Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo đóng tất cả cửa rừng tự nhiên tại Tây Nguyên nhằm bảo vệ những cánh rừng còn sót lại. Tuy nhiên, trên Tỉnh lộ 666 huyện Mang Yang, Gia Lai, xe độ chế chở gỗ lậu vẫn ngang nhiên hoạt động...
Theo phản ánh của một số người dân sống ven Tỉnh lộ 666, tình trạng những chiếc xe máy độ chế, xe máy chở gỗ lậu đã xuất hiện từ lâu và hiện vẫn tiếp diễn… Mỗi lần chở gỗ, lâm tặc thường đi theo nhóm khoảng 5 xe máy chuyên dụng, có thể chở theo những khối gỗ nặng đến hàng tạ. Để tránh bị phát hiện, nhóm lâm tặc này thường chở gỗ cách nhật, cứ đi một ngày nghỉ một ngày…
Theo ghi nhận của NTNN, trên tuyến đường này, khoảng 15 giờ, các loại xe máy chở gỗ từ các cánh rừng ở xã Lơ Pang (huyện Mang Yang) bắt đầu rầm rập đổ ra Tỉnh lộ 666. Từng chiếc xe máy chở theo những hộp gỗ vuông vắn dài đến 2m chạy nghênh ngang trên đường. Xe đang lưu thông trên đường phải lách xuống lề nhường lối cho họ... Tới địa phận làng Đăk Lăh, xã Lơ Pang, các nhóm lâm tặc này liền rẽ vào đường bê tông liên thôn đi xuyên qua các làng A Lao, Mỹ Văn dẫn về Quốc lộ 19 đoạn qua xã Đăk Ya nhằm tránh sự kiểm soát của Trạm Kiểm lâm xã Đăk Jrăng và Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang…
Anh H - công nhân trồng cỏ của một công ty tại khu vực làng Blen (xã Lơ Pang) cho biết: “Dân khai thác gỗ lậu cứ cách 2 ngày lại đi qua đây một lần. Chúng tôi ở đây thường xuyên nên gặp họ suốt. Nhiều khi đường của họ nát quá không qua được, họ cắt cả hàng rào của chúng tôi để  băng qua…”. Anh H cũng cho biết rất khó để có thể lên được nơi lâm tặc đang cưa gỗ, vì để lên được các khu rừng còn gỗ cần phải đi qua nhiều núi đồi, sông suối và phải có loại xe máy chuyên dụng  mới vào được tận nơi lâm tặc phá rừng...
Theo chỉ dẫn của một người dân thông thạo đường rừng, chúng tôi lần theo đường đi của lâm tặc và tiếp cận các tiểu khu thuộc sự quản lý của Công ty TNHH -MTV Lâm nghiệp Kon Chiêng. Theo ghi nhận của chúng tôi, tại các tiểu khu này nhiều cây gỗ hương bị đốn hạ cành lá còn chưa héo hẳn. Nhiều cây gỗ có đường kính 80cm - 1m bị đốn hạ nằm trơ gốc. Một số cây đã bị đốn hạ từ lâu, nhưng dấu vết xẻ gỗ để lấy lõi còn rất mới. Điều này chứng tỏ lâm tặc đã hoạt động khá thường xuyên tại các khu vực này…(Dân Việt 10/8) đầu trang(
Sau khi nhận được thông tin phản ánh tình trạng rừng Pơ Mu bị chặt phá ngay trong khu bảo tồn, UBND huyện Quế Phong (Nghệ An) đã nhanh chóng thành lập đoàn kiểm tra liên ngành xác minh vụ việc.
Chiều 9/8, Ông Lê Văn Giáp, Chủ tịch UBND huyện Quế Phong cho biết, sau khi nhận được thông tin phản ánh tình trạng gỗ pơ mu bị lâm tặc chặt phá ngay trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Nghệ An), huyện này đã lập tức thành lập đoàn kiểm tra liên ngành tới hiện trường, kiểm tra vụ việc.
Hiện trường vụ những cây pơ mu bị chặt hạ nằm giáp với biên giới Việt – Lào, cách trung tâm xã Hạnh Dịch (huyện Quế Phong) gần 5 giờ đi bộ đường rừng. Dự kiến, đoàn kiểm tra liên ngành sẽ kiểm tra và báo cáo kết quả trước ngày 11/8.
Theo ông Giáp, nếu thông tin phản ánh việc gỗ pơ mu bị chặt phá ngay trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là đúng thì trách nhiệm đầu tiên sẽ thuộc về Khu bảo tồn và chính quyền xã Hạnh Dịch.
Ngay trong chiều cùng ngày, ông Hoàng Quốc Việt, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cũng đã cùng đoàn kiểm tra có mặt tại xã Hạnh Dịch để tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin. (Infonet 10/8) đầu trang(
VietNamNet trao đổi với ông Lê Phùng Diệu - Phó giám đốc khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt về thực trạng lâm tặc khai thác pơ mu và nhiều loại gỗ quý hiếm khác trong khu bảo tồn. Ông Diệu tỏ ra không mấy bất ngờ trước thông tin này và hứa sẽ cho kiểm tra lại.
“Đối với việc người dân phản ánh tôi chưa nắm được. Chiều nay chắc chắn sẽ triển khai cho Hạt phó và anh em bên Kiểm lâm kiểm tra ở những khu vực được phân công, phải xuống hiện trường, nắm tình hình cụ thể. Từ đó có sự điều chỉnh, đôn đốc, chỉ đạo anh em đi tuần tra, kiểm tra và đến tận trong rừng.
Đối với trách nhiệm của chủ rừng Pù Hoạt, đơn vị có 7 trạm, hàng tuần phải có chế độ thanh kiểm tra, đôn đốc để anh em làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng”.
Việc đường dây buôn bán gỗ pơ mu, sa mu và các loại lâm sản quý hiếm, khi chưa thành lập Ban quản lý (BQL) khu bảo tồn Pù Hoạt năm 2013 thì đã xuất hiện rồi.
Từ năm 2013, đơn vị chuyển đổi từ BQL rừng phòng hộ sang khu bảo tồn Pù Hoạt, đơn vị có hệ thống quản lý văn phòng hạt, đến các đội và trạm, các công chức kiểm lâm vào cuộc nên đã ngăn chặn, đồng thời tịch thu được một số lâm sản lớn từ 2013 đến nay. Số liệu có ở văn phòng Hạt kiểm lâm.
Trước đây, BQL rừng phòng hộ phối hợp với Kiểm lâm huyện Quế Phong làm tốt chỗ này. Khi đó BQL rừng phòng hộ không thể xử lý được. Tất cả các vụ việc phát hiện trong rừng là phối hợp bên các lực lượng, sau đó bàn giao lại cho Hạt kiểm lâm huyện xử lý dứt điểm.
Hiện nay đường dây này vẫn đang họat động lén lút, về việc có hay không sự tiếp tay của các cơ quan chức năng từ ngã 3 Phú Phương đi vào xã Hạnh Dịch, ông Diệu cho biết: “Chỗ tiếp tay này tôi chưa nắm cụ thể ai tiếp tay. Nhưng để buôn bán, vận chuyển lâm sản xảy ra là có. Hàng ngày tôi không nắm được cụ thể, nhưng cơ bản từ sau khi chuyển đổi thành lập khu bảo tồn thì hiện tượng khai thác, vận chuyển là giảm đáng kể”.
Để làm quyết liệt, ngăn chặn đường dây này hoạt động thì cần cả hệ thống vào cuộc. Trách nhiệm của chủ rừng chủ yếu giao cho các trạm quản lý bảo vệ rừng, tuần tra sâu vào rừng, quản lý chặt trong địa bàn mình quản lý. Các trạm thì ở bên ngoài này có văn phòng hạt. Các địa bàn phân công thì được giao cho từng người một xuống nắm tình hình. Ví dụ: Hôm nay anh nói ở xã Hạnh Dịch có vấn đề này, chắc chắn lãnh đạo sẽ phân công cho người nào ở trên địa bàn đó xuống làm việc với trạm và có thể đi vào hiện trường.
Trao đổi với PV VietNamNet, Đại úy Nguyễn Hoàng Tuấn - Phó đồn trưởng Đồn biên phòng Hạnh Dịch (Bộ chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An) cho biết, chủ rừng là BQL khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt chịu trách nhiệm chính. Đơn vị chỉ quản lý chung tất cả các lĩnh vực ở khu vực biên giới.
Theo Đại úy Tuấn, từ đầu năm đến nay chưa phát hiện vụ khai thác gỗ trái phép nào trên địa bàn thuộc khu vực biên giới Việt - Lào, ngoài vụ việc năm 2015, khởi tố 5 đối tượng khai thác 3 cây gỗ pơ mu.
''Trong rừng nguyên sinh còn nhiều gỗ sa mu, pơ mu, nhưng không phát hiện vụ vận chuyển, khai thác trái phép nào'' - Đại úy Tuấn nói
Ông Nguyễn Tiến Hùng - Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Quế Phong cho biết, trong năm 2015, các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện Quế Phong đã bắt giữ và khởi tố 2 vụ khai thác gỗ pơ mu, vàng tâm trái phép.
Trong đó, một vụ có 5 đối tượng khai thác 3 cây gỗ pơ-mu, hơn 5m3 gỗ tròn mới bị chặt hạ, trong đó có một cây bị xe ra thành 7 tấm. Cả 5 đối tượng đều trú tại xã Thông Thụ (huyện Quế Phong), trong đó một đối tượng bị tử vong trong quá trình bắt tạm giam và các đối tượng còn lại đang trong quá trình thi hành án.
Các đối tượng bị bắt giữ khai thác một cây gỗ vàng tâm từ năm 2015, đến nay TAND huyện Quế Phong vẫn chưa có lịch xét xử cụ thể. (Vietnamnet 10/8) đầu trang(
Trao đổi với VietNamNet, ông Lô Văn Hoài - Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt) thừa nhận những hình ảnh gỗ pơ mu bị đốn hạ trong rừng là mới.
Theo ông Hoài, sau khi VietNamNet phản ánh, Hạt Kiểm lâm đã báo cáo UBND huyện Quế Phong, sau đó thành lập đoàn liên ngành trực tiếp vào rừng kiểm tra.
Ông Hoài thừa nhận tình trạng khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn khoảng 3 đến 4 năm về trước là có. Từ khi thành lập khu bảo tồn thì đã ngăn hạn chế được đến mức tối đa tình trạng này.
Mặc dù chưa đến hiện trường khai thác gỗ pơ mu ở hiện trường VietNamNet phản ánh, ông Lô Văn Hoài đã ký văn bản báo cáo cấp trên với nội dung: ''Trên báo VietNamNet đăng tải một số thông tin về tình hình khai thác gỗ trái phép ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Qua thông tin báo nêu, khu rừng này vẫn còn tồn tại những cành cây ngọn đã bị chặt hạ cũ rêu phong, còn sót lại do người dân địa phương lén lút vào khai thác...”.
Tuy nhiên, khi PV VietNamNet cho ông Hoài xem những hình ảnh gỗ pơ mu, lâm tặc vác gỗ chạy băng băng trên đường mòn, ông Hoài đã thừa nhận số gỗ pơ mu mà VietNamNet phản ánh là gỗ mới bị chặt hạ. (Vietnamnet 10/8) đầu trang(
Đích thân Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Đinh Viết Hồng chiều 9/8 lên huyện Quế Phong chỉ đạo các cơ quan chức năng, điều tra làm rõ trách nhiệm vụ phá rừng pơ mu mà VietNamNet phản ánh.
Ngay tại trụ sở khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, ông Hồng vừa bước xuống xe cho biết, UBND tỉnh đang giao cho huyện và chủ rừng trực tiếp vào hiện trường.
Quan điểm của tỉnh là nếu chặt phá rừng là xử lý nghiêm trước pháp luật. Chúng tôi đang giao cho Công an tỉnh Nghệ An chủ trì cùng với các ngành kiểm lâm liên quan để tìm ra việc này.
Mong anh em VietNamNet cung cấp thông tin - ông Đinh Viết Hồng nói.
"Sau khi VietNamNet đưa tin về việc chặt phá rừng tại xã Hạnh Dịch, thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với ngành Nông nghiệp & phát triển nông thôn, cụ thể là Chi cục Kiểm lâm với các đơn vị có liên quan để kiểm tra, làm rõ vấn đề báo nêu. Nếu đúng vấn đề đó thì sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật'' - lời ông Hồng.
Theo ông Hồng, sẽ xác minh thông tin, nếu đúng thực tế sẽ xử lý người phá rừng theo quy định của pháp luật. Chủ rừng cũng phải bị xử lý. (Vietnamnet 9/8) đầu trang(
Giám đốc Sở nông nghiệp đề nghị cách chức nhiều kiểm lâm ở Quảng Trị
Giám đốc Sở NN- PTNT tỉnh Quảng Trị đề nghị, Chi cục kiểm lâm tỉnh cắt chức hoặc luân chuyển công tác các cán bộ ở khu vực rừng bị tàn phá nghiêm trọng.
Theo tin tức trên báo Tri thức trực tuyến, ngày 8/8, Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Trị cùng UBND huyện Vĩnh Linh đã tổ chức buổi họp bàn về tình hình phá rừng xảy ra trên địa bàn.
Theo ông Khổng Trung, Chi cục trưởng kiểm lâm Quảng Trị, vào cuối tháng 7, ngành kiểm lâm tỉnh Quảng Trị đã tiếp nhận nhiều thông tin về tình hình phá rừng ở các xã Vĩnh Ô và Vĩnh Hà của huyện Vĩnh Linh. Sau khi tiếp nhận thông tin, kiểm lâm tỉnh Quảng Trị đã vào cuộc tích cực, phát hiện và bắt giữ 82 m3 đã quy tròn ở nhiều điểm trong rừng ở các xã nói trên.
Nguyên nhân tình trạng khai thác gỗ trái phép được các đại biểu đưa ra trong hội nghị là do người dân khai thác gỗ để làm nhà, thiếu đất sản xuất, chưa phân định ranh giới và chủ rừng rõ ràng… Ngoài ra, một số đại biểu đưa ra nhận định, tình trạng phá rừng xảy ra ở huyện Vĩnh Linh là do lực lượng quản lý bảo vệ rừng lơi lỏng, thiếu trách nhiệm dẫn đến lâm tặc hoành hành.
Liên quan đến sự việc này, báo VnExpress thông tin thêm, ông Võ Văn Hưng, Giám đốc Sở NN- PTNT Quảng Trị thừa nhận, công tác quản lý rừng ở địa phương còn tồn tại bất cập, buông lỏng trong khâu bảo vệ.
Theo ông Hưng, ngành Nông nghiệp tỉnh Quảng Trị, kiểm lâm địa bàn vẫn chưa làm tròn trách nhiệm bởi lâm tặc khai thác hàng chục cây gỗ trong rừng mà không biết.
