Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Theo Cục Kiểm lâm, tính đến 9/6, đã có 6 tỉnh, TP có nguy cơ cháy rừng ở cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) và 4 tỉnh có nguy cơ cháy rừng ở cấp IV(cấp nguy hiểm) do thời tiết hanh khô kéo dài. (Kinh Tế & Đô Thị 10/6) đầu trang(
Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Hạt Kiểm lâm huyện Chiêm Hóa thường xuyên phối hợp với các cấp, ngành trên địa bàn đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng...
Lực lượng Kiểm lâm huyện luôn bám sát, nắm bắt địa bàn, tổ chức tuyên truyền cho người dân về lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng, triển khai quyết liệt công tác tuần tra, kiểm tra, truy quét, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm huyện đã phát hiện và xử lý 50 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tịch thu 9,9 m3 gỗ tròn các loại, 6,2 m3 gỗ xẻ, 9 xe máy, 10 cưa xăng... phạt vi phạm hành chính, nộp ngân sách gần 49 triệu đồng.
Thực hiện kiểm soát việc khai thác, vận chuyển gỗ và các loại lâm sản khác, Hạt Kiểm lâm Chiêm Hóa đã thành lập 5 trạm kiểm soát lâm sản và 10 chốt đặt tại các xã khu vực trọng điểm, những điểm ra vào các cánh rừng, nhờ đó, đã góp phần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm lâm luật. Cùng với đó, lực lượng kiểm lâm huyện cũng thường xuyên tổ chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn; vận động các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp kinh doanh chế biến lâm sản ký cam kết không vi phạm pháp luật về quản lý lâm sản.
Ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc Công ty TNHH Sơn Hải, một trong những cơ sở thu mua và chế biến lâm sản trên địa bàn cho biết, công ty cam kết với Hạt Kiểm lâm huyện không mua bán, chế biến lâm sản không đảm bảo nguồn gốc xuất xứ. Công ty thường xuyên phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra sổ sách, chứng từ xuất, nhập hàng hóa...
Trạm Kiểm lâm, cán bộ Kiểm lâm phụ trách xã thường xuyên bám sát địa bàn được phân công, làm tốt công tác tham mưu cho Chủ tịch UBND xã chỉ đạo các thôn, bản thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại cơ sở, tổ chức tập huấn nghiệp vụ quản lý bảo vệ rừng, PCCCR cho các tổ đội cấp xã, thôn bản. Hàng năm các xã tổ chức các cuộc luyện tập, diễn tập PCCCR cấp thôn, cấp xã thu hút được nhiều lực lượng người dân tham gia.
Trong thời gian tiếp theo, Hạt Kiểm lâm Chiêm Hóa tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng trọng điểm, phối hợp tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR, bảo vệ tốt tài nguyên rừng, tham mưu cho cấp ủy đảng chính quyền  địa phương hoàn thành tốt kế hoạch trồng rừng năm 2014  góp phần nâng cao độ che phủ của rừng, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Chiemhoa.gov.vn 9/6) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có ý kiến chỉ đạo UBND huyện An Lão khẩn trương tổ chức các lực lượng chức năng của huyện triển khai công tác tuần tra, truy quét trên địa bàn xã An Nghĩa và các khu vực giáp ranh với huyện Hoài Ân và Vĩnh Thạnh để làm rõ và xử lý nghiêm các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép theo quy định của pháp luật.
Đồng thời UBND tỉnh cũng yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện Vĩnh Thạnh, Hoài Ân chỉ đạo lực lượng chức năng phối hợp với huyện An Lão tuần tra, truy quét, kịp thời ngăn chặn các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép tại khu vực xã Đak Mang, huyện Hoài Ân và khu vực làng O2, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, nhằm lập lại kỷ cương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các vùng giáp ranh.
Trước đó, vào các ngày 27, 28.5.2014, lực lượng chức năng của huyện An Lão đã tổ chức kiểm tra, truy quét tại các vùng rừng giáp ranh nói trên thì phát hiện có 6 đối tượng đang vận chuyển gỗ theo hướng từ xã Đak Mang, huyện Hoài Ân về tiểu khu 58, xã An Nghĩa, huyện An Lão.
Tổ công tác đã tiếp cận các đối tượng, yêu cầu xác minh nguồn gốc số gỗ trên và giấy tờ tùy thân. Tuy nhiên các đối tượng khai thác gỗ trái phép không những không chịu hợp tác mà còn có hành vi hung hăng chống đối và đe dọa tổ công tác, ngăn cản không cho tịch thu, tiêu hủy số gỗ khai thác trái phép nói trên. (Báo Bình Định 10/6) đầu trang(
Ngay sau khi Báo Bắc Kạn đưa tin về vụ phá rừng tại  Yên Đĩnh, Kiểm lâm huyện Chợ Mới đã điều tra xác minh vụ việc.
Theo số liệu thống kê do trạm Kiểm lâm Yên Đĩnh cung cấp  qua kiểm đếm có 37 cây gỗ bị chặt hạ trên diện tích là 0,3ha, với số gỗ là trên 7m3 gỗ, loại gỗ bị khai thác chủ yếu là gỗ nhóm VII, nhóm VIII , chủ khu rừng này là bà  Nguyễn Thị Đạo, người mua lại khu rừng này là ông Nguyễn Văn Thắng, người và phương tiện vận chuyển khối lượng gỗ trên là ông Vũ Văn Hào, cả chủ rừng chủ gỗ và chủ xe đều là người xã Yên Đĩnh, vụ việc đang được cơ quan kiểm lâm xác minh hoàn tất hồ sơ vụ việc. (Báo Bắc Cạn 9/6) đầu trang(
Hơn 1 tháng qua, Chi cục Kiểm lâm (KL) Đà Nẵng liên tục phát bản tin dự báo cháy rừng tại TP ở mức nguy hiểm (báo động cấp IV) gửi các địa phương; đồng thời triển khai lực lượng KL cơ sở phối hợp với dân quân địa phương, các tổ đội phản ứng nhanh trong phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) tổ chức tuần tra bảo vệ rừng (BVR), kiểm tra giám sát 24/24 giờ trong ngày.
9 giờ 30 ngày 6-6, tại thôn Trước Đông (xã Hòa Nhơn, H. Hòa Vang) xảy ra vụ cháy, thiêu rụi 2ha rừng tự nhiên tại khu vực Năm Hố. Nguyên nhân gây cháy ban đầu được xác định là do một số người dân trong thôn bất cẩn trong quá trình phát, dọn rẫy. Lửa lan rộng, hơn 130 người bao gồm các lực lượng chức năng đóng trên địa bàn cùng với địa phương tham gia ứng cứu; phải hơn 3 tiếng đồng hồ sau mới cơ bản khống chế được ngọn lửa. Trước đó, một khu rừng lau lách tại đồi Quan Nam 3 (xã Hòa Liên, H. Hòa Vang) cũng bị phát cháy nhưng được phát hiện, dập tắt kịp thời...
Có chứng kiến cảnh chống “giặc lửa” ở đây, chúng tôi mới thấy hết sự thiếu thốn công cụ chống cháy của những người giữ rừng. Lực lượng ứng cứu hầu hết sử dụng bằng... tay. Người cầm cây xanh, xông vào đám cháy dập lửa, kẻ dùng rựa phát băng cản lửa. Họa hoằn lắm mới có được 1, 2 máy thổi gió vác đến tận nơi.
Nhiều người dân thôn Trước Đông cho biết, từ đầu mùa khô, các khu rừng luôn đặt trong diện cảnh báo cháy rừng, do trên địa bàn có nhiều đồi dốc, cây bụi thiếu nước nên rất dễ bắt lửa. Những khu rừng trồng có địa hình dốc đứng, vì vậy mỗi khi xảy ra cháy rừng sẽ rất nguy hiểm cho lực lượng tham gia chữa cháy do phương tiện chữa cháy không vào được nên chủ yếu sử dụng sức người...
Bên cạnh đó, nhiều diện tích rừng tự nhiên ở địa hình rất hiểm trở, độ dốc lớn nên hàng năm phải chịu ảnh hưởng thời tiết hanh khô, gây khó khăn cho việc quản lý và phát triển rừng. Một phương án bảo vệ rừng có tính khả thi, hợp lý và hiệu quả chính là biết lợi dụng nhiều yếu tố, kết hợp với nhiều lực lượng tham gia, phương thức hoạt động đa dạng, chủ động, phù hợp với hoàn cảnh từng vùng, từng khu vực. Muốn vậy, phải xác định được các vùng trọng điểm, các điểm nóng về cháy rừng để có phương án cụ thể, đầu tư xây dựng sao cho phù hợp với chiến lược thực hiện công tác BVR, PCCCR...
Được biết, Hòa Vang là địa phương có diện tích rừng lớn nhất TP với hơn 50.000ha rừng các loại và đất lâm nghiệp; trong đó, 8 xã có rừng đã thành lập 8 đội xung kích PCCR, 42 thôn có rừng đã hình thành 42 tổ BVR với hơn 500 thành viên. Trang thiết bị bao gồm 11 máy thổi gió, 1 máy cưa xăng, 170 rựa cán dài...
Tuy chưa thật đầy đủ nhưng lãnh đạo KL huyện xác định, điều quan trọng nhất là phải BVR, PCCCR để những khu rừng trên địa bàn vẫn mãi xanh tươi. Vì vậy, ngay từ đầu năm, ngoài việc củng cố các đường băng cản lửa, làm mới các biển cảnh báo; lực lượng KL huyện còn phối hợp với các địa phương họp dân 8 xã có rừng tuyên truyền, ký cam kết với các chủ rừng.
Hiện nay, ở Hòa Vang đang còn rất nhiều khu rừng trồng đã được khai thác, nhưng công đoạn xử lý thực bì của các chủ rừng đều phải tạm dừng lại. Tuy nhiên, cũng không thể phòng ngừa hết được việc người dân vào rừng chặt củi, bứt mây, rà sắt phế liệu, đốt ong...
Ngoài vô số mồ mả, miếu thờ xây dựng sát bìa rừng thì ở các địa bàn miền núi còn có nhiều điểm du lịch tự phát lý tưởng để người dân miền xuôi “lên rừng trốn nóng”, tình trạng từng nhóm bạn trẻ rủ nhau vào rừng vui chơi, nhóm bếp nấu ăn tại chỗ... Tất cả điều đó, cùng với sự thiếu ý thức của con người trong việc tùy tiện sử dụng lửa thì hiểm họa cháy rừng chắc chắn sẽ xảy ra.
Ông Đặng Minh Hà, Trưởng trạm KL Hòa Phú cảnh báo: “Nguy cơ cháy rừng trên địa bàn đang ở cấp nguy hiểm, trong đó, nhiều khu rừng nguyên sinh đang trong giai đoạn chuyển lá vàng khô vì nắng nóng kéo dài. Các khu rừng trồng dù còn xanh tốt nhưng vẫn ở mức đe dọa cao vì trời không mưa. Từ nay đến tháng 9 là đỉnh điểm của nắng nóng, do đó toàn bộ rừng trên địa bàn sẽ ở mức báo động cao. Cho nên, việc cảnh giác với “giặc lửa” hiện nay là cấp bách”...
Muốn vậy, cần phải gắn trách nhiệm quản lý Nhà nước trên địa bàn của các cấp chính quyền và đề cao trách nhiệm cá nhân trong bảo vệ rừng; tăng cường sự phối hợp có hệ thống, có kế hoạch với các lực lượng liên quan để tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động xâm hại rừng. (Công An Đà Nẵng 10/6) đầu trang(
Được coi là "cây giảm nghèo" nhưng tại Kon Tum, cây sắn (mì) đang khiến hàng trăm hecta rừng bị tàn phá.
Tại xã Đắk Rơ Wa (TP.Kon Tum) có hơn 400ha trong 2.000ha diện tích đất tự nhiên bị người dân sử dụng trồng sắn. Với thu nhập 20 triệu đồng/ha, cây sắn thực sự đem lại hiệu quả kinh tế cho nhiều hộ dân.
Ông Phan Thanh Nam - Chủ tịch UBND xã Đắk Rơ Wa - cho biết, mặc dù sắn là cây giúp các hộ dân thoát nghèo, nhưng chính việc phá rừng trồng sắn tự phát đã phá vỡ quy hoạch phát triển chung của ngành nông - lâm nghiệp, khiến đất đai bạc màu, cằn cỗi.
Tại các xã Sa Sơn, Sa Nhơn, Mô Rai (huyện Sa Thầy) - nơi có vùng đệm của Vườn quốc gia (VQG) Chư Mom Ray, tình trạng sắn lấn rừng đáng báo động. Hàng trăm hécta rừng đã bị xâm chiếm, bạt ngàn rẫy sắn mọc lên. “Ở đây, không trồng sắn thì không biết trồng cây gì để có tiền.
Trồng lúa thì năng suất kém vì luôn bị lũ cuốn trôi” - chị Y Tuyn (xã Sa Sơn) nói. Ông Mai Nhật Văn - PGĐ TT Cứu hộ Bảo tồn sinh vật VQG Chư Mom Ray - ngao ngán: “Nỗi lo người dân trồng sắn, lấn vào rừng VQG luôn ám ảnh chúng tôi. Mặc dù chính quyền đã rốt ráo vào cuộc xử lý, nhưng không hiệu quả”.
Báo cáo của tỉnh Kon Tum về diện tích mở rộng của cây sắn đã khiến tỉnh này “đau đầu”. Năm 2013, hơn 28.000ha là kế hoạch diện tích trồng được đặt ra, nhưng con số này tăng lên 34.000ha. Chỉ riêng 4 tháng đầu năm 2014, người dân đã trồng được 29.000ha. Tại các huyện Kon Plông, Kon Rẫy, Sa Thầy... hàng trăm hécta rừng bị chặt hạ, đốt cháy ngổn ngang. Thay vào đó, cây sắn đang chen chân, thế chỗ trong sự “ngơ ngác” của chính quyền sở tại.
Tại tỉnh Kon Tum, nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn được lắp đặt để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu. Như nhà máy chế biến tinh bột sắn Phương Hoa (huyện Đắk Glei) có công suất 25.000 tấn/năm.
Hơn 4.300ha là vùng nguyên liệu của huyện Ngọc Hồi cung ứng cho nhà máy này và 3.300ha là của huyện Đắk Glei. Mỗi năm, nhà máy này hoạt động 6 tháng không nghỉ với giá thu mua 2.050đồng/kg. Tại huyện Ngọc Hồi, nhà máy chế biến tinh bột sắn BMC đặt tại xã Đắk Nông cũng “bao trọn gói” không dưới 2.000ha sắn tại địa phương.
Tại Khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên Ngọc Linh (huyện Đắk Glei), việc phá rừng làm rẫy sắn đang đe dọa nhiều diện tích rừng. “Những năm gần đây, rất nhiều hộ dân thường xuyên lấn rừng trồng sắn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến KBT, dù huyện đã thành lập nhiều chốt bảo vệ rừng nhưng cũng bất lực” - ông Nguyễn Văn Hải - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đắk Glei - nói.
Theo ông Trần Hữu Thao - Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế KBT - do diện tích đất nông nghiệp ít, quỹ đất có hạn nên việc người dân phá rừng làm rẫy gây áp lực rất lớn đến công tác bảo tồn. “Từ năm 2010 trở lại đây, mặc dù chính quyền đã khởi tố hình sự hàng chục vụ, nhưng cũng như là “ném đá ao bèo”” - ông Thao chua chát.
Việc người dân phá rừng vì miếng cơm manh áo thực sự là một bài toán khó đối với chính quyền tỉnh Kon Tum. Theo ông Trần Việt Cường - Phó trưởng phòng Hành chính - Kế hoạch (Sở NNPTNT) - dù muốn hay không vẫn phải để người dân trồng cây sắn bởi lẽ, đây là cây dễ sống, thích nghi với địa hình dốc đứng, vốn đầu tư ít và đặc biệt là “cây giảm nghèo” đối với người dân đồng bào dân tộc thiểu số.
Việc du di cho sự mở rộng diện tích cây sắn đã thực sự báo động đến sự “sống còn” từng ngày, từng giờ của những cánh rừng hiếm hoi sót lại của các tỉnh khu vực Tây Nguyên. (Lao Động 10/6; Báo Gia Lai 9/6) đầu trang(
Rừng Anh Sơn được bảo vệ tận gốc, được tuyên truyền đến các chủ rừng, các tổ đội PCCR. Thực hiện ký cam kết từ các hộ đến thôn bản, xã. Với phương châm giữ rừng như thể giữ nhà, vì vậy 4 năm liền từ 1999 đến nay rừng Anh Sơn vẫn giữ được mùa xanh, không có xảy ra cháy rừng.
Anh Sơn có diện tích rừng tự nhiên 60.299 ha, trong đó đất lâm nghiệp 35.555 ha, rừng Anh Sơn thường có độ dốc lớn nên gặp khó khăn trong việc chữa cháy.
Với phương châm “Giữ rừng như thể giữ nhà, cháy rừng như thể cháy da ruột mình”. Huyện ủy- UBND huyện đã quan tâm đến việc bảo vệ, phòng chống cháy rừng. Năm 2014, Anh Sơn triển khai công tác bảo vệ và PPCR sớm nhất tỉnh.
Phó Chủ tịch UBND huyện Ông Nguyễn Hữu Sáng cho biết: Nắng nóng nhiều dễ xảy ra cháy rừng, UBND huyện đã xây dựng phương án về công tác bảo vệ rừng, PCCR, củng cố kiện toàn ban chỉ huy gồm 22 thành viên do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, chỉ đạo các xã, các chủ rừng có phương án bảo vệ rừng, PCCR tại địa phương, đơn vị. Thành lập củng cố 20 Ban Chỉ huy tận các xã, chủ rừng với 466 thành viên, thành lập lực lượng đội bảo vệ rừng, PCCR với 410 thành viên. Thành lập 168 tổ đội quản lý bảo vệ rừng, PCCR tại cộng đồng dân cư với 1.788 thành viên. Tổ chức ký cam kết PCCR tại 16 xã, chủ rừng; 163 thôn bản; 7982 hộ gia đình sống gần rừng. Ký hợp đồng trông coi lửa rừng trong 6 tháng mùa nắng nóng ở 4 xã trọng điểm như Khai Sơn, Thọ Sơn, Phúc Sơn và Vĩnh Sơn. Tổ chức 2 đợt tập huấn bảo vệ rừng PCCR cho 3 xã có nhiều rừng là Phúc Sơn, Thọ Sơn, Vĩnh Sơn có 260 người tham gia. Tổ chức diễn tập PCCR cho cán bộ xã, chủ rừng theo phương châm 4 tại chỗ.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đinh Nho Trọng cho biết: “Hạt bố trí kiểm lâm địa bàn bám cơ sở phối hợp với các ban ngành tuyên truyền việc chống chặt phá rừng, bảo vệ rừng tận gốc. Quản lý các xưởng chế biến lâm sản, xử lý các điểm tàng trữ buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép”. Cán bộ kiểm lâm hướng dẫn các chủ rừng dọn sạch bìa rừng, tổ chức hội nghị với bà con dân bản Cao Vều tuyên truyền công tác PCCR, cùng với lực lượng dân quân bản Cao Vều đi kiểm tra dọn thực bì bìa rừng.
Nhiệm vụ PCCR trong mùa nắng nóng và cả năm 2014 của Anh Sơn là: Duy trì chế độ thường trực 24/24 giờ. Tại văn phòng ban chỉ huy, thông tin và có biện pháp PCCR nếu xảy ra cháy. Các chủ rừng hạt kiểm lâm, đồn Biên phòng Phúc Sơn, các xã quản lý chặt những người làm ăn sinh sống trong rừng như lấy ong, khai thác lâm sản, kịp thời phát hiện xử lý các trường hợp vi phạm nếu để xảy ra cháy rừng các địa phương chủ rừng thực hiện 4 tại chỗ. Địa phương nào, chủ rừng nào để xảy ra cháy rừng gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tại hội nghị công tác bảo vệ PCCR năm 2013 Anh Sơn đã tổ chức khen thưởng 4 tập thể, 6 cá nhân xuất sắc; xã Vĩnh Sơn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông tỉnh Nghệ An tặng giấy khen. (Anhson.nghean.gov.vn 6/6) đầu trang(
Tỉnh Bạc Liêu có khoảng 5.000 ha rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển Đông, chạy từ thành phố Bạc Liêu đến huyện Đông Hải. 2/3 số rừng được giao khoán cho người dân chăm sóc, trồng rừng và nuôi tôm. Tuy nhiên, do việc giao khoán ít hiệu quả so với nuôi tôm nên đã xảy ra tình trạng người nhận khoán đất rừng chặt phá rừng để lấy đất nuôi tôm và thực trạng này đang báo động.
Mục đích chính của việc giao khoán đất rừng là phát triển và bảo vệ rừng, nhưng nhiều năm qua, việc phát triển và bảo vệ rừng dường như vẫn là thứ yếu. Bằng chứng là nạn ứ nước nuôi tôm gây chết rừng vẫn cứ xảy ra và mô hình trồng rừng - nuôi tôm được xem là bền vững đang bị thay thế bằng mô hình nuôi tôm công nghiệp, quảng canh và cả việc nuôi tôm thẻ chân trắng.
Mỗi năm Nhà nước chỉ hỗ trợ công chăm sóc, trồng mới rừng khoảng 2 triệu đồng/ha, nếu thực hiện mô hình trồng rừng - nuôi tôm thì diện tích mặt nước nuôi tôm giảm, dẫn đến sản lượng tôm giảm khoảng 30%, tương ứng khoảng 20 - 25 triệu đồng/ha so với mô hình nuôi tôm quảng canh không trồng rừng. Chính sự chênh lệch về thu nhập mà nhiều hộ nhận khoán rừng ven biển không muốn phát triển mô hình trồng rừng - nuôi tôm. Có nơi, người dân bỏ hẳn mô hình trồng rừng - nuôi tôm mà thay bằng mô hình nuôi tôm quảng canh, nuôi công nghiệp tôm thẻ chân trắng và còn chặt phá rừng để có diện tích mặt nước nuôi tôm.
Bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nên nếu không làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, thì những mô hình kinh tế đang được nông dân đầu tư hiện nay cũng khó tránh khỏi nguy cơ mất trắng vì triều cường và xâm nhập mặn trong tương lai. Do vậy, trong kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh đến năm 2020 có mục tiêu phát triển mô hình trồng rừng - nuôi tôm.
Trong đó, diện tích mặt nước nuôi trồng chiếm 70%, còn 30% diện tích phải trồng rừng bởi phát triển rừng không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế, mà còn là sự phát triển bền vững do Bạc Liêu là một trong những tỉnh, thành của khu vực đồng bằng sông Cửu Long được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Một trong những giải pháp được ngành nông nghiệp quan tâm là đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động, tuyên truyền về tầm quan quan trọng đặc biệt của rừng đối với sự phát triển bền vững. Đồng thời nghiên cứu các giải pháp như tăng mức hỗ trợ cho việc trồng và chăm sóc rừng, giúp người nông dân tăng thêm thu nhập từ mô hình trồng rừng - nuôi tôm ; gắn kết doanh nghiệp với người nhận giao khoán đất rừng để khai thác có hiệu quả mô hình trồng rừng - nuôi tôm gắn với phát triển du lịch sinh thái rừng…
Làm được những việc này, giá trị mang lại từ rừng sẽ tăng thêm rất nhiều từ các dịch vụ ăn theo, người giữ rừng sẽ an tâm làm tốt công tác phát triển và bảo vệ rừng, nhằm chủ động phòng chống nước biển dâng, xâm nhập mặn và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra. (Tin Tức 9/6) đầu trang(
Tính đến hết tháng 5, lực lượng Kiểm lâm huyện Khánh Sơn đã phát hiện và lập biên bản 19 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 8 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Trong đó, Hạt Kiểm lâm đã xử lý hành chính 16 vụ; tịch thu hơn 17 m3 gỗ các loại, cùng với nhiều tang vật tham gia vào khai thác lâm sản trái phép như: cưa máy, xe máy… Hạt cũng thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, địa phương tăng cường tổ chức kiểm tra, ngăn chặn các hoạt động khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép tại các khu vực trên địa bàn huyện.
Trong đó, tập trung vào các khu vực rừng mà các đối tượng lâm tặc thường xuyên khai thác như: xã Thành Sơn, Sơn Lâm, Tà Gụ-Sơn Hiệp, và các khu vực rừng giáp ranh với tỉnh NInh Thuận.
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm cũng tích cực giám sát các hoạt động đốt nương làm rẫy, tuyên truyền các quy định phòng cháy, chữa cháy rừng đến bà con trên toàn địa bàn, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.
Tuy nhiên, với nhu cầu đất sản xuất của bà con ngày một nhiều, nguy cơ tái diễn tình trạng làm nương rẫy, xâm lấn đến các khu vực rừng phòng hộ là rất cao. Do vậy, Hạt đã chỉ đạo các địa phương tăng cường giám sát, nhắc nhở và cho viết cam kết để bà con nắm bắt quy định Nhà nước về bảo vệ, phát triển rừng. (Đài PTTH Khánh Hòa 8/6) đầu trang(
Theo Hạt Kiểm lâm Đồng Xuân, hiện tình trạng người dân đổ xô vào rừng khai thác trắc dây không còn tiếp diễn trên địa bàn huyện. Dù vậy, lực lượng kiểm lâm và công an huyện vẫn tiếp tục tăng cường tuyên truyền, vận động người dân không nên lén lút khai thác, vận chuyển loại cây này; đồng thời duy trì lực lượng kiểm tra tại một số cửa rừng thường diễn ra tình trạng khai thác trắc dây.
Trước đó, nhiều người dân huyện Đồng Xuân đã đổ xô vào các cánh rừng để tìm trắc dây bán cho các đầu nậu. Nhằm ngăn chặn, Chi cục Kiểm lâm Phú Yên, Huyện ủy, UBND huyện Đồng Xuân đã kịp thời chỉ đạo lực lượng kiểm lâm, công an huyện kiên quyết truy quét, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Lực lượng liên ngành đã tịch thu 30 tấn trắc dây, xử lý 8 trường hợp; trong đó, Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân thu giữ 16 tấn trắc dây, xử lý 3 đối tượng khai thác, vận chuyển trái phép, phạt tiền 46 triệu đồng. (Báo Phú Yên 7/6) đầu trang(
Tháng 4-2013, được Dự án vùng đệm Phong Nha-Kẻ Bàng hỗ trợ, UBND huyện Minh Hóa đã ký quyết định giao 885,576 ha rừng tại tiểu khu 140, 141 cho nhân dân thôn Thanh Liêm 1 xã Trung Hóa và gần 804 ha tại tiểu khu 239 ở bản Phú Minh xã Thượng Hóa. Đây là cách làm mới hợp lòng dân nên đã xây dựng được “thế trận lòng dân” trong cuộc chiến giữ rừng.
Trước đây, công tác giữ rừng chủ yếu được giao cho lực lượng kiểm lâm, tuy nhiên, diện tích rừng ở Minh Hóa rất lớn, trong khi lựng lượng kiểm lâm lại mỏng nên vẫn còn xảy ra tình trạng phá rừng bừa bãi, ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống của người dân. Để góp phần bảo vệ và phát triển rừng, Dự án vùng đệm Phong Nha- Kẻ Bàng đã có chính sách hỗ trợ cho huyện Minh Hóa tiến hành giao rừng cho cộng đồng người dân các xã vùng đệm gồm: Thượng Hóa, Hóa Sơn, Trọng Hóa và Dân Hóa bảo vệ.
Mục đích của dự án là từng bước xã hội hóa nghề rừng, nâng cao tinh thần, trách nhiệm của các bên liên quan, nhất là người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời xác lập những khu rừng được cộng đồng bảo vệ và phát triển ổn định nhằm cung cấp gỗ và các loại lâm sản cho cộng đồng, tiến tới cung cấp lâm sản cho thị trường, mang lại lợi nhuận cho bà con; bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, ổn định an ninh - quốc phòng trên địa bàn.
Thực hiện công tác giao rừng cộng đồng, các đơn vị liên quan đã tiến hành lập hồ sơ giao đất, giao rừng do các xã quản lý giao cho các thôn, bản. Xác định rõ ranh giới, diện tích; điều tra, đánh giá đúng hiện trạng của rừng. Nâng cao năng lực bảo vệ rừng cho ban quản lý thôn bản, tiến hành làm các thủ tục trước khi giao đất, giao rừng cho nhân dân...
Tại bản Phú Minh, xã Thượng Hóa, bà con được giao gần 804 ha rừng tại tiểu khu 239 trên đèo Đá Đẽo, có trữ lượng gỗ gần 102 nghìn mét khối. Trong đó có gần 30.000ha rừng giàu, gần 74.000m3 gỗ; rừng trung bình trên 420ha, có 73.000m3 gỗ; rừng nghèo gần 255.000 có gần 22.000m3 gỗ và đất chưa có rừng gần 100ha. Mỗi ha rừng sẽ được hỗ trợ 200 nghìn đồng/ năm và dự án sẽ kéo dài 6 năm. Rừng cộng đồng bản Phú Minh hiện đang có rất nhiều loại gỗ và lâm sản quý như lim, táu, re thơm, dạ hương, dỗi... Từ khi trở thành chủ của khu rừng giàu này, bà con bản Phú Minh rất phấn khởi.
Anh Cao Xuân Điều, một người dân tâm sự: “Trước đây, khu rừng này có nhiều gỗ quý nên lâm tặc các nơi hay đến khai thác. Nhưng từ khi trở thành chủ khu rừng này, chúng tôi không để họ phá nữa. Bởi đây là tài sản của bản làng nói chung và của mỗi chúng tôi nói riêng”.
Bí thư chi bộ bản Phú Minh- Đinh Tiến Hùng, kiêm Phó ban bảo vệ rừng của bản cho biết: “Có lần, tôi cùng dân bản đi tuần tra rừng thì phát hiện một nhóm lâm tặc từ nơi khác vào phá rừng. Số lượng của chúng khá đông lại có thái độ hung hăng nên chúng tôi gọi thêm dân bản và các ban, ngành đến ngăn chặn nhưng bọn chúng chống đối quyết liệt. Nhưng sau quá trình vận động, giải thích bằng các biện pháp “mềm dẻo”, đưa ra những quy định cụ thể nên nhóm lâm tặc này phải rút lui. Cũng từ đó đến nay không còn đối tượng nào ngoài bản vào rừng cộng đồng của chúng tôi phá nữa”.
Để bảo vệ rừng cộng đồng, bản Phú Minh đã lập ra ban bảo vệ gồm 5 người thường xuyên kiểm tra, nắm bắt tình hình trong rừng. Ban bảo vệ xây dựng quy chế hoạt động và những quy định bảo vệ rừng cụ thể.  Ngoài ra, dân bản đi vào rừng thấy có người lạ vào phá rừng cộng đồng cũng phải có trách nhiệm ngăn chặn, khai báo cho ban bảo vệ và các lực lượng chức năng.
Trong thời gian bảo vệ, người dân bản Phú Minh có quyền được khai thác gỗ và các loại lâm sản khác để dùng vào mục đích như làm nhà cửa và các vật dụng trong gia đình, thậm chí bán ra ngoài nhưng phải trích phần trăm lại cho Ban quản lý của bản. Tuy nhiên, muốn khai thác rừng cần có quy hoạch rõ ràng, chặt cây ở vị trí nào cần phải được sự đồng ý của Ban quản lý và phải khai thác đúng kỹ thuật, không được ảnh hưởng đến những cây xung quanh. Trong quá trình khai thác cần có biện pháp khôi phục lại rừng bằng cách trồng lại các cây bản địa để rừng bảo đảm độ che phủ, điều hòa khí hậu và tránh những tác động của thiên tai...
