|
Ngày 08 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Từ nhiều năm nay, trong công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), việc thi hành các văn bản pháp luật của nhà nước vào việc xử lý các vấn đề khai thác rừng, phá rừng trái phép… còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến công tác QLBVR ở địa phương.
Theo ông Nguyễn Tấn Liêm - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các đối tượng khai thác gỗ trái pháp luật thường khai thác trong khung xử phạt hành chính, ít khi khai thác vượt khung này để khi bị phát hiện không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chẳng hạn, theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ “về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm”, thì gỗ trắc, cẩm lai, pơ mu được xếp vào nhóm IIA - tức thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng.
Theo Điều 12, Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ “quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”, mức cao nhất trong khung xử phạt khai thác gỗ nhóm IIA trái phép là từ 100 - 200 triệu đồng với khối lượng gỗ tương ứng ở từng loại rừng, như sau: Từ trên 7m3 - 12,5m3 (đối với rừng sản xuất), trên 5m3 - 10m3 (đối với rừng phòng hộ), trên 2,5m3 - 5m3 (đối với rừng đặc dụng).
Nắm bắt quy định này, các đối tượng và người dân thường khai thác gỗ trong khung xử phạt hành chính để khỏi bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, mức phạt trên là không nhẹ, tuy nhiên, khi bị phát hiện các đối tượng khai thác thường “bỏ của chạy lấy người” và vụ việc trở thành vô chủ. Vì vậy, các cơ quan chức năng thường chỉ thu giữ tang vật, không phạt được các đối tượng và không thu được tiền phạt.
Cũng tương tự như vậy, ở Điều 20 của Nghị định 157 nói về phá rừng trái pháp luật, mức cao nhất trong khung xử phạt là từ 30-50 triệu đồng đối với trường hợp sau: phá 0,3 - 0,5ha (đối với rừng sản xuất), 0,2 - 0,3ha (đối với rừng phòng hộ), 0,07-0,10ha (đối với rừng đặc dụng). Phá rừng trên khung này, người phá rừng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nắm bắt quy định này, khi phá rừng làm nương rẫy trái phép, các đối tượng thường phát ở diện tích nằm trong khung xử phạt hành chính. Nếu bị phát hiện xử phạt hành chính, các đối tượng không có tiền nộp phạt, các cơ quan chức năng thực thi pháp luật cũng đành “bó tay”.
Trong trường hợp cương quyết và cứng rắn hơn, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương tiến hành cưỡng chế, nhưng trong nhà đối tượng thường không có gì đáng giá để có thể bán đấu giá, thu tiền xử phạt và thực hiện theo quyết định cưỡng chế. Vì vậy, biện pháp này vừa tốn công, tốn sức lại cũng không khả thi.
Việc các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương không thu được tiền phạt phá rừng trái pháp luật khiến bà con lờn luật và thường hay tái phạm.
Trước những yêu cầu thực tế đặt ra, ông Liêm đề nghị Sở NN&PTNT, UBND tỉnh kiến nghị với Trung ương sửa đổi Nghị định 32 chuyển các loài cây gỗ quý hiếm nhóm IIA như đã nói ở trên sang nhóm gỗ IA - tức là thực vật rừng nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại.
Đồng thời giảm khối lượng gỗ ở khung xử lý hình sự đối với hành vi khai thác, vận chuyển các loài gỗ quý hiếm nhóm IA, hoặc xác định giá trị tang vật để định khung xử lý hình sự đối với loài gỗ quý hiếm nhằm tăng cường răn đe, giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác QLBVR.
Ngay cả với gỗ thông thường, cũng phải giảm khối lượng vi phạm trong khung xử lý hình sự và tăng mức hình phạt nặng hơn để răn đen, ngăn chặn các đối tượng vi phạm.
Còn đối với hành vi phá rừng làm nương rẫy, ông Liêm đề nghị trong khung xử lý hình sự cũng giảm diện tích vi phạm để tăng cường tính răn đe, giáo dục và ngăn chặn người dân vi phạm lâm luật hiệu quả hơn. (Báo Kon Tum 4/8) đầu trang(
Sau đề xuất của một kỹ sư lâm nghiệp trong bài “Kiểm lâm đủ mạnh mới giữ được rừng”, ông Nguyễn Quốc Trị, cục trưởng Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), đã trao đổi thêm về câu chuyện bảo vệ rừng.
Tôi đã đọc ý kiến “Kiểm lâm đủ mạnh mới giữ được rừng” trên Tuổi Trẻ. Ý kiến rất tâm huyết khiến chúng tôi là những người kiểm lâm thấy vui vì đang có nhiều người hỗ trợ trong công tác bảo vệ rừng, giữ rừng.
Về trách nhiệm của kiểm lâm, tôi cho rằng đang có thay đổi về cách tiếp cận, kiểm lâm hiện nay không ngồi một chỗ, bảo vệ rừng ở vòng ngoài nữa mà khi cần thiết là bảo vệ tận gốc. Đây là thay đổi về tư duy bảo vệ rừng.
Các yếu tố quan trọng trong bảo vệ rừng là chống cháy, chống phá rừng, không chuyển đổi rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác. Và cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp mới thực hiện được mục tiêu bảo vệ rừng.
Với nhiệm vụ chống cháy rừng - nhiệm vụ cấp thiết hiện nay, chúng tôi ở cục đang tập trung theo dõi qua vệ tinh về phát hiện sớm và thông tin kịp thời cho các địa phương, cơ sở hoặc chủ rừng để yêu cầu kiểm tra nếu có cháy rừng và chữa cháy ngay; thông tin dự báo tình hình thời tiết trước 7 ngày cho các địa phương để chuẩn bị và thường xuyên ứng trực các điểm có nguy cơ cháy cao; chuẩn bị phương án hỗ trợ chữa cháy khi có đề nghị của địa phương.
Các địa phương xác định sớm những điểm có nguy cơ cháy rừng cao để có phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; quản lý được việc sử dụng lửa trong rừng thông qua việc đốt nương làm rẫy, du lịch sinh thái...
Đối với nhiệm vụ chống phá rừng, việc quan trọng chúng tôi đang làm là triển khai nhiều giải pháp chống phá rừng, trong đó có việc vận động toàn dân tham gia bảo vệ rừng; tăng cường tuần tra, truy quét những tụ điểm trọng yếu về chặt phá trái phép, xử lý nghiêm các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng.
Đối với việc chuyển đổi rừng thì dừng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang các mục đích khác, kể cả rừng nghèo kiệt bởi nếu giữ thì rừng nghèo kiệt sẽ trở thành rừng giàu.
Bên cạnh đó, chúng tôi đang xây dựng lực lượng bảo vệ rừng, trong đó lấy lực lượng kiểm lâm làm nòng cốt, bên cạnh có lực lượng bảo vệ rừng của các chủ rừng, sự phối hợp của các ngành liên quan như công an, quân đội...
Để xảy ra mất rừng thì trách nhiệm không chỉ của chủ rừng mà tính đến trách nhiệm thực thi công vụ của cả cán bộ kiểm lâm, chủ tịch xã sở tại.
Về hiệu quả bảo vệ rừng, nếu xác định từ đầu năm đến nay bảo vệ được bao nhiêu thì chúng tôi chưa đánh giá ngay, nhưng việc triệt phá các đầu nậu, giám sát chặt hoạt động của các đầu nậu cũng là biện pháp ngăn chặn gỗ rừng bị chặt phá và tuồn về thành phố.
Đã có nhiều điểm buôn lậu gỗ lớn ở Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam bị triệt phá và còn nhiều đường dây nữa đang trong quá trình bóc gỡ, chưa thể công bố ngay nhưng đó cũng đều là các đầu nậu lớn. Khi giám sát chặt các tụ điểm buôn lậu gỗ thì không còn điểm để gỗ rừng tập kết về.
Ông TÔ VĂN TÁM
(đại biểu Quốc hội, ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội): Phải làm ngay 2 việc.
Ông cho biết, về tổ chức lực lượng kiểm lâm hiện nay (UBND tỉnh và trực tiếp là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý) theo tôi là cách tổ chức hợp lý, gắn với trách nhiệm của UBND tỉnh, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh.
Nhưng muốn lực lượng kiểm lâm làm tốt nhiệm vụ của mình, theo tôi, cần sớm làm 2 việc. Thứ nhất là rà soát ngay xem tỉ lệ một cán bộ kiểm lâm đang được giao kiểm tra kiểm soát bao nhiêu diện tích rừng, liệu diện tích được giao có lớn so với phương tiện và điều kiện quản lý không.
Việc thứ hai là hoàn thiện khung pháp lý theo hướng chặt chẽ hơn, đảm bảo về an toàn cho họ khi bị lâm tặc tấn công, đồng thời cũng nên quy định rõ hơn về trách nhiệm công vụ khi để xảy ra mất rừng, sản vật rừng hay động vật hoang dã có liên quan đến khu vực họ được giao quản lý.
Khung pháp lý cho hoạt động của lực lượng kiểm lâm hiện nay, theo tôi, còn nhiều điểm chưa rõ ràng. (Tuổi Trẻ 6/8) đầu trang(
Trong khi nạn chặt phá rừng đang là vấn đề nhức nhối của nhiều địa phương thì tại một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế lại có một cách bảo vệ và giữ rừng vô cùng đặc biệt.
Để có được sự nhất quán, thực hiện nghiêm chỉnh việc giữ rừng, ngôi làng nhỏ này đã ban hành hương ước về việc chặt cây. Theo đó, khi chặt cây cổ thụ, người chặt không những bị phạt tiền mà còn bị đưa lên loa phát thanh xã. Nhiều năm qua, ngôi làng này đã phải đồng tâm hiệp lực chống lại những kẻ từ nơi khác đến trộm cây cổ thụ.
Thôn Siêu Quần, xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế cách TP.Huế khoảng 40km nổi bật bởi dải rừng lộc vừng xanh mướt, hàng trăm năm tuổi. Đưa chúng tôi tham quan một vòng quanh thôn là 3 bậc cao niên nằm trong “Hội đồng” thôn Siêu Quần. Ba vị này nói rằng, bao đời qua, khu rừng lộc vừng (hay còn gọi là cây mưng) cổ thụ hàng trăm năm tuổi tại thôn luôn được bảo vệ nghiêm ngặt bằng hương ước.
Kể về lịch sử của rừng lộc vừng, ông Nguyễn Hiệu, Trưởng thôn Siêu Quần cho biết, thôn Siêu Quần khi xưa thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa, được lập ra vào năm 1306. Những bậc tiền bối của thôn đã trồng cây lộc vừng tổ trên đất chùa ở thôn. Sau khi đắp đê ngăn mặn, nhận thấy lộc vừng có những đặc tính hợp với thổ nhưỡng, họ đã quyết định chọn giống cây này trồng đại trà trên những con đê để giữ đất, chắn sóng.
Theo chính quyền và người dân địa phương, ở thôn Siêu Quần có tới hàng nghìn cây lộc vừng cổ thụ, trải dài hơn 2km, tạo thành một vành đai vững chắc, che mưa, chắn bão cho người dân trong thôn. Để giữ được một khu rừng vô giá như thế này, người dân đã đưa việc gìn giữ rừng lộc vừng vào hương ước của thôn.
Đồng thời, người dân phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng thành quy ước văn hóa để người dân thực hiện nghiêm túc. Mặc dù những năm gần đây, lộc vừng cổ thụ được giới chơi cây cảnh săn lùng, trả giá cao nhưng loại cây này ở Siêu Quần vẫn phát triển tốt, trở thành “lá phổi xanh” che chắn cho thôn. Đây là kết quả của sự đồng lòng, đồng sức và ý thức bảo vệ cao của dân làng. Thôn cũng đã thành lập một đội chuyên bảo vệ rừng làm việc trên tinh thần tự nguyện.
Trao đổi với PV báo ĐS&PL, ông Nguyễn Ngọc Khánh, Chủ tịch UBND xã Phong Bình chia sẻ: “Xã Phong Bình có 5 làng, cả 5 làng đều có hương ước liên quan đến việc bảo vệ cây cổ thụ. Bản hương ước này, hàng năm vào ngày lễ tế của làng, những người từ 18 tuổi trở lên sẽ họp tại đình làng. Lúc này Trưởng làng sẽ dựa theo những ý kiến của số đông mà sửa đổi, bổ sung thêm vào bản hương ước.
Riêng làng Siêu Quần, trong số 320ha rừng thì cây lộc vừng chiếm đến 70% diện tích. Đây là loại cây có giá trị cao nên từ lâu người dân làng này đã lập hương ước, trong đó có những quy ước vừa có tính nhân văn vừa có tính răn đe để bảo vệ. Hương ước làng Siêu Quần quy định, ai chặt hoặc đào bán lộc vừng trong làng sẽ bị phạt 500.000 đồng, bị nêu tên trên loa phát thanh xã, đồng thời phải có mâm trầu cau, rượu đưa ra đình tạ lỗi với dân làng”.
Từ bao đời nay, người dân làng Siêu Quần coi rừng cây là linh hồn của làng. Các thế hệ con cháu ra sức bảo tồn, phát huy bởi một quan niệm đơn giản nhưng không dễ thực hiện “còn rừng là còn làng”. Hương ước của làng đã và đang phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ khu rừng ngày một xanh tươi. Đến bây giờ, mọi người dân từ bô lão đến trẻ em vẫn luôn truyền tai nhau câu chuyện về vị quan triều đình đã mang đến cho làng những ngọn cây đầu tiên, để rồi có được một rừng cây xanh mướt, vươn cao chắn gió.
Đưa tay chỉ về phía bắc của làng Siêu Quần, cụ Nguyễn Bá Hiệp kể lại với chúng tôi: “Cách đây khoảng 300 năm, ở làng Vân Trình kế bên làng Siêu Quần có một người học cao hiểu rộng tên là Trần Văn Kỷ. Ông ấy đỗ đạt được vào cung làm quan. Một hôm nọ, ông Kỷ về thăm quê và mang theo nhiều giống cây khác nhau mà trước đây làng chưa có như cây xanh, cây mưng, cây cừa,...
Ông đi đến từng nhà kêu gọi người dân trồng cây trước nhà, bờ ruộng và hứa sẽ tặng mỗi nhà một chiếc áo thật ấm để tránh rét ngày đông. Người dân ai nấy đều phấn khởi, trồng cây và mong ngày vị quan tốt bụng này trở về từ kinh thành. Theo tháng ngày, những cây nhỏ đã hóa thành những cây to, vươn cao với nhiều tán lá vừa phủ bóng mát ngày nóng vừa chắn gió cho người dân vào những ngày đông gió mưa rét buốt...”.
Sau nhiều năm làm việc tại kinh thành, vị quan này quyết định trở về quê hương để sống cuộc sống cuối đời. Vừa về đến cổng làng, người dân đã ùa ra chào đón ông. Ai nấy đều mừng rỡ vì người tặng áo đã về đến nhà. Các vị bô lão hỏi vị lão quan: “Thưa quan, những chiếc áo được thêu từ những người thợ giỏi của Kinh thành ắt hẳn đang được quan mang về đây ạ?”.
Ông Trần Văn Kỷ lúc này đã xuống ngựa, không nói năng gì mà đưa tầm mắt nhìn những hàng cây cao do chính tay ông mang về trồng ngày trước. Khẽ nở nụ cười, ông lặng lẽ chỉ tay về hướng rừng cây, nhẹ nhàng nói với người dân trong làng: “Áo tôi hứa cho bà con là đây này!”. Thoạt đầu mọi người có vẻ còn bất ngờ, nhưng sau một hồi ngẫm nghĩ, tất thảy đều vui vẻ chạy đến cảm ơn ríu rít vị ân nhân có tầm nhìn rất xa này.
Cụ Hiệp nói rằng, mọi người đều nghĩ được tặng áo nên chờ mãi. Ban đầu, khi ông Trần Văn Kỷ nói như vậy, họ cảm thấy hơi hụt hẫng. Nhưng lúc nhìn lại, hàng lộc vừng tốt tươi, trải qua bao trận bão lũ thiên tai, làng Siêu Quần vẫn bình yên vô sự nhờ sự chở che của dải lộc vừng trồng trên bờ đê, họ mới ngộ ra tấm áo mà ông nói đến chính là những cây lộc vừng do chính mình trồng.
Trong ký ức của những người lớn tuổi trong làng, hình ảnh những cây lộc vừng đã gắn bó với tuổi thơ của bao thế hệ với những trưa hè chăn trâu cắt cỏ, nằm ngủ, chơi đùa dưới tán cây. Trong kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ cứu nước, rừng lộc vừng như “tấm áo giáp” khổng lồ chở che cho các đơn vị bộ đội, dân quân du kích tiến vào trung tâm.
Cách đây hơn hai năm, khi mà trào lưu trồng cây lộc vừng cảnh nở rộ tại nhiều tỉnh thành ở miền Trung, chính quyền xã và người dân trong thôn đã rất vất vả để ngăn chặn những kẻ bứng trộm cây để bán. Nhưng sau đó, sau khi có sự ra quân quyết liệt của cơ quan chức năng và sự đồng lòng của người dân, tình trạng chặt, bứng trộm cây đã không còn xảy ra trên địa bàn xã.
Trao đổi với PV báo ĐS&PL, GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt Nam cho rằng: “Bảo vệ rừng mà được cho vào hương ước của làng, xã là việc làm rất tốt. Quy định này nên được nhân rộng ở những nơi có rừng bởi lâu nay, tình trạng phá rừng ở Việt Nam đang rất báo động. Việc làm này tốt nhưng cũng nên thông qua chính quyền địa phương để họ có thể tư vấn, hỗ trợ khi cần về mặt pháp lý”. (Đời Sống Và Pháp Luật 7/8) đầu trang(
Ngày 6-8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cho biết, vừa ban hành quyết định kỷ luật cảnh cáo, chuyển công tác đối với 4 cán bộ kiểm lâm huyện Đắk G'long do để một doanh nghiệp cất giấu gỗ trái phép lên đến hàng trăm mét khối.
Những cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo và chuyển công tác gồm: ông Đỗ Ngọc Trai (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G'Long), Trần Đình Quang (Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong), Nguyễn Tuấn Anh (Phó Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong) và Lê Xuân Trường (Phó Ban lâm nghiệp xã Quảng Sơn). Liên quan đến vụ án, trước đó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cũng đã có quyết định đình chỉ công tác đối với 4 cán bộ kiểm lâm này.
Như Báo CAND đã thông tin, vào ngày 5-4-2016, Cục Cảnh sát phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại (Bộ Công an) phối hợp với Công an và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông tiến hành kiểm tra tại xưởng gỗ của Doanh nghiệp tư nhân Quốc Triệu (đóng tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong).
Tại đây, cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 42,5m3 gỗ tròn (nhóm V đến nhóm VIII) mới khai thác, không có dấu búa kiểm lâm. Tại thời điểm kiểm tra, phía doanh nghiệp này không xuất trình được giấy tờ hợp pháp của số gỗ này. Mở rộng kiểm tra, tại 3 vị trí khác thuộc thôn 3A, xã Quảng Sơn, đoàn kiểm tra còn phát hiện thêm số gỗ khổng lồ gồm 216m3 gỗ tròn (nhóm III đến nhóm VII), số gỗ này cũng không có nguồn gốc hợp pháp. (Công An Nhân Dân 6/8) đầu trang(
Từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8-2016, lực lượng chức năng tỉnh đã phát hiện, thu giữ nhiều gỗ khai thác trái phép tại khu vực sông Bến Hải.
Vào ngày 1 và 2-8, lực lượng Trạm Kiểm lâm Bến Quan và BQL Dự án rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải đã phối hợp bắt giữ hơn 20m3 gỗ tròn. Mới nhất, ngày 4-8, CAH Vĩnh Linh phát hiện tại xã Vĩnh Ô (H. Vĩnh Linh) 1 điểm tập kết, thu giữ khoảng 10m3 gỗ quy tròn từ nhóm III đến nhóm VI; trước đó, lực lượng chức năng cũng bắt giữ khoảng 13m3 gỗ quy tròn từ nhóm III đến nhóm VII do "lâm tặc" cất giấu tại địa bàn Vĩnh Ô.
Cũng từ thông tin báo chí phản ánh về tình trạng rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải bị chặt phá nghiêm trọng, lãnh đạo UBND H. Vĩnh Linh đã chỉ đạo khẩn các lực lượng tăng cường, chốt chặt cửa rừng, kiểm tra các điểm bị chặt phá đồng thời sẽ xử lý nghiêm những trường hợp đã buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng trên. (Công An Nhân Dân 6/8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa ký các quyết định xử phạt trên 100 triệu đồng vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Cụ thể, phạt 50 triệu đồng đối với ông Nguyễn Thanh Đông (xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk) vì đã thực hiện hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật là 37 thanh gỗ xẻ không xác định chủng loại (SP) thuộc nhóm V với khối lượng 8,004m3 không có hồ sơ lâm sản hợp pháp, vi phạm điểm d, khoản 6, Điều 22 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Phát 50 triệu đồng đối với ông Nguyễn Văn An (xã Nghĩa Hiệp, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi) vì thực hiện hành vi kinh doanh 11 thanh gỗ xẻ Sến Boo Bô thuộc nhóm IV với khối lượng 11,846m3 không có hồ sơ lâm sản hợp pháp, quy định tại điểm d, khoản 6, Điều 23 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ và phạt tiền 5 triệu đồng về hành vi vi phạm thủ tục hành chính trong cất giữ 10,399m3 gỗ xẻ Sến Bô Bô. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Ngãi 5/8) đầu trang(
Những cánh rừng phòng hộ hàng trăm năm tuổi ở tiểu khu 47 thuộc thôn 6, xã Trà Thủy (Trà Bồng) đang dần bị triệt hạ, bởi bàn tay lâm tặc. Để bảo vệ nguồn “vàng xanh” còn lại, cơ quan chức năng, chính quyền và người dân địa phương đang tăng cường truy quét. Nhưng xem ra. Cuộc chiến giữ rừng ngày một gian nan hơn...
Theo chân đoàn truy quét nạn phá rừng, của UBND xã Trà Thủy phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng, chúng tôi có dịp tiếp cận cánh rừng phòng hộ ở tiểu khu 47. Mới mấp mé ở đầu con dốc dẫn lên rừng phòng hộ, chúng tôi đã bắt gặp hình ảnh một người đàn ông chở gỗ bằng xe máy lao nhanh xuống dốc. “Bình thường có nhiều chiếc xe máy như thế, chở gỗ phóng bạt mạng xuống núi lắm!”, một thành viên trong đoàn tiết lộ.
Thông tin truy quét lâm tặc triển khai đột xuất. Tuy nhiên, con đường dẫn đến rừng phòng hộ xa, đường đi lại hiểm trở, trong khi đó “tai mắt” của lâm tặc thì ở khắp nơi, nên khi tiếp cận được thì lâm tặc đã lẩn vào rừng, với nhiều vai khác nhau như đi hái phong lan rừng, kiếm mật ong... nên rất khó bắt và xử lý.
Men theo con suối, lối mòn đi vào rừng, chúng tôi phát hiện hàng chục cây gỗ lớn nhỏ bị đốn hạ. Anh Hồ Văn Đức, thôn 6, xã Trà Thủy bảo, mấy cái lối mòn mở bên cạnh những cây gỗ mới đốn hạ, thường có hầm than. Quả đúng vậy, cách con đường chính chừng 20m, đoàn truy quét phát hiện có một hầm than đã đốt xong, chỉ còn hơi ấm trên nền đất. Tiếp tục đi vào rừng, chúng tôi phát hiện ra gần chục lò than khác đang hoạt động.
“Trước đây, rừng này là một tấm áo giáp che chở, bảo vệ bộ đội và dân làng. Giờ đây, rừng chỉ còn là một mảng mỏng manh. Nếu không có biện pháp bảo vệ hữu hiệu, e rằng trong vài năm nữa, rừng cũng trở nên trơ trụi”, một người dân ở đây chia sẻ.
Ông L.N.N, một hộ dân tham gia nhận nhiệm vụ bảo vệ rừng phòng hộ ở đây bảo tôi: “Cháu đừng chụp hình chú đưa lên báo, không khéo bọn phá rừng nó thấy lại gây khó dễ”. Chuyện ông N lo lắng là có cơ sở, vì theo lời ông, trước đây cũng vì chuyện bảo vệ rừng mà bọn lâm tặc đã tìm đến tận nhà ông để đánh con ông và hăm dọa gia đình ông.
Trước đây, khi nạn khai thác rừng chưa ồ ạt như bây giờ, mỗi khi các đối tượng khai thác rừng trái phép thấy cán bộ bảo vệ rừng là bỏ chạy. Nhưng vài năm trở lại đây, chúng ra mặt chống đối quyết liệt. Bởi rừng quá mênh mông, trong khi sức lực của đội ngũ kiểm lâm rất mỏng, cơ chế cho kiểm lâm trong công tác còn hạn chế. Bên cạnh đó, mức xử lý, xử phạt còn thấp, chưa đủ tính răn đe...
Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Phó Chủ tịch UBND xã Trà Thủy cho biết: "Từ năm 2013 đến nay, tình trạng phá rừng phòng hộ để đốt than và lấy đất trồng keo diễn biến khá phức tạp. Do đó, việc bảo vệ rừng phòng hộ là vấn đề luôn được địa phương quan tâm. Hằng tuần, xã đều họp giao ban để nghe các trưởng thôn báo cáo tình hình bảo vệ rừng ở từng thôn. Đồng thời, thành lập kế hoạch chỉ đạo kiểm lâm viên, công an xã và xã đội tiến hành truy quét những điểm nóng trên địa bàn xã".
Ngoài ra, khi phát hiện gỗ được đưa ra khỏi cửa rừng, xã đã thông báo cho kiểm lâm triển khai chốt chặn, kịp thời bắt giữ những đối tượng vận chuyển than, gỗ trái phép. Qua đó, các lực lượng tham gia bảo vệ rừng đã bắt và xử phạt nhiều trường hợp. Riêng năm 2015, đã xử phạt hành chính 24 trường hợp; có 4 trường hợp đang bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự vì xâm phạm rừng phòng hộ một cách nghiêm trọng.
Theo lời người dân địa phương, những đối tượng cầm đầu khai thác gỗ và phá rừng đốt than ở đây đều là người ở nơi khác đến. “Họ hoạt động ngang nhiên. Chúng tôi đi rừng thường xuyên phát hiện đấy, nhưng đâu dám lên tiếng. Chỉ khi nào xã có lập đoàn truy quét thì mình mới tham gia. Và lúc này lâm tặc mới tạm thời ngưng hoạt động”, một người dân ở thôn 6, xã Trà Thủy cho biết.
Ông Đỗ Khắc Phi - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng nhận định: “Do địa bàn rộng, địa hình lại phức tạp nên có nhiều đợt tuần tra rừng, anh em kiểm lâm và Ban Quản lý rừng phòng hộ phải mang theo thực phẩm và nước uống, đêm dựng lán trại ngủ lại trong rừng 4 - 5 ngày liền mới về. Tuy nhiên, bọn lâm tặc ngày một manh động hơn. Chúng sẵn sàng chống đối khi bị phát hiện. Hơn nữa, dù người dân trong xã đã tham gia nhận giao khoán bảo vệ rừng, nhưng đôi khi thấy lâm tặc hoành hành, chở gỗ ngang nhiên vẫn không dám ngăn chặn, vì ai cũng sợ sẽ bị các đối tượng này hành hung”.
Nói là rừng phòng hộ, nhưng thực tế nhiều khoảnh rừng ở tiểu khu 47 giờ đã trở nên trơ trụi. Đường vào rừng cũng không còn khó khăn như trước nữa, bởi lâm tặc đã “bào mòn” nhiều lối đi. Có những vạt rừng bây giờ chỉ còn là bãi đất trống. Gỗ quý bị lâm tặc đốn hạ từ lâu. Và giờ đây, rừng đang bị các đối tượng đốt than “bức tử”, dù người dân và chính quyền nơi đây đã nỗ lực bảo vệ. Nước xa khó cứu được lửa gần. Cuộc chiến giữ rừng ở Trà Thủy xem ra vẫn còn lắm gian nan! (Báo Quảng Ngãi 7/8) đầu trang(
Khám nghiệm hiện trường vụ án là biện pháp điều tra được tiến hành tại hiện trường nhằm phát hiện, ghi nhận, bảo quản, nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng của các vụ phạm tội.
Nó sẽ là cơ sở để xác định yếu tố cấu thành tội phạm.Tuy nhiên, trong Biên bản khám nghiệm hiện trường trong hồ sơ vụ án về tội “Hủy hoại rừng” xảy ra tại xã Cửa Cạn, huyện Phú quốc , tỉnh Kiên Giang có những điểm chưa rõ ràng…
Theo hồ sơ vụ án, vào năm 1987 bà Huỳnh Thị Bích Phượng được cha ruột là ông Huỳnh văn Mật cho lại diện tích 17.440m2 đất tọa lạc tại ấp 3 xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Bà Phượng trồng tiêu và tràm bông vàng. Năm 2010, bà Phượng cùng chồng là ông Trần Kiều Hưng xin đăng ký QSD đất đối với thửa đất nêu trên, cơ quan đăng ký QSD đất huyện Phú Quốc đã 2 lần kiểm tra nguồn gốc, vị trí của thửa đất này và xác định: diện tích thửa đất 17,440m2 của ông Hưng, bà Phượng có một phần nằm trong ranh Vườn Quốc Gia Phú Quốc; phần nằm ngoài ranh Vườn Quốc Gia có diện tích 6.750,2m2 đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSD đất, ông Hưng , bà Phượng thuê người phát dọn để canh tác thì vào ngày 2/11/2011, Trạm kiểm lâm xã Cửa Cạn lập biên bản đình chỉ vì cho rằng ông Hưng, bà Phượng chặt phá đất rừng.
Ngày 25/5/2012, ngành chức năng huyện Phú Quốc kiểm tra, xác định ông Hưng, bà Phượng chặt phá diện tích 4.024m2 nằm trong ranh giới Vườn Quốc Gia Phú Quốc. Ngày 8/3/2013, VKSND huyện Phú Quốc đã truy tố ông Hưng bà Phượng về tội Hủy hoại rừng. Ngày 16/5/2013, TAND huyện Phú Quốc tuyên phạt ông Hưng 3 năm tù giam , bà Phượng 3 năm tù cho hưởng án treo.
Không đồng tình với bản án này, bà Phượng, ông Hưng kháng cáo đến TAND Tỉnh Kiên Giang vì cho rằng cả hai vợ chồng bị cáo chỉ phát dọn, canh tác đất đai trong phần diện tích được nhà nước cấp QSD đất; không vi phạm về tội hủy hoại rừng…
Trong lúc đó, nhiều cán bộ và người dân trong khu vực ấp 3 xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc cũng có đơn gửi đến TAND tỉnh Kiên Giang đề nghị tòa kiểm tra lại hiện trường vì cho rằng diện tích ông Hưng, bà Phượng phát dọn căn cứ vào các cột mốc tại hiện trường là nằm ngoài ranh Vườn Quốc Gia Phú Quốc. Để có một phán quyết khách quan, đúng người, đúng tội, tránh oan sai, TAND tỉnh Kiên Giang cùng với VKSND tỉnh Kiên Giang đã đến huyện Phú Quốc kiểm tra hiện trường vụ án.
Ngày 31/3 /2014, TAND tỉnh Kiên Giang đã đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đại diên VKSND tỉnh Kiên Giang đề nghị HĐXX tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND huyện Phú Quốc vì bản án này vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Cụ thể là: Cấp sơ thẩm chưa làm rõ các cột mốc để phân biệt ranh giới rừng; các cột mốc, đo đạc bản đồ, cắm mốc ranh giới của Vườn Quốc Gia không thể hiện rõ trong Biên bản khám nghiệm hiện trường; chứng cứ phạm tội của các bị cáo chưa được điều tra làm rõ; chưa thu thập đầy đủ chứng cứ của vụ án để xác định phần đất của các bị cáo canh tác nằm trong hay ngoài Vườn Quốc Gia Phú Quốc…
Một điều hết sức quan trọng là phần đất ông Hưng bà Phượng được cấp QSD đất trên thực tế và cũng theo các sơ đồ, bản vẽ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp thì phần đất nầy không có con suối đi qua. Thế nhưng Biên bản khám nghiệm hiện trường đo vẽ lại có con suối đi qua phần đất mà hai bị cáo được cấp quyền sử dụng.
Chính vì những cơ sở trên nên TAND tỉnh Kiên Giang đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND huyên Phú Quốc, trả hồ sơ để điều tra bổ sung và xét xử theo đúng quy định pháp luật.
Ngày 23/10 /2014, VKSND huyện Phú Quốc tiếp tục ra cáo trạng số 24/ KSTD-KT truy tố ông Hưng bà Phượng về tội Hủy hoại rừng. Ngày 17/3/2015 TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, đại diện VKS và đại diện Vườn Quốc Gia Phú Quốc cho rằng: ông Hưng bà Phượng phạm tội hủy hoại rừng do diện tích hai bị cáo chặt phá nằm ngoài diện tích mà hai bị cáo được cấp QSD đất.
Biên bản khám nghiệm hiện trường đã được kiểm tra và xác định tọa độ cụ thể. Dù VKS đã chứng minh hành vi phạm tội của hai bị cáo nhưng vẫn không thuyết phục được hội đồng xét xử.
Bởi HĐXX nhận thấy có quá nhiều khiếm khuyết trong hồ sơ vụ án về các cột mốc rừng và điểm quan trọng là thửa đất của hai bị cáo theo thực tế và cũng theo sơ đồ, bản vẽ do cơ quan thẩm quyền cung cấp không có con suối ngang qua (nó nằm ở phía Đông Bắc con suối) nhưng bản vẽ hiện trường thì vẽ thửa đất của hai bị cáo có con suối chạy ngang qua và nằm ở phía Nam con suối?! Chính vì những điều này mà một lần nữa HĐXX TAND huyện Phú Quốc quyết định trả hồ sơ cho VKSND huyện Phú Quốc bổ sung chứng cứ.
Do VKSND huyện Phú Quốc không bổ sung chứng cứ mới nên ngày 17, 18/11/2015, TAND huyện Phú quốc đã đưa vụ án ra xét xử và tuyên vợ chồng ông Hưng bà Phượng không phạm tội Hủy hoại rừng.
Không đồng tình với bản án này, VKSND huyện Phú Quốc kháng nghị Bản án đến TAND tỉnh Kiên giang. Ngày 25/05/2016 các cơ tiến hành tố tụng tiếp tục xác định vị trí và tọa độ của Biên bản khám nghiệm hiện trường lần thứ 2 có sự chứng kiến của vợ chồng ông Hưng, bà Phượng và một số người dân sống tại địa phương.
Vợ chồng ông Hưng, Phượng cùng một số người dân phản ánh: các tọa độ xác định trong Biên bản khám nghiệm hiện trường vào ngày 25/5/ 2016 vừa qua, có nhiều vị trí, tọa độ xác định rừng vẫn còn, không có sự tác động của con người.
Các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Kiên Giang sớm điều tra, làm rõ những điểm chưa rõ trong Biên bản hiện trường vụ án và làm rõ việc có hay không việc vợ chồng ông Hưng bà Phượng phá rừng quốc gia để có một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai … (Pháp Luật Và Xã Hội 7/8) đầu trang(
Gia đình bà Đặng Thị Hoài được UBND huyện Hương Khê ( Hà Tĩnh ) cấp 19 ha đất lâm nghiệp trồng cây tại Tiểu khu 193, xã Hòa Hải.Một số đối tượng vào khai thác trái phép cây trồng trên đất đang tranh chấp.Bà Hoài đã báo cáo việc này với chinh quền xã, nhưng vụ việc vẫn không được giải quyết.
Ngày 05/05/2015 ông Hồ Phúc Trường thuê máy ủi mở đường vào khai thác nơi diện tích keo đang tranh chấp. Bà Hoài kêu cứu Đảng ủy xã thì được bà Hồ Thị Huyền bí thư trả lời là chúng tôi đã chỉ đạo cấm không được khai thác.
Khi bà Hoài nói là họ đang khai thác thì bà Huyền bảo: “Chúng tôi chỉ có trách nhiệm trên giấy tờ thôi chứ không chỉ đạo trực tiếp. Ngay sau vụ việc, bà Hòa làm đơn báo cáo với Tòa án nhân dân huyện Hương Khê và Tòa án đã có công văn số 11/ CV/ TA chỉ đạo UUBND xã Hòa Hải kiểm tra thực địa, lập biên bản và đình chỉ ngay việc khai thác cây đang tranh chấp để chờ Tòa xét xử".
Ngày 8/5/2015, UBND huyện Hương Khê có công văn số 625 /UBND ngày 12/5 /2015 giao chủ tịch UBND xã Hòa Hải trên cơ sở Văn bản của Tòa án nhân dân huyện, kiểm tra đình chỉ việc khai thác rừng đang tranh chấp, xem xét xử lý vi phạm các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Mặc dù có văn bản của Tòa án và Công văn của UBND huyện chỉ đạo cụ thể rõ ràng nhưng UBND xã Hòa Hải mà cụ thể là ông Nguyễn Văn Quang chủ tịch, Nguyễn Văn Thái phó chủ tịch, Trương Quốc Hiến trưởng công an xã không thi hành triệt để sự chỉ đạo của Tòa án và UBD huyện mà vẫn dung túng cho các đối tượng tiếp tục mở đường khai thác keo đang tranh chấp của bà Hoài đi tiêu thụ.
Cụ thể là ngày 1/7/2015, ông Đặng Đình Thuộc mở đường vào khai thác keo trên diện tích đang tranh chấp. Gia đình bà Hoài có đơn trình báo lên ông chủ tịch và bà bí thư Đảng ủy, và ông Trần Đình Thái phó chủ tịch xã, ông Trương Quốc Hiến công an xã Hòa Hải. Đồng thời gọi điện cho ông Ngô Xuân Ninh Phó chủ tịch phụ trách nông lâm huyện, ông Ninh trả lời là đã chỉ đạo xã giải quyết .
Bà Hòa tiếp tục báo cho ông Lê Quốc Báo cán bộ huyện, thì ông Báo gọi điện cho UBND xã Hòa Hải ( điện cho ông Quang chủ tịch xã ) là đình chỉ mọi hoạt động trên diện tích đất đang tranh chấp để chờ Tòa giải quyết. Tuy nhiên không hiểu là ông Quang có chỉ đạo gì không mà kết cục là ông Đặng Đình Thuộc vẫn ngang nhiên khai thác rừng như chỗ không người.
Đến ngày 21/7/2015, hai ông Nguyễn Văn Bình và Nguyễn Văn Hương tiếp tục đưa máy ủi vào mở đường, dùng xe tự chế để vận chuyển khai thác, nhưng cơ quan chức năng địa phương vẫn không có ý kiến gì.
Vào ngày 2/8 /2015 ông Trần Văn Bính, ông Nguyễn Đăng Tịnh, và một số người khác cũng ngang nhiên thuê máy đào vào mở đường trong vùng đang tranh chấp để thu hoạch keo mang đi tiêu thụ . Bà Hoài lại tiếp tục làm đơn gửi các ngành các cấp ở Trung ương, tỉnh Hà Tĩnh, UBND huyện Hương Khê và báo cho ông Nguyễn Đình Quang chủ tịch xã…
Phóng viên Trí thức và Phát triển cũng vừa nhận được Đơn tố cáo của ông Phan Văn Hiến và bà Đặng Thị Hoài nội dung tố cáo như sau:
“Ngày 11/7/2016, đối tượng Thái Văn Sỹ và Nguyễn Đăng Bình tổ chức thu hoạch khai thác keo tại vùng đang có đơn khởi kiện tranh chấp. Đặc biệt đối tượng Thái Văn Sỹ bị tù giam 24 tháng vì tội “ đánh người gây thương tích” mới được ra tù nhưng lại tổ chức lôi kéo người khai thác keo trái phép mang đi tiêu thụ.
Khi bị lâm tặc phá rừng, khai thác gỗ keo trái phép, gia đình tôi đã báo cáo gọi điện phản ánh nhờ can thiệp, nhưng cán bộ xã vô tâm thiếu trách nhiệm để họ ngang nhiên khai thác.
Tuy nhiên cán bộ lãnh đạo xã Hòa Hải, gồm chủ tịch , phó chủ tịch xã, bí thư đảng ủy xã, trưởng công an xã và cán bộ lâm nghiệp nằm vùng xã Hòa Hải đã chây ỳ, coi thường pháp luật, bảo kê cho bọn xã hội đen phá hoại chiếm đất, tài sản gắn liền trên đất của gia đình tôi.
Vụ việc tuy đã được chúng tôi báo cáo nhưng ngày 12/7 2016 các đối tượng vẫn tổ chức khai thác keo đi tiêu thụ mà không có sự vào cuộc ngăn chặn hiệu quả của chính quyền các cấp địa phương.
Vì vậy tôi viết đơn này gửi đến quý báo, đến chủ tịch UBND huyện Hương Khê tố cáo bà Hồ Thị Huyền, Bí thư đảng ủy, ông Nguyễn Đình Quang, Chủ tịch , ông Phạm Văn Thái , Phó chủ tịch và ông Trương Quốc Hiến, Trưởng công an xã về hành vi bao che cho lâm tặc,thờ ơ thiếu trách nhiệm không có biện pháp chỉ đạo bảo vệ rừng ,bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân tại vùng đang có tranh chấp”.
Đất rừng đang tranh chấp có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mà có cây cối trên đất thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án và sự quản lý hành chính của địa phương, mà cụ thể là UBND xã Hòa Hải. Nhưng UBND xã Hòa Hải đã buông lỏng quản lý, bảo vệ rừng để cho các lâm tặc ngang nhiên mở đường khai thác trái phép cây rừng của bà Hoài.
Trao đổi với chúng tôi, bà Đặng Thị Hoài bức xúc: “ Cứ mỗi khi có lâm tặc vào rừng mở đường vào khai thác cây trồng trên đất của tôi, thì tôi lại gọi điện thoại cho lãnh đạo xã kêu cứu.
Nếu họ không nghe máy tôi lại chạy lên xã thông báo tình hình, cầu cứu sự giúp đỡ của chính quyền. Nhưng đáp lại là sự thờ ơ, vô trách nhiệm, của lãnh đạo xã, chính vì họ làm ngơ hoặc có sự tiếp tay nên các đối tượng mới tự do khai thác như vậy”.
Thông báo tiếp dân số 101/TB - UBND của UBND huyện Hương Khê nêu rõ: “ UBND huyện nghiêm khắc phê bình chủ tịch UBND xã Hòa Hải không chấp hành nghiêm văn bản chỉ đạo của UBND huyện, đồng thời yêu cầu Chủ tịch UBND xã Hòa Hải đình chỉ ngay moị hoạt động tác nghiệp trên đất Lâm nghiệp tại Tiểu khu 193 khu vực đang có tranh chấp và đang được cơ quan chức năng giải quyết.
Bà Trịnh Thị Thiện, Chánh án Tòa án nhân huyện Hương Khê cho biết: Tòa đã hai lần gửi văn bản cho UBND xã Hòa Hải ( số 11/ CV- TA ngày 05/05 /2015 và số 19 /CV – TA ngày 02/07/2015 ) về việc đề nghị kiểm tra và đình chỉ tác nghiệp, giữ nguyên hiện trạng tại vùng tranh chấp. Thế nhưng UBND xã Hòa Hải vẫn không kiểm tra và đình chỉ được vụ việc, khiến người dân phát sinh kiện cáo kéo dài.
Ngày 19 tháng 7 năm 2016 , Ban Tiếp công dân TW thuộc Thanh tra Chính phủ đã có công văn số 918/ BTCDTW – TD1 về việc chuyển đơn thư của bà Đặng Thị Hoài tố cáo một số cán bộ xã Hòa Hải , huyện Hương Khê, Hà Tĩnh bảo kê, chống đối việc thực hiện chính sách của Đảng tại địa phương tới UBND huyện Hương Khê giải quyết theo thẩm quyền quy định của pháp luật.
Đề nghị UBNND huyện Hương Khê chỉ đạo xã Hòa Hải nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc giải quyết vụ việc tranh chấp đất rừng giữa gia đình bà Đặng Thị Hoài và một số hộ tranh chấp.
Cần thường xuyên cử lực lượng tuần tra, phát hiện và đình chỉ , lập biên bản xử phạt ngay các vụ khai thác rừng trái phép.Đồng thời xử lý nghiêm khắc hơn nữa đối với những kẻ ngoan cố, làm trái pháp luật, trả lại niềm tin cho nhân dân. (Trí Thức Và Phát Triển 5/8) đầu trang(
Chỉ trong 3 ngày gần đây, lực lượng chức năng tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đã phát hiện và thu giữ 40m3 gỗ. Số gỗ này được cho là do lâm tặc chặt hạ và vận chuyển ra khỏi rừng thì bị phát hiện.
Cụ thể, vào ngày 4/8, Công an huyện Vĩnh Linh đã phát hiện 10m3 gỗ quy tròn từ nhóm III đến nhóm VI, được tập kết tại một bãi đất trống thuộc địa phận bản Thúc và bản 2, xã Vĩnh Ô, huyện Vĩnh Linh.
Trước đó, ngày 3/8, Trạm Kiểm lâm Bến Quan (huyện Vĩnh Linh) cũng đã bắt vụ vận chuyển với khối lượng lớn 30 m3 gỗ tại bản 5, thuộc xã Vĩnh Ô. Số gỗ này chủ yếu thuộc nhóm V, được xác định là do lâm tặc khai thác trong diện tích rừng phòng hộ của BQL Dự án rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải.
Trả lời báo chí, ông Thái Bình Giải, Phó trạm Kiểm lâm Bến Quan (Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) xác nhận, rừng tự nhiên phòng hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Linh đang bị chặt phá nghiêm trọng; trong đó, chủ yếu rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải quản lý.
Trước tình trạng chặt phá và vận chuyển gỗ rừng trái phép, UBND huyện Vĩnh Linh đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để tiến hành tuần tra, kiểm soát và ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng tại địa phương.
UBND huyện Vĩnh Linh đã yêu cầu các đơn vị liên quan chốt các cửa rừng, giao Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh thành lập đoàn kiểm tra những địa điểm rừng bị tàn phá. Giao cho Công an huyện Vĩnh Linh vào cuộc điều tra làm rõ về đối tượng phá rừng.
Ông Thái Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh cho biết, trong sáng 5/8 huyện đã tổ chức đoàn kiểm tra gồm có 24 người, với đầy đủ các cơ quan liên quan để vào rừng khảo sát. Đoàn sẽ tiến hành kiểm tra trong vòng 3 ngày để xác định mức độ rừng bị chặt phá. Sau đợt kiểm tra sẽ có báo cáo cụ thể gửi UBND tỉnh để có phương án xử lý. (Dân Trí 6/8) đầu trang(
Sáng 8-8, Đại tá Trần Văn Xuân, Trưởng Công an huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, cho biết các lực lượng chức năng gồm Công an, Kiểm lâm, Viện KSND huyện, Phòng NN&PTNN huyện đang xem xét thực địa vụ phá rừng phòng hộ hồ chứa nước Đông Tiễn để kiểm đếm số cây bị đốn hạ cũng như xác định chính xác diện tích rừng đã bị phá.
Trước đó, khoảng 10h ngày 7-8, Công an xã Bình Trị, huyện Thăng Bình phối hợp lực lượng Kiểm lâm địa bàn phát hiện 5 đối tượng đang dùng cưa máy để đốn hạ cây rừng tại khu vực rừng vùng giáp ranh giữa huyện Thăng Bình và Tiên Phước.
Lực lượng chức năng đã tạm giữ 3 đối tượng cùng 3 cưa máy dùng để đốn hạ cây. 2 đối tượng còn lại đã chạy thoát khỏi hiện trường.
3 đối tượng bị tạm giữ gồm Huỳnh Ngọc Ân (55 tuổi) và Lê Tân (48 tuổi, cùng trú xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước), Lê Văn Một (49 tuổi, trú xã Bình Lâm, huyện Hiệp Đức).
Bước đầu các đối tượng khai nhận việc đốn hạ cây rừng ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Đông Tiễn với mục đích lấy đất sản xuất. (Công An Nhân Dân 8/8, Pháp Luật TP.HCM 7/8) đầu trang(
Ngày 5-8, nhóm phóng viên Báo Người Lao Động đã quay trở lại thôn Giang Đông, xã Ea Đáh, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk - nơi có bối cảnh mà phóng sự của Chuyển động 24h (CĐ24h) phát hôm 4 và 5-5 cho rằng có phá rừng nghiêm trọng. Cùng đi với chúng tôi có trưởng thôn Giang Đông, ông Giàng A Nụ, vừa dẫn đường vừa phiên dịch giúp.
Trong căn nhà gỗ xập xệ của một gia đình người Mông nghèo, bà Sùng Thị Mao nằm còng queo trên giường. Bà than mệt vì những ngày qua có nhiều người đến hỏi về chuyện gia đình bà phá rừng.
Thế nhưng, khi nghe chúng tôi nói muốn tìm hiểu trong phóng sự của CĐ24h có cảnh “nhờ” gia đình bà ra rẫy diễn cảnh chặt cây, phá rừng hay không, bà Mao liền bật dậy. Bà kể: Hôm đó là buổi trưa, bà và các con cùng chồng là ông Vừ Dũ Dinh đang ngủ trong nhà thì có 2 người đàn ông đến, xưng là nhà báo và 1 người phụ nữ trong thôn tên là Sùng Thị Mông tới “dụ” đi vào rẫy để họ quay phim. “Tôi cũng chẳng biết họ gọi chúng tôi xuống rẫy hỏi cái gì nhưng vì nể người phụ nữ trong thôn nên tôi cùng nó (chồng - PV) cũng đi. Rồi họ bảo nó đi mượn cưa lốc. Rồi một người nam trong nhóm họ chạy đi mua chừng 1 lít xăng đổ vào cưa lốc và nhờ chúng tôi đưa xuống rẫy” - bà Mao thuật lại.
Điều này là hoàn toàn trái ngược với thông tin mà CĐ24h phát vào trưa 4-8, trong đó cho rằng khi phóng viên CĐ24h vào rẫy thì thấy người đàn ông đang chặt cây nên xin quay hình. Con gái bà Mao là Vừ Thị Dúc cũng khẳng định: “Hôm ấy nắng lắm, buổi trưa nữa, nên bố mẹ, mấy chị em đều trú trong nhà. Họ đến mới đưa bố mẹ em đi”.
Tiếp lời con, ông Vừ Dũ Dinh nói trên đường đi, vợ chồng ông gặp cháu Vàng A Tu (10 tuổi) đang đi tắm thì họ bảo theo cùng. Tu không muốn đi nhưng bị Sùng Thị Mông thuyết phục nên Tu đồng ý. Khi đến rẫy của ông Dinh thì họ lại bảo mang thêm cái rìu trong chòi và chỉ sang khu rừng phòng hộ Krông Năng bảo ông sang đó cưa cây để họ quay phim. Ông bảo chặt cây bên đó sợ bị bắt, họ lại bảo ông chặt cây trong rẫy cũng được. Rẫy của ông không còn cây nào nên ông sang rẫy của ông Vừ A Lao ở bên cạnh để chặt cây.
“Chặt cây nhỏ họ không chịu, phải chặt cây to. Tôi phải chặt gần 2 giờ đồng hồ cây mới đổ” - ông Dinh vừa nói vừa chỉ một gốc cây to hơn thân người đã đốn hạ nằm chỏng chơ bên bìa rẫy của ông Vừ A Lao.
Trưởng thôn Giàng A Nụ khẳng định cây mà ông Dinh đã chặt là cây trong rẫy của ông Vừ A Lao, không liên quan gì đến rừng. Rẫy này đã từng khai phá 20 năm trước. “Bảo chặt cây trong rẫy để nói phá rừng thì không hiểu nổi họ làm sao nữa” - ông Nụ thở dài.
Thôn Giang Đông trước nay không có điện, trong số 159 hộ dân nơi đây thì có đến 149 hộ nghèo, người dân không thể xem tivi nên cũng không biết thực hư phóng sự phá rừng của CĐ24h - VTV ra sao, chỉ nghe nói trong phóng sự đó có ông Vừ Dũ Dinh phá rừng. Chuyện đến tai gia đình ông Dinh, cả nhà bức xúc. Khi chúng tôi dùng điện thoại di động mở cho họ xem lại phóng sự phá rừng của CĐ24h thì bà Sùng Thị Mao bỗng đưa 2 tay lên trời, tức tối đến ứa nước mắt.
“Sao họ lại lừa những người dân tộc thiểu sốkhông biết chữ như chúng tôi? Đâu phải nghĩ chúng tôi ngu thì họ muốn làm gì thì làm sao! Tôi chỉ sợ trời thôi. Tôi không sợ ai đâu!” - bà Mao đưa tay lên dụi mắt.
Bà Mao cho biết ngay cả cái chuyện cuốc đất của bà (phát trong CĐ24h trưa 4-8, được phóng viên Báo Người Lao Động mở cho bà xem) cũng là làm theo yêu cầu của nhóm phóng viên VTV.
Cụ thể, sau khi ra rẫy, chồng bà đi với họ chặt cây còn bà ở trước chòi rẫy. Lúc họ vào, họ bảo bà ra rẫy cuốc đất để họ quay phim. Bà cuốc gần chòi, họ không chịu, bảo phải cuốc xa. Bà làm theo mà không biết cuốc đất để làm gì.
“Vợ chồng tôi là người vùng sâu, vùng xa, thiếu hiểu biết, mấy anh phóng viên là người hiểu biết vậy mà dụ chồng tôi đi chặt cây, tôi đi cuốc đất. Giờ phải mang tội phá rừng” - bà Mao rưng rức khóc.
Ông Vừ Dũ Dinh thì tỏ vẻ điềm tĩnh hơn nhưng không giấu nổi nỗi buồn. “Tôi đã già, có cháu ngoại, cháu nội nhiều rồi, sức đâu nữa mà họ bảo tôi đi phá rừng, đẩy chúng tôi vào cảnh mang tội, ảnh hưởng đến mình, ảnh hưởng đến nhà nước. Lừa dân như vậy, bức xúc lắm chứ!” - ông Dinh bộc bạch.
Cũng theo ông Dinh, những ngày qua ông quá mỏi mệt vì nhiều người đến hỏi về chuyện phá rừng của ông trong khi ông hoàn toàn bị hàm oan. Còn theo ông Giàng A Nụ, tuy gia đình ông Dinh thuộc diện hộ nghèo, đông con nhưng ông chưa một lần vi phạm lâm luật.
“Những hình ảnh phát trong phóng sự là nhà đài tự dàn dựng, xung quanh đó không còn rừng nữa, cây gỗ ông Dinh chặt nằm trên rẫy của ông Vừ A Lao. Việc phóng viên mượn người dân đi chặt cây để dàn dựng cảnh phá rừng rồi phát sóng đã ảnh hưởng rất nặng nề đối với chính quyền địa phương. Coi như chính quyền không có trách nhiệm với địa phương. Tôi nghe mấy người làm ngoài xã kể về phóng sự mà rất bức xúc. Tôi nghĩ không biết ông Vừ Dũ Dinh có thù gì với họ hay sao mà họ lại quy cho cái tội phá rừng như vậy?!” - ông Nụ đặt vấn đề...
“Nếu biết lừa thì đã không nhận tiền!”: Đó là lời của bà Sùng Thị Mao về 500.000 đồng bà đã nhận từ phóng viên CĐ24h mà chương trình này sau đó biện minh đó là “lòng tốt của phóng viên” (bản tin CĐ24h phát trưa 4-8 và trưa 5-8). Theo bà Mao, tiền đó là do các phóng viên cho sau khi vợ chồng bà giúp họ quay phim.
“Tôi thừa nhận vợ chồng tôi thiếu hiểu biết nên bị lừa, để giờ mình mang tội. Nếu biết họ lừa như thế này thì chúng tôi đã không làm và không bao giờ nhận tiền của họ” - bà Mao cay đắng.
Vì sao phóng viên Báo Người Lao Động phải trở lại gặp gia đình ông Vừ Dũ Dinh để kể lại câu chuyện nói trên?
Sự việc bắt đầu từ ngày 2-8, sau cuộc họp báo do UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức cùng ngày, Báo Người Lao Động Online đăng tin “VTV dàn dựng cảnh phá rừng để làm phóng sự?”.
Nội dung bản tin được trích từ báo cáo số 565/CAT-PC46 của Công an tỉnh Đắk Lắk ký ngày 27-7-2016 gửi Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực UBND tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh. Báo cáo này cũng là tài liệu chính thức do đại diện công an tỉnh đọc tại buổi họp báo, tiếp đó đăng công khai trên Cổng Thông tin Điện tử của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Thế nhưng, sau đó, chương trình CĐ24h - VTV liên tục phát các bản tin quy kết Báo Người Lao Động Online (và một số trang mạng) đưa tin sai sự thật về chuyện CĐ24h dàn dựng, cắt ghép phóng sự phá rừng, làm ảnh hưởng uy tín chương trình...
Trước động thái này, để bạn đọc khỏi hiểu nhầm, Báo Người Lao Động buộc phải lên tiếng minh định. Chúng tôi một lần nữa nhắc lại quan điểm, lập trường của báo:
1) Bản tin đã đăng nói trên không có nêu toàn phóng sự CĐ24h phát hôm 4 và 5-5 là dàn dựng, không phủ nhận rừng Đắk Lắk đang bị tàn phá, mà chỉ nêu cụ thể phân cảnh có dấu hiệu dàn dựng, cắt ghép trong phóng sự đó - là trường hợp gia đình ông Vừ Dũ Dinh (dẫn theo báo cáo xác minh số 565 của Công an tỉnh Đắk Lắk, trang 4).
2) Các phóng sự và bài phản ánh do chúng tôi thực hiện, đăng phát trên báo in và báo điện tử những ngày qua không nhằm mục đích nào khác ngoài việc phản biện lại những cáo buộc sai trái của CĐ24h đối với bản tin ban đầu trên Báo Người Lao Động Online; và khẳng định nội dung bản tin là chính xác, khách quan; nguồn tin được dẫn hoàn toàn hợp pháp, khả tín.
luật sư Nguyễn Văn Đức (Đoàn Luật sư TP HCM) cho biết: Dư luận đang rất quan tâm đến “phóng sự phá rừng” của chương trình “Chuyển động 24h” phát trên sóng VTV bị cho rằng có phần nội dung “cắt ghép, dàn dựng”.
Thông tin này xuất hiện khi Công an tỉnh Đắk Lắk có báo cáo số 565/CAT - PC46 (CV 565) ngày 27-7-2016 gửi Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực UBND tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh về việc trao đổi kết quả xác minh theo nội dung phóng sự của VTV và công bố tại buổi họp báo ngày 2-8.
Đến thời điểm này, CV 565 được ký bởi người có thẩm quyền của Công an tỉnh Đắk Lắk nên đây là văn bản có giá trị về pháp lý và vẫn đang có hiệu lực do chưa có văn bản nào phủ định. Vấn đề pháp lý đang phát sinh từ đây.
Phía VTV vẫn “nói cứng” là phóng viên không dàn dựng, không cắt ghép khi làm phóng sự. Nếu thông tin của VTV là đúng thì những người dân “phá rừng” có liên quan trong phóng sự gồm: ông Vừ Dũ Dinh và vợ là bà Sùng Thị Mao; bà Giàng Thị Xá và em Vàng A Tu (cùng ngụ xã Ea Đáh, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk) sẽ bị xử lý ra sao?
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và bảo vệ lâm sản, Nghị định 40/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 157, hành vi của những người này có dấu hiệu vi phạm điều 12 Nghị định 157, với mức phạt tiền ít nhất là 600.000 đồng đối với loại gỗ không thuộc nguy cấp, quý hiếm; trường hợp gỗ thuộc loại nguy cấp, quý hiếm theo nhóm IIA thì mức phạt ít nhất là 1 triệu đồng.
Nếu những người này đã từng bị xử phạt về hành vi đốt, phá rừng, hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thì sẽ đối diện với nguy cơ vi phạm pháp luật hình sự (điều 189 Bộ Luật Hình sự 1999). Trường hợp cơ quan điều tra xác định họ là “diễn viên” trong phóng sự theo sự hướng dẫn của phóng viên thì có thể họ được xem xét ở mức độ nhẹ hơn.
Ngược lại, những thông tin trong CV 565 là chính xác, nếu nhóm phóng viên làm phóng sự bị xác định là dàn dựng, hướng dẫn người dân chặt phá cây rừng thì hành vi của họ có dấu hiệu vi phạm Luật Báo chí và Quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam ban hành ngày 13-8-2005.
Việc dàn dựng, cắt ghép theo ý đồ của người làm báo là không tôn trọng sự thật khách quan, thiếu trung thực trong việc thực hiện tác phẩm báo chí. Đây là điều cấm kỵ đối với tất cả người làm báo.
Nếu nhóm phóng viên của VTV24 có hành vi như CV 565 của Công an tỉnh Đắk Lắk thì không chỉ có dấu hiệu vi phạm Luật Báo chí, vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà hơn hơn thế nữa, họ đã đẩy những người lương thiện thành kẻ phá rừng. Đây là điều không thể chấp nhận. (Người Lao Động 6/8) đầu trang(
Ngày 6-8, nhóm phóng viên Báo Người Lao Động có mặt tại thôn Giang Đông, xã Ea Đáh, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk để tìm gặp thêm những người liên quan đến phóng sự phá rừng của chương trình “Chuyển động 24h” (CĐ24h).
Phải mất 2 ngày, chúng tôi mới tiếp xúc được Vàng A Tu (14 tuổi) - nhân vật tham gia chặt hạ cây trong phóng sự phá rừng của “CĐ24h”, khi em cùng mẹ là bà Hờ Thị Cha từ rẫy trở về. Em tỏ ra lo sợ khi nghe nói gặp phóng viên, dù đang ngồi bên mẹ. Nghỉ học từ năm lớp 3, Tu không nói được tiếng Kinh nên chúng tôi phải nhờ anh Hờ A Phàng, một người hàng xóm, phiên dịch.
Dưới đây là nguyên văn cuộc nói chuyện:
“Phóng viên: Em kể lại sự việc hôm đó được chứ?
- Vàng A Tu: Hôm đó, em đi chơi với mấy bạn. Khi về nhà thì em gặp các anh chị ấy. Họ rủ đi chơi và em đồng ý. Họ bảo em về nhà lấy cưa nhưng em bảo không có. Rồi không biết họ tìm đâu được máy cưa. Đến nơi, họ bảo em giật máy cưa nhưng em giật không nổ. Họ đưa em cái rìu, bảo chặt cây để quay phim về chuyện làm ăn nên em cũng chặt. Cây nhỏ thôi.
Em chặt cây trong rừng hay trên rẫy?
- Cây trên rẫy.
Có lần nào em lên rừng chặt cây không?
- Chưa lần nào cả. Nhà em có nuôi 3 con bò. Em chỉ biết chăn bò và làm cỏ với mẹ thôi.
Họ có đưa tiền em không?
- Có. Chặt cây xong, lên chòi thì họ mới đưa 100.000 đồng. Họ đưa mà không nói gì cả.
Mấy hôm nay thì sao?
Chị Sùng Thị Mông (giữa) và em Vừ Thị Dở bức xúc khi kể sự việc với phóng viên Báo Người Lao Động vào ngày 6-8. Ảnh: NHƯ PHÚ
- Em nghe nhiều người bảo họ quay phim em rồi bảo em phá rừng. Em chỉ nghe vậy thôi, chứ em không được xem. Em còn nhỏ. Làm vậy tội em lắm!.
Khi nhiều người nói vậy, em thấy thế nào?
- Em rất sợ. Giờ không biết sẽ thế nào nhưng em rất lo lắng. Em không biết gì hết mà những người kia lại đưa em vào chuyện này.
(Không muốn làm Vàng A Tu thêm lo lắng, chúng tôi hỏi chuyện mẹ em, bà Hờ Thị Cha).
Phóng viên: Hôm em Tu đi chặt cây, bà có biết không?
- Bà Hờ Thị Cha: Lúc đi thì người ta đưa đi nên tôi không biết. Từ nhỏ tới giờ nó có bao giờ chặt cây. Nó còn nhỏ mà, cả nấu ăn cũng chưa biết. Đi làm cũng phải cho nó nghỉ sớm vì còn nhỏ.
Khi đã biết chuyện, bà thấy thế nào?
- Tôi rất đau lòng với những gì người ta làm với con tôi. Nếu không trả lại công bằng cho con tôi thì tôi có thể làm những việc mà tôi không muốn. Tôi thương con tôi. Dù nhà có ăn cơm với nước lã cũng vui. Đừng làm gì với con tôi như vậy!
Nhưng em Tu cũng được cho tiền?
- Tôi không vui tí nào. Nếu sự việc đúng đắn mà nhận tiền thì vui nhưng sự việc thế này, tôi rất buồn và thấy đau đớn nữa. Con tôi còn nhỏ thế này mà bảo đi phá rừng thì tội cho nó quá. Nó không biết gì mà bảo phá rừng!
Họ bảo quay phóng sự nghèo khổ (!?)
Phóng viên Báo Người Lao Động tiếp tục tìm đến nhà chị Sùng Thị Mông (cũng ở huyện Krông Năng) - người xuất hiện với vai trò phiên dịch cho nhóm phóng viên trong các bản tin của CĐ24h thời gian gần đây.
Phóng viên: Hôm đó, vợ chồng ông Vừ Dũ Dinh ở nhà hay đang phá rừng như phóng sự của CĐ24h nói?
- Chị Sùng Thị Mông: Hôm đó, tôi đang dạy thêm thì có 2 người đàn ông giới thiệu là phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam nhờ đi phiên dịch. Do họ đã biết nhà chú Dinh từ trước nên dẫn tôi tới chứ không phải vợ chồng chú Dinh đang phá rừng.
Khi ở nhà chú Dinh, họ nói nhờ vợ chồng chú Dinh vào làm rẫy để quay phóng sự nghèo khổ. Khi bắt đầu đi thì họ nói chú Dinh mượn cưa nhưng chú Dinh không chịu. Tuy nhiên, họ nói mượn cưa ra rẫy cưa mấy cành cây, gỗ mục như đang lấy củi để người ta nghĩ mình nghèo phải lấy củi về bán. Tôi cũng nghĩ họ chỉ đi quay cảnh làm rẫy.
Nhưng sau đó người ta nói mình phá rừng thì sao?
- Xuống tới chòi rẫy thì anh phóng viên bảo qua bên kia cưa gỗ được không nhưng chú Dinh trả lời cái núi đấy mình không cưa được đâu vì đó là khu bảo tồn. Sau đó, họ nói chú Dinh cưa cây gỗ còn sống ở rẫy để họ quay phim. Sau khi cưa đổ cây thì chú Dinh còn chặt thêm mấy cành để cho họ quay rồi đi phỏng vấn chú Dinh và em Tu. Chú Dinh trả lời, còn em Tu thì hỏi gì cũng không nói nên họ không quay được. Khi đang trên đường quay về, họ thấy mấy khúc gỗ nên bảo chú Dinh và Tu vác về lán để quay.
Khi về tới chòi thì bà Sùng Thị Mao (vợ ông Dinh) ở trong chòi hay đang làm rẫy?
- Lúc đó cô Mao đang ở trong chòi thì họ nhờ ra làm cỏ nhưng tới nơi thì cô chỉ cuốc đất và họ quay phim.
Chị được trả bao nhiêu tiền công?
- Ngày cuối cùng đi quay, họ đưa tôi 300.000 đồng. Tính ra thì tiền công của tôi được khoảng 120.000 - 130.000 đồng, còn lại tôi trả tiền mua đồ ăn cho cả đoàn.
Chị nghĩ sao khi người ta bảo gia đình ông Dinh ra rẫy quay cảnh khó khăn mà giờ lại phát lên truyền hình bảo ông Dinh đi phá rừng?
- Làm vậy không đúng. Đã thương phải thương cho trót. Mà đã không thương thì chắc chắn họ đối xử với chú Dinh như vậy thôi.
Vì sao ông Dinh lại trả lời phỏng vấn không phá rừng thì không có cái ăn?
- Họ có hướng dẫn chú Dinh một ít về cái gì phá rừng để kiếm sống nhưng mà không biết chú Dinh nói gì.”
Em Vừ Thị Dở, con ông Vừ Dũ Dinh, kể lại: “Có 2 anh đến trường em giới thiệu là phóng viên VTV24 gì đó. Thấy em ăn cơm không có thức ăn, các anh cho em 30.000 đồng để mua thức ăn rồi hỏi: Làng em có thường phá rừng không? Em bảo không. Các anh ấy lại hỏi: Bố mẹ em có phá rừng không? Em cũng bảo không. Các anh lại hỏi: Nhà em có rẫy không? Em bảo có nhưng không nhiều. Các anh bảo em đưa các anh đến nhà gặp bố mẹ để ra rẫy quay cảnh bố mẹ đi làm. Nếu làm cảm động thì người ta sẽ cho tiền”. (Người Lao Động 7/8) đầu trang(
Những đồng nghiệp tôi đang công tác tại VTV đang bị ảnh hưởng rất lớn, bởi chính sự tác động đó, khi mà bị chính các đồng nghiệp khác đánh đồng giữa “bánh mì và sự thật”.
Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Một nửa bánh mì là bánh mì, nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật”. Thầy tôi đã dạy tôi như thế từ buổi đầu tiên tôi học nghề báo. Cái nghề báo đến với tôi một cách đầy duyên nợ, nhiều khi tôi đã nghĩ đến việc từ bỏ, nhưng từ khó khăn, vất vả tôi lại thấy thật nhiều niềm vui, khi sản phẩm một bài báo được viết ra nó có sự tác động đến xã hội. Những đồng nghiệp tôi đang công tác tại VTV đang bị ảnh hưởng rất lớn, bởi chính sự tác động đó, khi mà bị chính các đồng nghiệp khác đánh đồng giữa “bánh mì và sự thật”.
Sau buổi họp báo ngày 2/8 của tỉnh Đăk Lắk, hàng loạt các báo mạng đã đưa thông tin về việc nhóm phóng viên của VTV đã dàn dựng trong vệt phóng sự điều tra phá rừng được phát sóng vào tháng 5/2016. Thông tin ngay sau đó đã được dư luận mà một số báo mạng như được cơn lên đồng bởi câu chuyện “Chiếc chổi quét rau” của VTV3 vẫn con nhãn tiền.
Những lời lăng mạ, xúc phạm Đài truyền hình quốc gia ngập trên các trang mạng xã hội. Thông tin mà các báo đã đưa là nhóm phóng viên của VTV, cụ thể là VTV24 đã có hành vi dàn dựng phóng sự phá rùng, cho tiền các nhân vật để diễn.
Tối ngày 2/8, khán giả của chương trình chuyển động 24h một lần nữa được xem lại màn ảo thuật cho những khối gỗ được đưa ra khỏi rừng dưới sự tiếp tay của những người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng.
May thay không ít những khán giả ở Tây Nguyên, đặc biệt là Đăk Lắk, địa phương đang có diện tích rừng bị tàn phá lớn nhật cả nước đã thực sự đồng cảm và cho rằng êkip thực hiện phóng sự của của VTV24.
Ngày 3/8 Một cuộc trao đổi trực tiếp của những lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk với nhóm phóng viên VTV24. Ông Nguyễn Tuấn Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc khẳng định: “Đài Truyền hình VTV đưa phóng sự là hoàn toàn có chứ không phải không có. Thứ hai, những vấn đề xem xét để chúng ta có những bước để kiểm tra thông tin. Đồng chí Thắng (Phó giám đốc Công an tỉnh) nói là nói trong báo cáo trên cơ sở thẩm tra ban đầu và không có từ nào nói rằng là dàn dựng cả. Tôi xin khẳng định lại một lần nữa để các đồng chí ở VTV hiểu rằng, buổi họp báo ngày hôm qua, không có một ý gì để dẫn đến câu chuyện ngày hôm nay chúng tôi phải ngồi đây. Tôi khẳng định luôn, vì tôi là người chủ trì họp báo”.
Ông Trần Quốc Cường, Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đăk Lắk cũng đã khẳng định: "Phóng sự của VTV24 đã giúp cho lãnh đạo tỉnh Đắk lắc kịp thời phát hiện một số vấn đề có liên quan trong công tác bảo vệ rừng, trong công tác cán bộ".
Có thể thấy những phát ngôn, những văn bản có chi tiết cho rằng phóng viên VTV dàn dựng làm phóng sự, là những văn bản thẩm tra ban đầu ( tức là còn có thể có văn bản bổ sung và chỉnh sửa). Điều đáng nói hơn nữa là những văn bản và lời nói được các phóng viên ghi lại, không có trong 4 nôi dung chính của buổi họp báo ngày 2/8. Những văn bản ấy lại là những văn bản “ mật” và tuyệt nhiên những chi tiết này đều được các báo giấu nhẹm. Và sự thật trên các mặt báo chỉ là một nửa.
11 giờ15' sáng 4/8, những hình ảnh đáng lẽ được giấu đi làm kỷ niệm của nghề phóng viên điều tra đã được phát đi trên sóng của đài truyền hình quốc gia. Người ta thấy ở đó có cảnh phóng viên cho tiền người phá rừng. Thế nhưng “của cho không quan trọng bằng cách cho”, câu nói luôn đúng, clip may mắn được ghi lại bởi 1 quay phim của ekip cho thấy, sau khi quay phim xong, nhóm phóng viên vô tình được người phiên dịch cho biết nhân vật mà phóng viên vừa quay có hoàn cảnh hết sức đáng thương, thường xuyên bị chồng đánh, những đứa con đang đứng trước nguy cơ bị bỏ học.
Xuất phát từ sự cảm thương giữa con người với con người, phóng viên làm phóng sự đã giúp họ 500.000 đồng, với hi vọng giúp đỡ được phần nào khó khăn.
Không ít khán giả đã bật khóc khi nhìn thấy những hình ảnh nhân văn như thế mà lại bị hiểu lầm, và ai cũng hiểu nghề báo bạc, và tác phẩm báo có giá trị thường lắm lận đận để được ghi nhận.
Những hình ảnh mà tôi và mọi người được nhìn thấy trong câu chuyện tác nghiệp dọc dài đất nước của anh em nghề báo, dường như đang khép lại câu chuyện lùm xùm về việc tác nghiệp của nhóm phóng viên VTV24. Nhìn lại sự việc có thể thấy, trong khi hàng ngàn ha rừng đã bị phá hoại, hàng triệu con người đang bị ảnh hưởng, và những người thực hiện phóng sự đã phải chịu biết bao khó khăn vất vả để phản ánh câu chuyện, thế nhưng chẳng mấy ai quan tâm đến cánh rừng và sự vất vả ấy.
Những giọt nước mắt của người đàn bà bất hạnh đã minh oan cho toàn bộ êkip của VTV24. “giải được họa thì má đã xưng”, không ít những khán giả vì bị ảnh hưởng bởi tin thất thiệt, khiến họ quay lưng lại với đài truyền hình quốc gia.
Đến đây mới thấy nghề báo là thứ nghề nghiệt ngã, khi vinh thì thật khó tạo, mà cái nhục thì luôn cận kề. (Báo Tin Nhanh 5/8) đầu trang(
Thói quen dùng gỗ tự nhiên, quý hiếm của người Việt là một trong những nguyên nhân chính khiến rừng Việt Nam suy kiệt”.
Bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Rừng mưa nhiệt đới Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 2 (2rd Asia-Pacific Rainforest Summit) vừa diễn ra tại Berakas Brunei, TS Lê Thiện Đức từ tổ chức WWF (World Wildlife Fund – Quỹ động vật hoang dã thế giới) đã nói thẳng như vậy.
Chuyện rừng vàng đang được thảo luận kỹ lưỡng trong khuôn khổ diễn đàn, bộ trưởng các nước trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương.
Hiện trạng suy giảm diện tích và chất lượng rừng ở Việt Nam được dẫn ra như một ví dụ điển hình. Theo báo cáo của Tổ chức lâm nghiệp quốc tế CIFOR, trong vòng 50 năm qua diện tích rừng Việt Nam đã giảm nghiêm trọng. Vào năm 1943, diện tích rừng của Việt Nam là 14,3 triệu ha, tương đương với độ che phủ rừng là 43%. Đến năm 1990, chỉ còn khoảng 9,175 triệu ha (khoảng 27,8% diện tích đất) còn rừng.
Các đại biểu phân tích kỹ lưỡng và đưa ra kết luận đáng lưu tâm rằng, từ năm 1975, cùng với diện tích rừng giảm, đa dạng sinh học của Việt Nam bị đe doạ nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu do khai thác gỗ thương mại, chuyển đổi đất đai, mở rộng sản xuất nông nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là để xây dựng các nhà máy thuỷ điện và cháy rừng.
Thông tin do CIFOR công bố đã chỉ ra rằng, khai thác gỗ là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái rừng ở Việt Nam.
Khai thác gỗ là thu hoạch gỗ theo kế hoạch để xuất khẩu, để làm nguyên liệu sản xuất giấy, gỗ chống lò và các hoạt động khat thác gỗ thương mại quy mô lớn do chính phủ cấp phép. Nhu câù nguyên liệu cho các nhà máy giấy dẫn đến việc chặt phá cả rừng tự nhiên và rừng trồng quy mô lớn.
Không chỉ có vậy, việc khai thác gỗ “không bền vững” dẫn đến huỷ diệt tài nguyên rừng Việt Nam còn do văn hoá của người Việt, TS Lê Thiện Đức bổ sung.
Theo ông Đức, “tình trạng mất rừng xảy ra liên tục, ở khắp nơi. Nguyên nhân mất rừng đã nói đến rất nhiều, chủ yếu do nhu cầu sử dụng gỗ tự nhiên, đặc biệt là những loài gỗ quý hiếm của người Việt, không thích sử dụng gỗ rừng trồng; bên cạnh những nguyên nhân như cháy rừng, phát triển hạ tầng, sức ép dân số dẫn đến chuyển đổi đất canh tác”.
TS Leslie Chiang, Brunei chia sẻ kinh nghiệm giữ rừng dựa vào cộng đồng.
Ông quả quyết đây là mô hình thành công cho việc bảo tồn sinh thái tự nhiên và văn hoá bản địa ở Brunei. Bằng cách này, ông Leslie Chiang đã “tạo ra” làng du lịch sinh thái Sumbiling Eco Village (SEV)- một hình mẫu được dẫn ra như một biểu tượng thành công.
Theo đó, dân bản địa đóng góp về nhân lực, các hoạt động văn hóa, ý tưởng bảo tồn cảnh quan…. Sự phối hợp giữa nhà khoa học và dân địa phương sẽ giúp phần đắc lực để bảo tồn từng khu rừng, từng con suối, từng bản làng cổ gần như trọn vẹn. Thực tế đã chứng minh đây là cách làm bền vững. Làng Sumbiling Eco luôn thu hút hàng ngàn khách du lịch đến thăm khu rừng, môi trường gần như được bảo tồn nguyên vẹn.
TS Leslie Chiang chia sẻ bí kíp qua việc khuyến khích từng người dân “xây dựng lòng tự trọng” qua các hành động trân trọng, tự hào về các giá trị bản sắc của mình, của ngôi làng. Bên cạnh đó, giới chuyên gia sẽ tiếp sức cho họ, trau dồi cho họ những kiến thức về môi trường, về kinh tế cho phù hợp. Đáng lưu ý là người dân ở đây, gần như không sử dụng các vật liệu như nhựa, sắt và hoá chất.
“Dân làng là một phần không tách rời của Sumbiling Eco Village”, ông Leslie Chiang quả quyết.
Từ câu chuyện thành công được mắt thấy tai nghe ở Brunei tôi không khỏi không nghĩ tới trăn trở của nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về rừng Tây Nguyên, Việt Nam: “Hãy trả rừng về cho làng”.
Xem ra, cách nghĩ, hướng làm của các nhà khoa học Việt Nam – Brunei không khác nhau là mấy. Đây là một gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam lưu tâm tham khảo. (Vietnamnet 7/8) đầu trang(
Không ít người dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cho rằng có cán bộ đã tiếp tay cho “lâm tặc” khi lập thủ tục và xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp không đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, tạo cơ hội cho một số đối tượng phá rừng. Từ nguồn tin đó, phóng viên Báo CAND đã vào cuộc tìm hiểu sự thật.
Trong thời gian qua, dư luận ở huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên rất bức xúc trước thực trạng hàng chục héc ta rừng nguyên sinh ở Hòn Đát, thuộc địa phận xã Sơn Nguyên, huyện Sơn Hòa đã bị những nhóm người công khai đốn hạ tan hoang.
Không ít người dân cho rằng có cán bộ đã tiếp tay cho “lâm tặc” khi lập thủ tục và xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) lâm nghiệp không đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, tạo cơ hội cho một số đối tượng phá rừng. Từ nguồn tin đó, phóng viên Báo CAND đã vào cuộc tìm hiểu sự thật
Cách đây hơn 13 năm, UBND tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định số 1483/QĐ-UB thu hồi 2.340ha đất từ Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sơn Hòa chuyển giao cho UBND huyện Sơn Hòa quản lý và thực hiện Dự án di giãn dân kết hợp phát triển sản xuất vùng kinh tế Nguyễn Xuân, xã Sơn Nguyên. Theo đó, BQL rừng phòng hộ Sơn Hòa bàn giao cho UBND xã Sơn Nguyên 2.340ha đất, trong đó có 2.283ha đất lâm nghiệp thuộc tiểu khu 192 và 10ha rừng trồng từ năm 1996-1997 chưa khai thác.
Dự án di giãn dân nêu trên đã được UBND huyện Sơn Hòa và UBND xã Sơn Nguyên triển khai trong suốt 8 năm (2003-2010) với vốn đầu tư hàng chục tỷ đồng, nhưng kết cục hơn 40 hộ gia đình lần lượt rời khỏi khu kinh tế Nguyên Xuân vì không chịu nổi cuộc sống khó khăn, chật vật giữa rừng Hòn Đát. Xót xa hơn nữa là trường học, trạm y tế mới đầu tư xây dựng xong ở đó bằng tiền tỷ đã phải…bỏ hoang.
Tranh thủ cơ hội này, ngày 17-6-2014, ông Đinh Văn Hùng, trú ở 245 Nguyễn Huệ, phường 5, TP Tuy Hòa lập hồ sơ, phương án quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp để trồng rừng trên diện tích 109ha với quy mô hộ gia đình.
Gần một tháng sau đó, ngày 22-7-2014, bà Phan Thị Hồng Loan – Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Loan Vy (ở 159 Trường Chinh, phường 7, TP Tuy Hòa) cũng lập thủ tục xin khảo sát, xác lập dự án đầu tư trồng rừng sản xuất tại tiểu khu 192 ở xã Sơn Nguyên với quy mô hộ gia đình. Sau khi UBND huyện Sơn Hòa xin ý kiến giải quyết đề nghị của hai đương sự nêu trên, Thường trực Huyện ủy Sơn Hòa không thống nhất vì họ không thuộc đối tượng đủ điều kiện giao đất lâm nghiệp theo quy định pháp luật.
Không bỏ cuộc, ông Đinh Văn Hùng móc nối với ông Ngô Tấn Thái – Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Nguyên để nhờ vị cán bộ này “mượn” 3 người thân đang thường trú tại địa phương là Ngô Văn Tịnh, Bùi Văn Bé và Nguyễn Văn Hiền làm thủ tục xin giao đất lâm nghiệp tại vị trí ông Hùng đã “ngắm”. Với sự trợ giúp tích cực của nhiều cán bộ có chức trách từ xã đến huyện, chỉ sau một thời gian ngắn, 3 người nêu trên được UBND huyện Sơn Hòa cấp giấy CNQSDĐ với diện tích mỗi người 25ha.
Ngay sau đó ông Hùng “mượn” lại giấy CNQSDĐ, rồi thuê xe cơ giới san ủi đường vào khu đất, tự chia tách cho ông Bé một phần đất rồi thực hiện phương án “dọn rừng để trồng rừng”. Ông Võ Văn Diện – cán bộ Trung tâm Quy hoạch thiết kế nông nghiệp thuộc Sở NN&PTNT Phú Yên là người đã phối hợp ông Đinh Văn Hùng thuê hàng chục người dân phát dọn, đốn hạ cây rừng tự nhiên suốt 5 ngày thì xảy ra sự cố cây rừng đổ ngã gây chết người nên phải tạm dừng, nhưng đến lúc đó nhiều vạt rừng ở Hòn Đát đã bị cạo trọc. Chứng kiến hiện trạng rừng Hòn Đát bị tàn phá tan hoang, nhiều người dân địa phương bức xúc.
Từ xa đã nghe tiếng máy cưa gầm rú suốt ngày, cây rừng đổ ngã ầm ào, xe máy, xe bò vận chuyển gỗ ngang nhiên trên con đường mòn từ những vạt rừng cạo trọc dẫn ra khu dân cư. Những vụ phá rừng cứ tái diễn nóng bỏng nhưng không thấy bóng dáng kiểm lâm và đại diện chính quyền địa phương đến hiện trường kiểm tra, ngăn chặn và xử lý.
Mãi đến giữa tháng 10-2015, một Đoàn kiểm tra liên ngành gồm Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm Phú Yên, UBND huyện Sơn Hòa và UBND xã Sơn Nguyên mới vào cuộc kiểm tra và xác định có tới 33,8ha rừng bị chặt phá, trữ lượng lâm sản thiệt hại 2.878m3 gỗ.
Trong đó chỉ riêng 75ha đất lâm nghiệp đã giao cho 3 ông Ngô Văn Tịnh, Bùi Văn Bé và Nguyễn Văn Hiền, có hơn 16ha bị chặt phá với trữ lượng lâm sản thiệt hại 1.360m3. Với hậu quả thiệt hại đó và những hành vi vi phạm pháp luật do những kẻ phá rừng gây ra, ngày 22-9-2015, ông Phan Văn Đoan – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Hòa đã ký quyết định khởi tố vụ án hình sự hủy hoại rừng, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ đến Công an huyện Sơn Hòa điều tra và xử lý theo thẩm quyền.
Trước đó vào ngày 10-9-2015, UBND huyện Sơn Hòa cũng đã thành lập Đoàn thanh tra việc cấp giấy CNQSDĐ cho 3 ông Ngô Văn Tịnh, Bùi Văn Bé và Nguyễn Văn Hiền, qua đó phát hiện hàng loạt sai phạm về trình tự, thủ tục giao đất, cán bộ có liên quan là ông Ngô Tấn Thái, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Nguyên, Võ Văn Diện, cán bộ Trung tâm Quy hoạch thiết kế nông nghiệp thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Phú Yên, Nguyễn Ngọc Tiến, Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Sơn Hòa cùng một số cộng sự.
Được biết, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên đã vào cuộc kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với đảng viên Nguyễn Ngọc Tiến, Huyện ủy viên, Trưởng phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Sơn Hòa. Công an huyện Sơn Hòa cũng đã khởi tố bị can đối với Đinh Văn Hùng và Võ Ngọc Diện về hành vi hủy hoại rừng. (Công An Nhân Dân 5/8) đầu trang(
Trong khi chờ đợi kết luận của Công an huyện Sơn Động về trường hợp con trai Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn phá gần 3ha rừng tự nhiên thì vừa qua, ông Phạm Văn Thắng – Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn đã tìm gặp phóng viên để giãi bày quan điểm về vụ việc.
Ông Thắng đã kêu “oan”cho cả hai bố con khi ông cho rằng phải có sự đồng ý của Kiểm lâm Sơn Động thì ông mới dám để con trai phá rừng trồng keo.
Một tình tiết bất ngờ xuất hiện trong vụ bố làm Chủ tịch thị trấn nhưng lại để con trai phá rừng tự nhiên xảy ra tại thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động – Bắc Giang). Ông Phạm Văn Thắng – Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn đã chính thức kêu “oan” cho con trai khi cho rằng “phải có sự đồng ý” của Kiểm lâm Sơn Động thì ông mới để cho con trai làm vậy.
Ông Thắng trình bày: Vào đầu năm 2014, tôi làm đơn xin xác nhận phát dọn thực bì gửi cho ông Bàn Văn Minh – Chủ tịch xã Tuấn Mậu thì được ông Minh xác nhận đồng ý. Sau đó tôi mang lên Hạt kiểm lâm Sơn Động gặp ông Hoàng Liên Sơn – Hạt phó để xác nhận và được ông Sơn bảo về gặp ông Trần Ngọc Sơn, khi đó là trạm trưởng trạm kiểm lâm Tuấn Đạo để đi kiểm tra thực tế hiện trường.
Chính ông Trần Ngọc Sơn với ông Trịnh Hữu Thực là kiểm lâm phụ trách địa bàn cùng với tôi trực tiếp lên rừng kiểm tra thấy toàn dây leo, bụi rậm, búi nứa thì mới quyết định xuống núi để lập Biên bản hiện trường. Vậy nhưng khi chưa kịp lập Biên bản thì ông Nguyễn Văn Hiệu – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm hiện giờ đã điện cho ông Sơn ra Tuấn Đạo thu gỗ khai thác trái phép. Trước khi đi, ông Sơn có bảo tôi là “anh cứ cho cháu nó phát dọn, em sẽ lập hồ sơ sau”. Khoảng 1 tuần sau thì ông Sơn, ông Thực chuyển trạm nên không kịp làm hồ sơ cho tôi.
Nghe lời ông Sơn, tôi đã bảo con trai thuê người phát dọn và đốt thực bì mà không nghĩ rằng đó là hành vi phá rừng tự nhiên trái phép. Sau đó, ông Hoàng Văn Nguyên (Hạt phó Hạt Kiểm lâm Sơn Động) khi đó về thay ông Sơn làm trạm trưởng có chở cho tôi 2000 cây keo (ông Nguyên khi được hỏi về việc này đã phủ nhận việc chở keo cho nhà ông Thắng - PV).
Bản thân tôi là Đảng viên, trước khi sang làm Chủ tịch thì đã làm Trưởng công an thị trấn nên tôi hiểu rõ những việc nào được làm và không được làm. Trong sự việc này bố con tôi quá tin vào Kiểm lâm Sơn Động, tưởng họ cho phép (bằng miệng – PV) rồi thì cứ làm, còn thủ tục có thể hoàn thiện sau. Chính vì vậy, khi con tôi bị điều tra về tội hủy hoại rừng, thực sự gia đình rất sốc bởi hành vi đó theo tôi không đến mức bị khép vào tội đó.
Sau loạt bài phản ánh về việc phá rừng tự nhiên trái phép của con trai Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn được đăng tải trên báo Tài nguyên và Môi trường thì ngày 27/6/2016, Chủ tịch UBND huyện Sơn Động Nguyễn Quang Ngạn đã có Văn bản yêu cầu các phòng ban và đơn vị có liên quan phải xử lý nghiêm vụ việc. Theo đó, hàng loạt cá nhân đã bị điểm mặt, chỉ tên với những hành vi vi phạm pháp luật cụ thể.
Ngoài ra, Chủ tịch huyện Sơn Động cũng kiến nghị Sở NN&PTNT Bắc Giang xem xét trách nhiệm và có biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động Nguyễn Văn Hiệu và cán bộ chuyên môn liên quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Tiếp đó, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp – Bộ NN&PTNT) và Thanh tra Bộ Công an cũng đều có Văn bản trả lời Báo TN&MT, đề nghị Công an huyện Sơn Động xử lý nghiêm vụ việc.
Theo thông tin mới nhất chúng tôi mới nhận được từ ông Đinh Quang Hiệp - Trưởng công an huyện Sơn Động thì trong tháng 8 này sẽ có kết luận cuối cùng về vụ việc sau khi có chỉ đạo từ Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bắc Giang.
Trước đó, Báo điện tử TN&MT đã đưa tin về vụ việc ông Phạm Văn Thắng - Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn tuy là chủ sử dụng của 14,5 ha rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp (được nhà nước giao trông coi, quản lý) nhưng để cho con là Phạm Văn Cương - Cán bộ tư pháp thị trấn phá gần 3 ha rừng tự nhiên nhưng không bị xử lý hình sự.
Trong quá trình điều tra, nhóm phóng viên phát hiện giấy ủy quyền của ông Phạm Văn Thắng cho con trai là Phạm Văn Cương toàn quyền sử dụng 9,5 ha đã bị làm giả với sự góp sức của và một PCT xã khác.
Cụ thể là vào đầu năm 2016, nhân dịp phải giải quyết một vụ việc liên quan tới người dân tố cáo ông Thắng phá rừng và con trai ông này lấn chiếm đất rừng của người hàng xóm, thì ông Hoàng Văn Tuệ - PCT xã Tuấn Mậu đã “liều lĩnh” ký xác nhận một giấy ủy quyền cho cha con ông Thắng.
Liều lĩnh là bởi giấy này ghi ngày ủy quyền là ngày 24/2/2014 (giấy do con trai ông Thắng mang tới), thời điểm đó ông Hoàng Văn Tuệ chưa làm PCT xã Tuấn Mậu. Phải đến ngày 14/11/2014, ông Tuệ mới chính thức là PCT xã Tuấn Mậu sau khi nhận Quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử PCT UBND xã Tuấn Mậu, nhiệm kỳ 2011 - 2016 của Chủ tịch UBND huyện Sơn Động Nguyễn Quang Ngạn.
Liên quan tới việc phá rừng tự nhiên trái phép, ngày 16/7/2015, TAND huyện Sơn Động đã đưa vụ án phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại xã An Lạc ra xét xử. Hai bị cáo trong vụ án này là Châu Văn Định (SN 1971), Châu Văn Chung (SN 1974) hộ khẩu thường trú tại thôn Biểng, xã An Lạc, huyện Sơn Động bị truy tố với tội danh hủy hoại rừng theo Điều 189 Bộ Luật hình sự.
Nguyên nhân là bởi vào khoảng tháng 3/2014, với lý do thiếu đất canh tác, các bị cáo đã tự ý chặt phá 4 ha rừng tự nhiên đã được Nhà nước giao để bảo vệ. Sau khi phát hiện vụ việc, Hạt Kiểm lâm Sơn Động đã hoàn thiện hồ sơ, chuyển Cơ quan CSĐT huyện Sơn Động đề nghị xử lý.
TAND huyện Sơn Động đã tuyên phạt Châu Văn Chung 3 năm 3 tháng tù giam và 5 triệu đồng; Châu Văn Định 3 năm tù cho hưởng án treo và 5 triệu đồng. Cũng với tội danh phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại xã An Lạc ngày 13 - 5 - 2015, TAND huyện Sơn Động đã xử phạt Lê Văn Vinh (SN 1981) thường trú tại thôn Đồng Bây xã An Lạc huyện Sơn Động 3 năm tù giam. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/8) đầu trang(
Sáng 5.8, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với Phạm Xuân Trình về tội hủy hoại rừng.
Liên quan đến vụ phá rừng này, trước đó Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên đã tiến hành kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm đối với 4 cán bộ H.Đồng Xuân, gồm: Đặng Văn Trọng, huyện ủy viên, Phó chủ tịch UBND huyện; Cao Thanh Lương, huyện ủy viên, Trưởng phòng TN-MT; Nguyễn Hồng Đức, Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất H.Đồng Xuân và So Bếp, huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã Phú Mỡ.
Theo Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên, 4 cán bộ này liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 3 hộ dân ở xã Phú Mỡ trái quy định pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng ở tiểu khu 83 và 90. Cơ quan chức năng xác định, diện tích rừng bị phát dọn trái phép là 108,7 ha, trong đó có 25 ha rừng phòng hộ đầu nguồn, 8 ha rừng sản xuất, còn lại là đất lâm nghiệp. (Thanh Niên 6/8) đầu trang(
Những năm gần đây, nạn phá rừng làm nương, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Mường Nhé diễn biến phức tạp.
Các đối tượng vi phạm luôn sử dụng thủ đoạn tinh vi xâm hại rừng, có trường hợp tỏ thái độ thách thức, chống đối người thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, gây nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh ngăn chặn, xử lý nạn phá rừng.
Tổng diện tích đất có rừng của huyện Mường Nhé là 72.055,66ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 45,78%. Theo báo cáo từ Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé, những năm gần đây, mỗi năm trên địa bàn huyện xảy ra 60 - 80 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Các vụ vi phạm chủ yếu là phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép làm nương; khai thác, cất giấu, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép.
6 tháng đầu năm, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tăng vọt với 177 vụ. Trong đó, 156 vụ phá rừng trái phép với tổng diện tích rừng thiệt hại là 153,19ha; 1 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, tang vật thu gồm 2 hộp gỗ xẻ nhóm III, khối lượng 0,084m3...
Việc phát hiện, ngăn chặn hành vi chặt phá rừng làm nương và khai thác lâm sản trái phép của các nhóm dân di cư tự do gặp nhiều khó khăn bởi địa bàn hoạt động của các nhóm đối tượng này thường diễn ra ở vùng sâu, vùng xa, ở một số khu vực gần quốc lộ, hoặc gần các trung tâm hành chính cấp huyện, xã, các vụ phá rừng làm nương, khai thác lâm sản được tiến hành vào ban đêm hoặc sáng sớm.
Một số nhóm đối tượng chặt phá rừng có tổ chức còn rải đinh, chặt cây chắn ngang đường… nhằm ngăn cản công tác tuần tra, kiểm soát rừng của các cơ quan chức năng. Một số đối tượng sẵn sàng đe dọa, chống đối người thi hành công vụ khi bị phát hiện.
Trước diễn biến phức tạp của nạn phá rừng làm nương, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép trên địa bàn, UBND huyện Mường Nhé đã chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát phát hiện các vụ xâm hại rừng và buôn bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép.
Hàng năm, Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức tại các thôn, bản, điểm dân cư trên 100 buổi tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Chỉ thị số 08/2006/TTg ngày 8/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp ngăn chặn tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép; Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 18/12/2015 của UBND huyện Mường Nhé về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR trên địa bàn huyện Mường Nhé... cho hàng nghìn lượt người nghe.
Hạt phối hợp cùng Phòng Tư pháp huyện, chính quyền cơ sở tổ chức cho 100% hộ dân trên địa bàn ký cam kết thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Hiện nay, toàn huyện có 97% thôn, bản, điểm dân cư xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước, hương ước bảo vệ rừng. 100% thôn, bản, cụm dân cư có tổ bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, mỗi tổ có từ 10 - 15 thành viên.
Tại các điểm "nóng" thường xảy ra chặt phá rừng; tại các tuyến giao thông hay xảy ra tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép. Hạt Kiểm lâm cử cán bộ có kinh nghiệm bám cơ sở tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nắm bắt tình hình; vận động nhân dân phát hiện, tố giác hành vi phá rừng. Tránh việc doanh nghiệp lợi dụng giấy phép khai thác gỗ tận thu trong quá trình triển khai các dự án liên quan đến rừng và đất rừng để khai thác gỗ trái phép, Hạt Kiểm lâm yêu cầu doanh nghiệp ký cam kết tận thu lâm sản đúng sơ đồ thiết kế.
Cùng với đó, Hạt Kiểm lâm huyện còn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng: Năm 2015, trên địa bàn huyện xảy ra 50 vụ phá rừng trái phép, ngoài việc xử phạt hành chính các đối tượng vi phạm ở mức độ nhẹ, Hạt đã đề nghị các cơ quan chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự 6 vụ, 6 đối tượng phá rừng trái phép gây thiệt hại nghiêm trọng. (Báo Điện Biên Phủ 5/8) đầu trang(
Xác định công tác quản lý, bảo vệ rừng là nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu của đơn vị, ngay từ đầu năm, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Nà Hang đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác chung của đơn vị; chỉ đạo các đơn vị và trạm kiểm lâm duy trì hoạt động hiệu quả.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nà Hang Ma Thanh Khiết cho biết, với mục tiêu hoàn thành tốt công tác quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng, Hạt chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng kịp thời nắm bắt thông tin, phát hiện và xử lý các tụ điểm chặt phá, khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng. 6 tháng đầu năm, Hạt đã phát hiện và xử lý 31 vụ vi phạm lâm luật.
Trong đó 4 vụ vi phạm khai thác rừng trái phép, 2 vụ vận chuyển lâm sản, 1 vụ vi phạm thủ tục hành chính, 24 vụ không xác định được chủ; tịch thu 22,012 m3 gỗ các loại, 4 chiếc xe máy, 4 chiếc cưa xăng; thu nộp vào ngân sách nhà nước trên 11 triệu đồng.
Cùng với tuyên truyền, phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm lâm luật, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho chính quyền các xã ban hành văn bản nhằm thực hiện tốt những biện pháp PCCCR; kiện toàn Ban chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các xã, xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện quy chế phối hợp 3 lực lượng (Kiểm lâm địa bàn, Công an xã, Ban CHQS xã).
Hạt duy trì trực PCCCR 24/24h tại văn phòng Hạt và những xã trọng điểm, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn thường xuyên bám sát cơ sở, tham mưu cho chính quyền sở tại thực hiện tốt trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.
Các đơn vị chủ động chỉ đạo kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở, tăng cường phối hợp chặt chẽ với các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng thường xuyên kiểm tra những điểm có nguy cơ cháy cao, nhắc nhở, hướng dẫn người dân dọn vệ sinh rừng sau khi khai thác và sử dụng lửa đúng quy trình kỹ thuật trong việc đốt, dọn nương rẫy, thường xuyên theo dõi các yếu tố khí tượng trên địa bàn huyện nhằm dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trong những ngày nắng hạn kéo dài.
Trong thời gian tiếp theo, Hạt Kiểm lâm Nà Hang tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng trọng điểm, phối hợp tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR, bảo vệ tốt tài nguyên rừng, tiếp tục phối hợp với Ban phát triển rừng xã, thôn rà soát, vận động nhân dân đăng ký trồng rừng đạt kế hoạch giao năm 2016.
Đồng thời đôn đốc kiểm tra, hoàn thiện việc trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng năm 2016 đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật và đúng quy định góp phần nâng cao độ che phủ rừng, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Báo Tuyên Quang 6/8) đầu trang(
Sau khi Báo Lao Động nêu thông tin rừng tự nhiên thuộc lâm phần của Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) bị tàn phá, theo chỉ đạo của UBND huyện Vĩnh Linh - đoàn liên ngành đã được thành lập và đi vào rừng xác minh thông tin báo nêu.
Ban đầu, tổng số người tham gia đoàn liên ngành 48 người, chia thành 2 nhóm, nhưng do tính chất vụ việc và đường sá đi lại khó khăn, nên Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh phải tăng cường thêm quân số (tổng cộng hơn 50 người). Từ ngày 5.8 đến nay, đoàn chia làm 2 nhóm, 1 nhóm đi vào rừng thuộc xã Vĩnh Ô, nhóm còn lại vào địa phận xã Vĩnh Hà để kiểm tra thông tin tình trạng phá rừng.
Theo ông Nguyễn Long, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh (vừa nhận công tác), hiện tại chưa có báo cáo kết quả cụ thể, nhưng thông tin ban đầu cho thấy, tình trạng khai thác gỗ trong rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải đúng như báo nêu. "Tọa độ khai thác gỗ mà báo nêu đều chính xác, hiện trường còn nguyên gốc cây và phách gỗ vừa được cưa xẻ" - ông Long, nói.
Được biết, ngay sau khi Báo Lao Động phản ánh về tình trạng phá rừng ở huyện Vĩnh Linh, trong khoảng 4 ngày cơ quan chức năng đã phát hiện, thu giữ khoảng 50m3 gỗ.
Trước chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vào ngày 5.8, yêu cầu UBND tỉnh Quảng Trị khẩn trương kiểm tra, làm rõ nội dung Báo Lao Động nêu và có biện pháp xử lý về tình trạng phá rừng ở huyện Vĩnh Linh, ông Hà Sỹ Đồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị họp các ban ngành liên quan để xử lý. (Lao Động 6/8) đầu trang(
7 tháng đầu năm 2016, Đội kiểm lâm cơ động PCCCR số 3 (Chi cục kiểm lâm) phát hiện 44 vụ vi phạm lâm luật, qua đó tịch thu 125,66 khối gỗ, gồm 104,509 khối gỗ xẻ, 21,16 khối gỗ tròn.
Cùng với việc thành lập các tổ kiểm lâm cơ động tại Tuần (xã Quỳnh Châu – Quỳnh Lưu), Tổ cơ động Trạm Lát (Châu Hội - Quỳ Châu), Tổ cơ động Sông Bùng (tại Châu Bình – Quỳ Châu), Đội kiểm lâm cơ động PCCCR số 3 thường xuyên phối hợp, hỗ trợ các cấp, ngành chức năng tăng cường công tác tuần tra, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm lâm luật.
Từ việc xử lý kịp thời các vụ vi phạm lâm luật, trong 7 tháng đầu năm 2016, Đội đã truy thu cho ngân sách nhà nước hơn 514 triệu đồng. (Báo Nghệ An 6/8) đầu trang(
Ngày 5/8, tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tổ chức hội thảo đánh giá định kỳ 10 năm Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang được UNESCO công nhận.
Một số nhà khoa học của Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) Việt Nam, Viện Môi trường phát triển bền vững và các sở, ngành hữu quan tỉnh Kiên Giang tham dự.
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang được UNESCO công nhận ngày 27/10/2006, với tổng diện tích 1.188.106 ha, gồm đất liền, biển và hải đảo thuộc địa bàn 10 huyện, thị của tỉnh Kiên Giang là Vĩnh Thuận, An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Hòn Đất, Kiên Lương, Giang Thành, Kiên Hải, Phú Quốc và thị xã Hà Tiên.
Đây là khu dự trữ sinh quyển lớn thứ 2 trong 9 khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam và trong tổng số 651 Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở hơn 120 quốc gia và các khu vực xuyên quốc gia. Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang kết nối 3 vùng lõi là Vườn Quốc gia U Minh Thượng; Vườn Quốc gia Phú Quốc, Khu bảo tồn biển Phú Quốc; Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Chông và đai rừng ngập mặn ven biển Tây.
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) Việt Nam cho biết, hầu hết các hệ sinh thái nhiệt đới đều có ở Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang như: hệ sinh thái biển và ven bờ, đồng cỏ, rừng ngập mặn, hải đảo, rạn san hô, đầm lầy, rừng tràm ngập nước theo mùa, những cánh rừng nhiệt đới nguyên sinh và thứ sinh trên đảo Phú Quốc, rừng trên núi đá vôi Hòn Chông còn lại duy nhất ở miền Nam.
Các hệ sinh thái này đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người, đặc biệt là trong việc duy trì, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ hệ sinh thái nơi đây, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của cả khu vực và sự tồn tại của trái đất.
Đánh giá của các nhà khoa học, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang trong 10 năm qua có những tiến bộ rõ rệt đã đạt được theo tiêu chí Điều 4 khung pháp lý mạng lưới Khu dự trữ sinh quyển thế giới và ngày càng phát huy hiệu quả tích cực.
Cụ thể là tính đa dạng các hệ sinh thái; bảo tồn đa dạng sinh học; tạo cơ hội để khám phá và trình diễn các mô hình phát triển bền vững ở quy mô khu vực; diện tích phù hợp phục vụ cho 3 chức năng của khu dự trữ sinh quyển là bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học và môi trường; phân vùng thích hợp để phục vụ 3 chức năng; tổ chức phối kết hợp hợp lý giữa các bên liên quan để thực hiện tốt các chức năng của khu dự trữ sinh quyển; cơ chế đồng thuận thực hiện phát triển khu dự trữ sinh quyển.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Niệm, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang cho biết, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang có độ đa dạng sinh học cao với hệ động, thực vật trên 2.340 loài. Trong đó, 1.480 loài thực vật với 116 loài quý hiếm được ghi trong sách Đỏ và 57 loài đặc hữu; khoảng 856 loài động vật với 78 loài quý hiếm, trong đó có 36 loài đặc hữu.
Hiện nay, đã ghi nhận thêm 48 loài động vật và 17 loài thực vật, với một số loài đặc hữu quý hiếm như: thằn lằn ngón Phú Quốc, thằn lằn đá ngươi tròn đuôi trắng, thằn lằn chân ngón Hòn Tre, rắn lục Hòn Sơn, thu hải đường Bà Tài, lan bầu rượu Kiên Lương…
Theo Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang, trong 10 năm qua, tổng ngân sách đầu tư trong khu dự trữ sinh quyển này hơn 5,6 triệu tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, tài trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế. Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quảng bá hình ảnh tỉnh Kiên Giang với thế giới.
Cùng với đó, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang xây dựng và tăng cường mối quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức khoa học, bảo tồn trong nước và quốc tế. Hơn 60 dự án hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động nghiên cứu bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang trong 10 năm qua, với tổng kinh phí gần 13 triệu USD.
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang là trọng điểm nghiên cứu khoa học của hầu hết các viện nghiên cứu, trường đại học không chỉ của Việt Nam mà còn nhiều quốc gia trên thế giới. Hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu tài nguyên, môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và có gần 250 đề tài, dự án được triển khai, ứng dụng trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang.
Tại hội thảo này, nhiều ý kiến đóng góp hữu ích, thiết thực và tâm huyết của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, cán bộ chuyên môn trong công tác quản lý và bảo tồn những giá trị Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang thời gian qua.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Niệm, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang cho biết, những đề xuất, ý tưởng, nêu giải pháp cụ thể này nhằm giúp tỉnh Kiên Giang xây dựng hoàn chỉnh “Báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang được UNESCO công nhận” để báo cáo cho Ban Thư ký MAB Quốc tế tiếp tục ủng hộ phát triển Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang - Việt Nam.
Đồng thời, xây dựng các định hướng quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững, hiệu quả các giá trị Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang 10 năm tới, góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030. (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 5/8) đầu trang(
Tình trạng buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) trái phép đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của Việt Nam. Nhiều loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm khác như: hổ, voi, cá sấu, tê tê và các loài linh trưởng quý hiếm cũng đang bên bờ vực tuyệt chủng.
Nhu cầu tiêu thụ ĐVHD ở Việt Nam và Trung Quốc được xem là nguyên nhân chính thúc đẩy tình trạng này. Nhiều ý kiến cho rằng, gây nuôi thương mại vừa là một giải pháp phát triển kinh tế vừa có giá trị bảo tồn. Tuy nhiên, thực tế việc quản lý lỏng lẻo dẫn đến việc gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý hiếm lại được nhận định là “con đường” dẫn đến sự tuyệt chủng.
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) tổ chức họp báo đề xuất các cơ quan quản lý Nhà nước nghiêm cấm gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. ENV cũng công bố kết quả cuộc khảo sát hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD ở các trang trại Việt Nam được thực hiện năm 2014- 2015. Kết quả khảo sát cho thấy, tình trạng nhập lậu ĐVHD và lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để buôn bán trái phép ĐVHD đã diễn ra rất phổ biến tại các cơ sở được cấp phép gây nuôi.
Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc ENV nhấn mạnh: Chúng tôi cho rằng gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm sẽ gia tăng nhanh chóng nguy cơ tuyệt chủng của những loài này. Việc đem tương lai của nhiều loài ĐVHD nguy cấp bậc nhất trên thế giới để đánh đổi lấy lợi nhuận của một nhóm người là vô cùng mạo hiểm.
Qua theo dõi của ENV, mạng lưới buôn bán ĐVHD tại Việt Nam chạy ngược từ Nam ra Bắc. Thị trường chính của ĐVHD có nguồn gốc gây nuôi được các chủ cơ sở xác định là: Trung Quốc, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Trong đó, ĐVHD phần lớn được đưa sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh. Cách thức phổ biến để vận chuyển trái phép ĐVHD là sử dụng một giấy phép vận chuyển mà địa chỉ người mua là một cơ sở gần cửa khẩu Móng Cái (giáp Trung Quốc).
Thông thường, tên và địa chỉ người mua không có thực, nhằm gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình xác định tình trạng pháp lý của các cá thể ĐVHD cùng tính hợp pháp của điểm đến. Theo chủ các cơ sở gây nuôi, khi đến Móng Cái, ĐVHD sẽ tiếp tục được vận chuyển trái phép qua biên giới sang Trung Quốc.
Trong quá trình kiểm tra, các cơ quan thực thi pháp luật không thể phân biệt giữa ĐVHD hay sản phẩm từ ĐVHD hợp pháp và bất hợp pháp trên thị trường. Chính kẽ hở này vô tình đã tạo điều kiện cho các đối tượng “lách luật” và thực hiện hành vi bất hợp pháp. Một thực tế phổ biến khác là các cơ sở kinh doanh ĐVHD thường tái sử dụng giấy phép nhiều lần cho một loài nào đó khi giấy phép vẫn còn có hiệu lực, dẫn tới nhiều cá thể ĐVHD bị buôn bán hơn mức cho phép.
Việc quản lý và giám sát các cơ sở kinh doanh cung cấp ĐVHD hoặc các sản phẩm từ ĐVHD cho khách hàng rất khó khăn. Những cơ sở này thường cất giấu kỹ ĐVHD hoặc các sản phẩm từ ĐVHD trong quá trình vận chuyển và tại các cơ sở kinh doanh, chỉ có hàng khi khách đặt. Việc theo dõi hoạt động buôn bán, săn bắt và vận chuyển ĐVHD cũng như sản phẩm từ ĐVHD thực sự là thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng.
Theo một khảo sát gần đây của ENV tại một số cơ sở gây nuôi điển hình tại Việt Nam, tình trạng nhập lậu ĐVHD từ tự nhiên diễn ra phổ biến tại các cơ sở gây nuôi thương mại ĐVHD có quy mô lớn. Nhiều dấu hiệu cũng cho thấy các cơ sở và nhiều cán bộ thực thi pháp luật tại các địa phương lợi dụng những kẽ hở của pháp luật và cơ chế quản lý lỏng lẻo để thực hiện các hành vi phi pháp.Những thiếu sót trong ghi nhận và quản lý số lượng cá thể ĐVHD gây nuôi (bao gồm số lượng cá thể sinh ra và chết đi) là tình trạng phổ biến tại các cơ sở, song song với thực trạng giả mạo giấy phép vận chuyển.
Các cơ quan chức năng hiện không có khả năng quản lý hiệu quả hoạt động gây nuôi và buôn bán ĐVHD nói chung và đặc biệt các loài nguy cấp, quý, hiếm. Điều này được minh chứng rõ ràng bởi những vụ việc vi phạm gần đây liên quan đến các cơ sở được cấp phép gây nuôi ĐVHD, bao gồm: nhập lậu tê tê; buôn bán gấu con; một đối tượng có tiền án liên quan đến hổ được cấp phép nuôi bảo tồn hổ.
Công tác bảo tồn ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không thể diễn ra song hành với hoạt động gây nuôi thương mại những loài này. Trong khi mục tiêu của bảo tồn là để bảo vệ nền đa dạng sinh học, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, thì mối quan tâm hàng đầu của chủ các cơ sở gây nuôi là lợi nhuận.
Các cơ sở gây nuôi thương mại vì vậy sẽ không đầu tư vào cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sinh sản hay có kiến thức để đảm bảo tránh giao phối cận huyết, lai tạp nguồn gen, những điều kiện cơ bản để tái thả ĐVHD về tự nhiên (nếu có). Hơn nữa, hầu hết các cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được gây nuôi đã bị mất đi bản năng sinh tồn và kỹ năng cần thiết giúp chúng sống sót trong tự nhiên nếu được tái thả.
Sự song song tồn tại của cả sản phẩm ĐVHD hợp pháp và bất hợp pháp trên thị trường gây khó khăn lớn cho công tác thực thi pháp luật, tạo điều kiện cho các đối tượng vi phạm lợi dụng để buôn bán, kinh doanh ĐVHD bất hợp pháp.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị giải thích: “Các cán bộ thực thi pháp luật không thể phân biệt được giữa sản phẩm ĐVHD được gây nuôi hợp pháp từ các trang trại và các sản phẩm bị săn bắt trái phép từ tự nhiên được đem đi tiêu thụ trên thị trường”.
Ông Trung cho biết thêm: “Chúng tôi sẽ không thể phân biệt được cao hổ và mật gấu từ tự nhiên hay do nuôi nhốt một khi đã bị đưa ra thị trường. Cách duy nhất để bảo vệ ĐVHD là nên nghiêm cấm mọi hình thức buôn bán các loài này để các cán bộ thực thi pháp luật làm tốt phần việc của mình”.
Ngoài ra, một số loài ĐVHD hiện đã được gây nuôi thành công nhưng vẫn tiếp tục bị săn bắt ngoài tự nhiên. Theo bà Jenny Daltry, cán bộ cao cấp về bảo tồn sinh vật học, Tổ chức Động thực vật hoang dã quốc tế (FFI): Việc gây nuôi thương mại đã khiến cho ngày càng nhiều ĐVHD bị săn bắt trong tự nhiên.
Kể cả nếu những cơ sở này có thể gây nuôi và cho sinh sản được thì nhu cầu săn bắt ĐVHD từ tự nhiên vẫn là rất lớn. Lý do là chi phí săn bắt động vật ngoài tự nhiên bao giờ cũng rẻ hơn so với tự mình cho sinh sản, nuôi dưỡng, chăm sóc chúng hàng năm trời. Nếu không có sự giám sát quản lý chặt chẽ, các cơ sở này sẽ dẫn đến lỗ hổng trong luật pháp và thúc đẩy nhu cầu săn bắt ĐVHD trong tự nhiên. Lại có trường hợp nhiều người thích tiêu thụ ĐVHD từ tự nhiên hơn bởi họ cho rằng động vật tự nhiên sẽ tốt hơn động vật trong trang trại.
PGS. TS. Lê Xuân Cảnh, Nguyên Viện trưởng Viện sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – một trong những cơ quan khoa học CITES Việt Nam nhận định: “Bảo tồn nền đa dạng sinh học độc đáo của đất nước luôn là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển. Để gìn giữ đa dạng sinh học cho thế hệ tương lai, chúng ta cần phải nghiêm túc bảo vệ các loài ĐVHD, đặc biệt là những loài có nguy cơ bị mất đi vĩnh viễn. Việc gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có thể mang lại lợi nhuận cho một số người, song nó lại đe dọa nghiêm trọng đa dạng sinh học đất nước”. (Bảo Vệ Pháp Luật 5/8) đầu trang(
Khu vực rẫy Lỗ Buông, núi Hòn Khô, xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa gần đây rộ thông tin có có gấu rừng xuất hiện khiến người dân lo lắng, không dám lên làm rẫy
Trao đổi với phóng viên báo Người Lao Động ngày 6-8, bà Nguyễn Thị Tuyết, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Phương, cho biết có nghe thông tin này và đã chỉ đạo kiểm lâm, công an xác minh thông tin.
Theo bà Tuyết, người dân xã Vĩnh Phương chỉ mới nghe kể lại chứ chưa có ai trực tiếp gặp gấu. Người duy nhất được cho từng chạm mặt với gấu rừng là anh Lê Quốc Tuấn (SN 1985, ngụ thôn Văn Đăng, xã Vĩnh Lương, TP Nha Trang), một người dân làm rẫy ở Lỗ Buông, xã Vĩnh Phương.
“Qua điều tra bước đầu, anh Tuấn khai chỉ nhìn thấy một con vật to lớn, màu lông đen ở khoảng cách gần và nghĩ đó là gấu rừng. Sau đó, một số người lên Lỗ Buông ngủ lại trên rẫy để ghi hình nhưng không gặp, đặt máy ghi âm thì chỉ nghe tiếng gầm rú phát ra từ phía núi” - bà Tuyết thông tin.
Liên quan đến sự việc này, Công an xã Vĩnh Lương cũng vừa mời anh Tuấn lên làm việc để xác minh thông tin. Một lần nữa anh Tuấn cho biết mình phát hiện gấu rừng gần đây nhất là vào lúc 17 giờ 45 ngày 31-7.
“Trong lúc tôi đang dọn phát, cắt cỏ rẫy, ngước mặt lên nhìn thấy thì gấu rừng đứng phía đối diện khoảng 5m. Tôi buông dụng cụ bỏ chạy về trại rồi hô hoán để anh em trong nhà phòng ngừa” - anh Tuấn cung cấp thông tin.
Theo anh Tuấn, trước đó vài tháng, khi ở lại lán trại canh rẫy, anh cũng nghe tiếng gầm rú của gấu lúc nửa đêm. Nhiều người nghe thông tin này nên không dám lên rẫy trồng trọt, thu hoạch xoài.
Được biết, hiện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cũng đã chỉ đạo kiểm tra và khuyến cáo người dân thận trọng trong lúc làm rẫy, nghiêm cấm hành vi xâm hại nếu đúng là gấu rừng. (Người Lao Động 6/8) đầu trang(
Ngày 7.8, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) cho biết, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật phối hợp với Hạt Kiểm lâm Vườn vừa tái thả nhiều cá thể động vật rừng quý hiếm về môi trường tự nhiên.
Số cá thể động vật rừng trên là số động vật được người dân tự nguyện giao nộp hoặc tang vật trong các vụ án được lực lượng kiểm lâm bắt giữ, được thả sau khi được cứu hộ và kiểm dịch an toàn.
Gồm: 1 cá thể cầy vòi mốc (Paguma larvata), 2 cá thể Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphrodites), 3 cá thể rùa sa nhân (Pyxidea mouhoti), 2 cá thể rùa hộp trán vàng miền Bắc(Cuora galbinifrons), 1 cá thể rùa hộp trán vàng miền Trung (Cuora bourreti), 2 khỉ mốc (Macaca assamensis), 2 khỉ cộc (Macaca arctoides), 1 khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), 1 khỉ vàng (Macaca mulatta), 1 chồn Bạc má Bắc (Melogale moschata).
Theo Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, số cá thể động vật trên được tái thả đã nhanh chóng thích nghi và hòa nhập với môi trường tự nhiên.
Theo thống kê, từ đầu năm 2016 đến nay Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã tiến hành thả 48 cá thể động vật hoang dã về tự nhiên, qua đó góp phần bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực này. (Lao Động 7/8) đầu trang(
Vào lúc 5 giờ sáng nay 6/8, lực lượng Cảnh sát Môi trường, Công an TP Uông Bí phối hợp với tổ công tác của Phòng CSGT đường bộ, đường sắt, Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, phát hiện 2 xe ô tô vận chuyển 63 cá thể cầy vòi mốc không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.
Số động vật hoang dã trên được vận chuyển trên 2 xe ô tô, gồm xe BKS 29U-3560, do Đinh Như Hòe, SN 1986, trú tại xã Quảng Chính huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh điều khiển và xe ô tô BKS 14A-16612 do Bùi Xuân Trường, sinh năm 1988 ở Hải Tiến, Móng Cái điều khiển.
Hai phương tiện trên đang lưu thông hướng từ thành phố Hạ Long đi huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Cả hai lái xe không xuất trình được hồ sơ hợp pháp của số động vật trên đồng thời khai nhận đang trên đường vận chuyển từ vùng biên Móng Cái vào nội địa. (ANTV 6/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo NĐ 99 của Chính phủ được triển khai gần 5 năm nay ở Nghệ An, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực. Không chỉ tạo thêm nguồn lợi kinh tế cho người dân, chính sách góp phần đẩy lùi tình trạng đốt nương làm rẫy, chặt phá rừng, tăng độ che phủ của rừng Nghệ An.
Bản Đồng Tiến, xã Đồng Văn, Quế Phong nằm trong vùng đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt. 50 hộ đồng bào các dân tộc ở đây hiện nhận khoán bảo vệ hơn 1.300 ha rừng và mỗi ha rừng như vậy được hỗ trợ 305 ngàn đồng/năm từ tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Số tiền này không thuộc ngân sách nhà nước hỗ trợ như trước mà là của doanh nghiệp khai thác tài nguyên trên địa bàn có rừng phải trích và trả cho người dân có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài số tiền hơn 500 triệu được hỗ trợ mỗi năm, người dân còn được khai thác tận thu tre nứa lùng, các sản phẩm phụ từ rừng và nhận hàng chục ngàn cây keo để trồng rừng theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ.
Anh Lang Văn Phê - Trưởng bản Đồng Tiến, xã Đồng Văn, huyện Quế Phong chia sẻ: “Khi được giao trách nhiệm giữ rừng, dân bản Pù Khóng chúng tôi đã chia làm 5 nhóm, trong tuần, trong tháng, từng nhóm đi tuần tra rừng, để nắm tình hình, nếu phát hiện có đối tượng khai thác, phá rừng thì chúng tôi ngăn chặn, đẩy đuổi và báo cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.”
Quế Phong hiện đang quản lý hơn 144 ngàn ha rừng, diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 56 ngàn ha. Trên địa bàn hiện có 8 nhà máy thủy điện, trong đó đã có 3 nhà máy tham gia dịch vụ môi trường rừng. Hàng năm, chính quyền địa phương và các chủ rừng đã tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về pháp luật bảo vệ rừng. Nhất là khi quyền lợi của người dân đã được đáp ứng, theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đánh giá về tính hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Quế Phong, Phó Chủ tịch UBND huyện – ông Lang Văn Minh nói: “Trong quá trình chi trả chúng tôi thấy được quyền và lợi ích của người dân, tạo được động lực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Không chỉ ổn định diện tích rừng mà còn tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người dân trong việc bảo vệ rừng trong khu vực thuộc lưu vực các nhà máy thuỷ điện. Đây là chủ trương rất hợp lý và đúng đắn đến với bà con nhân dân trên địa bàn huyện.”
Còn tại huyện Tương Dương, diện tích đất rừng hiện có hơn 256 ngàn ha, trên địa bàn có 2 nhà máy thủy điện là: Bản Vẽ và Khe Bố. Đối với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên, đào đắp, tích nước lòng hồ để sản sinh ra năng lượng điện, tính ra 1 kwh điện thương phẩm, nhà máy thủy điện phải trích ra 20 đồng để nộp vào quỹ dịch vụ môi trường rừng. Nguồn quỹ này sẽ được hỗ trợ cho chủ rừng và tất cả người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng trên lưu vực thủy điện.
Ông Nguyễn Công Mậu - Phó Ban quản lý rừng phòng hộ Tương Dương ghi nhận: “Chính sách này đã giải quyết được 3 vấn đề lớn. Thứ nhất, góp phần thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, cụ thể là diện tích rừng có độ che phủ ngày càng tăng. Thứ hai, góp phần vào an sinh xã hội trên địa bàn, tăng thu nhập cho người dân, từ đó làm giảm áp lực tác động xấu đến rừng. Thứ ba, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của Ban.”
Nói về các giải pháp thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, ông Nguyễn Khắc Lâm - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho biết: “Trong thời gian tới chúng tôi đã định hướng tiếp tục tranh thủ sự quan tâm ủng hộ của các ngành, các cấp, góp phần hoàn thiện chính sách.
Mặt khác mở rộng quan hệ đối tác để tăng thêm nguồn thu xã hội hoá. Bên cạnh đó, từng bước nhanh chóng hoàn thiện hệ thống chi trả, nâng cao nghiệp vụ và tổ chức hướng dẫn quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt ở cấp cơ sở, thôn bản để tạo sự minh bạch, hiệu quả hơn."
Gần 5 năm qua, trên địa bàn, việc áp dụng Nghị định 99 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đạt được hiệu quả nhất định. Đến nay, nguồn quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng đã chi trả hơn 174 tỷ đồng cho tổng diện tích hơn 228.106 ha, trên địa bàn 6 huyện nằm trong lưu vực. Nhờ vậy, người dân đồng bào dân tộc thiểu số có một nguồn thu nhập đáng kể hàng năm do nhận khoán bảo vệ rừng. Điều này đã làm giảm áp lực tình trạng đốt nương làm rẫy và tăng độ che phủ của rừng của Nghệ An. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 4/8) đầu trang(
Sáng 4-8, Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012-2020 phối hợp với Viện Nghiên cứu lâm sinh (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn thành phố năm 2016.
Phương án điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn Đà Nẵng bao gồm đơn vị điều tra, kiểm kê rừng: đơn vị diện tích với rừng tự nhiên nhỏ nhất là 0,5ha, rừng trồng 0,2ha, đơn vị là lô kiểm kê thuộc duy nhất một chủ quản lý có diện tích tối thiểu 0,2ha đồng nhất về trạng thái rừng và kiểm kê theo hệ thống tiểu khu, khoảnh theo kết quả rà soát 3 loại rừng.
Nội dung điều tra, kiểm kê gồm: diện tích đất rừng tự nhiên, rừng trồng và đất chưa có rừng theo đơn vị hành chính; trữ lượng lâm sản bình quân trên hecta, số cây bình quân trên hecta, tổ thành loài cây, phân bố trữ lượng theo cấp kính, phân bổ số cây theo cấp kính; trữ lượng rừng tự nhiên và rừng trồng theo trạng thái rừng, theo nhóm chủ quản lý, cấp tuổi theo đơn vị quản lý rừng của ngành lâm nghiệp. Đối tượng điều tra, kiểm kê rừng là cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, nhóm hộ, UBND xã phường, cơ quan, đơn vị...
Cấp thành phố và quận, huyện thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng; cấp phường, xã thành lập tổ kiểm kê rừng. Những người trực tiếp thực hiện điều tra, kiểm kê rừng được đào tạo tập huấn. Việc kiểm kê rừng thể hiện qua các biểu mẫu có sẵn. Theo kế hoạch, việc điều tra, kiểm kê rừng ở Đà Nẵng kết thúc vào cuối tháng 9 tới.
Hiện nay, trên địa bàn Đà Nẵng có 57.393,61ha đất lâm nghiệp, chiếm 44,7% diện tích tự nhiên của thành phố. Trong đó, đất có rừng 55.226ha, bao gồm 43.139ha rừng tự nhiên, 12.087ha rừng trồng. Có 31.097ha rừng đặc dụng, 8.897ha rừng phòng hộ và 17.398ha rừng sản xuất. Độ che phủ rừng năm 2016 là 43,4%, xếp mức trung bình toàn quốc. (Báo Đà Nẵng 5/8) đầu trang(
Sáng 6/8, tại huyện Ba Chẽ, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đã tổ chức lễ đón nhận Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững - FSC của Hội đồng Quản trị rừng thế giới.
Đến dự và chúc mừng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ có đồng chí Cao Chí Công, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Lâm nghiệp Việt Nam; lãnh đạo Sở NN&PTNT, huyện Ba Chẽ, đại diện các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh và các đối tác của Công ty.
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ phối hợp với các đơn vị chuyên môn, chủ chốt là Viện Nghiên cứu và Phát triển lâm nghiệp nhiệt đới khởi động chương trình thực hiện cấp Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững - FSC từ năm 2013; chính thức thực hiện từ tháng 8/2015 cho toàn bộ diện tích rừng hiện có của Công ty.
Hai đơn vị đã thực hiện toàn diện 10 nguyên tắc của Hội đồng Quản trị rừng thế giới, từ khâu đánh giá sơ bộ đến điều tra, đánh giá năng suất rừng trồng, tác động môi trường, tác động xã hội, nghiên cứu về đa dạng sinh học, giá trị bảo tồn, xây dựng và số hoá các loại bản đồ hiện trạng đến quy hoạch, đào tạo nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên về quản lý rừng bền vững…
Và cuối cùng là phương án quản lý rừng bền vững, trong đó áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật hiện hành, từ khâu gieo ươm gống đến trồng và khai thác rừng, triệt để tránh tác động xấu đến môi trường, nhất là trong khâu xử lý thực bì…
Đến ngày 18/7/2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đã được Hội đồng Quản trị rừng thế giới cấp Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững - FSC cho toàn bộ diện tích rừng hiện có của Công ty. Cụ thể, cấp Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững cho tổng diện tích 3.298,6ha, trong đó có 2.446ha rừng kinh doanh sản xuất với 2 loại cây chính là keo và sa mộc, chu kỳ kinh doanh 6 năm.
Ngay sau khi được cấp Chứng chỉ, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đã được Công ty CP VIHA Thống Nhất, đơn vị tiềm lực trong lĩnh vực xuất khẩu gỗ nội thất của toàn quốc hợp đồng bao tiêu sản phẩm gỗ. Như vậy, tính đến thời điểm này, toàn tỉnh đang có 2 đơn vị doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp được cấp Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ.
Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Cao Chí Công, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Lâm nghiệp Việt Nam đánh giá cao nỗ lực của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ. Đồng chí khẳng định, việc thực hiện cấp Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững - FSC là cơ sở để doanh nghiệp phát triển một cách bền vững.
Trong đó, quá trình sản xuất của Công ty sẽ thực hiện tốt cam kết không gây tác động xấu đến môi trường; diện tích đất rừng được quản lý chặt chẽ, tránh việc tranh chấp; mở rộng được thị trường, sản phẩm sản xuất ra đạt giá trị cao hơn, tạo được việc làm cho nhiều lao động hơn… (Báo Quảng Ninh 6/8) đầu trang(
Ngày 5/8, UBND tỉnh Điện Biên tổ chức hội nghị bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Ông Mùa A Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên chủ trì hội nghị.
Hội nghị đã thông qua Dự thảo Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015, giải pháp thực hiện kế hoạch giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Điện Biên và đạt được những kết quả nhất định. Đến nay, đã có 242.304ha đất rừng nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn sông Đà đủ điều kiện chi trả dịch vụ môi trường rừng; có trên 40.108 hộ được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bình quân mỗi hộ được hưởng 1,53 triệu đồng.
Đây là nguồn thu nhập đáng kể giúp nhân dân góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Tuy nhiên, giai đoạn 2011 – 2015, việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hàng năm trên địa bàn tỉnh Điện Biên chưa đạt kế hoạch giao: Trồng rừng phòng hộ tập trung được 694,43ha, đạt 34,41% kế hoạch, trồng rừng sản xuất của các doanh nghiệp gần như không được thực hiện; diện tích rừng đã trồng tỷ lệ thành rừng thấp. Riêng năm 2015, trồng mới rừng tập trung chỉ đạt 19,69% kế hoạch năm. Vốn giải ngân hàng năm đạt thấp, bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 41%/năm.
Bên cạnh đó, tình trạng phá rừng làm nương trái phép, cháy rừng, vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn xảy ra và diễn biến khá phức tạp ở một số điểm nóng như Mường Nhé, Điện Biên Đông. Hành vi phá rừng trái phép, chống người thi hành công vụ còn diễn ra, gây bức xúc cho xã hội.
Phát biểu tại hội nghị, ông Hà Văn Quân, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên, thẳng thắn thừa nhận: Việc không thực hiện được các chỉ tiêu kế hoạch trồng, bảo vệ và phát triển rừng là do các nguyên nhân khách quan như biến đổi khí hậu thất thường, tình trạng dân di cư tự do diễn biến khá phức tạp, tình trạng người dân chặt phá rừng, chính sách hỗ trợ rừng thấp, kế hoạch phân bổ nguồn vốn chưa cân đối chưa phù hợp....
Ngoài ra, nguyên nhân chủ quan là do Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên – cơ quan thường trực, chưa thực hiện tốt vai trò thường trực; phân công theo dõi chậm chạp, công tác tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành chính sách đặc thù để triển khai thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng chưa thực sự đem lại hiệu quả; các Ban QLRPH chưa được quan tâm đúng mức; lực lượng kiểm lâm còn mỏng, một bộ phận chưa hoàn thành chức trách, nhiệm vụ; các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh không đủ năng lực thực hiện dự án, trồng rừng chưa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm...
Bên cạnh đó, việc quyết toán dự án thuộc chương trình 327, dự án 661 kéo dài đến nay vẫn chưa thực hiện xong nên ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Trong thời gian tới, tiếp tục thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2016 – 2020, Điện Biên tập trung bảo vệ diện tích rừng hiện có 367.496,5ha và diện tích rừng tăng lên hàng năm. Tiếp tục đầu tư phát triển rừng theo hướng tập trung cho hạng mục khoanh nuôi tái sinh tự nhiên với diện tích 173.736,2ha; trồng mới 15.701,58ha rừng. Đảm bảo nâng độ che phủ rừng bình quân 0,7%/năm, trung bình mỗi năm tăng 6.680ha với tổng nhu cầu vốn trong giai đoạn là 1.644 tỷ 434,26 triệu đồng.
Để đạt được mục tiêu đó, UBND tỉnh Điện Biên đề ra rất nhiều giải pháp, trong đó tập trung: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy chế hoạt động của BCĐ Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh; tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong việc tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch; tiếp tục thực hiện việc giao đất giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình theo Kế hoạch 388/KH-UBND, hoàn thiện giao đất giao rừng cho các Ban QLRPH; hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân thực hiện trồng cây lâm sản ngoài gỗ với mức hỗ trợ 10 triệu đồng/ha; thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân...
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Mùa A Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên yêu cầu các sở, ban, ngành, lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố cần bám sát chủ trương của tỉnh về phát triển lâm nghiệp, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành chính sách bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, trước mắt là năm nhiệm vụ kế hoạch trồng rừng năm 2016.
Giao Sở TN&MT sớm kiểm tra, rà soát, hoàn thành công tác giao đất giao rừng, công nhận quyền sử dụng đất theo Kế hoạch 388/KH-UBND. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng về các cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép.
Đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư có biện pháp giải quyết đối với 2 nhà máy chế biến lâm sản. Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo tiến độ thực hiện theo kế hoạch được UBND tỉnh giao. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/8) đầu trang(
Sáng 6-8, chương trình “Du lịch xanh” Phú Quốc - Kiên Giang do báo Tuổi Trẻ phối hợp cùng Sở Du lịch Kiên Giang, UBND huyện Phú Quốc tổ chức với sự đồng hành của Vinpearl Phú Quốc có các hoạt động: trồng cây bổ sung cho rừng, tuần hành bằng xe đạp có môtô dẫn đường và thi vẽ tranh trên cát tại bãi biển Dinh Cậu.
Tại Vườn quốc gia Phú Quốc, lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương tham dự lễ phát động chiến dịch Du lịch xanh Phú Quốc đã lần đầu tiên thể nghiệm ý tưởng sẽ hình thành tour du lịch sinh thái “trồng cây bổ sung cho rừng nghèo”.
Sau khi vượt qua con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đi sâu vào vùng lõi vườn quốc gia, đoàn khách tiến hành trồng hàng chục cây sao, cây dầu. Mỗi cây đều có bảng tên để ghi dấu sự kiện quan trọng.
Ông Trần Chí Dũng - giám đốc Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang - cho biết ý tưởng tour du lịch trồng cây là rất mới mẻ và hứa hẹn nhiều tiềm năng. Sau khi hình thành và đi vào hoạt động thật sự, du khách sẽ được đi tham quan một số khu vực trong phạm vi Vườn quốc gia Phú Quốc.
Và chỉ với một khoản chi phí phù hợp, du khách có thể tự tay trồng 1, 2 cây rừng và treo tên mình lên đó để ghi dấu kỷ niệm với hòn đảo xinh đẹp ở cực Tây Nam của Tổ quốc.
Địa phương sẽ bảo quản và chăm sóc cây rừng. Sau một thời gian, du khách có thể sẽ muốn trở lại để chứng kiến và kể cho con cháu của mình nghe về thành quả bảo vệ thiên nhiên của chính mình.
Đoàn tuần hành trong chiến dịch “Du lịch xanh” Phú Quốc - Kiên Giang với sự tham gia của 100 đoàn viên, thanh niên trong trang phục màu xanh lá cây và trắng đã đi qua nhiều tuyến đường chính ở thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc.
Tại những nơi đoàn đi qua, người dân địa phương đều tỏ ra khá ngạc nhiên và thú vị. Bà Phạm Thị Hà - buôn bán tạp hóa trên đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Dương Đông - cho biết mình hoàn toàn ủng hộ quan điểm làm du lịch xanh.
“Tui có bà con sống bên Úc, ở đó họ làm du lịch hay lắm. Cây rừng giữ nguyên, thú rừng thì dạn dĩ vì chúng biết con người luôn quan tâm bảo vệ chúng. Tôi muốn đảo Phú Quốc, rồi cả Việt Nam mình cũng làm du lịch như vậy. Tui ủng hộ làm Du lịch xanh hết mình” - bà Hà hào hứng nói.
Tại bãi biển Dinh Cậu, nơi diễn ra cuộc thi vẽ tranh trên cát hết sức sôi nổi với sự tham dự của 50 giáo viên, đoàn viên, thanh niên, học sinh, chia làm 5 đội, nhiều người dân địa phương và cả du khách đã háo hức tới xem.
Các đội vẽ tranh cố gắng thể hiện các chủ đề về tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên, yêu rừng, yêu biển, sự hòa quyện, gắn bó giữa con người với thiên nhiên.
Bạn Đặng Anh Thư (17 tuổi), học sinh lớp 11 Trường THPT Phú Quốc, chia sẻ được sinh ra và lớn lên trên một hòn đảo có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp như đảo Phú Quốc là một niềm hạnh phúc to lớn.
“Em rất tự hào về quê hương em. Theo em nghĩ, con người được thiên nhiên ban tặng sản vật để tạo dựng cuộc sống, nuôi lớn nhiều thế hệ nối tiếp nhau thì con người phải biết ơn thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên giống như bảo vệ cuộc sống của chính mình” - Thư bộc bạch.
Ông Đặng Văn Thắng - ngụ thị trấn Dương Đông - cho hay khu vực bãi tắm công cộng Dinh Cậu ngày thường khá nhiều rác. Nhưng từ vài ngày nay nơi này trở nên sạch sẽ do các đội tình nguyện nhặt rác liên tục làm việc.
“Có lần bức xúc quá nên tui đã quay phim cảnh rác rến bừa bãi ở Dinh Cậu rồi chia sẻ trên trang Facebook cá nhân. Theo tui thấy, những hoạt động bảo vệ môi trường như chiến dịch “Du lịch xanh” lần cần thiết. Nhưng vấn đề là làm sao người dân phải tự ý thức giữ gìn môi trường nơi mình sinh sống luôn sạch đẹp. Đừng để hôm nay phát động phong trào thì biển sạch, rồi ngày mai lại đầy rác như cũ” - ông Thắng nói.
“Tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đều phát triển du lịch theo xu thế du lịch xanh. Mọi người ai cũng thấy rằng cái “xanh” là mang lại sự thanh bình, màu xanh trong sạch, màu xanh bền vững.
Cho nên du lịch xanh gắn liền với du lịch bền vững, đồng thời cũng gắn với môi trường hòa bình, thân thiện. Cho nên các nước đều quan tâm đến du lịch xanh từ rất lâu rồi, chứ không phải mới quan tâm.
Với chương trình “Du lịch xanh” Phú Quốc - Kiên Giang, tôi tin tưởng rằng sẽ thành công. Vì chúng ta phát pháo không phải để không làm gì, mà tôi cho rằng nên phân công trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, từng địa phương.
Làm sao phải huy động càng nhiều người hưởng ứng, cùng tham gia làm du lịch xanh càng tốt” - ông Nguyễn Quốc Hưng, phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, cho biết. (Tuổi Trẻ 6/8) đầu trang(
Xác định trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm, huyện Mường Lát đã chỉ đạo các xã, thị trấn, các ban quản lý dự án và các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tiến hành khảo sát quỹ đất, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Năm 2016, huyện Mường Lát được giao trồng mới 2.000 ha rừng sản xuất. Với phương châm “thiết kế đến đâu tiến hành trồng rừng đến đó”, đến nay toàn huyện đã thiết kế được 2.064/2.000 ha diện tích và tiến hành trồng được 1.920 ha (đạt 96%) chủ yếu là cây xoan, lát và keo mỡ. Trong tháng 8-2016, Mường Lát phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016, nâng tổng số diện tích rừng trồng (từ năm 2011 đến nay) lên hơn 16.000 ha. (Báo Thanh Hóa 5/8) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2016, đến nay tỉnh Tuyên Quang đã trồng trên 10.558 ha, đạt 100,6% kế hoạch. Trong đó, diện tích trồng rừng mới tập trung trên 10.158 ha, đạt trên 100% kế hoạch, rừng phân tán gần 448 ha đạt khoảng 114% kế hoạch.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang, công tác trồng rừng năm 2016 gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp lâm nghiệp trong tỉnh thiếu vốn sản xuất.
Trong khi đó, diện tích đất trống có thể bố trí trồng rừng còn ít, manh mún chủ yếu nằm ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn nên chi phí cho trồng rừng cao. Ngoài ra, nhiều đơn vị chủ yếu thực hiện trồng rừng trên đất sau khai thác nên việc khai thác chậm, không giải phóng được đất đã làm chậm tiến độ trồng rừng.
Rút kinh nghiệm những năm trước thường xảy ra tình trạng thiếu cây giống do giao kế hoạch muộn nên năm nay Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang đã giao chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng cho các huyện, thành phố, các đơn vị ngay từ tháng 10/2015. Qua đó, tạo điều kiện cho các địa phương, đơn vị chủ động trong công tác giao kế hoạch, bố trí lực lượng, chuẩn bị tốt các điều kiện sản xuất tại các xã, đội sản xuất.
Sở cũng đã giao cho các cơ quan liên quan kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo các công ty lâm nghiệp, Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cơ sở rà soát, bố trí đủ diện tích và lập hồ sơ thiết kế trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật, chủ động sản xuất cây giống bảo đảm chất lượng, số lượng theo kế hoạch giao.
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, giá trị của rừng cũng được đẩy mạnh đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư. Đến nay, hầu hết các địa phương đã hoàn thành và vượt kế hoạch, riêng thành phố Tuyên Quang trồng hơn 156 ha rừng đạt hơn 76%, huyện Na Hang trồng được 733ha đạt khoảng 86%.
Tuyên Quang là một trong những tỉnh có độ che phủ của rừng lớn nhất cả nước (trên 60%). Công tác rà soát, xây dựng kế hoạch trồng rừng năm 2017 đang bắt đầu triển khai, đảm bảo đến cuối tháng 9, đầu tháng 10 sẽ hoàn thành việc giao chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng cho các huyện, thành phố. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Tuyên Quang 6/8) đầu trang(
Hiện nay, trên diện tích 418ha rừng trồng mà 28 hộ dân trực tiếp trồng, chăm sóc, bảo vệ đã bị UBND tỉnh Đắk Lắk thu hồi của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Cty Trường Thành thuê đã và đang bị cả Cty Trường Thành và người dân đua nhau khai thác.
Hàng trăm hécta rừng trồng xanh bạt ngàn đã bị đốn trắng, nguy cơ đất trống đồi núi trọc vẫn hoàn trọc vì chưa biết ai sẽ trồng lại rừng do những tranh chấp vẫn không được giải quyết dứt điểm.
Những hộ dân nhận khoán rừng lý giải, trong khi rừng do họ trồng và chăm sóc nhưng khi thu hồi rừng và đất rừng của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng lại không thực hiện việc thanh lý, thu hồi hồ sơ và khế ước giao khoán trồng rừng đã ký kết trước đó và thực hiện việc đánh giá giá trị rừng để có phương án hỗ trợ, bồi thường cho họ. Khi những quyền lợi không được đảm bảo, việc thực hiện thu hồi rừng và đất rừng thiếu dân chủ, áp đặt sẽ không tạo được sự đồng thuận của những người trồng rừng, dẫn đến tranh chấp là hiển nhiên.
Làm việc với phóng viên Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường, ông Hoàng Thái Dương – Chánh thanh tra sở NN&PTNN Đắk Lắk; ông Phạm Thế Hoan – Phó Chánh Thanh tra Sở này cùng cho biết: UBND tỉnh Đắk Lắk đã giao cho các sở, ngành liên quan tổ chức rất nhiều lần đối thoại với các hộ dân trồng rừng và tham mưa cho
UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại của người dân. Song cả hai ông đều xác định: Nguyên nhân dẫn đến việc các hộ dân vẫn khiếu nại dai dẳng, kéo dài và vẫn tiếp tục chăm sóc, bảo vệ và khai thác rừng trồng trên diện tích UBND tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng giao cho Cty Trường Thành là vì hồ sơ và khế ước và các hợp đồng giao khoán rừng và đất rừng giữa BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng với 28 hộ dân chưa được thanh lý, thu hồi.
Tham khảo ý kiến các chuyên gia kinh tế và luật sư, cho rằng: Hồ sơ giao khoán và khế ước, hợp đồng nhận khoán trồng chăm sóc bảo vệ rừng mà BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng đã ký kết với các hộ dân thực ra là những giao ước, thỏa thuận đảm bảo như những hợp đồng kinh tế về giao khoán đất rừng.
Chính vì vậy, khi UBND tỉnh Đắk Lắk thu hồi rừng trồng và đất rừng của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Cty Trường Thành thì cần phải thực hiện thanh lý các khế ước, hợp đồng giao khoán trồng rừng với người dân đã ký trước đó. Đồng thời, phải tính toán và có phương án giải quyết đảm bảo hài hòa quyền lợi của cả người nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và bên giao khoán rừng và đất để trồng rừng, có như vậy thì mới không xảy ra tranh chấp.
Ông Nguyễn Đức Thuận, Quyền Tổng giám đốc Công ty Cổ phần trồng rừng Trường Thành xác định: Năm 2008, Công ty được UBND tỉnh Đắk Lắk giao 568,43 ha đất lâm nghiệp và rừng trồng tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc 2 xã Cư Klông và Ea Tam, huyện Krông Năng và cũng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty. Trong đó, có hơn 418ha rừng trồng và 150 ha đất trống, sông suối, đường giao thông để trồng rừng. Với hơn 418ha rừng trồng, Công ty phải mua của nhà nước với giá là 5.242.413.000đồng.
Sau 8 năm được thuê đất, mua rừng Công ty cũng chỉ khai thác được 100ha rừng. Phần còn lại hơn 318ha vẫn đang tranh chấp với các hộ dân. Diện tích tranh chấp người dân vẫn kiểm soát, bảo vệ và khai thác lâm sản. Công ty không thể vào rừng của mình để khai thác. Cũng trong 8 năm qua, đã nhiều lần xảy ra xô xát, thậm chí là đánh nhau gây thương tích mỗi khi Công ty đưa công nhân vào rừng khai thác gỗ hay ngăn cản người dân khai thác.
Công ty cũng đã gửi rất nhiều văn bản đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk can thiệp, hỗ trợ trong việc quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ tài sản của công ty. Đồng thời Cty Trường Thành đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk giải quyết dứt điểm tranh chấp, thế nhưng, mọi việc vẫn không được giải quyết dứt điểm.
Điều mà Công ty Cổ phần trồng rừng Trường Thành mong muốn là, UBND tỉnh Đắk Lắk cần sớm giải quyết dứt điểm tình trạng này để Công ty thực hiện đúng dự án đã được phê duyệt là thuê đất trồng rừng sản xuất mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Việc tranh chấp rừng trồng của các hộ dân đã gây thiệt hại đáng kể cho Công ty, ông Thuận chia sẻ.
Theo quan điểm của một số luật sư cho rằng, lẽ ra trước khi thực hiện việc thu hồi rừng trồng và đất rừng của BQLDA Krông Năng để giao cho Cty Trường Thành, UBND tỉnh Đắk Lắk cần giao cho BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng thực hiện thanh lý các hồ sơ, khế ước và hợp đồng giao khoán rừng với 28 hộ dân. Đồng thời, có phương án hỗ trợ, bồi thường thỏa đáng để người dân đồng thuận giao đất giao rừng cho nhà nước để giao cho doanh nghiệp.
Nhưng nay, BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng không còn là chủ rừng mà Cty Trường Thành mới là chủ. Còn hệ lụy gây tranh chấp là do Quyết định số 2572/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc thu hồi 568,43 ha đất lâm nghiệp và rừng trồng của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, để giao cho Cty Trường Thành thuê gây ra thì UBND tỉnh Đắk Lắk phải có trách nhiệm giải quyết tranh chấp này. Vấn đề mấu chốt là quyền lợi của 28 hộ trồng rừng phải được đảm bảo không nên đẩy họ vào cảnh trắng tay sau 15 năm trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Trong khi đó, Bà Trương Thị Hậu, Ông Phan Khắc Văn, ông Lương Mạnh Hải… cũng như các hộ dân nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng mong muốn nhà nước tiếp tục giao đất, giao rừng cho họ để phát triển kinh tế từ rừng. “Nếu không cũng phải xem xét bồi thường, hỗ trợ cho người dân theo đúng quy định của pháp luật chứ không thể thu trắng của chúng tôi như vậy”, bà Hậu nói.
Thiết nghĩ, mọi việc nếu được thực hiện một cách dân chủ, có sự tham gia thực sự của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng đơn vị giao khoán rừng, người nhận khoán rừng cũng như các cơ quan chức năng tạo được sự đồng thuận trước khi UBND tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định số 2572/QĐ-UBND, ngày 3/10/2008 về việc thu hồi 568,43 ha đất lâm nghiệp và rừng trồng của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, để giao cho Cty Trường Thành thuê, thì giờ đây chắc hẳn sẽ không có cảnh tranh chấp, khiếu nại, khởi kiện dai dẳng, kéo dài.
Để chấm dứt tình trạng tranh chấp, mâu thuẫn, khiếu kiện, rất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của UBND tỉnh Đắk Lắk thậm chí cả các Bộ, Ngành trung ương để cùng tháo gỡ nút thắt tranh chấp này. Nếu không thì sự việc sẽ còn kéo dài vượt cấp không có hồi kết. Người bị thiệt hại trong vụ tranh chấp này là cả người dân và doanh nghiệp. Còn địa phương thì tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an ninh trật tự.
Hơn nữa lòng tin của người dân và doanh nghiệp đối với các cơ quan hành chính nhà nước, các cấp chính quyền bị xói mòn. Song hậu quả thấy rõ nhất là hàng trăm ha rừng trồng xanh bạt ngàn đã bị chặt trắng nguy cơ đất trống đồi trọc vẫn hoàn trọc đang hiện hữu khi mà tranh chấp rừng và đất rừng không được giải quyết dứt điểm.
Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là tạo điều kiện để người dân sống dựa vào rừng, bảo đảm cuộc sống để đồng bào yên tâm phát triển kinh tế rừng. Phát triển rừng là để bảo vệ cuộc sống nhân loại, điều này ai cũng biết qua khẩu hiệu. Song thực tế, những người trồng rừng ở Krông Năng đang lao đao vì rừng. Và họ đang đốn rừng hằng ngày để vớt vát những gì trước khi người khác lấy mất. Vậy là những cây gỗ tiếp tục bị gục đổ… (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/8) đầu trang(
Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cơ sở chế biến lâm sản được thành lập, góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế của người dân.
Tuy nhiên cũng có một thực tế, đó là không ít cơ sở thuộc lĩnh vực này lại được cấp phép hoạt động ngay trong những khu vực thuộc vùng đệm, thậm chí vùng lõi của những khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc những vùng gần rừng tự nhiên với trữ lượng gỗ dồi dào.
Điều này đã vô tình khiến cho công tác quản lý bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng trở nên khó khăn hơn, nhất là trong bối cảnh tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra phức tạp.
Chỉ riêng khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc hiện có tới 6 cơ sở chế biến gỗ thuộc các địa bàn vùng đệm là 2 xã Bản Thi và Xuân Lạc. Lãnh đạo của đơn vị này cho biết, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho công tác quản lý khu bảo tồn gặp không ít khó khăn. Thực tế, một số cơ sở đã bị xử phạt hành chính do hành vi sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ không rõ nguồn gốc.
Điển hình là cuối tháng 5 vừa qua, sau khi kiểm kê, các lực lượng chức năng đã phát hiện tại Doanh nghiệp tư nhân Thái Bình, xã Bản Thi có gần 2,3m3 gỗ xẻ, 0,2m3 gỗ tròn cùng hơn 1,2 tấn gỗ tự nhiên các loại không chứng minh được nguồn gốc. Đây là lần thứ 2 doanh nghiệp Thái Bình bị xử lý hành chính liên quan vấn đề này.
Ông Vũ Mạnh Nghĩa – Hạt trưởng hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết, đây là vùng nguyên liệu không có hoặc không có nhiều nên nguy cơ việc lợi dụng giấy phép để đưa gỗ tự nhiên vào là rất cao. Lực lượng kiểm lâm mỏng, trạm kiểm soát lại phân tán nên việc quản lý rất khó khăn.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện toàn tỉnh có gần 8 cơ sở chế biến thuộc khu vực đệm những khu rừng đặc dụng, chưa kể hàng loạt các cơ sở nằm giáp các khu rừng tự nhiên có trữ lượng gỗ dồi dào. Tuy nhiên, việc cấp phép hoạt động cho các cơ sở này do Phòng Tài chính cấp huyện và sở Kế hoạch & Đầu tư thực hiện, mà thiếu đi sự phối hợp của lực lượng kiểm lâm trong việc xác định vùng nguyên liệu cũng như vị trí đặt xưởng sao cho hợp lý.
Ông Hoàng Minh Xuân, Trưởng phòng Thanh tra Pháp chế, Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn cho biết, trong thời gian vừa qua, việc cấp phép có những bất cập như sự phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với UBND huyện còn lỏng lẻo nên dẫn đến tình trạng có nơi cấp vào vùng nhạy cảm. Để quản lý tốt hơn vấn đề này, chi cục cho rằng khi có cơ sở xin cấp thì chính quyền cần phối hợp kiểm lâm để xác định vùng nguyên liệu cho rõ ràng hơn.
Ông Xuân cùng chobiết thêm, trong thời gian qua, nhiều cơ sở chế biến gỗ tại những khu vực này đã bị xử phạt hành chính do sử dụng nguồn nguyên liệu không đúng giấy phép. Bên cạnh đó, việc quản lý các cơ sở ngay những khu vực “nhạy cảm” giữa những khu rừng tự nhiên như vậy là không dễ với lực lượng chức năng bởi lực lượng mỏng phải làm 2 nhiệm vụ nên việc giám sát thiếu đi tính hiệu quả.
Mặc dù các cơ sở chế biến gỗ góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế địa phương nhưng với tình trạng phá rừng vẫn diễn ra phức tạp trong thời gian qua thì rõ ràng, người dân có cơ sở để lo ngại về những cơ sở chế biến gỗ nằm ngay trong vùng đệm và vùng lõi của các khu bảo tồn thiên. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 7/8) đầu trang(
Thời gian qua, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp tỉnh Bắc Cạn chủ trì, tiến hành rà soát thực trạng quản lý, sử dụng đất lâm trường.
Các lâm trường quốc doanh trên địa bàn tiến hành sắp xếp lại. Qua đó, các lâm trường trả lại, chính quyền địa phương thu hồi gần mười nghìn ha đất lâm trường quản lý, sử dụng không hiệu quả giao cho nhân dân. Tuy nhiên, tình trạng lấn chiếm đất lâm trường trên địa bàn tỉnh vẫn đang diễn ra ngày càng gay gắt mà chưa có giải pháp khắc phục.
Trong hai năm 2012 và 2013, trước tình trạng nhân dân ở các xã Đôn Phong, Dương Phong và Quang Thuận thuộc huyện Bạch Thông, canh tác trên đất lâm trường, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp (Công ty Lâm nghiệp) Bắc Cạn đã “cắt” cho nhân dân ba xã này 247 ha đất lâm nghiệp.
Thời gian gần đây, cùng với lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đến xã Quang Thuận, chúng tôi thấy, tình trạng nhân dân địa phương trồng cây ăn quả trên đất lâm trường vẫn tiếp tục diễn ra.
Quyền Tổng Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn Nguyễn Hải Đăng cho biết: “Đất lâm trường của chúng tôi quản lý có rừng, nhân dân địa phương phát phá những chòm nhỏ chừng gần một m2, nhưng dày đặc những chòm như vậy để trồng cây ăn quả. Từ xa không phát hiện được, đến gần thấy nhân dân đã trồng toàn cây ăn quả cao 70- 80 cm. Nếu phá cây ăn quả của dân sẽ xảy ra mâu thuẫn”.
Ông Đăng cũng thừa nhận, các lâm trường phối hợp với chính quyền nhiều xã còn hạn chế, bản thân một số lâm trường quản lý đất lâm nghiệp chưa thật sự hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là do cán bộ, công nhân lâm trường mỏng, trình độ hạn chế.
Sau khi sắp xếp lại, các lâm trường trên địa bàn tỉnh trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn, đang quản lý hơn 14 nghìn ha, trong đó có hơn bảy nghìn ha rừng tự nhiên, ba nghìn ha rừng phòng hộ và bốn nghìn ha đất rừng sản xuất. Tình trạng lấn chiếm đất lâm trường thời gia qua diễn ra trên đất rừng tự nhiên và đất rừng sản xuất.
Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn được giao quản lý, bảo vệ hơn mười nghìn ha rừng tự nhiên. Đây là nguồn dự trữ gỗ cho quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái nên không thể chuyển đổi và cũng không thể giao cho dân quản lý, bảo vệ. Sau khi giao trả cho địa phương gần mười nghìn ha đất rừng sản xuất, hiện tại, Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn với hơn 140 cán bộ, công nhân đang quản lý, kinh doanh bốn nghìn ha đất rừng sản xuất là không nhiều và phù hợp với khả năng.
Với bốn nghìn ha đất rừng sản xuất, mỗi năm, Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn trồng từ 500 đến 600 ha rừng, chu kỳ 8-9 năm khai thác, sau đó lại trồng rừng nên hiện nay không có đất trống, đồi trọc. Một trong những nguyên nhân mà nhân dân các địa phương lấn chiếm đất rừng sản xuất, rừng tự nhiên do các lâm trường quản lý là do chưa được cắm mốc, phân chia danh giới rõ ràng giữa đất lâm trường và đất của nhân dân.
Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đã lập dự án thiết kế kỹ thuật, dự toán rà soát, cắm mốc danh giới đất quốc doanh và đã thống kê, đo, vẽ, trích lục bản đồ địa chính và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 96% diện tích đất được giao quản lý.
Tuy nhiên, thời gian vừa qua, UBND tỉnh Bắc Cạn lại giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện dự án này. Thay đổi đơn vị thực hiện và thiếu kinh phí, nên chưa biết đến bao giờ, việc cắm mốc danh giới đất lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh mới hoàn thành.
Khi nào Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn chưa làm tốt việc phối hợp với chính quyền các xã trong việc quản lý đất quốc doanh, chưa hoàn thành việc cắm mốc danh giới đất lâm trường, tình trạng lấn chiếm đất lâm trường sẽ còn diễn ra, ngày càng phức tạp, thậm chí xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa các lâm trường với người dân địa phương. (Nhân Dân 6/8) đầu trang(
Nghệ An hiện có đất lâm nghiệp chiếm 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Mục tiêu trong giai đoạn 2015 - 2020 là xây dựng ngành Lâm nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn đang tạo ra những lợi thế nhất định trong phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Gia đình bà Vi Thị Hà, bản Na Bón, xã Tiền Phong (Quế Phong) có gần 10 ha đất đồi. Đang phát dọn thực bì cho keo 4 tháng tuổi, bà Hà phấn khởi cho biết: Trước đây, khu đất này để trống, trong khi vợ chồng không có việc làm, quanh năm vào rừng hái măng, tìm kiếm lâm phụ sản về bán lấy tiền tiêu qua ngày, cuộc sống gia đình vì thế tạm bợ, không có của ăn, của để. Năm 2010, gia đình phối hợp với gia đình khác để trồng rừng nguyên liệu trên toàn bộ diện tích này.
Sau 6 năm chăm sóc, cuối năm ngoái, gia đình thu hoạch lứa keo đầu tiên, được hàng trăm triệu đồng. Phấn khởi trước số tiền lớn, chưa khi nào nghĩ tới, gia đình lấy lại toàn bộ đất để trồng lại rừng, theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Sau khi được Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, cung ứng cây giống, phân bón, gia đình bà Hà triển khai trồng rừng, rừng sau khi trồng được rào cẩn thận, không cho trâu, bò vào, bởi vậy, mới 4 tháng mà keo đã cao gần 1m.
Với gia đình ông Võ Trọng Cương, xóm 4, xã Nghĩa Hành (Tân Kỳ) lại chú trọng trồng rừng gỗ lớn. Với 6 ha đất đồi, cách đây 7 năm ông trồng xen keo là xoan đâu, lát, xà cừ… nay thân cây đạt đường kính gần 20 cm, nhưng ông chưa khai thác, mà để lâu năm để làm gỗ xây dựng. Ông Cương cho hay: Gỗ xây dựng ngày càng ít đi, do vậy, khi nào thân cây đạt 30 – 40 cm là thu hoạch, giá trị kinh tế gấp nhiều lần so với rừng nguyên liệu.
Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt trong 2 năm nay tích cực đẩy mạnh công tác trồng rừng, được người dân trong vùng hưởng ứng tích cực. Bằng nguồn đầu tư của Dự án trồng rừng 147, năm 2015, đơn vị đã trồng được hơn 700 ha rừng keo tai tượng; năm 2016 từ Dự án Bảo vệ phát triển rừng của Nhà nước, đơn vị nhận trồng 500 ha rừng, trong đó đợt 1 đã trồng được 360 ha. Hiện nay, đồng bào các dân tộc đang chuẩn bị đào hố, trồng nốt phần diện tích đất còn lại trong năm 140 ha. Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã chuẩn bị đủ cây giống, cung ứng cho người dân trồng kịp thời vụ.
Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến gỗ nguyên liệu trên địa bàn tỉnh khá phát triển. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 45 doanh nghiệp chế biến gỗ, 11 doanh nghiệp sản xuất giấy và bột giấy, ngoài ra có hơn 7.361 cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể các mặt hàng đồ gỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho mình, hầu hết nhà máy chế biến gỗ rừng trồng nào cũng có chính sách hỗ trợ người trồng rừng và thu mua gỗ. Nhà máy chế biến gỗ MDF Nghệ An (Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm) chuyên sản xuất gỗ ghép thanh và sản phẩm MDF xuất khẩu.
Giai đoạn 1, công suất nhà máy 13.000 m3 gỗ ghép thanh và 130.000 m3 MDF/năm, như vậy, mỗi năm nhà máy cần số lượng gỗ nguyên liệu rất lớn. Ông Lê Văn Kiệm - Phó Giám đốc nhà máy, cho biết: Kế hoạch đến tháng 9/2016, nhà máy sẽ chính thức sản xuất sản phẩm chính là gỗ MDF và gỗ ghép thanh xuất khẩu. Hiện nay, tỉnh đã quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhà máy với 42.000 ha đất trồng rừng, tại các huyện dọc Quốc lộ 7 và Quốc lộ 48.
Trong đó, đa phần là diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho dân, nên nhà máy tạo cơ chế chính sách cho người dân phát triển rừng một cách ổn định. Đó là, cung ứng 100% cây giống, phân bón, thuốc diệt mối cho chủ rừng, với mục tiêu nâng sản lượng gỗ rừng trồng lên 150 – 180 tấn/ha.
Để chủ động nguồn cung, công tác quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ được xác định ưu tiên hàng đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn hoạt động ổn định, chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, đầu ra cho nhà máy.
Hiện tại địa bàn tỉnh có khoảng trên 170.000 ha rừng trồng sản xuất, loài cây trồng chủ yếu là keo lai, keo tai tượng và một số ít là keo lá tràm. Theo kế hoạch, trong thời gian tới, việc mở rộng diện tích rừng trồng phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ được chú trọng, góp phần nâng độ che phủ rừng của tỉnh lên 50% vào năm 2020.
Trong thời gian tới, với các nhà máy chế biến gỗ rừng trồng hiện tại và đầu tư xây dựng mới ở các khu công nghiệp Nam Cấm, TX. Hoàng Mai, Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn… có khả năng tiêu thụ nguyên liệu gỗ rừng trồng đạt khoảng 2,7 triệu m3/năm, cộng với nhu cầu gỗ cho sản xuất các mặt hàng khác như: Gỗ phục vụ sản xuất hàng mỹ nghệ, gỗ gia dụng, mộc nội, ngoài thất…, thì nhu cầu nguyên liệu gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh năm 2020 cần khoảng 1,7 triệu m3; năm 2025 cần khoảng 2,5 triệu m3 và năm 2030 khoảng 3 triệu m3.
Để đáp ứng đủ sản lượng gỗ rừng trồng cho những năm tới, tỉnh ta đặt mục tiêu đến năm 2020 có trên 210.000 ha rừng trồng nguyên liệu; đến năm 2025 có 257.000 ha rừng trồng nguyên liệu và đến năm 2030 có trên 283.000 ha rừng trồng nguyên liệu. (Báo Nghệ An 6/8) đầu trang(
Sự phát triển nóng ngành dăm gỗ những năm vừa qua đã phải trả giá khi thị trường thế giới đột ngột suy giảm.
Chỉ trong nửa đầu năm 2016, giá dăm gỗ xuất khẩu đã giảm gần 20%, trong khi tồn kho lớn, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Điều gì đang khiến ngành dăm lao đao tới vậy?
Dăm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ngành chế biến gỗ của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt gần 1,2 tỉ đô la Mỹ, tương đương với 17% tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng gỗ. Song, bước sang năm 2016, những khó khăn từ thị trường xuất khẩu cũng như những bất cập nội tại trong ngành chế biến dăm đang khiến nhiều doanh nghiệp lao đao.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu dăm 5 tháng đầu năm 2016 là 1,8 triệu tấn, thu về 248 triệu đô la Mỹ, giảm lần lượt 39% và 42% so với cùng kỳ năm 2015.
Nếu từ nay đến cuối 2016 xu hướng xuất khẩu này không thay đổi, ngành chế biến và xuất khẩu dăm của Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với vô vàn khó khăn và kim ngạch xuất khẩu cả năm 2016 sẽ chỉ đạt ở mức trên dưới 600 triệu đô la Mỹ, tức chỉ bằng khoảng một nửa kim ngạch năm 2015.
Theo phản ánh của các doanh nghiệp sản xuất dăm tại hội thảo gần đây ở Hà Nội, dăm gỗ xuất khẩu khó khăn, giá xuất khẩu giảm. Ước tính, giá xuất khẩu dăm gỗ trên thế giới đã giảm gần 20% chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm. Hiện nay, tồn kho dăm gỗ tại các doanh nghiệp rất lớn khiến họ giảm mua gỗ nguyên liệu từ nông dân.
Trước bối cảnh trên, nhiều hộ gia đình có nguồn sinh kế khác thay thế thì cố gắng giữ lại rừng để chờ giá tăng. Nhiều hộ khác không có nguồn sinh kế thay thế bắt buộc phải bán rừng, chấp nhận mức giảm 30-40% về lợi ích kinh tế so với năm 2015. Điểm đáng chú ý là những hộ gia đình này đều là những hộ nghèo, dân tộc thiểu số tại vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải miền Trung.
Kể từ năm 2012, Việt Nam đã thay thế vị trí của Úc trên bản đồ cung cấp dăm gỗ thế giới, trở thành quốc gia xuất khẩu dăm gỗ lớn nhất toàn cầu. Ngoài Úc, các nước có nguồn cung cấp dăm lớn, cạnh tranh với Việt Nam là Thái Lan, Indonesia và Chile.
Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là ba quốc gia nhập khẩu dăm quan trọng nhất của Việt Nam, chiếm trên 90% tổng kim ngạch và lượng xuất khẩu hàng năm, trong đó thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 60% trong tổng kim ngạch và lượng dăm xuất khẩu của Việt Nam.
Theo báo cáo được thực hiện bởi Tổ chức Forest Trends và Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Vifores), sự tụt giảm lượng dăm xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2016 có nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân cơ bản nhất là do thay đổi trong cơ cấu nhập khẩu dăm tại thị trường Trung Quốc.
Số liệu thống kê của Hải Quan Trung Quốc cho thấy kể từ đầu năm 2016 nguồn dăm gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này dần được thay thế bởi nguồn cung từ Úc và Thái Lan. Tại Trung Quốc, Úc đã lấy lại vị trí dẫn đầu của mình về cung dăm cho Trung Quốc. Bên cạnh đó, nguồn cung từ Thái Lan cũng tăng lên, làm co hẹp thị phần của dăm Việt Nam tại thị trường này.
Điều này là do chất lượng dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang bị mất kiểm soát, hiện đang có dấu hiệu đi xuống như bị trộn cành, vỏ cây, mấu…nên có hàm lượng fiber thấp, ảnh hưởng tới hình ảnh ngành dăm Việt Nam trên thị trường thế giới.
Thực tế, câu chuyện ngành dăm không phải bây giờ mới được bàn tới. Từ những năm trước đây, ngành dăm phát triển quá nóng, không theo quy hoạch, chạy theo thị trường và không thể kiểm soát được chất lượng.
Điều này được chứng minh thông qua Thông báo 76/TB-UBND tỉnh Thanh Hóa vào giữa năm 2016: “Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 42 cơ sở sản xuất dăm gỗ, trong đó chỉ có 11 cơ sở được chấp thuận sản xuất, với tổng công suất 330.000 tấn/năm, trong khi công suất băm dăm gỗ thực tế của các cơ sở đã lên tới 729.000 tấn/năm, vượt 2,2 lần so với công suất cho phép; đa số các cơ sở sản xuất dăm gỗ đều chưa có phương án đầu tư dài hạn từ khâu trồng, thu mua nguyên liệu đến khâu chế biến […]; tình trạng thiếu nguyên liệu đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, tranh mua, tranh bán gây mất trật tự xã hội.”
Số liệu thống kê của Vifores cho thấy năm 2009, Việt Nam có 47 nhà máy dăm với lượng dăm xuất khẩu đạt khoảng 2,3 triệu tấn khô thì đến 2014, lượng dăm xuất khẩu của Việt Nam đã đạt mức 7 triệu tấn khô và số lượng nhà máy tăng lên 130, tức gần gấp 3 lần trong 5 năm.
“Phát triển không kiểm soát, chạy theo lợi nhuận, không quan tâm đến chất lượng sản phẩm tại các địa phương đã và đang tác động tiêu cực đến hình ảnh của toàn ngành dăm Việt Nam, làm giảm lòng tin của nhà nhập khẩu, giảm thị phần xuất khẩu, tạo cơ hội cho một số nhà nhập khẩu khác ép giá dăm của Việt Nam. Các yếu tố này thể hiện tính không bền vững của ngành chế biến dăm xuất khẩu”, theo báo cáo của Forest Trends.
Phát biểu tại hội thảo trên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NNPTNT) Hà Công Tuấn nói thẳng: “Chúng ta không thể tự hào là một nước xuất khẩu dăm gỗ mãi được. Khai thác từ rừng, chặt gỗ non đi để bán là con đường mà chúng ta không mong muốn”.
Chính vì vậy, từ đầu năm 2016, Việt Nam đã áp dụng mức thuế xuất khẩu dăm từ 0% lên 2% với mục tiêu giảm lượng dăm xuất khẩu, kích thích người dân kéo dài thời gian trồng rừng, tăng thêm thu nhập và tạo nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ chế biến sâu. Song, việc áp dụng nâng mức thuế xuất khẩu lại trùng hợp với thời điểm giá thị trường dăm thế giới đi xuống, ngành dăm Việt Nam bộc lộ những yếu kém nội tại khiến nhiều doanh nghiệp điêu đứng, có nguy cơ giải thể hoặc phải sáp nhập.
Ngành dăm, dù có bị những “tai tiếng” thời gian vừa qua nhưng cũng không thể phủ nhận những đóng góp của nó, đặc biệt trong việc tạo việc làm cho các hộ nghèo, dân tộc thiểu số. Do đó, các doanh nghiệp chế biến dăm gỗ kiến nghị tới Bộ NNPTNT trước mắt chưa áp mức thuế xuất khẩu 2% nói trên khi mà thị trường còn khó khăn.
Tiếp thu ý kiến của doanh nghiệp, Thứ trưởng Tuấn cho hay, sẽ tìm hiểu kỹ vấn đề này và có câu trả lời cho doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 5/8) đầu trang(./.
|
|||