Tại hội nghị này, giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Trị cũng đề nghị, ngành kiểm lâm tỉnh làm rõ, luân chuyển toàn bộ cán bộ kiểm lâm ở khu vực xảy ra tình trạng phá rừng đi nơi khác. Ông Hưng đề nghị cách chức những cán bộ sai phạm, truy tố trước pháp luật để làm gương.
Được biết, từ cuối tháng 7, tình trạng phá rừng đầu nguồn ở hai xã Vĩnh Hà và Vĩnh Ô của huyện Vĩnh Linh đã bị phanh phui. Công an huyện Vĩnh Linh đã vào cuộc điều tra, phát hiện 2 người ở xã Vĩnh Ô chặt phá rừng.
Ngày 5/8, Phó chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh cho hay, UBND tỉnh đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm 24 người vừa vào khu vực rừng phía tây của huyện này, nhằm xác định mức độ rừng bị chặt phá. Đoàn đã  làm việc liên tục 3 ngày trong rừng và ghi nhận nhiều vụ phá rừng với số lượng lớn.
Trước đó nhiều ngày, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị cũng phát hiện, thu giữ 148 hộp gỗ với khối lượng 38,5 m3 nhóm 5- 8, phát hiện 3 vụ phá rừng tự nhiên. Tuy nhiên, tại thời điểm phát hiện phá rừng, cơ quan chức năng không bắt giữ được các đối tượng chặt phá.
Ông Thái Bình Giải, Phó trạm kiểm lâm Bến Quan xác nhận, rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đang bị chặt phá nghiêm trọng. (Đời Sống & Pháp Luật 9/8) đầu trang(
Theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, trước ngày 20–8, UBND tỉnh Quảng Trị phải có báo cáo cụ thể về tình trạng chặt phá rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải (địa bàn 2 xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà thuộc H. Vĩnh Linh) như báo chí đã nêu.
Sau 6 ngày thực hiện kiểm tra tại 8 vị trí, đoàn công tác do CAH Vĩnh Linh chủ trì khẳng định việc chặt phá rừng là có xảy ra. Ngoài ra, công tác truy quét cũng bắt giữ hơn 80 m3 gỗ lậu, trong đó đa phần được trung chuyển qua địa bàn Vĩnh Linh. Tại cuộc họp bàn về xử lý tình trạng chặt phá rừng phòng hộ do Giám đốc Sở NN và PTNT tỉnh chủ trì chiều 8–8, các bên đã thẳng thắn nhìn nhận những nguyên nhân dẫn đến rừng bị “chảy máu”.
Theo đó, lực lượng chuyên trách nòng cốt bảo vệ rừng là kiểm lâm phải chịu trách nhiệm trước hết khi để xảy ra hậu quả trên. Bước đầu, Sở NN và PTNT đã thay đổi, điều chuyển toàn bộ cán bộ kiểm lâm địa bàn đã buông lỏng quản lý. Nhưng thực tế đang diễn ra thì nếu chỉ điều chuyển cán bộ chưa hẳn là “yếu tố” quyết định sẽ chặn được nạn phá rừng.
Đại tá Lê Phương Nam, Trưởng CAH Vĩnh Linh cho hay, qua kiểm tra từ ngày 2 đến ngày 7–8, ghi nhận tại khu vực ngã ba ngọn khe Xà Lời (thuộc bản 4, xã Vĩnh Ô), tổ công tác phát hiện tổng cộng 28 hộp gỗ tại khoảnh 41 tiểu khu 582. Cách khe Xà Lời khoảng vài trăm mét, trong phạm vi 1,7 ha phát hiện 5 điểm chặt phá với 14 cây rừng, có đường kính từ 22 đến 36cm. Loại gỗ chủ yếu là ràng, de, trám, bạng. Tại hiện trường có 6 hộp gỗ đã xẻ và 3 lòng gỗ tròn chưa được vận chuyển ra khỏi rừng.
Mở rộng phạm vi tìm kiếm, tổ kiểm tra phát hiện thêm điểm tập kết gồm 8 hộp với khối lượng hơn 4 m3 và 1 điểm chặt phá với 7 cây bị chặt hạ có đường kính từ 23 đến 36cm. Tổ kiểm tra đã đưa toàn bộ số gỗ trên về trụ sở cơ quan chức năng xử lý, tổng cộng gần 8 m3. Riêng tổ kiểm tra tại rừng tự nhiên phòng hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hà không phát hiện dấu hiệu chặt phá rừng.
Bước đầu cũng xác định được 2 đối tượng chặt hạ 14 cây tại khoảnh 41 tiểu khu 582 là Hồ Văn Trình và Hồ Văn Dinh. Tuy nhiên, hai trường hợp này là đồng bào Vân Kiều sinh sống tại xã Vĩnh Ô, lâu nay làm ăn lương thiện. Lãnh đạo của UBND xã Vĩnh Ô cho biết họ thuộc hộ nghèo, trước đó có đến xã xin chặt gỗ về làm nhà ở. Tuy nhiên, UBND xã Vĩnh Ô không có rừng, không quản lý rừng nên từ chối nguyện vọng này. Các đối tượng vì thế lén lút vào rừng đốn hạ, đúng lúc lực lượng kiểm lâm đang triển khai công tác phòng chống cháy rừng.
Còn những đối tượng phá rừng chuyên nghiệp khác thì cơ bản đã...mất dạng. Chúng hoành hành được là do công tác quản lý, bảo vệ rừng bị buông lỏng. Trách nhiệm trước hết thuộc về lực lượng kiểm lâm. Không thể bao biện khi rừng bị “tỉa” trong thời gian dài nhưng cán bộ kiểm lâm địa bàn không nắm được tình hình. Chính vì thế, ông Võ Văn Hưng, Giám đốc Sở NN và PTNT quyết định điều chuyển, thay đổi toàn bộ cán bộ kiểm lâm địa bàn.
Đây là biện pháp chấn chỉnh quyết liệt nhưng nhìn toàn diện thì thực tế chỉ ra rằng, nếu chỉ thay bằng đủ số lượng, nhân tố con người vẫn chưa thể “cáng đáng” xuể. Lực lượng kiểm lâm nhiều lúc rơi vào thế “lực bất tòng tâm”. Quản lý hơn 21 ngàn ha rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải chỉ có vỏn vẹn 17 biên chế làm công tác bảo vệ rừng chuyên trách. Với một lực lượng quá mỏng, thiếu phương tiện và công cụ hỗ trợ, chưa kể cao điểm phòng chống cháy rừng, kiểm lâm dồn sức cho công tác này thì “hỏng chân” chỗ kia.
Một lần nữa, vấn đề nhân lực được đưa lên bàn cân truy cứu trách nhiệm. Nhưng không riêng gì kiểm lâm rơi vào thế “khó” mà còn những nghịch lý đã diễn ra nhiều năm chưa tháo gỡ được khiến cho rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải bị xâm hại đủ mặt.
Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hà có đến 5 chủ rừng, và UBND xã Vĩnh Hà là 1 trong 5 “ông chủ” đó. Nhưng bao năm qua, UBND xã Vĩnh Hà chưa được giao rừng. Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà Võ Văn Sanh cho hay dù rơi vào “thân phận” như vậy nhưng bất kỳ nhận thông tin nào về xâm hại rừng, xã Vĩnh Hà đều tham gia xử lý. Trước đây, xã Vĩnh Hà cũng có thành lập tổ bảo vệ rừng với sự tham gia của đông đảo người dân nhưng đến nay gần như tan rã do kinh phí hỗ trợ người dân giữ rừng năm 2016 chưa có và chưa biết có hay không.
Giám đốc Sở NN và PTNT Quảng Trị cũng xác nhận những năm trước Quảng Trị được phân bổ khoảng 8 tỷ đồng cho công tác hỗ trợ bảo vệ rừng nhưng năm 2016 chưa thấy Chính phủ bố trí. Thiếu nguồn hỗ trợ, hoạt động bảo vệ rừng cũng...nhạt theo. “Nếu huy động dân quân, CA viên thì phải trả kinh phí theo quy định, mà xã lại không có”, ông Sanh trăn trở. Trước thực trạng đáng lo ngại này, Sở NN và PTNT khẩn cấp kiến nghị lên UBND tỉnh tìm giải pháp.
Ông Khổng Trung, Phó Giám đốc Sở NN và PTNT, Chi cục trưởng Cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cũng cho rằng việc chậm trễ cắm mốc, phân định ranh giới cụ thể diện tích rừng tại địa bàn Vĩnh Hà khiến công tác quản lý, bảo vệ bất cập. Còn nhớ vào cuối năm 2014, khi thực hiện điều tra vụ phá rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải tại Khe Cau, địa bàn xã Vĩnh Hà, khi đoàn công tác vào các tọa độ thì một số người dân phá rừng trồng keo, tràm, nhiều chủ rừng cứ “ngơ ngác” vì không thể phân định được đó là đất thuộc ai quản lý.
Sự nhập nhằng này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều “đầu nậu” miền xuôi lên “đầu tư”, lôi kéo, thuê mướn đồng bào thiểu số xâm lấn đất rừng sản xuất, canh tác. Bên cạnh đó, lợi dụng đồng bào thiếu kế sinh nhai, đời sống khó khăn, “lâm tặc” sử dụng thuê vận chuyển gỗ bị chặt hạ trong rừng phòng hộ ra các điểm tập kết.
Để chung tay bảo vệ rừng, cần quan tâm tạo sinh kế bền vững cho đồng bào tại hai xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô vốn “dựa lưng” vào rừng lúc này là gì? Đó chính là giao rừng, là chuyển đổi rừng phòng hộ nghèo thành rừng sản xuất để bà con có cơ hội phát triển kinh tế; Là có chế độ hỗ trợ, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng, sát cánh cùng lực lượng nòng cốt là kiểm lâm... Khép lại buổi họp, các ngành đều thống nhất lập thêm chốt chặn, tăng cường lực lượng để cơ động tuần tra, kiểm soát. Xem xét phương án di dời trụ sở một số trạm kiểm lâm đến vị trí thích hợp cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Võ Văn Hưng cũng yêu cầu CA tiếp tục làm rõ, nếu đủ cơ sở tiến tới khởi tố vụ án. Còn riêng việc cắm mốc, phân định ranh giới, đây là lĩnh vực của Sở TN – MT, UBND tỉnh Quảng Trị cần chỉ đạo để sớm triển khai vấn đề này cũng như bàn giao rừng cho UBND xã Vĩnh Hà quản lý. (Công An Đà Nẵng 10/8) đầu trang(
Trong khi huyện bạn Nam Giang cũng tiếp giáp đường biên với nước bạn Lào, có rừng cây pơmu bị lâm tặc tàn phá nghiêm trọng thì ở khu vực xã Axan và Tr’hy, huyện Tây Giang lại bảo vệ và trường tồn được rừng pơmu. Trong rừng pơmu này có tới 725 cây công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
Nằm cách trung tâm huyện Tây Giang chếch về phía Tây gần 40km, thuộc địa phận 2 xã Tr’hy và Axan có một khu rừng rậm toàn gỗ pơmu cổ thụẩn chứa nhiều điều kỳ bí, thi vị. Đây là khu rừng hiếm có trên đại ngàn Tây Trường Sơn và cái tên “Vương quốc pơmu” cũng được người dân sở tại lan truyền từ xưa đến nay.
Theo số liệu điều tra khảo sát của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Sông Bung (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam), quần thể pơmu phân bố trên diện tích 240ha, gồm các khoảnh 4,5,6 thuộc tiểu khu 94; khoảnh 7 tiểu khu 97 và khoảnh 5 thuộc tiểu khu 101. Tổng số cây pơmu đo đếm được là 1.366 cây, trong đó số cây có đường kính đo ở vị trí 1,3 m  từ 10cm trở lên là 1.243 cây, số cây có đường kính dưới 10cm (cây tái sinh) là 123 cây. Cây lớn nhất có chu vi 7,52m.
Quần thể cây pơmu được chính quyền và nhân dân địa phương bảo vệ nghiêm ngặt và gần như còn nguyên vẹn. Nhằm bảo tồn tốt hơn nữa, chính quyền huyện đã có hồ sơ đề nghị Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam xét duyệt công nhận quần thể cây gỗ quý Pơmu “độc nhất vô nhị” ở Quảng Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Kết quả, bước đầu có 725 cây pơmu được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
Cây pơmu với đặc điểm chống được mối mọt, đường vân gỗ đẹp, có mùi thơm… Do nằm sâu trong rừng lại được người dân bảo vệ nghiêm ngặt bằng ý thức tự giác nên thời gian qua rừng gỗ quý pơmu ở đây tồn tại gần như nguyên vẹn. Chính quyền và người dân luôn nêu cao quyết tâm bảo vệ,gìn giữ rừng, thực hiện tốt khẩu hiệu: “Rừng còn Tây Giang phát triển, rừng mất Tây Giang suy vong”. Giữ tốt rừng là góp phần xây đắp cuộc sống thiết thực cho hôm nay và muôn đời sau.
Nhờ vậy, rừng cây pơmu còn lại là niềm tự hào và trách nhiệm của người dân Tây Giang tiếp tục bảo vệ, gìn giữ để góp phần cho lá phổi xanh của nhân loại, mời gọi bạn bè gần xa đến chiêm ngưỡng và góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát triển tạo cho rừng Tây Giang xanh mãi với thời gian.
Vì Tây Giang vẫn là huyện nghèo nhất, nhì của tỉnh, với bao khó khăn, tụt hậu. Từ cuộc sống của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số Cơtu đã thúc giục phải bứt phá đi lên, chọn bước đi riêng cho mình một cách nhanh và bền vững, nhằm khai thác tối đa ưu thế tiềm năng sẵn có của địa phương; nhưng phải đảm bảo vững chắc về môi trường. Rừng nguyên sinh của huyện còn trên 60% diện tích tự nhiên với rất nhiều cây đặc hữu như: Lim, pơmu, sến, chò, dổi… mọc trên đỉnh núi cao hơn 2.000m so mực nước biển. Ngoài ra, do khí hậu quanh năm mát mẻ, mưa nhiều, động thực vật đa dạng, phong phú; nhất nguồn dược liệu quý hiếm vẫn còn có ở núi rừng Tây Giang hùng vỹ này.
Ông Bhling Mia - Chủ tịch UBND huyện cho biết, Tây Giang định hình và luôn đề cao ý thức bảo vệ và chăm sóc toàn rừng cây pơmu một cách toàn diện và trường tồn, xem đây là một trong những yếu tố quan trọng, kết hợp với nét văn hóa đặc trưng, đậm đà bản sắc của đồng bào Cơtu; để từ đây đến giữa năm 2017, huyện sẽ phát động Năm Du lịch Tây Giang với chủ đề “Tiếng gọi đại ngàn lần thứ nhất”.
Đó là khát khao cháy bỏng, là quyết tâm sắt đá, là cam kết có trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tây Giang với cả tỉnh và cả nước; với muôn đời con cháu mai sau. (Thanh Tra 10/8) đầu trang(
Chiều 8.8, trao đổi với NTNN qua điện thoại, ông Lê Văn Cậy – Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Chiêng cho biết vẫn chưa thể xác định được khu vực phản ánh có thuộc lâm phần của công ty này hay không. Lý do là khu vực phóng viên tiếp cận nằm giáp ranh giữa lâm phần của công ty, Ban quản lý rừng phòng hộ Hà Ra và UBND xã Hà Ra quản lý…
Tuy nhiên, ông Cậy cũng thừa nhận tại lâm phần do công ty ông quản lý có việc lâm tặc đốn hạ và chở gỗ ra khỏi rừng. “Trước đây, công ty cũng đã bắt được một số vụ việc rồi giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang xử lý. Tuy nhiên, gần đây chưa phát hiện vụ việc nào… Tại khu vực cửa rừng, công ty đã đặt trạm quản lý bảo vệ rừng tại làng B’lên, thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt. Mặc dù vậy, nhiều người thường lấy lý do đi cắt cỏ cho bò, chở nông sản để qua trạm lên rừng. Lúc xuống chở gỗ thì lâm tặc đi đường khác để qua chốt. “Bây giờ cũng không thể quản lý hết được vì đường khai thác cũ có nhiều lối. Lâm tặc đi bằng xe máy luồn lách trong rừng nên anh em đi tuần tra cũng khó bắt gặp” – ông Cậy phân trần...
Còn ông Nguyễn Long Sơn-Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang cho biết: “Nếu để xảy ra phá rừng, đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp phải chịu trách nhiệm”. (Nông Thôn Ngày Nay 9/8) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 2479 phê duyệt Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2016 – 2020, giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức thực hiện.
Theo đó, tổng mức đầu tư cho phương án này là 128 tỷ đồng, trong đó: 40 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương hỗ trợ theo Quyết định số 1938 ngày 28/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 – 2020; 37 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh; 19 tỷ đồng từ ngân sách huyện; 32 tỷ đồng từ các nguồn vốn khác.
Phương án tập trung cho công tác tuyên truyền, mua sắm các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, đào tạo, huấn luyện và diễn tập chữa cháy rừng cho lực lượng kiểm lâm và các lực lượng phối hợp; hỗ trợ củng cố tổ chức, nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng từ tỉnh đến huyện, xã, thôn bản; đảm bảo duy trì hoạt động của các trạm, chốt bảo vệ rừng.
Việc UBND tỉnh quyết định phê duyệt và giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức thực hiện phương án sẽ giúp lực lượng chuyên ngành có đủ khả năng thực hiện tốt các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh theo phương châm 4 tại chỗ; chủ động kiểm soát cháy rừng, giảm nguy cơ cháy rừng, hạn chế được các vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra; đảm bảo thống nhất trong công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát nắm bắt tình hình thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại các địa phương, đơn vị. (Báo Lào Cai 9/9) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2.361 hộ dân với 14.917 người dân tộc Mông, sinh sống ở 46 bản, làng của 6 xã thuộc 3 huyện: Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát.
Trước đây, người Mông có tập quán sống du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy. Mỗi lần du canh, du cư thay đổi nơi ở, người Mông lại chặt cây rừng để lấy gỗ dựng nhà, làm các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình; đốt rừng để lấy đất làm nương rẫy trồng trọt, sản xuất lương thực.
Từ thực trạng trên, những năm qua, Hạt Kiểm lâm Mường Lát đã chủ động tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện Mường Lát thực hiện chương trình tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng (BVR) và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Đồng thời, thành lập tổ công tác có nhiệm vụ tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về BVR, PCCCR đến từng người dân các bản người Mông sinh sống trên địa bàn huyện.
Sau khi thành lập, tổ công tác đã xây dựng kế hoạch, biên soạn nội dung tuyên truyền tập trung vào công tác PCCCR, hình thức tuyên truyền đổi mới phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào Mông, tuyên truyền đến từng dòng họ, vận động trưởng mỗi dòng họ quán triệt đến các thành viên trong dòng họ thực hiện nghiêm túc các quy định của Nhà nước về BVR và PCCCR, nếu gia đình nào vi phạm sẽ đưa ra kiểm điểm trước dòng họ.
Tiếp đó, tổ đã triển khai họp bản, hướng dẫn quy trình xử lý thực bì đối với diện tích nương rẫy gần rừng, tránh không để cháy lan vào rừng. Tổ chức cho người dân ký cam kết BVR và PCCCR; vận động trưởng mỗi dòng họ ký cam kết với ban quản lý bản và UBND xã về công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Ngoài ra, tổ chức thực hiện xây dựng đường băng trắng cản lửa rừng nơi có đồng bào Mông sinh sống như: bản Pù Ngùa, xã Pù Nhi xây dựng được 3,2 km đường băng cản lửa; bản Na Hin,  xã Mường Chanh 2 km; bản Pù Đứa, xã Quang Chiểu 2 km và bản Cơm, xã Pù Nhi 4,29 km...
Từ đầu năm 2016 đến nay, đồng bào Mông đã tiếp sức cùng với các lực lượng chức năng, phát hiện và dập tắt kịp thời các vụ cháy thực bì tại các xã Tén Tằn, Tam Chung và Pù Nhi. Do đó, các đám cháy đã được khống chế và dập tắt hoàn toàn, không thiệt hại đến tài nguyên rừng.
Ông Sùng A Giống, Trưởng bản Poom Khuông, xã Tam Chung, cho biết: Toàn bản có 64 hộ dân, với 304 nhân khẩu là người Mông sinh sống, được sự tuyên truyền, vận động của chính quyền, các ngành, đơn vị có liên quan, người Mông đã gắn bó định cư tại bản, nhận đất sản xuất nông nghiệp, trồng rừng; nhận khoán BVR tự nhiên và rừng sản xuất. Nhân dân trong bản cũng tập trung đẩy mạnh công tác trồng rừng, đến nay đã có 73 ha rừng trồng, bình quân đạt 1,14 ha rừng/hộ, qua đó giúp đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các đơn vị lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về lương thực, giống cây, phân bón và hướng dẫn về khoa học - kỹ thuật, đồng bào Mông đã tích cực tham gia nhiều chương trình, dự án trồng rừng của Chính phủ, của tỉnh được triển khai thực hiện tại huyện Mường Lát, như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Dự án 147, Dự án 661, dự án trồng rừng vành đai biên giới... Qua đó, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. (Báo Thanh Hóa 7/8) đầu trang(
Tại xã Khánh Thuận (huyện U Minh) những ngày này, nông dân đang tất bật vào mùa vụ mới. Dù mùa khô đã đi qua nhưng người dân trên lâm phần nói riêng và lực lượng giữ rừng nói chung vẫn luôn ý thức cao trong phòng, chống cháy rừng.
Tận dụng lợi thế vùng đất rừng rộng lớn, Khánh Thuận đã thực hiện giao đất, giao rừng cho người dân sản xuất, vừa đảm bảo lợi ích kinh tế vừa làm tốt công tác bảo vệ rừng. Đây là cơ hội để người dân nơi đây vươn lên thoát nghèo.
Đi đôi với việc giao đất, giao rừng, công tác bảo vệ rừng được chính quyền xã đặc biệt quan tâm, quản lý chặt chẽ và thường xuyên kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi phá rừng và lấn chiếm đất rừng; đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân đối với việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường. Qua đó, hạn chế được tình trạng khai thác rừng và lấn chiếm đất rừng trái phép.
Nhờ chú trọng thực hiện chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, gắn với phát triển kinh tế rừng, mà đời sống người dân Khánh Thuận có nhiều khởi sắc. Ông Trần Thanh Hùng ở Ấp 12, cho biết: “Từ khi hưởng ứng tinh thần Nghị quyết 07 của Huyện ủy về tận dụng bờ liếp, bờ đê để trồng màu, gia đình tôi có cuộc sống khá giả hơn, hàng năm thu nhập từ hoa màu trên 50 triệu đồng”.
Ông Hùng có trên 4ha đất rừng, mùa đại hạn vừa qua gia đình ông cùng với bà con trong xã thay nhau trực phòng, chống cháy rừng với tinh thần trách nhiệm cao. Thời gian qua, trên địa bàn xã có xảy ra cháy rừng, nhưng được người dân phát hiện và kịp thời dập tắt.
Hộ ông Nguyễn Thanh Hiệp, cùng Ấp 12, có trên 12ha đất lâm phần. Với gia đình ông, mùa khô mỗi năm là thời gian lo lắng nhất, năm nay càng khắc nghiệt hơn với cơn đại hạn, ông Hiệp vận động các con tham gia trực phòng chống cháy 3 ngày/tháng. Ngoài ra, với nhiệm vụ Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh ấp, trong những cuộc họp, ông đều vận động các hội viên tham gia công tác giữ rừng, từ đó ý thức giữ rừng của các hộ dân được nâng lên.
Tích cực lao động sản xuất, ông Hiệp chủ động áp dụng kỹ thuật, tăng gia sản xuất, tận dụng bờ liếp trồng chuối - mô hình ít tốn công chăm sóc nhưng cho lợi nhuận khá cao. Bình quân gia đình ông thu nhập từ chuối trên 100 triệu đồng/năm, ngoài ra còn có nguồn thu từ chăn nuôi heo, gà, vịt. Bằng hình thức “lấy ngắn nuôi dài”, gia đình ông hiện là hộ khá giàu của xã và mô hình tăng gia của ông đã được nhân rộng cho nhiều hộ dân trên địa bàn.
Ông Trần Công Mười, Phó Chủ tịch UBND xã, chia sẻ về một số mô hình sản xuất mới, dự kiến được thực hiện ở địa phương: “Xã đã trình UBND huyện đề xuất mở rộng diện tích cho người dân trồng chanh không hạt, chuối, sả. Thí điểm ở các ấp 12, 15, 16, khoảng 1ha/hộ”.
Cùng với sự khởi sắc của đời sống người dân trên lâm phần, bộ mặt nông thôn mới ở Khánh Thuận đang dần hiện hữu, với kết cấu hạ tầng được đầu tư cơ bản, những con đường đất đã được thay thế bằng đường bê-tông, nối liền từ các ấp đến trung tâm xã. Việc phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ rừng đã và đang đưa Khánh Thuận đi lên phát triển bền vững. (Báo Đất Mũi 8/8) đầu trang(
Những hình ảnh rừng bị 'làm thịt' mà chúng tôi ghi nhận được cho thấy 'lệnh đóng cửa rừng' của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn chưa được chấp hành nghiêm.
Như Thanh Niên đã đưa tin, hơn 575 ha rừng tại tiểu khu 69 - Nông lâm trường Bù Đốp (H.Bù Đốp, Bình Phước) vừa được UBND tỉnh Bình Phước cho phép chuyển đổi sang thực hiện “dự án chăn nuôi kết hợp trồng rừng”.
Tháng 6.2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển 2,25 triệu ha rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác kể cả các dự án được phê duyệt, trừ các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh...
Thế nhưng, những hình ảnh mà chúng tôi ghi nhận được cho thấy “lệnh đóng cửa rừng” của Thủ tướng vẫn chưa được chấp hành nghiêm.
Ông Nguyễn Đức Huy, Chủ tịch UBND xã Phước Thiện (H.Bù Đốp, Bình Phước) cho hay rừng tại tiểu khu 69 là rừng tự nhiên hàng trăm năm nay: “Người ta cứ quy là rừng nghèo kiệt rồi chuyển đổi là không hợp lý”.
“Tôi và người dân đều mong muốn tỉnh ngừng ngay dự án tại tiểu khu 69 và dự án chuyển đổi rừng ở những nơi khác để bảo vệ diện tích rừng tự nhiên còn lại”, ông Huy khẳng định. (Thanh Niên 9/8) đầu trang(
Mục thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân cho biết: Xuất hiện tình trạng chặt phá rừng phòng hộ trái phép trên địa bàn xã Phú Gia (Hương Khê, Hà Tĩnh) (Nhân Dân 9/8) đầu trang(
Trên các trang báo, mạng xã hội, cá nhân ngập tràn hình ảnh cờ Tổ quốc kéo lên, quốc ca hùng tráng, ghi dấu ấn khoảnh khắc lịch sử Việt Nam ghi danh vào bản đồ thể thao thế giới. Sự nỗ lực và tài năng của một con người lập chiến công trong bất cứ lĩnh vực nào cũng là niềm vui, niềm tự hào của hàng triệu người, gắn bó và sẻ chia vinh dự trong một quốc gia.
Cũng là vàng của quốc gia, cũng đang diễn ra ở một sự kiện mang tầm quốc tế là bảo vệ rừng vàng tại Hội nghị Thượng đỉnh rừng mưa nhiệt đới châu Á – Thái Bình Dương, diễn đàn bộ trưởng các nước trong khu vực này, đất nước chúng ta đang bị đánh giá về nạn tàn phá rừng vàng nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này lại là “văn hóa đại gia” của người Việt, một chuyên gia trong lĩnh vực rừng chỉ ra thói quen thích dùng gỗ quý đã thúc đẩy việc khai thác gỗ bằng mọi giá.
Rất chính xác khi ta nhìn vào “niềm tự hào của đại gia Việt” với nhà cửa, đồ dùng, tiện nghi, vật trưng bày,... đều là gỗ quý, chỉ bộ bàn ghế thôi cũng có giá hàng chục tỷ đồng. Trong cuộc ganh đua chơi sang đó, rừng vàng liên tục bị “chảy máu”, đến rễ cây cũng bị đào lên, thủy tùng ngàn tuổi nằm sâu dưới nước cũng bị khai quật và những cây gỗ quý, biểu tượng của đại ngàn cũng không thoát khỏi lưỡi cưa lâm tặc.
Thể thao cũng là thú chơi mà mang lại vàng và thắp lên niềm tự hào dân tộc. Còn thú chơi của đại gia lại đang góp phần tàn phá những cánh rừng vàng, đẩy đời sống nhân dân đến chỗ khó khăn, hủy hoại tài nguyên đất nước và môi trường. Cái thú chơi này chỉ mang lại sự phẫn nộ cho nhân dân cho dù có người vẫn tung hô nó.
Diễn biến có liên quan gần đây nhất, một tờ báo đăng loạt phóng sự về rừng bảo hộ bị tàn phá ở đầu nguồn sông Bến Hải (Quảng Trị). Thủ tướng lập tức chỉ đạo kiểm tra việc này, cơ quan chức năng đã lập đoàn kiểm tra với hơn 50 người chia làm hai hướng vào rừng, kết quả đúng như báo chí phản ánh và tất nhiên, sự tàn phá rừng này đã bị chặn đứng.
Chỉ riêng câu chuyện này thôi cũng đủ thấy rằng đối với việc bảo vệ rừng, chính quyền và cơ quan chức năng địa phương đã lơ là như thế nào, một việc thuộc tầm kiểm soát cấp huyện mà Thủ tướng phải đích thân chỉ đạo.
Mặt tích cực của việc này là Thủ tướng đã ra tay kịp thời, phần còn lại là cần xử lý nghiêm những người đã để xảy ra việc này. Đã đến lúc phải giữ gìn rừng vàng cấp bách và cũng khổ công như giành giật những tấm Huy chương Vàng, đem lại niềm vui cho tất cả mọi người!. (Pháp Luật Việt Nam 8/8) đầu trang(
Những năm qua, Hội cựu chiến binh tỉnh Yên Bái đã bảo vệ 26.421ha rừng phòng hộ đặc dụng, nhận khoán 19.550ha đất rừng tự nhiên sản xuất để trồng cây lâm nghiệp. Tham gia vây bắt 15 vụ khai thác lâm sản trái phép và đốt phá rừng làm nương.
Yên Bái có diện tích đất lâm nghiệp (đất có rừng) là 474.120ha, chiếm 68,5% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh, chủ yếu là đất rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ, tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,2%. Đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm và cây lâu năm chỉ chiếm 15,8%.
Tuy nhiên, Yên Bái là tỉnh miền núi còn nghèo, chủ yếu là đồng bao dân tộc sinh sống. Cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn, tình trạng đốt rừng làm nương, khai thác lâm sản, săn bắt chim thú… đã làm cho rừng phòng hộ bị cạn kiệt, các nguồn gen quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Trước tình trạng đó, với trên 34.000 hội viên cựu chiến binh đã có mặt rộng khắp ở cộng đồng dân cư, gắn liền với bản làng nông thôn miền núi để cùng chung sức bảo vệ rừng.
Từ năm 2007, Hội Cựu chiến binh tỉnh Yên Bái đã ký văn bản phối hợp với Sở TN&MT tỉnh về bảo vệ Tài nguyên và Môi trường. Từ đó, các cấp Hội từ tỉnh đến cơ sở đã có Nghị quyết chỉ đạo công tác tuyên truyền và hành động bảo vệ TN&MT. Đặc biệt, chú trọng đến việc bảo vệ rừng, trồng rừng là thiết thực nhất, không để rừng đặc dụng, từng phòng hộ bị tàn phá, gây ra hệ lụy cho con  người.
Tính đến hết năm 2015, Hội Cựu chiến binh các cấp đã bảo vệ được 26.421ha rừng phòng hộ đặc dụng; phối hợp tốt với Hạt kiểm lâm các địa phương để tuyên truyền bảo vệ rừng, tham gia các hoạt động phòng chống cháy rừng, bảo vệ không để khai thác gỗ lâm sản, săn bắt trái phép động vật rừng. Tiêu biểu là Hội viên của xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên có 43 hội viên là người dân tộc Mông, có 33 hội viên tham gia cùng lực lượng Kiểm lâm bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, Hội Cựu chiến binh tỉnh còn tham gia nhiều hoạt động ý nghĩa như: Phối hợp cùng Công an tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc giao nộp, không tàng chữ, sử dụng súng săn, súng tự chế trong nhà. Từ đó, góp phần giúp hạn chế việc săn bắt động vật hoang dã.
Đồng thời, vận động tuyên truyền đồng bào dân tộc cam kết không trồng cây thuốc phiện, tránh tình trạng phá rừng già để trồng lén lút. Vận động bà con phát huy thế mạnh đất đai trồng rừng phát triển kinh tế. Hiện toàn tỉnh đã có 547 trang trại của hội viên theo mô hình vườn, ao, chuồng, trên 10ha trở lên cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Điều này đã góp phần làm giảm tình trạng phá rừng, khai thác tài nguyên rừng quá mức.
Ông Nguyễn Văn Ngát, Trưởng Ban kinh tế Hội Cựu chiến binh tỉnh Yên Bái cho biết: Nhiều năm qua các hội viên ở các cấp đều cố gắng làm tốt công tác bảo vệ TN&MT để hạn chế tác động xấu đến môi trường, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng bền vững.
“Tuy nhiên, nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường chưa có nên đây cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn. Chúng tôi mong rằng, hàng năm tỉnh có hỗ trợ cho Hội Cựu chiến binh kinh phí nhất định để chi cho công tác tuyên truyền, biểu dương, khen thưởng những mô hình, những gương đi đầu trong công tác bảo vệ TN&MT”, ông Nguyễn Văn Ngát nói. (Tài Nguyên Và Môi Trường 8/8) đầu trang(
Sáng 9/8, một cán bộ bị chém đã tỉnh sau khi được mổ cấp cứu vì chấn thương sọ não. Tuy nhiên, một đồng nghiệp của anh phải khâu 5 mũi ở đỉnh đầu, còn một người nữa đã vĩnh viễn nằm lại với rừng.
Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng Lê Văn Tiến cho biết anh Tân Khoa (21 tuổi, quê Bình Định) nhập viện lúc 18 giờ 50’ đêm hôm qua (8/8) trong tình trạng chấn thương sọ não, tụ máu ngoài màng cứng. Trên đầu còn có một vết thương dài 7cm. Sau khi phẫu thuật, sáng nay anh đã tỉnh nhưng còn kêu đau đầu.
Bệnh nhân Triệu Vũ Hiệp (37 tuổi, Phó Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô, huyện Lâm Hà) nhập viện lúc 18 giờ 15 phút với vết thương trên đỉnh đầu dài 5cm cùng vết xước trên má. Bệnh viện đã khâu vết thương và đang tiếp tục theo dõi tình trạng bệnh.
Anh Hiệp gương mặt xanh xao kể lại vụ chém giết của côn đồ. Tầm giữa trưa, nhận được tin báo có một số người đang chặt phá cánh rừng thông (rừng trồng khoảng 1 năm tuổi tại tiểu khu 243, xã Phi Tô) để canh tác nông nghiệp, Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô liền báo cáo với Ban quản lý rừng Nam Ban cùng các cơ quan liên quan.
Đoàn cán bộ gần 20 người gồm công an, dân quân và lực lượng quản lý bảo vệ rừng phối hợp đến kiểm tra. Đoàn phát hiện một số người đang dọn dẹp thực bì để làm rẫy trên đất rừng, một người đang chặt cây thông khoảng 1 năm tuổi. Diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm khoảng 2 sào.
Đoàn yêu cầu đối tượng về trạm để làm giấy cam đoan không lấn chiếm đất rừng. Một phụ nữ trong nhóm người này vội gọi điện thoại cho ai đó. Khi lực lượng bảo vệ rừng mới rời khỏi hiện trường khoảng 2km thì bị đám đông cầm hung khí (kiếm, dao phát, mã tấu..) chặn đường.
Đám đông hò hét lao vào tấn công khiến các cán bộ bỏ chạy tán loạn. Hậu quả, cán bộ bảo vệ rừng Nguyễn Ái Tĩnh (49 tuổi) bị chém một nhát trúng cổ,  gục xuống đất và tử vong tại chỗ. Anh Khoa đã chạy thoát nhưng khi thấy ông Tĩnh bị tấn công thì quay lại giải vây và cũng bị chém trọng thương.
“Mình đang đội mũ bảo hiểm mà đầu còn bị chém ra thế này. Cái mũ vỡ tan tành. Nếu không có mũ chắc cũng mất mạng rồi”, anh Hiệp nói.
Khoảng 15 giờ ngày 8/8, Công an huyện Lâm Hà điều lực lượng đến hiện trường đưa người bị thương đi cấp cứu nhưng vẫn bị những người quá khích ngăn cản, đập phá xe mô tô. Chỉ đến khi biết tin một cán bộ bị chém chết, đám đông mới giải tán.
Công an tỉnh Lâm Đồng đang phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ vụ hàng chục đối tượng dùng hung khí truy sát, chém chết tại chỗ 1 cán bộ. (Nông Nghiệp VN 10/8; Tiền Phong 9/8) đầu trang(
Lực lượng quản lý, bảo vệ rừng xã Phi Tô, huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng) gồm 6 công an viên, 3 dân quân và 10 cán bộ bị nhiều đối tượng truy sát khiến 1 người chết, 2 người bị thương nhập viện. Vụ việc diễn ra ngày 8.8, khi lực lượng bảo vệ rừng đi kiểm tra tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng.
Phải gọi là truy sát, vì khi bị các đối tượng dùng hung khí hung hãn chặn đường, lực lượng bảo vệ rừng đã quay đầu xe chạy về trạm, nhưng vẫn bị truy đuổi, bao vây trạm và tấn công. Ông Nguyễn Ái Tĩnh - cán bộ Ban quản lý rừng Nam Ban - bị chém trúng cổ tử vong tại chỗ, anh Tân Khoa - cán bộ Ban quản lý rừng Nam Ban - bị chém vào đầu và anh Triệu Vũ Hiệp - Phó ban Lâm nghiệp xã Phi Tô - cũng bị chém vào đầu vỡ nát mũ bảo hiểm.
Những người tham gia vụ tấn công là dân trên địa bàn, nhưng đằng sau chắc chắn có sự kích động, giật dây của lâm tặc. Lực lượng kiểm tra xâm phạm rừng có công an, dân quân và cán bộ địa phương, nhưng chỉ cán bộ kiểm lâm bị chém, tại sao lại là cán bộ kiểm lâm? Lôi kẻ “đạo diễn” ra ánh sáng là việc của công an.
Từ vụ việc cho thấy, cán bộ bảo vệ rừng đã không tự bảo vệ được mình thì làm sao bảo vệ rừng? Đã có nhiều vụ lâm tặc tấn công cán bộ kiểm lâm, nhưng chưa có biện pháp trấn áp mạnh mẽ, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của cán bộ. Làm cán bộ kiểm lâm, nếu sống thanh liêm với đồng lương nhà nước sẽ rất vất vả lại bị đe dọa mạng sống bởi bọn lâm tặc, vậy thì ai còn dám bám trụ. Bị tấn công đến mất mạng như ông Nguyễn Ái Tĩnh, ai lo cho vợ con của ông.
Cho nên, trên thực tế không thiếu trường hợp kiểm lâm bán mình cho lâm tặc. Nhiều cánh rừng bị phá cho thấy không thể không có sự hợp tác của kiểm lâm. Mới nhất, hàng loạt cây pơ mu trăm tuổi ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, huyện Quế Phong (tỉnh Nghệ An) bị đốn hạ. Một rừng pơ mu thuộc khu bảo tồn bị phá tan hoang, không thể có chuyện kiểm lâm không biết.
Tại sao biết mà im lặng, như chính câu nói của Chủ tịch UBND huyện Quế Phong Lê Văn Giáp: “Sáng dậy, tôi đọc thông tin trên Vietnamnet, thật sự bất ngờ về tình trạng pơ mu bị khai thác. Tuần nào cũng nghe anh em báo cáo nhưng không nghe nói chi cả”. Tuần nào cũng báo cáo nhưng không ai báo cáo rừng pơ mu bị đốn hạ, lực lượng kiểm lâm đã làm gì ở khu bảo tồn này?
Kiểm lâm bị cám dỗ bởi tiền bạc là một mối nguy, bị đe dọa mạng sống là mối nguy lớn hơn. Không loại bỏ hai mối nguy này thì rừng còn bị tàn phá. (Lao Động 10/8) đầu trang(
Sáng ngày 9/8, Báo Lao Động đã trực tiếp đến Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng để tìm hiểu thông tin về vụ việc cán bộ quản lý rừng Nam Ban bị đối tượng tấn công dẫn đến tử vong.
Nạn nhân là ông Nguyễn Ái Tĩnh (cán bộ Ban quản lý Nam Ban) bị chém một nhát trúng cổ tử vong tại chỗ. Anh Tân Khoa (cán bộ Ban quản lý rừng Nam Ban) bị chém vào đầu nằm gục xuống đất bất tỉnh hiện đang được cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng, tình trạng sức khỏe đã qua cơn nguy kịch. Riêng anh Triệu Vũ Hiệp (Phó Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô) bị một đối tượng dùng mã tấu chém thẳng vào đầu, vỡ nát mũ bảo hiểm, chấn thương ở gần đỉnh đầu, vết khâu 5cm.
Trao đổi với Báo Lao Động, anh Triệu Vũ Hiệp bàng hoàng kể lại vụ việckiểm lâm bị tấn công tại Lâm Đồng: “Khoảng 11h ngày 8/8, Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô nhận được thông tin tại tiểu khu 243 đang có một số người dân là đồng bào dân tộc thiểu số lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp nên đã trình báo với Ban quản lý rừng Nam Ban. Nhận được tin báo đơn vị đã kết hợp với công an xã đến hiện trường. Công an xã Phi Tô đã điều động 6 công an viên, 3 dân quân cùng gần 10 cán bộ quản lý, bảo vệ rừng cùng phối hợp. Tại đây, lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang một số người dân đang chặt cây làm rẫy, trong đó có một hộ lấn vào vị trí rừng thông mới được trồng cách đây khoảng 1 năm, với diện tích tầm 2 sào. Thấy vậy, tôi đã mời hộ dân này về trạm làm biên bản”.
Khi lực lượng chức năng rời địa điểm được 2km thì bị một nhóm người cầm theo rất nhiều hung khí chặn đường. Do các đối tượng quá khiêu khích, lực lượng chức năng buộc phải quay đầu xe trở lại bỏ chạy về trạm quản lý, bảo vệ rừng thuộc tiểu khu 243, xã Phi Tô. Không dừng lại ở đó, nhóm này tiếp tục rượt đuổi chặn các cán bộ quản lý lại tại khu vực thôn Buôn Chuối, xã Mê Linh (Lâm Hà). Bất ngờ hàng chục đối tượng có hung khí bao gồm dao phát, kiếm, mã tấu... lao vào tấn công dữ dội vào lực lượng bảo vệ rừng.
Riêng anh Trần Vũ Hiệp bị một đối tượng dùng mã tấu chém thẳng vào đầu, vỡ nát mũ bảo hiểm, chấn thương ở gần đỉnh đầu, bất tỉnh và được đưa lên Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng cấp cứu. Ngoài ra anh Hiệp không nhớ được thêm sự việc gì" - anh Hiệp cho biết thêm.
Trao đổi với Báo Lao Động về tình trạng sức khỏe các nạn nhân, bác sỹ Lê Văn Tiến (Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng) cho biết, hiện tình trạng sức khỏe các nạn nhân đã qua cơn nguy kịch. Anh Tân Khoa nhập viện vào lúc 18h 50 ngày 8/8. Theo ghi nhận bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, nạn nhân bị chấn thương sọ não hở, sau khi vào viện điều trị thì được chuyển vào phòng mổ, gặm xương sọ bị vỡ, hiện tình trạng bệnh nhân đã bình thường, tự thở được. Ngoài ra vào chiều tối cùng ngày, bệnh viện tiếp tục điều trị cho nạn nhân tên là Triệu Vũ Hiệp, ghi nhận vết thương trên đầu khoảng 5cm, đã được các y bác sỹ tiến hành khâu khoảng 4 mũi tại phòng cấp cứu, hiện tại bệnh nhân này đã khỏe, không có biểu hiện gì bất thường.
Cũng theo bác sỹ Tiến, Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng đã tăng cường lực lượng, đội ngũ bác sỹ chuyên nghiệp để điều trị cho các bệnh nhân. Ngoài ra đơn vị còn tăng cường giám sát, theo dõi 24/24... tình trạng sức khỏe, đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất, giúp các bệnh nhân sớm hồi phục. (Kiến Thức 10/8) đầu trang(
Thời gian qua, tại những cánh rừng khu vực miền Trung Tây Nguyên, tình trạng lâm tặc tấn công kiểm lâm diễn ra ngày càng phức tạp và manh động.
Sáng 2/3/2016, một tổ kiểm lâm trạm Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh TT-Huế gồm 5 người trong khi làm nhiệm vụ đã bị một nhóm lâm tặc bao vây, hành hung. Một kiểm lâm đã bị lâm tặc chém vào bàn tay phải, dùng hung khí đánh vào đầu và chân.
Chiều 2/3/2016, 5 cán bộ kiểm lâm đang làm nhiệm vụ tại xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thì bị một số đối tượng bất ngờ tấn công bằng súng tự chế. Trước đó, trong khi kiểm tra việc quản lý, bảo vệ rừng và việc chấp hành pháp luật của người dân tại bản Đoòng - nằm sâu giữa vùng lõi Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc xã Tân Trạch, Bố Trạch, các cán bộ kiểm lâm đã phát hiện một số sai phạm trong công tác bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm của các hộ dân tại bản Đoòng. Một số kiểm lâm đã chụp ảnh các tang vật vi phạm để làm cơ sở xử lý nhưng sau đó một số đối tượng đã uy hiếp bắt các kiểm lâm xóa ảnh đã chụp.
Chiều 10/6, cán bộ kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đi kiểm tra hiện trường vụ phá rừng trái phép tại Tiểu khu 259 thuộc xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà thì bị hai đối tượng lao vào hành hung, dùng dao đánh đuổi các cán bộ bảo vệ rừng.
Vào 4h30 ngày 12/7, lực lượng kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam bị các đối tượng vận chuyển gỗ lậu lăng mạ, phỉ báng sau đó dùng dao phay xông vào chốt gác chém lực lượng kiểm lâm đang trực làm một kiểm lâm viên bị thương ở vùng mặt. Đối tượng còn nhắn tin hăm dọa vào điện thoại của kiểm lâm viên.
Mới đây nhất, tại tỉnh Lâm Đồng, ngày 8/8, hai cán bộ đã bị một số đối tượng nghi lâm tặc dùng hung khí tấn công và chém vào cổ tại khu vực thôn Hang Hớt, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà. (Đài Truyền Hình Việt Nam 9/8) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết Chủ tịch UBND tỉnh vừa ký các quyết định xử phạt trên 100 triệu đồng vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Cụ thể, phạt 50 triệu đồng đối với ông Nguyễn Thanh Đông trú tại xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk vì đã thực hiện hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật là 37 thanh gỗ xẻ không xác định chủng loại (SP) thuộc nhóm V (năm) với khối lượng hơn 8 mét khối không có hồ sơ lâm sản hợp pháp.
Ngoài ra phạt 55 triệu đồng đối với ông Nguyễn Văn An trú tại xã Nghĩa Hiệp, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vì thực hiện hành vi kinh doanh 11 thanh gỗ xẻ thuộc nhóm 4 với khối lượng gần 12 mét khối hồ sơ lâm sản trái phép và hành vi tàng trữ trái phép lâm sản. (ANTV 8/8) đầu trang(
Xét thấy Biên bản khám nghiệm hiện trường và các biên bản kiểm tra không đúng với thực tế; đặc biệt trong diện tích hơn 4.000m2 đất rừng mà VKS Phú Quốc lấy làm cơ sở truy tố vợ chồng ông Hưng phạm tội hủy hoại rừng thì có hơn 2.000m2 đất rừng còn nguyên vẹn…
Trong đơn cầu cứu khẩn cấp mà vợ chồng ông Trần Kiều Hưng - nguyên Phó Chủ tịch UBND xã Cửa Cạn và bà Trần Thị Bích Phượng (cùng ngụ ấp 3, xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc) gửi đến Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ông Hưng đưa ra 3 lí do để cầu cứa Cục điều tra vào cuộc xác minh:
Theo sơ đồ Thửa 46 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tờ bản đồ số 01, ấp 3, xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc; sơ đồ Tiểu khu 81 Vườn Quốc gia Phú Quốc thì diện tích 6.750,5m2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm hoàn toàn ở phía Bắc con suối (đây là mảnh đất vợ chồng ông Hưng phát dọn).
Thế nhưng, tại Biên bản khám nghiệm hiện trường 21/5/2012 và các Biên bản kiểm tra thực địa 08/7/2014, ngày 09/10/2014 và ngày 25/5/2016 lại vẽ diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hưng có con suối chảy qua và nằm ở phía Nam con suối.
Tại hiện trường không có cột mốc 109,110,111 nhưng lại được vẽ vào trong biên bản khám nghiệm hiện trường và các biên bản kiểm tra thực địa khác. Trong khi các cột mốc 103,104, 105 được cắm tại hiện trường và gần hiện trường nhất thì không được vẽ.
Đáng nói trong diện tích 4.042m2 mà VKSND huyện Phú Quốc dùng làm cơ sở để truy tố vợ chồng tôi hủy hoại rừng theo Khoảng 3, Điều 189 Bộ Luật hình sự thì trong đó có đến 2.108,4m2 rừng tự nhiên vẫn còn nguyên vẹn chưa hề bị tác động hoặc chặt phá gì cả, dẫn đến diện tích trong Biên bản khám nghiệm hiên trường và các Biên bản kiểm tra khác không đúng thực tế.
Từ những điều trên, vợ chồng ông Trần Kiều Hưng cho rằng các cơ quan tiến hành tố tụng tại huyện Phú Quốc đã cố tình xây dựng những chứng cứ giả, không đủ cơ sở pháp lý, làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án, nằm truy tố vợ chồng ông phạm tội phá rừng là oan ức cho vợ chồng ông.
Như Dân trí đã thông tin, khoảng 1987, ông Huỳnh Văn Mật cho con ruột Huỳnh Thị Bích Phượng thửa đất thuộc ấp 3 xã Cửa Cạn (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang). Bà Phượng trồng 500 bụi tiêu và tràm bông vàng. Năm 2010 bà Phượng và chồng là ông Trần Kiều Hưng làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất (GCNQSDĐ) với diện tích 17.440m2 của thửa đất nêu trên. Sau đó, UBND huyện Phú Quốc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng ông Hưng với diện tích 6.750,5m2.
Đến khoảng 9/2011, bà Phượng và ông Hưng thuê một số người phát dọn đất, thì vào ngày 02/11/2011, Trạm Kiểm Lâm xã Cửa Cạn đến lập biên bản đình chỉ, vì cho rằng, phần đất mà vợ chồng ông Hưng phát dọn đã nằm ngoài diện tích mà họ được cấp giấy CNQSDĐ trước đó.
Ngày 25/5/2012, ngành chức năng huyện Phú Quốc kết hợp với chính quyền địa phương xã Cửa Cạn tiến hành kiểm tra thực địa, toạ độ, vị trí ranh giới tại hiện trường và xác định diện tích 4.042m2 mà vợ chồng ông Hưng phát dọn nằm trong ranh giới Vườn Quốc Gia Phú Quốc (tại tiểu khu 81 phân khu phục hồi sinh thái).
Từ kết luận này, 08/3/2013, Viện KSND huyện Phú Quốc ra cáo trạng số 24/KSDT-TA truy tố vợ chồng ông Trần Kiều Hưng và Huỳnh Thị Bích Phượng về tội “Huỷ hoại rừng”.
Ngày 16/5/2013 TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Trần Kiều Hưng 03 năm tù giam, Huỳnh Thị Bích Phượng 03 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Huỷ hoại rừng”. Nhưng đến 31/3/2014, AND tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm và tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho cơ quan điều tra.
Ngày 17 - 18/11/2015 TAND huyện Phú Quốc mở lại phiên tòa và tuyên vợ chồng ông Trần Kiều Hưng không phạm tội hủy hoại rừng. Đến 27 - 30/11/2015 nguyên đơn Vườn Quốc gia Phú Quốc kháng cáo và VKSND huyện Phú Quốc kháng nghị. (Dân Trí 9/8) đầu trang(
Ngày 8/8, Sở Tài nguyên - Môi trường (TN&MT) phối hợp với Cục Bảo tồn đa dạng sinh học Bộ TN&MT và Dự án BCI tổ chức hội thảo xây dựng kế hoạch hành động về đa dạng sinh học, hướng dẫn phục hồi hệ sinh thái đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
Tham dự có đại diện các Sở: TN&MT, Kế hoạch - Đầu tư, Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng đại diện một số huyện và lãnh đạo các xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, Phong Nặm của huyện Trùng Khánh.
Với mục tiêu sớm đưa Luật Đa dạng sinh học vào cuộc sống nhằm bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường, hội thảo đã được nghe chuyên gia Dự án BCI trình bày đề cương về kế hoạch hành động đa dạng sinh học và hướng dẫn phục hồi hệ sinh thái trong khuôn khổ Dự án bảo tồn hành lang đa dạng sinh học; đánh giá thực trạng, hiện trạng đa dạng sinh học; các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học; tình hình quản lý, bảo vệ đa dạng sinh học của địa phương và các vấn đề ưu tiên đối với bảo tồn đa dạng sinh học.
Theo đó kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học sẽ tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu: Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên cạn; bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học vùng đất ngập nước; bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học nông nghiệp; sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật; tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về đa dạng sinh học, an toàn sinh học; hướng dẫn phục hồi sinh thái tại khu bảo tồn vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh.
Các đại biểu tham dự hội thảo đã đóng góp ý kiến xây dựng, đề xuất về việc xây dựng sinh kế thân thiện với môi trường, đặc biệt liên quan tới sản xuất nông nghiệp để tạo sinh kế cho người dân vùng dự án bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cao Bằng 9/8) đầu trang(
Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên tại VN (WWF VN) bổ sung lắp đặt 75 bẫy ảnh tại 2 khu bảo tồn loài sao la (Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam) để xác nhận loài động vật hoang dã, nâng số lượng bẫy ảnh trong khu vực này lên 100 chiếc, số bẫy ảnh lắp đặt mới do Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ tài trợ. (Thanh Niên 8/8) đầu trang(
Trong chuyến công tác Sông Mã vừa qua, chúng tôi đến xã Huổi Một đúng lúc voi rừng xuất hiện trở lại ở bản Kéo.
Theo thông tin ban đầu, đây chính là con voi năm 2004 đã quật chết 1 người ở xã Phiêng Cằm (Mai Sơn) và hiện đang tiếp tục gây nhiều thiệt hại về tài sản, hoa màu, gia súc khiến người dân lo lắng. Chúng tôi đã trực tiếp đến bản Kéo để tìm hiểu rõ hơn về thông tin này.
Tiếp chúng tôi, ông Lò Văn Ngâu trưởng bản Kéo, chia sẻ: Voi rừng bắt đầu xuất hiện tại bản năm 2012, đến năm 2013, voi vẫn xuất hiện thường xuyên nhưng không gây hại. Năm 2014, cứ tầm khoảng 5 giờ chiều đến 7 giờ tối voi lại xuất hiện phá hoại nương ngô, sắn, lán nương, gia súc cũng như rất nhiều ống dẫn nước của bà con.
Theo thống kê của bản, voi đã quật chết 1 con trâu, 5 con bò, nhiều diện tích nương ngô, sắn, lúa nước của bà con bị voi phá nát. Hiện bản rất mong các cấp, ngành chức năng có biện pháp di chuyển voi đến nơi có điều kiện phù hợp để đảm bảo tính mạng, tài sản cho người dân.
Anh Lò Văn Hiển, chủ con trâu bị voi quật chết, cho biết: Gia đình tôi có 5 con trâu, nhốt chuồng trên đồi nương của nhà, trước đây trâu nhốt trên chuồng, voi còn nằm cạnh chuồng nên gia đình yên tâm nhốt trâu ở chuồng trên đồi. Rạng sáng ngày 16/7 vừa qua, lên đồi thấy con trâu cái đang chửa bị quật chết, may mắn 4 con trâu kia chạy thoát. Rất mong chính quyền quan tâm, có biện pháp ngăn chặn voi rừng và hỗ trợ một phần để chúng tôi có thể yên tâm ổn định sản xuất.
Muốn được tận mắt nhìn thấy con voi dữ, chúng tôi nhờ anh Lò Văn Thủy một người dân trong bản dẫn đường, vượt qua 3km đường mòn dốc núi, gồ ghề, trơn trượt lên nương sắn của người dân, nơi voi thường xuất hiện.
Lúc đó khoảng 5 giờ chiều, hỏi chuyện anh Vì Văn Sưa đang làm cỏ nương sắn của gia đình, anh bảo: Tháng 10/2015, gia đình cũng bị voi quật chết 1 con bò, phá hoại 1 ha ngô... Trước đây dùng biện pháp xua đuổi, voi biết sợ chạy đi, nhưng giờ người dân nghe thấy tiếng động của voi phải chủ động tránh, vì voi đã quật chết người rồi. Chúng tôi đi vòng quanh đồi nghe ngóng, quan sát đến khi trời đã nhá nhem tối, không thấy voi xuất hiện nên đành phải về.
Qua thông tin kiểm lâm địa bàn cho biết: Trước đây huyện Sông Mã có 1 đàn voi thường xuyên di chuyển từ xã Mường Cai qua Lào, năm 1998, con voi đực bị bắn chết, đến năm 2004, con voi con cũng bị bắn hạ, chỉ còn 1 mình con voi cái trở nên dữ và phá phách, quật chết 1 người ở xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn.
Đầu năm 2012, con voi cái thường xuyên xuất hiện tại địa bàn xã Chiềng Khoong, Huổi Một, Nà Nghịu, voi đã quật ngã và đâm lún sọ, gẫy xương sườn 1 người dân ở bản Quyết Tiến, xã Nà Nghịu vào tháng 9/2012.  Do vùng sinh cảnh của voi bị thu hẹp, hạn chế về thức ăn nên từ năm 2014, voi lại tiếp tục xuất hiện khu vực lân cận giáp ranh với bản Lọng Mòn (xã Huổi Một), bản Hải Sơn (xã Chiềng Khoong). Tại đây, voi đã phá hoa màu, tài sản, gia súc, đe dọa gây nguy hiểm đến tính mạng của nhân dân, nhiều nhất ở bản Kéo (xã Huổi Một).
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện, từ năm 2014 đến nay, tính ở riêng bản Kéo, voi rừng tấn công 156 lần, phá hơn 15 nghìn m2 lúa nước, gần 64 nghìn m2 nương ngô, hơn 171 nghìn m2 nương sắn, làm chết 1 con trâu, 5 con bò, phá 2 máy phát cỏ, thái sắn, 1 nhà ở cấp IV, 1 chuồng trại và nhiều ống dẫn nước (tổng giá trị thiệt hại hơn 439 triệu đồng)... Ngoài ra ở bản Lọng Mòn (xã Huổi Một), bản Hải Sơn (xã Chiềng Khoong) cũng bị thiệt hại đáng kể.
Trao đổi với anh Đào Văn Tưởng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, anh cho hay: Hạt cũng đã nỗ lực để quản lý voi nhưng giờ vẫn chưa có giải pháp nào hữu hiệu. Chúng tôi đã hướng dẫn nhân dân xua đuổi voi, trực tiếp cho kiểm lâm địa bàn xuống tuyên truyền nhân dân các xã nơi thường có voi xuất hiện, áp dụng nhiều biện pháp như đốt lửa, gõ mõ, đánh kẻng gây tiếng ồn; tuyên truyền cho bà con tuyệt đối không được bắn, bắt, bẫy và dùng các biện pháp khác làm ảnh hưởng đến sức khỏe của voi, khuyến cáo người dân tự bảo vệ tài sản của mình.
Bây giờ, người dân đã biết cách phòng tránh, nhiều nơi như ở bản Hải Sơn (xã Chiềng Khoong) người dân còn dùng một số biện pháp khác như thắp bóng điện trên nương, dùng pháo đất đèn tự chế để giả tiếng súng, nhưng quen rồi, voi cũng không sợ nữa. Năm 2015, Đoàn công tác của Vụ Bảo tồn thiên nhiên thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng với Kiểm lâm huyện đi khảo sát các vùng voi thường gây hại.
Qua tài liệu, phỏng vấn và điều tra hiện trường, chỉ còn duy nhất một cá thể voi cái trưởng thành đang sinh sống tại huyện Sông Mã trên vùng Tây Bắc, trong độ tuổi sinh nở, nếu được di chuyển đem đi bảo tồn vẫn duy trì được nòi giống. Nhưng để di chuyển rất tốn kém, nên giờ voi vẫn chưa được di chuyển.
Hiện, Hạt đang tham mưu cho UBND huyện kiến nghị UBND tỉnh đề xuất với Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường và cấp có thẩm quyền có phương án phù hợp theo quy định (di chuyển voi đến nơi có điều kiện phù hợp, nếu không di chuyển được, cần có biện pháp phòng tránh, hỗ trợ về thiệt hại do voi gây ra) vừa đảm bảo tính bảo tồn và đảm bảo tính mạng, tài sản của nhân dân trong vùng.
Trước sự việc này, rất mong các bộ, ngành sớm có biện pháp xử lý, các ngành chức năng liên quan cùng vào cuộc, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, để bà con yên tâm lao động sản xuất. (Báo Gia Lai 9/8) đầu trang(
Đoàn công tác của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C49, Bộ Công an) chiều 9-8 đã làm việc với một số cơ quan chức năng của tỉnh Bình Phước.
Buổi làm việc nhằm xác minh về một dự án có dấu hiệu phá rừng ở khu vực nông lâm trường Bù Đốp (huyện Bù Đốp, Bình Phước).
Được biết từ năm 2009, khu vực trên đã được UBND tỉnh Bình Phước cho một công ty cổ phần thuê để thực hiện dự án “chăn nuôi và chế biến”. Do đơn vị này chậm triển khai dự án nên sau đó tỉnh Bình Phước đã thu hồi và giao cho Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé quản lý. Mới đây, Công ty Cao su Sông Bé đề nghị được triển khai thực hiện dự án “trồng rừng, trồng cao su kết hợp chăn nuôi” trên diện tích đất lâm nghiệp khoảng 575 ha và được UBND tỉnh chấp thuận.
Tuy nhiên, qua xác minh ban đầu của đoàn C49, dù chưa có đề án cụ thể về trồng rừng và chăn nuôi, chưa thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường… nhưng phía Công ty Cao su Sông Bé đã tổ chức chặt đốn nhiều cây rừng. Do đó C49 yêu cầu phải dừng ngay việc khai thác rừng để tiến hành điều tra làm rõ những khuất tất về dự án này. (Pháp Luật TP.HCM 10/8) đầu trang(
4 - 5.6.2016, báo Lao Động đăng loạt bài: “Vụ án “hủy hoại rừng” kỳ quặc ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng: Dao phát cỏ hạ được cây rừng… lâu năm (?)”. Bài báo phản ánh vụ án có dấu hiệu oan sai, khi các cơ quan luật pháp huyện Lâm Hà đã khởi tố, bắt giam Phạm Văn Tài (sinh 1991)… Ngay sau phản ánh của báo Lao Động, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng Nguyễn Xuân Tiến đã có chỉ đạo xung quanh vụ án này…
19.7 vừa qua, Văn phòng Tỉnh ủy Lâm Đồng đã ban hành công văn số 287-CV/VPTU gửi Công an tỉnh Lâm Đồng. Theo đó, cho biết: Ông Nguyễn Xuân Tiến - Bí thư Tỉnh ủy - đã chỉ đạo Công an tỉnh Lâm Đồng phải xem xét, giải quyết và trả lời ngay những khiếu nại trong đơn thư của bị can Phạm Văn Tài (thường trú thôn 2, xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà) gửi đến Tỉnh ủy, xung quanh vụ án “hủy hoại rừng” tại huyện Lâm Hà, mà báo Lao Động đã phản ánh.
Trở lại vụ án “hủy hoại rừng” kỳ quặc ở huyện Lâm Hà; sau loạt bài phanh phui trên báo Lao Động, vào cuối tháng 6.2016 vừa qua, Tòa án Nhân dân (TAND) huyện Lâm Hà đã chuyển trả toàn bộ hồ sơ về Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) và Công an huyện Lâm Hà để điều tra bổ sung, vì không đủ chứng cứ xét xử. Đồng thời, sau việc chuyển trả hồ sơ, thì bị can Phạm Văn Tài cũng được Công an huyện Lâm Hà cho phép được tại ngoại, sau 8 tháng bị tạm giam.
Trong khi vụ án đang thu hút sự quan tâm của dư luận và lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng, thì ngược lại, các cơ quan luật pháp huyện Lâm Hà lại tỏ ra lúng túng trong vụ án kỳ quặc này. Cụ thể, ít nhất có 5 nhân chứng đã lên tiếng chứng minh bị can Phạm Văn Tài đã “ngoại phạm” trong vụ án.
Ông Phạm Văn Tam (sinh 1973, trú thôn 2, xã Tân Thanh) khẳng định: “Vào ngày 24.4.2015 (tức ngày 6.3 âm lịch), cơ quan điều tra kết tội cháu Tài vào phá rừng từ 7h30 sáng đến 15h30 chiều là không đúng. Bởi sáng hôm đó, từ 7h cho đến quá 12h, nhà tôi lợp mái tôn quán ăn, tôi đã nhờ cháu Tài cùng 7-8 người trong thôn giúp lợp mái tôn, thì làm sao thời gian đó, cháu Tài có hành vi phá rừng? Tôi còn nhớ, sợ chiều có mưa, chúng tôi cố gắng lợp nhanh, tới quá 12h thì xong việc, mọi người ăn cơm, uống rượu, trong đó có cả cháu Tài…”.
Anh Vũ Văn Lâm (sinh 1965, trú thôn 1, xã Tân Thanh) nói: “Hôm đó, chúng tôi cùng lợp mái tôn nhà anh Tam. Cháu Tài lúc thì lên bắn đinh trên mái tôn, khi xuống dưới phụ đưa từng tấm tôn lên mái… Có lúc, tôi còn sai cháu Tài đi mua đinh, vật liệu mang về”.
Anh Nguyễn Văn Nghị (sinh 1980), Bùi Văn Hùng (sinh 1973, cùng trú thôn 2, xã Tân Thanh) và Bùi Văn Mười (sinh 1980, trú thôn 8, xã Tân Thanh), cũng xác nhận vào buổi sáng ngày 24.4.2015, chính Tài đã có mặt cùng với họ lợp mái tôn quán ăn nhà ông Tam, thì không thể trong cùng khoảng thời gian đó, Tài có mặt tại khu vực rừng Lán Tranh, có hành vi phá rừng cùng 8 người dân tộc Cờ Ho…
Câu hỏi đặt ra ở đây, tại sao đại úy Vũ Xuân Quyết - chịu trách nhiệm chính điều tra vụ án - không lấy lời khai từ các nhân chứng này để làm rõ việc bị can Phạm Văn Tài có dấu hiệu ngoại phạm? Trong lúc đó, bỏ ngoài tai các lời khai của Tài luôn kêu mình vô tội, đại úy Vũ Xuân Quyết chỉ ngả theo các lời khai giống nhau như đúc một khuôn của 8 thủ phạm phá rừng, là người dân tộc thiểu số, rằng Tài đã “chủ mưu”, có hành vi “phá rừng bằng cưa tay, dao phát” (?!)…
Chưa nói hiện nay, cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà còn có hành vi kỳ quặc đối với vụ án “hủy hoại rừng” kỳ quặc này, sau khi TAND huyện Lâm Hà chuyển trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung. Suốt 2 tháng qua, sau khi đã điều tra bổ sung; tuy nhiên, Công an và Viện KSND huyện Lâm Hà chỉ tống đạt kết quả điều tra và cáo trạng bổ sung theo hình thức “đọc” cho bị can nghe, mà không giao văn bản gốc cho bị can và người bào chữa.
Theo luật sư Đỗ Văn Bảy (Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng): “Việc các cơ quan luật pháp không gửi các văn bản tố tụng trên cho bị can và luật sư bào chữa trong vụ án trên là không thể chấp nhận, có gì đó chưa minh bạch… Việc này, vi phạm khoản 1, Điều 166 - Bộ luật Tố tụng hình sự, gây khó khăn cho bị can, cũng như cho luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can Phạm Văn Tài”. Vì vậy, việc Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng chỉ đạo Công an tỉnh xác minh lại vụ án sẽ giúp soi rọi những khoảng tối, làm rõ các khuất tất có dấu hiệu oan sai trong vụ án này. (Lao Động 10/8) đầu trang(
Mới đây, một tài khoản facebook có tên Jose Calos Depre bất ngờ đăng một bức ảnh có nghệ sĩ Quang Tèo, nghệ sĩ Hán Văn Tình cùng dòng chữ: “Người đàn ông rất giàu có trong chiếc áo xanh kia đã buôn lậu ngà voi từ châu Phi sang châu Á trong cả một thập kỷ qua... Người đeo kính còn lại không có gì quan trọng”.
Theo phần tự giới thiệu trên Facebook thì Jose Calos Depre đang làm việc tại một tổ chức cứu hộ động vật tại Nam Phi. Trang cá nhân của Facebooker này cũng thường xuyên đăng tải các bài viết về vấn đề bảo vệ động vật hoang dã.
Tuy nhiên, khi phóng viên liên hệ với nghệ sĩ Quang Tèo để xác minh thông tin có người tố cáo anh buôn bán ngà voi trái phép, diễn viên hài này cười phá lên và lập tức phủ nhận tin đồn thất thiệt này.
"Tôi không lên mạng nên không biết người ta viết về mình thế nào. Nhưng nếu họ nói vậy thì đúng là quá bậy bạ, lung tung.
Ngoài đời ai mà chẳng biết tôi là người như thế nào. Không bao giờ tôi làm những việc quốc cấm như thế", Quang Tèo khẳng định.
Dù bị tung ra những tin đồn gây ảnh hưởng tới uy tín, nhưng Quang Tèo cho rằng đây chỉ là một trò "câu like" trên mạng, chứ không phải với mục đích hãm hại.
Anh cho biết: "Nếu như buôn ngà voi thì tôi phải có nhiều tiền lắm. Mà tôi thì có gì đâu. Bây giờ tôi vẫn ở một cái nhà chỉ rộng 35m2, lấy đâu ra tiền mà đi buôn ngà voi thế chứ".
Cuối cùng, anh khẳng định: "Cả đời tôi chỉ có một nghề duy nhất thôi, là làm nghệ thuật. Có nhiều anh bạn cũng rủ tôi làm ăn, buôn bán, mở nhà hàng quán xá gì đấy. Họ bảo tôi không phải bỏ tiền đâu, chỉ đứng ra làm thôi.
Thế nhưng tôi từ chối hết. Bây giờ mà mở quán ra, mình lại tiếp bia tiếp rượu, uống nhiều thì mình chết trước. Thế nên, tôi khẳng định lại là tôi không buôn bán gì đâu, tôi chỉ làm nghệ thuật thôi".
Được biết, hiện Quang Tèo đang bận bịu đóng phim hài chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Bởi vậy, anh coi đây chỉ là một chuyện "vui" chứ không cảm thấy tức tối hay bận tâm nhiều. (Pháp Luật VN 10/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thông qua “động tác” mua bán với người dân, nhiều cán bộ thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Đắk Song) đã chuyển đất rừng thành đất của riêng mình.
Thời gian qua, dư luận trên địa bàn xã Đắk Môl (Đắk Song) xôn xao về việc có nhiều cán bộ, nhân viên thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (gọi tắt là Công ty Đức Hòa) “bảo kê” cho người dân phá rừng, lấn chiếm đất rồi mua lại chính diện tích đất đó với giá rất rẻ.
Từ luồng dư luận trên, phóng viên Báo Đắk Nông đã vào cuộc tìm hiểu và nắm bắt được nhiều câu chuyện về việc mua bán đất rừng của cán bộ Công ty Đức Hòa. Câu chuyện được ông N.H.N, một cựu chiến binh sống tại xã Đắk Môl, cung cấp.
Theo ông N, năm 2010, gia đình ông Nguyễn Văn Hải, trú tại xã Đắk Hòa (Đắk Song) sở hữu 4 ha đất ở khá gần với khu dân cư. Sau đó, gia đình ông Hải tiến hành trồng cà phê trên diện tích đất này. Đến năm 2012, cà phê đã phát triển rất đẹp và bắt đầu cho thu hoạch. Theo giá thị trường vào thời điểm đó, 4 ha cà phê của gia đình ông Hải có giá khoảng 1 tỷ đồng.
Thế nhưng, không hiểu vì sao mà cuối năm 2012, gia đình ông Hải đã đột ngột chuyển nhượng toàn bộ 4 ha cà phê cho ông Y Lê Na, cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Công ty Đức Hòa, chỉ với giá 500 triệu đồng. Là một cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm, nên ông N cảm nhận được phi vụ mua bán đất này có “vấn đề” và đã âm thầm tìm hiểu.
Đến đầu năm 2013, ông N đã phát hiện ra rằng, toàn bộ 4ha đất mà ông Y Lê Na mua của ông Nguyễn Văn Hải vốn là rừng tự nhiên nằm trong tiểu khu 1119, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa. Dù không biết chính xác ai là người trực tiếp phá 4 ha rừng để chiếm dụng đất, nhưng ông N cũng thừa biết, việc Y Lê Na mua 4 ha cà phê với giá rẻ là hoàn toàn có “lý do”… Cái “lý do” đó lại càng được củng cố hơn, vì kể từ khi mua 4 ha rẫy cho tới nay, ông Y Lê Na vẫn “vô tư” sử dụng, canh tác mà không hề bị Công ty Đức Hòa hoặc cơ quan chức năng truy xét.
Một vụ mua bán đất rừng khác diễn ra vào năm 2013. Ông Hoàng Văn Đại, cán bộ văn phòng của Công ty Đức Hòa mua 0,5 ha đất của một người dân ở xã Đắk Môl chỉ với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất ông Đại mua cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, nằm trong tiểu khu 1112, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa.
Sau khi mua đất, ông Đại tiến hành trồng cà phê và một số cây trồng khác. Cũng vào năm 2013, ông Nguyễn Trường Nhật, cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty Đức Hòa, mua 0,5 đất của ông Bàn Văn Chẹ, trú tại xã Đắk Môl, với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất này cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1098, do Công ty Đức Hòa quản lý. Hiện nay, ông Nhật đã trồng cà phê và một số cây trồng khác trên diện tích đất này…
Trên thực tế, không phải đơn thuần mà nhiều cán bộ, nhân viên của Công ty Đức Hòa lại mua được đất rừng từ người dân với giá rẻ như vậy. Ông T.V.C, trú tại xã Đắk Môl, kể lại rằng, vào năm 2004, có một người dân trên địa bàn đã phá 0,7 ha rừng của Công ty Đức Hòa, rồi chiếm dụng và bán lại cho ông với giá 20 triệu đồng. Sau đó, gia đình ông C trồng mì và hoa màu trên diện tích đất đã mua.
Cuối năm 2004, có một nhân viên của Công ty Đức Hòa đến gặp và thông báo với ông C rằng, gia đình ông đã phá rừng, lấn chiếm của Công ty 0,7 ha đất. Do đó, để tránh việc bị truy cứu trách nhiệm, gia đình ông C phải tự nguyện trả lại đất cho Công ty Đức Hòa. Người này còn nhiều lần lấy danh nghĩa của Công ty Đức Hòa để đe dọa cưỡng chế thu hồi 0,7 ha đất của gia đình ông C. Thế nhưng, một thời gian sau, vị nhân viên này lại “xuống nước” và đề cập đến việc mua lại 0,7ha đất của ông C.
Điều đáng nói là vị nhân viên này chỉ đồng ý mua 0,7 ha đất với giá chỉ bằng một nửa so với giá mà ông C đã mua trước đó. Trước sức ép quá lớn như vậy, ông C buộc lòng phải bán lại 0,7 ha đất cho nhân viên Công ty Đức Hòa với giá chỉ có 10 triệu đồng.
Phóng viên Báo Đắk Nông tiếp cận với một số người đã từng bán đất rừng cho cán bộ, nhân viên Công ty Đức Hòa. Phần lớn họ đều khẳng định rằng, trong quá trình người dân phá rừng và lấn chiếm đất rừng, hầu như không hề có sự can thiệp của đơn vị chủ rừng. Thế nhưng, đến khi người dân đã “biến” rừng thành rẫy để canh tác thì lực lượng của Công ty Đức Hòa lại xuất hiện và đòi xử lý.
Đối với những khu vực rẫy có vị trí đẹp, thuận lợi để tưới tiêu thì được cán bộ Công ty Đức Hòa hỏi mua, nhưng với giá rất rẻ mạt. Mặc dù vậy, trước khi thực hiện việc mua bán, hầu hết người dân đều bị cán bộ của Công ty Đức Hòa đe nẹt, hù dọa sẽ thu hồi đất và xử lý về hành vi phá rừng, nên họ buộc phải bán đất rừng với giá rất thấp…
Theo ông Phạm Đình Dũng, Giám đốc Công ty Đức Hòa, bước đầu đã xác định được 12 cán bộ, nhân viên của công ty có sử dụng đất từ nguồn gốc phá rừng tự nhiên để sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích hơn 12 ha. Trong số đó, có một số người đã mua đất từ trước khi vào làm việc tại Công ty Đức Hòa.
Riêng trường hợp ông Nguyễn Minh Thùy, cán bộ văn phòng Công ty Đức Hòa, năm 2010 đã tự ý khai phá 1,2 ha đất tại tiểu khu 1107 và hiện nay ông Thùy đã trồng cà phê. “Trong thời gian tới, Công ty Đức Hòa sẽ tiến hành xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp này và thu hồi những diện tích đất đã bị chiếm dụng”, ông Phạm Đình Dũng khẳng định. (Báo Đắk Nông 9/8) đầu trang(
Xã Nậm Lành, huyện Văn Chấn có diện tích rừng 6.000 ha; trong đó, rừng tự nhiên 4.250 ha và rừng trồng 1.750 ha. Nhờ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Để chính sách chi trả DVMTR đi vào cuộc sống, xã Nậm Lành đã cùng Ban Chi trả DVMTR huyện tổ chức tuyên truyền về chính sách chi trả tiền DVMTR tới toàn thể nhân dân ở các thôn, bản.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào nguyên tắc, hình thức chi trả DVMTR, đối tượng và loại dịch vụ phải trả tiền DVMTR, đối tượng được chi trả tiền DVMTR, trách nhiệm của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng; đồng thời, tuyên truyền cho nhân dân nắm rõ về diện tích rừng của từng bản, nhóm hộ được chi trả tiền DVMTR, đơn giá chi trả của một héc-ta rừng của từng lưu vực.
Để bảo đảm việc chi trả DVMTR đúng đối tượng, xã đều thông báo công khai và dán danh sách tại các thôn, bản; phối hợp cùng Ban Chi trả DVMTR huyện ký cam kết bảo vệ rừng, cuối năm rừng phải được giữ nguyên về diện tích và hiện trạng, không để mất rừng, không để cháy rừng, không để sâu, bệnh hại… thì sẽ được Ban Chi trả DVMTR huyện nghiệm thu và thanh toán tiền. Theo rà soát, hàng năm, xã Nậm Lành có từ 3.200 ha đến 3.500 ha rừng được chi trả DVMTR.
Tính riêng năm 2015, tổng số tiền chi trả DVMTR được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cấp là trên 500 triệu đồng. Căn cứ vào kết quả nghiệm thu diện tích rừng, UBND xã đã phối hợp cùng Ban Chi trả DVMTR chi trả tiền tới từng hộ, nhóm hộ.
Chính sách chi trả tiền DVMTR đã tạo bước phát triển tốt, tăng thu nhập cho người dân làm nghề rừng. Theo thống kê của UBND xã Nậm Lành, hàng năm, trên địa bàn xã có từ 400 hộ dân đến 450 hộ dân hưởng lợi từ chính sách này.
Ông Triệu Toàn Pết - Chủ tịch UBND xã Nậm Lành cho biết: “Trước đây, công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn do người dân chưa có ý thức bảo vệ rừng, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, rừng ở đâu cũng có chủ, người dân đã gắn cuộc sống của mình với rừng, tự giác hơn trong công tác bảo vệ rừng. Nhờ đó, tình trạng phá rừng, cháy rừng giảm đáng kể. Tỷ lệ độ che phủ rừng trên địa bàn xã tăng từ 70,9% năm 2011 lên 76,6% năm 2015, số vụ vi phạm về bảo vệ rừng và cháy rừng giảm đáng kể”.
Chính sách chi trả DVMTR không chỉ giúp người dân nâng cao đời sống, bảo vệ tốt diện tích rừng mà còn đem lại hiệu ứng về kinh tế - xã hội và môi trường. Rừng không chỉ bảo đảm môi sinh, môi trường mà còn bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất, nhận thức của người dân về việc giữ rừng cũng được nâng cao.
Để chính sách chi trả DVMTR tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa, xã Nậm Lành tiếp tục phối hợp cùng Trạm Kiểm lâm Bản Dõng, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn và các ban, ngành chức năng của huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến đông đảo người dân, đặc biệt là các hộ nhận giao khoán bảo vệ rừng để nâng cao vai trò, trách nhiệm của các hộ trong việc kiểm tra, kiểm soát nhằm kịp thời phát hiện các hành vi gây hại đến rừng. (Báo Yên Bái 9/8) đầu trang(
Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các tỉnh Tây Nguyên đã bước vào giữa mùa mưa và là mùa trồng rừng. Thế nhưng, hiện nay mới trồng được 3.522 ha rừng tập trung, đạt quá thấp so với kế hoạch, nguyên nhân là do thiếu vốn.
Đặc biệt, trong công tác trồng rừng phòng hộ, nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các tỉnh còn quá thấp, chỉ có 15 triệu đồng/ha cho 4 năm (1 năm trồng, 3 năm chăm sóc), trong khi đơn giá bình quân 1 ha rừng phòng hộ tại Tây Nguyên từ 65 triệu đồng/ha trở lên.
Bên cạnh đó, cơ chế tín dụng đầu tư trong lâm nghiệp chưa thông thoáng; Đầu tư trong lĩnh vực trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài, lợi nhuận thấp, mức độ rủi ro cao, nên các ngân hàng thương mại cũng chưa quan tâm đầu tư, quỹ đất để trồng rừng còn nhiều tranh chấp với người dân; một số loại cây trồng nông nghiệp khác có hiệu quả kinh tế cao hơn nên cạnh tranh mạnh mẽ với cây rừng...
Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các tỉnh Tây Nguyên cần rà soát, quy hoạch lại các vùng đất trống, đồi núi trọc chưa có rừng, đất nương rẫy lấn chiếm trên đất lâm nghiệp, để có kế hoạch đưa vào trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất. Đồng thời, khuyến khích, thu hút các nguồn lực xã hội tham gia phát triển rừng bằng cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các chủ rừng, chủ đầu tư, người dân tham gia trồng rừng sản xuất bằng cơ chế, chính sách hỗ trợ theo quy định của Nhà nước. Cụ thể là hỗ trợ cơ sở hạ tầng, dịch vụ trồng rừng, liên doanh liên kết với các đơn vị chế biến, trồng rừng kết hợp với tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ lương thực cho người dân trồng rừng thay thế nương rẫy, áp dụng biện pháp luân canh rừng - rẫy.
Các tỉnh cũng cần tiếp tục nghiên cứu giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay ưu đãi để thực hiện các dự án trồng rừng... nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc trên địa bàn. (Tin Tức 10/8) đầu trang(
Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng ở Quảng Ngãi từng bước được nâng cao. Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Thôn 4, xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng (thuộc lưu vực thủy điện Hà Nang)- là một trong những điểm nóng về tình trạng phá rừng ở huyện trong vài năm trở lại đây. Nguyên nhân được nhiều người dân đưa ra là do thiếu đất sản xuất, không có kế sinh nhai nên phải triệt phá rừng phòng hộ lấy đất sản xuất, chặt củi bán kiếm tiền.
Tuy nhiên, từ khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (CTDVMTR) được triển khai ở địa phương, các hộ dân dần ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo vệ rừng. Toàn thôn hiện nay có 19 nhóm hộ tham gia nhận khoán và được hưởng kinh phí từ chính sách này.
Biết được trách nhiệm của việc bảo vệ rừng là bảo vệ quyền lợi của chính mình, cứ 3- 5 ngày lại có một nhóm gồm 5 người thay phiên nhau kiểm tra rừng, phát đường băng cản lửa, kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật và báo ngay cho chủ rừng. Nhiều hộ trong thôn còn tham gia trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Người dân đã động viên nhau dù có nghèo đói cũng không chạm đến rừng phòng hộ đầu nguồn, để màu xanh của đại ngàn vĩnh viễn hiện diện tại nơi họ sinh sống, đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể.
Ông Hồ Văn Thảo- Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng thôn 4, phấn khởi nói: “Năm 2015, mỗi hộ trong thôn được chi trả trên 7 triệu đồng từ CTDVMTR. Ai cũng vui cả! Bà con trong thôn nhận thấy, rừng có phát triển thì Nhà nước mới hỗ trợ tiền”.
Có tiền CTDVMTR, cuộc sống gia đình của người dân dần ổn định hơn. Với số tiền từ trồng rừng và dịch vụ môi trường rừng mang lại, nhiều người đã có điều kiện mua sắm thêm vật dụng sinh hoạt, phụ nuôi con ăn học.
“Nhà nước luôn quan tâm đến đồng bào, đồng bào biết ơn lắm. Nhờ rừng mà gia đình mình đỡ khổ, mình hứa với nhà nước sẽ giữ gìn rừng cẩn thận, không để mất đi đâu”, anh Hồ Văn Vinh- thành viên Tổ bảo vệ rừng thôn 4 khẳng khái nói.
Năm 2015, huyện Trà Bồng được giao khoán hơn 3.000ha tại ba lưu vực thủy điện: Hà Nang, Cà Đú và Nước Trong, tập trung ở ba xã Trà Thủy, Trà Hiệp, Trà Bùi với 71 hộ, nhóm tham gia.
Theo đánh giá, hiện nay, Trà Bồng là điểm sáng nhất ở tỉnh ta trong việc chi trả tiền cho người dân từ chính sách này, với mức chi trả thấp nhất khoảng hơn 140 nghìn/ha đến hơn 1,3 triệu/ha, trung bình khoảng 470nghìn/ha.
Theo ông Đỗ Khắc Phi- Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng, đây là chính sách khá mới mẻ nên thời gian qua, Ban quản lý đã tích cực tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và thực hiện có hiệu quả. Cùng với đó, huyện cố gắng chi trả tiền dịch vụ đúng hạn để bà con yên tâm, khích lệ phong trào giữ rừng trong toàn dân. Mỗi năm sẽ chia làm hai đợt chi trả, đợt 1 là 30% và đợt 2 là 70%”.
Theo thống kê của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, năm 2015, tỉnh đã phê duyệt 6 đề án CTDVMTR, thuộc các lưu vực thủy điện: Nước Trong, Cà Đú, Sông Riềng, Hà Nang, Định Bình và Đắkđrinh, với diện tích được quy hoạch là trên 35.000ha đất lâm nghiệp.
Trong đó, diện tích đủ điều kiện được chi trả dịch vụ môi trường rừng là gần 19.000ha, thuộc phạm vi quản lý của 165 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, Ban Quản lý rừng phòng hộ các huyện và 1 chủ rừng là Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp. Quỹ cũng đã chi trả cho các chủ rừng với số tiền lên tới hơn 1 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Khánh Ngọc- Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, đánh giá: “Chính sách CTDVMTR là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó, trọng tâm là 3 vấn đề cơ bản về môi trường, kinh tế và xã hội.
Chính sách này, trước hết đã giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt. Người dân lại có thêm kế sinh nhai lâu dài…”, ông Ngọc cho biết thêm. (Báo Quảng Ngãi 9/8) đầu trang(
Công tác giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản đã được triển khai hơn 10 năm. Tuy nhiên, theo đánh giá từ Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (Cirum), giao đất giao rừng sẽ hiệu quả hơn nếu nhận thức đầy đủ hình thức quản lý theo cộng đồng gắn với văn hóa, tập tục các dân tộc thiểu số.
Theo ông Phan Đình Nhã, Trung tâm Cirum, từ thực tiễn thực hiện công tác giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản hơn 10 năm qua, tại nhiều địa phương, có những thôn bản được giao các khu rừng tâm linh tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước và rừng khai thác sản phẩm chung (trong ranh giới truyền thống) đã tổ chức quản lý bảo vệ rừng hiệu quả, đồng thời phát huy được tiềm năng kinh tế từ rừng.
Một số thôn bản được giao các loại rừng này và quản lý hiệu quả như 13 thôn bản ở xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai (600ha), Buôn Ka Bay, xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum (30ha), Bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong - tỉnh Nghệ An (426ha)…
Tuy nhiên, tại một địa phương, công tác giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư chưa được như mong đợi, thậm chí có nơi rừng bị chặt phá, chuyển đổi mục đích sử dụng. Nguyên nhân là khi tổ chức giao đất giao rừng đơn vị thực thi chưa nhận thức đầy đủ và hiểu rõ hình thức quản lý rừng của các dân tộc, dẫn đến tình trạng giao đất giao rừng không phù hợp với phong tục tập quán quản lý rừng truyền thống. Ví dụ, có những nơi đã giao các khu rừng quản lý chung của thôn bản cho hộ gia đình gây bức xúc trong cộng đồng (do chồng chéo quyền quản lý giữa cộng đồng và các hộ được giao).
Hoặc có nơi đã giao khu rừng luân phiên rẫy - rừng (theo quy ước là do hộ quản lý sử dụng) cho cộng đồng thôn bản, nên sau khi giao các hộ vẫn coi như của mình và tiếp tục phát nương làm rẫy. Đồng thời, có nơi đã giao các khu rừng nằm ngoài ranh giới của thôn bản, dẫn đến quản lý bảo vệ rừng không hiểu quả. Do cộng đồng được giao rừng không dám bảo vệ vì trước đó khu rừng này thuộc quyền quản lý của thôn bản bên cạnh. Hoặc khu rừng được giao quá xa khu dân cư, xa khu sản xuất không thuận lợi cho công tác bảo vệ rừng của cộng đồng.
Nhận thức được vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, từ năm 2003 chủ thể của hình thức quản lý rừng theo cộng đồng thôn bản được chính thức công nhận tại Luật Đất đai 2003, 2013 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Tuy nhiên, khái niệm đối tượng được giao rừng (chủ rừng) là “cộng đồng” quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các văn bản dưới Luật chưa phản ánh đầy đủ bản chất chủ rừng và chưa làm rõ phương thức tổ chức quản lý rừng theo phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc.
Do đó, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách liên quan đến rừng cộng đồng đã có những nhận thức chưa đúng về chủ rừng cũng như phương thức tổ chức quản lý rừng của các thôn bản. Điều này, trở thành nhân tố gây trở ngại đến quyền tiếp cận quản lý rừng và làm giảm hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng.
Vì vậy, để có cơ sở sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian tới, liên quan đến chủ rừng là “cộng đồng”, trước hết cần có nhận thức đúng và đầy đủ về chủ rừng cũng như hình thức tổ chức quản lý rừng theo cộng đồng của các dân tộc. Cụ thể:
Chủ rừng của hình thức quản lý rừng theo cộng đồng: Thôn bản có thiết chế tổ chức quản lý xã hội theo hình thức tự quản, đứng đầu là già làng/hội đồng già làng hoặc trưởng thôn bản/chủ làng do cộng đồng bầu hoặc thừa kế và quản lý bảo vệ rừng theo quy ước/hương ước bất thành văn (hay còn gọi là luật tục).
Các chủ rừng có thiết chế tổ chức quản lý xã hội, quản lý rừng theo cơ chế tự quản gồm có chủ rừng là “Thôn bản” theo quản lý nhà nước; chủ rừng là “Cụm dân cư độc lập” hình thành do cụm dân cư tách ra từ thôn bản cũ, hoặc cụm dân cư là làng/buôn làng truyền thống trước đây được gộp thành 1 thôn bản theo chương trình định canh định cư của Nhà nước; chủ rừng là “Dòng tộc/Dòng họ” (thực chất là cụm dân cư, vì các hộ trong dòng họ thường ở cạnh nhau); Chủ rừng là “Nhóm thôn bản/hay liên thôn bản” của cùng dân tộc có rừng chung.
Hình thức tổ chức quản lý: Thôn bản dân tộc thiểu số đều có ranh giới tự nhiên (đất đai, rừng, nguồn nước) hình thành từ khi thành lập thôn bản và phân định rõ ràng với các thôn bản xung quanh. Tài nguyên tự nhiên trong ranh giới truyền thống của cộng đồng thôn bản thuộc quyền sở hữu/quyền quản lý của thôn bản và bất khả xâm phạm đối với người bên ngoài.
Tài nguyên rừng, đất đai của thôn bản được quản lý, sử dụng và bảo vệ theo quy ước, hương ước bất thành văn của cộng đồng (hay còn gọi là luật tục) và được phân chia thành hai vùng: Vùng quản lý sử dụng chung của cả thôn bản và vùng giao quyền cho các hộ được phép sử dụng phát triển kinh tế, sinh kế (khu vực luân phiên làm nương rẫy - rừng).
Rừng quản lý sử dụng chung của các thôn bản thường có các loại rừng: Rừng tâm linh tín ngưỡng là rừng cấm và bảo vệ nghiêm ngặt như rừng đặc dụng; Rừng bảo vệ nguồn nước, bảo vệ buôn làng được bảo vệ tương đương như rừng phòng hộ; Rừng khai thác sản phẩm chung của thôn bản.
Xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn, Giám đốc Trung tâm Cirum Trần Thị Hòa cũng cho rằng, việc giao đất giao rừng tạo điều kiện để cộng đồng thôn bản tổ chức quản lý rừng truyền thống dựa vào phong tục tập quán (luật tục) sẽ phát huy hiệu quả bản sắc văn hóa của các dân tộc trong công tác bảo vệ rừng, làm nền tảng cơ bản gắn kết cộng đồng để ổn định xã hội và phát triển bền vững.  (Đại Biểu Nhân Dân 9/8) đầu trang(
Trong những năm gần đây, đời sống của người dân giao khoán đất rừng trên địa bàn huyện Ngọc Hiển có bước khởi sắc do hiệu quả kinh tế từ rừng mang lại. Từ đó, người dân ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc trồng và bảo vệ rừng.
Năm 1989, ông Nguyễn Cao Cường, ấp Xẻo Mắm, xã Tân Ân, nhận trên 37 ha đất từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng để trồng rừng và nuôi hải sản dưới tán rừng. Những năm đầu rừng chưa đem lại giá trị kinh tế, khiến đời sống của gia đình gặp rất nhiều khó khăn.
Nhớ lại cuộc sống trước đây, ông Cường bùi ngùi: “Gia đình tôi bấy giờ rất khổ cực do không có tư liệu sản xuất, làm đủ nghề nhưng vẫn không đủ ăn. Các con tôi đều học giỏi nhưng điều kiện gia đình quá khó khăn, vì muốn phụ giúp gia đình các con tôi lần lượt nghỉ học”.
Ðôi lúc, vì quá cơ cực mà nhiều lần ông Cường có ý định chuyển giao khoán đất cho hộ khác nhưng cái duyên, cái nghiệp cuộc đời ông gắn với nghề rừng nên ông đã cố gắng vượt qua  bằng cách hằng ngày bắt ốc len, ba khía, vọp bán lấy tiền trang trải để dồn sức trồng cây, bảo vệ rừng.
Ðến năm 2001, khi Nhà nước cho phép khai thác rừng đối với những hộ dân được nhận khoán rừng, lại đúng khi giá trị cây rừng tăng lên. Nhờ rừng mà mỗi lần khai thác gia đình ông Cường thu về vài chục triệu đồng. Giờ đây cuộc sống của gia đình khấm khá hơn, đồ đạc trong gia đình được sắm sửa đầy đủ. Mới đây, ông Cường còn mua máy phát điện để thắp sáng trong nhà. Có ăn, có mặc, ông Cường càng vững niềm tin và quyết tâm bám rừng.
Tạo điều kiện cho các gia đình nhận đất rừng yên tâm, gắn bó lâu dài với rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng để người dân được hưởng 80% lợi nhuận từ việc khai thác rừng. Với hình thức ăn chia theo sản phẩm sau khi khai thác, đã giúp người nhận đất như ông Cường có thêm động lực, phấn khởi, quyết tâm gắn bó với rừng.
Ông Lý Văn Nhiệp, ấp Tam Hiệp, thị trấn Rạch Gốc, là người đi đầu trong công tác trồng và bảo vệ rừng. Cách đây 20 năm, vốn là người nông dân chân lắm tay bùn, cuộc sống của gia đình chỉ bấu víu vào con tôm nên ông Nhiệp đã thu hẹp diện tích rừng để nuôi tôm.
Nhưng hiện nay, con tôm không còn là nguồn thu chính khi sản lượng ngày càng giảm, thời tiết khắc nghiệt, nuôi tôm rủi ro cao, hiệu quả kinh tế thấp. Ông suy ngẫm bài toán kinh tế giữa nuôi tôm và trồng rừng thì trồng rừng vẫn chiếm ưu thế, bởi không tốn tiền giống, chủ yếu lấy công làm lời, đặc biệt trong những năm trở lại đây giá trị rừng tăng lên.
Ông Nhiệp có trên 8 ha đất vuông, ông trồng đước hết, chỉ chừa lại khoảng trống lối đi. Tận dụng mặt nước dưới tán rừng, ông thả tôm, cua và sò huyết, mỗi con nước ông thu về từ 5-6 triệu đồng. Cách đây 6 năm, gia đình ông Nhiệp đã khai thác rừng được một lần, thu về trên 1 tỷ đồng.
Ðể duy trì diện tích rừng trên địa bàn huyện Ngọc Hiển, thời gian qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng thường xuyên tuần tra, kiểm soát và tuyên truyền, vận động giúp người dân thấy được lợi ích, hiệu quả từ việc trồng rừng. Từ đó, người dân càng ý thức hơn trong việc trồng và bảo vệ rừng, đảm bảo diện tích cây rừng ngày càng mở rộng.
Trồng rừng không chỉ bảo vệ môi trường mà giờ đây trồng rừng còn mang lại nguồn thu nhập khá cho người dân khi giá cây đước tăng. Rừng không chỉ cho giá trị kinh tế mà còn giúp nông dân phát triển thêm nghề nuôi tôm, cua dưới tán rừng tăng thu nhập.
Theo ông Trần Thanh Nhàn, Phó trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng, năm 2016, diện tích khai thác rừng hơn 122,9 ha và doanh thu trên 12 tỷ đồng. Với lợi nhuận của cây rừng mang lại, các chủ rừng được hưởng trên 2,5 tỷ đồng. Ðây được xem là dấu hiệu khởi sắc cho người dân trồng rừng trên địa bàn huyện Ngọc Hiển. (Báo Cà Mau 8/8) đầu trang(
Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2016, hiện tại, các chủ rừng và dự án trên địa bàn toàn tỉnh đẩy nhanh tiến độ trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng theo kế hoạch. Tính đến ngày 4/8, toàn tỉnh đã trồng mới 6.960 ha rừng tập trung, tăng 158 ha so với kỳ trước, đạt 87% so với kế hoạch đề ra.
Các địa phương có tiến độ trồng rừng nhanh gồm: huyện Kim Bôi đã trồng 1.500 ha, huyện Đà Bắc 913 ha, huyện Lạc Thủy 830 ha, huyện Lạc Sơn trên 764 ha, huyện Tân Lạc 560 ha, huyện Kỳ Sơn 500 ha, huyện Yên Thủy 480 ha…
Song song với trồng rừng, các huyện, thành phố duy trì hoạt động của 1.800 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng tích cực thực hiện nhiệm vụ và góp phần tuyên truyền đến người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Hòa Bình 9/8) đầu trang(
Với 132 nghìn héc ta rừng sản xuất, trong đó có 80 nghìn héc ta rừng keo là tiềm năng rất lớn của tỉnh Quảng Trị trong việc về sản xuất lâm nghiệp.
Hàng năm, tỉnh Quảng Trị có sản lượng hơn 1,5 triệu m3 gỗ, không chỉ cung ứng đủ cho các nhà máy chế biến gỗ trong tỉnh mà còn tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Lợi thế này được tỉnh Quảng Trị xác định gắn sản xuất với chế biến và công nghiệp chế biến gỗ là một trong những ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh Quảng Trị.
Tài nguyên dồi dào về gỗ rừng trồng là một trong những lợi thế để phát triển công nghiệp chế biến. Tại dây chuyền sản xuất gỗ MDF số 2 của Công ty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị, công suất thiết kế của nó 120.000 m3 sản phẩm/năm. Dây chuyền này cùng với nhà máy gỗ MDF số 1 đã tạo ra sản lượng gỗ 200.000 m3 , đưa Quảng Trị đứng vị trí tốp đầu của cả nước về sản xuất gỗ MDF.
Với nỗ lực lớn, doanh thu của công ty cỗ phần gỗ MDF VRG Quảng Trị đóng góp vào tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Trị tương đương 6-7%. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, làm thế nào để tiếp cận thị trường với lợi thế tốt nhất là vấn đề đang đặt ra đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ.
Ông Cao Thanh Nam - TGĐ Công ty Cổ phần gỗ MDF VRG Quảng Trị nói: “Ngoài nỗ lực của doanh nghiệp khi vươn ra thị trường quốc tế, chính quyền nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp về pháp lý để doanh nghiệp trụ vững trước các chính sách chống bán phá giá của các thị trường”.
Mặt khác, hiện nay, những đòi hỏi về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ, tính hợp pháp của gỗ ngày càng được các quốc gia trên thế giới và thị trường quan tâm. Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu về nguồn cung ứng gỗ phải minh bạch và hợp pháp là điều mà các doanh nghiệp chế biến gỗ chú ý để phát huy lợi thế. Ông Khổng Trung – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cho biết: “Ngoài ứng dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất đối với trồng rừng, các chủ rừng và doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến việc khai thác rừng trồng và chế biến đúng quy định theo quy định của pháp luật”.
Hiện nay, toàn tỉnh Quảng Trị hiện có hơn 241 nghìn hec ta đất có rừng, trong đó diện tích rừng sản xuất là 132 nghìn héc ta. Nguồn nguyên liệu này hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu của các nhà máy chế biến lâm sản trong tỉnh. Điều đó cũng cho thấy tỉnh Quảng Trị có lợi thế để phát triển công nghiệp chế biến gỗ trở thành ngành sản xuất chủ yếu, góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển KT - XH của tỉnh Quảng Trị. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 9/8)đầu trang(./.