gia đình đông con, nghèo khó, ngay từ nhỏ anh Lộc đã phải bươn chải làm đủ thứ nghề giúp bố mẹ kiếm sống, nuôi các em ăn học.
Năm 1996 anh cưới vợ, hai vợ chồng ra ở riêng với hai bàn tay trắng, quanh năm suốt tháng bám đồng ruộng rồi làm thêm đủ thứ nghề nhưng nghèo khó vẫn bủa vây. Sau nhiều đêm trăn trở tìm hướng thoát nghèo, anh Lộc đã nghĩ đến vùng rừng Trổ Đó rộng lớn, trước đây bố anh từng xin xã nhận thầu làm trang trại nhưng không thành công nên lâu nay vẫn bỏ hoang, với suy nghĩ táo bạo, mình có thể cải tạo lại để trồng rừng, biết đâu sẽ đổi đời.
Vùng rừng Trổ Đó nằm ở cuối xã Bắc Thành giáp ranh với 2 xã Trung Thành và Đồng Thành vốn heo hút với tổng diện tích lên tới 75 ha. Do diện tích quá rộng, bố anh chỉ đủ sức khai hoang được khoảng 5 ha, trên 70 ha còn lại chỉ có cây bụi và lau lách rậm rạp, là nơi trú ngụ của lợn lòi, rắn rết.
Thấy anh bắt đầu “công cuộc” cải tạo vùng đất nghèo và heo hút này, bố mẹ anh không tránh khỏi lo lắng. Khuyên can không được, ông bà đành quay lại khuyên anh nếu muốn trồng rừng ở đây thì cũng chỉ nên làm diện tích ít thôi vì lấy đâu ra vốn liếng mà khai hoang, rồi liên quan đến bao nhiêu thứ nữa như bảo vệ rừng, đường phục vụ cho cây nguyên liệu chưa có liệu có ai dám lên để vận chuyển keo.
Thế nhưng, năm 1998 anh quyết định khăn gói vào Trổ Đó dựng lều lán để chinh phục rừng hoang. Ban đầu chỉ với cuốc, thuổng, dao, rựa vợ chồng anh quần quật khai hoang, sau hơn 1 năm đã đẩy lùi được rừng rậm âm u, tạo được mặt bằng “sạch” trên 10 ha. Số diện tích ban đầu ấy, anh triển khai trồng keo và bạch đàn xen lẫn ngô, sắn để lấy ngắn nuôi dài.
Thế nhưng niềm vui chưa kịp nhen lên, nắng hạn kéo dài, trong khi nguồn nước tưới không có đã làm cả chục ha cây keo và cây màu đều chết cháy. “Muốn trồng rừng hiệu quả thì phải có nước để tưới cho cây trồng”. Từ suy nghĩ đó, anh Lộc đã lội rừng tìm được nguồn nước ở khe Hủng Ngò, kỳ công chặn dòng khe dự trữ được nguồn nước, tiếp tục vay mượn vốn để trồng rừng.
Trời không phụ công người, năm 2003, sau bao khó khăn vất vả, lần đầu tiên vợ chồng anh Lộc đã thu về thành quả đầu tiên từ 10 ha keo và bạch đàn. Số tiền thu được, anh lại đổ vào rừng, tiếp tục khai hoang Trổ Đó. Dần dần, đến năm 2010, anh Nguyễn Trọng Lộc đã cải tạo và phủ xanh được 75 ha rừng, trong đó có cả diện tích đất rừng ở những nơi núi cao, địa thế hiểm trở - điều mà lúc đầu không ít người can ngăn, vì nghĩ anh không thể làm được.
Anh Lộc chia sẻ: Bí quyết của tôi là muốn trồng cây nguyên liệu hiệu quả thì phải thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, mua cây giống phải đảm bảo chất lượng và đặc biệt là dám đầu tư phân bón, từ 10 - 12 triệu đồng mỗi ha rừng trồng. Bên cạnh đó dù địa thế núi cao nhưng dùng máy bơm “đẩy” được nước lên để tưới cho keo giai đoạn đầu thì keo sẽ sinh trưởng tốt.
Để giải quyết đầu ra cho cây nguyên liệu, năm 2011 anh Lộc đã mạnh dạn đầu tư trên 200 triệu đồng mở đường vận chuyển nguyên liệu với chiều dài trên 1 km giúp xe tải vào tận nơi để thu mua. Bên cạnh đó anh còn mạnh dạn thay thế các loại cây bạch đàn, giống keo nội bằng giống keo nhập ngoại (keo Úc) được lấy tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành để trồng với diện tích trên 30 ha.
Đến nay một số diện tích đã cho thu hoạch đạt năng suất từ 35 - 40 m3/ha, với giá bán hiện nay là 3 triệu đồng/m3 gỗ, thu nhập mỗi ha rừng đạt từ 100 - 120 triệu đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi từ 70 - 80 triệu đồng/ha. Diện tích keo rộng lớn, được trồng gối vụ nên trong năm anh đều có thu hoạch, mỗi năm doanh thu từ rừng đạt 1-1,2 tỷ đồng.
Không chỉ làm giàu cho gia đình, mà trang trại của anh Lộc còn tạo việc làm ổn định cho 6 lao động và trên 30 lao động thời vụ (chủ yếu khi thu hoạch keo). Đặc biệt, anh còn hỗ trợ và truyền đạt kinh nghiệm trồng rừng cho nhiều bà con ở xã Bắc Thành vươn lên thoát nghèo, thậm chí nhiều hộ vươn lên làm giàu.
“Tôi sẽ tiếp tục đầu tư để mở thêm đường nguyên liệu, đồng thời thay thế 100% diện tích keo nhập ngoại giống Úc. Vì keo nhập ngoại vừa cho gỗ lớn, năng suất cao lại dễ tiêu thụ, trong khi keo nội đang bị ứ đọng đầu ra”.Tỷ phú trồng rừng đã chân thành chia sẻ như vậy khi nói về những dự định sắp tới của mình. (Báo Nghệ An 7/8) đầu trang(
Từ đầu năm 2014, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phát động phong trào chung sức xây dựng nông thôn mới (XDNTM) và được triển khai trong toàn ngành, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị trực thuộc.
Lực lượng kiểm lâm đã tăng cường công tác tuyên truyền cho đồng bào các dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa hiểu rõ về XDNTM, cách thực hiện các tiêu chí hướng đến hiệu quả cao nhất.
Chi cục giao cho 17 đơn vị cơ sở theo dõi, hướng dẫn 17 xã và 183 thôn, bản thuộc các huyện miền núi, như: Quan Hóa, Bá Thước, Quan Sơn, Như Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy và Lang Chánh thực hiện 7 tiêu chí, gồm: Nhà ở dân cư, thu nhập, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, văn hóa, tiêu chí môi trường và giữ vững an ninh trật tự.
Chi cục hướng cho các đơn vị cơ sở triển khai nhiệm vụ chuyên môn lồng ghép nội dung XDNTM thành nhiệm vụ thường xuyên. Quá trình thực hiện, các cơ sở định kỳ tổ chức báo cáo, đánh giá kết quả. Chi cục đã khen thưởng kịp thời những đơn vị làm tốt, nhắc nhở, phê bình các đơn vị còn hạn chế. Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương xác định các tiêu chí để mỗi đơn vị tham gia chỉ đạo 1 xã; mỗi đồng chí kiểm lâm viên hỗ trợ 1 thôn, bản.
Ông Lê Thành Công, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ngọc Lặc, chia sẻ: Kiểm lâm Ngọc Lặc chọn làng Liên Cơ 1, xã Nguyệt Ấn là nơi triển khai thí điểm. Đây là thôn vùng xa, đồng bào dân tộc lâu nay vẫn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Hơn nữa, đời sống người dân nơi đây chủ yếu dựa vào rừng nên để thay đổi tập quán sản xuất, nâng cao thu nhập cho đồng bào không phải dễ, chưa nói đến việc huy động bà con đóng góp XDNTM. Các chiến sĩ kiểm lâm đã phối hợp cùng cán bộ thôn hướng dẫn cho bà con phát triển kinh tế, cải tạo các mô hình trồng luồng, thường xuyên nhắc nhở thu gom rác...
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm Ngọc Lặc, thời gian qua, đã có nhiều hộ dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường; phát triển mô hình “thâm canh phục tráng rừng luồng bị thoái hóa”, góp phần thay đổi tập quán chỉ khai thác sản phẩm chuyển sang chăm sóc, thâm canh tăng năng suất, nâng cao hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị canh tác. Bà con nơi đây đều nhận định, sau khi được cán bộ kiểm lâm hướng dẫn cách chăm sóc, khai thác rừng luồng đã làm theo và nay có kết quả rõ rệt. Cây luồng phát triển nhanh, đồng đều nên cuối năm thu hoạch chắc chắn sẽ bán được giá cao hơn.
Cuộc vận động “Chung sức XDNTM” đã giúp lực lượng kiểm lâm quản lý chặt chẽ việc khai thác gỗ làm nhà, hạn chế tình trạng khai thác rừng trái phép. Đồng thời, hướng dẫn bà con ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trồng mới hơn 1.400 ha rừng; tổ chức ký cam kết với người dân không sử dụng cưa xăng khai thác gỗ trái phép.
Lực lượng cũng phối hợp với các ngành chức năng thu hồi hàng nghìn khẩu súng săn, súng tự chế trái phép, quản lý chặt chẽ 698 cơ sở nuôi động vật hoang dã trên địa bàn không để xảy ra các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường...
Ông Lê Quốc Việt, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh, khẳng định: Mặc dù chỉ mới tham gia phong trào “Chung sức XDNTM” hơn 6 tháng nhưng 7 tiêu chí chúng tôi tham gia theo dõi, giúp đỡ ở các địa phương đã có những chuyển biến tích cực. Nhận thức của đồng bào miền núi về tư tưởng trông chờ ỉ lại vào Nhà nước đã được hạn chế nhiều; một số mô hình phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập được hình thành, phát triển.
Thực tế, việc XDNTM ở các xã vùng sâu, vùng cao còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc “đả thông” tư tưởng để đẩy lùi tâm lý ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước. Việc làm của kiểm lâm Thanh Hóa đã và đang giúp các thôn, bản miền núi XDNTM, góp phần vào sự thành công chung của chương trình này. (Báo Thanh Hóa 8/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Tệ nạn săn bắn có thể dẫn đến việc tuyệt chủng của loài hổ. Hiện tại, trên thế giới chỉ còn khoảng 3.200 cá thể hổ hoang dã.
Đó là cảnh báo của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) trong bản báo cáo mới đây. Cách đây 100 năm, số lượng hổ hoang dã còn trên 100.000 cá thể.
Theo WWF, săn bắn là “mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với hổ hoang dã”, bởi tại một số quốc gia Châu Á nội tạng hổ được sử dụng làm thuốc dân gian chữa bệnh hoặc được coi như dấu hiệu của địa vị cao trong xã hội.
WWF cam kết phối hợp bảo tồn loài hổ tại 13 quốc gia trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. (Giáo Dục & Thời Đại 7/8, tr14) đầu trang(
Các nhà khoa học vừa phát hiện ra một loài khủng long mới tại Venezuela, sau khi nghiên cứu mẫu xương hóa thạch có tuổi thọ 200 triệu năm.
Loài khủng long mới được đặt tên Laquintasaura Venezuela, do xương hóa thạch của loài khủng long này được tìm thấy tại vùng địa chất La Quinta Formation ở Venezuela. Các nhà khoa học khẳng định đây là loài khủng mới đầu tiên được tìm thấy tại phía bắc của Nam Mỹ.
Các chuyên gia tin rằng loài khủng long vừa được phát hiện đã sống trong Kỷ Tam Điệp (từ 200 đến 251 triệu năm trước), có kích cỡ tương đương một con chó và sống theo từng nhóm nhỏ. Đây cũng được xem là loài khủng long “hông chim” đầu tiên có cuộc sống theo bầy đàn.
Loài khủng long thường được phân thành hai nhóm, đó là những lời khủng long hông thằn lằn và loài khủng long hông chim, với cấu tạo phần xương hông giống với loài chim. Một điều kỳ lạ là loài chim sau này lại được tiến hóa từ nhóm khủng long hông thằn lằn, thay vì nhóm khủng long hông chim.
Phân tích hóa thạch xương của loài khủng long này cho thấy chúng có tuổi đời từ 3 đến 12 năm và có khả năng bước đi bằng 2 chân sau. Những phân tích hóa thạch cũng cho thấy loài khủng long này phát triển mạnh trong khoảng thời gian 500.000 năm trước khi bị biến mất trên toàn cầu.
Có vẻ như Laquintasaura Venezuela là loài khủng long ăn cỏ, tuy nhiên chúng cũng có thể ăn một vài con mồi nhỏ khác do sở hữu những chiếc răng cong sắc nhọn trong hàm.
Tiến sĩ Paul Barrett, trưởng nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra loài khủng long mới cho biết: “Luôn là một điều thú vị khi khám phá ra một loài khủng long mới. Laquitasaura có vẻ như đã xuất hiện rất sơm trong giai đoạn Kỷ Tam Điệp, cho thấy khủng long có dấu hiệu phục hồi trong giai đoạn này”.
Trong khi đó theo giáo sư Marcelo Sanchez-Villagra, đồng tác giả công trình nghiên cứu và là Cổ sinh vật học của Đại học Zurich (Thụy Sĩ) cho biết phát hiện về loài khủng long mới này sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về sự phát triển của loài khủng long hông chim, vẫn còn ẩn chứa nhiều bí mật chưa được khám phá.
“Lịch sử sơ khai của nhóm khủng long hông chim vẫn còn rất chắp vá và rất ít lời trong số này được tìm thấy. Phát hiện mới này đóng một vai trò quan trọng giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về sự phát triển của nhóm khủng long hông chim nói riêng và loài khủng long nói chung”.
Kỷ Tam Điệp (Kỷ Trias) là một kỷ địa chất bắt đầu từ cách đây 250 triệu năm là kỷ đầu tiên của Đại Trung Sinh. Kỷ Trias bắt đầu sau khi sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi- kỷ Tam Điệp diễn ra cách đây khoảng 251,4 triệu năm.
Phải mất khoảng 25 triệu năm sau sự kiện tuyệt chủng này, sự đa dạng sinh học trên trái đất mới bắt đầu được phục hồi, những loài động vật có vú đầu tiên cũng bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn kỷ Tam Điệp này. (Dân Trí 7/8) đầu trang(
Trong vòng 10 năm qua, kim ngạch nhập khẩu gỗ khúc và các sản phẩm gỗ của Ấn Độ hàng năm đã tăng từ 500 triệu đô-la Mỹ lên 2,7 tỉ đô-la Mỹ.
Nguyên nhân là do nguồn tài nguyên rừng bị thu hẹp và những hạn chế của chính phủ trong việc thu hoạch gỗ nội địa cùng với đó là nhu cầu tiêu dùng và sự đầu tư về mặt hàng đồ gỗ và nội thất tăng cao.
Tuy vậy, Ấn Độ cũng là một nhà xuất khẩu đồ nội thất bằng việc xử lí gỗ thô nhập khẩu thành sản phẩm hoàn chỉnh. Với mục đích gia tăng tối đa giá trị cho sản phẩm và giảm áp lực lên tài nguyên rừng nội địa, Ấn Độ áp dụng mức thuế thấp cùng với chính sách tự do nhập khẩu khiến gỗ khúc trở thành mặt hàng dẫn đầu danh sách nhập khẩu của nước này trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, thuế nhập khẩu cũng áp dụng với một số mặt hàng đồ gỗ đã qua xử lí; điều này làm giảm tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu của gỗ khúc từ 90% xuống 74% trong 10 năm trở lại đây.
Đối với gỗ khúc và gỗ xẻ, bán buôn vẫn là kênh phân phối quan trọng nhất đối với các xưởng xử lí lớn, nhỏ và các công ty thiết kế nội thất. Tuy nhiên, các dự án xây dựng lớn và các nhà sản xuất muốn mua trực tiếp từ các nhà sản xuất và nhập khẩu gỗ.
Sản phẩm gỗ hoàn chỉnh (sàn gỗ và đồ nội thất) tập trung vào thị trường trong nước chủ yếu được phân phối qua kênh vật liệu xây dựng chuyên nghiệp và cửa hàng giới thiệu chuyên biệt cho người tiêu dùng. Ấn Độ đang ngày càng trở thành một thị trường mà gỗ nhập khẩu được chuyển đổi sang các sản phẩm giá trị cao như đồ nội thất để xuất khẩu.
Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ, Ấn Độ đã quyết định giảm thuế đối với mặt hàng này. Tỷ lệ thuế quan ràng buộc của Ấn Độ (mức thuế cao nhất Ấn Độ có thể áp dụng và thực hiện theo cam kết Tổ chức Thương mại Thế giới) cho sản phẩm gỗ được thiết lập ở mức 40%, trong khi tỷ lệ áp dụng của hầu hết các sản phẩm gỗ của nước này chỉ từ 5% đến 15%.
Ấn Độ có truyền thống giữ mức thuế nhập khẩu gỗ khúc thấp ở mức 5% nhằm thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm của nước này sau khi xử lí như sản xuất gỗ xẻ từ gỗ khúc nhập khẩu cũng như hạn chế sản lượng thu hoạch gỗ nội địa. Mặc dù nhận được rất nhiều sự ưu đãi về thuế từ chính phủ Ấn Độ nhưng tỉ trọng nhập khẩu gỗ khúc đang liên tục giảm trong 10 năm trở lại đây.
Nguyên nhân là do các nhà máy cưa đang dần chuyển sang các mặt hàng như gỗ đã qua xử lí hoặc gỗ xẻ thô để tiết kiệm khi chi phí thực tế của các thành phần sản xuất như năng lượng, nhựa thông, hóa chất và vận chuyển tăng cao.
Thu nhập của người dân ở mức cao và sự phát triển của ngành bất động sản khiến nhu cầu nhập khẩu những loại gỗ cứng và gỗ xẻ mềm sử dụng như vật liệu trang trí nội thất và đồ nội thất trong các dự án xây dựng. Các đô thị cấp 2 và cấp 3 của Ấn Độ được coi là các thị trường mới nổi do nhu cầu về nhà ở và những sản phẩm nội thất và trang trí tăng cao.
Những cửa hàng chuyên về nhà cửa đã được mở ở nước này vài năm về trước nhằm giới thiệu đến khách hàng những khái niệm mới trong trang trí nội thất. Những của hàng đó bao gồm Homecentre, Durian, Evok, Homestores và Hometown. Kinh doanh trực tuyến cũng đang nổi lên như một kênh tiếp thị và phân phối ngày càng quan trọng đối với cả hai nguyên liệu gỗ thô và các sản phẩm bằng gỗ hoàn chỉnh. Ấn Độ hiện có khoảng 120 triệu người sử dụng internet chính vì vậy bán lẻ trực tuyến là phân khúc bán lẻ phát triển nhất.
Chế biến gỗ chủ yếu được xếp vào ngành có quy mô nhỏ khi mà các sản phẩm nội thất bằng gỗ, đồ mộc và các sản phẩm gia dụng khác thường được làm bởi các xưởng sản xuất nhỏ hoặc những nghệ nhân riêng biệt. Do vậy, các công ty thiết kế lớn đang tăng lên về số lượng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu đồ gỗ và nội thất gỗ tăng cao.
Hầu như chỉ quen với các loại gỗ nội địa và gỗ cứng nhiệt đới là một điểm trừ với ngành công nghiệp này của Ấn Độ; tuy nhiên điều này đang được cải thiện. Hơn thế nữa, ngành công nghiệp gỗ Ấn Độ, thợ thủ công và người sử dụng đã quen với gỗ tếch và các loại gỗ cứng khác do có khả năng chống mối mọt và mục nát.
Người tiêu dùng nước này cũng rất ưa chuộng gỗ nhiệt đới tối màu. Gỗ tếch thường được xem như là một chuẩn mực để so sánh chất lượng cũng như giá cả của các loại gỗ khác. Gỗ nhập khẩu chủ yếu là gỗ tếch, gỗ meranti, gỗ gụ còn gỗ trồng trong nước bao gồm gỗ tếch, bạch đàn, gỗ dương, gỗ vân sam, gỗ thông và gỗ linh sam.
Bên cạnh đó, Ấn Độ nhập khẩu với số lượng nhỏ một số loại gỗ cứng ôn đới như gỗ tần bì, gỗ thích, gỗ anh đào, gỗ sồi, gỗ óc chó dùng cho đồ nội thất và gia dụng với mục đích thương mại và xuất khẩu. Nhập khẩu gỗ được dự đoán sẽ tiếp tục tăng tuy nhiên gỗ khúc và các loại gỗ nhiệt đới vẫn chiếm ưu thế.
Ngay cả khi người Ấn Độ bắt đầu chú ý đến gỗ nước ngoài nhưng những lợi thế của việc nhập khẩu gỗ khúc cùng với giá thành cao của những loại gỗ nước ngoài kia sẽ khiến cho tình trạng này tiếp tục được duy trì. Dẫu vậy, Ấn Độ vẫn là một thị trường nhập khẩu đồ gỗ tiềm năng cho các công ty Việt Nam. (Thị Trường – Bộ Công Thương 11/8) đầu trang(
Một phụ nữ tại Ấn Độ vừa bị hổ nhảy lên thuyền tấn công rồi tha vào rừng khi nạn nhân đang cùng chồng đánh bắt cua tại khu vực Sunderbans, nơi con sông Ganges chảy ra vịnh Bengal ở bang Tây Bengal của Ấn Độ.
Theo hãng tin AP, người phụ nữ xấu số có tên là Bhagawati Mondal (42 tuổi). Các nhân chứng cho biết, khi ấy trên thuyền vẫn còn một người lái, nhưng tất cả đều chịu bất lực nhìn con hổ kéo người phụ nữ vào rừng rậm Pirkhali.
"Chúng tôi nghe thấy một tiếng kêu lớn và nghĩ rằng đó là tiếng sét. Con hổ lớn bỗng nhiên nhảy lên giữa thuyền. Nó lao tới tấn công bà Mondal và ngậm bà ấy trong miệng. Sau khi tấn công nó nhảy vọt khỏi thuyền và biến mất vào rừng" - thuyền trưởng Parimal Mridha cho biết.
Tờ The Times of India thì cho hay, khu vực xảy ra vụ việc thương tâm nói trên đã treo biển cấm câu cá, bởi đây là khu vực thường xuyên xảy ra vụ hổ tấn công người.
Đây đã là vụ hổ vồ thứ sáu trong năm nay ở Sunderbans. Nạn phá rừng khiến môi trường sống của hổ bị thu hẹp nên những con hổ đói thường xuyên rời khỏi rừng rậm để kiếm ăn và tấn công con người. (VietnamPlus 11/8) đầu trang(
Ban tổ chức Lễ hội Săn bắn và Đua ngựa quốc tế (Abu Dhabi 2014) mới đây cho biết đã đưa ra lời mời đối với tất cả những người nuôi chim ưng trên toàn thế giới đến tham dự cuộc thi dành riêng cho loài chim vốn là biểu tượng của sức mạnh và sự cao quý này vào tháng Chín tới tại UAE.
Để chuẩn bị cho sự kiện thú vị này, Câu lạc bộ chim ưng thuộc các tiểu vương quốc A rập (EFC) đã thành lập một ban giám khảo bao gồm các chuyên gia quốc tế về chăm sóc và huấn luyện chim ưng, một trong những thú vui phổ biến tại các quốc gia Ả rập.
Các “thí sinh” tham gia cuộc thi sẽ được đánh giá một cách chính xác theo từng tiêu chí cụ thể như trọng lượng, hình dáng cơ thể, màu lông, cũng như các chi tiết cụ thể về đầu, chân…
Hàng năm, EFC đều tổ chức một cuộc thi nhằm chọn ra chú chim đẹp nhất từ hàng trăm người chơi trên khắp thế giới với mục đích khuyến khích người nuôi sử dụng các giống chim ưng lai tạo để bảo đảm cho các loài chim ưng tự nhiên không bị săn bắt quá nhiều và gây ra tình trạng mất cân bằng.
Cuộc thi “Sắc đẹp chim ưng” trở nên nổi tiếng và thu hút được nhiều người chơi khác nhau đến từ các trang trại chăm sóc và huấn luyện chim ưng trên khắp thế giới. Cuộc thi này cũng được các tổ chức quốc tế và khu vực về bảo tồn di sản và động vật hoang dã đánh giá cao do tác dụng của nó đối với ý thức bảo vệ chim ưng hoang dã.
Môn thể thao săn bắt sử dụng chim ưng có lịch sử xuất hiện từ rất lâu và trở nên phổ biến ở hơn 80 quốc gia trên thế giới. Tháng 11/2010, các nỗ lực quốc tế do UAE khởi xướng đã thành công trong việc đưa bộ môn săn bắn bằng chim ưng trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại do UNESCO công nhận.
Theo EFC, đây không chỉ đơn thuần là một sở thích từng được đánh giá là “nghệ thuật cao quý của săn bắn” mà nó còn đại diện cho một loạt các giá trị truyền thống xã hội và di sản văn hóa có lịch sử hàng nghìn năm được các quốc gia, nhóm người và cá nhân cùng chia sẻ, trân trọng và tự hào.
Lễ hội Săn bắn và Đua ngựa quốc tế lần thứ 12 nằm dưới sự bảo trợ của hoàng tử Sheikh Hamdan bin Zayed Al Nahyan, đồng thời là chủ tịch của EFC, và sự hỗ trợ của Ủy ban các lễ hội văn hóa và di sản của tiểu vương quốc Abu Dhabi, sẽ diễn ra tại Trung tâm triễn lãm quốc gia Abu Dhabi từ ngày 10 đến 13/9.
Tham gia lễ hội, du khách sẽ được tham gia vào buổi lễ phóng sinh chim ưng, một trong những truyền thống cổ xưa nhất tại UAE, được cố tổng thống UAE Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan khởi xướng nhằm bảo vệ các loài sinh vật hoang dã.
Hoạt động này được duy trì kể từ năm 1995 đến nay và và trở thành một nét văn hóa của quốc gia này. Mỗi năm, hàng trăm chú chim ưng thuần chủng và lai giống đã được thả vào tự nhiên nhằm tạo cho chúng một cơ hội để phát triển bầy đàn. (VietnamPlus 8/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||