Ông Đinh Xuân Nhường, một người dân bản Phú Minh nói: “Được làm chủ rừng nên tôi và bà con rất phấn khởi. Giữ rừng thì có thêm tiền phụ cấp, nên chúng tôi sẽ không phá rừng bừa bãi mà phải bảo vệ và trồng rừng để cho tương lai sau này”. Từ khi làm nhiệm vụ bảo vệ rừng cộng đồng, gia đình ông Nhường đã có thêm việc làm và thu nhập. Việc gia đình ông cùng hàng chục hộ dân trong bản giữ rừng cộng đồng đã góp phần giúp cho rừng trên địa bàn được hồi sinh, góp phần đưa độ che phủ của khu rừng cộng đồng từ 71% lên 77% vào năm 2020, nâng cao sản lượng gỗ và các lâm sản khác, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, ổn định an ninh quốc phòng...
Ông Đinh Hữu Dực, Phó trưởng Ban quản lý Dự án vùng đệm Phong Nha-Kẻ Bàng tại huyện Minh Hóa cho biết: “Thời gian tới, chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan, ban, ngành tiếp tục giao rừng cộng đồng cho thôn Phú Nhiêu xã Thượng Hóa, thôn Thanh Liêm 2 xã Trung Hóa, bản La Trọng 1 và La Trọng 2 xã Trọng Hóa. Đồng thời chỉ đạo cho cộng đồng các thôn bản khôi phục lại rừng bằng việc trồng các cây bản địa để tiếp tục mở rộng độ che phủ của rừng”.
Có thể khẳng định rằng: việc giao rừng cho cộng đồng bảo vệ là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân bản địa. Việc làm này cần sớm được nhân rộng ra các địa phương khác nhằm góp phần cùng cả tỉnh giữ được vị trí quán quân về độ che phủ rừng. (Báo Quảng Bình 9/6) đầu trang(
Đóng vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, là lá phổi xanh điều hòa thời tiết và cũng là nơi cung cấp nhiều loài thủy hải sản quý giá của khu vực Tây Nam Bộ nhưng hiện nay rừng ngập mặn Cần Giờ đang bị khai thác quá mức.
Rừng ngập mặn (RNM) Cần Giờ là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam TP. Hồ Chí Minh, có diện tích 75.740 ha, trong đó vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha và vùng chuyển tiếp 29.880 ha. Với hệ động thực vật đa dạng, độc đáo, đặc trưng, RNM Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, là lá phổi xanh điều hòa thời tiết và cũng là nơi cung cấp nhiều loài thủy hải sản quý giá của khu vực Tây Nam Bộ.
Trước đây RNM Cần Giờ rộng mênh mông, còn có tên là rừng Sác (do người Nam Bộ gọi cây mắm là cây sác). Đây là loài cây ngập mặn sống cùng với các loại cây khác, như sú, vẹt, đước, ô rô, chà là tạo thành một tập đoàn cây ngập mặn. Tập đoàn cây tiên phong lấn biển này thích hợp với những vùng bùn lỏng chưa ổn định ở các bãi bồi cửa sông ven biển. Cây mắm, cây đước đi trước. Khi đất bùn được cố định, nước nhạt dần, cây dừa nước phát triển sau cùng trong đoàn quân lấn biển.
Vào thế kỷ 17, khi những cư dân Việt đầu tiên vào khai khẩn vùng đất mới Nam Bộ, Cần Giờ có đến 42 ngàn ha rừng nguyên sinh mọc trên hàng trăm gò đất nửa chìm nửa nổi, hoặc chỉ cao hơn mức nước biển một vài mét và hơn 1/4 diện tích vùng Rừng Sác là sông rạch. Thế giới động vật rừng Sác thời đó thật khó kiểm đếm hết. Cho đến những năm kháng chiến chống Pháp, ngoài hàng trăm loài chim nước và động vật thủy sinh như tôm, cua, cá, lưỡng cư, nơi đây còn có các loài hổ, khỉ độc, rái nước. Những lúc triều lên, hàng trăm rái nước tập trung trên gò nhỏ. Nhiều người đã chứng kiến những cuộc giao tranh quyết liệt giữa heo rừng và trăn nước. Loài cá sấu có nhiều vô kể và vẫn được dân địa phương gọi là chúa nước.
Những năm 1962-1971, Mỹ tàn phá rừng Sác bằng cách rải chất diệt cỏ. Cộng với nạn phá rừng bừa bãi nên các cánh rừng bị hủy diệt hoàn toàn biến nhiều vùng thành các bãi hoang, trảng trống, cây lùm bụi. Các loại động vật rừng ngập mặn như chim, tôm, cá cũng biến mất. Năm 1985, nhân dân Cần Giờ và bộ đội quyết tâm trồng lại rừng. Hàng chục ha rừng Sác hồi sinh. Có đến 60 loài thực vật xuất hiện trở lại, nhiều nhất là cây đước. Hàng chục loài chim nước bay về trú chân, trong đó có bồ nông, cò quắm, sếu, diệc, hồng hộc, le le.
Sau 30 năm khôi phục, rừng Sác giờ đây được gọi là RNM Cần Giờ đã phục hồi được trên 30.491 ha rừng, biến khu đất hoang hóa trơ trọi năm xưa thành cánh rừng bạt ngàn xanh tốt, tạo nên cảnh quan tươi đẹp và môi trường sống thuận lợi cho nhiều loài động vật phát triển. RNM Cần Giờ được các chuyên gia nước ngoài đánh giá cao về công tác trồng , chăm sóc và bảo vệ rừng ở Việt Nam và trên thế giới. Các nhà khoa học lâm nghiệp khôi phục hệ sinh thái RNM Cần Giờ trở về trạng thái tự nhiên đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 2005.
RNM Cần Giờ có vị trí địa lý rất đặc biệt, với hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, RNM vừa bị tác động của sông và biển. Hàng năm RNM nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều làm cho hệ động, thực vật nơi đây rất phong phú và đa dạng. Các loại cây trong rừng trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác.
RNM Cần Giờ có 157 loài thực vật thuộc 76 họ. Trong đó có 35 loài cây rừng ngập mặn thuộc 36 chi, 24 họ. Khu hệ động vật không xương sống, thủy sinh có 70 loài thuộc 44 họ (chủ yếu là các loài cua biển, tôm sú, tôm thẻ bạc, sò huyết…); khu hệ cá có 137 loài thuộc 39 họ (với các loài cá: ngát, bông lau, dứa…); khu hệ chim có 130 loài, 47 họ, 17 bộ (bồ nông chân xám, diệc xám, vạc, già đẫy, giang sen…); khu hệ thú có 19 loài, 13 họ, 7 bộ (mèo rừng, khỉ đuôi dài, cầy vòi đốm, nhím…); khu hệ lưỡng thê, bò sát có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát (kỳ đà nước, hổ mang chúa, trăn gấm, cá sấu hoa cà…). Đặc biệt 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như tắc kè, kỳ đà nước, trăn đất, trăn gấm, rắn cạp nong, rắn hổ mang, rắn hổ chúa, vích, cá sấu hoa cà.
Ngoài ra rừng có nhiều loại cây, chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi - bần trắng cùng xu ổi, trang, đưng. Cây nước lợ có bần chua, ô rô, dừa lá, ráng. Đất canh tác nông nghiệp có lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, các loại cây ăn quả. RNM Cần Giờ còn là một điểm du lịch sinh thái, giúp cho người dân địa phương có nguồn thu nhập đáng kể. RNM Cần Giờ còn là phòng thí nghiệm phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái đặc biệt này. Hàng năm, đã có hàng trăm sinh viên của các trường Đại học trong nước đến tham quan học tập, nghiên cứu làm đề tài tốt nghiệp; đã đón tiếp nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đến tìm hiểu, nghiên cứu về động thực vật.
Hiện nay, tình trạng khai thác quá mức nguồn nguyên thiên nhiên đang là những nguy cơ đe dọa hệ sinh thái RNM Cần Giờ. Bên cạnh đó, việc quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý như các công trình lấn biển làm bãi tắm và du lịch. Vì vậy, để giúp cộng đồng địa phương bảo vệ nguồn tài nguyên, đồng thời giúp người dân có sinh kế bền vững, trước hết cần hoàn thiện cơ chế chính sách về quản lý và quy hoạch chi tiết các dạng tài nguyên đất đai, sông rạch, rừng ngập mặn, động thực vật, khu du lịch, giao thông… Khoanh định không gian-diện tích những khu vực lõi, đệm và chuyển tiếp với mục bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường trên đất liền, sông, biển. Huy động sự tham gia và đóng góp của cộng đồng dân cư và các bên liên quan vào công tác quy hoạch, quản lý và khai thác sử dụng các loại tài nguyên.
Thực hiện thường xuyên công tác tuyên truyền, giáo dục về BVMT và đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nghiên cứu sinh kế cộng đồng cho cư dân quanh vùng đệm bằng việc khảo sát các đối tượng sống xung quanh; đào tạo kỹ năng làm việc cộng đồng, liên kết các trường dạy nghề đào tạo nghề du lịch và nấu ăn, cùng với các công ty du lịch để triển khai dịch vụ du lịch sinh. Xây dựng lực lượng quần chúng bảo vệ rừng bao gồm các hộ nông dân cư trú trong rừng để làm nghề thủy sản.
Thiết lập các chốt bảo vệ rừng ở nơi xung yếu và tất cả các tiểu khu, tạo lập mối quan hệ giữa các lực lượng bảo vệ rừng và nhân dân quanh vùng đệm. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương huyện, xã, các lực lượng vũ trang trên địa bàn để tổ chức cùng tham gia quản lý bảo vệ rừng, làm tốt công tác khuyến lâm, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động qua trồng rừng. Bên cạnh đó cần xem xét trình các cấp có thẩm quyền trong nước và quốc tế về việc công nhận thêm các danh hiệu cho khu vực RNM Cần Giờ. (Tin Tức 9/6) đầu trang(
Bản Thanh Yên 1, xã Phiêng Khoài (Yên Châu) có 151 hộ, 550 nhân khẩu. Bản có gần 70 ha rừng trồng, rừng tự nhiên và rừng tái sinh; do làm tốt công tác tuyên truyền nên người dân ở đây luôn có ý thức bảo vệ rừng, vì vậy từ năm 1996 đến nay bản không xảy ra hiện tượng chặt phá rừng.
Dẫn PV đi thăm khu rừng của bản, ông Vũ Trọng Duyên, Bí thư chi bộ bản, giới thiệu: tầng trên là khu rừng tái sinh, rừng tự nhiên, tầng ở giữa là rừng trồng, ở tầng dưới nhân dân trong bản đang trồng cây lương thực, chăm sóc diện tích chè và cây dổi. Mỗi khi họp dân, bản đều lồng ghép tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng. Hằng năm tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, quản lý chặt việc đốt nương làm rẫy, đưa việc bảo vệ rừng vào hương ước của bản. Hiện, Tổ bảo vệ rừng của bản có 6 người thường xuyên phối hợp kiểm tra với các bản lân cận, vì thế những khu rừng giáp ranh không bị xâm phạm.
Tìm hiểu được biết thêm, bản Thanh Yên 1 đã phối hợp giải quyết triệt để việc giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp; thực hiện tốt công tác chi trả tiền bảo vệ môi trường rừng cho bà con. Đến nay, toàn bộ diện tích rừng đều có chủ.
Chính từ việc rừng có chủ và hiệu quả của công tác tuyên truyền nên nhận thức và hành động về bảo vệ rừng của người dân trong bản đã được nâng lên, bản luôn kiểm soát việc sử dụng lửa ven rừng và trong rừng, hạn chế tối đa tình trạng đốt rừng làm nương. Việc đốt thực bì để trồng rừng được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy trình... Bên cạnh đó, công tác ứng cứu, phòng chống cháy rừng cũng được quan tâm đôn đốc.
Ông Nguyễn Văn Việt, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Phiêng Khoài cho biết: Hằng tháng, kiểm lâm địa bàn thường xuyên bám nắm cơ sở, nhất là vào mùa khô ở các bản có rừng, quản lý chặt chẽ việc khai thác gỗ trong diện được phép, tuyên truyền bằng nhiều hình thức, như: tuyên truyền miệng, hình ảnh, băng đĩa... Từ đó, trách nhiệm của Ban quản lý bản luôn được nâng cao, cùng với ý thức bảo vệ rừng của bà con nên khu rừng của bản được bảo vệ tốt.
Với quyết tâm giữ rừng, người dân bản Thanh Yên 1 đã làm tốt công tác bảo vệ rừng; kết hợp giữa khoanh nuôi bảo vệ rừng với trồng rừng; mỗi chủ rừng luôn nâng cao trách nhiệm, ý thức bảo vệ rừng. Cùng với những chính sách tạo điều kiện cho những hộ dân sống gần rừng phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, Thanh Yên 1 luôn giữ môi trường sống được xanh - sạch - đẹp. (Báo Sơn La 10/6) đầu trang(
Thời tiết Quảng Trị những ngày qua nắng nóng kéo dài cùng với gió Tây Nam thổi mạnh, trong khi đó từ đầu năm đến nay lượng mưa trên địa bàn tỉnh khá thấp nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn. Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra, qua kinh nghiệm thực tiễn chỉ đạo và thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng, các địa phương, đơn vị trong tỉnh đã chủ động lập phương án PCCC rừng.
Ông VÕ VĂN HƯNG, Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng Ban chỉ huy bảo vệ rừng huyện Cam Lộ: Thường xuyên theo dõi dự báo, cảnh báo cháy rừng
Cam Lộ hiện có hơn 16.000 ha rừng, chủ yếu tập trung ở các xã vùng gò đồi phía Tây Nam của huyện. Phần lớn các vùng rừng trồng là các loại cây dễ cháy như: thông, keo..., địa bàn lại xa khu dân cư nên khi có cháy rừng xảy ra thì việc huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Những năm qua, công tác PCCC rừng đã được các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo và thực hiện bằng nhiều biện pháp tích cực, đồng bộ nên 5 năm qua trên địa bàn huyện không xảy ra vụ cháy rừng nào lớn. Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt, tập quán dùng lửa để xử lý thực bì trước khi trồng rừng, rà tìm vật liệu chiến tranh, lấy mật ong... của một số người dân vẫn còn diễn ra nên nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn.
Để quản lý chặt chẽ các nguồn sinh lửa trong mùa khô năm nay, Ban chỉ huy bảo vệ rừng huyện đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo Ban chỉ huy bảo vệ rừng các xã, thị trấn và chủ rừng trên địa bàn kiện toàn lực lượng chữa cháy rừng các cấp với 557 người. Ngay từ đầu mùa khô, Hạt kiểm lâm tổ chức kiểm tra, bảo dưỡng, tu sửa các phương tiện phục vụ công tác PCCC rừng như máy cắt thực bì, máy cưa xăng, máy bơm nước, xe chữa cháy rừng chuyên dụng...
Ban chỉ huy bảo vệ rừng huyện tổ chức trực PCCC rừng, thường xuyên theo dõi điểm tin cảnh báo cháy rừng từ trang web của Chi cục Kiểm lâm để kiểm tra, huy động kịp thời lực lượng chữa cháy các cấp. Ban chỉ huy bảo vệ rừng các cấp tăng cường công tác kiểm tra, quản lý các đối tượng vào rừng trong mùa khô, đồng thời tuyên truyền, nhắc nhở người dân sống gần rừng, làm việc trong rừng cẩn trọng khi sử dụng lửa; tuyên truyền để các chủ rừng không xử lý thực bì vào các thời điểm có nguy cơ cao về cháy rừng; trước khi xử lý thực bì chủ rừng phải báo cáo UBND xã và kiểm lâm địa bàn.  Khi có cháy rừng xảy ra, thực hiện đúng phương châm “bốn tại chỗ” gồm: lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, trong đó chú trọng lực lượng tại chỗ. Rừng của ai, địa phương nào thì người đó, địa phương đó chủ động tổ chức, huy động lực lượng cứu chữa và kịp thời thông tin, báo cáo ngay cho Ban chỉ huy bảo vệ rừng của huyện khi phát hiện đám cháy.
Ông NGUYỄN VĂN THAO, Phó Chủ tịch UBND xã, Trưởng Ban chỉ huy bảo vệ rừng xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh: Quản lý các nguồn sinh lửa ở rừng
Tổng hợp các giải pháp, phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng kết hợp với nhân lực hiện có của các đơn vị chủ rừng trên địa bàn xã Vĩnh Hà, chúng tôi đã xây dựng phương án PCCC rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Phương án PCCC rừng đảm bảo các yêu cầu đề ra với các tình huống cháy rừng cụ thể có thể xảy ra; mức độ lan tràn của đám cháy; điều kiện địa hình để đề ra kế hoạch huy động lực lượng; phương tiện; tổ chức chỉ huy; biện pháp kỹ thuật; chiến thuật chữa cháy cũng như công tác phục vụ chữa cháy.
Một trong những biện pháp PCCC rừng chúng tôi chú trọng trong mùa khô là việc quản lý các nguồn sinh lửa; các đối tượng có liên quan đến rừng. Ngoài việc quán triệt đến từng thôn những quy định, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ rừng, chính quyền địa phương thường xuyên phối hợp với lực lượng kiểm lâm địa bàn tổ chức tuần tra ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Trước mùa khô, địa phương đều có công văn yêu cầu các chủ rừng lớn tiến hành xử lý thực bì, tạo các đường ranh cản lửa xung quanh rừng.
Ông LÊ VĂN THÀNH, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa: Quản lý tốt việc đốt nương rẫy để không gây cháy rừng
Những năm qua, chúng tôi đã có nhiều văn bản tham mưu cho UBND các xã, Ban chỉ huy bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện xây dựng các phương án PCCC rừng; phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng thành viên, từng kiểm lâm viên địa bàn phụ trách những vùng có nguy cơ cháy rừng cao như: Hướng Sơn, Hướng Lộc, Hướng Linh, Hướng Phùng, A Dơi... Đồng thời Hạt kiểm lâm cũng chủ động phối hợp với các lực lượng Công an, Quân sự, Bộ đội Biên phòng và các cơ quan trên địa bàn huyện cùng tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng đến các tầng lớp nhân dân.
Lực lượng kiểm lâm viên địa bàn có trách nhiệm phối hợp với chính quyền cơ sở quản lý chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy của người dân, nhất là đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô. Yêu cầu đồng bào trước khi đốt nương làm rẫy phải báo cáo kiểm lâm viên địa bàn, trưởng bản đến kiểm tra, nếu thực sự an toàn mới được phép đốt nương. Các chủ rừng vùng núi cũng được lực lượng kiểm lâm tăng cường tuyên truyền, động viên phát thực bì để tránh bắt lửa lây lan vào rừng. Lực lượng, phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác PCCC rừng đã được chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng.
Nếu có cháy rừng xảy ra, chúng tôi sẽ tập trung phương tiện, nhân lực cao nhất để cứu rừng, đồng thời tham mưu kịp thời cho Chủ tịch UBND huyện chỉ đạo điều tra, xác định nguyên nhân, đối tượng gây cháy để truy cứu trách nhiệm trước pháp luật. Các chủ rừng được giao đất nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy rừng cũng bị áp dụng các hình thức xử lý, có thể bị tịch thu rừng giao cho người khác quản lý.
Ông LÊ LỮ, Giám đốc Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Đường 9: Thường xuyên bố trí lực lượng tuần tra, canh gác rừng vào mùa khô
Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Đường 9 quản lý diện tích trên 7.400 ha rừng, trong đó có khoảng 1.500 ha rừng thông lấy nhựa trên 20 năm và 1.800 ha rừng phòng hộ mà có những lô rừng hơn 10 năm chưa được đầu tư kinh phí để phát thực bì. Do đó, dưới tán rừng thảm thực vật như: tranh, cỏ, cây bụi, lá khô và lau lách dày đặc là vật liệu rất dễ cháy, gặp thời tiết nắng nóng thì nguy cơ cháy rừng thường xuyên đe dọa. Đặc biệt, khi đã xảy ra cháy rừng, do thảm thực bì dày, khô ở độ cao gió thổi mạnh thì đám cháy sẽ lan tràn nhanh, khó kiểm soát được. Vì vậy, chúng tôi xác định quản lý, bảo vệ và PCCC rừng là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu.
Những năm qua, chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương có rừng thuộc công ty quản lý như thành phố Đông Hà; 2 huyện Triệu Phong và Cam Lộ xây dựng các phương án PCCC phù hợp tình hình thực tế. Chúng tôi đã hợp đồng và bố trí lực lượng bảo vệ chuyên trách trực tuần tra, canh gác trong mùa khô và tuyên truyền người dân sống gần rừng và những người thường xuyên vào rừng hiểu rõ hậu quả của việc cháy rừng và các biện pháp xử lý khi có cháy rừng xảy ra. Trong lâm phần của công ty hiện có 4 hồ chứa nước; các chòi canh đều có các dụng cụ chữa cháy như: bàn dập lửa; bình bơm nước, dao phát..., lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách được trang bị điện thoại di động, một phần chi phí xăng xe. Ngoài ra, công ty cũng có một xe ô tô phục vụ sản xuất khi có nhu cầu sẽ chở lực lượng tham gia chữa cháy khẩn trương đến hiện trường. (Báo Quảng Trị 10/6) đầu trang(
Qua được mùa khô oi bức, khắc nghiệt của những ngày tháng 3, 4, giờ đây rừng tràm đã cơ bản “thoát hiểm”. Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, phấn khởi: “Có thể khẳng định công tác phòng chống cháy rừng (PCCR) đã cơ bản thắng lợi. Diện tích dự báo cháy cấp nguy hiểm không còn nữa, cuộc sống của những người giữ rừng đã dần trở lại bình thường".
Được đánh giá là một trong những năm có mùa khô gay gắt nhất và kéo dài, mùa khô vừa qua mực nước ở dưới các con kinh trong rừng hầu như khô kiệt. Nguy cơ cháy rừng rất cao, nhưng nhìn chung công tác PCCR đã được các lực lượng làm rất tốt. Với phương châm 4 tại chỗ, trực chỉ huy, phương tiện quan sát kịp thời, công tác tuần tra sát sao, chặt chẽ và quyết tâm đã đem đến một mùa khô cơ bản an toàn cho rừng tràm U Minh Hạ.
Theo số liệu thống kê từ Chi cục Kiểm lâm, mùa khô năm nay toàn tỉnh không để xảy ra vụ cháy lớn nào ngoài 2 vụ cháy nhỏ ở xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ với tổng diện tích cháy 0,92 ha. Năm 2013 có tới 27 vụ cháy làm thiệt hại trên 40 ha rừng.
Bằng việc tổng hợp các biện pháp PCCR, xác định rõ trách nhiệm của các chủ rừng, lực lượng kiểm lâm, các ngành có liên quan, chính quyền địa phương, đoàn thể, đặc biệt sự tham gia nhiệt tình đầy ý thức của người dân sống ven rừng đã bảo vệ rừng an toàn.
Ông Lê Thanh Dũng, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ, cho biết, đầu tháng 5, diện tích rừng khô hanh dự báo cấp cháy cực kỳ nguy hiểm trên 6.800 ha. Tuy nhiên, sự xuất hiện của những cơn mưa giao mùa nặng hạt làm mực nước dưới chân rừng tăng lên từ 20-25 cm, độ ẩm đã có, thảm thực vật cũng bắt đầu mọc xanh trở lại, giảm nguy cơ cháy rừng. Dự báo cháy cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm không còn nữa, chỉ còn vài ngàn héc-ta dự báo cấp 4.
Ðược biết, hiện nay lực lượng kiểm lâm cũng đã rút, còn 77 lực lượng với 17/32 chốt, trạm trực, 9/16 tổ máy, thay vì đầu mùa khô đã huy động trên 1.400 lực lượng của 11 đơn vị phối hợp, trong đó có 145 lực lượng trực tiếp. Theo đó, các phương tiện khác như vỏ máy, xe phục vụ, trang thiết bị cần thiết cũng đã rút bớt.
Theo Ban Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ, đạt được kết quả đó, ngoài công tác tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng Nhân dân qua loa phóng thanh, nhất là cư dân sống quanh khu vực rừng, công tác kiểm tra, luồn rừng cũng tiến hành hết sức chặt chẽ, đề cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời ngay từ đầu việc vào rừng trái phép. Từ tháng 2 đến nay, riêng Vườn quốc gia đã phát hiện 8 vụ vi phạm vào rừng trái phép, bắt 12 đối tượng và xử phạt hành chính trên 20 triệu đồng.
Ngoài ra, kết quả này phải kể đến ý thức của cư dân sống ở quanh vùng đệm đã được nâng cao rõ rệt. Bà con ở đây được sự quan tâm nhiều hơn của chính quyền địa phương và đoàn thể trong vấn đề cải thiện đời sống. Từ đó bà con thấy rõ hơn vai trò trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Văn Hải, Tổ trưởng Tổ Kiểm lâm cơ động, bộc bạch: “Năm nay, thành công hơn hết chính là việc vận động đưa người dân ở 2 ấp (ấp 14, xã Khánh An và ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi) vào trực chòi quan sát, làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Ðây là lực lượng rất quan trọng góp phần vào PCCR được thành công”.
Tuy nhiên, dù đã cơ bản qua giai đoạn nguy hiểm nhưng lực lượng kiểm lâm vẫn luôn túc trực, không lơ là, không chủ quan trong việc phòng, chống cháy cho đến khi rừng thật sự an toàn. Hằng ngày, lực lượng này vẫn luồn rừng kiểm tra, chốt, trạm vẫn đêm ngày túc trực.
Anh Nguyễn Hoàng Tân, cán bộ tuần tra rừng Vườn Quốc gia U Minh Hạ, chia sẻ: “Mặc dù không còn áp lực như lúc cao điểm nữa, nhưng chúng tôi không bao giờ quên nhiệm vụ của mình. Anh em luôn nâng cao tinh thần, ý thức cảnh giác bảo vệ rừng”.
Tình hình thời tiết ngày càng phức tạp, biến đổi khí hậu khó lường, mỗi năm mức độ nóng ngày càng gay gắt khiến công tác PCCR càng trở nên khó khăn hơn. Ðặc biệt, những năm gần đây lượng sét xuất hiện ngày một nhiều hơn, nhất là đầu mùa mưa. Ðây cũng là một trong những lo ngại lớn của ngành kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng. Ông Lê Văn Hải cho biết: “Năm nay có nhiều mũi cháy nhỏ do sét, nhưng nhờ phát hiện kịp thời nên không ảnh hưởng đến diện tích rừng. Tuy nhiên, lượng sét này mỗi năm mỗi tăng, đây cũng là một trong những nguy cơ gây cháy rừng”.
Dù hiện nay cơ bản rừng đã “thoát hiểm”, nhưng để một mùa khô thật sự an toàn thì phải đến lúc chân rừng ngập nước hoàn toàn. (Báo Cà Mau 9/6) đầu trang(
Dù đang là thời điểm nắng nóng gay gắt, nhiều cánh rừng ở các địa phương trong tỉnh đối mặt với nguy cơ xảy ra cháy cao, thế nhưng ở huyện miền núi Bác Ái (tỉnh Ninh Thuận) thì lại khác. Hơn 1 tháng nay, tại đây những cơn mưa đầu hè đã đổ xuống khiến những cánh rừng bắt đầu hồi sinh.
Trên tuyến Quốc lộ 27b lên huyện miền núi Bác Ái, những cánh rừng khô trụi lá trước đây giờ không còn nữa, thay vào đó là màu xanh của cây, của lá và màu xanh của các loại thảm thực vật bao phủ mặt đất. Trên các dãy núi cao núi Phước Bình, núi Chuân, núi Marai, núi Bonnonh, núi Chađion hay núi Lang Mabio…giờ hiện rõ màu xanh.  Theo UBND huyện Bác Ái, cả 9 xã của huyện đều có rừng tự nhiên. Là địa phương có diện tích đất rừng lớn nhất tỉnh với hơn 80.000 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 65.000 ha, số còn lại phần lớn là rừng thông, rừng khộp, những tháng đầu năm, Bác Ái luôn đối mặt với nguy cơ cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm, cấp IV, cấp V. Khoảng 1 tháng trở lại đây, những cơn mưa tuy không lớn nhưng cũng đủ hạ nhiệt, làm mát những mảnh đất khô cằn.
Ông Phạm Cao Đảm, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Thuận cho biết: Lo lắng lớn nhất đối với Bác Ái đó là tình trạng cháy rừng, bởi địa bàn rộng, diện tích rừng lớn, địa hình hiểm trở nên khó xử lý mỗi khi xảy ra cháy lớn. Từ đầu mùa khô, tuy rừng ở Bác Ái luôn nằm trong tình trạng có nguy cơ xảy ra cháy nhưng nhờ t hực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nên trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 1 vụ cháy tại tiểu khu 87 trên địa bàn xã Phước Chính. Đó là nhờ các đơn vị liên quan luôn quan tâm đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng, các cấp, các ngành luôn có sự phối hợp nhịp nhàng trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Bên cạnh đó là nhận thức của cộng đồng dân cư trong công tác phòng cháy, chữa cháy đã có sự thay đổi rõ nét.
Là đơn vị doanh nghiệp quản lý hơn 28.000 ha rừng, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tân Tiến luôn chủ động thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, thường xuyên tuần tra, chốt chặn và xử lý kịp thời mỗi khi có báo cháy. Nhờ đó, so với mùa khô năm trước, số vụ cháy và diện tích rừng bị cháy giảm đáng kể chỉ có 6 vụ cháy nhỏ, chủ yếu cháy thảm thực bì.
Ông Nguyễn Xuân Viết, Trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng của công ty phấn khởi: Hiện nay, toàn bộ lâm phần do đơn vị quản lý, cây đã xanh trở lại. Nhờ những cơn mưa tiểu mãn nên sức nóng ở Bác Ái đã giảm đáng kể, cấp độ dự báo cháy rừng đã giảm xuống thấp, chỉ còn ở cấp 2, cấp trung bình. Dù vậy, đơn vị không lơ là trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng bởi giờ vẫn đang là mùa khô, khả năng xảy ra cháy không thể lường trước. (Đảng Cộng Sản VN 9/6) đầu trang(
Để chủ động đối phó với nguy cơ cháy rừng cao do thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài, huyện Diễn Châu đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt.
Trong đó Hạt Kiểm lâm Diễn Châu đã cử 9 cán bộ về  tại địa bàn 9 xã có rừng, trực tiếp tuần tra, canh gác, tuyên truyền tận 736 chủ rừng trong công tác phòng chống cháy rừng, đồng thời tổ chức họp dân tại 79 xóm có rừng, tiến hành ký cam kết cũng như hướng dẫn cách phòng chống cháy rừng, nâng cao ý thức chủ động phòng cháy cho nhân dân.
Bên cạnh đó, UBND huyện cũng đã hỗ trợ cho 9 xã có rừng, mỗi xã từ 4-10 triệu đồng để tiến hành bổ sung những phương tiện chống cháy bị hỏng và xây dựng các biển cảnh bảo. Với nhiều giải pháp được triển khai hiệu quả nên đến thời điểm này gần 7000 héc ta rừng ở Diễn Châu vẫn được bảo vệ an toàn, không có vụ cháy nào xảy ra từ đầu mùa nắng đến nay. (Dienchau.gov.vn 5/6) đầu trang(
Nhiều cánh rừng Đắk Nông bị “băm nát” để... đào vàng
Hàng chục ha rừng nguyên sinh dọc theo bờ suối thuộc tiểu khu 1716 và 1712 do Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha, huyện Đắk Glong (Đắk Nông) quản lý đã bị “vàng tặc” đốn hạ ngổn ngang. Bất chấp sự can thiệp của lực lượng chức năng, nạn khai thác vàng trái phép ở đây đã và đang diễn ra ngày một nghiêm trọng…
Dọc theo tuyến tỉnh lộ 4 từ trung tâm thị xã Gia Nghĩa khoảng 30km, xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong nằm lọt thỏm giữa đồi núi bao quanh. Ông Đoàn Nhị Hà, Phó trưởng Công an xã, dẫn đường cho chúng tôi cho biết, hiện trên địa bàn có tới hàng chục tụ điểm với nhiều điểm khai thác vàng trái phép đã tồn tại nhiều năm nay, gây nên những điểm nóng về an ninh trật tự rất khó kiểm soát.
Có mặt tại một tụ điểm khai thác vàng trái phép thuộc tiểu khu 1716, trước mặt nhóm PV là hơn 10 lán trại kiên cố đã được dựng lên, hàng trăm con người đang thi nhau hì hục đào bới. Những cái hố sâu cả chục mét nối tiếp nhau, kéo dài hàng trăm mét. Hai bên bờ của dòng suối, những thân cây gỗ có đường kính hơn 1m bị đốn hạ ngổn ngang.
Theo tìm hiểu được biết, tại đây đã có gần 10 đầu nậu chia lô, quản lý và khai thác vàng trái phép. Một số đầu nậu có vốn dùng cả máy đào để khai thác. Tất cả từ đất, đá, cát… được máy xúc đưa lên giàn đãi sàng lọc, sau đó được người làm thủ công dùng sàng lắng để chia tách vàng cám. Với những chủ ít vốn thì chỉ cần vài cái máy nổ, một giàn đãi vàng cùng dăm nhân công là có thể kiếm được vài chỉ mỗi ngày. Tất cả hoạt động như một đại công trường, tạo nên dòng nước đục ngàu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tiếp cận với anh N.T.L. (19 tuổi, trú tại phường Nghĩa Đức, thị xã Gia Nghĩa) được biết, nhóm bạn của L. khoảng 5 người đang làm cho ông chủ Đạt (trú tại huyện Đắk Song). Trung bình mỗi ngày, nhóm của L. đãi được khoảng 2 chỉ vàng. Ngoài tiền ăn uống, sinh hoạt, mỗi người được ông chủ trả 70.000 đồng/ngày. Cách hầm của ông Đạt vài chục mét là đại công trường của ông Sáng - một đầu nậu đến từ huyện Đắk Mil. Khác với các chủ trong bãi vàng, ông Sáng đầu tư hẳn cả một dàn máy móc hiện đại, như: xe ủi, máy đào, giàn sàng… nhằm giảm bớt nhân công và khai thác hiệu quả hơn.
Anh Nguyễn Văn Liền (trú tại Quảng Nam) được ông Sáng thuê nấu ăn cho các thợ đãi vàng cho biết: "Mỗi ngày ông chủ thu cả chục chỉ vàng nhưng chúng em đã 3 tháng nay chưa được trả đồng lương nào, ăn uống thì khổ cực. Dù ở gần thị xã nhưng chẳng mấy khi được ra ngoài bởi vì ông chủ không cho phép".
Ông Lê Tuấn Khang, Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha cho biết: "Cả 3 tụ điểm khai thác vàng trái phép đều nằm trên đất quản lý của Xí nghiệp. Tuy nhiên, mỗi lần chúng tôi cử cán bộ xuống ngăn cản không cho khai thác vàng thì lập tức các chủ bãi lại cho "đàn em" tới dằn mặt nên chúng tôi đành "bất lực" trước tình trạng khai thác vàng trái phép trong nhiều năm qua".
Ông Khang cho biết thêm, các đối tượng khai thác vàng rất manh động, trong khi đó lực lượng quản lý bảo vệ rừng lại quá mỏng. Mới đây, khi 2 cán bộ bảo vệ rừng của Xí nghiệp đang đi tuần tra gần khu vực khai thác vàng trái phép thì bị hơn 10 đối tượng bịt mặt trấn áp, dùng dao chém. Rất may, các anh đã kịp chạy thoát thân.
Theo một số hộ dân sống gần đây, tình trạng khai thác vàng trái phép trên địa bàn xã Đắk Ha đã diễn ra hơn 10 năm nay, nhưng do sự buông lỏng quản lý của chính quyền địa phương và trước sức hút của lợi nhuận nên ban đầu chỉ vài chục người, vào thời cao điểm có lúc lên đến cả trăm người. Những người tham gia khai thác vàng đa phần là dân nhập cư từ các tỉnh khác đến nên rất khó kiểm soát. Do bị đào bới tứ tung và thành những hầm sâu từ 10 - 20m để lấy đất chứa vàng, sau đó đưa ra suối đãi nên hàng chục hécta rừng phòng hộ của Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha đã bị hủy hoại.
Đó là chưa kể việc chặt phá cây rừng để làm lều trại, đun nấu... đã khiến cho rừng phòng hộ bị tàn phá, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ngoài ra, tình trạng mất an ninh chính trị và trật tự xã hội vùng nông thôn ở khu vực này cũng đang ở mức báo động.
Việc khai thác vàng trái phép đã làm cho nguồn tài nguyên quý hiếm của đất nước bị tổn thất. Bên cạnh đó, khu rừng đặc dụng cũng đang bị đe dọa xâm hại nghiêm trọng…; còn công tác kiểm tra, xử lý thì chính quyền địa phương lại thả nổi khiến nguồn tài nguyên của Nhà nước đang bị mất dần, trong khi các đầu nậu đang mặc sức tung hoành. Thiết nghĩ, cơ quan chức năng địa phương cần có biện pháp kiên quyết hơn nữa trong việc xử lý các đầu nậu đào vàng trái phép ở đây.
Ông Đàm Quang Trung, Chủ tịch UBND huyện Đắk Glong cho biết, UBND huyện đã có văn bản chỉ đạo Công an, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác vàng trái phép tại các địa điểm trên.
Tuy nhiên, theo một cán bộ thường xuyên tham gia đoàn kiểm tra, nhiều khả năng "vàng tặc" đã được bảo kê. Bằng chứng là mỗi lần truy quét, lần nào đoàn kiểm tra ra quân, các ông chủ bãi vàng đều biết trước nên đã kịp thời tẩu tán phương tiện, máy móc vào rừng. Sau khi đoàn kiểm tra rút, hoạt động khai thác vàng lại được tái lập. Thậm chí, có lần đoàn kiểm tra chưa vào tận nơi thì một số thành viên trong đoàn nhận được điện thoại xin "đừng truy quét"...(Đời Sống & Pháp Luật 9/6) đầu trang(
Nam Đàn, Nghệ An: Đoàn xã Kim Liên ra quân phòng chống chữa cháy rừng
Sáng 8/6, Đoàn xã Kim Liên (huyện Nam Đàn) phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ, ban công an xã cùng Ban quản lý rừng phòng hộ núi Chung tổ chức lễ ra quân phòng chống cháy rừng năm 2014 với sự tham gia của hơn 80 người.
Các lực lượng đã phát quang, làm mới hơn 4 km đường băng cản lửa; xử lý 40 ha thực bì, quét dọn và thu gom vật liệu dễ cháy ra khỏi rừng. Đây là hoạt động tổ chức hàng năm nhằm phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện cũng như truyên truyền, nâng cao ý thức của đoàn viên thanh niên trong việc phòng chống cháy rừng, bảo vệ và chăm sóc; đặc biệt là nhằm ngăn chặn sự lây lan của các vụ cháy, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra. (Báo Nghệ An 9/6) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng giao Cty TNHH MTV lâm nghiệp Tam Hiệp lập thủ tục đầu tư, hoàn thành việc xây dựng trạm quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực giáp ranh giữa huyện Di Linh (Lâm Đồng) và Bắc Bình (Bình Thuận) trong năm 2014. (Thanh Niên 8/6) đầu trang(
8/6, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng đã thả một con voọc chà vá chân nâu, động vật hoang dã nằm trong Sách đỏ được bảo vệ nghiêm ngặt về Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Trước đó, con voọc chà vá này đi lạc vào khu du lịch Bãi Bụt (Sơn Trà) và được Cty CP du lịch Hải Duy bàn giao cho kiểm lâm. Voọc bị suy nhược, hoảng loạn do lạc bầy dài ngày nên lực lượng kiểm lâm đã chăm sóc, kiểm tra sức khỏe và sau đó mới thả về rừng. (Thanh Niên 9/6) đầu trang(
Ông Trần Văn Mùi, GĐ Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai cho biết vừa phát hiện một loại cây dây leo Mộc Tuyền ra quả tại khu vực gần bia tưởng niệm ditichs lịch sử TƯ cục miền Nam tại xã Mã Đà, H.Vĩnh Cửu.
Loại cây leo này không có lá, quả có gai nhọn đều, khi chin màu vàng và gần giống sầu riêng, ăn được.
Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai đã cử nhân viên theo dõi sát sao quá trình ra quả của cây dây leo, đồng thời phối hợp với các nhà khoa học để nghiên cứu tính năng loại quả này. (Sài Gòn Giải Phóng 9/6) đầu trang(
Mô hình “Tổ đội quần chúng bảo vệ rừng cấp thôn, bản” ở bản Nậm Khuyết, xã Chà Cang, huyện Nậm Pồ được coi là điểm sáng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Sau hơn một năm thực hiện, mô hình đã mang lại hiệu quả cao, vốn rừng ngày càng phát triển cả về diện tích lẫn chất lượng.
Bản Nậm Khuyết (xã Chà Cang, huyện Nậm Pồ) có 80 hộ dân sinh sống, chủ yếu là dân tộc Thái. Hầu hết người dân sống phụ thuộc vào sản xuất trên nương. Bản Nậm Khuyết có tổng diện tích rừng gần 3.000ha (gồm rừng đặc dụng và rừng cộng đồng), để bảo vệ rừng, bản đã thống nhất thành lập "Tổ đội quần chúng bảo vệ rừng cấp thôn, bản".      Mô hình này bao gồm: trưởng bản, lực lượng an ninh và trưởng các đoàn thể trong bản chịu trách nhiệm tuyên truyền, vận động toàn bộ người dân trong bản bảo vệ rừng, cấm chặt phá rừng.
Theo đó, những người trong tổ luân phiên nhau đi tuần tra, không cho người lạ vào rừng khai thác, săn bắn trên diện tích rừng được bảo vệ; về mùa khô hanh chủ động các phương án trực phòng cháy rừng, khoanh vùng những nơi có nguy cơ cháy cao rồi tham mưu với UBND xã, kiểm lâm địa bàn xây dựng các phương án chống cháy rừng. Những ngày thời tiết khô hanh có nguy cơ cháy rừng cao, tổ thực hiện canh gác, ngăn chặn việc người dân đốt rừng làm nương, nghiêm cấm những người không có nhiệm vụ tự ý vào rừng.
Ông Lèng Văn Ven, Trưởng bản Nậm Khuyết, Tổ trưởng tổ đội quần chúng bảo vệ rừng cấp thôn, bản cho biết: Chúng tôi quy định, người trong bản đi vào rừng hái lượm cần phải thông báo cho người trong tổ biết, tránh tình trạng không thông báo khi người trong tổ đi kiểm tra phát hiện sẽ bị phạt tiền. Số tiền đó sẽ được sung vào quỹ phát triển và bảo vệ rừng của bản. Người trong bản chỉ được lấy gỗ ở rừng cộng đồng khi có nhu cầu làm nhà với điều kiện phải được nhân dân trong bản, chính quyền đồng ý.
Rừng cộng đồng không chỉ giúp cho người dân có gỗ làm nhà mà còn cung cấp măng, củi, nơi chăn thả gia súc, giữ nguồn nước... Cũng theo ông Ven, quy ước của bản quy định người dân chỉ khai thác đủ để làm nhà cho mình và không được khai phá làm nương.      Nhờ thực hiện tốt mô hình này, trong thời gian qua đã giúp người dân làm chủ những cánh rừng nơi mình sinh sống; phát huy được vai trò của nhân dân trong công tác bảo vệ rừng; việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép không còn xảy ra; trong năm 2013 trên địa bàn xã cũng không xảy ra cháy rừng; vốn rừng ngày càng phát triển cả về diện tích và chất lượng.
Ông Trần Văn Long, Phó chủ tịch UBND xã Chà Cang cho biết: Việc giao rừng cộng đồng là việc làm rất có ý nghĩa. Bởi, nó giúp cho người dân có trách nhiệm chủ động trong công tác bảo vệ, quản lý rừng ngay tại nơi cư trú, cũng như khai thác nguồn lợi từ rừng theo quy định để tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
Để công tác bảo vệ rừng thực hiện có hiệu quả hơn, trong thời gian tới, bên cạnh việc sớm ban hành sửa đổi các quy định về chế độ hưởng lợi từ rừng cho các đối tượng bảo vệ rừng thì các ngành chức năng và địa phương cần nhanh chóng thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân tham gia bảo vệ rừng. Trên cơ sở thực tiễn và những kết quả bước đầu trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở bản Nậm Khuyết có thể khẳng định việc quản lý rừng dựa vào cộng đồng và bảo vệ rừng bằng hương ước đã mang lại hiệu quả thiết thực. (Đài PTTH Điện Biên 8/6) đầu trang(
Ngày 8-6, TS Võ Văn Quang - Viện Hải dương học - xác định cá mập ở Hoàng Sa mà ngư dân P.Ninh Thủy, thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa) khai thác được là loài cá nhám thu và cá nhám búa.
Đây là hai loài không có trong sách đỏ VN 2007, không nằm trong danh mục 21 loài thủy sản bị cấm khai thác.
Theo PGS.TS Võ Sĩ Tuấn - giám đốc Viện Hải dương học, cá mập có rất nhiều loài. Trong đó có một số ít là các loài nguy cấp cần bảo vệ, cấm và hạn chế khai thác ở một số nước. (Tuổi Trẻ 9/6) đầu trang(
Ngày 6-6, UBND huyện Phú Quý (Bình Thuận) cho biết, các cơ quan chức năng của huyện vừa tiến hành thả 17 con rùa biển về với môi trường tự nhiên.
Trước đó, vào ngày 20-5, khi kiểm tra tại khu nuôi trồng thủy sản Lạch Dù, thuộc địa bàn xã Tam Thanh (huyện Phú Quý), tổ kiểm tra liên ngành các hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của huyện đã phát hiện tại cơ sở của bà Trương Thị Vinh (trú thôn Quý Hải, xã Long Hải) có 18 con rùa biển quý hiếm, nằm trong danh mục cấm nuôi.
Trong đó, con nhỏ nhất dài 30cm, rộng 24cm, nặng 2,2 kg; con lớn nhất dài 77cm, rộng 55cm và nặng 40kg. Tuy nhiên, vì bị nhốt lâu trong môi trường lồng bè, con rùa lớn nhất nặng 40 kg đã chết. Tổ kiểm tra liên ngành đã lập biên bản thu giữ, đồng thời kiến nghị UBND huyện ra quyết định thả số rùa biển này về tự nhiên.
Cùng với đó, cơ quan chức năng huyện Phú Quý cũng đã xử phạt bà Trương Thị Vinh 40 triệu đồng vì nuôi nhốt động vật quý hiếm trái phép. (Nhân Dân 7/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Thảo luận tại Hội trường về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2015 vào chiều 9/6, đa số đại biểu Quốc hội đề xuất Quốc hội nên chọn giám sát chuyên đề 3 về thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004-2014.
Các đại biểu cho rằng, việc quản lý đất nông lâm trường thời gian qua thiếu chặt chẽ dẫn tới tranh chấp, lấn chiếm đất đai ở địa phương. Việc thực hiện đổi mới và sắp xếp đất nông, lâm trường chưa đạt yêu cầu, nhiều địa phương chưa thực hiện được. Theo các đại biểu, qua giám sát Quốc hội ban hành Nghị quyết, đề ra các giải pháp quản lý tốt hơn việc chuyển đổi đất nông, lâm trường hoặc sắp xếp giao đất nông trường cho địa phương quản lý, giao đất cho nông dân, tạo thêm quỹ đất sản xuất.
Đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Bình Phước) khẳng định, việc giám sát sử dụng đất đai nông lâm trường quốc doanh là vô cùng quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Theo đại biểu, đây là một trong những vấn đề lớn đã đặt ra trong quản lý tài nguyên đất đai trong thời gian vừa qua. Đây cũng là nơi khởi đầu của nhiều vụ khiếu kiện, khiếu nại trong thời gian vừa qua, cần có sự giám sát để tìm ra được các giải pháp tích cực về chính sách khắc phục trong thời gian tới.
Lý giải việc chọn chuyên đề giám sát đất nông, lâm trường, đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) cho rằng, qua thực tế khảo sát và giám sát việc thực thi chính sách pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005-2013 đại biểu được biết ở nhiều nơi đồng bào được cấp đất, nhưng cấp chồng lấn trên đất của nông trường, lâm trường nên họ không vào làm được. Có nơi trong lúc dân thiếu đất sản xuất, đất ở thì cũng ở nơi đó diện tích đất những nông trường, lâm trường không sử dụng hết còn bỏ hoang hóa.
Đại biểu Nguyễn Thị Khá đề nghị, chuyên đề này nên mở rộng giám sát thêm trong số đất được cấp cho hộ nghèo vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì hộ nghèo khai thác sử dụng được đạt hiệu quả bao nhiêu phần trăm.  Bởi lẽ thực tế, “Tuy họ đã được cấp đất nhưng không có điều kiện sử dụng, khai thác như chồng lấn, xa nhà, chủ cũ không trả, người nơi khác đến mua thu gom, việc này hiện nay đang còn bỏ ngỏ, không ai nắm được” – đại biểu nói.
Đại biểu Danh Út (Kiên Giang) đề xuất Quốc hội giám sát chuyên đề 3. Theo đại biểu, việc quản lý sử dụng đất đai hiện còn nhiều tồn tại. Cả nước có 303 tổ chức, công ty, Ban quản lý rừng với 3,8 triệu ha nhưng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được khoảng 2 triệu ha, đạt 52,8% trong khi tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả nước đạt trên 94%. Đặc biệt, diện tích đất nông lâm trường chưa sử dụng còn nhiều với 315 ngàn ha. Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai tại các nông lâm trường diễn ra khá phổ biến. Không  chỉ ở nông lâm trường mà ở các tập đoàn các tổng công ty, khu công nghiệp cũng có tình trạng quản lý đất kém hiệu quả.
“Việc giám sát nội dung này giúp Quốc hội đưa ra những quyết định quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, quản lý đất đai chặt chẽ hơn khắc phục lãng phí trong quản lý sử dụng đất đai nhất là tại các nông lâm trường. Đồng thời, tạo quỹ đất giúp cho hộ gia đình còn thiếu và không đất ở, đất sản xuất nhất là đồng bào dân tộc thiểu số” – đại biểu Danh Út khẳng định.
Hiện tại còn hơn 326 ngàn hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có quỹ đất, rất cần đất để an cư và sản xuất, hạn chế di cư tự do.
Đại biểu Trần Du Lịch (TP.HCM) cho rằng, chuyên đề về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh hết sức bức xúc, gắn liền với việc tái cấu trúc nền nông nghiệp.
Đại biểu kiến nghị, việc giám sát này có thể giao cho Hội đồng dân tộc, Ủy ban các vấn đề xã hội và Ủy ban kinh tế. Tùy theo mục đích cụ thể mà Quốc hội giao cho một cơ quan chủ trì. “Chúng ta giám sát để đề xuất hướng sử dụng có hiệu quả nhất, tốt nhất cho nông trường viên, cho quỹ đất và cho phát triển của nền nông nghiệp” – đại biểu Trần Du Lịch nói. (Tin Tức 10/6; Tài Nguyên & Môi Trường 9/6) đầu trang(
Hơn 1 tháng nay, các DN xuất khẩu (XK) dăm gỗ ở cảng Nghi Sơn (Thanh Hóa) đang tạm dừng hoạt động XK do giá thấp.
Theo Đội thủ tục Hải quan cảng Nghi Sơn (Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Thanh Hóa, Cục Hải quan Thanh Hóa), khoảng từ đầu tháng 5-2014 đến nay, các DN có hoạt động XK dăm gỗ (một trong những mặt hàng XK chủ yếu qua cảng Nghi Sơn) đang tạm dừng hoạt động XK.
Lí do khiến các DN tạm hoạt động XK do giá mua từ thị trường Trung Quốc thấp. Trước đây, vào lúc cao điểm, giá dăm gỗ XK có thể đến 155 USD/tấn, và giá trung bình giao động trên dưới 150 USD/tấn. Tuy nhiên, hiện nay mức giá rơi xuống chỉ còn 138 USD/tấn, với mức giá này các DN không có lãi nên phải tạm dừng XK.
Theo Đội thủ tục Hải quan cảng Nghi Sơn, tại địa bàn có khoảng 6- 7 DN có hoạt động XK dăm gỗ, vào thời gian hoạt động bình thường trước đây, trung bình mỗi tháng có từ 70.000 đến 80.000 tấn dăm gỗ XK qua cảng Nghi Sơn. (Thời Báo Kinh Doanh 10/6; Hải Quan 9/6) đầu trang(
9/6, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị long trọng tổ chức kỷ niệm 40 năm thành lập (10/6/1974- 10/6/2004) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.
Ông Khổng Trung, PGĐ Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị cho biết, cùng với sự hình thành của lực lượng Kiểm lâm cả nước, tháng 6/1974 Hạt Kiểm lâm khu vực Vĩnh Linh (Quảng Trị) chính thức được thành lập.
Cũng như kiểm lâm cả nước, kiểm lâm Quảng Trị trải qua nhiều lần sáp nhập và chuyển đổi về mặt tổ chức. Dù ở thời kỳ nào kiểm lâm Quảng Trị cũng luôn trưởng thành và phát triển vẻ vang.
Quảng Trị có hơn 236 ngàn ha rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 141 ngàn ha, rừng trồng hơn 95 ngàn ha. Với một diện tích rừng rộng lớn đòi hỏi lực lượng kiểm lâm phải làm việc cật lực, tuần tra, kiểm soát suốt ngày đêm mới có thể gìn giữ bình yên cho những cánh rừng xanh tươi, an toàn như hôm nay.
Được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở NN-PTNT, Chi cục Kiểm lâm hàng năm có nhiều đóng góp xứng đáng cho công tác QLBVR. Liên tục tham mưu xây dựng kế hoạch BVR giai đoạn 2011-2015; quy hoạch đầu tư các công trình BCR-PCCCR đến năm 2020, quy hoạch tổng thể các khu bảo tồn thiên nhiên giai đoạn 2012-2020, đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2008-2015; đề án tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng giai đoạn 2010-2015; đề án hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trồng rừng trên đất nương rẫy giai đoạn 2008-2015...
Ngoài ra, Kiểm lâm tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác PCCCR kịp thời. Kiện toàn BCHBVR, xây dựng phương án PCCCR với phương châm 4 tại chỗ và theo 3 cấp độ chữa cháy rừng (cháy nhỏ, cháy vừa, cháy lớn).
Quy định rõ biện pháp, trách nhiệm, huy động lực lượng của các cấp chủ rừng, xã, huyện, tỉnh tuỳ theo quy mô của đám cháy nhỏ, cháy vừa và cháy lớn...
Nhờ làm tốt công tác dự báo và chủ động triển khai thực hiện công tác PCCCR nên tình hình cháy rừng trên địa bàn ngày càng giảm cả về số vụ lẫn diện tích rừng bị thiệt hại (so với năm 2009 thì năm 2013 số vụ cháy giảm 08 vụ tương ứng giảm 61,5%, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 47,0 ha tương ứng giảm 93%).
Tham mưu cho UBND tỉnh thành lập BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá...
Với tinh thần quyết tâm không khoan nhượng, kiểm lâm Quảng Trị đã tổ chức thực hiện và phối hợp truy quét hàng trăm lượt người dân vi phạm pháp luật ở các khu vực trọng điểm phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Đã phát hiện và lập biên bản 2.505 vụ vi phạm, tịch thu hơn 5.000 m3 gỗ quy tròn các loại, 80 ster củi, hơn 6.200 kg động vật hoang dã, 10.070 kg dây hoàng đằng, 522 kg trầm xô, 2.500 kg hạt sa nhân. Tịch thu 39 máy cưa xăng, 2 xe ôtô, phá huỷ tại rừng 60 lán trại và 6.743 bẫy động vật hoang dã.
Tổng số tiền thu từ bán lâm sản tịch thu và xử phạt vi phạm hành chính trên 43,7 tỷ đồng. Tình hình vi phạm năm 2013 so với năm 2009 giảm 162 vụ tương ứng giảm 26,2%.
Bên cạnh đó việc quản lý chặt chẽ 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ, SX đã gắn kết chặt chẽ với công tác BVR, PCCCR, khai thác rừng một cách hiệu quả, có tính bền vững. Nhờ vậy chất lượng rừng đã ngày càng tăng lên cả về số lượng và giá trị.
Độ che phủ của rừng được nâng lên hàng năm, từ 20% năm 1990, lên 41,3% năm 2005 và 48% năm 2013, đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu Nghị quyết đại hội Tỉnh Đảng bộ Quảng Trị nhiệm kỳ 2010- 2015 đề ra.
Ghi nhận những cống hiến to lớn, 40 năm qua Đảng và Chính phủ đã dành nhiều phần thưởng cao quý cho tập thể, cá nhân Kiểm lâm Quảng Trị như cờ thi đua xuất sắc năm 2010, 2011. Bộ NN-PTNT, UBND tỉnh Quảng Trị cũng tặng nhiều bằng khen cho nhiều tập thể, cá nhân của đơn vị. Nhiều năm liền Kiểm lâm Quảng Trị thuộc tốp dẫn đầu về thi đua.
Năm 2010 và 2011, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho 2 Hạt Kiểm lâm Hướng Hoá, Vĩnh Linh và 2 đồng chí là cán bộ lãnh đạo của Chi cục. Năm 2004, 2009 Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và hạng Nhì. (Nông Nghiệp VN + Thanh Niên 10/6) đầu trang(
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ, hiện nay BR-VT có hơn 10.000ha rừng phòng hộ với 3 loại rừng: Rừng phòng hộ đầu nguồn có diện tích 4.300ha, rừng phòng hộ chắn cát 1.200ha và rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có diện tích 5.000ha.
Từ năm 2008 đến nay, BR-VT trồng được 5.000ha rừng tập trung và gần 10.000ha rừng được khoanh nuôi tái sinh; tỷ lệ che phủ cây xanh đạt đạt 44%, tỷ lệ che phủ rừng đạt 113%. Diện tích rừng trồng đã phát huy tác dụng trong việc chống xói mòn, cải thiện môi trường sinh thái... bảo tồn được nhiều giống cây quý đặc trưng của tỉnh như dẻ Núi Dinh, cẩm lai Bà Rịa, dầu Long Sơn, sến...
Theo đánh giá của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ, chất lượng rừng trồng phòng hộ trên địa bàn tỉnh chưa bảo đảm tác dụng lâu dài. Nhiều nơi tỷ lệ sinh trưởng kém do địa hình khắc nghiệt. Để bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, UBND tỉnh đã phê duyệt dự án phát triển rừng.
Theo đó, dự án đã tăng tường công tác bảo vệ tài nguyên rừng, hạn chế các hình thức xâm hại rừng  như săn bắn, phá rừng làm rẫy, xây dựng đường sá và các công trình làm thay đổi cảnh quan của rừng... Ban quản lý rừng phòng hộ đã thành lập 24 tổ bảo vệ phòng chống cháy rừng ở các địa phương có rừng để phối hợp với lực lượng kiểm lâm khi có sự cố hoặc hành vi phá rừng xảy ra. (Báo BR-VT 10/6) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 5.481 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Bắc Giang.
Số gạo này dùng để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Lục Ngạn tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thay thế nương rẫy trong thời gian chưa tự túc được lương thực giai đoạn 2014 - 2018.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bắc Giang sử dụng số gạo được cấp nêu trên để hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng, tránh trùng lặp với các chính sách hỗ trợ lương thực khác trên địa bàn.
Bộ Tài chính thống nhất với tỉnh Bắc Giang số lượng gạo trợ cấp hàng năm theo nhu cầu thực tế, bảo đảm tổng số lượng gạo xuất cấp trong 5 năm không vượt quá tổng số lượng gạo cấp cho Đề án theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. (Nhân Dân + Quân Đội Nhân Dân + Nông Thôn Ngày Nay 9/6; Chính Phủ 7/6) đầu trang(
Sau hơn 10 năm thành lập, tỉnh Ðắk Nông đã cấp phép đầu tư cho 31 doanh nghiệp (DN) thực hiện dự án vào sản xuất nông - lâm nghiệp với tổng diện tích đất cho thuê hơn 22.000ha, số vốn đầu tư gần 1.600 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế cho thấy, các DN trồng rừng thì ít mà để mất rừng thì nhiều...
Trong tổng số hơn 22.000ha đất cho thuê, buộc các DN phải đầu tư vào trồng rừng và các loại cây công nghiệp như cao su, điều… là 10.264ha, số diện tích rừng còn lại hơn 11.661ha các DN phải khoanh nuôi làm giàu và quản lý bảo vệ (QLBV). Thế nhưng, theo kết quả kiểm tra của Bộ NN&PTNT vừa qua thì đến cuối tháng 4/2014, các DN chỉ mới trồng được hơn 3.686ha, trong đó 1.658ha rừng nguyên liệu và 2.027ha cao su và các loại cây công nghiệp khác (mới chỉ đạt 16,3% được giao), trong khi đó diện tích rừng tự nhiên được giao cho các DN quản lý đang bị chặt phá từng ngày.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng các DN “thả nổi” việc để mất rừng là do năng lực quản lý yếu kém và nguồn tài chính không đủ để thực hiện dự án. Điển hình như năm 2007, Công ty TNHH Ngọc Thạch được UBND tỉnh giao 451,9ha đất tại các Tiểu khu 1515, 1516 thuộc địa bàn xã Quảng Tân, huyện Tuy Đức để triển khai thực hiện dự án.
Theo quy định, công ty phải khoanh nuôi và làm giàu 124ha rừng nghèo kiệt, QLBV 249ha rừng tự nhiên, số diện tích còn lại trồng rừng và cao su. Tuy nhiên, sau hơn ba năm triển khai dự án, diện tích rừng được trồng mới thì chẳng thấy đâu nhưng hơn 100ha rừng tự nhiên do công ty quản lý đã bị “cạo trọc”. Tương tự, Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kiến Trúc Mới được giao gần 400ha tại các Tiểu khu 1526, 1528 và 1534 trên địa bàn xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức và đến nay hơn 80ha rừng tự nhiên giao công ty quản lý cũng đã bị “xóa sổ”…
Còn tại huyện Đắk Song, năm 2006, Công ty cổ phần Chế biến và Xuất khẩu Thăng Long được UBND tỉnh cho thuê 516ha tại Tiểu khu 1678 thuộc địa phận xã Trường Xuân, huyện Đắk Song để thực hiện dự án bảo vệ rừng và trồng rừng nguyên liệu. Do không có khả năng về tài chính để đầu tư, sau hơn 4 năm được giao đất, công ty vẫn chưa triển khai thực hiện được dự án. Không những vậy, công ty còn thả nổi việc QLBV rừng trong suốt thời gian dài khiến diện tích rừng đang bị người dân xâm hại và chặt phá nghiêm trọng…
Theo thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông cho thấy, toàn tỉnh có 31 DN đầu tư vào sản xuất nông - lâm nghiệp đã được UBND tỉnh giao đất nhưng trong số đó DN triển khai có hiệu quả chỉ đếm trên đầu ngón tay. Huyện Tuy Ðức là địa phương thu hút được nhiều DN đầu tư nhất với 18 dự án, nhưng đến nay mới có 5 dự án được triển khai thực hiện và kết quả chỉ mới trồng được 30ha rừng nguyên liệu và 363ha cao su. 13 dự án còn lại chưa được triển khai hoặc có triển khai nhưng không có hiệu quả.
Trong khi đó diện tích rừng bị phá lên đến 1.394ha. Huyện Ðắk Glong được coi là một trong những huyện triển khai các dự án trồng rừng tốt nhất tỉnh thì tới nay có 6 dự án đầu tư cũng chỉ có 4 dự án đã được triển khai thực hiện nhưng cũng chỉ mới trồng được 404ha rừng nguyên liệu và 72ha cao su, số dự án còn lại đang trong tình trạng “đắp chiếu”… và diện tích rừng được giao cho các DN quản lý  cũng bị chặt phá lên đến gần 150ha…
Cũng theo Sở NN&PTNT thì sau hơn 10 năm, 31 dự án giao đất, giao rừng cho các DN đã để mất gần 2.000ha rừng và 5.396ha để người dân xâm canh, tranh chấp với các DN. Tuy nhiên, đây chỉ là những diện tích rừng bị phá đã được các cơ quan chức năng phát hiện và thống kê được, còn diện tích rừng bị phá trên thực tế có thể lớn hơn nhiều vì nhiều DN không phát hiện được hoặc không thống kê hết diện tích rừng bị phá, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn “ém” bớt diện tích rừng bị phá, không báo cáo.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông cho biết: Theo Điều 17, Nghị định 99 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng đã nêu rõ: “Chủ rừng được Nhà nước giao rừng tự nhiên hoặc rừng trồng bằng vốn ngân sách, vốn viện trợ không hoàn lại để quản lý, bảo vệ và sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, nếu thiếu trách nhiệm để rừng bị phá trái pháp luật cũng bị xử phạt”.
Ngoài ra, trong Điều 2, Quyết định của tỉnh Đắk Nông cho các DN thuê đất cũng nhấn mạnh: “Sau thời hạn 18 tháng (kể từ ngày nhận bàn giao đất thực địa), nếu DN không sử dụng diện tích khu đất được thuê hoặc sử dụng không hết thì Nhà nước sẽ thu hồi lại toàn bộ diện tích đã cho thuê hoặc một phần chưa sử dụng”.
Có thể nói, các quy định, chế tài về xử lý vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng đã được nêu khá rõ. Vì vậy, việc “chủ rừng” để mất rừng cũng cần được các cơ quan chức năng sớm vào cuộc điều tra và xử lý nghiêm. Được biết, hiện nay rừng tại các dự án giao cho các DN đang là điểm “nóng” về tình trạng phá, lấn chiếm đất rừng trái phép. Ngoài việc xử lý rõ trách nhiệm của “chủ rừng”, nếu các ngành chức năng, địa phương không đẩy mạnh kiểm tra, cũng như tăng cường cán bộ bảo vệ thì nguy cơ rừng ở Đắk Nông chẳng bao lâu nữa sẽ bị xóa sổ.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây là sau khi tỉnh cho thuê, giao rừng cho các DN khoanh nuôi QLBV, nhưng các DN không đủ năng lực và buông lỏng công tác QLBV rừng, để mất rừng với diện tích lớn thì ai chịu trách nhiệm? Bởi thực tế trong những năm qua, đã có hàng loạt DN để mất rừng với diện tích lớn như nêu ở phần trên nhưng vẫn chưa có bất kỳ một DN hay một cá nhân nào chịu trách nhiệm hoặc bị xử lý trước pháp luật (?). (Công An Nhân Dân 9/6) đầu trang(
Hiện nay, các vườn ươm trên địa bàn huyện Bạch Thông đang tổ chức cấp cây giống cho người trồng rừng. Theo đánh giá của Hạt kiểm lâm huyện, khoảng 95% cây giống đảm bảo tiêu chuẩn xuất vườn cung ứng ra thị trường.
Thời gian qua các vườn ươm trên địa bàn huyện Bạch Thông đã tập trung chăm sóc để đảm bảo cây giống phát triển tốt. Hiện nay, các cây giống được xuất vườn cung ứng cho nông dân trồng rừng đều đạt tiêu chuẩn: Cây khỏe mạnh, chiều cao 20- 35 cm, riêng cây mơ phát triển 4- 6 lá.
Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Bạch Thông, đến thời điểm này huyện đã cấp hơn 3 triệu cây giống gồm mỡ, keo, trám, lát, xoan cho các xã để trồng rừng tập trung. Toàn huyện phấn đấu hoàn thành công tác trồng rừng trước ngày 30/6. (Đài PTTH Bắc Cạn 9/6) đầu trang(
Sáng 6/6, hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới, tại hồ Lọong Luông, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, Tỉnh đoàn Điện Biên phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổ chức lễ phát động trồng cây bảo vệ môi trường năm 2014.
Tham dự lễ phát động trồng cây có hơn 200 đoàn viên, thanh niên đến từ 6 đơn vị gồm: Đoàn Dân chính Đảng tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Tỉnh đoàn, Huyện đoàn Điện Biên, Chi nhánh Viettel Điện Biên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đoàn viên, thanh niên đã trồng hơn 2.000 cây xanh  quanh hồ Lọong Luông.
Đây là hoạt động ngoại khóa nhằm động viên, khuyến khích và nâng cao nhận thức của đoàn viên, thanh niên trong việc trồng cây xanh bảo vệ môi trường, thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế xã hội, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đoàn viên, thanh niên và nhân dân nói chung về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; vận động đoàn viên, thanh niên khi phát hiện các hành vi gây mất an toàn đến rừng phản ánh ngay với các cơ quan chức năng hoặc chính quyền địa phương để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
Đồng thời phát huy vai trò nòng cốt của đội thanh niên xung kích, tình nguyện viên trong hoạt động bảo vệ môi trường; bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa phương. (Báo Điện Biên Phủ 9/6) đầu trang(
Đến hết tháng 4/2014, toàn tỉnh trồng được 510/2.083 ha rừng, đạt 2,5% kế hoạch (KH), tiến độ triển khai đạt thấp so với KH đề ra. Để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, cấp ủy, chính quyền địa phương, Ban Quản lý Dự án Bảo vệ và phát triển rừng các huyện, thành phố cần triển khai đồng bộ các giải pháp.
Theo KH năm 2014, toàn tỉnh trồng mới 2.083 ha rừng. Trong đó, rừng phòng hộ 430 ha, rừng đặc dụng 50 ha, rừng sản xuất 1.603 ha, chăm sóc rừng trồng 642 ha, cải tạo rừng trồng 350 ha, trồng 1.000 cây phân tán. Đến hết tháng 4/2014, toàn tỉnh mới trồng được 510/2.083 ha rừng. Trong 510 ha rừng đã trồng có 42,3 ha rừng phòng hộ, 119,5 ha rừng sản xuất, 348,7 ha cây phân tán. Có 7/13 Ban Quản lý rừng phòng hộ, Ban Quản lý Dự án Bảo vệ và phát triển rừng các huyện, thành phố trồng được 158,8 ha rừng, đạt 12,6% KH.
Về 813 ha rừng sản xuất giao cho 6 đơn vị doanh nghiệp chỉ có 2 đơn vị mới triển khai thực hiện được 20 ha, đạt 2,5% KH, gồm: Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng trồng được 2/290 ha, đạt 0,68% KH; Doanh nghiệp Thắng Lợi trồng được 20/100 ha, đạt 5% KH. Các công ty, đơn vị khác như: Doanh nghiệp xây dựng Quang Minh, Công ty TNHH Kỹ nghệ Thương mại, HTX Đồng Tâm chưa triển khai được diện tích trồng rừng nào.
Nguyên nhân tiến độ trồng rừng cho đến thời điểm này đạt chậm do một số chủ đầu tư tập trung nghiệm thu khối lượng hoàn thành năm 2013; một số huyện do không có Ban quản lý rừng phòng hộ nên phải thành lập mới Ban quản lý dự án hoặc phải kiện toàn lại, công tác bàn giao giữa chủ đầu tư cũ sang chủ đầu tư mới còn chậm, ảnh hưởng đến việc tìm hiện trường (đất trồng rừng) thực hiện dự án lâm sinh. Công tác chuẩn bị giống chưa tốt; tại một số vườn ươm cây con chưa đủ tuổi xuất vườn; một số giống cây để phục vụ trồng rừng còn thiếu như: sa mộc, xoan hôi…
Ông Chu Lâm Phương, Quyền Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng cho biết: Từ năm 2010 đến nay, Công ty trồng được trên 300 ha rừng. Năm 2014, Công ty được giao trồng 90 ha mới rừng, cải tạo 200 ha rừng. Đến nay, đã trồng mới được 2 ha, cuốc hố trồng rừng 15 ha, xử lý thực bì hơn 4 ha trên địa bàn huyện Hòa An tại các xã: Bình Dương, Lê Chung, Ngũ Lão, Bạch Đằng, chủ yếu là trồng cây thông, mã vỹ. Bàn giao hiện trường các đối tác (người dân) nhận khoán 56,4/200 ha rừng cải tạo, đang vận động nhân dân triển khai trồng rừng trên đất trống được 140,7 ha rừng.
Nguyên nhân trồng rừng gặp khó là do địa hình chia cắt hiểm trở, giao thông khó khăn, diện tích đất rừng manh mún, không tập trung, đan xen nhiều loại rừng gây khó khăn cho công tác quản lý và triển khai các biện pháp lâm sinh. Đặc biệt một số người dân vẫn chưa nhận thức cao về ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như hiệu quả kinh tế từ rừng đem lại, vẫn chưa “mặn mà” với công tác trồng rừng. Nguồn nhân lực tại địa phương phục vụ cho công tác trồng rừng hạn chế.
Trong những năm qua, Công ty đã phải tìm nguồn nhân lực ngoài tỉnh để phục vụ cho công tác trồng rừng kịp thời vụ (mỗi năm doanh nghiệp phải bỏ ra hơn 1 tỷ đồng tiền nhân công chi trả cho việc trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng). Mặt khác, ý thức bảo vệ rừng trồng của một số người dân chưa cao, còn hiện tượng để thả rông trâu, bò phá hoại. Riêng năm 2013, Công ty hợp đồng với dân trồng rừng mới 135 ha nhưng khi nghiệm thu mới được 60 ha, đạt 45% KH.
Để thực hiện công tác trồng rừng đạt hiệu quả, ngoài cơ chế chính sách của nhà nước, người trồng rừng phải thực sự đam mê và có tiềm lực về vốn. Hiện nay, kinh phí hỗ trợ để trồng rừng còn thấp, bình quân được hỗ trợ 3 triệu đồng/ha gồm hỗ trợ giống, phân bón, tư vấn thiết kế, không có hỗ trợ công lao động trồng rừng. Riêng rừng sản xuất, Nhà nước chỉ hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân một phần phân bón, cây giống từ 2,2 - 3 triệu đồng/ha đối với các xã vùng III đặc biệt khó khăn và xã vùng II, còn lại công lao động (trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ) doanh nghiệp và người dân tự bỏ ra.
Mặt khác, công tác thiết kế và thẩm định thiết kế trồng rừng chưa kịp thời nên ảnh hưởng đến việc triển khai trồng rừng. Một số Ban quản lý dự án triển khai công tác chuẩn bị hiện trường thực hiện dự án lâm sinh còn phụ thuộc vào người dân. Một số địa phương chưa thật sự quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng.
Ông Hoàng Trung Sơn, Chi Cục phó Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho rằng, chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hằng năm tỉnh đều hoàn thành kế hoạch giao vì trồng mỗi ha loại rừng này được nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng trong vòng 4 năm. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ của tỉnh cho công tác trồng rừng sản xuất chỉ 2 - 3 triệu đồng/ha là tương đối thấp nên chưa khuyến khích được nhà đầu tư tham gia.
Cụ thể, để trồng 1 ha rừng sản xuất, ngoài hỗ trợ của nhà nước, doanh nghiệp năm đầu tiên đầu tư thêm 5 - 7 triệu đồng trả công lao động. Sau đó vẫn phải thuê nhân công chăm sóc, bảo vệ. Trong khi đó, để có thu nhập từ trồng rừng cũng ít nhất từ 9 - 10 năm.
Do vậy, tỉnh nên có cơ chế chính sách hỗ trợ riêng (như Bắc Kạn đã trích ngân sách địa phương hỗ trợ 1 triệu đồng/ha trong 2 năm đầu) để tạo điều kiện, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng. Đồng thời, hằng năm tỉnh cần giao chỉ tiêu trồng rừng cụ thể cho các địa phương để gắn trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương với công tác trồng rừng. (Báo Cao Bằng 8/6) đầu trang(
Bạn đọc Báo Tây Ninh tại xã Phước Vinh, huyện Châu Thành phản ánh, vào đầu tháng 1.2014, qua công tác kiểm tra, Hạt Kiểm lâm liên huyện Châu Thành - Bến Cầu phát hiện hơn 3 ha đất quy hoạch trồng rừng tại khoảnh 2 tiểu khu 67, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành đã bị cày phá để trồng mì.
Qua xác minh, Thanh tra huyện Châu Thành xác định Đảng uỷ, UBND xã Phước Vinh có chủ trương cho ông Nguyễn Thành Trung thuê diện tích đất trên để trồng mì.
Theo hồ sơ, vào năm 2004, ông Mai Xuân Thanh có mượn đất rừng sản xuất, do UBND xã Phước Vinh quản lý, để trồng cây lâm nghiệp (cây keo lai) với diện tích là 5 ha và được ông Hà Văn Sương- Chủ tịch UBND xã (cũ) ký đồng ý. Đến năm 2010, thực hiện chủ trương trồng rừng sản xuất, ngày 17.2.2011, UBND xã Phước Vinh mời bà Nguyễn Thị Sự (vợ ông Thanh) đến làm việc và thu hồi lại diện tích đất trên, nhưng bà Sự lấy lý do cây chưa đến tuổi khai thác nên xin gia hạn đến khi cây đủ tuổi khai thác, sau khi thu hoạch cây keo xong bà sẽ giao đất lại cho UBND xã Phước Vinh quản lý.
Trước đó, ngày 3.6.2010, ông Đỗ Trọng Dân- Chủ tịch UBND xã Phước Vinh đương nhiệm đã ký hợp đồng trồng rừng sản xuất với Ban quản lý dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất huyện Châu Thành (gọi tắt là Ban quản lý dự án huyện), với diện tích là 38.597m2, số tiền được nhận hỗ trợ là 11.597.000 đồng. Đến năm 2012, bà Nguyễn Thị Sự đã khai thác cây trồng và giao trả lại đất cho UBND xã Phước Vinh quản lý. Thế nhưng UBND xã Phước Vinh vẫn không thực hiện trồng rừng theo hợp đồng với Ban quản lý dự án huyện Châu Thành. Qua kiểm tra vào ngày 9.1.2014, Hạt Kiểm lâm phát hiện diện tích đất trên đã được san ủi toàn bộ cây tái sinh.
Hạt Kiểm lâm liên huyện Châu Thành - Bến Cầu cho rằng việc ông Đỗ Trọng Dân tự ý dùng xe cơ giới móc gốc cây cũ, san ủi toàn bộ cây tái sinh không thông qua UBND huyện Châu Thành (chủ dự án) và Ban quản lý dự án huyện là hành vi huỷ rừng tái sinh, vi phạm quy định pháp luật.
Thanh tra huyện Châu Thành đã thành lập đoàn thanh tra tiến hành thanh tra UBND xã Phước Vinh về vấn đề san ủi 3,85 ha rừng tái sinh để trồng cây nông nghiệp ngắn ngày. Ngày 24.4.2014, Thanh tra huyện có Kết luận số 02/KL–Ttr  về vụ việc trên. Qua đó, đối với chủ trương của UBND xã Phước Vinh thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Sự đang trồng cây lâm nghiệp, trả đất lại cho xã với lý do đất do xã quản lý là sai thẩm quyền. Nhưng theo Thanh tra, đây là việc làm hợp lý, bởi vì năm 2004 UBND xã Phước Vinh ký xác nhận vào giấy mượn đất, nay chính UBND xã Phước Vinh phải đòi lại để xoá bỏ “chủ trương công nhận việc mượn đất”.
Đối với hợp đồng trồng rừng giữa Ban quản lý dự án huyện Châu Thành với UBND xã Phước Vinh vào ngày 3.6.2010, Ban quản lý cũng biết việc ký hợp đồng với ông Đỗ Trọng Dân là không đúng đối tượng, nhưng do xã xuất trình biên bản làm việc với bà Sự buộc khai thác cây lâm nghiệp trên đất, giao lại đất cho xã quản lý, nên Ban quản lý mới ký hợp đồng trồng rừng với ông Dân. Đến năm 2011 Ban quản lý mới chi 11.579.000 đồng hỗ trợ trồng rừng, sau đó xã có đưa vào sổ theo dõi riêng, không có nhập vào quỹ ngân sách xã. Còn việc lập biên bản nghiệm thu trồng rừng đạt số lượng cây và số cây sống đạt trên 85% là chỉ hợp thức hoá hồ sơ quyết toán.
Còn ông Đỗ Trọng Dân cho rằng, việc để ông đứng tên trong hợp đồng trồng rừng chỉ là đại diện cho tập thể UBND xã, chứ không phải với tư cách cá nhân, nên ông giao cho nhân viên đến Ban quản lý nhận tiền về và giao lại cho thủ quỹ xã giữ. Tuy nhiên thực tế, thời điểm xã ký hợp đồng trồng rừng với Ban quản lý dự án (vào tháng 6.2010) thì cây trồng của ông Thanh vẫn còn trên đất. Đến năm 2012 ông Thanh mới tiến hành thu hoạch cây lâm nghiệp trồng trên diện tích này.
Trong khi đó, vào ngày 27.5.2011, biên bản nghiệm thu hợp đồng trồng rừng được lập và các bên đã ký xác nhận là ông Dân trồng cây keo lai trên diện tích này đúng theo thiết kế (?). Do đó, Thanh tra kết luận hợp đồng trồng rừng là hợp đồng khống; biên bản nghiệm thu cũng được lập khống để hợp thức hoá việc chi tiền và quyết toán ngân sách Nhà nước.
Riêng việc UBND xã Phước Vinh móc gốc cây đang tái sinh để trồng mì trên diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp, Thanh tra cho rằng không đủ cơ sở kết luận UBND xã Phước Vinh cày phá rừng tái sinh. Tuy nhiên việc Đảng uỷ xã Phước Vinh họp thường trực ba bên (Đảng uỷ, HĐND xã và UBND xã, MTTQ xã) cho chủ trương giao UBND xã làm hợp đồng cho ông Nguyễn Thành Trung thuê đất lâm nghiệp là sai quy định. UBND xã Phước Vinh cày đất để trồng mì mà không trồng cây lâm nghiệp trên đất lâm nghiệp là sai quy hoạch sử dụng đất của dự án.
Việc UBND xã Phước Vinh và Ban quản lý dự án huyện Châu Thành lập hợp đồng trồng rừng khống, biên bản nghiệm thu khống để lấy tiền hỗ trợ trồng rừng là vi phạm pháp luật. Lãnh đạo xã Phước Vinh cũng nắm rõ quy hoạch sử dụng đất tại địa phương, nhưng vẫn chủ trương cho cá nhân thuê đất lâm nghiệp để trồng mì sai quy định.
Thế nhưng Thanh tra huyện Châu Thành chỉ kiến nghị UBND huyện xử lý kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với ông Đỗ Trọng Dân- Chủ tịch UBND xã Phước Vinh  với những hành vi sai trái như đã nêu, và kiểm điểm các cá nhân ký tên trong biên bản nghiệm thu trồng rừng ngày 27.5.2011 vì nghiệm thu khống. Đồng thời kiểm điểm tinh thần trách nhiệm đối với  lãnh đạo Ban quản lý dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất huyện Châu Thành, gồm  ông Phạm Văn Liệu- Trưởng ban,  ông Nguyễn Chí Cường- Phó ban vì có sai sót trong việc quản lý, giám sát, kiểm tra, tổ chức thực hiện dự án.
Riêng đối với số tiền hỗ trợ trồng rừng nghiệm thu khống, quyết toán khống là 11.579.000 đồng mà UBND xã Phước Vinh đang giữ, Thanh tra huyện quyết định thu hồi chờ xử lý. Còn việc khiếu nại của bà Nguyễn Thị Sự thì giải quyết theo trình tự thủ tục quy định của Luật Khiếu nại. (Báo Tây Ninh 9/6) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Thanh Hóa: Những vướng mắc cần gỡ
Với tính chất “lấy rừng nuôi rừng”, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24-9-2010 (sau đây gọi tắt là Nghị định 99) về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Đây là nguồn lực quan trọng để ngành lâm nghiệp nói chung, tỉnh ta nói riêng thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR).
Theo cách hiểu đơn giản, rừng có vai trò điều tiết nguồn nước, hấp thụ khí CO2 (khí cácbonic - một trong số các loại khí gây hiệu ứng nhà kính), tạo ra môi trường cảnh quan  đẹp,v.v...  do đó các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, cá nhân hưởng lợi từ DVMTR như thủy điện, nước sạch, du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, nước dùng cho sản xuất công nghiệp hoặc các nhà máy phát thải khí CO2... phải trả phí DVMTR. Nguồn thu này dùng để chi trả cho các chủ rừng là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng,v.v... góp phần ổn định đời sống người làm nghề rừng, BV&PTR bền vững.
Ngay sau khi được thành lập (tháng 8-2012), Quỹ BV&PTR tỉnh đã rà soát, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách các đối tượng phải chi trả, mức chi trả, thời điểm chi trả tiền DVMTR trên địa bàn; tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) triển khai chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99. Đến nay, Quỹ BV&PTR tỉnh đã tham mưu đấu mối và tham gia ký hợp đồng chi trả DVMTR giữa Quỹ BV&PTR Việt Nam với Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt, Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2 (đây là 2 nhà máy có lưu vực liên tỉnh).
Quỹ đã đàm phán và trực tiếp ký hợp đồng với 6  cơ sở có sử dụng DVMTR, đây là những cơ sở có nguồn thu lớn, chiếm hơn 95% tiềm năng thu DVMTR toàn tỉnh ở thời điểm hiện tại. Tổng số tiền dự kiến thu được trong năm 2014  gần 9,7 tỷ đồng. Toàn bộ số tiền thu được nêu trên sau khi trừ đi chi phí quản lý và trích lập quỹ dự phòng sẽ được chi trả cho các tổ chức, người dân tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Thường Xuân là huyện được tỉnh chọn triển khai thí điểm thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Bằng nhiều hình thức, Quỹ BV&PTR tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR đến cán bộ, nhân dân và các chủ rừng, đồng thời đã tiến hành rà soát, xác định diện tích lưu vực có tham gia cung ứng DVMTR cho Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt làm cơ sở thực hiện việc chi trả.
Đến nay, quỹ đã hoàn tất các bước nghiệp vụ kỹ thuật và giải ngân chi được gần 6 tỷ đồng trên diện tích 43.274 ha cho 1.541 chủ rừng là tổ chức Nhà nước, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, bản. Nhìn chung các chủ rừng, đặc biệt là người dân rất phấn khởi, hào hứng khi thành quả lao động, kết quả công tác trồng rừng, bảo vệ rừng của mình lâu nay đã được xã hội ghi nhận và bước đầu được hưởng lợi từ những thành quả đó.
Tuy nhiên, công tác chi trả DVMTR còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Điển hình như  việc giải ngân tiền chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh ta còn chậm, nguyên nhân chủ yếu là do quy trình triển khai thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư 80/2011/TT-BNNPTNT về phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR và Thông tư liên tịch số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC về hướng dẫn sử dụng tiền DVMTR.
Một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã ký hợp đồng ủy thác nhưng chậm thực hiện việc chuyển tiền về quỹ. Công tác rà soát, thống kê, lập hồ sơ chi trả DVMTR đối với từng chủ rừng gặp nhiều khó khăn do những bất cập, tồn tại trước đây trong công tác giao đất lâm nghiệp và tình trạng tự ý chuyển đổi quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của người dân. Thủy điện là nguồn thu chính của tiền DVMTR hiện nay, trong khi đó  Thanh Hóa là tỉnh có rất ít các công trình thủy điện, nên nguồn thu từ dịch vụ này đạt  thấp, đang là một khó khăn lớn khi triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong vùng...
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc nêu trên, trước mắt tỉnh ta đã và đang đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương giao rừng, cho thuê rừng; đồng thời chính quyền cơ sở tăng cường hơn nữa công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực này. Bên cạnh đó cần có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước và lồng ghép các chương trình, dự án để bảo đảm mức chi trả tối thiểu là 200.000 đồng/ha cho tất cả diện tích rừng đã giao quản lý, không phân biệt trong hay ngoài lưu vực chi trả.
Cần tiếp tục quy định mức thu, đối tượng thu, thời điểm thu đối với các loại hình dịch vụ đã được ghi nhận tại Nghị định 99 nhằm gia tăng nguồn thu về quỹ BV&PTR,  góp phần để  chính sách chi trả DVMTR thực sự là một nguồn lực mới, bền vững cho phát triển lâm nghiệp của tỉnh nhà. (Báo Thanh Hóa 7/6) đầu trang(
Chiều ngày 6/6, UBND huyện tổ chức cuộc họp bàn biện pháp đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, triển khai các biện pháp cấp bách về công tác BVR – PCCCR.
Tính đến thời điểm này, 9 xã đã thực hiện tốt công tác tổ chức theo hướng dẫn của Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cấp giấy chứng nhận QSĐ đất lâm nghiệp của tỉnh. UBND huyện đã thẩm định, phê duyệt phương án cho 9/10 xã, thị trấn. Theo phương án của các xã, thị trấn xây dựng, toàn huyện sẽ giao trên 6.069 ha/7.103 ha, diện tích giảm so với kế hoạch của UBND huyện là trên 1.000 ha.
Về công tác BVR – PCCCR: Huyện nhà đã ban hành các văn bản chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đầu tư  mua sắm trang thiết bị, dụng cụ, duy tu, bão dưỡng các công trình PCCC. Thành lập Ban chủ huy, các tổ đội sung kích. Tuy nhiên đến thời điểm này, trên địa bàn đã xảy ra 3 vụ cháy rừng với diện tích trên 1,5ha tại xã Sơn Thọ, Đức Liên và Thị trấn Vũ Quang. Nhờ thực hiện tốt phương châm 4 tại chổ nên không để cháy lây lan ra diện rộng.
Tại cuộc họp, các địa phương, đơn vị đã báo cáo tình hình thực hiện công tác BVR – PCCCR và tiến độ thực hiện công tác giao đất giao rừng. Nêu lên một số khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, đồng thời nêu ra các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.
Kết luận cuộc họp, ông Phạm Quốc Thanh – Phó chủ tịch UND huyện yêu cầu các địa phương, đơn vị, các chủ rừng thực hiện nghiêm túc công điện khẩn của UBND tỉnh về các biện pháp cấp bách PCCCR; giao các phòng, ban, ngành, đơn vị chức năng, các địa phương tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện  theo tinh thần 4 tại chổ để sẵn sàng đối phó khi sự cố xảy ra. Tăng cường phối hợp, trực gác 24/24 giờ.
Về công tác giao đất giao rừng, đôn đốc các đơn vị tư vấn xây dựng dự toán thiết kế kỷ thuật cho toàn huyện; giao các xã thị trấn phối hợp đơn vị tư vấn đánh giá đặc điểm khu rừng, đo vẽ bản đồ địa chính. Trên cơ sở phương án đã được phê duyệt, yêu cầu các xã thị trấn tổ chức thực hiện đo vẽ và cấp giấy chứng QSĐ lâm nghiệp đất đúng tiến độ. (Vuquang.hatinh.gov.vn 7/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Thế giới đang bấp bênh trước bờ vực tuyệt chủng hàng loạt, và con người đã đẩy nhanh tốc độ biến mất của các loài sinh vật lên gấp 10.000 lần.
Trong lúc trái đất đối mặt với viễn cảnh tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu với mức độ khủng khiếp, nhân loại phải chịu trách nhiệm vì đang đẩy nhanh tốc độ tuyệt chủng của động vật và thực vật. Theo trang Phys.Org dẫn báo cáo của các chuyên gia Đại học Duke (Mỹ), các loài đang biến mất với tốc độ nhanh gấp 10 lần so với dự đoán, trong khi tốc độ tuyệt chủng trước khi con người xuất hiện chậm hơn nhiều.
“Chúng ta đang ngấp nghé bờ vực tuyệt chủng hàng loạt lần kế tiếp, và liệu có tránh được hay không là dựa vào hành động của con người”, theo trưởng nhóm nghiên cứu Stuart Pimm.
Được đánh giá là báo cáo đóng vai trò bước ngoặt, cuộc nghiên cứu của các chuyên gia Đại học Duke tập trung vào việc tính toán “tử suất” của các loài dẫn đến tuyệt chủng trong số 1 triệu loài trên bề mặt địa cầu. Kết quả phân tích mới nhất cho thấy tỷ lệ tuyệt chủng trước thời con người ở mức 0,1/năm/1 triệu chứ không phải 1/năm/1 triệu như báo cáo vào năm 1995, cũng do tiến sĩ Pimm chịu trách nhiệm thực hiện.
Trong khi đó, hiện tỷ lệ tuyệt chủng nhanh gấp ít nhất là 1.000 lần so với con số 0,1, không những thế còn có thể lên đến 1.000/1 triệu. Dù có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến quá trình tăng tốc biến mất của các loài sinh vật, yếu tố lớn nhất vẫn là mất đi môi trường sống mà thủ phạm không ai khác là con người, theo tiến sĩ Pimm và đồng tác giả Clinton Jenkins của Viện Nghiên cứu sinh thái học tại Brazil.
Những tác nhân chủ chốt khác góp phần đẩy nhanh sự biến mất của các giống loài trên thế giới bao gồm: làn sóng xâm nhập của những sinh vật ngoại lai theo đà di cư của con người đến các vùng đất mới và tiêu diệt cộng đồng động thực vật bản địa; tình trạng thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến nơi sinh sống của các giống loài; và hậu quả từ việc khai thác cá quá mức.
Một ví dụ điển hình là một loài khỉ đuôi sóc ở Brazil, hiện bị đẩy vào đường cùng do công cuộc phát triển tại nước này đã tàn phá môi trường sống của chúng, trong khi một loài khỉ đuôi sóc khác lấn chiếm nơi ở diện tích ít ỏi còn lại.
Cá mập vây trắng từng là một trong những loài động vật ăn thịt đông đúc nhất trên trái đất, nhưng chúng đang bị săn lùng ráo riết đến nỗi giờ đây hầu như vắng bóng trên các bề mặt đại dương, theo nhà sinh học biển Boris Worm thuộc Đại học Dalhousie (Canada). “Nếu chúng ta không can thiệp, thế giới sẽ phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng hàng loạt như đã xảy ra với khủng long”, Giáo sư Worm cho biết.
Trong số những loài nhiều khả năng sẽ biến mất hoàn toàn có tê giác Sumatra, báo tuyết Amur và tinh tinh núi. Tuy nhiên, tiến sĩ Pimm và chuyên gia Jenkins cho rằng vẫn còn có chút hy vọng để cứu vãn, chẳng hạn có thể tận dụng thói quen sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng như iNaturalist để yêu cầu dân thường và các nhà sinh học kịp thời thông báo một khi phát hiện có loài động vật sắp gặp nguy hiểm. Khi nắm được thông tin, các chuyên gia có thể nỗ lực vãn hồi tình trạng bằng cách duy trì môi trường sống và áp dụng biện pháp gây giống cũng như các phương thức khác để lưu lại loài vật có thể bị tuyệt chủng.
Đã từng có loài được cứu sống bằng cách này, đó là khỉ đuôi sóc sư tử vàng. Cách đây vài thập niên, loài linh trưởng nhỏ bé từng bị cho là đã tuyệt chủng do môi trường sống của chúng bị quét sạch. Tuy nhiên, sau đó các nhà khoa học tình cờ phát hiện chúng ở những vùng hẻo lánh nhất của Brazil và tiến hành các biện pháp bảo vệ, đồng thời tìm kiếm nơi ở mới cho chúng. Hiện cộng đồng khỉ đuôi sóc sư tử vàng lại sinh sôi và thoát được số phận diệt vong. (Thanh Niên 9/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang