Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 05 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Trung tâm giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, 11/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 157/2003/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và chính thức có hiệu lực từ 25/12/2013. Một số quy định của Nghị định 157 mâu thuẫn lớn với Bộ luật Hình sự và làm giảm mạnh tính răn đe đối với các vi phạm liên quan tới động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm.
13/5 tới, ENV sẽ tổ chức buổi trao đổi chi tiết với các nhà báo xung quanh các vấn đề liên quan tới Nghị định 157 và ảnh hưởng tiêu cực của nó tới công tác bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm. (Khoa Học & Đời Sống 9/5) đầu trang(
Không biết thịt tắc kè bổ dưỡng như thế nào nhưng luôn được nhiều người xem như một loại dược liệu quý nên ra sức săn tìm, khiến cho loài vật này có nguy cơ tuyệt chủng.
Trong cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, GS-TS Đỗ Tất Lợi ghi tắc kè có tên khoa học là Gekko gekko L, thuộc họ tắc kè, bộ thằn lằn. Tắc kè là một vị thuốc nhân dân dùng chữa ho, làm thuốc bổ có tác dụng như nhân sâm. Theo tài liệu cổ, tắc kè có vị mặn, tính ôn, có tác dụng bổ phế thận, ích tinh, trợ dương, chữa hen suyễn…
Từ tác dụng dược lý như trên, cộng thêm lời đồn đại, thổi phồng của những tay chuyên mua bán động vật hoang dã khiến nhiều người tin theo và tìm mua bằng được tắc kè về làm thuốc. Đặc biệt, trong những chuyến tham quan chùa Hang (Kiên Giang) và vùng Bảy Núi (An Giang), du khách thường mua vài con tắc kè phơi khô, vài hũ rượu tắc kè đem về tẩm bổ hoặc làm quà biếu cho người thân, bạn bè. Tuy nhiên, theo lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Đông y TP.HCM, người sử dụng tắc kè hoa phải tuân thủ theo nguyên tắc, quy định mới có tác dụng.
Như vậy, không phải ai cũng có thể dùng tắc kè làm thuốc đại bổ. Tuy nhiên, khi có nhiều người mua thì những người săn bắt lại hoạt động ráo riết để tìm đủ hàng phục vụ cho “thượng đế”. Mấy năm trước, khi tới chợ biên giới Tịnh Biên (An Giang), chỉ thấy vài ba người bán tắc kè bên góc phố. Còn bây giờ, họ bày bán khắp nơi, từ tắc kè sống, tắc kè phơi khô cho đến tắc kè ngâm rượu… Trên các tuyến đường thuộc Khu du lịch núi Cấm cũng có điểm bán tắc kè hoa, tắc kè bay, tắc kè phơi khô một cách vô tư, mặc dù họ vẫn biết đây là loại động vật cấm săn bắt và mua bán.
Viện Sinh học nhiệt đới TP.HCM cũng từng thông báo “Tắc kè thuộc nhóm động vật quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam. Mọi hoạt động liên quan đến săn bắt, mua bán là bất hợp pháp”. Thế nhưng, nhiều người vẫn làm trái quy định khiến cho loài động vật hoang dã này đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Bên cạnh những đối tượng săn bắt tắc kè vô tội vạ thì vẫn còn một số nông dân miền núi chấp hành tốt quy định của ngành kiểm lâm. Họ không mua bán tắc kè hoang dã mà lại có sáng kiến nuôi tắc kè cho sinh sản để có đủ hàng cung cấp cho các cơ sở chế biến rượu thuốc và làm thuốc, nhưng hiệu quả kinh tế không cao vì đây là một loài động vật rất khó nuôi.
Do vậy ở một số nơi, ngày nào cũng có người đi săn bắt và mua bán tắc kè. Họ săn tìm trên núi, trong rừng, chùa, miễu… hễ nơi nào có tắc kè là họ có mặt. Với giá bán mỗi con từ 40.000 - 50.000 đồng như hiện nay, một người chỉ cần bắt được 5 con/ngày cũng đủ trang trải chi phí cho gia đình. Từ đó, việc kinh doanh tắc kè cũng đã chuyển từ nhỏ lẻ thành những điểm thu mua quy mô lớn, chuyên làm thịt, phơi khô  để bán cho du khách hoặc cung cấp tắc kè sống cho các nhà hàng đặc sản. Chính những điểm thu mua này đã kích thích nhiều tay săn bắt lùng sục khắp nơi, khiến cho tắc kè trong tự nhiên ngày một giảm đi.
Nếu thật sự tắc kè là nguồn dược liệu quý, các ngành chức năng cần có phương án hỗ trợ người dân mở trại chăn nuôi, nhằm đảm bảo đủ nguồn cung ứng dược liệu cho thị trường và hạn chế việc săn bắt vô tội vạ. Còn như tình hình hiện nay, chắc chắn tương lai không xa, loài động vật quý hiếm này sẽ cạn kiệt và ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái. (Thanh Niên 8/5) đầu trang(
24/4/2014, Cục Quản lý thị trường (QLTT) ban hành công văn số 476/QLTT-CBL về việc tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc mua bán, vận chuyển, trái phép mẫu vật động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Thực hiện công văn trên, Chi cục QLTT tỉnh Long An chỉ đạo các Đội QLTT triển khai thực hiện một số nhiệm vụ sau:
1. Tăng cường công tác quản lý địa bàn, nắm tình hình buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các loại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm gồm cả những mẫu vật của loài có nguồn gốc nước ngoài như sừng tê giác, ngà voi châu Phi, tê tê, hổ... Khi phát hiện, tổ chức kiểm tra hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan kiểm tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
2. Đối với các Đội QLTT phụ trách địa bàn các huyện, thị xã biên giới phối hợp với cơ quan Công an, Hải quan, Biên phòng kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các lối ra vào cửa khẩu, các đường mòn, lối mở qua biên giới; tập trung phát hiện, xử lý dứt điểm các tụ điểm buôn bán trái phép mẫu vật loài hoang dã bao gồm cả mẫu vật giả ở khu vực biên giới và trong thị trường nội địa.
3. Kết hợp kiểm tra với công tác tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng dân cư và các đối tượng mua bán trái phép động vật hoang dã các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã, không mua bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là động vật hoang dã, đặc biệt là các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm của chúng.
4. Báo cáo kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm theo báo cáo định kỳ hàng tháng (với chuyên mục riêng) gửi về Phòng Nghiệp vụ - Tổng hợp để tổng hợp báo cáo Cục QLTT và Sở Công Thương. (Longan.gov.vn 8/5) đầu trang(
Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo và thực hiện các biện pháp đồng bộ giữa các sở, ngành, địa phương trong việc ngăn chặn, kiểm soát các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, Thủ trưởng các sở, ngành, hội, đoàn thể và các đơn vị liên quan thực hiện những nhiệm vụ sau:
1. Thủ trưởng các sở, ban, ngành, các hội, đoàn thể, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn phổ biến quán triệt cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân tại đơn vị, địa phương mình nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; không mua, bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ động vật hoang dã nguy câp, quý, hiếm.
2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
a) Chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyên hình Bình Định, Báo Bình Định, các cơ quan đơn vị liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc tuyên truyền các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm tới các cộng đồng dân cư theo quy định.
b) Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm:
- Hướng dẫn các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc đăng ký gây nuôi các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động gây nuôi động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh theo quy định hiện hành của pháp luật.
- Tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về săn, bẫy, bắt, mua, bán, vận chuyển, nuôi, giết mổ, kinh doanh, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
- Xây dựng kế hoạch, phương án phối hợp với cơ quan liên quan và ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động kinh doanh, gây nuôi, vận chuyển trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh, đặc biệt tại các sân bay, cảng biển, đường bộ, đường mòn lối mở qua các tỉnh lân cận; tập trung phát hiện, xử lý dứt điểm các tụ điểm buôn bán trái phép mẫu vật loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm cả mẫu vật giả.
c) Chỉ đạo Chi cục Thú y:
- Phối hợp với Chi cục Kiểm lâm kiểm tra điều kiện vệ sinh trang trại chăn nuôi động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; cấp Giấy chứng nhận điều kiện vệ sinh thú y theo quy định của pháp luật. Tổ chức theo dõi, phát hiện, chẩn đoán, xác định dịch bệnh động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và thông báo, hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh. Định kỳ kiểm tra dịch bệnh, vệ sinh thú y tại các trại gây nuôi.
- Chỉ đạo các trạm kiểm dịch động vật, trạm thú y các huyện, thị xã, thành phố trong quá trình kiểm tra, kiểm soát, kiểm dịch động vật, khi phát hiện tổ chức, cá nhân có vận chuyển động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (có giấy tờ hoặc không có giấy tờ hợp pháp) thì thông báo kịp thời cho Hạt Kiểm lâm sở tại để phối hợp kiểm tra thủ tục vận chuyển theo quy định của pháp luật.
- Kiểm tra, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch đối với các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm khi các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu đăng ký gây nuôi và vận chuyển xuất khẩu, nhập khẩu.
d) Chỉ đạo Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản:
- Theo dõi, kiểm tra, giám sát việc khai thác, vận chuyển các loài động vật thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm.
- Phối hợp với Chi cục Kiểm lâm và các đơn vị liên quan tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân giao nộp, thu gom tiêu hủy các loài thủy sinh vật ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh và chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý thủy sinh vật ngoại lai tại ViệtNam.
- Tổ chức kiểm tra, theo dõi, thu thập thông tin các loài thủy sinh vật ngoại lai, kịp thời đề xuất các biện pháp phòng ngừa và quản lý hiệu quả.
3. Sở Tư pháp
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm tới các cộng đồng dân cư.
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành theo thẩm quyền các văn bản pháp luật để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ và bảo tồn động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm nhằm kịp thời xử lý các vướng mắc có liên quan đến các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
c) Giám sát, kiểm tra tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm của các cơ quan liên quan trên địa bàn tỉnh.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường
a) Tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường, đề án bảo vệ môi trường, các dự án thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học thuộc thẩm quyền phê duyệt của ủy ban nhân dân tỉnh; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện sau khi được phê duyệt.
b) Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và bảo tồn đa dạng sinh học.
5. Sở Công Thương
Chỉ đạo Chi cục Quản lý thị trường phối hợp với cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi kinh doanh, vận chuyển trái pháp luật các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài nêu trên.
6. Công an tỉnh
a) Phối hợp với Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các ngành chức năng điều tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
b) Chỉ đạo lực lượng cảnh sát giao thông đường bộ, đường thủy phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng trong công tác kiểm tra, kiểm soát các trường hợp có dấu hiệu vận chuyển trái pháp luật các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phấm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
c) Chỉ đạo Công an các huyện, thị xã, thành phố phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan tổ chức giám sát, điều tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh và từ các tỉnh khác vận chuyển về Bình Định.
7. Cục Hải quan Bình Định
Phối họp với các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài nêu trên tại các cảng biển và cảng hàng không trên địa bàn tỉnh.
8. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố
a) Chủ động tổ chức tuyên truyền, kiểm tra, kiểm soát và xử lý các trường hợp vận chuyển, nuôi nhốt, chế biến, kinh doanh trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiểm và các sản phấm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
b) Chỉ đạo các đơn vị chức năng trực thuộc tích cực phối hợp, hỗ trợ cơ quan kiểm lâm địa phương tăng cường kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn.
c) Chủ tịch ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh nếu để xảy ra tình trạng săn, bẫy, bắt, vận chuyển, nuôi, giết mổ, chế biến, kinh doanh trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và các sản phẩm, dẫn xuất có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn nếu không có biện pháp xử lý kiên quyết.
9. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Bình Định và Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường công tác tuyên truyên, phổ biến các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES) trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh; kịp thời đưa tin những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc, những gương điển hình về bảo tồn, kiểm soát buôn bán động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm để nhân rộng; tích cực phát hiện và lên án mạnh mẽ những hành vi, việc làm trái quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước CITES.
10. Giao Sở Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm theo dõi việc thực hiện Chỉ thị và thường xuyên tổng hợp tinh hình, kết quả thực hiện của các cơ quan, đơn vị liên quan, báo cáo UBND tỉnh để theo dõi chỉ đạo. (Binhdinh.gov.vn 8/5) đầu trang(
Để tìm hiểu về hoạt động buôn bán tê tê tại Việt Nam, nhà báo John Sutter đã cùng một nhà điều tra về nạn buôn bán động vật hoang dã tên Z (nhà báo phải giấu tên của anh vì anh còn phải tiếp tục điều tra về lĩnh vực này) đóng giả làm thực khách và đi dạo một vòng các nhà hàng đặc sản ở Hà Nội.
Từ Vườn quốc gia Cúc Phương, nhà báo lái xe ngược trở lại Hà Nội, thành phố nổi tiếng với món phở. Tuy nhiên, khó có thể được ăn một bát phở có thịt tê tê vì thứ thịt này vô cùng đắt. Để được ăn tê tê, bạn phải đi tìm và cần phải có rất nhiều tiền. Với sự giúp đỡ của một nhà điều tra về nạn buôn bán động vật hoang dã đến từ tổ chức Giáo dục thiên nhiên Việt Nam, nhà báo bắt đầu tìm kiếm các nhà hàng có bán thịt tê tê.
Nhà báo có chút lo lắng vì vài lý do: Buôn bán tê tê là bất hợp pháp, ông sẽ chụp ảnh bằng một chiếc máy ảnh được giấu kỹ và thực sự không muốn ăn thịt tê tê. Tuy nhiên, tổng biên tập của ông lại muốn ông phải gọi món này, vừa để chứng minh rằng có thể mua được thịt tê tê và cũng để xem mùi vị của món ăn ra sao.
Điểm dừng chân đầu tiên của nhà báo là một nhà hàng cao cấp với bức hình một chú sư tử có cái nhìn đầy vương giả được khắc ở cửa sổ. Lối vào nhà hàng xếp đầy những bể cá. Một nhân viên nữ mang thực đơn ra. Gần cuối mục "động vật hoang dã" là hình một chú tê tê vẫn còn sống. Hình ảnh này khiến nhà báo tưởng tượng đến một quyển thực đơn ở Mỹ với hình một con gà sống. Các lựa chọn hấp dẫn được liệt kê gồm có: rượu tiết, da tê tê xào hành nấm, tê tê hấp gừng xả, tê tê hấp thuốc bắc và cả món tê tê nướng.
Nhân viên cười nói rằng nhà hàng sẽ mất khoảng 30 phút để chế biến tê tê. Thực khách sẽ phải gọi cả con, với trọng lượng nhẹ nhất là 5kg. Giá mỗi cân tê tê là 350 USD, tức ít nhất 1.750 USD (khoảng 35 triệu đồng)cho một con.
Y học cổ truyền có lịch sử khá lâu tại Việt Nam và Trung Quốc, vảy của tê tê được hình thành từ chất liệu giống như móng tay nhưng được cho là có thể giúp lợi sữa cho sản phụ và điều trị một số bệnh.
Nhân viên nhà hàng sẽ mang con tê tê còn sống ra bàn và cắt tiết ngay trước mặt khách. Đây là cách để nhà hàng khẳng định họ bán hàng thật, hàng tươi sống chứ không phải là hàng giả, hàng kém đông lạnh.
Sau đó, nhà báo dạo một vòng các nhà hàng khác để hỏi về mùi vị cũa món thịt tê tê và nhận được các cáu trả lời: "Đó sẽ là thứ tuyệt vời nhất mà các vị từng được thử" (câu trả lời này là của một nữ nhân viên tại một nhà hàng khác ở Hà Nội nhưng khi được hỏi thêm về vị tuyệt vời nhất từng được ăn thực tế ra sao thì cô ấy có vẻ lúng túng).
Ông Đỗ Quang Trung (Giám đốc phụ trách Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam) cho biết, hồi tháng 11 năm ngoái, chính phủ Việt Nam đã ban hành một chỉ thị, theo đó đưa tê tê vào danh mục bảo vệ cao nhất, cấm sử dụng, buôn bán và tàng trữ tê tê cả còn sống lẫn đã chết. Hình phạt tối đa với những người vi phạm là 25.000 USD hoặc 7 năm tù giam.
Như vậy rõ ràng có người đã ăn thịt tê tê, và theo luật họ sẽ bị phạt. Nhưng việc thực thi quy định có vẻ như không nghiêm khắc như vậy. Tại nhà hàng khác, nhân viên phục vụ thậm chí còn nói rằng gọi món tê tê là hợp pháp!
Từ việc đi dạo một vòng Hà Nội, nhà báo đã làm một bản tổng hợp thực đơn các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng nhưng vẫn được rao bán tại các nhà hàng ở Hà Nội.
Điều tra viên Z và một người khác tại Trung tâm Giáo dục thiên nhiên Việt Nam nói rằng giá của những món ăn động vật quý hiếm cao hay thấp phụ thuộc vào công dụng của nó đối với sức khỏe. Nhưng điều đáng nói ở đây là những công dụng này chưa từng được chứng minh một cách chính xác và cũng chẳng có ai đứng ra chịu trách nhiệm về tuyên bố tác dụng của những món ăn đó đối với thực khách.
Món đầu tiên trong danh sách mà nhà báo tổng hợp được là sừng tê giác. Sừng tê giác được người ta nghiền thành bột và được dùng để giải rượu, chữa ung thư, để đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể người. Nhà báo còn nhớ từng đọc một bài báo trên tờ The Guardian (Người bảo vệ) của Anh, trong đó nói rằng tin đồn về việc một cựu quan chức của Việt Nam đã chữa khỏi bệnh ung thư nhờ ăn sừng tê giác đã khiến cho nhu cầu sừng tê giác tại Việt Nam tăng vọt và ''giúp" con tê giác cuối cùng ở Việt Nam bị giết chết.
Trên thực tế, bài báo của The Guardian khẳng định chẳng hề có mối liên hệ hay bằng chứng chính xác nào trong y học cổ truyền Trung Hoa khẳng định sừng tê giác có thể chữa khỏi ung thư. Tuy nhiên, vì những lời đồn đoán này mà mức giá sừng tê tê bị đẩy lên cao chót vót: 50.000-60.000 USD/kg!
Kế đến là món cao hổ cốt. Để chế món này, người ta lấy xương của cả con hổ nấu lẫn với xương của các con vật khác như sơn dương và khỉ cho đến khi tạo thành một thứ hỗn hợp keo đặc quánh. Cao hổ cốt được cho là có tác dụng giảm đau, điều trị các bệnh về xương khớp và cải thiện năng lực tình dục của nam giới. Món này có mức giá khoảng 10.000 USD/kg.
Mật gấu: Được cho là có thể chữa các bệnh về da, trong đó có việc làm tan những vết bầm tím do bị chấn thương, giảm đau, làm liền những phần xương bị gãy và thường được xem là một phương thuốc tốt đối với sức khỏe con người nói chung. Vì được gắn với những tác dụng "thần kỳ" này nên mật gấu có mức giá 1-6 USD/cc.
Rượu ngâm dương vật hổ: Người ta đồn đoán rằng thứ đồ uống này rất quý, có tác dụng cải thiện năng lực tình dục cho đàn ông. Tuy nhiên, nhà báo đã không thể tìm hiểu được mức giá cụ thể của món này.
Tê tê: Được cho là một món cao lương mỹ vị và chủ yếu là để thể hiện, khoe khoang ta đây là người có tiền. Mức giá tê tê như đã khảo sát rơi vào khoảng 250-350 USD/kg.
Vảy tê tê: Nghiền nát và ăn để điều trị các vấn đề về tuyến sữa, lưu thông máu và cả bệnh ung thư. Trong khi đi thăm dò, nhà báo nhận được đơn thuốc từ vảy tê tê như sau: Tán nhuyễn 4 vảy mỗi ngày và ăn với cơm trong 7 ngày liên tiếp. Món này có mùi hôi và hơi khó ăn nhưng chỉ được thêm đường, vảy tê tê có giá 600-1.000 USD/kg.
Lưỡi tê tê: Trước đó, khi ở Trung Quốc, nhà báo được một điều tra viên khác cho biết rằng lưỡi tê tê (có chiều dài lên đến hơn 30 cm) được sấy khô và được cho vào túi để mang theo bên mình như một lá bùa may mắn, giống như chân thỏ. Lưỡi tê tê cũng không được nêu giá cụ thể.
Đứng cuối cùng trong danh sách những đồ ăn, thức uống có nguồn gốc từ động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng được bán ở Việt Nam là món bào thai tê tê. Những chú tê tê chưa rời khỏi bụng mẹ được cho là rất có lợi cho sức khỏe người ăn. Nhà báo cũng chưa xác định được giá cụ thể của món ăn này.
Có rất nhiều cách để lý giải cho việc mua tê tê rất dễ dàng. Ở Việt Nam, có một dấu hiệu cho thấy đó không phải là chuyện khó khăn. Nền kinh tế của nước này vẫn đang trong thời kỳ mở cửa và bùng nổ trong những năm gần đây. Sự phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế kéo theo sự thay đổi về văn hóa.
Việc ăn sừng tê giác, cao hổ cốt hay thịt tê tê ngầm thể hiện thông điệp: "Chúng tôi là người giàu có đấy, tất cả chúng tôi. Nhìn mà xem".
Rõ ràng chẳng ai quan tâm xem đó có phải là động vật quý hiếm hay không. Một thực khách ăn thịt tê tê nói rằng vấn đề ở đây là nó rất đắt. Giống như ăn những loại động vật lạ, quý hiếm khác, đó là trải nghiệm "chỉ dành cho VIP".
Lập luận đối với món vảy tê tê có khác một chút, vảy tê tê được bán với giá khoảng 600 USD/kg trong những túi nilon sạch ở các cửa hàng y học cổ truyền ở Hà Nội. Đã được sấy khô và bị xoắn lại, những chiếc vảy tê tê nhìn như những con sò hay miếng bì lợn. Nhìn rõ ràng không hề ngon miệng chút nào.
Khi đến những cửa hàng bán vảy tê tê, nhà báo đã được những người bán hàng giới thiệu rằng vảy tê tê tán nhuyễn ra và ăn với cơm có thể chữa được các vấn đề về lưu thông máu và cả bệnh ung thư. Rõ ràng điều này chẳng ai biết được, nó chỉ là lời đồn thổi về công dụng chữa bệnh.
Ớ đây, liệu thứ thuốc này có thực sự chữa được bệnh hay không (cần phải nhớ rằng vảy tê tê được hình thành từ vật liệu cũng giống như móng tay, móng chân người vậy) không quan trọng bằng niềm tin của mọi người vào việc này.
Qua một số nguồn tin, nhà báo biết được rằng một bà chủ chuyên buôn bán tê tê ở Việt Nam có biệt danh là "Mặt sắt" còn buôn cả những mặt hàng bất hợp pháp khác nữa. Ví dụ như có một số người buôn cả sừng tê giác (Quỹ Động vật Hoang dã thế giới cho biết cá thể tê giác cuối cùng của Việt Nam đã bị săn trộm vào năm 2010. Trên thế giới hiện chỉ còn khoảng 35 cá thể sống sót nhưng đều không phải ở Việt Nam).
Một số mạng lưới tội phạm buôn bán động vật hoang dã khác thậm chí còn có liên quan đến nhóm phiến quân Al-Shabaab ở Đông Phi đã được Mỹ đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố để tham gia vào việc buôn lậu vũ khí và ma túy.
Tháng 8/2013, nhà chức trách Việt Nam đã thu giữ gần 7 tấn tê tê có nguồn gốc từ Indonesia tại một cảng biển ở TP.Hải Phòng. Trước đó, năm 2008, gần 14 tấn tê tê đông lạnh cũng đã bị tịch thu ở Sumatra, đảo cực Tây Indonesia. Theo nhà chức trách sở tại, số tê tê này dự kiến sẽ được đưa đến Việt Nam hoặc Trung Quốc.
Người đàn ông đứng sau vụ bắt giữ 14 tấn tê tê đó – nhà báo gọi là Q để bảo vệ danh tính của anh ta - đón ông ở sân bay tại Sumatra. Q là nhà điều tra chìm về buôn bán động vật hoang dã cho một tổ chức quốc tế trong vỏ bọc kẻ thất nghiệp.
Sở dĩ Q giữ kín được công việc thực sự của mình là nhờ mối quan hệ cá nhân với một người từng là một tay buôn hổ, một trùm giết mổ động vật hoang dã khét tiếng. Nhờ vào mối quan hệ này, Q có thể xâm nhập vào mạng lưới buôn bán động vật hoang dã và khiến chúng "sập tiệm".
Nhà báo đã nhờ Q giúp tìm hiểu về việc những chú tê tê đến từ đâu và cách thức chúng được vận chuyển ra các nước khác. Q nói rằng khi thâm nhập vào thế giới đó, nhiều lúc ông sẽ như bị cuốn vào những bộ phim hình sự, trong đó ông có thể sẽ bị tống vào tù hoặc rơi vào tay những kẻ buôn lậu sẵn sàng cắt cổ.
Trong bữa sáng trước khi nhà báo và Q đến gặp một trong những trùm buôn bán tê tê, Q đặt lên bàn một chiếc bình, trong đó có một con tê tê con đã chết, trôi nổi trong thứ dung dịch màu vàng. Q kể rằng một tay buôn bán động vật hoang dã đã cho anh ta thứ này để làm quà.
Q đối mặt với tất cả các tình huống, dù nguy hiểm hay không, đều bằng một nụ cười và thái độ tưng tửng. Anh ta biết rằng nhà báo sẽ ghi hình buổi nói chuyện bằng 2 chiếc camera đã được giấu kín. Anh ta cũng biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu đối tượng biết được "Ông chủ lớn".
"Ông chủ lớn" - Q nói với tôi bằng thứ tiếng Anh nặng nề với ẩn ý: "Đừng để mình kết thúc giống như con tê tê trong chiếc bình". Bất chấp những cảnh báo, nhà báo vẫn quyết định tiếp tục công việc của mình.
Thành viên đầu tiên trong mạng lưới mafia buôn bán động vật hoang dã tại Sumatra mà Q giúp nhà báo gặp mặt có vẻ bề ngoài giống ông Barack Obama -tóc cắt ngắn, da màu cà phê, hàm răng trắng.
Tay trùm thừa nhận rằng hắn mua những con tê tê từ cánh thợ săn và sắp xếp để vận chuyển chúng tới những thành phố lớn hơn. Anh ta xây hẳn một căn phòng lớn trong nhà để chứa tê tê.
"Ông chủ nói với tôi rằng nếu muốn làm thuốc từ tê tê, anh hãy lấy rượu gạo và đun sôi với một con tê tê con rồi cho vào chiếc bình. Mỗi sáng anh uống một cốc nhỏ, nó có thể chữa lành bệnh tật cho anh. 4 bệnh có thể chữa khỏi, thứ nhất là những bệnh về da, hai là khiến cơ thể anh sảng khoái, ba là giúp anh dễ thở hơn, còn cái thứ tư thì... tôi quên mất rồi", tay lái buôn nói.
Tay lái buôn nói rằng anh ta đã bỏ việc buôn bán tê tê vì việc vận chuyển quá nguy hiểm. Trước đây, anh ta thường chuyển tê tê bằng ô tô từ thị trấn quê nhà Palembang tới các nước khác, thường là sang Việt Nam. Một lần, xe của anh ta bị nổ lốp khi đang trên đường và cảnh sát đã đe dọa sẽ thu 1 tấn tê tê của xe hàng này.
''Chúng tôi đã phải trả 300 triệu rupiah (khoảng 26.000 USD) để đưa số tê tê và chiếc ô tô ra khỏi khu vực đó", anh ta cười lớn khi kể đến đoạn cảnh sát đã ném lại cho một chiếc lốp dự phòng theo thỏa thuận. "Có tiền thì anh sẽ làm mọi việc rất dễ dàng", anh ta nói thêm.
"Anh có muốn nhìn thấy những con rắn không?". Khi ở Sumatra, trong phòng khách của một kẻ buôn bán động vật hoang dã, nhà báo buộc phải nói có. Lái buôn mà lần này nhà báo gặp mặt chính là người đã cho Q bình rượu tê tê.
Anh này có bề ngoài giống hệt những tay buôn ma túy mà bạn vẫn thường thấy trên tivi: Quần soóc, áo phông và vẻ mặt như muốn ăn tươi nuốt sống người khác. Anh ta dẫn nhà báo qua lối hành lang và mở cửa phòng tắm. Trong đó, hàng chục bao tải được buộc chặt trên đầu.
Về sau, Q giải thích rằng những kẻ buôn bán tê tê thường dùng những con trăn để che giấu việc vận chuyển tê tê. Họ sẽ đặt những bao tải trăn lên trên vì trăn có thể vận chuyển ra khỏi Sumatra nếu có giấy phép và theo số lượng nhất định. Nhà báo ngỏ ý muốn được xem một con tê tê nhưng tay mafia từ chối.
"Ở đây có rất nhiều tê tê. Nêsu anh có đủ tiền, trong vòng 1 tháng tôi có thể cung cấp cho anh 2 hoặc 3 tấn tê tê" - anh ta đề nghị. Anh ta cũng đề nghị tăng 1 giá, bằng giá bán cho người Trung Quốc, tức khoảng 790.000 USD cho 3 tấn tê tê.
Tay mafia nói rằng, nếu thời gian trước, anh ta có thể chấp nhận mức giá chỉ bằng 1/3 số tiền trên. Nhưng việc vận chuyển tê tê ra khỏi Sumatra ngày càng khó khăn vì cảnh sát đang tăng cường hiện diện tại khu vực và cũng vì khách hàng ở Việt Nam và Trung Quốc giờ yêu cầu phải có tê tê sống để giết thịt ngay tại bàn trong khi tê tê sống thì khó đóng gói thùng lên ô tô và vận chuyển đi các nơi.
Dù vậy nhưng những việc này không có nghĩa rằng việc buôn bán tê tê trái phép sẽ dừng lại mà chỉ có nghĩa là giá sẽ đắt hơn. "Tôi có quan hệ với mọi cấp độ cảnh sát ở trong vùng. Tôi phải trả cho họ khoảng 15 triệu rupiah, tức 1.300 USD, mỗi tháng", người này cho biết thêm.
Qua tìm hiểu từ người này, nhà báo biết được rằng những kẻ buôn bán tê tê luôn gọi nhau bằng biệt danh, như "Mặt sắt" hay "Vảy vàng". Những món hàng cũng được chúng mã hóa, như: "08" là cả con hổ, "Tre vàng" là ngà voi, "CB" là sừng tê giác, "TH" là tê tê, "Áo khoác" là da hổ.
Ketenong là thị trấn chỉ có khoảng 580 dân cư nằm ở phía Nam tỉnh Sumatra. Một người dân địa phương tên Ruslan, 58 tuổi, cho biết: "Trước đây, ở thị trấn có rất nhiều tê tê, đi ra đường cũng có thể nhìn thấy nhưng chẳng ai quan tâm đến con vật này. Thậm chí, nhiều người còn nghĩ rằng tê tê là con vật bị nguyền rủa. Họ cho rằng nếu phát hiện tê tê trong nhà thì một thành viên trong gia đình sẽ chết sớm hoặc sẽ bị cháy nhà".
Mãi đến vài năm trước, một lái buôn động vật hoang dã từ Bengkulu đến thị trấn. "Ông ấy bảo với mọi người rằng cứ đi kiếm tê tê mang về, ông ấy sẽ cho tiền", ông Ruslan kể lại.
Vói lời hứa hẹn này, những người dân tại Ketenong đua nhau đi bắt tê tê. Ông Ruslan cũng vậy. Hàng ngày, ông làm việc trên đồng lúa và đến đêm lại lên rừng săn tê tê. Ông không hề biết rằng việc đó là bất hợp pháp. Ruslan và một số ngưòi săn tê tê nói rằng họ chỉ cố làm để kiếm thêm chút tiền nuôi sống gia đình. Bởi, với thu nhập chỉ khoảng 2 USD mỗi ngày, họ sẽ không thể có tiền mua sữa cho con nếu không đi săn bắn.
Nhưng nhà báo đã giật mình khi nghe được mức giá mà người săn tê tê tại Indonesia nhận được: Chỉ 18 đến 27 USD/kg tê tê. Khi đến một nhà hàng ở Việt Nam, mức giá đó lên đến 350 USD. Khi nhà báo nói với một thợ săn về số tiền nhà hàng tại Việt Nam thu được, anh ta thốt lên: "Chà, đó là mức giá không tưởng". Sau một vài giây suy nghĩ, anh nói thêm: "Tôi nghĩ thế chẳng công bằng chút nào".
Suy nghĩ của nhà báo về những con tê tê bị rối loạn sau khi thăm ngôi làng Ketenong. Liệu việc tăng cường lực lượng thực thi pháp luật có phải là giải pháp? Nhà chức trách nên tập trung vào các mạng lưới quốc tế, vào việc phá bỏ những rào cản giúp cho những ông chủ thực sự đứng sau việc buôn bán bị bắt giữ. Một phần trong đó gồm việc nhổ tận gốc tham nhũng. Một phần sẽ là thuê thêm người để tuần tra bảo vệ rừng...(VRNews Tổng Hợp Từ Báo Pháp Luật VN Chủ Nhật) đầu trang(
Từ sau Tết Nguyên đán đến nay, nạn phá rừng ở Sơn Hà diễn biến phức tạp. Chẳng những rừng tự nhiên bị đốn hạ để lấy gỗ mà rừng trồng vừa mới lên xanh cũng bị tàn phá...
Từ đầu năm đến nay, hai lực lượng chính phụ trách công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Sơn Hà là Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham và Hạt kiểm lâm huyện “ăn không ngon ngủ không yên” bởi nạn phá rừng gia tăng, diễn biến bất thường.
Theo đại diện UBND huyện Sơn Hà, hiện nay tình trạng chặt phá rừng phòng hộ trái phép để lấy gỗ, lấy đất sản xuất; việc chăn thả trâu bò trong khu vực rừng phòng hộ diễn ra hết sức phức tạp. Mặc dù Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham và Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường kiểm soát, nhưng vẫn không ngăn chặn hết được.
Trong vòng 3 ngày, từ 25 - 28.2.2014, Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham liên tiếp có 2 báo cáo gửi UBND huyện Sơn Hà và nêu rõ: Hiện có 43.580 m2 rừng phòng hộ ở Sơn Linh bị phá. Ở xã Sơn Nham, tình trạng người dân chăn thả trâu bò trong khu vực rừng phòng hộ làm hư hại 90% cây rừng trồng.
Trước tình hình trên, UBND huyện Sơn Hà đã chỉ đạo lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, phát hiện, xử lý; tổ chức chốt chặn các điểm nóng phá rừng 24/24 giờ. Đồng thời tuyên truyền cho người dân khu vực có tình trạng chăn thả trâu bò làm hư hại rừng trồng; lập danh sách những hộ vi phạm; ký cam kết không tái phạm...
UBND huyện Sơn Hà đã chỉ đạo ngành chức năng huyện xác minh, hoàn chỉnh hồ sơ xử lý hành vi phá rừng; làm rõ trách nhiệm của kiểm lâm viên địa bàn để xảy ra tình trạng rừng bị phá đến 43.528 m2.  Ngày 7.4 vừa qua, Chủ tịch UBND huyện Sơn Hà Nguyễn Phong đã ký quyết định tịch thu và giao cho Hạt kiểm lâm huyện tạm giữ  6,681 m3 gỗ chò chỉ (nhóm III). Đây là số gỗ “vô chủ” mà Hạt Kiểm lâm Sơn Hà đã phát hiện, bắt giữ trước đó ít ngày.
Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 02 của Huyện ủy Sơn Hà về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (2006 – 2013), huyện Sơn Hà đã có thêm 861.000 m2 rừng bị tàn phá. Bình quân  mỗi năm có 123.000 m2 rừng bị triệt hạ.
Tuy nhiên, trong số ấy chỉ có 454.000m2 rừng bị phá xác định được người thực hiện hành vi. Còn lại hơn 406.000 m2 rừng chưa xác định được đối tượng đã “ra tay”.  Ngành chức năng huyện Sơn Hà đã khởi tố 31 đối tượng phá rừng, trong đó có nhiều đối tượng đã phải chấp hành hình phạt tù giam.
Sau khi rừng bị phá, ngân sách lại phải bỏ ra để trồng lại rừng, nhưng việc trồng lại vẫn thấp hơn so với rừng bị phá. Cụ thể sau 7 năm tổng số diện tích rừng bị phá ở Sơn Hà là 861.000 m2 nhưng diện tích trồng lại chỉ có 634.000 m2. Tổng số tiền ngân sách bỏ ra để hỗ trợ trồng và chăm sóc các loại rừng trong 7 năm qua lên đến hơn 12 tỷ đồng. Theo thông lệ, cứ sau Tết Nguyên đán, nạn phá rừng ở Sơn Hà lại gia tăng. Nguyên nhân chủ yếu vì đây là thời điểm người dân bắt đầu vụ phát rẫy để trồng mì, keo, lúa. Nhiều diện tích rừng không những bị chặt phá mà còn bị cháy rụi do nạn đốt rừng.
Phá rừng lấy gỗ hay phá rừng lấy đất sản xuất đều là hành vi vi phạm pháp luật, bị xử lý nghiêm khắc đến mức phải chịu án tù giam. Thế nhưng, sự răn đe ấy vẫn chưa đủ mạnh để chặn đứng hành vi phá rừng. Cuộc chiến giữ rừng xem ra chưa hết căng thẳng nếu ý thức bảo vệ rừng không xuất phát từ mỗi người dân...(Báo Quảng Ngãi 8/5) đầu trang(
8-5, UBND tỉnh tổ chức hội nghị đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014.
Dự hội nghị có đại diện các sở: Nông nghiệp-PTNT, Kế hoạch-Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên-Môi trường, Công an tỉnh, Bộ CHQS tỉnh, BĐBP tỉnh, Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng; lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố… Ông Trần Văn Tuân, UVTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR tỉnh chủ trì hội nghị.
Năm 2013, các ngành, địa phương trong tỉnh đã tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý bảo vệ rừng bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, cụ thể: Chi cục Kiểm lâm đã tổ chức 16 lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ về quản lý bảo vệ rừng và PCCCR cho 960 người thuộc các đối tượng trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, các hộ gia đình chủ rừng và cán bộ cấp cơ sở; in ấn và phát 4.500 tờ rơi, áp phích có nội dung về bảo vệ rừng, động vật hoang dã và PCCCR.
Đặc biệt, đã tổ chức 175 buổi tuyên truyền về chính sách, pháp luật bảo vệ  và phát triển rừng tại địa bàn dân cư với trên 11.650 lượt người tham gia. Cũng trong năm 2013, tỉnh ta đã thực hiện chuyển đổi ngoài thực địa 647,7ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó, chuyển đổi sang trong cao su là 635ha; nâng cấp đường, xây dựng kè và công trình khác 12,7ha. Toàn tỉnh khai thác 7.834ha rừng trồng và cây phân tán với sản lượng khai thác 598.600 m3 ; trồng mới và trồng lại 4.312ha rừng. Tính đến ngày 31-12-2014, tổng diện tích rừng của tỉnh là 555.531,7ha; trong đó rừng tự nhiên 481.449,5ha, rừng trồng 74.082,2ha, độ che phủ rừng 67,41%.
Tại hội nghị, các đại biểu đã đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý, cấp phép hoạt động các xưởng cưa, xẻ gỗ và công tác xử lý vi phạm luật Quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn thời gian qua.
Theo đó, số liệu thống kê đến tháng 11-2013, toàn tỉnh có 446 cơ sở cưa xẻ gỗ; trong đó có 218 xưởng được quy hoạch đang hoạt động, 98 xưởng đã cấp phép, 120 xưởng chưa cấp phép; số cơ sở năm ngoài quy hoạch có 228 xưởng cưa xẻ gỗ. Các lực lượng chức năng trên địa bàn đã phát hiện, xử lý 1.324 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Năm 2013 toàn tỉnh đã kiện toàn 134 ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, PCCCR từ cấp tỉnh đến cấp xã và các đơn vị chủ rừng; củng cố 573 tổ, đội quần chúng tham gia bảo vệ rừng và PCCCR ở cơ sở với gần 5.500 người tham gia.
Về một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện năm 2014, các đại biểu thống nhất xác định tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm nâng cao nhận thức cho người dân và toàn xã hội; tăng cường chốt chặn các đầu mối giao thông quan trọng và một số khu vực cửa rừng; tuần tra, kiểm soát lâm sản trên các tuyến đường bộ, đường sông, đường sắt; giám sát nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào của các cơ sở cưa xẻ gỗ, gia công chế biến mộc gia dụng; phối hợp với chính quyền địa phương xử lý nghiêm các cơ sở cưa xẻ gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc công tác vệ sinh rừng, hạn chế các vụ cháy rừng xảy ra; kiện toàn ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR các cấp, chủ rừng; phân vùng trọng điểm cháy rừng, lập phương án bảo vệ rừng và PCCCR có hiệu quả…
Phát biểu kết luận tại hội nghị, ông Trần Văn Tuân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đánh giá cao những nỗ lực cố gắng của các cấp, ngành, địa phương trong thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR năm 2013, đồng thời lưu ý một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện trong năm 2014 như: Quan tâm hơn nữa việc thực hiện công tác tuyên truyền, chú trọng đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp; tăng cường phối kết hợp, đánh giá, kiểm tra lẫn nhau giữa chính quyền, các cơ quan chức năng nhằm thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ rừng và PCCCR; nâng cao năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng; rà soát và quản lý chặt chẽ hoạt động của hệ thống xưởng cưa, xẻ gỗ trêm địa bàn; đẩy mạnh công tác PCCCR; giải quyết kịp thời những tồn tại, hạn chế nhằm rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ rừng và PCCCR…(Báo Quảng Bình + Biên Phòng 8/5) đầu trang(
Bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm
Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực bảo vệ các loài động vật hoang dã, với việc ban hành nhiều văn bản luật, nghị định, tham gia nhiều công ước quốc tế...
Theo Sách đỏ Việt Nam, tổng số các loài động vật, thực vật hoang dã đang bị đe dọa của Việt Nam là 882 loài (418 loài động vật và 464 loài thực vật). Trong đó, một số loài coi như đã tuyệt chủng như tê giác 2 sừng, tê giác 1 sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá lợ thân thấp, hươu sao, cá sấu hoa cà, hai loài lan hài.
Giống cây trồng, giống vật nuôi của Việt Nam cũng đang đối mặt với sự suy giảm cả về số luợng và chất lượng. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi quý có giá trị cao về khoa học, bảo tồn và kinh tế đang bị đe dọa nghiêm trọng. Một số giống vật nuôi bản địa đang bị đe dọa tuyệt chủng cao như lợn ỉ gộc, lợn ba xuyên, gà hồ... Trên thực tế, số loài bị đe dọa tuyệt chủng có thể còn lớn hơn do danh sách loài được đánh giá mới chỉ là các loài có đủ nguồn thông tin cung cấp.
Theo Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, một trong những nguyên nhân là do việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, sinh cảnh của các loài bị thu hẹp, ô nhiễm nguồn nước và biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng tới sinh vật…  dẫn đến hệ lụy số lượng loài suy giảm.
Mặt khác, hơn 10 trở lại đây, Cục Kiểm lâm ghi nhận hơn 18.000 vụ buôn bán động vật hoang dã, tịch thu gần 200 cá thể, tương đương gần 700kg. Theo ước tính, con số này chỉ chiếm 5 - 10% số lượng thực tế. Nhu cầu sản phẩm từ động vật hoang dã ngày càng tăng trong 20 năm qua do kinh tế phát triển, nhu cầu mua các sản phẩm xa xỉ cũng tăng theo.
Trong khi đó, chế độ quản lý đối với các nhóm loài nguy cấp, quý, hiếm cho đến nay vẫn còn chưa được quy định bao quát, đầy đủ. Chính việc quy định chế độ, phương pháp bảo vệ, quản lý loài còn thiếu, hoặc có nhưng chưa đầy đủ gây khó khăn cho việc giải thích, thực thi và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật về quản lý, bảo vệ các loài sinh vật.
Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm ngày càng suy giảm; nhiều giống cây trồng, vật nuôi bị suy giảm nguồn gen, bị đe dọa tuyệt chủng hoặc thậm chí đã tuyệt chủng.
Nghị định 160  được Chính phủ ban hành thời gian gần đây về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất đối với công tác bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH, đồng thời thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Nghị định 160 thay thế một số nội dung được quy định tại Điều 12, 13, 14, 15 và 16 Nghị định 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học. Ngoài ra, chế độ quản lý đối với loài thuộc Danh mục động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/ NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được xác định là loài ưu tiên bảo vệ cũng sẽ được áp dụng theo quy định tại Nghị định này.
Trên cơ sở đề nghị của Bộ TN&MT, Danh mục này sẽ được điều chỉnh, bổ sung định kỳ ba năm một lần hoặc khi thấy cần thiết, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh, bổ sung Danh mục. Theo nội dung Nghị định 160, loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ phải đáp ứng hai tiêu chí về số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và  loài đặc hữu hoặc có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học; y tế; kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa – lịch sử theo quy định. Dựa trên các tiêu chí này, Nghị định xác định Danh mục gồm 17 loài thực vật, 83 loài động vật, 15 giống cây trồng, 6 giống vật nuôi.
Điểm đáng lưu ý là Danh mục có đến 69 loài động vật và 11 loài thực vật trùng với Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định 32/2006; 6 loài trùng với Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT.
Về chế độ quản lý loài, Nghị định phân định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan, theo đó Bộ TN&MT được giao một số nhiệm vụ thẩm định; hướng dẫn việc điều tra, quan trắc, đánh giá tình trạng loài; chủ trì, phối hợp xây dựng chương trình bảo tồn loài động vật hoang dã, thực vật hoang dã thuộc Danh mục; Bộ NN&PTNT được giao các nhiệm vụ chính tương tự nhưng đối tượng áp dụng là các giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm thuộc Danh mục. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/5) đầu trang(
8/5, Hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) đã tiến hành thả 4 cá thể khỉ vàng về với rừng tự nhiên. 4 cá thể khỉ vàng có trọng lượng khoảng 14 kg, khi bàn giao với tình trạng sức khỏe tốt.
Trước đó, có thông tin tại thôn Xa Re, xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa có 3 gia đình nuôi nhốt trái phép 4 cá thể khỉ vàng. Sau một thời gian vận động, 3 hộ dân gồm: Hồ Văn Đinh, Hồ Văn Thắng, Hồ Văn Ơi, nhận thấy việc nuôi nhốt động vật hoang dã là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện giao nộp cho lực lượng kiểm lâm.
Các hộ dân cho biết, khoảng hai năm về trước khi đi làm rẫy đã phát hiện số cá thể khỉ vàng trên bị lạc bầy nên đem về nuôi nhốt tại nhà.
Được biết, trong những năm qua, tại khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa thường xuyên tiếp nhận các loại động vật hoang dã bị mua bán trái phép, cho đến thời điểm hiện tại, đa số các loại động vật đều thích ứng nhanh với môi trường tự nhiên nơi đây. (VTV 9/5; ANTV 8/5) đầu trang(
Các nhà khoa học vừa công bố ba loài thực vật mới thuộc ba họ khác nhau tại khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà (Khánh Hòa).
Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu Việt - Hàn giai đoạn 2011- 2013, nhóm khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Trung tâm sinh học và Nguyên liệu sinh học (Hàn Quốc) đã thực hiện khoảng 20 chuyến điều tra nghiên cứu hệ thực vật tại khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà và phát hiện ra ba loài mới.
Loài đầu tiên có tên khoa học là Dillenia Tetrapetala Joongku Lee, T.B.Tran & R.K.Choudhary (Dilleniaceae), thuộc họ Sổ. Chúng là cây gỗ cao 10-20 m, thân đường kính khoảng 20 cm và có màu nâu nhạt đến nâu. Lá của chúng có hình elip thuôn-bầu dục. Hoa của loài dài khoảng 5,5 - 6,5 cm, cuống dài 1,5-4 cm.
Chúng thường mọc rải rác ven rừng, trong rừng tre nứa, trảng cây bụi, ven suối, ở độ cao khoảng 200-300 m.
Cũng tại khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, nhóm khoa học còn phát hiện loàiArgostemma glabra Joongku Lee, T.B.Tran & R.K.Choudhary (Rubiaceae), thuộc họ cà-phê. Chúng cao 20-25 cm, với thân không phân nhánh. Lá bề mặt trên của loài màu xanh đậm, màu trắng xanh bên dưới, thường nở hoa vào tháng 4.
Loài Argostemma glabra là một dạng cây thân thảo nhẵn và mọng nước được tìm thấy trong rừng kín thường xanh hỗn giao nguyên sinh và rừng tiểu ôn đới trên những mô và mô đất giàu mùn, rêu, ở độ cao 1500 m.
Loài thứ ba vừa được công bố là Cordiglottis longipedicellata Joongku Lee, T.B.Tran & R.K.Choudhary, (Orchidaceae) thuộc họ Lan. Loài này thuộc cây thảo phụ sinh, thân dài 20 cm. Lá của chúng có màu xanh đậm, xếp chéo từ gốc; còn cụm hoa rủ xuống, dài 2-2,3 cm; cuống dài 0,5-0,8 cm. Hoa của chúng có đường kính 2-2,5 cm. Tháng 4-5 là mùa hoa quả của chúng.
Chúng thường được tìm thấy trên cây kích thước trung bình trong rừng hỗn hợp thường xanh nguyên sinh và rừng tiểu ôn đới dọc theo sườn núi ở độ cao khoảng 1500 m. Loài này thường mọc chung với các loài như Lithocarpus, Melastoma, Pinanga và cây dương xỉ.
Ba loài trên đang được lưu trữ tại phòng tiêu bản thực vật, Phòng thực vật - Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật. (VnExpress 8/5) đầu trang(
Mới đây, Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Trật tự quản lý Kinh tế và Chức vụ Công an tỉnh Ninh Thuận đã bắt quả tang 1 vụ tàng trữ lâm sản trái phép.
Theo đó, vụ việc được phát hiện tại nhà ông Tống Cần (sinh năm 1965) thường trú tại thôn Quán Thẻ 3, xã Phước Minh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
Tang vật được lực lượng chức năng thu giữ là 9,7 tấn gỗ trắc (gỗ quý hiếm thuộc nhóm 2A). Khi vừa thấy lực lượng Công an vào kiểm tra thì ông Cần bỏ trốn.
Hiện số gỗ trên đã được cơ quan chức năng tịch thu, đưa về xử lý theo quy định. Vụ việc đang tiếp tục được điều tra, làm rõ. (ANTV + Báo Ninh Thuận 8/5) đầu trang(
7/5, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã có văn bản chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Sơn Động tăng cường các biện pháp ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái phép.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Sơn Động thường xuyên sảy ra tình trạng người dân địa phương tự ý chặt phá rừng tự nhiên trái phép, trong đó có một số đối tượng có biểu hiện đe dọa, chống đối người thi hành công vụ.
Để kịp thời ngăn chặn, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Sơn Động chỉ đạo ngay các cơ quan chức năng, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền tới toàn thể nhân dân nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong công tác bảo vệ và phát triển rừng; khẩn trương tổ chức triển khai các biện pháp ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng tự nhiên trái phép nói trên; điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo lực lượng kiểm lâm phối hợp với UBND huyện Sơn Động tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra và thực hiện các biện pháp quyết liệt nhằm kịp thời ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái phép trên địa bàn huyện Sơn Động nói riêng, trên địa bàn toàn tỉnh nói chung. (Bacgiang.gov.vn 8/5) đầu trang(
8-5, tại khu du lịch sinh thái, Ban chỉ đạo diễn tập phòng, chống cháy rừng huyện Buôn Đôn (Đắc Lắc) đã tổ chức hội nghị thông qua công tác chuẩn bị diễn tập phòng, chống cháy rừng của huyện Buôn Đôn năm 201.
Đại tá Nguyễn Đình Tiến, Phó tham mưu trưởng, phó ban chỉ đạo phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai cháy nổ, cháy rừng Quân khu 5 dự và chỉ đạo hội nghị.
Đây là đợt diễn tập với quy mô lớn nhất từ trước tới nay của tỉnh Đắc Lắc, chính vì thế, ngay sau khi nhận được chỉ thị diễn tập của Ban chỉ đạo diễn tập tỉnh; UBND huyện Buôn Đôn đã thành lập Ban Chỉ đạo diễn tập, tiểu ban nội dung, tiểu ban bảo đảm nhằm triển khai, phân công nhiệm vụ cho các phòng, ban, đơn vị trong công tác diễn tập. Ban chỉ đạo đã xây dựng các văn kiện; chuẩn bị về con người và phương tiện, vật chất, thông tin liên lạc tại khu vực diễn tập, đảm bảo cho các lực lượng huấn luyện thực binh, xử lý tốt các tình huống.
Với tình huống đặt ra, một công nhân khu du lịch sinh thái Bản Đôn phát hiện một đám cháy tại Tiểu khu 178 núi Chư Mar, có diện tích khoảng 1 héc-ta, nhận được thông tin, địa phương đã huy động lực lượng của xã nhưng không kiểm soát được đám cháy; sau đó, được các lực lượng của huyên và của tỉnh tăng cường cùng xử lý.
Để diễn tập phòng, chống cháy rừng huyện Buôn Đôn sát thực tế với điều kiện của địa phương, Ban chỉ đạo diễn tập đã huy động lực lượng trên 500 người gồm bộ đội của huyện, biên phòng, dân quân cơ động, kiểm lâm vườn quốc gia Yok Đôn, kiểm lâm huyện Buôn Đôn; lực lượng y tế, công an; cảnh sát phòng cháy chữa cháy và lực lượng được tăng cường của tỉnh, cùng các phương tiện xe chữa cháy, bình bọt, máy bơm nước, máy thổi gió... xử lý tốt tình huống.
Cuộc diễn tập sẽ chính thức diễn ra vào ngày 16-5. (Quân Đội Nhân Dân 9/5) đầu trang(
UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu UBND các huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan do để xảy ra tình trạng chặt phá rừng trái phép tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và có hình thức xử lý theo quy định của pháp luật.
Sau khi một số cơ quan báo chí phản ánh về tình trạng chặt phá rừng trái phép tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ và tình trạng chặt phá rừng trái phép tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Qua kiểm tra cho thấy, công tác quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực này bộc lộ nhiều yếu kém. Trong khi đó, công tác kiểm tra, giám sát của các ngành chức năng thiếu sâu sát, yếu kém. Do vậy, những tháng cuối năm 2013 và đầu năm 2014, tình trạng chặt phá rừng trái phép đã xảy ra tại Tiểu khu 360A (xã Cẩm Thịnh, huyện Cẩm Xuyên) và các Tiểu khu 366, 367B và 361 (xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh) thuộc quản lý của Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Theo đánh giá của Ủy ban Nhân dân tỉnh, xảy ra tình trạng trên, trách nhiệm chính thuộc về Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ (chủ rừng).
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm cũng chịu trách nhiệm về vấn đề này. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh có công văn yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo lãnh đạo Ban Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan theo đúng quy định của pháp luật và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 15/5.
Chi cục Kiểm lâm tiến hành điều tra, thu thập thông tin, chứng cứ về vụ việc chặt phá rừng để chuyển cơ quan điều tra. Công tác trên phải được hoàn thành trước ngày 20/5.
Các đơn vị liên quan phối hợp chính quyền địa phương có phương án xử lý tổng thể để chấm dứt hoạt động của cơ sở chế biến gỗ, xưởng xẻ; đồng thời, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn rà soát, tham mưu đề xuất Ủy ban Nhân dân tỉnh điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chế biến lâm sản của tỉnh đảm bảo phù hợp yêu cầu thực tế và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng. (Vietnam+ 9/5) đầu trang(
Thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Lặc, cán bộ kiểm lâm huyện cùng nhân dân xã Phùng Giáo đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn 34 ổ châu chấu non tuổi 1 trên rừng luồng thuộc các lô: 2, 3, 4 khoảnh 5 và lô 6, 10, khoảnh 6 thuộc tiểu khu 454 trên địa bàn.
Trước đó, mật độ châu chấu non dày đặc được cán bộ kiểm lâm địa bàn và nhân dân địa phương phát hiện vào ngày 21–4 vừa qua. Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Lặc đã tham mưu, hướng dẫn cho xã, triển khai lực lượng dập dịch ngay. Sau một lần phun thuốc đại trà, ở những nơi vẫn chưa diệt hết châu chấu, tiếp tục được phun lần 2, lần 3.
Theo ông Lê Xuân Cải, Trưởng Phòng Quản lý Bảo vệ rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm: Trước đây Ngọc Lặc là địa phương hay bị phát dịch và cây luồng thiệt hại nặng bởi châu chấu. Nếu không xử lý kịp thời, dịch châu chấu từ Ngọc Lặc có thể lan sang  các huyện Lang Chánh, Bá Thước...(Báo Thanh Hóa 8/5) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, đến hết năm 2012 diện tích cao su cả nước đã đạt 912.000 ha, vượt xa con số quy hoạch 800.000 ha vào năm 2015 và dường như diện tích cao su chưa dừng lại.
Mở rộng diện tích cao su hiện đang đặt ra nhiều vấn đề không chỉ về bài toán kinh tế, môi trường mà còn nảy sinh khá nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Cho đến nay cao su ở Tây Bắc vẫn chưa có được kết luận rõ ràng, cao su ở Tây Nguyên đã phát sinh những sai phạm trong quá trình chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, thêm vào đó là những mâu thuẫn về đất đai, băn khoăn về thu nhập và hiệu quả của cây công nghiệp này khi những biến động về giá cả, thị trường thế giới đang cho thấy những yếu tố bất lợi.
Giải đáp những thắc mắc này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn đã trả lời phỏng vấn của VOV.VN.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết, diện tích cao su cả nước đã vượt con số quy hoạch hơn 100.000 ha. Vượt chủ yếu là cao su tiểu điền, tập trung ở vùng Đông Nam bộ và miền Trung. Ví dụ ở Tây Nguyên Chính phủ đồng ý quy hoạch 100.000 ha nhưng đến nay cũng chỉ đạt 72.000. Vượt do quy luật kinh tế, mấy năm vừa  rồi, hiệu quả kinh tế từ cây cao su cao nên người dân chạy theo trồng.
Cao su được coi là cây trồng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả hàng hóa. Ở nhiều nơi đã khẳng định rõ điều này. Tuy vậy, cũng có nhiều nơi trồng ở vùng đất không phù hợp, ở độ cao quá mức thì không phát triển, vùng ảnh hưởng của bão sẽ không hiệu quả, thực tế qua 2 cơn bão số 5, số 6 vừa qua thấy rõ.
Chủ trương trồng cao su là trên đất trống phi lâm nghiệp, không có rừng. Ở Tây Nguyên là chuyển đổi diện tích rừng nghèo kiệt sang trồng cao su. Như vậy không thể ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Chỉ có điều một số dự án trồng cao su chưa được quản lý chặt chẽ nên có những sai phạm, không chỉ chuyển đổi rừng nghèo kiệt mà cả rừng tự nhiên vì vậy năm 2010 Thủ tướng Chình phủ đã có quyết định 1680 rút cấp phép nhiều dự án và tạm dừng 38 dự án chưa phê duyệt. Diện tích cao su Tây Nguyên không đạt quy hoạch cũng vì lý do này.
Phát triển cao su ở Tây Bắc, mà nòng cốt là Tập đoàn cao su Việt Nam với mô hình liên kết với địa phương, người dân góp đất làm vốn với doanh nghiệp và hưởng lợi theo chính sách thỏa thuận. Theo báo cáo của Tập đoàn cao su, tăng trưởng cao su ở đây tương đối tốt, đạt tiêu chuẩn, từ trung bình khá trở lên. Tập đoàn cao su cũng đánh giá rằng, năng suất đạt bình quân chung của cả nước là 1,5-1,6 tấn/ha cho một chu kỳ kinh doanh ổn định.
Như vậy tạm thời có thể thấy là nếu nghiên cứu kỹ thì trồng cao su ở Tây Bắc thành công ở một số vùng, tuy nhiên không phải toàn vùng vì một số người dân vẫn tự ý phát triển cao su ở những nơi không phù hợp nên đã có hiện tượng cao su không phát triển, bị chết…
Ở Tây Nguyên, cao su trồng mới chủ yếu được chuyển từ rừng nghèo kiệt. Mặc dù tiêu chí rừng nghèo kiệt đã rõ ràng nhưng có nhiều nhà khoa học cho rằng một nửa trong số này lại không phải nghèo kiệt. Điều đặc biệt là rừng khộp Tây Nguyên có một giá trị môi trường và bản sắc rất riêng.
Mới đây, Bộ NN&PTNT đã có đoàn kiểm tra về công tác trồng cao su tại địa bàn Tây Nguyên. Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết, cho đến bây giờ ông chưa nhận được một bản báo cáo đầy đủ nào đánh giá về giá trị của rừng khộp nghèo kiệt. Ở tiêu chí nghèo kiệt, Thứ trưởng thấy rằng, nếu mục trắc thì có lẽ rừng khộp không thể hơn cây cao su về mật độ che phủ, phòng hộ, giữ nước.
Thứ trưởng cũng khẳng định rằng, báo cáo của Đoàn kiểm tra cũng kết luận rằng, tiêu chí rừng nghèo kiệt Bộ NN&PTNT đưa ra là đúng, nhưng một số nơi làm không đúng từ quy trình điều tra, thiết kế trạng thái rừng, ngay từ đầu đã sai… Chính vì vậy Thủ tướng Chính phủ mới có quyết định tạm dừng.
Thêm nữa, một số nơi, quá trình khảo sát, điều tra không đúng mức, không phù hợp nên trồng cao su không thành công, ở những nơi này phải chuyển sang trồng mía. Ở Gia Lai có nhiều sai phạm, dứt khoát phải xử lý. Ở nơi nào chuyển đổi rừng khộp sang trồng cao su không thành công thì phải trồng lại rừng.
Những dự án bị rút giấy phép chiếm 11% và số dự án phải tạm dừng là 38. Một số đại biểu quốc hội và nhiều chuyên gia cho rằng nếu đã sai phạm thì không chỉ tạm dừng mà phải cho dừng luôn. Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, không chỉ 38 mà tất cả dự án nào khai hoang rừng tự nhiên đều phải dừng lại. Nhưng dừng những dự án này chứ không phải dừng trồng cao su. Chủ trương là nhằm bảo vệ rừng tự nhiên.
Có thể thấy hiện tại có 2 điểm của dự án trồng cao su tạm gọi là chưa kiểm soát được. Một là vượt quy hoạch, hai là việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su chưa thật sự theo đúng chuẩn hướng dẫn của Bộ NN&PTNT.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn không đồng ý đánh giá trồng cao su là mất kiểm soát, chúng ta phải theo cơ chế thị trường, phải đánh giá từ thực tiễn, theo quy luật của thị trường. Cao su là một ngành kinh tế quan trọng của đất nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Không thể vì một vài chỗ làm sai mà chúng ta đánh giá sai ca một chương trình.
Vượt quy hoạch có nhiều nguyên nhân. Quy hoạch là bước tổng quan, khó đảm bảo tất cả các luận cứ khoa học. Sau quy hoạch là các dự án, rồi còn có quy hoạch các cấp, quy hoạch ở địa phương. Riêng cao su, quy hoạch các địa phương cộng lại hơn 1 triệu hec-ta, hơn cả quy hoạch quốc gia.
Vượt thêm nữa là cao su tiểu điền. Đây là do khâu vận động, khuyến cáo, hướng dẫn người dân, chính quyền còn có vấn đề. Dẫu vậy vẫn phải tôn trọng quy luật thị trường, chúng ta khuyến cáo, hướng dẫn nhưng dân chưa chắc đã nghe. Ví dụ họ vẫn trồng lại cao su ở các vùng thiệt hại sau bão dù có khuyến cáo rồi.
Tuy nhiên, có những dự án làm sai, có sai phạm thì phải xử lý. Thường xuyên kiểm tra, nếu thấy sai xử lý tiếp, rất cương quyết, không xử lý cho qua chuyện đâu.
Đúng là hiện nay giá các mặt hàng nông sản đang xuống thấp, trong đó có cao su, theo tôi bây giờ đang là thời điểm thấp nhất. Nhưng đó cũng là quy luật thị trường, quy luật hình sin, sẽ có lên, có xuống. Tuy nhiên trên thị trường thế giới đang tương đối cân bằng, chưa có biểu hiện cung vượt cầu. Tất nhiên đang ở mức tiêu thụ bị sụt giảm.
Không phải cái gì cũng đổ lỗi cho khủng hoảng. Cao su chủ yếu xuất khẩu, cao su sẽ phục hồi trong niên độ không dài; Cao su là ngành công nghiệp lớn, tất nhiên sản xuất khi khó khăn sẽ cầm chừng. Đây là những lưu ý để nghiên cứu thị trường sát hơn. Dự báo của chúng ta còn nhiều vấn đề, chưa  thể đưa ra thật chính xác nếu không đủ căn cứ khoa học và thực tiễn.
Để khẳng định một lần nữa có phát triển cao su hay không? Thứ trưởng khẳng định tiềm năng đất đai, đặc biệt khí hậu của Việt Nam rất có điểu kiện phát triển thêm nữa. Tuy nhiên, vấn đề là phải rà soát quy hoạch, cân đối nhiều yếu tố, nhất là thị trường để phát triển đến đâu. Nếu phát triển cao su mà phải chuyển rừng tự nhiên nhiều như trước thì Thứ trưởng tin là được hạn chế tối đa. (VOV 9/5) đầu trang(
2014, huyện Đắk Glong được tỉnh giao kế hoạch trồng mới 900 ha rừng. Đến thời điểm này, toàn huyện đã đăng ký trồng hơn 600 ha. Hiện tại, bà con đang tích cực triển khai công tác phát dọn thực bì, đào hố để chuẩn bị xuống giống.
Những ngày này, gia đình anh Đặng Huy Hoàng, xã Quảng Khê đang tập trung nhân lực để đào hố chuẩn bị đất cho “mùa” trồng rừng. Năm nay, gia đình anh đăng ký trồng 3 ha rừng, chủ yếu là keo lai.
Anh Hoàng cho biết: “Năm trước, gia đình tôi trồng 5 ha keo lai rồi. Đất ở đây chủ yếu là đồi núi dốc nên chỉ phù hợp với trồng rừng và thực tế cây keo lai phát triển rất tốt với tỷ lệ sống đạt trên 95%. Năm nay, gia đình tôi cũng bắt đầu phát dọn thực bì từ đầu tháng 4 và đến thời điểm này đã cơ bản hoàn thành việc đào hố chỉ chờ cây giống nữa là có thể tiến hành trồng rừng”.
Theo ông Nguyễn Hữu Kiện, Chủ tịch UBND xã Quảng Khê thì việc trồng rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, mà còn tạo việc làm, tăng thêm thu nhập và ổn định đời sống cho nhân dân. Do vậy những năm gần đây, địa phương luôn quan tâm vận động người dân tham gia trồng rừng, nhất là đối với những diện tích đất dốc, đất thoái hóa, bảo đảm việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Hiện nay, các hộ trong thôn đã chuẩn bị đất xong và chuẩn bị trồng rừng vào đợt sớm nhất.
Còn tại nhiều diện tích đất rừng khác, công tác chuẩn bị cho việc trồng rừng cũng đang được các địa phương gấp rút hoàn thành. Theo UBND xã Đắk Som thì công tác triển khai trồng rừng năm nay đang được tiến hành khẩn trương. Đến thời điểm này, xã đã bàn giao xong thực địa trồng rừng sản xuất và tiến hành họp triển khai kế hoạch trồng rừng. Xã phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng trước tháng 6 để bảo đảm khung thời vụ.
Theo ông Phạm Đặng Quang, Phó Chủ tịch UBND huyện thì sau khi nhận chỉ tiêu, huyện đã triển khai hướng dẫn các xã thực hiện các bước về trồng rừng sản xuất trên địa bàn đến các hộ gia đình và tổ chức họp thôn, bon để phổ biến kế hoạch, địa điểm, cơ chế, chính sách của Nhà nước cho các hộ gia đình có quỹ đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng sản xuất để người dân đăng ký.
Về quyền lợi, khi tham gia trồng rừng, ngoài được cấp giống, phân bón, mỗi hộ còn được trợ cấp thêm 6 triệu đồng/ha công chăm sóc. Cùng với đó, để giúp người dân nắm vững kỹ thuật trồng rừng, huyện cũng đã tiến hành tổ chức tập huấn kỹ thuật và phát hàng nghìn tờ rơi hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cho các hộ gia đình. Năm nay, địa phương chủ yếu trồng các loại cây như keo lai, bời lời và một số cây ăn quả như sầu riêng, bơ...
Theo kế hoạch thì bắt đầu từ 15/5, huyện sẽ tiến hành cấp phát giống để trồng rừng vụ 2014. Do vậy, để đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch, các địa phương cần tập trung tuyên truyền vận động nhân dân đẩy nhanh việc phát dọn thực bì, làm đất để thực hiện đúng tiến độ đã đề ra.
Các địa phương cần tiếp tục có các giải pháp đồng bộ từ khâu vận động người dân phát huy tính chủ động, tích cực trong đầu tư, sản xuất lâm nghiệp. Cán bộ kỹ thuật tích cực hướng dẫn nhân dân kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp; chủ động kiểm tra, nghiệm thu các công đoạn nhằm bảo đảm chất lượng rừng trồng.
Ngoài ra, nhằm nâng cao chất lượng rừng trồng, ngành chức năng khuyến cáo khi trồng rừng, bà con nông dân nên thực hiện đúng kỹ thuật trồng rừng, khi trồng không túm thân cây giống xách đi mà cầm vào bầu cây, không giật mạnh khi xé bầu mà dùng dao hoặc kéo cắt để tránh long bầu cây giống. (Báo Đắc Nông 8/5) đầu trang(
Các doanh nghiệp vẫn cố tình dây dưa “trả nợ rừng”, càng làm cho việc phục hồi, bảo vệ “lá phổi xanh” ở khu vực miền núi thêm khó khăn.
Ở miền núi Quảng Nam, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) vừa giúp người dân xóa đói giảm nghèo, vừa buộc các đối tượng hưởng lợi có nghĩa vụ tái tạo diện tích rừng đã mất. Chính sách này đã tác động tích cực đến nhận thức về việc giữ rừng của đồng bào miền núi.
Tại huyện Nam Giang, đến nay có gần 50 nhóm hộ thuộc 10 thôn trên địa bàn 2 xã Tà Pơ và Chà Vàl nhận quản lý, bảo vệ 13.789ha rừng. Ở địa bàn Phước Sơn, người dân thuộc 11 xã, thị trấn (trừ xã Phước Hiệp) đã nhận gần 1 tỷ đồng từ tiền khoán bảo vệ hơn 32.191ha rừng, thông qua DVMTR. Ngoài dự án Ngân hàng Phát triển châu Á hỗ trợ nguồn vốn phát triển sinh kế ban đầu, người dân trong vùng hưởng lợi còn nhận tiền giao khoán bảo vệ rừng hằng tháng.
Chính quyền các huyện Đông Giang, Tây Giang, Bắc Trà My cho biết, DVMTR đã làm thay đổi nhận thức, hiểu biết bảo vệ rừng, giúp người dân sở tại tuân thủ nguyên tắc giữ rừng theo các quy định của pháp luật hiện hành mà không phá vỡ luật tục miền núi. Tiền chi trả DVMTR sẽ tạo ra nguồn sống thiết thực cho người dân an tâm giữ rừng bền vững.
Thực tế, những lưu vực thủy điện mà người dân được nhận tiền khoán bảo vệ rừng thường xuyên, nơi đó ít xảy ra tình trạng phá rừng. Ngược lại, những nơi chưa được nhận giao khoán bảo vệ, ý thức giữ rừng của người dân chưa cao. Những năm qua, các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch (đối tượng có nghĩa vụ “trả nợ rừng”) luôn chậm chi trả tiền.
Theo Quỹ phát triển - bảo vệ rừng, đến nay các doanh nghiệp vẫn còn nợ hơn 11 tỷ đồng tiền DVMTR. Có thể điểm qua danh sách các đơn vị “nợ” quen thuộc như Công ty CP Thủy điện A Vương (thủy điện A Vương), Công ty CP Tư vấn xây dựng điện số 1 (thủy điện Sông Bung 5), Công ty CP Cơ khí áp lực Mạnh Nam (thủy điện Tà Vi), Công ty CP Cấp thoát nước Quảng Nam… Trong số đó, Công ty CP Thủy điện A Vương nợ 7,4 tỷ đồng.
Mặc dù các đơn vị nhiều lần né tránh, cố tình kéo dài thời gian hoàn thành nghĩa vụ đóng quỹ, nhưng các cơ quan chức năng của tỉnh vẫn chưa có biện pháp mạnh để xử lý triệt để. Trước thực trạng trên, Sở NN&PTNT vừa có văn bản đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo thu hồi giấy phép đầu tư đối với các doanh nghiệp cố tình chậm nộp hoặc không nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR.
Đồng thời có văn bản kiến nghị Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngưng thu mua điện của những đơn vị không chấp hành việc nộp tiền chi trả DVMTR theo đúng quy định. Ngoài ra, UBND tỉnh có văn bản gửi Bộ NN&PTNT đề nghị sớm xây dựng và tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định, chế tài xử lý vi phạm đối với các đơn vị không nộp hoặc chậm nộp tiền DVMTR để địa phương có cơ sở triển khai.
Ông Huỳnh Đức - Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng khẳng định, ngoài việc đưa danh sách các doanh nghiệp “nợ” công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, đơn vị sẽ tiếp tục rà soát, đôn đốc các nhà máy thực hiện nghĩa vụ. Nếu doanh nghiệp nợ kéo dài, sẽ đề xuất UBND tỉnh có hình thức xử lý. (Báo Quảng Nam 9/5) đầu trang(
Nâng cao chất lượng rừng bảo đảm đúng quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, nâng độ che phủ rừng đạt trên 50% vào năm 2020, đồng thời tạo điều kiện cải thiện sinh kế cho người dân, bảo vệ môi trường là mục tiêu của ngành lâm nghiệp tỉnh đặt ra. Để đạt được mục tiêu đó cần sớm xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay.
Theo số liệu thống kê về hiện trạng rừng, toàn tỉnh hiện có 560.895 ha rừng tự nhiên,  80.286 ha rừng trồng và gần 80.000 ha đất lâm nghiệp. Đến năm 2013, thực hiện đề án giao, cho thuê rừng giai đoạn 2010-2015, toàn tỉnh đã giao và cho các tổ chức, doanh nghiệp thuê, với tổng diện tích gần 500.000 ha.
Trong đó, các công ty lâm nghiệp được giao khoảng 200.000 ha; các tổ chức doanh nghiệp thuê để cải tạo, bảo vệ rừng và trồng cao su gần 15.000 ha; giao rừng cho các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng khoảng  226.000 ha, cho hộ gia đình, cộng đồng quản lý trên 37.000 ha, với 20 cộng đồng, 55 nhóm hộ và 2.201 hộ gia đình.
Mặc dù diện tích rừng cơ bản đã có chủ, nhưng những năm qua, rừng vẫn liên tục bị xâm hại. Cụ thể, diện tích rừng do các công ty lâm nghiệp quản lý, sử dụng bị lấn chiếm trên 10.000 ha, các ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng trên 3.500 ha... Một số ban quản lý rừng phòng hộ thường xuyên để xảy ra tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng và đất rừng trái phép, nghiêm trọng như các Ban Quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn, Krông Năng, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Kar, hồ Lak…
Những tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở các ban quản lý phòng hộ kéo dài trong những năm qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do sức ép về tăng dân số, dân di cư tự do…, nhưng chủ yếu là do sự yếu kém trong bộ máy quản lý, một số đơn vị có dấu hiệu buông lỏng quản lý, tiếp tay cho lâm tặc.
Không chỉ riêng các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng mà hệ thống tổ chức lực lượng kiểm lâm trong các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạt kiểm lâm các huyện cũng chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ rừng nên gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát tình trạng khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép, phá rừng làm nương rẫy…
Diện tích rừng, đất lâm nghiệp cho các doanh nghiệp thuê triển khai thực hiện các dự án cũng đang dần bộc lộ nhiều bất cập. Từ năm 2008 đến nay, UBND tỉnh cho chủ trương 108 dự án được liên hệ quỹ đất để khảo sát, lập dự án, tuy nhiên đến nay, 33 dự án đã bị thu hồi, còn lại 75 dự án (40 dự án trồng cao su kết hợp quản lý bảo vệ rừng, 35 dự án trồng rừng, cải tạo, quản lý bảo vệ rừng, nông lâm nghiệp khác), trong đó 56 dự án đã được UBDN tỉnh có Quyết định cho thuê đất.
Đối với các dự án trồng cao su, đến nay các đơn vị đã trồng được 7.614 ha, thu hút trên 2.000 lao động. Còn các dự án phát triển rừng, nông, lâm nghiệp khác, các đơn vị đã trồng mới gần 8.000 ha rừng kinh tế, cây ăn quả, thu hút khoảng 1.249 lao động.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện các dự án còn bộc lộ khá nhiều bất cập. Trong số 56 dự án được UBND tỉnh có Quyết định cho thuê đất, thuê rừng, đến nay mới chỉ có 14 dự án hoàn thành thủ tục thuê rừng, 42 dự án còn lại chỉ mới hoàn thiện thủ tục thuê đất.
Việc chậm trễ này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý bảo vệ rừng, dẫn đến khó khăn khi xử lý trách nhiệm chủ rừng để mất rừng. Vì vậy, diện tích rừng ở những vùng dự án liên tục bị lấn chiếm trái phép, dẫn đến tranh chấp kéo dài, chưa kể đến tình trạng mua bán, sang nhượng trái phép đất dự án của một số công ty.
Ông Trần Ngọc Quang, Chủ tịch UBND huyện Ea Súp cho rằng: Những công ty được Nhà nước giao đất, giao rừng, đã thiếu biện pháp kiên quyết, làm không đến nơi đến chốn, có dấu hiệu buông lỏng quản lý để tình trạng lấn chiếm đất rừng xảy ra nghiêm trọng, đây là trách nhiệm của các công ty.
Riêng huyện Ea Súp cũng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm từng bước lập lại trật tự trong quản lý, bảo vệ rừng, tổ chức ra quân tại xã Cư Kbang phá bỏ trên 1.200m hàng rào bao chiếm đất rừng, 3 lán trại, thu hồi 100 ha đất lấn chiếm trái phép trong dân; vận động dân tự tháo dỡ 14 lán trại, phá bỏ 3 lán trại, thu hồi 50 ha đất lấn chiếm trái phép tại xã Ea Rốc…
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Trần Ngọc Tuấn chỉ rõ, những yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng tồn tại, kéo dài trong những năm qua cần có giải pháp quyết liệt để chấn chỉnh, khắc phục. Trước tiên cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các ngành chức năng, có chế tài xử lý đối với những chủ rừng thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để rừng bị xâm hại; giám sát chặt chẽ hơn nữa để bảo đảm các đơn vị thuê rừng làm dự án sử dụng đúng mục đích, quy hoạch được phê duyệt.
Ngành lâm nghiệp được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, tuy nhiên trong những năm qua, sự phát triển của ngành này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, tăng trưởng chậm, kém bền vững, hiệu quả và năng lực cạnh tranh yếu, diện tích rừng tăng, nhưng năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao, vì thế chưa giúp người dân sống được bằng nghề…
Chính vì vậy, tái cơ cấu lĩnh vực lâm nghiệp là làm sao phát triển và nâng cao chất lượng thông qua nuôi dưỡng làm giàu rừng, cải tạo rừng nghèo kiệt, đem lại lợi ích kinh tế thực sự cho người gắn bó với rừng.
Toàn tỉnh hiện có trên 84.000 ha rừng trồng, bình quân mỗi năm, ngành lâm nghiệp tổ chức trồng mới khoảng 5.000 ha. Trong khi thị trường thì thiếu ổn định, khó khăn về đầu ra, còn chi phí đầu tư lại tăng lên, nếu không tính đến việc đầu tư phát triển nhà máy chế biến lâm sản thì sản phẩm rừng trồng không thể thoát ra khỏi tình trạng giá cả phập phồng, doanh nghiệp lại “đau đầu” với bài toán lỗ – lãi…
Chính vì vậy, cùng với việc quản lý bảo vệ, thu hút các nguồn lực đầu tư vào trồng rừng, thì việc quy hoạch, định hướng, tìm ra những giải pháp khuyến khích phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại hóa công nghệ là vấn đề cấp bách hiện nay, qua đó, góp phần giảm áp lực đối với an ninh rừng và giúp người trồng rừng yên tâm với đầu ra cho sản phẩm.
Ngoài ra cũng cần đánh giá lại một cách thấu đáo về giá trị kinh tế mà 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) mang lại, tránh quan niệm sai lầm chỉ có rừng sản xuất mới đem lại hiệu quả kinh tế. Bởi nếu rừng sản xuất mang lại giá trị vật chất cho người trồng thì rừng phòng hộ, đặc dụng mang đến giá trị vật chất cho những người tham gia quản lý, bảo vệ.
Điều đó đã thành hiện thực qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai thực hiện tại tỉnh ta trong năm 2013. Đây là công cụ kinh tế buộc những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Qua nhiều cuộc họp mà mới đây là buổi làm việc của Thường trực Tỉnh ủy với UBND tỉnh, ông Niê Thuật, Bí thư Tỉnh ủy đã chỉ đạo kiên quyết: “Chính quyền địa phương cần nhanh chóng rà soát, đánh giá lại đúng thực trạng tình hình sử dụng đất của từng đơn vị, chủ rừng, điều chỉnh quy hoạch, xác định rõ ranh giới thực địa và cắm mốc, hoàn thành các thủ tục giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, chủ rừng.
Và trên cơ sở diện tích đã quy hoạch sử dụng đất theo 3 loại rừng, chính quyền các địa phương phải có kế hoạch lồng ghép, điều phối các dự án phát triển kinh tế xã hội từ các nguồn đầu tư khác nhau để hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, nhất là các hộ thiếu đất sản xuất, cải thiện sinh kế cho người dân sống gần rừng, các xã nghèo, bảo đảm an sinh xã hội để giảm bớt áp lực bất lợi vào tài nguyên rừng”. (Báo Đắc Lắc 7/5) đầu trang(
Hơn 400ha rừng phòng hộ đầu nguồn huyện Krông Năng, do Ban quản lý dự án Krông Năng giao khoán từ ngày 16-6-2001, thời hạn 50 năm. Từ đó đến nay, 27 hộ dân trong vùng dự án đã bỏ tiền của, công sức trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đúng với khế ước giao khoán. Nhưng đến ngày khai thác thì bị đất và rừng trồng mà không được đền bù...
29-07-1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 661/QĐ-TTg, về chính sách đất đai, giao đất được quy hoạch để trồng rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yểu cho các ban quản lý rừng phòng hộ. Ban quản lý rừng phòng hộ giao khoán đất cho các tổ chức (kể cả lâm trường, hộ gia đình và cá nhân) để trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
27 hộ dân thường trú tại xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã làm đơn xin nhận đất lâm nghiệp, được Ban quản lý dự án rừng phòng hộ đầu nguồn (PHĐN) huyện Krông Năng giao khoán đất lâm nghiệp cho hộ, thôn, tổ chức xã hội, với tổng diện tích 427,2ha, thời hạn 50 năm. Trong đó có 11 hộ đã có khế ước giao khoán đất lâm nghiệp và 16 hộ giao đất nhưng chưa lập khế ước. Hơn 10 năm vất vả, vật lộn với rừng, các hộ nhận khoán đã trồng được hơn 418 ha cây rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Anh Phan Khắc Vân, một trong các hộ dân có mặt ở đây từ những năm đầu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc cho biết: “Từ ngày nhận được đất khoán đến nay, gia đình chúng tôi và các chủ hộ đã bỏ không biết bao nhiêu công sức, đổ cả mồi hôi và máu. Ngoài việc trồng rừng ra, các hộ gia đình cũng đã san ủi được hàng chục km đường cấp phối, đắp hoàn thiện hàng chục đập chứa nước tưới cho cây.
Trong việc giao khoán trồng rừng, tuy được Nhà nước hồ trợ theo Quyết định 661 của Thủ tướng Chính phủ 2,5 triệu đồng/ha nhưng từ năm 2002 đến 2006, Nhà nước mới hỗ trợ cho các chủ hộ chưa được bao nhiêu, số tiền hỗ trợ không đủ để mua giống cây trồng. Còn toàn bộ tiền công thuê công nhân, làm đường, đắp hồ, khai hoang phục hoá, phân bón đầu tư thêm giống cây trồng, các hộ dân chúng tôi đều bỏ ra: Theo sổ sách, tổng chi phí lên tới hàng chục tỷ đồng.
Hiện nay, rừng thông của các chủ hộ đã đưa vào khai thác nhựa, mỗi năm 1 ha cũng đạt tới 100 triệu đồng. Ước tính cây keo, nếu đưa vào khai thác theo quy cách cũng được hơn hàng chục ngàn tấn với giá như bây giờ các chủ hộ cũng thu được gần cả tỷ. Vừa qua, ngoài vốn vay ngân hàng để đầu tư, các hộ gia đình phải bán đất vườn, đất thổ cư để giải quyết công ăn việc làm cho khoảng hơn 50 công nhân, chủ yếu tạo công ăn việc làm cho bà con dân tộc, bình quân mỗi người được trả từ 3,5 triệu đến 4 triệu đồng tháng.
Tuy vốn đầu tư ban đầu có tốn kém nhưng chỉ 5 năm nữa thôi, chúng tôi đã có lãi rồi. Cứ cho mất 20 năm đầu tư, còn lại 30 năm nữa sẽ được hưởng lợi về nhiều mặt. Cứ đà phát triển như hiện nay, dự toán một năm, trừ các khoản chi phí ra các hộ cũng hưởng lợi được khoảng gần 3 tỷ đồng”.
Trong khi các hộ còn chưa kịp hưởng lợi từ thành quả lao động thì có Quyết định số 1599/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk ký ngày 01-7-2008, về việc thu hồi 280,5 ha đất của các hộ để giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trương Thành sử dụng, kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-UBND, ngày 01-7-2008 cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành thuê 280,5 ha đất tại xã Cư Klông, xã Ea Tam, huyện Krông Năng để sử dụng vào mục đích trồng rừng nguyên liệu đã phủ lên phần diện tích mà các hộ dân đang nhận khoán trồng rừng.
3 ngày sau, ngày 4-7-2008, UBND tỉnh Đắk Lắk lại ra Quyết định số: 1638/QĐ-UBND phê duyệt giá trị 418,6 ha rừng trồng của Ban quản lý dự án rừng phòng hộ Krông Năng để bàn giao cho Công ty cổ phần Trường Thành. Đây là diện tích rừng trồng của 27 hộ dân đã nhậi khoản. Trong đó có 11 hộ đã có Quvết định và khế ước của Ban quản lý dự án giao khoán 50 năm từ năm 2001 đã trồng được gần 300 ha.
Các hộ dân cho rằng, việc UBND tỉnh Đẳk Lắk ra Quyết định giao 427,2 ha rừng của 27 hộ nhận khoán đất lảm nghiệp trồng rừng cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thảnh là trái với điểm a, c - khoản 3 - Mục I -Thông tư số: 38/2007/TT-BNN, ngày 25-4-2007. Nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng. thu hồi rừng b) Không giao, cho thuê những diện tích rừng đang có tranh chấp, c) Việc giao, cho thuê rừng, thu hồi rừng phải có sự tham gia của dân địa phương và công bố công khai.
Trái với điềm a) — khoản 3 -Mục VI. về việc xử lý các trường hợp đã giao rừng, cho thuê rừng trước ngày 01-4-2005 - a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được giao rừng chưa có quyết định của cấp có thẩm quyền nhưng đã được uỷ ban nhân dân cấp huyện, uỷ ban nhan dân câp xã ký khế ước hoặc cấp sổ lâm bạ thì hộ gia đình, cá nhân đó được tiếp tục quản lý rừng, sử dụng khu rừng đã giao theo khế ước đã ký hoặc sổ lâm bạ đã được cấp.
Thời hạn sử dụng rừng của hộ gia đình, cá nhân là thời hạn còn lại đã ghi trong sổ lâm bạ hoặc trong khế ước (nếu địa phương không có điều kiện lập lại các hồ sơ giao rừng cho thuê rừng mới).
Các hộ đân đã có nhiều đơn gửi lên các cấp chính quyền nhưng từ năm 2008 đến nay vẫn chưa được giải quyết thoải đáng. Trong lúc đó, các vườn cây dân trồng đến năm khai thác, bị ngăn cấm, đã làm thiệt cho các chủ hộ nhận khoán hàng tỷ đồng, đẩy người dân vào cảnh thất nghiệp, trắng tay.
Theo nguyện vọng của bà con: Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành cũng là một nhóm người lập ra, họ cung làm những việc mà các hộ dân bản địa ở đây đang làm. Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm làm đẹp cảnh quan môi trường, vừa giữ đất, giữ nước cho một vùng rộng lớn huyện Krông Năng. Kể từ khi nhận giao khoán đất rừng các hộ dân đều tuân thủ làm đúng với khế ước đã được lập và các quy định của Chính phủ, họ chưa vi phạm, hoặc bị xử phạt hành chính về hành vi huỷ hoại đất hoặc sử dụng đất trái mục đích.
Theo biên bản phúc tra ngày 7-4-2008, ông Nguyễn The Anh Sơn - Giám đốc Ban quản lý dự án rừng PHĐN Krông Năng có ý kiến và đưa ra quan điểm: “Đối với diện tích 427,2 ha đã giao khoán cho dân theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ nên không thể giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành để lập Dự án đầu tư trồng rừng”...?(Bảo Vệ Pháp Luật 9/5) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông đã có văn bản xác nhận, vùng rừng trồng tại xã Quảng Khê là tài sản hợp pháp của Cty Cổ phần Trồng rừng Trường Thành, nhưng việc khai thác rừng của doanh nghiệp này vẫn bị cản trở bởi nhiều điều khuất tất.
Đoạn video clip khá dài mà một nguồn tin cung cấp cho PV Tiền Phongcho thấy ngày 7/4/2014, một nhóm cán bộ công an huyện Đăk G’long và xã Quảng Khê đã đi vào hiện trường khai thác gỗ của Cty Cổ phần Trồng rừng Trường Thành (Cty Trường Thành) trên chiếc xe Zace mang biển số trắng 48A-02790 do ông Vũ Hữu Du- cán bộ kiểm lâm huyện cầm lái.
Tới nơi, 2 thiếu úy Trần Huy Đại và Phạm Văn Thọ đưa ông Võ Minh Quang - Phó Tổng giám đốc Cty Trường Thành tự đọc một bức… “Điện mật đi” dưới không đóng dấu ký tên, trên ghi Giám đốc Công an tỉnh gửi Công an huyện Đắk G’long, bên cạnh có bút phê của một Phó giám đốc Công an tỉnh.
Bức “điện mật” không liên quan gì đến bí mật quốc gia hay quốc phòng, chỉ viết do tình hình xung đột giữa 2 Cty, để bảo đảm trật tự trên địa bàn, yêu cầu cả 2 Cty ngưng việc khai thác, chờ cơ quan chức năng có thẩm quyền kết luận giải quyết.
Tuy nhiên thực tế tại hiện trường cho thấy, sau khi phía Trường Thành đã chấp hành nội dung “điện mật” này, doanh nghiệp đang có tranh chấp là Cty TNHH Xây dựng và Thương mại Tân Phát (Cty Tân Phát) vẫn tiếp tục mở đường, cưa cây, đe dọa chủ rừng mà không bị cản trở, nên mới xảy ra vụ lực lượng giang hồ do Tân Phát thuê hành hung ông Võ Minh Quang và nhân viên ngay trước mặt các PV báo đài ngày 15/4.
Năm 2007, Cty Tân Phát đã góp cổ phần vào Cty Trường Thành bằng “thửa đất” thuê 50 năm, trong đó có 300 ha keo lai đã trồng trị giá 25 tỷ đồng.
“Góp vốn” hôm trước, hôm sau Tân Phát ký hợp đồng vay lại của Trường Thành 24,5 tỷ đồng, thế chấp bằng số cổ phần đã góp. Do Cty Tân Phát không trả lãi vốn vay hằng năm, Cty Trường Thành kiện ra tòa.
Bản án có hiệu lực buộc Tân Phát phải trả nợ cho Trường Thành, với khoản nợ khoanh từ tháng 9/2010 trên 25,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, từ đó tới nay, bản án chưa được thi hành.
Năm 2008, Cty Trường Thành dùng “bìa đỏ” rừng trồng thế chấp vay 10 tỷ đồng của Vietcombank Đắk Lắk (VCB ĐL). Tháng 8/2013 VCB ĐL đồng ý để Cty Trường Thành bán đấu giá tài sản thế chấp để trả nợ. Mọi việc diễn ra đúng Luật Doanh nghiệp, nên khi biết Cty Trường Thành bị chính quyền địa phương ngăn chặn với lý do chưa rõ tài sản này của ai, VCB ĐL gửi công văn ngày 15/4/2014 đến các bên liên quan khẳng định đây là tài sản hợp pháp của Cty Trường Thành.
Trên cơ sở đó, ngày 17/4/2014 thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông mới ký công văn số 239 khẳng định Cty Trường Thành có quyền khai thác gỗ rừng trồng tại xã Quảng Khê; Đồng thời yêu cầu Công an huyện phối hợp với Hạt Kiểm lâm kịp thời xử lý các hành vi khai thác trái phép, xử lý nghiêm việc gây rối, mất trật tự an ninh tại địa phương.
Ngày 25/4/2014, Cty Tân Phát tự lập danh sách “đoàn giám sát việc khai thác rừng”, cho người đem tới Cty Trường Thành, tuyên bố Cty Tân Phát đã bán cổ phần góp vào Cty Trường Thành cho “đoàn giám sát”, muốn thu hoạch rừng Cty Trường Thành phải chia cho họ 37%. Thành phần “đoàn giám sát” có những người nhiều tiền án tiền sự.
Theo đơn kêu cứu đề ngày 8/5/2014 của Cty Trường Thành, tới nay, chưa cơ quan nào trả lời Cty Trường Thành về việc đề nghị xử lý hành vi bán rừng trái phép của Cty Tân Phát, cũng không hồi âm đơn tố cáo Thiếu tướng Võ Văn Đủ- Giám đốc Công an tỉnh Đắk Nông bao che cho hành vi phạm pháp của cha con ông Phạm Hoài Nam. (Tiền Phong + Pháp Luật VN 9/5) đầu trang(
Sáng 7/5, Phó chủ tịch UBND tỉnh Phạm S cùng đại diện các Sở Nông nghiệp, Kế hoạch đầu tư và Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Lâm Đồng đã có buổi làm việc với UBND huyện Cát Tiên về tình hình sản xuất nông nghiệp, phòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và công tác quản lý bảo vệ rừng 5 tháng đầu năm 2014.
Trong 5 tháng đầu năm 2014, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả sản phẩm nông nghiệp thấp; song, nhờ sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của UBND tỉnh và huyện, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Cát Tiên vẫn cơ bản đạt so với kế hoạch đề ra với tổng diện tích gieo trồng là 4.872 ha, đạt 93,5%; hiện, huyện đã triển khai sản xuất vụ hè thu với diện tích là trên 3 ngàn ha, trong đó diện tích lúa đang trong giai đoạn mạ là 1.875 ha và đang trong giai đoạn làm đòng là 30 ha. Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh nên ngành chăn nuôi  được giữ vững với  số lượng tổng đàn hơn 134 ngàn con.
Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, trong 5 tháng đầu năm 2014, tổng diện tích trồng rừng trên địa bàn huyện là trên 160 ha/8 xã/145 hộ gia đình, hiện, các hộ đang tiến hành xử lý, dọn hiện trường để thực hiện công tác trồng rừng trong tháng 6 tới; Cùng với đó, Cát Tiên còn được cấp kinh phí 23 triệu đồng để trồng cây phân tán với số lượng là 40 cây; Tổng diện tích chi trả dịch vụ môi trường rừng của Vườn quốc gia Cát Tiên là trên 25 ngàn 600 ha, gồm rừng đặc trưng và rừng sản xuất.
Tuy nhiên, trong quá trình chi trả, 39 hộ/5 xã vẫn chưa đến nhận tiền với tổng số tiền là hơn 41 triệu đồng. Riêng tình hình và tiến độ thực hiện của các dự án đầu tư, huyện Cát Tiên đã có quyết định thu hồi 1 dự án trồng cây cao su, quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH Trường Vĩnh Hưng do không thực hiện việc trồng cao su và hiện đang xem xét giải quyết để thu hồi 1 dự án còn lại của Doanh nghiệp tư nhân Thắng Lợi 3.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Phạm S đã biểu dương những kết quả mà huyện Cát Tiên đã đạt được, đồng thời lưu ý trong thời gian tới huyện Cát Tiên cần thực hiện có hiệu quả các chương trình  chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi,  thâm canh, tăng năng suất để nâng cao thu nhập cho người dân; xây dựng tốt hơn nữa thương hiệu “Lúa gạo Cát Tiên”.
Riêng đối với công tác trồng và bảo vệ rừng, Phó chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Cát Tiên tiếp tục có biện pháp ứng phó, không để xảy ra nạn cháy rừng, đặc biệt, cần sớm hướng dẫn 39 hộ dân chưa nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng hoàn tất thủ tục để nhận tiền, đồng thời giải quyết sớm việc giải phóng mặt bằng, sớm cấp quyền sử dụng đất cho bà con dân tộc thôn 3, thôn 4 – xã Phước Cát 2 – khu đất tách ra từ Vườn quốc gia Cát Tiên để người dân tổ chức sản xuất, vay vốn làm ăn, ổn định đời sống. (Đài PTTH Lâm Đồng 8/5) đầu trang(
Những năm qua, đối với vùng cát toàn tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện Triệu Phong nói riêng, việc đưa vào trồng các loại cây mới đã bước đầu tạo ra sự chuyển biến đáng kể về sản xuất nông nghiệp trên vùng cát, góp phần điều hòa sinh thái và phù hợp với sự biến đổi khí hậu.
Mô hình sản xuất thử nghiêm cây keo lưỡi liềm ở xã Triệu Vân đang phát triển tốt, thể hiện ưu thế vượt trội hơn các cây lâm nghiệp khác trên vùng cát và có khả năng cho hiệu quả cao về nhiều mặt.
Gia đình ông Phan Chư ở làng sinh thái là 1 trong 5 hộ của xã Triệu Vân được Trạm Khuyến nông- khuyến ngư Triệu Phong chọn làm thí điểm mô hình trồng cây keo lưỡi liềm triển khai từ cuối năm 2011. Khi nhận 1 ha đất hoang hóa của xã để thực hiện mô hình, ông Chư quyết tâm làm thật tốt để từ kết quả thử nghiệm có thể mở ra một hướng sản xuất mới trên vùng cát bạc màu này.
Được Trạm Khuyến nông-khuyến ngư huyện hỗ trợ 100% giống cây, 50% vật tư phân bón, đặc biệt là hạt giữ ẩm (đây là kỹ thuật canh tác mới mà từ trước đến nay trồng rừng trên cát chưa đưa vào ứng dụng, nhờ hạt giữ ẩm này mà trên vùng cát trắng mùa khô nóng cây keo không bị thiếu nước đã giúp phát triển xanh tốt) và tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh lâm nghiệp mới, ông Chư đã thực hiện tốt các quy trình kỹ thuật canh tác keo lưỡi liềm.
Ban đầu bắt tay vào trồng rừng, ông bón lót đầy đủ lượng phân hữu cơ, sau 2 tháng trồng ông bón hạt giữ ẩm. Các đợt bón thúc tiếp theo ông đều tuân thủ đúng hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Nhờ vậy, rừng keo lưỡi liềm của ông cũng như các hộ nông dân nơi đây tham gia trồng thí điểm đều phát triển tốt, thời gian trồng mới được 2,5 năm mà theo đánh giá của cán bộ khuyến nông phụ trách mô hình lượng gỗ sinh khối của rừng này khoảng bằng thời gian trồng rừng keo tràm hoa vàng 5 năm.
Hiện nay, trên vùng cát trắng bạc màu của xã Triệu Vân 5 ha keo lưỡi liềm trồng thử nghiệm đã phát triển xanh tốt, dự kiến khoảng 5- 6 năm sẽ cho thu hoạch, sản lượng đạt chừng 80- 85 tấn/ha.
Chị Đặng Thị Mến, cán bộ kỹ thuật Trạm Khuyến nông- khuyến ngư huyện Triệu Phong cho biết: “Mô hình trồng keo lưỡi liềm đưa vào trồng thử nghiệm đầu tiên tại xã Triệu Vân cho kết quả rất khả quan. Từ thực tế sinh khối tốt của rừng keo ở Triệu Vân, Trạm Khuyến nông- khuyến ngư huyện đã mở rộng diện tích trồng ra các xã Triệu An 6 ha và Triệu Lăng 15 ha. Với khả năng phát triển nhanh như keo lưỡi liềm này, thời gian tới, huyện sẽ đầu tư mở rộng trên diện tích cát bạc màu của các xã vùng ven biển”.  Hiện tại, diện tích cát ven biển ở xã Triệu Vân nói riêng và huyện Triệu Phong nói chung còn khá nhiều. Việc nhân rộng cây keo lưỡi liềm mở ra một hướng sản xuất khả quan trên vùng cát. Bởi hiện tại, diện tích đất cát đưa vào sản xuất nông nghiệp chưa nhiều và khó mở rộng diện tích trồng cây nông nghiệp do thiếu nước sản xuất. Việc trồng rừng theo kỹ thuật mới so với trồng cây nông nghiệp cho thu nhập không nhiều hơn nhưng phát triển được diện tích lớn. Với sản lượng ước tính như trên thì sau 5- 6 năm trồng, mỗi héc ta rừng keo lưỡi liềm cho thu nhập khoảng 70- 80 triệu đồng.
Điều đáng quan tâm là trồng rừng ít vốn đầu tư, ít công chăm sóc, có thể phát triển với diện tích lớn. Điều quan trọng hơn nữa, việc phát triển lâm nghiệp trên đất cát hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp vì rừng sẽ giữ đất, giữ nước, cải thiện môi trường sinh thái, điều hòa không khí, độ ẩm, giúp sản xuất nông nghiệp trong vùng đạt hiệu quả cao hơn.
Sản xuất lâm nghiệp trên cát cũng là một cách để phát triển kinh tế nông nghiệp phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp và góp phần làm chậm quá trình biến đổi khí hậu. Những cánh rừng trên cát không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần phát triển nền kinh tế toàn diện và bảo vệ cuộc sống con người.
Việc phát triển lâm nghiệp trên cát là một hướng phát triển đúng đắn, vấn đề là lựa chọn loại cây phù hợp để vừa mang lại giá trị kinh tế cao, vừa đảm bảo tăng nhanh độ che phủ. Cây keo lưỡi liềm được Trạm Khuyến nông-khuyến ngư Triệu Phong trồng thử nghiệm theo kỹ thuật mới tại các xã vùng biển đang thể hiện tính vượt trội đó. (Báo Quảng Trị 8/5) đầu trang(
Nông dân nuôi động vật hoang dã thông thường (ĐVHDTT) quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) đã có cách tiếp thị sản phẩm khéo léo nhờ quan hệ tốt với Công ty CP Trạm Dừng Mekong Hải Vân (MKHV).
MKHV toạ lạc tại cầu số 6, đường tránh Nam Hải Vân, P.Hoà Hiệp Bắc, Q. Liên Chiểu) - là một địa điểm nổi tiếng được du khách cả nước biết đến nhờ tạo dựng được một điểm dừng chân xanh, đẹp mắt, mát mẻ và có nhiều dịch vụ hấp dẫn ngay trước chân hầm Hải Vân.
Theo lãnh đạo TP. Đà Nẵng, địa phương cho phép MKHV hoạt động tại đây như là một điểm nhấn sinh động về dịch vụ du lịch sinh thái. Thực tế, MKHV đã không phụ lòng khi trở thành một điểm đến không thể bỏ qua trên tuyến du lịch miền Trung của du khách trong và ngoài nước.
Theo nhiều du khách, Sỡ dĩ họ thích MKHV vì nơi đây được thiết kế độc đáo, mô phỏng hình chiếc nón lá Việt Nam úp trên mặt nước. Nơi đây có hệ thống nhà hàng với sức chứa lớn. Có những khu nhà rường là sản phẩm của các nghệ nhân tài hoa miền Trung nằm nép mình bên rừng thông. Có siêu thị mini với những mặt hàng đặc sản miền Trung. Và đặc biệt có một “sở thú” với nhiều ĐVHDTT. Đây chính là sản phẩm của nông dân Q.Liên Chiểu.
Phong trào nuôi ĐVHDTT rất phát triển ở Đà Nẵng, tại đây có một chi hội với khoảng 30 hộ nuôi ĐVHDTT, mỗi năm bán sản phẩm ra thị trường doanh số nhiều tỷ đồng. Để đạt được kết quả đó, chi hội phải tìm nhiều cách tiếp thị sản phẩm của mình, trong đó có việc bắt tay với MKHV.
Ông Trần Văn Thưởng - Chi hội trưởng Chi hội ĐVHDTT Q.Liên Chiểu, cho biết: “ Sở dĩ chúng tôi chọn phối hợp với MKHV vì đây là nơi hấp dẫn với du khách và khách bộ hành trên tuyến Bắc – Nam. Theo tìm hiểu của chúng tôi, nơi đây khách đến đông quanh năm, riêng mùa hè và đợt lễ tết, mỗi ngày có không dưới 700 khách đến đây”.  Cũng theo ông Thưởng, MKHV sẵn sàng dành từ 1 – 2.000 m2 đất để trưng bày, nuôi dưỡng ĐVHDTT của chi hội. MKHV cũng đầu tư chuồng trại, phân công lao động để cho ăn, chăm sóc ĐVHDTT. Hội viên của chi hội gửi hàng chục động vật nuôi đến đây, nào nhím, thỏ, kỳ đà, heo rừng… hình thành nên một sở thú mini tại đây. Chuồng trại, thức ăn, đến chăm sóc MKHV lo hết. Sau mấy tháng đến đây, các con vật nuôi đều phát triển tốt, sinh sản bình thường. Đấy là điều mà nông dân rất yên tâm.
Khách đến MKHV sau khi tham quan “sở thú”, thích mua con thịt để nhà hàng chế biến ăn tại chỗ hay mang về hoặc thích mua con giống về nuôi sẽ được MKHV thay mặt nông dân bán hoặc điện nông dân đến bán. Ông Thưởng sẽ thay mặt chi hội ký hợp đồng cụ thể với giám đốc MKHV về việc mua bán, chia lợi nhuận này.
“Việc trưng bày sản phẩm ở đây giúp nông dân chi hội bán được sản phẩm. Chúng tôi tin rằng đây là một bước đi đúng của chi hội”.
Giám đốc MKHV, ông Nguyễn Hoàng Lương, cho rằng: Việc trưng bày ĐVHDTT ở đây hai bên đều có lợi. Nông dân tiếp thị được sản phẩm của mình, qua đó đẩy mạnh được khâu tiêu thụ, đem lại lợi nhuận. Doanh nghiệp cũng có lợi là làm phong phú, hấp dẫn thêm chất lượng dịch vụ của MKHV.
“Kế hoạch của tập đoàn chúng tôi (Tập đoàn Trung Thủy, trụ sở tại TP.HCM) là phát triển MKHV thành một điểm du lịch sinh thái đặc biệt, tổ chức những chương trình cắm trại thú vị, tour dã ngoại đặc sắc trên biển (MKHV gần biển) để thu hút du khách. Và như vậy, việc trưng bày, nuôi dưỡng ĐVHD sẽ mở rộng hơn nữa về quy mô, diện tích. Tôi sẽ dành cho khu nuôi ĐVHD 2.000 m2, ngay dưới khu rừng nguyên sinh để nông dân trưng bày, tiếp thị sản phẩm của mình”. (Dân Việt 9/5) đầu trang(
7/5, UBND tỉnh tổ chức hội nghị giao ban trực tuyến với các huyện, thị xã nhằm đưa ra các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng vụ xuân. Ông Nông Văn Chí- Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Do ảnh hưởng của thời tiết bất thường, cực đoan từ đầu vụ đến nay nên cây trồng sinh trưởng phát triển chậm, sâu bệnh gây hại đã xuất hiện nguy cơ giảm năng suất, chất lượng.  Đối với cây lúa đang giai đoạn đẻ nhánh nhưng tỷ lệ đẻ nhánh kém, 3 - 4 nhánh, thân thấp, không vươn cao. Cây ngô mặc dù lên xanh tốt nhưng thân yếu mềm dễ gẫy đổ, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận của thời tiết kém. Sâu bệnh hại lúa hiện nay phổ biến là rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn, khô vằn. Sâu hại ngô gồm sâu xám, bệnh khô vằn. Thuốc lá bệnh đen thân. Tuy nhiên mức độ gây hại ở mức nhẹ và trung bình. Sâu ong phát sinh trên diện rộng, rải rác nhiều đợt.
Cũng do ảnh hưởng của thời tiết nên giống cây phục vụ trồng rừng hiện nay chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn, có những huyện báo cáo phải đến trung tuần tháng 6 mới xuất được cây mỡ và trung tuần tháng 7 cây thông mới đem trồng được khiến tiến độ trồng rừng chậm so với mọi năm mặc dù thời tiết hiện nay rất thuận lợi cho công tác trồng rừng.
Tại hội nghị đại diện cơ quan chuyên môn đã đưa ra các biện pháp khắc phục theo đó cần tăng cường bón phân cân đối đặc biệt bổ sung Kali, hạn chế bón đạm vì phân Kali có tác dụng làm cho cây cứng cáp hơn, thúc đẩy năng suất, làm cỏ sục bùn tăng lượng oxy trong đất. Đối với cây ngô cần vun sớm để tạo bộ rễ chân kiềng, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng cũng như chống gẫy đổ. Đối với sâu bệnh hại lúa, ngô người dân cần thăm đồng thường xuyên để phát hiện sớm, có biện pháp phun thuốc kịp thời để tránh diện tích bị nhiễm nặng mới xử lý.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nông Văn Chí- Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các huyện, thị xã tiếp thu ý kiến của các cơ quan chuyên môn. UBND chỉ đạo ngành nông nghiệp hướng dẫn cụ thể cho đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm cơ sở thật cụ thể các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng để hướng dẫn nông dân. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của tháng 5.
Cần đưa ra dự báo thường xuyên liên quan đến dịch bệnh, dịch hại trên cây trồng, khuyến cáo ở ngưỡng nào thì phòng và ngưỡng nào thì phải trừ. Tập trung chăm sóc cây giống trồng rừng đủ tiêu chuẩn xuất vườn, tiến hành xử lý thực bì cuốc hố. Đối với sâu ong cần áp dụng các biện pháp tổng hợp. Kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc của các loại phân bón vật tư nông nghiệp, tránh tình trạng trà trộn hàng giả, kém chất lượng. Làm tốt công tác phòng chống lụt bão, phòng chống cháy rừng. (Báo Bắc Cạn 8/5) đầu trang(
Việc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng tự ý tổ chức thu phí “chi trả dịch vụ môi trường rừng” đối với du khách đến tham quan VQG này là không đúng thẩm quyền nên có thể xem đây là việc “móc túi” du khách một cách vô lý…
Theo thống kê của Ban quản lý VQG Phong Nha – Kẻ Bàng thì cho đến ngày 18/4 đã có 2.933 du khách (trong đó có 15 du khách là người Việt Nam) bị “móc túi” với số tiền là 126 triệu đồng từ chủ trương mà VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã tự ý đặt ra.
Theo quy định về chức năng và nhiệm vụ thì VQG Phong Nha – Kẻ Bàng không thể ra quyết định thu phí chi trả dịch vụ môi trường rừng mà việc làm này phải do UBND tỉnh Quảng Bình quyết định dựa trên cơ sở của nghị định 99/2010/NĐ-CP.
Đối với sự việc này, sau khi báo GĐ&XH đăng tải loạt bài phản ảnh, có nhiều ý kiến độc giả cho rằng việc buộc du khách chi trả tiền “dịch vụ môi trường rừng” là sai hoàn toàn và yêu cầu cơ quan chức năng giải thích rõ ràng và trả lại tiền và kèm theo lời xin lỗi những du khách đã bị thu phí này…
Bên cạnh đó một số ít đọc giả khác lại có ý kiến đồng tình với quan điểm thu phí là đúng và cho rằng báo GĐ&XH đã chủ quan khi nhìn nhận vấn đề trên. Đáng chú ý có ý kiến của bạn đọc Lê Thanh Tịnh ở địa chỉ email tinhub2007@yahoo.com.vn : "Đề nghị phóng viên và Ban biên tập đọc kỹ Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhất là Điều 9. Chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, trước khi đưa ra những nhận định trong bài viết này”.
Như đã nêu trên, trong khi UBND tỉnh Quảng Bình không có chủ trương thu phí “chi trả dịch vụ môi trường rừng” thì VQG Phong Nha – Kẻ Bàng lại tự ý đứng ra tổ chức thu phí này đối với du khách đến với VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.
Việc làm này là việc làm trái với quy định tại điều 22 của nghị định 99/2010/NĐ-CP trong việc tổ chức thực hiện.
Điều 9 của Nghị định 99/2010/NĐ-CP cũng đã nói rõ về việc thỏa thuận giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ, mức và cách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mức chi trả được quy định rõ ràng từ 1-2% trên tổng doanh thu của các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ.
Điều quan trọng nhất đó là việc này phải do UBND cấp tỉnh quy định đối tượng phải chi trả bao gồm các tổ chức, cá nhân kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thuộc tỉnh…
Như vậy, đủ căn cứ để khẳng định rằng VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã và đang cố ý làm trái với chức năng nhiệm vụ được giao và tận thu phí “chi trả dịch vụ môi trường rừng” của khách du lịch khi chưa có chủ trương và sự đồng ý của UBND tỉnh Quảng Bình.
Trong vụ việc này, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Bình chủ trì phối hợp cùng một số sở ban nghành khác kiểm tra lại thông tin báo nêu và sớm trả lời UBND tỉnh để có hướng xử lý.
Dư luận, khách du lịch đã và đang chờ kết luận cuối cùng của UBND tỉnh Quảng Bình và hướng xử lý kỷ luật đối với những người liên quan đến sự việc này như thế nào…  (Gia Đình & Xã Hội 9/5) đầu trang(
Theo quyết định mới đây về việc phê duyệt kế hoạch thu chi tiền dịch vụ môi trường rừng tỉnh Lâm Đồng năm 2014, kinh phí dự kiến thu của năm gần 141 tỷ đồng.
Trong đó, thu từ các cơ sở sản xuất thủy điện hơn 133(B tỷ đồng, thu từ các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch 7,344 tỷ đồng và thu từ các đơn vị kinh doanh du lịch 600 triệu đồng.
Nguồn thu này cùng với nguồn kết dư năm 2013 chuyển sang (gần 148 tỷ đồng), tỉnh dự kiến sẽ chi gần 289 tỷ đồng cho các hộ, đơn vị nhận khoán quản lý bảo vệ rừng (hơn 185 tỷ đồng) và kết dư dự phòng đến ngày 31/12/2014 (hơn 103 tỷ đồng).
Cũng theo quyết định này, trên địa bàn Lâm Đồng có 2 lưu vực chi trả dịch vụ môi trường rừng là sông Sérepok và sông Đồng Nai; trong đó, diện tích cung ứng của các lưu vực hồ thủy điện Đa Nhim, Đại Ninh và Hàm Thuận - Đạ Mi cùng với sông Đồng Nai sáp nhập thành lưu vực sông Đồng Nai. (Báo Lâm Đồng 8/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Rừng nhiệt đới Amazon, là một khu rừng lá rộng ở lưu vực Amazon của Nam Mỹ. Khu vực này nằm trong lãnh thổ của 9 quốc gia, chủ yếu là Brazil (với 60% rừng mưa), Peru (13%) và phần còn lại thuộc Colombia, Venezuela, Ecuador, Bolivia, Guyana, Surinam cùng Guyana thuộc Pháp.
Nơi đây được coi là “thiên đường sống” tuyệt vời của các thảm thực vật và các loài động vật vô cùng quý hiếm và đẹp đẽ. (Lao Động 7/5) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang