Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 08 tháng 07 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, ngay sau khi được thành lập, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV-PTR) tỉnh Đăk Nông đã đẩy mạnh thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn.
Theo đó, sau khi UBND tỉnh thông qua Đề án chi - trả DVMTR trên địa bàn tỉnh, Quỹ BV-PTR tỉnh đã tiến hành ký hợp đồng ủy thác với Quỹ BV&PTR Việt Nam và đốc thúc các nhà máy thủy điện đứng chân trên địa bàn tỉnh có sử dụng DVMTR thực hiện đăng ký, kê khai và nộp phí DVMTR. Số phí DVMTR thu được, Quỹ đã tạm chi cho các đơn vị chủ rừng để có thêm điều kiện mua sắm vật tư, phương tiện tuần tra, bảo vệ rừng.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 158 đơn vị chủ rừng là các cá nhân, nhóm hộ, cộng đồng dân cư thôn, bon, các xã, thị trấn, các tổ đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp dân doanh được hưởng kinh phí DVMTR. Các đơn vị chủ rừng này được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, với tổng diện tích rừng tham gia cung ứng DVMTR là 238.223 ha.
Số kinh phí dự kiến chi trong năm 2013 là trên 88,7 tỷ đồng, hiện đã chi tạm ứng lần 1 là trên 12,3 tỷ đồng. Còn theo kế hoạch thu phí DVMTR năm 2012, toàn tỉnh có 27 đơn vị sản xuất thủy điện, cung cấp nước nằm trên địa bàn phải đóng phí DVMTR là gần 18 tỷ đồng.
Theo Quỹ BV-PTR tỉnh thì phí DVMTR là nguồn thu lớn và bền vững, nếu được thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần huy động các nguồn lực xã hội để quản lý, bảo vệ rừng, thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng.
Thông qua đó, nhận thức và trách nhiệm của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng đối với công tác bảo vệ, phát triển rừng sẽ được nâng cao. Đặc biệt, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR sẽ giúp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Vì tính chất quan trọng này, cuối năm 2012, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch chi tạm ứng phí DVMTR cho các chủ rừng. Đây là giải pháp nhằm giải quyết một phần khó khăn về kinh tế cũng như tạo điều kiện cho các chủ rừng xây dựng kế hoạch, biện pháp thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Đối tượng được tạm ứng phí DVMTR là các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng DVMTR. Cụ thể, các chủ rừng là các tổ chức được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao; hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; cộng đồng dân cư thôn, bon được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp…
Việc được chi tạm ứng phí DVMTR, các chủ rừng bắt buộc phải đáp ứng điều kiện là phải có diện tích rừng tham gia cung ứng DVMTR ít nhất cho một trong các nhà máy thủy điện nằm trong kế hoạch chi trả.
Căn cứ vào kết quả điều tra, phân loại, thống kê hiện trạng rừng, ước tính mức chi trả đối với từng lưu vực cụ thể như: thủy điện Buôn Tua Sarh: 118,040 đồng/ha; thủy điện Buôn Kuốp: 16,576 đồng/ha; thủy điện Đồng Nai 3: 49,567 đồng/ha, thủy điện Sêrêpốk 3: 50,079 đồng/ha, thủy điện Đắk N’teng: 59,137 đồng/ha…
Thời gian qua, Quỹ BV-PTR tỉnh đã trực tiếp làm việc với các đơn vị sử dụng DVMTR để tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về trình tự đăng ký, kê khai, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR theo đúng trình tự, thời gian quy định và nhận được sự đồng thuận cao. Các chủ rừng cũng được hướng dẫn về trình tự, thủ tục chi tạm ứng phí DVMTR đợt 1 năm 2013. Đến nay, Quỹ đã thực hiện chi tạm ứng cho 48 nhóm hộ, 7 cộng đồng thôn, bon và trên 15 doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Để thực hiện kế hoạch thu chi phí DVMTR trong 2013 đạt kết quả cao, Quỹ BV-PTR tỉnh đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR đối với các đối tượng sử dụng, cung cấp DVMTR cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành.
Cùng với việc tăng cường vận động, thu tiền các đối tượng theo quy định của Chính phủ, Quỹ cũng phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức xét duyệt, thẩm định các chương trình, dự án để hỗ trợ đầu tư khi có nguồn vốn thu được. Việc tổ chức kiểm tra, nghiệm thu, giám sát các đối tượng cung ứng DVMTR theo đúng quy định cũng được chú trọng nhằm thực hiện hiệu quả chính sách chi trả DVMTR tại địa phương. (Báo Đăk Nông 5/7)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 5/7, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cho biết đã quyết định thành lập Trạm quản lý bảo vệ rừng liên huyện vùng giáp ranh giữa huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận và huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (Trạm quản lý bảo vệ rừng liên huyện).
Hai tỉnh này có chiều dài vùng giáp ranh khoảng 200km, được trải dài trên ranh giới của 5 huyện. Trong đó, huyện Bắc Bình – Đức Trọng là khu vực trọng điểm, thường xuyên xảy ra nhiều vụ vi phạm về việc khai thác rừng, tình trạng phá rừng nơi đây tồn tại nhiều diễn biến hết sức phức tạp.
Vì diện tích rừng giáp ranh khá lớn nên việc kiểm tra, kiểm soát các đối tượng phá rừng gặp không ít khó khăn. Vị trí đặt Trạm quản lý bảo vệ rừng liên huyện tại xã Tà Năng, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng).
Từ năm 2008 đến đầu năm 2013, tại các điểm nóng rừng giáp ranh lực lượng chức năng đã phối hợp tổ chức 436 đợt kiểm tra truy quét, phá hủy tại chỗ 20 xe cải tiến của đối tượng phá rừng, 15 lán trại, 40m3 gỗ.
Trong năm 2012, các đơn vị chủ rừng đã phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra truy quét và phá bỏ cây trồng trái phép trên đất lâm nghiệp với tổng diện tích trên 100ha. (VietnamPlus.vn 6/7)đầu trang(
5-7, UBND Đắk Lắk tổ chức hội nghị sơ kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013.
Tỉnh hiện có hơn 641 nghìn ha rừng. Theo tổng hợp, trong 6 tháng đầu năm, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 1.374 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 11 vụ khởi tố hình sự và 1.363 vụ xử lý hành chính; tịch thu 2.947m3 gỗ và 279 phương tiện các loại, tổng số tiền thu sau xử lý hơn 15,6 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2012, tăng 43,4% về số vụ vi phạm.
Các hành vi phá rừng chủ yếu gồm: Phá rừng, lấn chiếm đất rừng (21 vụ), gây thiệt hại 123,9ha rừng; khai thác lâm sản trái phép (75 vụ); mua bán, vận chuyển, chế biến lâm sản và săn bắt động vật rừng trái phép (950 vụ); các vi phạm khác (344 vụ). Một số địa phương để xảy ra điểm nóng về phá rừng, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản là huyện Buôn Đôn, Ea Súp, M’đrắk, Krông Năng và huyện Krông Bông. Vườn quốc gia Yok Đôn là đơn vị để xảy ra nhiều vụ vi phạm lâm luật nhất, trong 6 tháng có 420 vụ bị phát hiện và tịch thu 446m3 gỗ các loại.
Về biện pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, hội nghị thống nhất: Cần đề cao trách nhiệm của chủ rừng và chính quyền địa phương khi để mất rừng. Xử lý nghiêm những doanh nghiệp, hộ dân và cộng đồng dân cư được giao rừng để bảo vệ, hoặc triển khai dự án trồng cao su mà quản lý lỏng lẻo dẫn đến mất rừng.
Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, trong đó chú trọng việc tranh thủ sự hỗ trợ của bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng tham gia bảo vệ rừng trên tuyến biên giới và rừng ở những địa bàn chiến lược về quốc phòng. Theo dõi, quản lý và xử lý nghiêm minh các đối tượng là lâm tặc, đầu nậu và các chủ xưởng chế biến lâm sản khi phát hiện vi phạm. (Quân Đội Nhân Dân 6/7)đầu trang(
7.7, ông Trần Văn Trường, Chủ tịch UBND H.Hòa Vang, TP.Đà Nẵng cho biết nguyên nhân vụ cháy rừng kéo dài tại địa phương từ khuya qua đến rạng sáng nay là do đốt thực bì gây cháy lan.
Trước đó, chiều 6.7, người làm rừng tại thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn, H.Hòa Vang đốt thực bì sau khi thu hoạch rừng bạch đàn, keo lá tràm để chuẩn bị trồng rừng mới.
Vì không có người trông coi sau khi đốt thực bì, đến khuya cùng ngày, ngọn lửa lan sang rừng trồng của chủ rừng khác.
Đám cháy rừng nằm ở lưng chừng núi cao nên xe cứu hỏa không thể tiếp cận. Lực lượng địa phương huy động hơn 50 người dùng máy thổi và rựa chặt cành cây dập lửa, khống chế đám cháy vào khoảng 4 giờ sáng cùng ngày.
Lực lượng P.Hòa Khánh Bắc, Q.Liên Chiểu giáp ranh với khu vực cháy rừng cũng đã huy động người và phương tiện túc trực, phát quang tạo đường băng cản lửa đề phòng đám cháy lan sang.
Đây là vụ cháy rừng thứ 2 chỉ trong vòng 3 ngày qua tại xã Hòa Sơn. Hiện cơ quan chức năng đang thống kê diện tích rừng trồng bị thiệt hại.
Điều đáng nói là Chi cục Kiểm lâm vừa ra thông báo về nguy cơ cháy rừng tại TP.Đà Nẵng đang ở mức cao báo động cấp 3 đồng thời nghiêm cấm đốt thực bì trong mọi trường hợp. Thế nhưng, phớt lờ lệnh cấm, các chủ rừng vẫn vi phạm.
Ông Trần Văn Trường cho biết, một chủ rừng mới đây bị xử phạt về vi phạm tương tự và đang tiếp tục làm rõ để xử lý nghiêm trường hợp đốt thực bì gây cháy lan vào rừng trồng của người dân đợt này. (Thanh Niên 8/7)đầu trang(
Sở hữu trên 30ha rừng bao gồm hàng vạn cây nghiến, lim, lát, sến, kháo thơm... với giá trị hàng tỉ đồng nên ông Tăng Tống Khìn ở xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn được mệnh danh là vua rừng xứ Lạng...
Ông Khìn cho biết: Quê gốc của ông ở huyện Văn Quan. Hồi nhỏ, cuộc sống của gia đình ông dựa vào rừng vào núi, muốn lấy củi đốt thì vào rừng, thực phẩm hàng ngày cũng dựa vào việc đánh bẫy.
Ông bảo: "Tôi đánh bẫy giỏi đến mức đi đến đâu thợ săn cũng phải van xin bảo đánh ít thôi, để dành cho người khác còn lấy đường sống. Nói thế để thấy rằng cuộc sống quá khó khăn, muốn có cái ăn, dân bản phải vào rừng bẫy thú, đào củ mài, củ ấu...". Vậy nhưng những khó khăn này dường như chẳng thấm tháp vào đâu so với thời gian sau này khi ông bị đẩy ra khỏi rừng mất nhà, cửa, ruộng vườn, gia đình li tán khắp nơi vì nợ nần.
Năm lên 16 tuổi, ông theo gia đình chuyển sang xã Bình Trung, huyện Cao Lộc sinh sống trong hoàn cảnh cả nhà không có nổi một bát gạo nấu cháo, ruộng vườn không có, đồi núi cũng không. Khi đi vay hàng xóm thì nhiều người không cho vì sợ ông không trả được nợ. Uất quẫn, ông lại lên rừng đánh bẫy thú đem đổi gạo và bán, số tiền dư ra ông dồn để buôn bán từ Việt Nam sang Trung Quốc.
Một thời gian ngắn sau, ông Khìn trở thành tay buôn khét tiếng ở khu vực biên giới Việt - Trung. Để sống được bằng buôn bán, tự ông phải chống trả quyết liệt các phe phái làm ăn khác để vươn lên: "Hồi đó tôi học được một chút võ nghệ nên đánh nhau trận nào cũng thắng. Về sau người khác cứ gọi tôi là "đại ca" thì tôi biết vậy chứ có béo bổ gì với cái danh ấy".
Chán buôn bán, giành giật, đánh đấm nhau quanh biên giới, ông Khìn lại chuyển sang buôn thuốc phiện với địa bàn hoạt động chính vẫn trong tỉnh Lạng Sơn. Ông kể: "Chuyện là tôi hay đi buôn đến những nơi hẻo lánh như Hữu Liên, Trấn Yên... ở đó nhiều người hay bỏ độc hại người khác. Muốn sống được ở đây phải cho những đứa hay bỏ độc hút thuốc phiện, nó nghiện rồi sẽ phải phụ thuộc mình và sẽ không dám bỏ độc mình nữa. Chính vì thế mà tôi cứ ung dung đến những nơi này làm ăn mà chẳng bị làm sao".
Đến năm 1993, khi Nhà nước triển khai việc giao đất giao rừng cho người dân quản lí, ông Khìn xin được nhận khoán 30ha rừng núi đá, chính thức từ dã việc buôn bán lắm thị phi...
Ông Khìn nhớ lại thời điểm mới nhận rừng: "Lúc đó, khu rừng núi đá bị chặt phá tan hoang, toàn đá lởm chởm không còn màu xanh nên người dân xung quanh không ai nhận. Thế rồi tôi xin chính quyền nhận quản lí khu vực này và được chính quyền chấp nhận. Ngay sau đó, tôi đi mua vài đôi dê thả lên núi, cùng với đó là nuôi lại và trồng mới các loại nghiến, lát, kháo, gỗ thơm...
Thực phẩm hằng ngày của gia đình tôi cũng lại dựa vào rừng, như rau bò khai có sẵn không phải trồng cấy, chăm sóc, thịt chuột, thịt cầy cũng đánh được từ trong rừng, nuôi dê lớn lên thì bán lấy tiền... Lúc cao điểm, trong rừng nhà tôi có hàng trăm con dê, rau bò khai thì bán không kịp so với nhu cầu của thị trường. Đặc biệt là số lượng gỗ quí đã được phủ khắp 30ha rừng. Cây to thì cũng đã bằng cái thùng, vại, cây bé thì bằng bắp đùi...".
Theo ông Khìn thì năm 2010 có vài thương lái từ tỉnh Bắc Ninh lên gạ ông bán gỗ quí trong rừng với giá 3 tỷ đồng, nhưng ông nhất quyết không bán. Ông bảo: "Tôi giữ rừng là để cho đời sau, có rừng tôi sẽ chăn nuôi được nhiều dê hơn, rau bò khai sẽ mọc dưới tán rừng rậm và gia đình tôi lại có thu nhập lâu dài, ổn định. Nếu bán rừng đi thì đời sau sẽ chẳng còn biết lấy cái gì để mà sống".
Ông Khìn thú nhận: "Để 30ha gỗ quý không bị sứt mẻ dù chỉ một cây tôi đã phải sử dụng đến "luật rừng". Tôi không thể đem pháp luật của Nhà nước ra để nói chuyện với lâm tặc. Pháp luật không có tác dụng trong rừng thẳm. Vậy nên ai mạnh người nấy thắng, đã vô số lần tôi phải dùng mạng của mình để đổi lấy sự bình yên như hôm nay".
Theo ông Khìn, năm 2008 cũng có 7 người ở huyện Văn Quan đem theo cưa máy và vũ khí vào rừng định chặt trộm nghiến, táu để bán, vì thời điểm này giá gỗ nghiến đang lên cao. Ông Khìn một tay đánh nhau với 7 lâm tặc. Sau khi đánh bại 7 tên cướp rừng, ông Khìn thả chúng về và răn rằng: "Từ mai đừng bén mảng đến khu rừng này nữa". Kể từ năm 2008 đến nay, ông Khìn không thấy toán lâm tặc nào bén mảng vào khu rừng của gia đình ông nữa. (Kienthuc.net.vn 8/7)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên sẽ tiếp nhận quản lý hơn 10 ngàn ha rừng tự nhiên, trong đó có 4.900 ha rừng gỗ và 5.760 ha rừng hỗn giao do Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp La Ngà bàn giao. Thỏa thuận này đã được 2 bên ký kết vào ngày 5-7.
Khu vực rừng tự nhiên dự kiến được bàn giao không có dân cư sinh sống và là một dải rừng liên tục, liền khoảnh, liền lô, giáp VQG Cát Tiên với chiều dài khoảng 26 km, rất thuận lợi cho công tác tuần tra, kiểm soát và bảo vệ.
Đồng thời, VQG Cát Tiên có thể mở rộng được sinh cảnh cho các loài thú qúy hiếm như: voi, bò tót, bò rừng, vượn đen má vàng, chà vá chân đen…và đặc biệt là mở rộng sinh cảnh cho loài voi châu Á, nhằm giảm áp lực xung đột giữa voi với người hiện nay. (Người Lao Động 7/7)đầu trang(
Liên quan đến 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A do Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư đang gây nhiều tranh cãi, Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa tiếp tục có cuộc khảo sát để làm rõ.
Đoàn cán bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng một số nhà khoa học và cán bộ môi trường tỉnh Đồng Nai đã đi thực địa tại 4 xã xung quanh dự án, gồm: Đồng Nai Thượng, Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng); Đồng Nai (huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) và Hưng Bình (huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông).
Trong một diễn biến khác, vài ngày trước đó, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Đinh Quốc Thái đã tiếp tục ký văn bản gửi bộ trưởng các bộ: Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương đề nghị xem xét báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho dừng triển khai 2 dự án thủy điện trên.
“Căn cứ vào bản đồ di tích Vườn Quốc gia Cát Tiên thì vị trí 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã vi phạm các quy định của luật pháp Việt Nam và các công ước quốc tế; những tác hại là không lường trước được; chính quyền và người dân tỉnh Đồng Nai cũng như cả nước đều phản đối 2 dự án thủy điện này” - ông Đinh Quốc Thái nhấn mạnh. (Người Lao Động 8/7)đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Nai đánh giá, dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A đã xâm hại trực tiếp vào vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên, việc tích nước tạo các hồ chứa sẽ nhấn chìm hàng trăm hécta rừng tự nhiên giàu có và vi phạm hàng loạt Luật.
4/7, UBND tỉnh Đồng Nai đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ngành liên quan kiến nghị dừng dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A.
Theo tỉnh này, quá trình triển khai thực hiện các dự án trên đơn vị lập dự án đầu tư - Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai (Công ty Đức Long Gia Lai) có quá nhiều vi phạm liên quan đến các quy định pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế.
Theo UBND tỉnh Đồng Nai, dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A đã xâm hại trực tiếp vào khu vực 1 (khu vực bất khả xâm phạm) thuộc vùng lõi di tích quốc gia đặc biệt Vườn quốc gia Cát Tiên tại địa phận tỉnh Lâm Đồng là 137,5ha, cách Bàu Sấu - khu Ramsar là vùng đất ngập nước quan trọng của thế giới, làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích;
“Việc tích nước tạo các hồ chứa sẽ nhấn chìm hàng trăm hécta rừng tự nhiên giàu có, đa dạng sinh học, từ đó làm thay đổi môi trường sống của các loài động thực vật đặc hữu, trong đó có các loài đang được bảo vệ khẩn cấp”, van bản viết.
Đồng thời các dự án thủy điện trên còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc Việt Nam đang đề cử Vườn quốc gia Cát Tiên là Di sản thiên nhiên thế giới.
Những tác động tiêu cực trên về pháp lý đã vi phạm Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; vi phạm vào Khung chiến lược của Khu dự trữ sinh quyển của MAB/UNESCO; vi phạm các quy định của Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.
UBND tỉnh Đồng Nai kiến nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường báo cáo và kiến nghị với Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ cho dừng và loại bỏ 2 dự án thủy điện này ra khỏi quy hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai.
Được biết, hiện các thành viên của Hội đồng đánh giá tác động môi trường do Bộ Tài nguyên - Môi trường thành lập đã vào khảo sát thực tế tại hai vị trí dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ở Vườn quốc gia Cát Tiên.
Một phần cũng vì hại dự án thủy điện trên mà hồi đầu tháng 6 vừa qua, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) - là cơ quan có tiếng nói gần như quyết định để UNESCO xét công nhận danh hiệu Di sản thế giới, đã có đánh đề xuất: “Không công nhận khu vực đề cử của Vườn quốc gia Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới”.
Khi nói về việc có thể xảy ra tình trạng lợi dụng dự án thủy điện nhỏ để phá rừng, GS.TS Nguyễn Hoàng Trí, thành viên Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam nhìn nhận.“Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A không lớn, nếu không muốn nói là nhỏ, lợi về kinh tế không nhiều, môi trường lại bị xâm hại, nhưng tại sao chủ đầu tư vẫn quyết làm và các cơ quan quản lý vẫn tạo điều kiện? Vậy thì chắc chắn phải có người được lợi”.
Còn TS. Đào Trọng Tứ, thành viên Ban tư vấn Mạng lưới sông ngòi Việt Nam lại đặt nghi vấn: “Báo cáo tác động môi trường của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A của chủ đầu tư đã sửa đổi lần 2, tác động môi trường, đa dạn sinh học ai cũng đã rõ, tôi không hiểu sao Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn cho chủ đầu tư nghiên cứu và hiệu chỉnh lại, không biết để làm gì”.
Thêm nữa, theo TS. Tứ, hai cái thủy điện trên đều nhỏ, lại đụng chạm tới luật pháp, gây bao nhiêu bức xúc của dự luận.
Khi trả lời chúng tôi, một số đại biểu Quốc hội cũng tỏ ý không đồng tình với việc làm hai dự án thủy điện này, vì với các dự án sử dụng từ 50ha rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ phải được Quốc hội thông qua mới được làm. (Phunutoday 6/7) đầu trang(
Các nhà khoa học Việt Nam và Đức vừa công bố thêm một loài ếch cây mới vừa được phát hiện ở tỉnh Cao Bằng, được đặt tên là nhái cây wa-za Gracixalus waza Nguyen, Le, Pham, Nguyen, Bonkowski & Ziegler, 2012.
Tên loài này được đặt theo tên của hiệp hội Các vườn thú thế giới (WAZA) để ghi nhận những đóng góp của tổ chức này đối với công tác bảo tồn các loài động vật hoang dã nói chung và ếch nhái nói riêng.
Mẫu vật của loài nhái cây wa-za được thu thập ở vùng núi đá vôi ở phía đông tỉnh Cao Bằng ở độ cao 400-650m so với mực nước biển. Điểm đặc biệt là loài nhái cây này là không sống ven suối mà cư ngụ ở các thung lũng đá vôi hoặc cửa hang động, khá xa nguồn nước với chiều dài đầu và thân là 27-38mm, không có gai da trên mí mắt, không có mấu da ở gót chân, da nhẵn, không có riềm da hình răng cưa dọc cánh tay và ống chân.
Ngoài ra, mặt trên đầu và thân màu xanh xám hoặc màu rêu, có một vệt hình chữ y màu nâu trên lưng, mặt trên các chi có sọc ngang sẫm màu, họng và bụng màu kem với những vân nhỏ sẫm màu. Mô tả chi tiết của loài mới được đăng tải trên tạp chí Organisms Diversity & Evolution (Đức). (Thế Giới&Việt Nam 8/7)đầu trang(
Khác với nhiều đơn vị gặp khó khi “đóng cửa” rừng, năm 2013, Công ty TNHH MTV Đắk N’tao (Đắk Song) vẫn được Bộ Nông nghiệp- PTNT phân chỉ tiêu khai thác 5.000 m3 gỗ. Từ nguồn thu khai thác gỗ, công ty đủ đảm bảo chi trả lương cho 45 người, với mức lương trung bình 4,5 triệu đồng/người/tháng và giữ ổn định hơn 13.000 ha rừng tự nhiên.
Ông Nguyễn Tiến Sơn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Đắk N’tao giải thích: “Sở dĩ công ty được phép khai thác gỗ rừng tự nhiên trong thời điểm hiện nay, bởi vì thời gian qua đã triển khai thí điểm phương án quản lý rừng bền vững. Trong 5 năm thí điểm, đến nay, công ty đã thực hiện được 3 năm rồi.
Theo đó, căn cứ vào các quy định chung của quốc tế và trong nước, công ty đã áp dụng phương thức khai thác, gắn với phát triển rừng hài hòa. Tức là việc khai thác phải cân bằng với quá trình phát triển của rừng tự nhiên. Bên cạnh khai thác rừng, đơn vị còn phải có trách nhiệm với địa phương trong việc hỗ trợ cộng đồng sống gần rừng...".
Ông Sơn cho biết thêm, sau khi kết thúc quá trình thí điểm, các tổ chức quốc tế và Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ có đánh giá cụ thể, rồi cấp chứng chỉ quản lý, khai thác rừng bền vững, nếu đơn vị đủ điều kiện. Chứng chỉ này sẽ được gia hạn theo từng năm.
Được biết, nhiều “chủ rừng” trong tỉnh như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Wil (Chư Jút), Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên (Tuy Đức), Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Đắk Song) đã hướng đến việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững…
Theo ông Trần Minh Đức, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên, ngoài việc xây dựng chương trình quản lý rừng bền vững, với quỹ đất trống các công ty đang còn, tỉnh có thể cho cơ chế đặc thù phát triển nông, lâm nghiệp kết hợp, đó là chăn nuôi, trồng cao su… gắn với bảo vệ, phát triển rừng. Trong khi nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước hạn chế thì các “chủ rừng” phải tính đến phương án lấy nông nghiệp “nuôi” lâm nghiệp mới được.
Theo ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở Nông nghiệp- PTNT thì để tháo gỡ khó khăn cho chính các doanh nghiệp lâm nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh, chủ trương chung của ngành Nông nghiệp vẫn là phải lấy rừng “nuôi” rừng. Nói cách khác “chủ rừng” quản lý và khai thác giá trị rừng bền vững thì sẽ giữ được rừng.
Liên quan đến vấn đề này, ngoài hai doanh nghiệp trong tỉnh đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt chỉ tiêu khai thác gỗ (có phương án thí điểm quản lý rừng bền vững) thì Sở Nông nghiệp-PTNT cũng đã trình tỉnh phương án quản lý rừng bền vững của ba đơn vị khác. Hiện tại, các phương án này đang được tỉnh trình cơ quan chức năng thẩm tra, phê duyệt…
Riêng đối với các công ty lâm nghiệp có rừng mà trữ lượng, chất lượng không đạt theo quy chuẩn quản lý rừng bền vững thì trước mắt, Nhà nước vẫn phải hỗ trợ vốn để trồng rừng, nhằm nâng cao giá trị rừng. Đến khi rừng phát triển ổn định, các “chủ rừng” trên hoàn toàn có thể hướng đến xây dựng phương án quản lý rừng bền vững”.
Cũng theo ông Duyên, một khi các “chủ rừng” đủ điều kiện được cấp phép khai thác gỗ còn góp phần thúc đẩy lĩnh vực chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ trong tỉnh phát triển. Nếu các “chủ rừng” không chú trọng khâu quản lý rừng bền vững thì vừa không được khai thác gỗ, mà hệ lụy này còn “kéo” nhiều lao động trực tiếp giữ rừng, làm việc trong lĩnh vực chế biến lâm sản bị thất nghiệp. Xa hơn nữa là rừng sẽ không được quản lý, bảo vệ hiệu quả. (Báo Đăk Nông 6/7)đầu trang(
Thời gian qua, một số nông dân trồng rừng trên địa bàn tỉnh đã bỏ cây tràm chuyển qua trồng cây xà cừ. Theo các hộ dân, trồng xà cừ lợi nhuận cao hơn 3 lần trồng tràm và tốn ít công hơn.
Ông Hồ Sơn Tư, chủ trang trại lớn ở xã Xuân Hòa (huyện Xuân Lộc), cho biết với diện tích khoảng 25 hécta xà cừ năm thứ 12-13, hiện có rất nhiều cơ sở sản xuất gỗ tới hỏi mua với giá 2,5-3 triệu đồng/m3. Sau khi trừ chi phí, còn lãi khoảng 600 triệu đồng/hécta.
Theo tính toán của một số nông dân, nếu trồng tràm, 4-5 năm đã có thu, nhưng lợi nhuận chỉ khoảng 70 triệu đồng/hécta. Trồng xà cừ tuy lâu hơn, song sau khoảng 10 năm, lợi nhuận rất cao. Hiện nay, gỗ xà cừ đang là một trong các loại gỗ làm hàng gia dụng xuất khẩu được thị trường nước ngoài khá ưa chuộng. (Báo Đồng Nai 6/7)đầu trang(
Thanh tra Bộ Tài nguyên - Môi trường vừa công bố báo cáo thanh tra việc quản lí sử dụng đất các nông - lâm trường và các công ty được chuyển đổi từ các nông - lâm trường trên phạm vi cả nước.
Báo cáo cho thấy, có tới 41/73 nông - lâm trường đang có tranh chấp, lấn chiếm đất đai; 23/73 nông – lâm trường đã tự ý chuyển đổi trái phép từ đất nông nghiệp, đất rừng sang đất ở, đất sản xuất kinh doanh… Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, những con số trên còn chưa phản ánh hết tình hình thực tế, bởi con số vi phạm còn lớn hơn rất nhiều so với báo cáo.
Qua kết quả thanh tra 37/50 tỉnh, thành phố trên cả nước, với 73/99 nông - lâm trường, Thanh tra Bộ Tài nguyên - Môi trường đã phát hiện hàng loạt sai phạm liên quan tới việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái pháp luật. Cụ thể, có đến 23/73 đơn vị đã tự ý chuyển đổi 1.068,55 ha đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, trong đó chuyển sang đất ở là 156,12 ha, đất xây dựng trụ sở và đất sản xuất kinh doanh là 911,46 ha… Trong số 23 nông – lâm trường vi phạm này, có 4 đơn vị được UBND tỉnh cho phép, 21 đơn vị còn lại tự ý chuyển đổi trái phép.
Ngoài ra, nhiều nông - lâm trường cũng bị phát hiện đem thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng hoặc tự ý góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trái pháp luật. Cụ thể, qua thanh tra phát hiện có 6/73 đơn vị đem thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại các ngân hàng, với diện tích 51.768,24 ha. Ngoài ra, Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Bắc Kạn bị phát hiện góp 710 ha; Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Ba Tơ (Quảng Ngãi) tự ý góp 1.600 ha đất…
Đoàn thanh tra cũng phát hiện 20/73 nông – lâm trường đã cho thuê lại quyền sử dụng đất trái pháp luật với tổng diện tích 16.847,97 ha. Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai tại các nông – lâm trường vẫn còn phổ biến. Qua thanh tra đã phát hiện 41/73 nông – lâm trường đang có tranh chấp, lấn chiếm với các hộ dân, các tổ chức, với tổng diện tích bị lấn chiếm lên tới 8.445,7 ha.
Theo số liệu báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến tháng 4/2013, cả nước có 148 lâm trường quốc doanh, nay là công ty lâm nghiệp, trung bình mỗi công ty lâm nghiệp quản lí 12.000 ha rừng. Tuy nhiên, chỉ có trên 72% số lâm trường làm ăn có lãi, còn lại trên 27% lâm trường thua lỗ. Lãi bình quân của mỗi lâm trường chỉ là 796 triệu đồng/năm, nghĩa là bình quân mỗi hecta đất lâm trường quản lí chỉ sinh lời 66.000 đồng/năm. Điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của các lâm trường rất thấp.
Ông Phạm Quang Tú, Viện phó Viện Tư vấn phát triển (CODE), đơn vị chuyên nghiên cứu về đất nông – lâm trường cho biết: “Quá trình thu hồi đất của các nông – lâm trường trả lại cho địa phương rất chậm, thực tế mới chỉ thu hồi được 200.000 ha chứ không phải hơn 700.000 ha như báo cáo. Việc thu hồi đất vẫn được “khoán trắng” cho các nông - lâm trường dẫn đến các đơn vị này chỉ trả “đất xấu”, ở những nơi xa đường giao thông, khó canh tác.
Ở nhiều nơi, khi nông – lâm trường trả lại đất thì người dân không nhận. Ví dụ trước đây, Công ty Lâm nghiệp Long Đại (Quảng Bình) bị thu hồi 1.900 ha, trả lại cho người dân nhưng không ai nhận. Đầu 2013, UBND tỉnh Quảng Bình lại tiếp tục thu hồi 2.300 ha của lâm trường này, nhưng lâm trường lại chỉ trả đất xấu nên chỉ có 400 ha giao được cho người dân”.
Nông lâm trường đang được giao nguồn lực đất đai quá lớn, trong khi nhân lực, tài chính hạn chế. Trước kia, các nông – lâm trường được Nhà nước bao cấp, nay phải tự chủ, vì thế rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính. Quá trình sắp xếp, đổi mới từ các nông - lâm trường sang công ty nông – lâm nghiệp chỉ là hình thức “bình cũ rượu mới”. Khi chuyển đổi thành công ty, các nông – lâm trường sẽ phải hoạt động theo luật doanh nghiệp, nghĩa là phải trả tiền thuê đất. Tuy nhiên, có tới 58,9% các nông – lâm trường chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước (tiền thuê đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp).
Để quản lí đất nông – lâm trường hiệu quả, Bộ Tài nguyên – Môi trường cũng cho rằng, cần thống nhất một cơ chế cho thuê đất trả tiền hàng năm thay vì cơ chế giao đất có thu tiền sử dụng đất, bởi các đơn vị này sử dụng diện tích qui mô lớn. Giá đất cho thuê sẽ xác định cho phù hợp với từng vùng và đặc thù sử dụng đất.
Đối với đất qui hoạch sử dụng cho mục đích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, vùng bảo vệ sinh thái… cần thống nhất chuyển giao cho ban quản lí rừng và chỉ thực hiện cơ chế giao đất không thu tiền sử dụng đất. Đối với các nông – lâm trường vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa thì cần có chính sách quản lí đặc thù riêng để đảm bảo thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, đảm bảo an ninh quốc phòng. (Công An Nhân Dân 6/7)đầu trang(
Theo UBND huyện Đức Trọng cho biết, từ đầu năm đến nay, các địa phương trên địa bàn huyện đã tiến hành tổ chức giải tỏa 104,2 ha các loại cây trồng trên đất lâm nghiệp.
Số diện tích giải tỏa chủ yếu nằm trên các xã Ninh Loan, Đà Loan, Tà Hine và xã Ninh Gia, qua đó xây dựng kế hoạch, chuẩn bị điều kiện để trồng lại rừng và cây phân tán.
Cũng trong thời gian này, lực lượng chức năng huyện đã kiểm tra, xử lý 97 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 3 vụ so với cùng kỳ năm 2012; trong đó, khai thác, phá rừng trái phép 19 vụ; mua bán, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép 70 vụ và các vi phạm khác 8 vụ. Đồng thời, tịch thu 116 m3 gỗ tròn, trong đó có 16,2 m3 gỗ quý hiếm và 83,4 m3 gỗ xẻ các loại, trong đó có 14,3 m3 gỗ quý hiếm. (Báo Lâm Đồng 6/7)đầu trang(
Đất lâm nghiệp màu mỡ, độ che phủ rừng khá cao so với cả nước nhưng kinh tế rừng của tỉnh vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Trong khi đó, công tác quy hoạch (QH) 3 loại rừng, quản lý sử dụng đất rừng bộc lộ nhiều bất cập.
Thời gian qua, công tác QH phát triển và bảo vệ rừng (BVR) trên địa bàn tỉnh đã gặt hái được nhiều kết quả. Giai đoạn 1999-2010, UBND tỉnh phê duyệt dự án trồng mới 5 triệu héc ta rừng; kết quả rà soát, QH lại 3 loại rừng năm 2007 và thực hiện các chương trình, dự án phát triển ngành lâm nghiêp nâng cao độ che phủ rừng mỗi năm tăng từ 0,7 - 0,8%.
Theo QH phát triển và BVR giai đoạn 2011-2020, đất có rừng của tỉnh hơn 467.263ha. Trong đó, rừng đặc dụng 105.659ha, rừng phòng hộ chiếm 235.016ha và rừng sản xuất chiếm hơn 126.587ha. Đất chưa có rừng chiếm 206.698ha. So với QH 3 loại rừng năm 2007, QH đất lâm nghiệp giảm 3.820ha. Nguyên nhân giảm diện tích là do ngập các lòng hồ thủy điện A Vương, Sông Tranh 2, Đắc Mi, đầu tư lĩnh vực khai khoáng ở miền núi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, điều chỉnh địa giới hành chính…
Hiện trên địa bàn có 7 ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ nhưng chưa thực hiện việc giao rừng và đất lâm nghiệp. Trong khi đó, các địa phương đã giao 164.506ha cho cộng đồng dân cư và 63.279ha cho hộ gia đình, cá nhân.
Mô hình quản lý, sử dụng rừng hiện nay là các ban quản lý rừng, doanh nghiệp nhà nước, xí nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, lực lượng vũ trang và chính quyền cấp xã. Lực lượng làm chủ rừng khá đông đủ nhưng rừng vẫn bị tàn phá, vì sao? Ngành kiểm lâm lý giải, diện tích đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý rất lớn (gần 40% diện tích), các ban quản lý rừng chưa giao rừng và đất. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm, cán bộ lâm nghiệp quá mỏng, chế độ ưu đãi còn hạn chế… khó có thể đáp ứng nhiệm vụ giữ rừng lâu dài.
Do vậy, theo QH, công tác giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất lâm nghiệp, có quyền sử dụng đất hợp pháp để quản lý, sử dụng hiệu quả. Hồ sơ quản lý rừng phải cụ thể đến từng khoảnh, tiểu khu rừng và “khớp” với thực địa. Các chủ rừng có diện tích 1.000ha trở lên phải có lực lượng BVR chuyên trách, được hỗ trợ công cụ thiết yếu khi thừa hành nhiệm vụ.
Với các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng có 15.000ha trở lên, cần thành lập các hạt kiểm lâm trực thuộc để có lực lượng giữ rừng. Các chủ rừng cùng chia sẻ trách nhiệm quản lý, BVR, cùng hưởng lợi… Những chính sách phát triển rừng cần thực thi đồng bộ, tiền giao khoán rừng cho đồng bào chăm sóc tại 3 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/NQ-CP với mức 200 nghìn đồng/ha/năm cần ổn định.
Rừng đã giúp cho nhiều người dân miền núi xóa đói giảm nghèo, sớm ổn định đời sống. Ngành chế biến nguyên liệu gỗ và thủ công mỹ nghệ gỗ phát triển cũng giúp cho kinh tế rừng có chỗ đứng nhất định trên thị trường. Thống kê cho thấy, riêng chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh đã có gần 4.000 cơ sở, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Hiện có 3 đơn vị tham gia sản xuất dăm gỗ với công suất thiết kế đạt hơn 1,2 triệu tấn dăm tươi, cùng với 12 nhà máy chế biến gỗ lớn ở các tỉnh lân cận sẽ là nơi tiêu thụ sản phẩm rừng trồng.
Theo quy hoạch phát triển và BVR giai đoạn 2011-2020, trong các giải pháp nâng cao chất lượng rừng trồng có sự điều chỉnh trong tổ chức quản lý, sản xuất. Đặc biệt, khoanh vùng nhân rộng mô hình trồng rừng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Dự kiến đến năm 2020, toàn tỉnh có khoảng 10.000ha rừng sản xuất (chiếm 8%) sẽ được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Trong đó, giai đoạn 2011-2015, lập thủ tục cấp chứng chỉ thí điểm cho 130ha rừng trồng của nhóm nông dân trên địa bàn huyện Hiệp Đức. Giai đoạn 2016-2020, tiếp tục cấp chứng chỉ rừng cho 8.500ha.
Theo ngành lâm nghiệp, vì hạn chế về nhiều nguồn lực nên mức đầu tư cho phát triển lâm nghiệp còn khiêm tốn. Độ che phủ rừng của tỉnh khá cao song chất lượng của rừng còn thấp. Trong khi đó, cộng đồng đồng dân cư ven rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số đa số có đời sống khó khăn sống dựa vào rừng nên sản xuất và khai thác cũng rất tự phát.
Do vậy, để lấy rừng nuôi rừng, các địa phương miền núi đề nghị cần thiết phải xây dựng cơ chế cho các thành phần kinh tế tham gia sản xuất lâm nghiệp được tiếp cận vay vốn ưu đãi, dài hạn phù hợp với thời gian sản xuất, kinh doanh cây trồng. Cùng với đó là ban hành chính sách đầu tư hợp lý, hỗ trợ cây giống, phân bón, kỹ thuật cho người dân trồng rừng quy mô nhỏ… (Báo Quảng Nam 7/7)đầu trang(
Ðó là những xóm nghèo nằm sâu trong rừng phòng hộ dọc theo bờ biển với chiều dài 56 km, từ xã Vĩnh Trạch Ðông (TP Bạc Liêu) đến thị trấn Gành Hào, huyện Ðông Hải. Tại đây hiện có hàng trăm hộ dân với hàng nghìn con người đang sống "lậu", nhiều gia đình hai, ba đời sống trong rừng phòng hộ, bươn chải vật vã qua ngày. Cuộc sống của họ gần như cách biệt với thế giới bên ngoài, bởi có đến "mười cái không"...
Người dân "làng mười không" hầu hết là những hộ dân nghèo đến lập nghiệp, mưu sinh từ 10 đến 15 năm nay, có hộ đã hơn 20 năm. Mấy túp lều dựng bằng những cây đước, cây mắm chặt tại rừng phòng hộ tạm bợ, cũ kỹ, xiêu vẹo, được vá víu bằng nhiều mảnh cao-su đủ mầu sắc. Tài sản của họ không có gì đáng kể, nhưng hầu hết đều rất đông con. Nhiều người có tới hơn mười người con, vài chục cháu nội, ngoại.
Diện tích rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu mỗi năm giảm một cách đáng báo động. Cụ thể, khi mới chia tách tỉnh (năm 1997), rừng phòng hộ còn hơn 8.700 ha; năm 2005 giảm còn hơn 6.000 ha; năm 2010 gần 5.000 ha, nay chỉ còn vỏn vẹn 4.401 ha. Diện tích rừng ít, lại trải dài theo bờ biển 56 km nên những cánh rừng phòng hộ ven biển rất mỏng. Trong khi đó lại phải "gánh" gần 2.500 con người hằng ngày sống bám vào rừng, cộng với chính sách thu hút đầu tư phát triển du lịch của tỉnh, diện tích rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu chắc chắn sẽ còn tiếp tục "teo" dần nếu không ra tay cứu dân, cứu rừng.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu Lương Ngọc Lân xác nhận: Vấn đề làm "đau đầu" lãnh đạo địa phương là hiện có đến 870 hộ với gần 2.500 người dân nghèo ở khắp nơi trong và ngoài tỉnh đến cư trú bất hợp pháp. Nhiều hộ dân cư trú hơn 20 năm nay trên đất rừng phòng hộ, nhiều khu vực đã thành nhiều xóm, làng. Do định cư trái phép trong rừng phòng hộ nên bà con gần như bị cô lập với bên ngoài. Bây giờ xin nói về mười cái "không":
Không có tên trên bản đồ hành chính, không điện, không đường, không trường học, không trạm y tế, không đất sản xuất, không sổ hộ khẩu, không giấy CMND, không có chợ để buôn bán, người chết không có đất chôn. Và điều tất nhiên là người dân vẫn chưa được hưởng các chế độ dành cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, cuộc sống của hơn 870 hộ dân nơi đây đang từng ngày phải đối mặt với vô vàn khó khăn.
Chính quyền và các ngành chức năng, nhất là ngành nông nghiệp chúng tôi nắm rất rõ. Nhưng muốn di dời số hộ dân này ra khỏi rừng phòng hộ ven biển quả thật là vô cùng khó khăn, phức tạp, trong khi ngân sách địa phương lại có hạn. Vì vậy, nhiều năm qua, chính quyền địa phương rơi vào tình cảnh "lực bất tòng tâm". Mới đây, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu Võ Văn Dũng cùng nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh đã có chuyến đi khảo sát vùng ven biển thuộc các huyện Hòa Bình, Ðông Hải và TP Bạc Liêu để tìm hiểu cụ thể về thực trạng nêu trên. Sau đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc họp, nỗ lực tìm hướng giải quyết vấn đề này.
UBND tỉnh Bạc Liêu vừa phê duyệt dự án và có Tờ trình gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương xem xét, giải quyết "Về việc hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng dự án khu dân cư, tái định cư rừng phòng hộ tỉnh Bạc Liêu". Theo đó, để thực hiện dự án này, tỉnh cần số vốn lên đến hơn 388 tỷ đồng. Ðây là số tiền lớn đối với địa phương nghèo như tỉnh Bạc Liêu, bởi mỗi năm tỉnh chỉ thu ngân sách hơn 700 tỷ đồng. Vì vậy, UBND tỉnh đã kiến nghị Trung ương hỗ trợ hơn 272 tỷ đồng, còn lại hơn 116 tỷ đồng là vốn đối ứng địa phương.
Ðể thực hiện dự án, UBND tỉnh quy hoạch một số khu vực ven biển làm khu dân cư ổn định cho hơn 870 hộ dân nêu trên; tiến hành cấp cho mỗi hộ 500 m2 đất ở và đất sản xuất. Ðồng thời, chính quyền địa phương sẽ xây dựng nhà ở khu dân cư cho những đối tượng này, mỗi căn nhà trị giá 50 triệu đồng... Thời gian thực hiện dự án dự kiến trong bốn năm, từ năm 2013 đến 2016.
"Chủ trương của tỉnh là bên cạnh việc xây dựng nhà ở, các khu dân cư và tái định cư sẽ được đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng thiết yếu gồm: điện, đường, trường học... Ngoài ra, các hộ dân ở đây sẽ được tỉnh hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, cho vay vốn phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, mua bán nhỏ... nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống tại nơi ở mới. Các giải pháp này cần được thực hiện một cách đồng bộ, nhất là cần phải quyết tâm cao, thì mới có thể hy vọng đưa dự án này trở thành hiện thực..." - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu khẳng định.
Trong khi tỉnh Bạc Liêu đang "loay hoay" tìm cách giải quyết tình trạng nêu trên, thì hằng ngày, hằng giờ, hàng nghìn người cư trú bất hợp pháp tại khu vực rừng phòng hộ ven biển của tỉnh vẫn tìm mọi cách chặt phá rừng, đào sâm đất, tận diệt nguồn lợi thủy sản... để kiếm sống qua ngày. (Nhân Dân 7/7)đầu trang(
Tình trạng phá rừng ở xã Hồng Thủy, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế diễn ra trong nhiều tháng nay với hàng chục hộ tham gia - chủ yếu là người dân địa phương.Thế nhưng, đến nay việc quản lý, kiểm soát của chính quyền địa phương còn bỏ ngỏ.
Ông Hồ Bá Bình, Chủ tịch UBND xã Hồng Thủy cho biết: “Theo chủ trương của cấp trên, nếu người dân nào trong địa phương có nhu cầu khai thác gỗ làm nhà thì làm đơn gửi UBND xã, xã sẽ tham mưu cho Hạt kiểm lâm huyện A Lưới xác định vùng, tiểu khu được khai thác. Theo đó, mỗi hộ dân sẽ được khai thác tối đa 4 m3 gỗ để làm nhà”.
Tuy nhiên, ông Bình cũng thừa nhận: “Có một số hộ dân chưa được cấp phép đã ngang nhiên vào rừng khai thác gỗ trái phép, tràn làn; do địa bàn rộng lớn nên việc kiểm soát, quản lý cũng khó khăn. Điển hình, từ đầu năm đến nay, UBND xã phối hợp với các ban ngành đoàn thể bắt quả tang 4 vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, đa số đều vô chủ”. (Nông Nghiệp VN 5/7)đầu trang(
Ngày 5.7, Công an H.Thống Nhất (Đồng Nai) khởi tố để điều tra vụ án vi phạm các quy định bảo vệ các loại động vật hoang dã quý hiếm.
Theo điều tra ban đầu, 26.2, Công an xã Quang Trung (H.Thống Nhất) kiểm tra xe máy biển số 36R2-3449, do Nguyễn Văn Thành (38 tuổi) chở Lê Xuân Sai (58 tuổi, cùng ngụ tại TX.Dĩ An, Bình Dương) đã phát hiện trên xe có chở một bao tải chứa đầy xương, đầu động vật hoang dã nặng khoảng 24 kg.
Thành và Sai khai số xương trên được thu mua của một người dân (chưa rõ họ tên, địa chỉ) ở H.Di Linh (Lâm Đồng) để về nấu cao bán. Sau khi giám định, Viện Sinh thái học miền Nam (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) xác định số xương này là của 2 con voọc bạc và 3 con voọc chà vá, 5 con khỉ đuôi lợn, 2 con khỉ mặt đỏ... (Tin Tức 5/7; Thanh Niên 6/7; VietnamPlus.vn 5/7)đầu trang(
Sáng 4-7, bà Trần Thị Kim Vân, phó chủ tịch HĐND tỉnh Bình Dương, cho biết số động vật hoang dã nuôi trái phép trong khu trang trại được đề cập trên Tuổi Trẻ 4-7 không phải của gia đình bà mà là của em chồng - ông Nguyễn Văn Long.
Bà Vân nói thêm: Cá nhân tôi không vi phạm gì trong việc nuôi nhốt động vật. Ai vi phạm thì người đó phải chịu trách nhiệm chứ đừng kéo tôi vào việc này. Đó là khu đất của em chồng tôi. Đất tôi ở bên kia.
Trước thông tin về việc bà thường xuyên lên khu trang trại này, vậy khi thấy việc nuôi động vật hoang dã trái phép, bà có ý kiến gì, bà Vân trả lời: “Việc này tôi đã nhiều lần nói với chồng mình rằng: Anh kêu em anh (ông Nguyễn Văn Long) nếu có muốn nuôi con gì, thú gì thì phải đăng ký, xin phép với lực lượng kiểm lâm, cái gì được nuôi, con gì không được nuôi để họ cấp giấy phép. Chuyện này tôi đã nhắc từ cách đây mấy năm rồi, nhắc cả vợ chồng Long và Hồng (bà Nguyễn Thị Diệp Hồng) nữa”.
Đoàn kiểm tra đã phát hiện có đến sáu con vượn và một con công đều thuộc nhóm IB (loài động vật rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng) vẫn đang được nuôi nhốt trong trang trại? Về điều này, bà Vân nói: “Ai làm sai người đó phải chịu trách nhiệm. Tôi đã nhắc nhở nhiều lần rồi nhưng có thể do tính đàn ông không để ý, ỷ y, hay quên...”.
Một số cán bộ địa phương cho biết khu đất trang trại rộng mấy chục hecta. Vậy cả khu trang trại là của riêng bà hay của vợ chồng ông Long? Theo bà Vân: “Nguồn gốc đất đó là đất tăng gia sản xuất cũ của ủy ban trước đây. Rồi sau này ủy ban mới cho dừng hoạt động ấy. Lúc này ủy ban mới tính toán và để lại cho ai có vốn sang lại nhằm tiếp tục canh tác. Lúc đó tôi cũng không có vốn, có tiền gì nhiều nên kêu anh em nhà chồng ở quê lên cùng góp vốn đầu tư vào đó. Ban đầu tính có bốn người đầu tư nhưng sau hai người rút, còn lại gia đình tôi và Long đầu tư”.
Cán bộ địa phương khẳng định rõ bà Vân có tới 88ha cao su ở đây. Bà Hồng cũng thừa nhận mình chỉ là người quản lý khu vực trang trại thôi? Bà Vân kêu: “Trời ơi! Khổ ghê, làm gì có. 88ha là gì, người ta còn đồn tôi có đến hàng trăm hecta cao su lận. Tôi đã có giải trình, kê khai hết, lãnh đạo tỉnh đều biết rõ. Từ hồi xưa đến giờ, tôi khai hết, không giấu bất cứ cái gì. Tôi cũng không lên trang trại thường xuyên được nên phải nhờ vợ chồng Hồng và Long quản lý một phần diện tích đất vườn cao su trong khu trang trại”.
Việc nuôi động vật hoang dã, nhất là những loài thuộc nhóm IB, khi chưa được phép là vi phạm pháp luật. Vậy số động vật đã bị cơ quan chức năng phát hiện trong khu trang trại có cả phần đất của bà, bà có cho rằng mình có trách nhiệm trong việc này? “Không thể nói vậy được. Căn nhà đó là của vợ chồng Long và Hồng. Khu đất xây nhà đó là của vợ chồng họ. Do đó, việc nuôi động vật hoang dã là của họ. Vợ chồng Long và Hồng vi phạm pháp luật như thế nào thì phải chịu trách nhiệm. Tôi đã nhắc nhiều lần nhưng không nghe. Phần đất của tôi nằm tít phía xa. Tôi đang cho trồng cao su và hoa màu thôi”, bà Vân nói.
Đại diện tổ công tác Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường phía Nam (C49 - Bộ Công an) cho biết trong ngày 4-7 đã hoàn tất thủ tục để tiến hành các bước xử lý đối với hành vi nuôi nhốt động vật trái phép tại trang trại của ông Trần Văn Lợi - bí thư kiêm chủ tịch UBND TP Thủ Dầu Một; khu trang trại của vợ chồng ông Nguyễn Văn Long cùng với bà Trần Thị Kim Vân - phó chủ tịch HĐND tỉnh Bình Dương; chủ quán ăn Hương Đồng. Tất cả số động vật vi phạm đã được C49, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Dương bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TP.HCM) để chăm sóc và khi thích hợp sẽ thả chúng về với môi trường tự nhiên.
Trong khi đó, theo số liệu cung cấp của Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường Công an tỉnh Bình Dương, đến tháng 4-2013 toàn tỉnh có 18 doanh nghiệp và hộ cá thể được cấp phép đăng ký nuôi nhốt động vật hoang dã quý hiếm (trừ gấu) với số lượng lên đến 10.969 con. (Tuổi Trẻ 5/7) đầu trang(
5-7, một nguồn tin cho biết UBND tỉnh Khánh Hòa vừa có văn bản gửi Sở NN&PTNT và Công an tỉnh này yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ vụ phá rừng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Khánh Vĩnh (giáp ranh với huyện M’Đrắk, Đắk Lắk) để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, ông Trần Minh Thu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, cho biết: “Kết quả trưng cầu giám định cho thấy đây là một vụ phá rừng có mục đích, có tổ chức và thực hiện đông người. Hiện chúng tôi đang hoàn tất hồ sơ, dự kiến đầu tuần tới sẽ khởi tố vụ án để công an tiếp tục điều tra làm rõ”.
Theo ông Nguyễn Tây, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh, đây là vụ phá rừng nhằm lấy đất sản xuất. Khu vực rừng phòng hộ bị phá thuộc sự quản lý của Công ty TNHH MTV Trầm Hương (Khánh Hòa), tuy nhiên tại đây không hề có chốt, trạm bảo vệ rừng nào của công ty. “Qua làm việc với Công an huyện M’Đrắk, được biết số người này là dân di cư tự do, đến từ các tỉnh phía Bắc, có thể là người dân tộc Dao và H’Mông” - ông Tây cho biết.
Như đã thông tin, cơ quan chức năng phát hiện gần 26 ha rừng đầu nguồn bị chặt phá trắng, tổng khối lượng gỗ bị chặt phá trên 7.500 m3 thuộc gỗ nhóm IIIA3 và nhóm IIB. Ngoài ra, tại các tiểu khu giáp ranh, đoàn kiểm tra cũng phát hiện hàng chục cây gỗ quý cao trung bình 9-12 m bị hạ nằm ngổn ngang còn nguyên cành lá. Khu vực gần đó có một lán trại với sáu khẩu súng tự chế. Xác định đây là vụ phá rừng phòng hộ rất nghiêm trọng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa trưng cầu giám định số gỗ thu được tại hiện trường và vùng lân cận để chuẩn bị khởi tố vụ án. (Pháp Luật TPHCM 6/7)đầu trang(
29 cá thể động vật hoang dã nguy cấp, quí hiếm, trong đó có 11 cá thể bị cấm nuôi nhốt, mua bán trái phép vừa được các cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương phát hiện và thu giữ.
Ngày 5.7, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) cho biết, tổ chức này đã vừa phối hợp với Viện Sinh thái học miền Nam, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Dương, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường Công an tỉnh Bình Dương kiểm tra 3 cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép tại huyện Bến Cát và Thị xã Thủ Dầu Một.
Kết quả, đã thu giữ 29 cá thể động vật hoang dã nguy cấp, quí hiếm, trong đó có 11 cá thể bị cấm nuôi nhốt, mua bán trái phép (theo luật Việt Nam và luật quốc tế). 6 cá thể vượn đã được chuyển giao về Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi, 5 cá thể được gửi tạm tại Vườn bách thú Đại Nam chăm sóc nuôi dưỡng… Cơ sở số 46 ấp Cây Sắn, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương bị lập biên bản vi phạm hành chính do chủ nuôi không làm đúng thủ tục nuôi nhốt; giấy phép nuôi nhốt đã hết hạn từ 2010. (Sài Gòn Tiếp Thị 6/7; Nhân Dân 6/7)đầu trang(
Đó là đề nghị của nhiều bạn đọc sau khi đọc bài “Giải cứu thú trong trang trại của cán bộ” và tin “Vụ giải cứu thú trong trang trại của cán bộ: Cán bộ có trang trại lên tiếng”. Thông tin về số lượng, hình ảnh thú quý hiếm bị nuôi nhốt ở các trang trại của một số quan chức tỉnh Bình Dương khiến nhiều bạn đọc bị sốc, bức xúc. Nhiều người cho rằng đây là chuyện không thể chấp nhận được.
Bạn đọc phamtri307@... viết: “Không thể chấp nhận sự việc đã và đang xảy ra tại Bình Dương về việc nuôi thú rừng trái phép của một số cán bộ, quan chức trong tỉnh. Cũng không thể chấp nhận câu trả lời không đâu vào đâu của ông Trần Văn Lợi (bí thư kiêm chủ tịch UBND TP Thủ Dầu Một) về sự việc vi phạm đó. Là người dân, tôi mong các cấp lãnh đạo của tỉnh Bình Dương và Chính phủ hãy xử lý đến nơi đến chốn vụ này”.
Nhiều bạn đọc cũng đặt vấn đề vì sao việc nuôi nhốt thú rừng trái phép ở các trang trại của cán bộ xảy ra đã lâu mà chính quyền địa phương không phát hiện? Có hay không sự bao che ở đây? “Nuôi từ năm 2002 tới nay mới bị kiểm tra và phát hiện. Thật không biết chính quyền địa phương quản lý kiểu gì? Nếu là dân đen mà vi phạm pháp luật như vậy chắc bị xử lý lâu rồi, nói chi tồn tại đến 12 năm...” - bạn đọc hoangdoan20.2011@... viết.
Cùng đặt vấn đề như bạn đọc hoangdoan20.2011@..., bạn đọc huybao21@... thắc mắc: “Tại sao tới giờ Bộ Công an mới vào cuộc? Ở Bình Dương ai mà chẳng biết chuyện này. Giờ đổ bể ra, các cán bộ liên quan sẽ đổ lỗi cho một “con chốt” nào đó, sau đó là chìm xuồng. Tôi hi vọng vụ này được xử lý đến nơi đến chốn...”.
Nhiều bạn đọc cho rằng lý giải của bà Trần Thị Kim Vân, phó chủ tịch HĐND tỉnh Bình Dương, rằng việc nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép là của em chồng bà nghe không thuyết phục. “Bà Vân là một phó chủ tịch HĐND tỉnh, đại diện cho tiếng nói của dân, biết việc nuôi nhốt động vật trái phép mà không tố cáo, không chỉ đạo xử lý thì đó là hành vi bao che, thiếu trách nhiệm” - bạn đọc Bùi Văn Sinh lên tiếng.
Bạn đọc Tú Ân gửi gắm: “Cũng như ông Lợi, bà Vân chối đây đẩy. Là quan chức nhà nước, không thể nói các vị không biết nuôi nhốt thú quý hiếm là phạm pháp. Mong cơ quan chức năng xử nghiêm vụ này, thậm chí khởi tố vụ án. Mong báo Tuổi Trẻ theo sát vụ này, đừng để chìm xuồng”. (Tuổi Trẻ 7/7)đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa có văn bản chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, mục tiêu giảm 20% số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trong năm 2013.
Thời gian gần đây, tình trạng phá rừng, chống người thi hành công vụ tại Lâm Đồng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nhất là các vùng giáp ranh với các tỉnh lân cận thuộc các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lâm.
Tại các vườn quốc gia Cát Tiên, Bi Doup - Núi Bà đã xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng, phức tạp (khai thác gỗ quý trái phép, cháy rừng, nổ súng gây chết người) gây dư luận không tốt và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. (Sài Gòn Giải Phóng 7/7)đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn liên tiếp xảy ra các vụ phá rừng phòng hộ đầu nguồn, gây ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự, môi trường.
Các cơ quan chức năng đã khởi tố các vụ án liên quan tới việc phá rừng nhưng qua đó có thể thấy đơn vị được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng và người dân thiếu ý thức trong việc giữ rừng.
Chỉ trong vòng 3 tháng (từ tháng Tư đến tháng Sáu), tại huyện Chợ Mới đã xảy ra 3 vụ phá rừng trên địa bàn các xã Như Cố, Yên Hân, Nông Hạ và Tân Sơn.
Đây là những cánh rừng tái sinh, rừng phòng hộ có vai trò quan trọng trong việc điều hòa không khí, bảo vệ các cánh đồng ven rừng và hạ nguồn, chống lũ quét, lũ ống, sạt lở đất.
Theo Thượng úy Nguyễn Công Soạn, cán bộ Đội điều tra về kinh tế, ma túy, môi trường (Công an huyện Chợ Mới), sau khi nhận được báo cáo của Ủy ban Nhân dân xã Như Cố, ngày 23/4, đoàn liên ngành gồm Kiểm lâm, Viện Kiểm sát, Công an huyện Chợ Mới đã kiểm tra và phát hiện hơn 5,9ha rừng tại khu vực Bon Đăm, thôn Bản Quất, xã Như Cố bị chặt hạ với 31,476m3 gỗ tạp thuộc nhóm 5 đến nhóm 8 và một khối gỗ tròn dài từ 4-8m, đường kính từ 15-30cm đã được cưa đổ, nằm rải rác trên rừng.
Sau khi điều tra và thu thập chứng cứ, Cơ quan Kiểm lâm huyện Chợ Mới đã xác định thủ phạm là bà Hoàng Thị May ở thôn Bản Chất. Vụ án đang được hoàn thiện hồ sơ để đưa ra xét xử.
Vụ phá rừng ở khu vực Bon Đăm, thôn Bản Quất, xã Như Cố chưa lắng xuống thì ngày 16/6, tại thôn Nặm Rất, xã Tân Sơn (huyện Chợ Mới) lực lượng chức năng đã phát hiện Trưởng thôn Triệu Tài Đức khai thác gỗ trái phép trên diện tích rừng do Hợp tác xã Tân Sơn quản lý.
Số gỗ mà cơ quan chức năng thu được gồm 15m3 gỗ tròn, 2,6m3 gỗ xẻ thuộc nhóm 3 là xoan đào, muồng, sao.
Gần đây nhất, nhận được tin báo của quần chúng, Đội kiểm lâm cơ động huyện Chợ Mới tuần tra và phát hiện trên thửa đất số 239, khoảnh 18, tiểu khu 426, thôn Nà Quang, xã Nông Hạ (huyện Chợ Mới) do Lâm trường Chợ Mới quản lý có rất nhiều cây gỗ lớn bị chặt hạ, cắt khúc và xẻ hộp với 16 cây gỗ bị chặt hạ, khối lượng trên 12,6m3; trong đó gỗ tròn nhóm 5 đến nhóm 8 là 10,8m3, gỗ xẻ nhóm 6-7 là 1,15m3.
Tại thời điểm kiểm tra 5 cây gỗ đã bị lâm tặc đưa ra khỏi rừng, chỉ còn 11 cây gỗ và 7 hộp gỗ đã được xẻ vuông vắn.
Ngay sát cạnh đó là cánh rừng thuộc sự quản lý của xã Yên Hân cũng bị đốn hạ không thương tiếc. Một số cây đã được chặt từ lâu nhưng một số cây mới được chặt, còn nguyên ngọn. Kiểm lâm huyện Chợ Mới đã phát hiện 159 khúc gỗ tròn từ nhóm 5 - nhóm 8 có khối lượng 25,5m3, 12 hộp gỗ đã được xẻ vuông vắn có khối lượng 1,8m3.
Lâm trường Chợ Mới hiện quản lý hơn 5.200ha rừng, trong đó có 280ha rừng phòng hộ, 300 ha rừng trồng, còn lại là rừng tái sinh.
Giám đốc Lâm trường Chợ Mới Triệu Quang Trân cho biết: Diện tích rừng do lâm trường quản lý rộng, trong khi đó lực lượng mỏng nên việc tuần tra, kiểm soát vào những khu vực xa gặp nhiều khó khăn, lâm tặc lại thường lợi dụng thời tiết mưa gió để khai thác gỗ. Trong khi đó sự phối hợp giữa kiểm lâm, lâm trường và chính quyền địa phương chưa chặt chẽ. Nhiều lúc lâm tặc chặt gỗ trên phần diện tích do lâm trường quản lý rồi đưa sang phần rừng do xã quản lý nên không thể xử lý.
Tuy nhiên, ngay phía dưới cách chỗ lâm tặc phá rừng không xa là một Trạm kiểm soát do hai người phụ trách, họ ăn ở luôn ở đó.
Bên cạnh đó, cũng có hai kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã Nông Hạ nhưng khi được hỏi tại sao việc phá rừng phòng hộ đầu nguồn diễn ra đã lâu mà không phát hiện được thì ông Nguyễn Văn Minh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Chợ Mới trả lời rằng họ mới được tăng cường, chưa thông thuộc hết đường đi, lối lại. Trong khi đó lâm tặc lại khai thác gỗ ở những nơi đường đi lại khó khăn, thời gian qua lại diễn ra nhiều trận mưa lớn nên không thể đi vào sâu để kiểm tra.
Việc Trưởng thôn Triệu Tài Đức ở thôn Nặm Rất, xã Tân Sơn chặt gỗ trên diện tích đất rừng do Hợp tác xã quản lý lại có lý do hết sức "ngô nghê."
Vị trưởng thôn lý giải rằng nghe Nhà nước có cho chặt gỗ để làm nhà nhưng không nắm rõ là Nhà nước chỉ cho phép khai thác gỗ trên diện tích đất rừng đã được giao cho các hộ dân và được quyền khai thác số gỗ do gia đình trồng khi đến tuổi. (VietnamPlus.vn 6/7)đầu trang(
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đăk G'long đã nhờ một doanh nghiệp làm hợp đồng, xuất hóa đơn khống cho lâm tặc rồi trực tiếp ký xác nhận nguồn gốc gỗ lậu. Sự việc sai trái trên được Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động phát hiện nhưng không xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 4.7, ông Hà Công Tài - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đăk Nông - cho biết, chi cục đang làm rõ sai phạm của ông Lê Văn Tường - Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động số 2 và ông Đỗ Ngọc Trai - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đăk G'long.
Các sai phạm này có liên quan đến vụ án vận chuyển gỗ lậu vừa được TAND huyện Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xét xử sơ thẩm ngày 19.6. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang - đều trú xã Quảng Phú, huyện Krông Nô - 19 tháng tù cho hưởng án treo. Nhưng kết quả điều tra cũng như các lời khai tại tòa đều cho thấy ông Tường, ông Trai đã tiếp tay cho 2 lâm tặc này hợp thức hóa gỗ lậu.
Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang khai nhận, vào tháng 8.2012, họ đã bàn nhau mua gỗ lậu tại huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông rồi làm giấy tờ hợp thức hóa. Ngày 6.10.2012, Cư thuê xe tải chở 16,144m3 gỗ bằng lăng xẻ hộp và tấm đi Tiền Giang tiêu thụ. Ngoài các giấy tờ khống, Huỳnh Văn Cư còn mang theo một giấy xác nhận nguồn gốc gỗ do ông Đỗ Ngọc Trai - lúc đó là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Nô - ký và đóng dấu. Khi qua địa bàn huyện Đăk R'lấp, xe gỗ này bị Đội Kiểm lâm cơ động số 2 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Nông kiểm tra, phát hiện giấy tờ không hợp pháp.
Lẽ ra phải lập biên bản, tạm giữ tang vật để làm rõ thì các kiểm lâm viên lại gọi điện thoại báo cho Đội trưởng Lê Văn Tường lúc đó đang ở nhà riêng. Ông Tường yêu cầu Huỳnh Văn Cư mang giấy tờ về nhà riêng của mình tại thị trấn Kiến Đức (huyện Đăk R'lấp) để kiểm tra. Thấy có chữ ký của Đỗ Ngọc Trai, đóng dấu Hạt Kiểm lâm huyện Krông Nô nên Tường gọi báo cho Trai biết là hồ sơ này không hợp lệ. Đỗ Ngọc Trai xin Tường trả hồ sơ để Cư mang về huyện Krông Nô làm lại. Sau đó chính Hạt trưởng Đỗ Ngọc Trai đã nhờ một doanh nghiệp làm hợp đồng, xuất hóa đơn khống cho Cư, ngoài ra còn trực tiếp ký xác nhận nguồn gốc gỗ cho Cư.
Với những giấy tờ này, Lê Văn Tường đã cho Huỳnh Văn Cư tiếp tục vận chuyển gỗ đi Tiền Giang tiêu thụ. Nhưng khi đến địa phận tỉnh Bình Phước, xe gỗ này đã bị Công an huyện Bù Đăng bắt giữ, Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang bị khởi tố hình sự. Tại phiên tòa, Huỳnh Văn Cư còn khai nhận đã đưa cho Lê Văn Tường 50 triệu đồng theo yêu cầu của Tường. Sau khi Cư than vãn hết tiền đi đường thì được Tường cho lại 5 triệu đồng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Đăng đã khởi tố vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Do hành vi của Đỗ Ngọc Trai, Lê Văn Tường đều diễn ra trên địa bàn tỉnh Đăk Nông nên Viện KSND tỉnh Bình Phước đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đăk Nông điều tra theo thẩm quyền. (Nông Thôn Ngày Nay 5/7)đầu trang(
/.7, Phòng CSGT - Công an tỉnh Quảng Bình cho biết, vào rạng sáng cùng ngày đã phát hiện xe khách BKS 47C-04.184 đang vận chuyển gỗ lậu.
Xe do Nguyễn Đình Thủ (29 tuổi, trú tỉnh Đắk Lắk) điều khiển, bị phát hiện và bắt giữ trên quốc lộ 1A - đoạn qua xã Bắc Trạch (huyện Bố Trạch).
Khi dừng xe kiểm tra, lực lượng CSGT đã phát hiện trên xe đang vận chuyển 21 khối gỗ nhóm 3, tài xế không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp số gỗ nói trên.
Sau khi lập biên bản, vụ việc hiện đã được bàn giao cho lực lượng kiểm lâm xử lý theo quy định. (Lao Động 6/7)đầu trang(
Vùng đệm của Vườn Quốc gia Vũ Quang, ở xã Hương Điền, huyện Vũ Quang đang từng ngày quằn quại, bằm xới bởi tình trạng khai thác vàng trái phép.
Vừa qua, cuộc chiến đầy gian nan trong nhiều ngày trời của lực lượng liên ngành tại Hà Tĩnh đã mở đợt truy quét, đuổi “vàng tặc” ra khỏi khu vực. Thế nhưng, chỉ được một thời gian ngắn tạm lắng, tình trạng khai thác vàng trái phép nay đã tái diễn trở lại với mức độ táo tợn hơn.
Vì mưu sinh và cũng vì lòng tham, núi rừng Vũ Quang đã và đang từng ngày, từng đêm bị những phu vàng đào xới, lật tung lên, làm cho nhiễm độc bởi các chất hóa học mà chủ yếu là xianua. Những vết thương của đại ngàn Trường Sơn cứ lở loét dần ra dưới bàn tay của con người và đang trở thành ẩn hoạ lớn đối với môi trường sinh thái. (Tài Nguyên&Môi Trường 4/7)đầu trang(
Hội nghị sơ kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm 2013, UBND tỉnh Đắk Lắk công bố đã kiểm tra, xử lý 1.374 vụ vi phạm luật bảo vệ rừng (tăng hơn 43% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó có 11 vụ khởi tố hình sự). Đã tịch thu, phạt, xử lý gần 3 nghìn m3 gỗ các loại và gần 16 tỷ đồng.
Sở NN&PTNT thống kê trên địa bàn tỉnh có 282 đối tượng lâm tặc, 60 đầu nậu và 252 phương tiện độ chế chuyên khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép đã được xác định. (Tiền Phong 6/7)đầu trang(
Dự án bị đình chỉ, ngoài việc mất trắng 13ha rừng tự nhiên, tỉnh Đắk Nông còn phải bồi hoàn hơn 25,6 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Năng lượng Trung Thành Hưng trong Dự án Khu du lịch sinh thái, văn hóa Liêng Nung kết hợp Nhà máy thủy điện Đắk Nia. Dự án Khu du lịch sinh thái, văn hóa thác Liêng Nung, xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông) được UBND tỉnh Đắk Nông phê duyệt năm 2006 và giao Sở Thương mại - Du lịch (cũ) làm chủ đầu tư. Dự án có quy mô hơn 94ha, với tổng kinh phí đầu tư 20,558 tỷ đồng, trích từ ngân sách của tỉnh. Mặc dù vậy, do thiếu vốn, cuối năm 2007, UBND tỉnh đã giao dự án cho Công ty cổ phần Năng lượng Trung Thành Hưng (TPHCM) làm chủ đầu tư. Đến đầu năm 2008, công ty này xin mở rộng quy mô dự án thành Dự án Khu du lịch sinh thái, văn hóa Liêng Nung kết hợp Nhà máy thủy điện Đắk Nia (gọi tắt là dự án) và được UBND tỉnh Đắk Nông phê duyệt.
Tuy nhiên, sau khi dự án được giao về cho doanh nghiệp phát sinh nhiều vấn đề vướng mắc, nhất là trong khâu giải phóng mặt bằng. Cụ thể, theo quy định, Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất và quyết định các chính sách về bồi thường, hỗ trợ để thực hiện dự án thủy điện; còn dự án du lịch sinh thái thuộc diện kinh doanh thuần túy, nên khi thu hồi đất, chủ đầu tư phải trực tiếp thỏa thuận giá bồi thường với các chủ sử dụng đất.
Tuy nhiên, cả hai dự án này, chủ đầu tư đều triển khai theo phương thức Nhà nước thu hồi đất, nên đã vấp phải sự phản ứng từ phía người dân, dẫn đến khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Trong nhiều năm liền, dự án hầu như vẫn “giậm chân tại chỗ”. Do dự án trì trệ, cũng như nguy cơ ảnh hưởng của nhà máy thủy điện tới môi trường, cảnh quan thiên nhiên tại khu sinh thái thác Liêng Nung, nên tháng 3-2011, UBND tỉnh buộc phải ra quyết định thu hồi trước thời hạn đối với dự án.
Cùng với việc giao dự án, UBND tỉnh Đắk Nông cũng giao chủ đầu tư quản lý, bảo vệ gần 13ha rừng tự nhiên tại khu vực thác Liêng Nung. Theo biên bản bàn giao rừng của cơ quan chức năng, tại thời điểm dự án được chuyển về cho Công ty cổ phần Năng lượng Trung Thành Hưng, toàn bộ gần 13ha rừng vẫn chưa bị xâm hại, mật độ dày, độ che phủ và trữ lượng gỗ cao. Tuy nhiên, theo xác nhận của Hạt Kiểm lâm thị xã Gia Nghĩa, đến đầu năm 2011, toàn bộ diện tích rừng tại khu vực thác Liêng Nung hầu như đã bị xóa sổ, nguyên nhân chính là do “chủ rừng” không quản lý, bảo vệ rừng theo đúng quy định…
Dự án bị thu hồi trước thời hạn, ngoài việc mất trắng gần 13ha rừng tự nhiên có giá trị cao, vừa qua, UBND tỉnh Đắk Nông cũng đã phải chấp thuận bồi hoàn hơn 25,6 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Năng lượng Trung Thành Hưng. Như vậy, ngoài sự lãng phí rất lớn về thời gian, tiền bạc, việc dự án đổ bể còn ảnh hưởng xấu đến uy tín, môi trường đầu tư của tỉnh, thể hiện sự yếu kém trong công tác quản lý, lập dự án của các cơ quan tham mưu. (Sài Gòn Giải Phóng 8/6)đầu trang(
6-7, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông công bố các quyết định khởi tố sáu bị can thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quảng Tín (huyện Đắk R’lấp) về tội thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Theo đó, khởi tố Trần Văn Lợi (nguyên giám đốc Công ty Quảng Tín, đồng thời là phó giám đốc phụ trách công tác quản lý, bảo vệ rừng giai đoạn 2007-2010), Đặng Quốc Hởi (nguyên đội trưởng Đội Quản lý, bảo vệ rừng giai đoạn từ tháng 10-2008 đến tháng 6-2010). Cùng bị khởi tố còn có bốn cán bộ khác của Công ty Quảng Tín là Nguyễn Trọng Lam, Đặng Bá Long, Ngô Đức Tuấn và Phan Trọng Chân.
Theo kết quả điều tra, từ năm 2007 đến 2010, các đối tượng trên đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đưa vào hợp đồng liên doanh liên kết với chín doanh nghiệp tư nhân thực hiện các dự án sản xuất nông-lâm nghiệp và quản lý, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Sau đó, các dự án liên doanh liên kết trên không có kết quả mà để mất diện tích rừng tự nhiên là 1.334 ha.
Trước đó, chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông đã ký quyết định cho thôi giữ chức quyền giám đốc và tạm đình chỉ chức vụ kiểm soát viên đối với ông Trần Văn Lợi để phục vụ công tác điều tra. (Pháp Luật TPHCM 7/7)đầu trang(
Ngày 7.7, tin từ Viện KSND huyện Bố Trạch cho biết, đã phê chuẩn lệnh bắt tạm giam đối với Thái Xuân Bằng (SN 1971) và Nguyễn Văn Thảo, (SN 1978) - đều trú tại tỉnh Ninh Thuận - về tội “giả mạo chức vụ, cấp bậc”.
Trước đó - trưa 23.6, tại địa phận xã Lý Trạch (H.Bố Trạch), lực lượng kiểm lâm huyện Bố Trạch phát hiện xe ôtô BKS TH-5092 có biểu hiện nghi vấn. Khi dừng xe kiểm tra, cả hai đối tượng trên đều mang trang phục quân đội, Bằng mang hàm thiếu tá và từ chối hợp tác với lý do xe quân đội đang vận chuyển trang phục.
Lực lượng kiểm lâm đã thông báo cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh phối hợp kiểm tra thì phát hiện các đối tượng trên đã giả danh quân đội, trên xe đang vận chuyển 8,32m3 gỗ dổi không có giấy tờ hợp lệ, trên xe còn có một số BKS quân sự, dân sự giả khác. (Lao Động 8/7)đầu trang(
Nạn nhân bị tai nạn hi hữu đó là anh Hoàng Ngọc Khoa (SN 1992)- trú tại xóm 3 xã Nghĩa Bình, huyện Tân Kỳ (Nghệ An).
Theo đó, 6.7, anh Khoa đi khai thác gỗ keo thuê ở khu vực xóm Tân Thọ, xã Nghĩa Dũng, huyện Tân Kỳ. Khi anh Khoa đang đứng ở dưới để gom gỗ keo lại thì từ phía trên, một thanh gỗ văng tới đập vào đầu. Anh Khoa được mọi người lập tức đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, nhưng do vết thương quá nặng nên đã tử vong.
Theo Công an xã Nghĩa Bình, thời điểm đó có 3 người ở phía trên cùng lao gỗ xuống phía dưới, nhưng chưa xác định cụ thể được cây gỗ văng trúng đầu anh Khoa là do ai lao xuống.
Hiện công an đang làm rõ vụ tai nạn. (Lao Động 7/7)đầu trang(
Trong vòng 1 năm qua, khu vực Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) liên tục xảy ra các vụ vi phạm lâm luật gây xôn xao dư luận, 12 lâm tặc bị phạt tù và không ít cán bộ bị kỷ luật. Dù vậy, “chợ” gỗ lậu vẫn ngang nhiên tồn tại trước mắt lực lượng chức năng.
Vùng rừng PV đến, người địa phương gọi là Đại Đủ, thuộc xã Xuân Trạch và lâm phận của chi nhánh Lâm trường Bố Trạch. Từ đường Hồ Chí Minh, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ cắt rừng, PV đến vùng khai thác. Từ xa đã nghe tiếng cưa máy rào rào, cây rừng bị chặt hạ, cành ngọn mới cũ vứt ngổn ngang, nhiều thân gỗ táu, dổi, chò đỏ to chỉ còn trơ gốc… Khu rừng trông như một công trường đang khai thác.
Tất cả gỗ được xẻ thành “khung ngoại”, sau đó gùi bộ về điểm tập kết rồi dùng xe máy chở tiếp về xuôi. Cách đó khoảng 600 m có Trạm kiểm soát lâm sản liên ngành Khe Sến nên lâm tặc chỉ chở gỗ đi một đoạn đến gần trước trạm, sau đó gùi bộ vào rừng sát mép đường, đi vòng qua trạm rồi lại tiếp tục đưa lên đường ở vị trí bên kia trạm, dùng xe máy chở về khu dân cư xóm Mới, xã Xuân Trạch. Chính ngay trên cung đường này đã diễn ra vụ hỗn chiến kinh hoàng giữa dân địa phương và nhóm giang hồ tứ xứ đến cướp gỗ trong vụ 3 cây huê cổ thụ bị đốn hạ vào tháng 5.2012.
Sau khi tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau và trong thời gian dài đeo bám, chúng tôi đã ghi lại những hình ảnh sôi động như… chợ ở đây. 9 giờ 40 ngày 14.5, tại điểm tập kết sau trạm (chỉ cách trạm khoảng 200 m và thấy rõ 4 nhân viên đang nằm trên võng canh gác), những gùi gỗ lù lù trong rừng được mang ra mặt đường và nhanh chóng chất lên xe máy chở về xóm Mới, Xuân Trạch. 15 phút sau, gỗ ra ồ ạt, có lúc 5 xe máy cùng lao tới đón hàng. Mặc dù chở cồng kềnh nhưng xe nào cũng phóng nhanh, đổ dốc và ôm cua vèo vèo, nhiều tốp 3-4 xe còn đua tốc độ…
3 ngày sau, PV tiếp tục tiếp cận điểm sau trạm và những hình ảnh tương tự được ghi lại. Điều khác biệt, trong thời điểm đó, 2 cán bộ kiểm lâm chạy xe máy ngang qua những người đang chờ đón gỗ nhưng không nói gì.
Ngày 26.6, có mặt tại điểm tập kết gỗ trước trạm, PV cũng chứng kiến những cảnh tương tự. Lúc 10 giờ, chuyến gỗ đầu tiên bắt đầu. Ngay khi nhận tín hiệu “có hàng”, 6 xe máy hướng từ trạm liên ngành lao tới thả người xuống. Số này làm nhiệm vụ gùi gỗ trung chuyển vòng qua trạm. 10 giờ 33 phút, một cán bộ kiểm lâm chạy xe máy mang biển số 73B1-0033…ngang qua nhưng rồi cũng như chẳng có chuyện gì. 11 giờ 20, xe chở gỗ bắt đầu đổ về nườm nượp với tốc độ nhanh.
Chỉ trong khu vực từ đỉnh đèo Đá Đẽo về hết địa phận xã Xuân Trạch, tính trên đường lẫn trong rừng có đến 2 trạm kiểm lâm, 1 trạm liên ngành, 2 trạm bảo vệ rừng.
Năm 2001, tổ công tác liên ngành Khe Sến được thành lập nhằm hạn chế tình trạng gỗ lậu tung hoành trên địa bàn. Hiện trạm có 17 người, trực thuộc biên chế của 3 đơn vị là Hạt Kiểm lâm Bố Trạch, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và chi nhánh Lâm trường Bố Trạch. Việc vận chuyển gỗ lậu diễn ra ngang nhiên, công khai từ ngày này sang tháng khác, rất nhiều người đi đường bắt gặp nên không thể nói trạm đóng ở đó không biết.
Đặc biệt, các điểm chuyển gỗ ở rất gần vị trí đóng trạm, chỉ trên dưới 200 m. Ở các điểm đó, ngày nào cũng tập trung nhiều người và xe máy... Khi xem những hình ảnh chúng tôi cung cấp, một cán bộ làm công tác bảo vệ rừng thốt lên: “Trạm này đã bị tê liệt”.
Ông Trần Văn Hằng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Bố Trạch và là Trưởng trạm Khe Sến, giải thích: “Rất khó ngăn chặn vì dân đông, dùng đủ mọi hình thức, tranh thủ mọi thời gian. Chở trên xe máy rất khó ngăn; nếu lực lượng mình mạnh, đi ô tô thì họ thả gỗ chạy, nếu mình yếu, cũng đi xe máy thì nó uy hiếp, phóng nhanh hơn, lạng lách nguy hiểm. Rồi bị nó ném đá làm thủng mái nhà trạm”.
Còn Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch Bùi Văn Thắng lại cho rằng: “Trước kia làm ồ ạt chứ bây giờ chỉ nhỏ lẻ thôi, trước kia dùng trâu kéo giờ chỉ vác trên vai. Chỉ hạn chế đến mức tối đa chứ không triệt để được. Công tác bảo vệ rừng đã làm tương đối tốt”.
Ông Lê Thanh Tịnh, Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, nhìn nhận: “Đây đúng là những hình ảnh nhức nhối. Vườn cũng có trách nhiệm trong đó vì có cán bộ kiểm lâm tham gia ở Trạm Khe Sến. 10 ngày trước, khi lên làm việc với Trạm kiểm lâm Chà Nòi, tôi cũng đã được nghe báo cáo thực trạng trên nhưng chưa đầy đủ và chi tiết. Lực lượng trạm muốn làm nhưng ngại lý do: gỗ của lâm trường sao trạm lại bắt, dễ dẫn đến thù hằn! Tuy nhiên, khi trung chuyển lại đi trên đất của vườn, chúng tôi sẽ có biện pháp để ngăn chặn tình trạng này”. (Thanh Niên 7/7)đầu trang(
Ngày 6.7, thượng tá Phạm Hoàng Kiệt - Trưởng CA huyện U Minh Thượng - cho biết, cơ quan này vừa ra quyết định tạm giữ đối với Hồ Văn Quyền, Hồ Văn Lèo (cùng ngụ xã Khánh Thuận, huyện U Minh, Cà Mau); Phạm Văn Mười (ngụ xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng) về hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm.
Trước đó, 3 đối tượng trên vào tiểu khu 48, Vườn quốc gia U Minh Thượng để săn bắt tê tê, các đối tượng bắt được con tê tê nặng 2,1kg, sau đó bị lực lượng bảo vệ rừng phát hiện. (Lao Động 8/7)đầu trang(
5-6, ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, cho biết vừa có quyết định kỷ luật cảnh cáo về mặt đảng, đồng thời giáng chức từ hạt trưởng xuống làm hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Đắk Mil đối với ông Trương Minh Giảng.
Được biết, trong thời gian làm hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk Mil, ông Giảng đã để xảy ra nhiều sai phạm lớn liên quan đến việc buôn bán bất hợp pháp một khối lượng lớn lâm sản trên địa bàn, gây thất thoát lớn cho ngân sách Nhà nước cũng như làm mất an ninh trật tự ở địa phương. (Pháp Luật TPHCM 5/7)

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Nạn “phá sơn lâm” ở vùng tây xứ Quảng đã bớt nóng bỏng. “Tần số” về các vụ phá rừng quy mô lớn, chống người thi hành công vụ của lâm tặc trên các phương tiện truyền thông cũng giảm đáng kể.
Điều đó ghi nhận chủ trương đồng bộ đưa cả hệ thống chính trị vào cuộc giữ rừng của tỉnh đã có tác dụng hữu hiệu. Tuy nhiên, bản báo cáo mới nhất của ngành chức năng đã chỉ ra rằng, số vụ vi phạm lâm luật có chiều hướng tăng, một số nơi kiểm lâm “đầu hàng” trước lâm tặc.
Ở các huyện Đông Giang, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phú Ninh, Nông Sơn (Quảng Nam) lại tái diễn tình trạng phá rừng để trồng rừng. Những cái tên quen thuộc như sông Bua, địa phận xã Trà Vân (Nam Trà My) giáp ranh với Quảng Ngãi, Trà Leng (khu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2), vùng lõi Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh 2, rừng phòng hộ Phú Ninh... lại thành “nơi tị nạn” của lâm tặc, vượt ngoài tầm kiểm soát của lực lượng kiểm lâm. Rồi những “dòng sông gỗ lậu” đoạn từ Trung Phước (huyện Nông Sơn) về Giao Thủy (huyện Duy Xuyên), từ Thạnh Mỹ (Nam Giang) xuôi về Đại Lộc... chưa lúc nào yên.
Không phải những “điểm nóng” trên lực lượng chức năng không đột nhập, đem quân đến trấn giữ. Nhưng sự thật là sau mỗi đợt truy quét đâu lại hoàn đấy. Nhiều lần theo chân đoàn kiểm tra, truy quét lâm khoáng sản trái phép, chúng tôi nhận thấy người thi hành công vụ rất “dè dặt” trong cuộc đấu tranh với đối tượng phá hoại tài nguyên rừng.
Tang vật, phương tiện máy móc vi phạm nhan nhản án ngữ trong rừng đặc dụng nhưng cán bộ rất ngại xử lý, phá hủy tại chỗ. Có lẽ vì người thi hành chức trách, nhiệm vụ thấy “xót của” (!?) Mà khi tổ chức phá hủy tài sản vi phạm có tính nhạy cảm thì phải “cậy” phóng viên đến chụp hình, quay phim làm... bằng chứng.
Tréo ngoe hơn, không ít lần đi kiểm tra, truy quét nhưng người thi hành pháp luật thì “tay không bắt giặc”, đến khi phát hiện tang vật vi phạm thì lấy điện thoại về cấp trên xin ý kiến. Nhiều vụ do chờ xin ý kiến chỉ đạo mà đối tượng có thời gian xóa bỏ hiện trường, phi tang phương tiện.
Một số huyện miền núi thừa nhận, các đợt kiểm tra, truy quét định kỳ không bao giờ đem lại hiệu quả. Muốn có chi phí hoạt động, mở các đợt cao điểm đấu tranh với lâm tặc thường thì địa phương phải lên kế hoạch, lập phương án tài chính, sau đó mới được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tốn rất nhiều thời gian, thủ tục hành chính. Lãnh đạo của một huyện miền núi cho biết, chỉ có việc mở các cuộc truy quét bất ngờ, không báo trước cho bất kỳ ai thì họa may mới đánh lớn được. Còn “bài” truy quét kiểu hành chính, định kỳ để báo cáo như hiện nay thì chẳng đem lại kết quả gì. (Báo Quảng Nam 5/7)đầu trang(

THẾ GIỚI
Toàn bộ loài tê giác đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng bởi một niềm tin phi khoa học và những kẻ bất lương kiếm lợi nhuận khổng lồ bằng cách gieo rắc sợ hãi vào tâm trí của những người giàu.
Trong tháng 6/2013, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tuyên bố tê giác đen Tây Phi đã tuyệt chủng bởi không ai thấy chúng trong 7 năm qua.
IUCN khẳng định tê giác đen Tây Phi đã biến mất vĩnh viễn bởi không ai và không thiết bị nào phát hiện chúng từ năm 2006 tới nay, Science Daily đưa tin.
"Con người, cụ thể là lòng tham của con người, đã khiến chúng tuyệt chủng", IUCN nhận định.
Tê giác đen Tây Phi, một phân loài tê giác đen, từng tồn tại hàng nghìn năm ở khu vực phía nam của châu Phi. Theo một bài báo trên trang Earth First News vào ngày 7/5, nhiều người thèm muốn sừng tê giác đen Tây Phi vì họ nghĩ rằng chúng có thể chữa mọi bệnh tật - từ đau đầu tới ung thư.
SavetheRhino.org, một trang web về bảo tồn tê giác, nói rằng những người giàu ở châu Á tin rằng sừng tê giác là biểu tượng của sự giàu có. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, các thầy lang dùng sừng tê giác để trị sốt, co giật, giải độc cho người say rượu.
Mạng lưới giám sát hoạt động buôn bán động, thực vật hoang dã TRAFFIC khẳng định rằng, những lời ca ngợi tác dụng "thần kỳ" của sừng tê giác chỉ là chiêu quảng cáo mà bọn bất lương áp dụng để tăng giá. Toàn bộ loài tê giác đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng bởi một niềm tin phi khoa học và những kẻ bất lương kiếm lợi nhuận khổng lồ bằng cách gieo rắc sợ hãi vào tâm trí của những người giàu.
Bọn săn trộm thường xuyên săn tê giác trong các khu bảo tồn quốc gia. Đôi khi chúng hối lộ nhân viên bảo vệ khu bảo tồn để họ cung cấp thông tin về vị trí mà tê giác thường xuất hiện. Ngày 2/5, trong một cuộc phỏng vấn với AP, Antonio Abacar, một nhân viên bảo vệ trong vườn quốc gia Great Limpopo Transfrontier tại Mozambique, thừa nhận rằng nhiều đồng nghiệp của ông đồng lõa với bọn săn trộm. Theo ông, 30 trong tổng số 100 nhân viên bảo vệ của vườn quốc gia sẽ phải hầu tòa vì hỗ trợ bọn săn trộm tê giác.
Một loài tê giác khác cũng có nguy cơ tuyệt chủng. Tê giác Java, loài động vật sống ở Đông Nam Á, là loài hứng chịu mức độ đe dọa lớn nhất trong số các loài tê giác hiện nay. Con tê giác Java cuối cùng của Việt Nam đã chết vào năm 2010. (Người Đưa Tin 6/7)đầu trang(
Nơi những đồng cỏ thảo nguyên trải dài ở Mông Cổ, đàn ngựa hoang Przewalski đang thong dong tản bộ và gặm cỏ. Từ năm 1960, loài ngựa quý hiếm này đã được liệt vào nhóm động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao của Sách Đỏ.
Ngựa Przewalski được đặt tên theo nhà thám hiểm người Nga, ông Nikolai Mikhailovich Przewalski, người đầu tiên phát hiện ra chúng vào khoảng năm 1880 tại khu vực sa mạc Gobi.
“Chúng có thể phát hiện nguy hiểm từ khoảng cách 300 mét và bỏ chạy ngay lập tức”, cô Sun Zhicheng, nhân viên tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Hồ Tây cho biết. Hiện tại có 27 con ngựa Przewalski đang sinh sống tại đây. Chúng là kết quả của một quá trình dài nỗ lực nhân giống và bảo vệ của Khu bảo tồn kể từ năm 2010.
Một con ngựa Przewalski trưởng thành nặng khoảng 250-300 kg, cao tầm 1m30. Loài ngựa màu nâu này có chiếc cổ ngắn đặc trưng. Đặc biệt, ngựa Przewalski có 66 nhiễm sắc thể thay vì 64 như những loài ngựa khác. Thức ăn chủ yếu của loài ngựa thảo nguyên này là cỏ và một số loài thực vật đặc biệt. Vào mùa đông, khi cây cỏ không phát triển, các nhân viên tại khu bảo tồn sẽ cho chúng ăn cỏ khô, đậu và ngô.
Hiện có khoảng2.000 con ngựa Przewalsi đang sinh sống tại vùng thảo nguyên Mông Cổ và các khu bảo tồn trên toàn thế giới. 1/4 số ngựa này vừa mới được thả vào tự nhiên hồi cuối năm 2011 nhờ thành công của các biện pháp nhân giống thuần chủng.
Theo tư liệu của Hiệp hội Bảo tồn tự nhiên Quốc tế, loài ngựa thảo nguyên Mông Cổ này từng có số lượng rất đông đúc, thậm chí chúng còn “kéo nhau” sang vùng Tây Âu để sinh sống. Sau nhiều thế kỷ chống chọi với sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu thì hiện nay ngựa Przewalski còn là nạn nhân của những kẻ săn bắn trộm, khiến số lượng giảm mạnh.
Theo các câu truyện cổ truyền miệng của Trung Quốc, cách đây 2.000 năm, một phạm nhân bị lưu đày đã nhìn thấy loài ngựa hoang này ở khu vực gần thành Đôn Hoàng, nơi giao với Con đường Tơ lụa. Người phạm nhân lập mưu bắt ngựa để dâng cho vua Hán Vũ Đế nhưng không thành. Thậm chí, nhà vua còn viết một bài thơ về loài ngựa lạ này. (Tin Tức 8/7)đầu trang(
5 người đàn ông Indonesia được phát hiện mắc kẹt trên cây ngày 7-7, ba ngày sau khi họ bị một bầy cọp Sumatra đuổi bắt.
Theo cảnh sát, 4 con cọp đã vồ chết một người bạn của họ trước đó và chúng vẫn kiên nhẫn vờn quanh gốc cây, không ngừng gầm gừ hù dọa con mồi.
Nguyên nhân vụ truy sát này là do những người trên vô tình giết chết một con cọp con hôm 4-7 khi vào vườn quốc gia Núi Leuser, phía bắc đảo Sumatra, để tìm trầm. Cảnh sát trưởng khu vực trên, ông Dicky Sondani, nói: “Trầm rất có giá nên họ chấp nhận mạo hiểm, lần tìm vào những vùng hẻo lánh của Leuser, nơi trú ngụ của cọp và voi”.
Nhóm người đã cài bẫy bắt nai và linh dương lấy thức ăn, dè đâu 1 con cọp con sụp bẫy và thiệt mạng. Những con cọp lớn ngay lập tức tấn công trả thù, giết chết một thanh niên 28 tuổi tên David. 5 người còn lại chạy thoát lên cây.
Nhận được tin báo của dân làng, ngay hôm đó 30 nhân viên cứu hộ, bao gồm cảnh sát và binh lính, đã được phái đi nhưng phải mất 2-3 ngày mới đến được hiện trường. Phương án cứu người chưa được quyết định.
Cảnh sát lo sợ nhóm người trên kiệt sức và sẽ rơi xuống trước khi được cứu thoát. Nhưng vì cọp Sumatra đang có nguy cơ tuyệt chủng nên cảnh sát không dám làm liều. “Nếu cọp còn ở dưới gốc cây, chúng tôi có thể phải bắn thuốc mê” – cảnh sát trưởng Sondani nói.
Riêng vườn quốc gia Núi Leuser là nơi nương náu của khoảng 5.800 trong số 6.600 cá thể đười ươi Sumatra còn sót lại, ngoài ra còn có cọp và voi. Cọp Sumatra là loài cọp nhỏ nhất thế giới và chỉ còn khoảng 400 – 500 con sống trong hoang dã, trong đó ở vườn quốc gia Núi Leuser có khoảng 100 con. (Người Lao Động 8/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa