|
Ngày 07 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Đây là loài rùa Núi viền quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, được gọi là rùa 3 đuôi, thường sống ở những khe rãnh, thung lũng ẩm ướt tới độ cao 1.500 mét.
6/8, nguồn tin từ Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã cho biết, Trung tâm Cứu hộ - Bảo tồn & Phát triển Sinh vật thuộc cơ quan này vừa tiếp nhận một cá thể động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ là rùa Núi viền, do người dân hiến tặng để thả về môi trường tự nhiên.
Trước đó, Trung tâm Cứu hộ - Bảo tồn & Phát triển Sinh vật VQG Bạch Mã tiếp nhận cá thể rùa Núi viền (thường được gọi là rùa 3 đuôi, tên khoa học Manouria impressa Gunther, 1882) có trọng lượng 3kg, do anh Phạm Văn Sơn (ngụ tại Đà Nẵng) tự nguyện hiến tặng. Đây là cá thể rùa cái, tình trạng sức khỏe tốt, không bị thương. Sau khi tiếp nhận và kiểm tra sức khỏe, đơn vị cứu hộ kết hợp Hạt kiểm lâm VQG Bạch Mã thả cá thể rùa Núi viền về rừng.
Được biết, rùa Núi viền thường có kích cỡ trung bình, chiều dài mai khoảng 180 - 206mm; được gọi là rùa 3 đuôi do 2 chân sau có 2 cái cựa lồi ra rất giống đuôi. Rùa Núi viền sống ở những khe rãnh, thung lũng ẩm ướt tới độ cao 1.500 mét. Đây là loài được xếp vào cấp độ sẽ nguy cấp (VU) trong Sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ thế giới (IUCN, 2013), được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. (Tiền Phong 6/8) đầu trang(
Kiểm lâm kiểm tra và phát hiện 6 khúc gỗ trong nhà trưởng BQL rừng Đại Ninh là thông đỏ quý hiếm, được bảo vệ nghiêm ngặt và số gỗ này không có dấu búa kiểm lâm.
Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) vừa có báo cáo kết quả kiểm tra vụ phát hiện gỗ tự nhiên trong nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn – Trưởng Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Đại Ninh (huyện Đức Trọng).
Trước đó, ngày 1/8, Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng nhận tin báo có gỗ quý cất giấu tại nhà ông Nhẫn ở xã Phú Hội, huyện Đức Trọng. Khi tiến hành kiểm tra, hạt kiểm lâm phát hiện 6 khúc gỗ lớn nghi là gỗ thông đỏ tại nhà ông Nhẫn.
Thời điểm kiểm tra, ông Nhẫn không có ở nhà, hạt kiểm lâm yêu cầu gia đình xuất trình giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ. Tuy nhiên, người nhà ông Nhẫn không hợp tác. Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng nhiều lần gọi điện thoại cho ông Nhẫn nhưng ông này không nghe máy.
Đến tối cùng ngày, số gỗ bỗng “không cánh mà bay” khỏi nhà của Trưởng BQL rừng phòng hộ Đại Ninh. Hạt kiểm lâm đã có báo cáo về sự “mất tích” của số gỗ này.
“Đến 19g, gia đình ông Nguyễn Văn Nhẫn vẫn không có người về nhà ở để hợp tác giải quyết vụ việc. Thời điểm này trời đã tối, có một số thanh niên lạ mặt đến tại khu vực nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn gây áp lực đối với cán bộ Hạt kiểm lâm. Đến khoảng 19g30, đoàn kiểm tra đứng ngoài hàng rào nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn quan sát vào khu vực có 6 khúc gỗ được phát hiện phía sau nhà không còn ở vị trí cũ như kiểm tra ban đầu…” - báo cáo của Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng nêu.
3/8, Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng tiếp tục có buổi làm việc, kiểm tra, lập biên bản số gỗ tại nhà ông Nhẫn. Thời điểm lực lượng chức năng kiểm tra, số gỗ đã được đưa trở lại nhà.
Làm việc với cán bộ kiểm lâm, ông Nhẫn cho biết, số gỗ trên là thông đỏ, được một công ty tại Khu công nghiệp Phú Hội (huyện Đức Trọng) tặng. Số gỗ có nguồn gốc hợp pháp được công ty trên mua từ gỗ tịch thu do một cơ quan nhà nước ở TP. Đà Lạt bán. Tuy nhiên, khi được hỏi số gỗ trên được tặng khi nào thì ông Nhẫn nói…không nhớ.
Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng kiểm tra, đo đếm và khẳng định 6 khúc gỗ có đường kính từ 25 - 29 cm, dài từ 81 - 91 cm, phát hiện trong nhà ông Nhẫn chính là gỗ thông đỏ, loài cây nguy cấp, quý hiếm có tên trong sách đỏ, thuộc nhóm 1A đang được bảo vệ nghiệm ngặt vì có nguy cơ tuyệt chủng.
Cả 6 khúc gỗ này không có dấu búa của kiểm lâm. Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện tại nhà ông Nhẫn 1 khúc gỗ đã xẻ thành phẩm, đường kính khoảng 60cm, dày 15cm, dài khoảng 2,5m và một số khúc gỗ gõ đỏ...
Trước đó, vào tháng 4/2017, Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng phát hiện 1 cây thông đỏ ở khu vực núi Voi (do BQL rừng phòng hộ Đại Ninh quản lý) bị chặt hạ trái phép và đang được điều tra. Đầu tháng 8 này, kiểm lâm tiếp tục phát hiện một vụ cưa hạ thông đỏ tại núi Voi. Cây thông cổ thụ bị cưa hạ có đường kính gốc trên dưới 1m, tổng khối lượng gỗ gần 6,4m3, trong đó khoảng 3,6m3 đã bị lấy đi khỏi hiện trường. (Vietnamnet 5/8) đầu trang(
Sau gần 1 tháng triển khai thử nghiệm, voi rừng đã không vượt qua được hàng rào điện và phải quay trở lại rừng.
Một hàng rào điện xung dài 50 Km, cao 2,2 mét được dựng lên ở bìa rừng để ngăn chặn voi rừng vào khu vực dân cư tấn công người dân, phá hoại hoa màu. Công trình này bắt đầu được UBND tỉnh Đồng Nai đưa vào hoạt động thử nghiệm tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai khoảng 1 tháng nay.
Hàng rào điện được được đưa vào sử dụng từ đầu tháng 7, bao quanh Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai qua các xã Mã Đà, Phú Lý của huyện Vĩnh Cửu và Thanh Sơn của huyện Định Quán. Hàng rao cao 2,2 mét, cố định bằng các cọc bê tông và căng hệ thống lưới điện với điện thế từ 4,5 đến 14 kV bằng nguồn điện mặt trời.
Mặc dù có điện thế cao, nhưng hàng rào hoạt động theo nguyên lý “phát - tắt” trong thời gian cực ngắn, chỉ 1/3 giây nên nếu có người lại gần cũng chỉ bị giật bắn ra, không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng đủ để khiến voi sợ không dám vượt qua hàng rào.
Ngoài ra, cách hàng rào 5 mét sẽ có biển cảnh báo để người dân không lại gần khu vực nguy hiểm, đồng thời bố trí cửa để người dân thuận tiện ra vào nương rẫy.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai cho biết, sau gần 1 tháng triển khai thử nghiệm đã ghi nhận những kết quả tích cực, nhiều trường hợp voi rừng không vượt qua được hàng rào điện và quay trở lại rừng.
Theo ông Lê Việt Dũng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, khi chưa có hàng rào điện, voi thường xuyên voi ra phá hoại khiến người dân luôn luôn sống trong cảnh nơm nớp lo sợ.
“Mỗi lần voi ra là bà con chạy như chạy giặc. Hiện tại tạm thời tình trạng đó đã chấm dứt, voi không vượt qua khỏi hàng rào điện. Hàng rào điện có tác dụng rõ rệt ngăn cách trực tiếp giữa voi và nương rẫy, dân cư khiến bà con rất yên tâm”, ông Dũng nói.
Hàng rào điện ngăn voi rừng nằm trong Dự án Bảo tồn voi với kinh phí khoảng 74 tỉ đồng được tỉnh Đồng Nai xây dựng từ năm 2013, sau nhiều vụ voi rừng vào khu dân cư phá nương rẫy, tấn công người tử vong. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai hiện ghi nhận đàn voi khoảng 14 cá thể với cơ cấu đàn hợp lý, trong đó có 2 voi con. (VOV 5/8) đầu trang(
Công ty TNHH Xứ Đoài đã bị xử phạt 45triệu đồng khi ngang nhiên chặt phá hàng chục cây phi lao thuộc đất rừng phòng hộ để xây bể bơi trái phép.
Tại khu nghỉ dưỡng Eureka Linh Trường (thuộc khu du lịch Hải Tiến, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) do Công ty TNHH Xứ Đoài quản lý đã cho chặt hạ hàng loạt cây phi lao nằm trong khu đất rừng phòng hộ sát biển để xây dựng một bể bơi rất lớn, 200 m2 được xây dựng hoành tráng và đi vào hoạt động từ lâu.
Ngoài ra, trong diện tích rừng phòng hộ công ty này còn cho xây dựng 3 ki-ốt kiên cố để bày bán hàng.
Điều này khiến nhiều người dân lo lắng, lo ngại về diện tích rừng phòng hộ nơi đây vốn đã ít nay lại bị doanh nghiệp cắt xén, và có nguy cơ làm mất đi chức năng của rừng.
Trước thông tin trên, trao đổi với Đất Việt, ngày 5/8, ông Nguyễn Đình Tuy - Phó chủ tịch UBND huyện Hoằng Hóa cho biết: "Đây là đất được tỉnh giao cho Công ty TNHH Xứ Đoài được quyền sử dụng, chúng tôi cũng biết việc xây dựng công trình trên. Khoảng cách từ trụ sở UBND huyện, trung tâm huyện đến địa điểm xây dựng công trình chỉ có hơn 10km.
Theo quy định đất rừng phòng hộ không được xây dựng quá 25%, còn khu vực này không còn rừng phòng hộ, giao hết đất cho các công ty khai thác kinh doanh".
Bên cạnh đó, theo ông Tuy, UBND huyện đã yêu cầu Công ty TNHH Xứ Đoài dừng thi công các hạng mục công trình tiếp theo tại vị trí trên khi chưa có giấy phép và có biện pháp hoàn trả mặt bằng theo hiện trạng ban đầu.
Chủ tịch UBND huyện Hoằng Hóa đã xử phạt 15 triệu đồng đối với hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất mà chưa được phép; 30 triệu đồng với hành vi xây dựng bể bơi khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép.
Được biết, theo mặt bằng quy hoạch chi tiết 1/500 được UBND huyện Hoằng Hóa phê duyệt ngày 15/12/2010, công ty này đã tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với diện tích 835 m2 và xây bể bơi khi chưa được cấp phép xây dựng.
Khu Du lịch Hải Tiến có 8 công ty và 2 đơn vị được giao đất từ năm 2003, trong đó đều có nói để lại một phần diện tích đất rừng phòng hộ. Riêng Công ty TNHH Xứ Đoài được giao hơn 9,3 ha, trong đó có 1,2 ha là đất rừng phòng hộ.
Hiện tại khu du lịch Hải Tiến (Hoằng Hóa) chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung mà các nhà hàng, khách sạn xả trực tiếp ra biển gây ô nhiễm môi trường. Các nhà đầu tư thứ cấp khi mua lại đất xây dựng không hề xin phép hoặc vượt phép đã cấp phá vỡ quy hoạch khiến dư luận bức xúc.
Về phía quản lý, trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Hữu Dũng - Phó phòng Nông nghiệp huyện Hoằng Hóa khẳng định: “Theo quy định, nếu là rừng phòng hộ thì công ty phải báo cáo huyện sau đó chúng tôi sẽ phối hợp với kiểm lâm kiểm tra hiện trạng mới đồng ý hay không đồng ý. Tuy nhiên, huyện chưa nhận được bất kỳ báo cáo nào từ đơn vị này”.
Điều đáng nói là dù Công ty cổ phần quản lý và khai thác du lịch 126 chặt hàng loạt phi lao thuộc đất rừng phòng hộ thế nhưng ông Lê Văn Hồng, Hạt phó Hạt kiểm lâm Ven biển (Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Thanh Hóa) lại không nắm được đất mà công ty này chặt phi lao xây bể bơi có phải là đất rừng phòng hộ hay không.
Trong khi, về phía công ty vi phạm, bà Đào Thu Hà - Giám đốc Công ty cổ phần quản lý và khai thác du lịch 126 (đơn vị được Công ty TNHH Xứ Đoài ủy quyền khai thác), thừa nhận có chặt phi lao để xây bể bơi và việc chặt phi lao cũng như xây dựng bể bơi công ty chưa xin phép cơ quan chức năng.
“Bể bơi có chiều rộng 8m, dài 25m và đưa vào hoạt động trong đợt hè năm 2017 này. Trước đây khi làm quy hoạch chúng tôi chưa tính đến nên không đưa vào quy hoạch. Bây giờ, do nhu cầu của khách du lịch nên chúng tôi mới đưa bể bơi vào bản quy hoạch mới”, bà Hà phân trần.
Cũng theo bà Hà thì chỉ chặt những cây nhỏ và không ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan vì có để lại những cây dừa. Tuy nhiên, những cây dừa được giữ nguyên như bà Hà nói lại được bịt kín bằng bê tông. (Đất Việt 6/8) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) đang vào cuộc điều tra vụ anh Phan Công Tráng (SN 1978, trú tại xóm 10, xã Hương Lâm, Hương Khê), nhân viên Trạm Bảo vệ rừng Mục Bài (Công ty TNHH MTV Chúc A) bị một đối tượng chặn đường, chém nhiều nhát.
Theo lời kể của anh Phan Công Tráng, tối 3/8/2017, anh điều khiển xe máy chở mẹ, cùng 2 con gái ra ga Hương Phố (ở tổ dân phố 12, thị trấn Hương Khê) để lên tàu đi Hà Nội.
Trên đường trở về, đến gần khu vực nhà thờ Tràng Lưu (thuộc xóm Thái Thượng, xã Lộc Yên), anh Tráng bị Nguyễn Kim C. (SN 1973, trú tại tổ dân phố 6, thị trấn Hương Khê) điều khiển xe máy vượt lên phía trước chặn lại rồi dùng con dao Thái Lan đâm, chém nhiều nhát vào người. Anh chỉ kịp để xe lại, bỏ chạy vào một quán bên đường để cầu cứu.
Do vết thương nặng, đến khoảng 22h30’ cùng ngày, anh Phan Công Tráng được người dân đưa đi cấp cứu tại BVĐK huyện Hương Khê trong tình trạng sức khỏe yếu, nhiều vết thương trên người.
Bác sỹ Trần Đình Phi – Khoa ngoại BVĐK huyện Hương Khê cho biết, bệnh nhân Tráng vào viện trong tình trạng đa vết thương, trong đó cẳng tay phải có vết thương vòng cung dài khoảng 12cm, bờ sắc gọn; ngón tay 3, 4 bàn tay phải có vết thương dài khoảng 1,5cm; trên cẳng tay trái có vết thương dài khoảng 7cm.
Anh Trần Văn Mạnh – Trạm trưởng Trạm Bảo vệ rừng Mục Bài cho biết “Sau khi sự việc xảy ra, chúng tôi đã trình báo cơ quan và chính quyền địa phương. Công an huyện Hương Khê cũng đã vào cuộc điều tra làm rõ.”
Hiện, Công an huyện Hương Khê đã triệu tập đối tượng Nguyễn Kim C. để lấy lời khai, điều tra làm rõ động cơ, mục đích việc gây thương tích đối với anh Phan Công Tráng. (Báo Hà Tĩnh 5/8) đầu trang(
Đổi mới phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc động vật với mục tiêu chính là nâng cao tiêu chuẩn phúc lợi động vật, là nội dung của hội thảo chuyên đề “Làm phong phú chuồng trại – tập huấn phúc lợi động vật năm 2017” diễn ra trong hai ngày 3 và 4/8, tại Công viên Văn hóa Đầm Sen, TP HCM.
Hội thảo do Công viên Văn hóa Đầm Sen phối hợp với Hiệp hội Vườn thú Việt Nam tổ chức, với sự tham gia của các chuyên gia giàu kinh nghiệm đến từ thế giới và Việt Nam.
Hội thảo đã tiếp cận và thảo luận một cách đầy đủ, cụ thể về thực trạng của vườn thú tại Việt Nam. Đánh giá đi sát với thực tiễn về những điểm mạnh, những hạn chế của Vườn thú Đầm Sen, từ đó xây dựng tiêu chuẩn phúc lợi động vật phù hợp cho Vườn thú Đầm Sen và các vườn thú khác.
Theo nhận định của các chuyên gia, hiện nay nhiều loài động vật nuôi nhốt tại Thảo cầm viên Sài Gòn và nhiều vườn thú khác vẫn chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn về điều kiện chuồng trại, không gian xung quanh.
TS Phan Việt Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Vườn thú Đông Nam Á nhận định, thú hoang dã quen sống trong rừng với môi trường tự nhiên, nếu thuần chủng, chúng bị nhốt trong tường kín sẽ rất khó thích nghi.
Đối với các loài khỉ, vượn càng không thể lắp hàng rào quanh bốn bức tường, vì không thể thay thế được cây xanh bao bọc và các yếu tố tự nhiên khác.
Việc nắm bắt được tập tính, môi trường sống đặc thù của từng loài động vật hoang dã, đóng vai trò quan trọng để xây dựng cho động vật nuôi nhốt tại các vườn thú một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên.
Sau hội thảo, ban tổ chức sẽ xây dựng một quy trình chuẩn về chăm sóc và bảo tồn động vật, chính sách phúc lợi động vật để hoàn thiện hơn hoạt động của các vườn thú, thí điểm tại Vườn thú Đầm Sen. Hướng đến mục tiêu phấn đấu cho Vườn thú Đầm Sen trở thành thành viên đạt chuẩn của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. (Petrotimes 4/8) đầu trang(
Trước thực trạng số lượng voi rừng đang suy giảm nghiêm trọng, Việt Nam đặt mục tiêu bảo tồn, phát triển bền vững những quần thể voi hoang dã ở 3 khu vực. Nghệ An là 1 trong 3 tỉnh có đề án bảo tồn voi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhưng đến nay, việc thực hiện gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề di chuyển những cá thể voi đơn lẻ.
Những năm 2010 - 2011, chỉ trong vòng 19 tháng, hơn 10 con voi hoang dã được phát hiện bị bắn chết tại các tỉnh Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai. Số lượng voi ở Việt Nam, kể cả voi nhà lẫn voi trong tự nhiên đang đối mặt với nguy cơ bị tận diệt. Tình trạng khẩn cấp đến mức, ông Scott Roberton - Giám đốc quốc gia tại Việt Nam của Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã, vào thời điểm đó đã phải đưa ra cảnh báo “với mức độ giết hại như thế này, loài voi sẽ tuyệt chủng ở Việt Nam trong vòng 10 năm tới”.
Trước thực trạng đó, tháng 5/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013 - 2020 với tổng nguồn vốn đầu tư hơn 280 tỷ đồng. Trong đó, Nghệ An là 1 trong 3 vùng được ưu tiên bảo tồn và phát triển bền vững quần thể voi hoang dã. Đề án này với mục tiêu tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn hành vi săn bắn, xâm hại voi cũng như xâm lấn trái phép vào vùng quy hoạch bảo tồn voi; ngăn chặn xung đột voi và người, bảo vệ môi trường sống và hành lang di chuyển của voi trong tự nhiên…
Trong đề án này, một trong những nhiệm vụ khẩn cấp là lập dự án và tổ chức thực hiện di chuyển, tái nhập đàn đối với những cá thể đơn lẻ. Tuy nhiên, đến nay, các cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra giải pháp hiệu quả để di chuyển voi.
“Đối với những đàn voi này thì hoàn toàn không có khả năng phát triển nữa, và thời gian tới rồi chúng sẽ chết. Trong khi đó, việc di chuyển lại gặp quá nhiều khó khăn”, ông Trần Xuân Cường - Giám đốc Vườn Quốc gia Pù Mát chia sẻ. Tại Nghệ An, có 6 đàn voi thì có đến 4 đàn với chỉ một cá thể sinh sống độc lập; trong đó có 2 con voi cái thường xảy ra xung đột với con người.
Một ngày đầu tháng 8/2016, chị Lương Thị Hoa (xã Châu Khê, Con Cuông) hốt hoảng khi phát hiện đàn trâu của gia đình vẫn thường thả rông ở khu vực bìa rừng, bị thiếu mất con trâu đực. Người phụ nữ này lập tức kêu gọi dân làng tìm kiếm. Vào sâu trong rừng, người dân phát hiện con trâu này đang đứng cạnh một con voi cái to lớn.
“Nó giữ con trâu lại đó, không cho đi đâu. Nhiều người đến gần chụp ảnh, nó cũng không có dấu hiệu lo sợ, mấy tiếng sau nó mới chịu rời đi để chị Hoa đưa trâu về nhà”, một người dân tham gia cuộc tìm kiếm kể. Đây là con voi cái sống đơn độc hơn 20 năm nay ở trung tâm của vườn. Trước đây, đàn voi này có ít nhất một cặp, nhưng năm 1996, con voi đực đã bị sát hại.
“Qua quan sát ở bên hốc tai, chúng tôi biết con voi này vẫn còn đang ở độ tuổi sinh sản. Vào mùa động dục, không có con đực, nó trở nên hung dữ hơn. Mỗi lần như vậy, nó thường ra khỏi rừng tìm đến những đàn trâu của người dân. Đặc biệt là những con trâu đực to lớn” - ông Cường cho hay.
Vườn Quốc gia Pù Mát cũng đã tính đến phương án sáp nhập con voi đơn lẻ này với 2 đàn cùng sống trong vườn. Tuy nhiên, quãng đường từ khu vực này đến đàn voi ở Tây Bắc Pù Mát mất 2 ngày đường, qua rất nhiều sông suối, nên điều này dường như không thể. Trong khi đó, để con voi cái này đến được với đàn voi 6 con ở phía Đông Nam khu vườn cũng bị ngăn cản bởi sông Giăng.
Cùng cảnh ngộ đơn độc là con voi cái hung dữ ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống thường về quấy phá các bản làng thuộc xã Bắc Sơn (Quỳ Hợp). Ông Lương Văn Kình - Bí thư Đảng ủy xã Bắc Sơn cho hay, trước đây đàn voi này có đến vài chục con. “Đến những năm đầu thập niên 90, đàn này vẫn còn 6 đến 7 con. Nhưng sau đó có thể bị sát hại hoặc bỏ đi đâu mất, chỉ còn một con này sinh sống”, ông Kình nói thêm.
Sống cô độc suốt nhiều năm, dường như đánh hơi được sự tồn tại của những đàn voi ở bên kia Pù Mát, con voi cái được ghi nhận nhiều lần vượt quãng rừng xa để tìm kiếm đồng loại. Tuy nhiên, khi đến khu vực huyện Anh Sơn, nó bị ngăn lại bởi dòng sông Lam. Lần theo dấu chân, lực lượng kiểm lâm ghi nhận, mỗi lần con voi cái ở Quỳ Hợp và con voi ở Trung tâm Pù Mát di chuyển đến sông Giăng và sông Lam tìm kiếm đồng loại, đàn voi 6 con ở Đông Nam Pù Mát cũng có xu hướng tới khu vực này. Tuy nhiên, dòng sông sâu đã ngăn cản chúng sáp nhập.
Theo ông Trần Xuân Cường, giải pháp để di chuyển voi đơn lẻ thông thường dùng đến thuốc mê, tuy nhiên đối với địa hình Việt Nam, dùng cách này không phù hợp. “Hiện nay có 2 loại thuốc mê đó là loại tác dụng nhanh và chậm. Loại tác dụng nhanh bắn xong voi bị mê lập tức, như vậy sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe voi. Đặc biệt ở địa hình núi dốc, biết đâu bắn xong nó gục ngã rồi rơi xuống vực hoặc lăn xuống dốc mà chết. Loại thứ 2 có tác dụng sau khoảng 25 phút. Nếu dùng loại này, sau khi bắn xong, voi sẽ hoảng loạn mà chạy vào rừng sâu. Như vậy, những người bắn sẽ khó mà đuổi theo kịp để biết nó sẽ bị hạ gục ở vị trí nào. Có khi tìm cả ngày không thấy, mà thấy rồi cũng phải phá rừng làm đường để đưa nó đi. Rất là tốn kém. Chưa kể, trên đường bỏ chạy sau khi bị bắn thuốc, con voi có thể gặp nguy hiểm”, ông Cường cho biết.
Vào mùa động dục, voi dễ dàng được ghép đôi. Tuy nhiên, những ngày khác trong năm, chúng lại thường có xu hướng xung đột với voi lạ. Điều này cũng là một trong những trăn trở của các chuyên gia bảo tồn động vật hoang dã khi đề cập đến vấn đề sáp nhập đàn voi. Chưa kể, voi cũng sẽ bị chết nếu sinh cảnh mới không phù hợp. Trên thực tế, ở Việt Nam cũng đã hai lần thất bại khi di chuyển voi. Đó là khi đàn voi ở Tánh Linh (Bình Thuận), và Bình Châu - Phước Bửu (Bà Rịa - Vũng Tàu), được di chuyển lên Đắk Lắk. Chúng sau đó nhanh chóng bị chết vì nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu do mất sức và môi trường sống không hợp.
Mặc dù được đánh giá có đầy đủ điều kiện để phát triển số lượng voi, tuy nhiên từ khi được quy hoạch nằm trong 3 vùng ưu tiên để bảo tồn voi đến nay, cá thể voi ở Nghệ An vẫn chưa được tăng lên. Lần cuối cùng cơ quan chức năng ghi nhận voi sinh đẻ đã cách đây 7 năm, ở phía Đông Nam Pù Mát. Tuy nhiên, sau khi con voi đực đầu đàn bị sát hại cùng thời điểm với voi con ra đời, đàn voi này vẫn giữ ở mức 6 con cho đến nay.
“Mặc dù trong đàn vẫn còn 2 con đực sắp trưởng thành nhưng đối với loài voi, nó rất kỵ chuyện giao phối cận huyết. Chúng tôi đang muốn sáp nhập con voi cái ở Quỳ Hợp và con ở trung tâm Pù Mát với đàn này bằng cách dẫn dụ chúng đến những đoạn nước cạn để vượt sông Giăng và sông Lam. Tuy vậy, công việc này chắc chắn rất khó khăn và tốn kém” - Giám đốc Vườn Quốc gia Pù Mát, kiêm Phó ban Quản lý Dự án bảo tồn voi Nghệ An nói.
Việt Nam đã từng “thua” trong “cuộc chiến” bảo vệ loài tê giác một sừng. Khi ngày 29/4/2010, xác con tê giác cuối cùng được tìm thấy. Nó bị những kẻ săn trộm bắn hạ tại Vườn Quốc gia Cát Tiên để lấy sừng. Đó là một tin buồn đối với ngành Bảo tồn học Việt Nam, khi chỉ cách đó khoảng 20 năm, tại vườn quốc gia này vẫn còn khoảng 15 con tê giác sinh sống. Những vết đạn đã làm mất vĩnh viễn một phần di sản của thiên nhiên, một biểu trưng của giá trị đa dạng sinh học tại Việt Nam. Vì vậy, có lẽ đã đến lúc các cơ quan ban, ngành và cả cộng đồng cần phải chung tay bảo vệ những loài động vật đang đứng trước bờ vực tuyệt chủng tại Việt Nam. Và voi - một loài vật gắn liền với văn hóa, nhiều chiến tích trong lịch sử dân tộc cũng đang trong tình cảnh đó.
Để bảo tồn và giảm xung đột giữa người và voi trên địa bàn, cơ quan chức năng ở Nghệ An đã đưa ra một số giải pháp, trong đó gồm, thành lập các đội phản ứng nhanh ở các địa phương thường xuyên có voi xuất hiện để hỗ trợ người dân khi xảy ra xung đột; hỗ trợ về thiệt hại kinh tế do voi gây ra cho người dân; tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức về bảo tồn voi và cách tránh xung đột với voi; bảo vệ các vùng sinh cảnh sống lâu dài cho các đàn voi; xây dựng các mô hình phát triển kinh tế kết hợp phòng tránh xung đột voi và người như nuôi ong, trồng mây; đề xuất với Tổng cục Lâm nghiệp tìm giải pháp di chuyển những con voi đơn lẻ đến địa điểm mới...(Báo Nghệ An 6/8) đầu trang(
Gia đình ông Trần Văn Thể vừa ăn cơm trưa xong thì bất ngờ phát hiện một con rùa có mai màu đen, với trọng lượng khoảng 7,5kg đang bò vào nhà.
Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 5-8, trong khi gia đình ông Trần Văn Thể (75 tuổi, trú tại khối 15, thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) vừa dùng xong bữa cơm trưa thì bất ngờ phát hiện có 1 cá thể rùa khỏe mạnh, có mai màu đen, với trọng lượng khoảng 7,5kg đang bò vào nhà mình.
Do nhận định con rùa này là động vật hoang dã quý hiếm, nên gia đình ông Thể đã nhanh chóng trình báo lên chính quyền địa phương đến xác nhận, đồng thời tiến hành chăm sóc, tắm rửa sạch sẽ cho rùa.
Ngay sau đó, gia đình ông Thể đã quyết định mang con rùa này ra khu vực lòng hồ Bàu Ngãi ở địa bàn thị trấn Phố Châu để thả về lại môi trường tự nhiên trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và đông đảo người dân.
Nhiều người dân ở địa bàn thị trấn Phố Châu cho biết, hành động thả rùa về lại môi trường sống tự nhiên của gia đình ông Trần Văn Thể là rất ý nghĩa, đáng trân quý, đồng thời qua đó góp phần nhỏ vào việc giữ gìn và bảo vệ động vật hoang dã. (Sài Gòn Giải Phóng 5/8) đầu trang(
Lâm tặc ngang nhiên đưa xe và cưa máy vào “xẻ thịt” rừng phòng hộ Buôn Đôn. Những điểm tập kết gỗ nằm sát QL29, lâm tặc hoành hành khai thác gỗ cách Trạm Quản lý bảo vệ rừng không xa, nhưng cơ quan chức năng không hay biết.
Một ngày đầu tháng 8, trong vai người dân bản địa vào rừng hái măng, PV “đột nhập” rừng phòng hộ Buôn Đôn (thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk). Từ trung tâm xã Ea Kiết (huyện Cư M’gar), PV đi lên QL29 về hướng tỉnh lộ 1 (huyện Buôn Đôn), di chuyển trên QL29 được khoảng 15km, dấu hiệu rừng phòng hộ Buôn Đôn đang bị “xẻ thịt” bắt đầu hiện ra. Nằm ngay bên vệ đường (tại cột móc Km221, QL29) cây bằng lăng có kích cỡ một người ôm không xuể vừa bị đốn hạ, phần thân đã được cắt gọn dài 4m, chưa được lấy đi, cành lá ngổn ngang.
Tiếp tục di chuyển về hướng tỉnh lộ 1, hai bên đường, những cây gỗ dầu đường kính từ 10 - 15cm bị đốn hạ, dấu vết cày xới, kéo gỗ của xe công nông để lại rõ rệt. Nhóm PV giấu xe vào bụi cây rồi lội bộ men theo con đường mòn dẫn vào rừng. Tại tiểu khu 454, cách QL29 khoảng 300m, PV bắt gặp 2 cây gỗ đường kính khoảng 50cm vừa bị cưa hạ, phần thân đã được lâm tặc cắt khúc đoạn khoảng 3m, xẻ hộp và lấy đi. Rời vị trí trên, đi về hướng đỉnh núi, một cây gỗ khác to cỡ 2 người ôm cũng vừa bị “xẻ thịt”, phần gốc đang còn ứa nhựa, phần thân đương nhiên đã biến mất.
Rời tiểu khu 454, PV băng qua QL29, tự mở đường để vào tiểu khu 453. Tại tiểu khu này, dấu hiệu "xẻ thịt" rừng phòng hộ càng rõ rết, cảnh tượng hoang tàn hơn. Những gốc cây 2 - 3 người ôm đã cũ, bên cạnh là những cây gỗ đường kính nhỏ hơn, dấu cưa để lại sắc lẹm, phần thân đã được xẻ phách mang đi, cành lá vừa kịp héo. Những dấu tích để lại khẳng định chắc nịch, rừng phòng hộ Buôn Đôn bị xẻ thịt trong suốt một thời gian dài.
Rời tiểu khu 453, chúng tôi quay ngược ra QL29 về hướng xã Ea Kiết, tại Km227, PV rẽ phải theo lối mòn cỏ mọc um tùm đi sâu vào rừng. Di chuyển khoảng 200m từ QL29 vào, trước mặt PV là một bãi tập kết gỗ tròn vừa mới bị “xẻ thịt”, có chiều dài từ 3-4m, nhiều cây gỗ rất to, một người ôm không xuể. Khoảng 15h, từ bãi tập kết gỗ, tiếng cưa máy rít lên liên hồi trên đỉnh núi hướng về Trạm bảo vệ rừng số 4. Chúng tôi quay ra QL29, lần theo hướng tiếng cưa máy đang gầm rú. Trước mặt chúng tôi là tiểu khu 436. Càng tiến sâu, hàng loạt cây gỗ đường kính khoảng 20cm vừa bị cưa hạ đổ ngổn ngang, lá vẫn tươi rói. Tiếp đó là 2 bãi gỗ được cắt vuông vắn đang chờ bốc đi. Lúc này, PV áp sát vị trí lâm tặc đang hoành hành, ống kính ghi nhận nhóm lâm tặc có 4 người, một xe cày và cưa máy đang hoạt động hết công suất. Tiếng gỗ đổ ầm ầm, phần thân nhanh chóng được cắt gọn rồi được 3 người còn lại cẩu lên xe.
Khoảng 17h30, trời bắt đầu sập tối, nhóm lâm tặc cho xe rời khỏi rừng. Chiếc xe cày chở đầy gỗ ì ạch bò ra hướng QL29. Thấy hai bãi gỗ tập kết, tài xế dừng lại chờ bốc nhưng ba người đi phía sau hô lớn: “Đi đi... Ngày mai mở đường rồi vào bốc”. Sau đó, xe tiến về hướng QL29 rồi tập kết gỗ ngay bên đường (cách QL29 khoảng 3m), còn nhóm lâm tặc mất hút về hướng xã Ea Kiết.
Điều đáng ngạc nhiên, trong suốt thời gian PV ghi nhận, những cánh rừng phòng hộ Buôn Đôn bị lâm tặc ngang nhiên “xẻ thịt”, những vị trí khai thác và tập kết gỗ nằm rất gần Trạm Quản lý bảo vệ rừng số 4 (thuộc Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Buôn Đôn) nhưng trạm này “cửa đóng then cài”.
Trước những hình ảnh ghi nhận được, ngày 4/8, PV Báo Giao thông đã có cuộc làm việc với ông Lê Danh Khởi, Giám đốc Ban Quản lý bảo vệ rừng Buôn Đôn. Ông Khởi cho biết: “Rừng do đơn vị quản lý nằm giáp với huyện Cư M’gar, huyện Ea Súp và Buôn Đôn. Nhu cầu về gỗ của nhân dân 3 huyện này rất lớn nên có những áp lực không nhỏ tác động đến lâm phần và không tránh khỏi việc phá rừng. Nếu có thông tin này (khai thác gỗ mà PV cung cấp), tôi sẽ cho kiểm tra lại. Các trạm quản lý bảo vệ rừng thường xuyên có người trực 24/24h, một trạm quản lý 2.000ha nhưng do lực lượng quá mỏng nên rất khó khăn vì lâm tặc rất manh động”.
Khoảng 10h sáng cùng ngày, PV đã liên hệ với Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn để phản ánh. Tuy nhiên, có mặt tại cơ quan, nhóm PV được trực ban cho biết, tất cả các lãnh đạo của đơn vị đều bận, người đi họp, người đi công tác. Tiếp đó, PV đã liên hệ nhiều lần qua số điện thoại và nhắn tin đăng ký nội dung làm việc với ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn nhưng đều bất thành. (Giao Thông 7/8) đầu trang(
Do vi phạm luật đất đai nên UBND tỉnh Đắk Lắk đã quyết định thu hồi gần 1.200ha đất tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan (huyện Ea Súp, Đắk Lắk) thuộc Dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng của Cty TNHH Anh Quốc giao cho chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, từ sau khi được giao, chính quyền địa phương đã buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại tiểu khu này diễn ra ồ ạt.
Theo thông tin của người dân, ngày 2/8/2017, PV đã có chuyến xâm nhập vào các khu rừng tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan để ghi nhận tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất rừng diễn ra ở đây.
Từ khu vực ngã ba xã Cư M’lan (giao nhau giữa quốc lộ 29 và tỉnh lộ 1) chúng tôi đi theo hướng quốc lộ 29 để vào tiểu khu 293. Suốt dọc đường đi đập vào mắt chúng tôi là những cánh rừng đã bị “cạo trọc”, nhiều cây gỗ bị cắt hạ một cách không thường tiếc, nằm ngổn ngang trong rừng. Không những thế, gần khu vực quốc lộ 29, PV ghi nhận có nhiều con đường mòn dẫn vào rừng, tại đây có hàng chục bãi tập kết gỗ chủ yếu là dầu đỏ, bằng lăng đã được cắt ngắn khoảng 1 mét có đường kính từ 15-35cm được chất thành đống đợi đến lượt được vận chuyển ra ngoài. Đặc biệt, có nhiều cây bị chặt hạ vẫn đang còn rỉ nhựa, cành lá vẫn còn xanh tươi.
Sau khi ghi nhận tại hiện trường, PV đem vấn đề tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trao đổi với các đơn vị chức năng huyện Ea Súp. Có mặt tại hiện trường, ông Bùi Xuân Long - Cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Cư M’lan cho biết, đơn vị sẽ báo cáo lên Hạt kiểm lâm huyện để cử lực lượng cẩu gỗ về Hạt lập biên bản xử lí, xác minh đối tượng vi phạm. Tuy nhiên, theo ông Long, do địa bàn rộng, lực lượng mỏng nên khó khăn trong quá trình quản lý, bảo vệ rừng.
Không chỉ dừng lại ở cảnh hoang tàn, cây bị đốn hạ mà ngay giữa lòng tiểu khu 293 lúc này còn xuất hiện hàng loạt lán trại, nhà dân dựng lên. Cùng với đó, những nương ngô, rẫy mì chuẩn bị đến kì thu hoạch chiếm lĩnh trên hàng loạt quả đồi. Khi được hỏi, một người dân sinh sống tại đây cho hay, gia đình bà đã sinh sống và canh tác ở đây trong một thời gian dài nhưng không có ai ngăn cấm.
Ngày 23/2/2017, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định số 404/QĐ-UBND, về việc thu hồi 1.165,2ha đất tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk thuộc Dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH Anh Quốc do vi phạm luật đất đai. Sau đó, UBND tỉnh đã giao lại toàn bộ số đất trên cho UBND huyện Ea Súp quản lý theo quy định.
Đồng thời, quyết định cũng yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với số đất mà Công ty TNHH Anh Quốc được cấp. Theo đó, Công ty Anh Quốc phải có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản… mà công ty đã đầu tư trên đất bị thu hồi. Bên cạnh đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ chấm dứt hoạt động dự án của công ty.
Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) chủ trì, phối hợp với Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), UBND huyện Ea Súp và các đơn vị liên quan tổ chức thu hồi và bàn giao ngoài thực địa. Sở NN&PTNT có trách nhiệm hướng dẫn UBND huyện tăng cường công tác quản lí, bảo vệ rừng. Đồng thời, UBND huyện phải chỉ đạo UBND xã Cư M’lan thường xuyên kiểm tra, không để tình trạng lấn chiếm đất rừng xảy ra. Nếu có phải kịp thời xử lý và báo cáo cho cấp có thẩm quyền xử lý.
Đến ngày 24/4/2017, UBND huyện Ea Súp đã ra quyết định số 1428/QĐ-UBND bàn giao lại số đất đã thu hồi của công ty Anh Quốc cho UBND xã Cư M’lan chịu trách nhiệm quản lý.
Quyết định nêu rõ: “UBND xã Cư M’lan chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ quỹ đất được giao, không để tình trạng lấn chiếm xảy ra; xử lý nghiêm các trường hợp đã lấn chiếm, chuyển nhượng đất trái phép theo quy định; xây dựng kế hoạch bố trí sử dụng quỹ đất theo quy định và quy định của pháp luật”.
Theo một người dân cho biết, từ sau khi nghe tin nhà nước thu hồi đất của Công ty TNHH Anh Quốc để chuẩn bị làm dự án thì rất nhiều người dân bắt đầu ồ ạt kéo vào phá rừng để lấn chiếm đất.
“Mỗi ngày có hàng chục người dân mang cưa lốc vào cưa ngày, cưa đêm khiến cây cối trong rừng nằm ngổn ngang. Không những vậy, họ còn đưa cả máy múc vào múc mương để phân chia đất”, một người dân nói.
Trao đổi với chúng tôi, ông Võ Đình Dũng - Cán bộ phụ trách Nông lâm nghiệp xã Cư M’lan cho biết, sau khi UBND tỉnh có quyết định thu hồi đất của Công ty Anh Quốc thì xã được bàn giao quản lý, nhưng chỉ là trên giấy tờ. Chính vì vậy, ông mong muốn tỉnh cho đánh giá lại hiện trạng diện tích rừng mà Công ty TNHH Anh Quốc để mất bao nhiêu, diện tích mà người dân lấn chiếm là bao nhiêu trước khi bàn giao lại cho xã.
“Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng chỉ xảy ra vào thời gian trước đây, thời gian lúc giao và nhận. Theo đó, đơn vị đã cho lực lượng đi kiểm đếm và báo cáo lên UBND huyện. Trong những ngày gần đây, trên địa bàn không còn xảy ra tình trạng này”, Ông Dũng cũng khẳng định.
Tuy nhiên khi chúng tôi cung cấp về tình trạng phá rừng ồ ạt tại tiểu khu 293, với những dấu vết còn mới, ông Dũng lại phân bua do xã không có lực lượng chuyên trách bảo vệ từng tiểu khu nên không thể ngày ngày giám sát được. (Công Lý 5/8) đầu trang(
Sau gần 12 tháng kể từ ngày TAND TP Đà Nẵng tuyên trả hồ sơ vụ án cho cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT), điều tra bổ sung, ngày 2/8/2017, TAND TP Đà Nẵng đã đưa ra xét xử công khai sơ thẩm lần thứ 3 vụ án buôn lậu gỗ trắc xảy ra ở tỉnh Quảng Trị. Một số tình tiết mới của vụ án được hé lộ,
Theo bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) do ông Nguyễn Duy Giang, Kiểm sát viên VKSNDTC - Vụ trưởng ký ngày 25/1/2016, truy tố hai vợ chồng ông Trương Huy Liệu, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng (Công ty Ngọc Hưng - có trụ sở tại tỉnh Quảng Trị) và bà Trần Thị Dung (vợ ông Liệu), Giám đốc Công ty Ngọc Hưng về tội “buôn lậu”; các bị cáo Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành ( nguyên cán bộ Chi cục hải quan cửa khẩu Cửa Việt - Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị) và Đỗ Danh Thắng (nguyên Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng - Cục Hải quan TP Đà Nẵng) bị truy tố tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”…
Theo cáo trạng, Công ty Ngọc Hưng nhận lô gỗ chở trong 13 xe từ Lào tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị). Sau khi làm thủ tục khai báo hải quan và đóng thuế, Công ty tiếp tục vận chuyển lô gỗ trắc hơn 530 m3 này về cảng Cửa Việt làm thủ tục tái xuất sang Hồng Kông (Trung Quốc)
Hai ngày sau, Công ty Ngọc Hưng xếp lô gỗ này vào 22 container đưa vào cảng Đà Nẵng để xếp xuống tàu chờ thủ tục xuất cảng. Tại đây, toàn bộ lô gỗ bị Cục điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) thu giữ.
Sau đó, Cục điều tra chống buôn lậu khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Bộ Công an. Bản thân ông Liệu bị khởi tố và bị cơ quan CSĐT bắt tạm giam về hành vi “buôn lậu”. Hơn 1 năm bị bắt giam, ông Liệu mới được cho tại ngoại.
Cáo trạng đã viện dẫn, “ông Trương Huy Liệu chỉ đạo nhân viên Công ty Ngọc Hưng làm giả hồ sơ, tài liệu, sau đó sử dụng bộ hồ sơ này để nhập khẩu, xuất khẩu 614,672 m3 gỗ không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định của pháp luật, trị giá 63.619.706.500 đồng”.
Bà Dung “có hành vi góp sức cho Trương Huy Liệu” nên cũng bị khởi tố cùng chồng về hành vi trên.
Riêng các bị cáo khác như ông Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành được giao nhiệm vụ kiểm hoá lô hàng xuất khẩu “đã không làm đầy đủ trách nhiệm được giao”; ông Đỗ Danh Thắng cũng “không làm hết trách nhiệm” và bị truy cứu trách nhiệm hình sự…
Vụ án đã kéo dài hơn 6 năm, được đưa ra xét xử sơ thẩm 2 lần trước đó. Cả 2 lần TAND TP Đà Nẵng đều tuyên trả hồ sơ để cơ quan CSĐT bổ sung vì nhiều tình tiết của vụ án chưa được làm sáng tỏ.
Tại phiên tòa sơ thẩm lần này, các bị cáo bác bỏ toàn bộ cáo trạng và cho rằng cơ quan ban hành cáo trạng đã làm trái pháp luật. Các bị cáo Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành và Đỗ Danh Thắng đều kêu oan và cho rằng mình đã làm tròn trách nhiệm bổn phận của công chức, viên chức ngành hải quan.
Bị cáo Đỗ Lý Nhi nói: “Tôi đã làm đúng, làm tròn nhiệm vụ do cấp trên giao. Chính những người buộc tội cho tôi mới làm trái pháp luật”. Bị cáo cũng cho rằng việc kiểm hóa lô hàng mà bị cáo và bị cáo Thành thực hiện đã làm đúng quy trình. “Chúng tôi chỉ kiểm hóa ngẫu nhiên 5% tổng số gỗ của lô hàng. Nếu kiểm hóa dưới tỷ lệ 5% là trái quy định. Còn kiểm hóa trên 5% là vi phạm vào việc hành doanh nghiệp”, bị cáo Nhi khai thêm.
Căn cứ của cơ quan CSĐT và VKSNDTC để kết tội các bị cáo phạm tội “buôn lậu” là giả mạo hồ sơ để nhập, xuất lô gỗ hơn 530 m3 của Công ty Ngọc Hưng.
Chính vì lẽ này, ở phần xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân Thành cho rằng nếu hành vi làm thủ tục cho doanh nghiệp xuất lô hàng này bị truy tố về tội “thiếu trách nhiệm…” thì tại sao các cơ quan pháp luật không truy tố hành vi của cán bộ hải quan Chi cục cửa khẩu Lao Bảo, nơi làm thủ tục cho lô gỗ nhập về Việt Nam.
“Giả sử việc truy tố chúng tôi là đúng thì việc không khởi tố hành vi làm thủ tục nhập lô hàng về Việt Nam ở cửa khẩu Lao Bảo là không công bằng. Như vậy là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm”, Bị cáo Thành trình bày quan điểm.
Cũng như các bị cáo khác, bị cáo Đỗ Danh Thắng đã mở đầu bằng phản biện có nhiều sai sót ngay trong cáo trạng của VKSNDTC.
Bị cáo cũng cho rằng đã làm hết trách nhiệm của mình trong việc chỉ đạo kiểm tra lô hàng gỗ xuất khẩu của Công ty Ngọc Hưng.
“Theo quy định, nếu ở Chi cục chúng tôi có phát hiện vi phạm trong việc làm thủ tục xuất lô gỗ này thì chúng tôi sẽ chuyển hồ sơ và hàng hóa trả lại cho Chi cục hải quan cửa khẩu Cửa Việt xử lý theo thẩm quyền”, bị cáo Thắng nói.
Tuy nhiên, theo bị cáo Thắng, trong quá trình kiểm tra lô hàng, đã không phát hiện vi phạm gì lớn hoặc có tính nghiêm trọng mà chỉ những vi phạm mang tính thủ tục hành chính đơn giản.
Vì vậy ông đã nhiều lần có công văn gửi lên cơ Cục hải quan TP Đà Nẵng, Cục điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) để báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo.
Việc xin ý kiến không được phúc đáp mà ông còn bị cấp trên chỉ đạo gia hạn tạm giữ đối với toàn bộ lô gỗ của Công ty Ngọc Hưng. Mặc dù việc gia hạn tạm giữ là trái với quy định.
Trả lời Hội đồng xét xử, bị cáo Thắng cho rằng những vi phạm về lô gỗ của Công ty Ngọc Hưng chỉ dừng lại ở mức độ xử lý hành chính chưa đủ yếu tố để khởi tố hình sự.
“Nếu có dấu hiệu để khởi tố hình sự thì ngay Chi cục cũng đã có thẩm quyền này chứ không việc gì mà Cục điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) phải nhảy vào khởi tố. Việc này thật khó hiểu”, bị cáo Thắng nói.
Cũng qua phần xét hỏi, bị cáo Thắng đã cho biết, sau khi vụ việc xảy ra, Cục điều tra chống buôn lậu đã mời 5 người trong Hội đồng khám xét khối lượng, chủng loại của lô gỗ ra Hà Nội để “xem xét lại kết quả khám xét”. Tuy nhiên, bị cáo Thắng và những người tham gia đã không đồng ý.
Cũng tại phiên tòa, các bị cáo Trương Huy Liệu, Trần Thị Dung đều cho rằng đã bị truy tố oan sai.
“Lần trước cơ quan điều tra và truy tố đã cho rằng lô gỗ là hàng lậu để kết tội nhưng không đủ chứng cứ. Nay lại chuyển hướng sang quy kết chúng tôi làm giả hồ sơ nhập xuất hàng để kết tội. Công ty chúng tôi đã có hợp đồng kinh tế, mở tớ khai hải quan đúng với khối lượng, chủng loại hàng hóa và nộp thuế đày đủ cho nhà nước theo quy định. Vậy thì chúng tôi làm giả ở đâu. Tại sao đẩy chúng tôi vào oan sai như vậy”, bị cáo Liệu kêu cứu. (Bizlive 4/8) đầu trang(
Di sản rừng của 'tiến sĩ Lý huỵnh' ở Quảng Bình
Cách động Phong Nha (Bố Trạch, Quảng Bình) khoảng 20km về phía nam, ngay bên đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Đông Sơn, xã Cự Nẫm có 50ha rừng trồng xanh ngút tầm mắt. Đó là rừng cây huỵnh do ông Ngô Văn Lý gầy dựng nên.
Câu chuyện “tiến sĩ Lý huỵnh” nghiên cứu và trồng thành công cây gỗ huỵnh đầu tiên trên cả nước lên báo Tuổi Trẻ cách nay đúng 14 năm (2003), để giờ đây bên đường Hồ Chí Minh có một rừng cây huỵnh, dẻ, sưa... bạt ngàn.
Bây giờ “tiến sĩ Lý huỵnh” đã mất, nhưng câu chuyện về ông vẫn lưu truyền trong những cánh rừng huỵnh ở huyện Bố Trạch bên đường Hồ Chí Minh.
Năm 2003, ông Ngô Văn Lý là một trong ba nông dân của cả nước được về Phan Thiết nhận giải thưởng môi trường quốc gia tổ chức ở đây.
Lúc đó mọi người biết đến một ông Lý nhân giống cây quý trồng nên rừng, không mấy ai biết rằng từ hàng chục năm trước đó ông lại là người mưu sinh bằng nghề sơn tràng - nghề chặt phá rừng.
Là nông dân và cũng là thương binh trở về từ chiến trường, nên ông Lý tự ngẫm: mình phá rừng, mọi người trong xã phá rừng, xã này phá rừng, xã nọ cũng phá rừng thì chắc chắn rừng chẳng mấy chốc mà sạch.
Sau này con cái lấy vợ lấy chồng liệu có còn gỗ mà chặt về làm nhà? Nhưng “đói thì đầu gối phải bò”, ông vẫn cứ phải vác rìu vào rừng. Cây rừng đổi cơm đổi gạo.
Rồi một lần đi rừng, ông thấy có những cây huỵnh con mọc thẳng rất đẹp. Đây là loại gỗ mà người dân quê mơ ước có được để làm nhà, đóng thuyền vì thân cây trưởng thành thẳng, to, cao lớn, chịu nước và mối mọt. Ông nhổ về trồng thử trong vườn nhà.
Sau hơn một tháng thì ông trồng được khoảng 300 cây huỵnh con. Khắp hàng rào, ngõ và đất đồi bên nhà chỗ nào trống là trồng.
Cây huỵnh lớn nhanh. Dưới tán cây ông thả dây tiêu. Tiêu sum sê trái. Cứ thế, 10 năm sau ông Lý đã có một vườn huỵnh - tiêu nổi tiếng trên vùng đất đồi khô cằn sỏi đá Cự Nẫm.
Người dân trong xóm Cồn Chay theo gương ông Lý trồng huỵnh. Nhưng cây giống con từ rừng rồi cũng hết. Ông Lý tìm cách nhân giống để bán cho người dân.
Ông nhặt hạt gieo thử nhưng không thành công, rồi chỉ chọn hạt của những cây đang sung mãn cũng không ăn thua.
Ông phơi hạt trong bóng râm. Khi hạt heo héo, ông ngâm nước tro cho nở trương lên rồi đem gieo. Hạt gieo nở cánh. Thế là ông có công nghệ gieo trồng, dù rất... nông dân. Và sản lượng tăng lên.
Dần dà, ông Lý cung cấp hàng tấn hạt và cây huỵnh giống cho Xí nghiệp Giống cây con miền Trung và người dân các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị, Đắk Lắk...
Có tiền từ cây huỵnh, ông Lý và năm người con trai - vốn cũng là thợ sơn tràng - liền đầu tư vào 50ha rừng ở vùng đồi Khương Sơn, Đông Sơn bên đường Hồ Chí Minh. Vùng cây huỵnh, dẻ, sưa, lát, táu ngày ấy trên đồi đá sỏi nay đã thành rừng.
Bây giờ trong những ngôi nhà khang trang ở vùng đồi Khương Sơn, Đông Sơn, mấy người con của ông Ngô Văn Lý vẫn chưa quên những ngày đầu gian nan.
Anh Ngô Thế Anh - con trai thứ ba của ông Lý - kể: “Ban đầu cực nhọc lắm. Mỗi khi vào rừng, anh em chúng tôi nghĩ: Trồng biết bao giờ cây lớn? Mà cây lớn lên thì người ta chặt hết, đâu đến lượt mình mà cứ đội nắng đội mưa thế này? Nghĩ vậy nhưng thấy ông mần thì phải mần theo”.
Cứ vậy, những người con ông nhọc nhằn lớn lên cùng vùng đất cằn cỗi nay xanh tươi. Trước lúc mất vài năm, ông Lý chia đều 50ha rừng ra cho con cái.
Các con ông cũng dời nhà ra rừng. Nay nhà đã thành mặt tiền bởi đường Hồ Chí Minh phóng qua, các con tiếp tục công việc của cha.
Anh Ngô Xuân Hoàng - con trai đầu của ông Lý - cho biết năm 2000 có một công ty ở Đồng Hới lên trả toàn bộ vườn rừng của mấy anh em đến 12 tỉ đồng để làm khu du lịch, nhưng các anh không vội bán.
“Bây giờ nếu bán tất cả phải được độ 40-50 tỉ đồng. Cách đây vài bữa cũng có doanh nghiệp ngoài Bắc vô trả giá riêng vạt cây sưa 1 tỉ đồng, nhưng tui cũng không bán” - anh Hoàng nói.
Sau lưng nhà anh Hoàng là khu đồi cây huỵnh, dẻ tươi tốt, mát rượi, có thể làm nơi nghỉ dưỡng mùa hè. Anh cho biết một cây huỵnh trồng 10-12 năm có thể bán được hơn 10 triệu đồng. Gỗ dùng làm nhà, đóng thuyền.
Rừng cây cho thu nhập quanh năm. Cây huỵnh bán gỗ. Cây dẻ bán củi cho các doanh nghiệp mua đốt than hoạt tính. Mỗi tấn củi tươi bán 1 triệu đồng. Mỗi 1ha dẻ tươi bán thu 200 triệu đồng.
Anh Thế Anh cho biết: “Sau khi đốn hạ dẻ thì làm vệ sinh rừng để trồng dặm cây keo lai, chờ cây dẻ phục hồi mầm trên gốc cũ. Khoảng 5 năm sau, cây keo đến kỳ khai thác thì lúc đó cây dẻ cũng bắt đầu khép tán. Năm năm sau nữa thì cây dẻ có thể khai thác được.
Nếu tính chu kỳ 10 năm khai thác một lần, gỗ và củi dẻ, keo lai cho mỗi hecta gần 500 triệu đồng. Bình quân mỗi hecta cho thu lợi 50 triệu đồng/năm”.
Bên đường Hồ Chí Minh, qua đoạn này sẽ thấy những tấm bảng rao bán hạt giống cây rừng như huỵnh, sưa... của mấy anh em Hoàng, Anh, Linh. Riêng gia đình anh Thế Anh đã bán khoảng 10 vạn cây huỵnh giống và sưa vào các tỉnh phía Nam.
Cây huỵnh của ông Lý không chỉ mọc ở vùng đất Quảng Bình gian khó, mà nay đã ngược Bắc xuôi Nam. (Tuổi Trẻ 5/8) đầu trang(
Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) thời gian dài vẫn được người dân nhắc nhớ đến những câu chuyện ly kỳ về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
Dù nghề săn bắt voi tại Buôn Đôn đã lui vào trong ký ức nhưng hiện công việc bảo tồn voi rừng, phát triển voi nhà vẫn được những thế hệ ngày nay tiếp tục gìn giữ và phát huy.
Có mặt tại Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk vào một chiều mưa rừng xối xả, khách vừa tháo vội balô nặng trĩu, hong khô đồ đạc, Vạc - tên thật Xi Xa Wát bưng vội mâm cơm chiều đạm bạc, xởi lởi: “Các anh đến đúng vào đúng giờ cơm chiều thì cùng dùng cơm với bọn em nhé! Ở chỗ bọn em chỉ toàn các anh em trẻ với nhau nên mọi người sống rất thoải mái và chẳng câu nệ gì”.
Những anh em tại trung tâm bảo tồn voi mà chúng tôi có dịp cùng dùng cơm đều có tuổi đời rất trẻ nhưng đều có nhiều năm kinh nghiệm chăm sóc, theo dõi voi. Vạc năm nay 21 tuổi - một nài voi nhỏ tuổi nhất Buôn Đôn, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống săn voi cừ khôi tại núi rừng Tây Nguyên.
Thuở còn nhỏ, Vạc hay rong ruổi dưới những tán rừng cùng cha là ông Y Siêng thuần dưỡng và học cách nài voi dữ. Lúc qua đời, ông Y Siêng tin tưởng và giao chú voi tên Thông Khăm cho Vạc chăm sóc đến nay. Sau này, khi voi Thông Khăm được đưa vào trung tâm bảo tồn để tiện chăm sóc, Vạc nộp đơn xin vào trung tâm làm việc.
Vạc cho biết, trong số bốn con voi đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo tồn voi thì Thông Khăm là con voi có tính tình hung dữ nhất. Cũng vì tính cách voi Thông Khăm rất đặc biệt nên em là một trong ít người tiếp xúc, chăm sóc nó.
Chúng tôi quan sát cách Vạc trò chuyện, ra hiệu để voi Thông Khăm nghe lời rất thành thạo. Theo lời Vạc, để trở thành một nài voi, người học không chỉ có sức khỏe tốt mà còn phải có tình yêu, sự đồng cảm đối với loài voi... Cuộc trò chuyện của chúng tôi lúc xế chiều tạm ngắt quãng khi Vạc đưa voi Thông Khăm vào rừng. Tại bãi đất trống, cậu bé sử dụng tiếng đồng bào ra hiệu cho voi. Ngay lập tức, chú voi Thông Khăm ngoan ngoãn quỳ gối để chủ leo phốc lên lưng.
Đoạn đường từ trung tâm vào rừng khá xa. Suốt quãng đường băng rừng, Vạc cho tôi biết, mọi động tác ra hiệu cho voi như dừng lại, quỳ xuống, quẹo phải, quẹo trái, bơi dưới nước… cậu bé phải rèn luyện cùng cha từ thuở nhỏ. Theo thời gian, người và voi trở nên quen thuộc, hiểu nhau như đôi bạn thân.
Thế hệ trẻ em người Ê Đê tại Buôn Đôn như cậu bé Vạc chúng tôi trò chuyện có niềm đam mê với nghiệp “ngồi trên lưng voi” tuy vẫn còn, nhưng không nhiều như trước đây. Đa phần các em xuất thân có cha hoặc anh từng là những thợ săn voi trong vùng và được chỉ dạy ngay từ nhỏ. Những ngày tìm hiểu công việc tại trung tâm bảo tồn voi, chúng tôi được trò chuyện cùng Y Tý Niê (SN 1992), con trai một thợ săn voi nổi tiếng tại Buôn Đôn.
Cùng với công việc tại vườn quốc gia York Đôn, Y Tý còn tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng voi cùng các nhân viên tại trung tâm bảo tồn. Nhìn cái cách Y Tý quấn quýt với những con voi tại trung tâm; trò chuyện, vui đùa,… ít ai có thể hình dung đã không ít lần, Y Tý bị chính những chú voi nhà lúc trở tính… đá văng xa.
“Nài voi nguy hiểm vậy điều gì cần nhất để các em gắn bó với nghề này”, tôi hỏi. Y Tý chia sẻ, nếu mang ra đong đếm thì tình cảm giữa người với voi chẳng bao giờ có kết quả. Cũng giống con người, voi có lúc giận dữ nhưng lại lắm khi hiền lành như đứa trẻ nhỏ.
“Để người và voi phải thật sự hiểu rõ nhau, hạn chế xung đột và nguy hiểm đối với nài voi phải cần một thời gian rất dài sống và sinh hoạt khăn khít chặt chẽ” - Y Tý tâm sự.
Nhiều năm qua, môi trường sống của voi rừng tại Đắk Lắk nói riêng và toàn tỉnh Tây Nguyên nói chung đang ngày càng thu hẹp bởi nạn phá rừng và săn bắt trái phép. Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk ra đời với mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng, hạn chế tối đa nguy cơ tuyệt chủng đối với voi rừng và voi nhà.
Công việc của các nhân viên tại trung tâm vì thế cũng nặng nề như lời anh Phan Phú - Tổ trưởng tổ chăm sóc, cứu hộ voi - bộc bạch với chúng tôi: “Công việc cho ăn, theo dõi sức khỏe, chơi đùa, huấn luyện voi... của chúng tôi bắt đầu từ tờ mờ sáng và kết thúc cũng vào... tờ mờ sáng hôm sau. Mọi người khi được hỏi đều cho biết tình nguyện làm việc cả ngày lẫn đêm để tránh những nguy cơ xấu xảy ra với các cá thể voi”.
Anh Phú cho biết, trong bốn cá thể voi đang nuôi giữ tại trung tâm thì có hai cá thể được nuôi từ lúc nhỏ là voi Gold và voi Jun. Công việc chăm sóc, thuần dưỡng voi lớn đã khó nay lại nuôi thêm hai chú voi con thật không hề đơn giản.
Theo anh Phú, vấn đề khiến nhân viên tại trung tâm liên tục nghĩ “nát óc” là làm sao phải sáng tạo đồ làm “giàu” cho voi. Hiểu được băn khoăn của chúng tôi, Phú dẫn chúng tôi ra khoảng đất trống nơi chú voi Gold đang tung tăng tắm mát. Thỉnh thoảng chú voi con lại quấn quýt bên chiếc lốp xe cũ treo lơ lững giữa không trung, anh Phú lý giải, đồ làm “giàu” thật ra là một thuật ngữ chỉ những đồ vật xung quanh được con người tạo ra nhằm giúp voi kích thích suy nghĩ, qua đó giúp voi con nâng cao khả năng sống sót đến tuổi trưởng thành.
“Biểu hiện tích cực mà chúng tôi nhận thấy sau khi voi con thường xuyên chơi đùa với các đồ làm “giàu” là voi trở nên ngoan ngoãn hơn. Chưa hết, những cảm xúc giận dỗi, vui mừng khi voi gặp người quen cũng rõ rệt so với trước khi voi được đưa vào trung tâm” - anh Phú hào hứng, nói.
Bên cạnh việc nuôi dưỡng thì công việc huấn luyện để tăng cường khả năng sống sót cho voi nhà được các nhân viên nơi đây chú trọng hàng đầu. Anh Phú cho hay, thay vì huấn luyện voi truyền thống bằng roi vọt trước đây, các nhân viên tại trung tâm bảo tồn được nhiều tổ chức bảo vệ động vật hỗ trợ nguyên một “giáo án” bài bản. Dựa theo giáo án này, việc huấn luyện chỉ sử dụng còi và thức ăn để yêu cầu voi thực hiện theo động tác như nâng chân, nằm xuống, quỳ gối… đến khi nào thành thạo.
“Mặc dù giáo án của các chuyên gia nước ngoài được áp dụng khá thành công cho các loài voi trên thế giới nhưng áp dụng cho voi tại buôn Đôn lại rơi vào tình trạng dở khóc dở cười. Đó là vì có những thời điểm voi giận dữ không nghe lời hoặc lúc voi ham chơi, bướng bỉnh không tuân lời người huấn luyện. Lúc như vậy buộc chúng tôi phải kiên trì thực hiện nhiều lần và tăng cường trò chuyện để giúp tâm lý của voi được giải tỏa” - anh Phú chia sẻ.
Ông Huỳnh Trung Luân - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk - cho biết, tại trung tâm bảo tồn hiện có 16 nhân viên với tuổi đời trung bình là 25 tuổi. Thời gian qua, trung tâm đã nhận và đào tạo bốn con em của các nài voi nổi tiếng tại địa phương tham gia vào dự án bảo tồn voi Đắk Lắk. Quá trình làm việc, con em các nài voi và các nhân viên tại trung tâm liên tục được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm chăm sóc, bảo vệ voi do các chuyên gia nước ngoài đứng lớp giảng dạy.
Cũng theo ông Luân, trước thực tế các nghệ nhân săn bắt, thuần dưỡng voi truyền thống không còn nhiều nên việc nhận và tạo công ăn việc làm đối với 4 nài voi “nhí” sẽ giúp đơn vị kết hợp được những giá trị giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn voi nhà.
“Làm việc trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk, các bạn trẻ đều có trách nhiệm công việc rất cao, sẵn sàng làm việc dưới áp lực lớn. Riêng đối với các chàng trai là con em các nài voi xưa kia, tôi tin các em sẽ là những thế hệ kế cận xứng đáng trong tương lai không xa” - ông Luân nói.
Theo số liệu từ Trung tâm bảo tồn voi, hiện tại Đắk Lắk có khoảng 5 đàn voi hoang dã với số lượng khoảng từ 60 đến 70 cá thể, trong đó khu vực huyện Ea Súp có một đàn voi khoảng 30-34 cá thể, huyện Buôn Đôn có khoảng 4 đàn với số lượng từ 30 - 36 cá thể.
Do dân số gia tăng, đặc biệt là nạn di cư tự do sẽ kéo theo mọi hệ quả khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sự tồn tại của loài voi.
Những năm qua trên địa bàn huyện Buôn Đôn, Ea Súp luôn là điểm nóng về khai thác gỗ lậu từ rừng tự nhiên, cùng với nạn phá rừng làm rẫy, chuyển đổi rừng tự nhiên sang các dự án nông, lâm nghiệp, hệ quả của nó là diện tích rừng tự nhiên tại 2 huyện trên nơi có những đàn voi hoang dã sinh sống ngày càng giảm cả về số lượng, chất lượng, sinh cảnh sống của voi bị chia cắt. (Khoa Học & Phát Triển 4/8) đầu trang(
Hàng loạt cây gỗ lớn rừng phòng hộ Xuân Lộc (Đồng Nai) đã bị đầu độc bằng thuốc diệt cỏ. Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, đối tượng đầu độc cây rừng để lấy đất sản xuất.
Theo xác định của Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc thì đã có 242 cây dầu, sao đã bị đầu độc. Khu vực rừng bị đầu độc thuộc phân trường Trảng Táo (xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) nằm trên diện tích đất hơn 10 hécta giao cho hộ dân chăm sóc bảo vệ rừng.
Theo hợp đồng giao khoán thì diện tích rừng được trồng từ năm 2005, ngoài cây gỗ lớn các loại sao, dầu, muồng thì hộ nhận khoán được trồng xen canh các loại cây trồng công nghiệp khác.
Trong khi các loại cây công nghiệp khác cành lá sum xuê, thì hàng loạt những hàng cây sao, dầu 12 năm tuổi thân cao thẳng đứng 5 – 7 mét thì lá lại ủ vàng, nhiều cây đã rụng hết lá, chết khô.
Chỉ các gốc cây dầu đang xì nhựa sần sùi, ông Nguyễn Xuân Trường, kiểm lâm viên Trạm kiểm lâm Xuân Hưng cho biết: “Đối tượng đầu độc cây bằng cách đục mỗi gốc khoảng 3 lỗ sâu vào thân, sau đó họ đổ thuốc diệt cỏ vào và trám lỗ bằng bông gòn. Với cách này, một thời gian thuốc độc thẩm thấu làm cây chết từ từ. Vào mùa mưa cây có nhiều dưỡng chất nên quá trình cây chết diễn ra chậm hơn”.
Sau khi xảy ra vụ việc, công an, viện kiểm sát đã vào xác minh thực địa, lấy mẫu vật kiểm nghiệm để phục vụ công tác điều tra.
Những cán bộ bảo vệ rừng chua xót nói phải mất nhiều năm mới tạo được cánh rừng gỗ lớn như thế này, nhưng vì lợi ích riêng người ta đã thẳng tay triệt phá cây.
Ông Đặng Khánh Tài, Phó Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc cho biết, đây là rừng phòng hộ cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Khi giao đất trồng rừng cho dân, người dân đã hiểu được quyền lợi của mình.
Người dân nhận khoán bảo vệ rừng đã được sử dụng một tỷ lệ đất để trồng cây công nghiệp lâu năm, nhưng phải đảm bảo cho cây rừng phát triển. Ông Tài cho rằng đối tượng dùng biện pháp đầu độc cây rừng là nhằm diệt cây rừng, hạn chế cây rừng để lấy đất sản xuất. (Tiền Phong 7/8) đầu trang(
Sáng ngày 5/8, hạt kiểm lâm quận Liên Chiểu (TP Đà Nẵng) cho biết: đã tiến hành kiểm tra và vận động người dân thả con trăn lớn bắt được tại số nhà 80 Nguyễn Xí (phường Hòa Minh, Liên Chiểu) vào chiều ngày 3/8.
Một cán bộ kiểm lâm Liên Chiểu cho biết: sáng 5/8 đại diện hạt kiểm lâm đã đến nhà người dân đang nuôi nhốt con trăn. Tuy nhiên, chủ nhà đi vắng nên hẹn đến tuần sau sẽ làm việc cụ thể.
Trước mắt lực lượng kiểm lâm sẽ vận động người dân giao nộp để thả con trăn về với tự nhiên. Trong trường hợp không vận động được sẽ tiến hành xử phạt hành chính, đồng thời áp dụng các biện pháp theo đúng các quy định của pháp luật để xử lý.
Trước đó, như Tiền Phong đã đưa tin chiều ngày 3/8, người dân phường Hòa Minh (Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) đã vây bắt được một con trăn lớn dài khoảng 2m tại số nhà 80 đường Nguyễn Xí. Chủ số nhà 80 Nguyễn Xí cho biết: khoảng 16h ngày 3/8, gia đình hoảng hồn vì phát hiện một con trăn to, bò vào vườn rồi nằm chễm chệ trên giàn cây trước hiên nhà.
Phát hiện trăn, chủ nhà lập tức gọi các hộ dân xung quanh. Vì trăn lớn bất ngờ xuất hiện ở khu dân cư nên nhiều người rất hiếu kỳ đến xem. Một nhóm người dân đã vây bắt. Sau khoảng 15 phút thì bắt được con trăn này. Sau khi bắt được con trăn, một hàng xóm cạnh số nhà 80 đã mang con trăn này về và cho biết sẽ “để nuôi”. (Tiền Phong 5/8) đầu trang(
Bốn cây lộc vừng có tuổi đời hàng trăm năm ở Mỹ Đức - Hà Nội được trả hàng chục tỷ nhưng cả làng quyết không bán. Ở nước ta, có nhiều cây cổ thụ trăm tuổi là nhân chứng cho bao biến cố lịch sử, đời sống dân làng, trở thành báu vật của làng quê. Dù những cây cổ thụ này được trả giá tiền tỷ nhưng dân làng quyết không bán.
Cây duối cổ này vốn được coi là “kỳ mộc” thân thương, niềm tự hào của người dân thôn Bái Dương, xã Nam Dương (huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).
Theo các bậc cao niên trong thôn, cây duối cổ đã trên dưới 500 năm tuổi. Người xưa tạo tác dáng thế cây duối thành hình “mâm xôi con gà” với ngụ ý coi đây là một “cây thờ”, một vật tế dâng kính thần linh, mong cầu cuộc sống no đủ, sung túc cho làng.Trải qua thăng trầm, cây duối như chứng nhân gắn bó với bao thế hệ người làng.
Được biết, vẻ đẹp của cây duối cổ lan xa, có nhiều đại gia tìm về vùng đất Nam Dương hỏi mua cây duối đẹp này. Có người trả giá tới 1,5 tỷ đồng, nhưng người dân trong thôn không mảy may động lòng.
Trong khuôn viên của đình thôn Hoành (xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội) hiện có 4 cây lộc vừng cổ thụ, có tuổi đời hơn 700 năm. Được biết, đình làng từng bị phá bỏ nhưng 4 cây lộc vừng thì vẫn được giữ lại từ trước đó.
Dù cây đã hơn 700 năm tuổi nhưng tán lá vẫn rất xanh tốt. Thân cây không có dấu hiệu của mối mọt hay xuống cấp. Bốn cây lộc vừng này từng được trả giá hàng chục tỷ đồng nhưng người dân không ai đồng ý bán. "Đây là cây báu vật của người dân Đồng Tâm chúng tôi. Có trả nghìn tỷ chúng tôi cũng không bán. Với người dân Đồng Tâm, 4 cây lộc vừng này là vô giá", ông Nguyễn Văn Lan - Trưởng ban di tích thôn Hoành - cho biết.
4 cây lộc vừng như linh hồn của làng. Trải qua hàng nghìn năm phong ba bão táp, cây vẫn đứng sát nhau tỏa bóng mát xanh tươi. Mỗi trưa hè nóng bức, người dân thôn Hoành lại kéo nhau ra nằm nghỉ dưới gốc cây.
Làng Siêu Quần (xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế) đã lập hẳn một hương ước để bảo vệ khu rừng lộc vừng có tuổi đời trên 300 năm tuổi và được mệnh danh là “lá phổi xanh của làng”.
Từ hồi khai canh, lập đất, các bậc cao niên của làng đã trồng cây lộc vừng tổ trên đất chùa trong thôn và khi đắp đê ngăn mặn. Thấy cây này có những đặc tính hợp với đất ở vùng này, họ đã quyết định chọn cây lộc vừng trồng đại trà trên những con đê nhằm giữ đất, chắn sóng.
Làng Siêu Quần có 320 ha rừng thì cây lộc vừng chiếm đến 70% diện tích. Quanh làng có hàng nghìn cây lộc vừng cổ thụ, trải dài gần 3km, tạo thành một vành đai vững chắc chắn bão cho người dân trong thôn.
Cây sanh ở bản Kẻ Mui (xã Giai Xuân, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An) mới được công nhận là cây di sản Việt Nam. Đây là cây thứ 3 ở Nghệ An được công nhận là cây di sản sau cây lộc vừng ở đảo Ngư và cây sa mu ở vườn quốc gia Pù Mát (huyện Con Cuông).
Cây sanh này có tuổi đời đến nghìn năm, được đánh giá là cây tự nhiên đẹp nhất Việt Nam. Cây cao 27m, tán rộng khoảng 35m. Gốc cây ôm lấy một tảng đá lớn rộng khoảng 5m, dài hơn7 m. Phía trên là khối đá nhỏ hơn có đường kính hơn 2m, cao khoảng 3m. Cả hai khối đá này được rễ cây sanh bao bọc xung quanh trông như hình một “mâm xôi, con gà”, thân cây thì được ví như "phượng múa rồng bay".
Cây được một thương lái vô tình phát hiện cách đây hơn chục năm. Sau đó, nhiều người săn cây cảnh đã tìm đến để mua với giá hàng tỷ đồng nhưng người dân ở đây không bán. Thậm chí, có người còn muốn mua cả mảnh đất để sở hữu cây sanh, nhưng chủ nhân cũng không chịu mà xem đó là báu vật của làng.
Ở thôn A Mé (xã Ba Ngạc, huyện Ba Tơ) có hai cây sao xanh tuổi đời hàng trăm năm, đường kính từ 1,5 - 2m, với 5, 6 người ôm, lá rất xanh tốt. Thời gian qua, bọn lâm tặc liên tục đến gạ gẫm dân làng để mua nhưng dân làng không bán với bất kỳ giá nào, vì đó là biểu tượng hiên ngang của người Hrê ở đây.
Còn ở thôn Trà Ót (xã Trà Tân, huyện Trà Bồng) có cây chò cổ thụ được người dân luôn nỗ lực bảo vệ. Từ hồi kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, cây chò này là ngã ba giao lưu buôn bán, là điểm dừng chân của thương lái người Kinh và bà con đồng bào dân tộc thiểu số ở Trà Bồng; đồng thời cũng là điểm dừng chân của bộ đội. Sau giải phóng, nhiều gia đình ngoài Bắc khi đến Trà Tân tìm mộ liệt sĩ đã lấy mốc là cây chò để đi về các hướng tìm mộ.
Cây dã hương 600 tuổi ở thôn Dương Phạm (huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định), là một trong số 2 "cụ" cây dã hương nằm trong sách đỏ của thế giới còn tồn tại đến nay (cùng với cây dã hương 700 tuổi ở huyện Tân Yên, Bắc Giang).
Cây dã hương ở thôn Dương Phạm thu hút sự chú ý không chỉ của giới khoa học mà xung quanh “đại lão mộc tinh” này còn lưu truyền nhiều câu chuyện ly kỳ, khó lý giải. Theo Nông nghiệp Việt Nam, cây cổ thụ này giống như Thành hoàng làng vậy. Thời chiến, cả khu di tích miếu Vua Bà và cây dã hương như một pháo đài để bộ đội ta chống giặc. Đến thời bình, dân trong thôn có công to việc nhỏ đều đến gốc cây. Từ chuyện đặt móng xây nhà, đưa con đi thi đại học, đám cưới đám hỏi… đều nhờ cây phán hộ. Người dân thôn Dương Phạm xem cây dã hương như là một “báu vật” của làng, họ ngày đêm ra sức bảo vệ và gìn giữ.
Tháng 8/2012, những người thuộc Tổ chức Guiness Việt Nam về chơi đã đo đường kính lớn nhất của cây là 16 mét. Kích thước tuy nhỏ hơn cây dã hương ở Bắc Giang, song cây dã hương thôn Dương Phạm có dáng vẻ uy nghi, kỳ thú rất đẹp mắt. (Vietnamnet 6/8) đầu trang(
Chỉ trong thời gian ngắn, hàng trăm héc ta rừng của huyện Ea Súp đã bị phá tan nát. Cây rừng bị đốn tỉa, rút ruột, rồi bị cạo trọc; gỗ được tập kết ngổn ngang trong rừng, dọc đường giao thông giữa thanh thiên bạch nhật, trong đó 2 xã Cư M’lan và Ea Bung là điểm nóng nhất về tình trạng phá rừng. Cây rừng vẫn đổ ngã, rừng Ea Súp đang bị “chảy máu” trong sự bất lực của chính quyền…
Thực trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép xảy ra trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Ea Súp nói riêng diễn biến hết sức phức tạp. Tại cuộc họp Báo chiều 4/8/2017, ông Nguyễn Tuấn Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết: Chỉ tính riêng tháng 7/2017, toàn tỉnh đã xảy ra 95 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, tang vật cơ quan chức năng tịch thu 197,143 m3 gỗ các loại, 25 phương tiện vi phạm.
Tại địa bàn huyện Ea Súp, ngày 11/7/2017, Hạt kiểm lâm huyện đã phối hợp với chính quyền địa phương xã Ea Bung, tuần tra, kiểm soát, phát hiện 3 bãi tập kết lâm sản trái pháp luật và đã lập biên bản kiểm tra, tạm giữ 1,420m3/80 lóng gỗ dầu nhóm 4 và 14,976 ster củi các loại. Cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật. Vụ việc này đã được Hạt kiểm lâm báo cáo lên Huyện uỷ, UBND huyện Ea Súp và cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk.
Từ đầu năm 2017 đến nay, tình trạng phá rừng tại huyện Ea Súp diễn ra rất nghiêm trọng. Tại vị trí tiểu khu 267, 243, xã Ea Bung, rừng bị lâm tặc phá tan hoang. Ông Mai Văn Kiện, Phó Chi cục Trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cho biết: Rừng bị đốn tỉa từ nhiều năm qua, hiện nay thì rừng bị cạo trọc. Trong 6 tháng đầu năm, tổng diện tích rừng trên địa bàn huyện Ea Súp bị tàn phá trên 131 ha, trong đó xã Ea Bung và Cư M’lan là điểm nóng nhất về tình trạng phá rừng, với tổng diện tích rừng bị thiệt hại trên 81 ha. Không những rừng bị mất, tình trạng tranh chấp đất rừng diễn ra rất phức tạp.
Thủ đoạn của lâm tặc hết sức tinh vi. Cây rừng bị đốn gục bị cắt ngắn, thân cây vẫn rỉ nhựa, gỗ được tập kết ven quốc lộ, chờ thời cơ thuận lợi chúng vận chuyển ra khỏi rừng tiêu thụ. Rõ ràng, công tác quản lý rừng còn buông lỏng, công tác nghiệp vụ yếu kém, lơ là trong kiểm tra, bảo vệ rừng. Vấn đề đặt ra, tại sao lâm tặc có thể tự tung tự tác, thoải mái hoành hành; tình trạng phá rừng diễn ra trong thời gian dài, giữa thanh thiên bạch nhật, ngay sát nách trụ sở chính quyền xã và trước mắt lực lượng chức năng của huyện? Dư luận hoài nghi, ai là người bảo kê “nối giáo”, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng?
Trên thực tế, các chủ rừng, doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê rừng và đất rừng chưa nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; không đủ lực lượng, phương tiện để tự bảo vệ rừng trên lâm phần được giao. Công tác quản lý rừng ở huyện Ea Súp bị buông lỏng dẫn đến tình trạng rừng bị xẻ thịt, cây rừng tiếp tục bị đốn gục, máu rừng đang chảy, tình trạng phá rừng, lấn chiếm rừng và đất rừng trái phép diễn ra hết sức phức tạp. Qua kênh thông tin riêng, được biết, hiện nay trên địa bàn huyện, một số cá nhân, doanh nghiệp triển khai dự án kém hiệu quả, bị nhà nước thu hồi diện tích rừng và đất rừng, hết thẩm quyền quản lý, bảo vệ rừng, nhưng có biểu hiện dùng thủ đoạn xúi dục dân vào phá rừng, chiếm đất rừng trong khu vực vùng lõi. Diều này dẫn đến hệ luỵ, các đối tượng vi phạm pháp luật, tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh trật tự do tranh chấp đất đai, gây khó khăn trong việc thu hút đầu tư phát triển cho các dự án mới trên địa bàn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng gia tăng và diễn biến phức tạp tại huyện Ea Súp, trong đó lỗi chính thuộc về công tác quản lý, thậm chí quản lý rừng chỉ là trên giấy; trên thực địa thì đang… vô chủ.
Đơn cử, ngày 23/2/2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định 404/QĐ-UBND thu hồi 1.165,2ha đất tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan, huyện Ea Súp thuộc dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH Anh Quốc do vi phạm pháp luật về đất đai. Quyết định 404 của UBND tỉnh Đắk Lắk do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Y Giang Gry Nie Knơng ký, nêu rõ: Giao 1.165,2ha đất nêu trên cho UBND huyện Ea Súp quản lý theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy định của pháp luật. Ấy vậy mà đã qua gần 6 tháng, nhưng công tác bàn giao chưa thực hiện xong (!?).
Với vai trò là cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện QĐ 404 của UBND tỉnh Đắk Lắk, ngày 10/3/2017, Sở TN&MT Đắk Lắk tổ chức cuộc họp tại UBND xã Cư M’lan, huyện Ea Súp để triển khai việc thu hồi và bàn giao đất rừng ngoài thực địa, thành phần gồm Sở TN&MT, đại diện Sở Nông nghiệp và PTNT; UBND huyện Ea Súp; đại diện xã Cư M’lan; Công ty TNHH Anh Quốc. Tuy nhiên, Công ty TNHH Anh Quốc không tham gia cuộc họp.
Cùng ngày 10/3/2017, các bên liên quan lập biên bản thu hồi, bàn giao đất ngoài thực địa trên cơ sở vị trí, ranh giới được xác định theo tờ trích lục bản đồ địa chính số 836/TL-VPĐKQSDĐ, tỷ lệ 1/25.000, do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh (nay là Văn phòng đăng ký đất đai) lập ngày 23/12/2010. Đã qua 5 tháng, đến nay UBND huyện Ea Súp; UBND xã Cư M’lan, Công ty TNHH Anh Quốc vẫn chưa ký biên bản?
Công tác thu hồi, bàn giao chưa hoàn tất, đồng nghĩa với việc diện tích 1.165,2ha đất và rừng chưa có chủ để gắn trách nhiệm quản lý bảo vệ. Hệ luỵ, lâm tặc đua nhau phá rừng; rừng bị cạo trọc, người dân thoải mái xâm chiếm đất rừng để canh tác, sản xuất giữ rừng là điều dễ hiểu. Hơn nữa, việc khẩn trương thu hồi giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (bìa đỏ) số CG 050306 của Sở Tài nguyên và Môi trường (được UBND tỉnh uỷ quyền) cấp ngày 23/12/2016 cho Công ty TNHH Anh Quốc là rất cần thiết. Sổ đỏ đã hết hiệu lực, cần sớm thu hồi, ban hành quyết định huỷ bỏ, tránh hậu quả xấu đối với tập thể, cá nhân khi không nắm được thông tin, dẫn đến liên kết làm ăn với Công ty.
Mặt khác, việc công khai thu hồi đất Dự án trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng vi phạm luật đất đai tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan, huyện Ea Súp, giúp cho người dân biết rõ Công ty TNHH Anh Quốc không còn vai trò trong quản lý đất và rừng, chấm dứt mọi hoạt động trong vùng dự án để nhân dân ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng. Cơ quan chức năng cần khẩn trương kiểm đếm, đánh giá hiện trạng rừng tại tiểu khu 293, bàn giao thực địa theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk để quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả.
Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường tiếp tục theo dõi, phản ánh về công tác quản lý rừng tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/8) đầu trang(
Trong thời gian giữ chức vụ cao tại công ty lâm nghiệp, 2 anh em ông Tâm và ông Tịn buông lỏng quản lý khiến hơn 75ha rừng tự nhiên bị mất...
Ngày 5.8, Công an tỉnh Đắk Nông cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối ông ông Trần Quyết Tâm - nguyên Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân. Đồng thời, Công an Đắk Nông cũng bắt tạm giam em trai của ông Tâm là Trần Đức Tính (SN 1980, trú phường Nghĩa Thành, thị xã Gia Nghĩa) vì tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Được biết, ông Tính nguyên là Trưởng phòng kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng của Công ty Trường Xuân.
Thông tin từ cơ quan công an cho hay, trong khoảng thời gian từ năm 2010- 2014, ông Tâm và Tính thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng dẫn đến làm mất 76,66ha rừng tự nhiên tại khoảnh 7, tiểu khu 1687 và các khoảnh 5, 7, 9 tiểu khu 1707 do Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân quản lý. (Lao Động 5/8) đầu trang(
Chiều tối ngày 4/8, ông Huỳnh Đức Viên- Trưởng phòng NN&PTNT huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam cho biết, trên địa bàn huyện vừa xảy ra một vụ cháy khoảng 20 ha rừng nguyên sinh.
Theo thông tin ban đầu, vào sáng 4/8, người dân địa phương đã phát hiện tại tiểu khu 497, thuộc xã Quế Thọ, huyện Hiệp Đức bất ngờ bốc cháy lớn ở rừng nguyên sinh, sau đó, ngọn lửa cháy lan rộng và hình thành hai đám cháy lớn.
Ngay sau khi, nhận được thông tin, huyện Hiệp Đức đã huy động hơn 100 người thuộc các lực lượng xung kích cùng lực lượng vũ trang và người dân trên địa bàn khoanh vùng, dập tắt lửa. Sau nhiều giờ dập lửa, lực lượng chức năng đã cơ bản dập tắt được đám cháy.
Ông Huỳnh Đức Viên cho biết, ước tính ban đầu có khoảng 20 ha rừng nguyên sinh (chủ yếu bụi rậm, và các loại cây nhỏ) bị cháy thiêu rụi. (Tài Nguyên & Môi Trường 4/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm, ngư trường quốc doanh theo Nghị định 200/2004/NĐ-CP, ngày 3-12-2004 của Chính phủ, tỉnh Cà Mau thu hồi hơn 12.600 ha đất lâm nghiệp của một số nông, lâm, ngư trường trên địa bàn các huyện U Minh và Trần Văn Thời để giao UBND xã quản lý.
Sau đó, huyện tiến hành giao đất cho người dân sử dụng ổn định lâu dài theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Tuy nhiên, theo phản ánh của bạn đọc, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho người dân trong thời gian vừa qua còn xảy ra nhiều sai sót.
Huyện U Minh có bốn xã được giao đất thu hồi từ các nông, lâm, ngư trường để quản lý và cấp cho người dân theo Nghị định 181 của Chính phủ, với tổng diện tích hơn 9.000 ha, cấp lại cho 1.385 hộ dân. Cụ thể: Xã Khánh Lâm được giao 261,1 ha; xã Khánh Hòa 456,1 ha; xã Khánh An hơn 4.056 ha và xã Nguyễn Phích là hơn 4.233 ha.
Tiếp nhận quỹ đất được giao, chính quyền các xã nêu trên phối hợp cơ quan chức năng huyện tiến hành các thủ tục cần thiết để cấp lại cho người dân lâm phần, tức chuyển từ hình thức hợp đồng giao khoán đất rừng (sổ xanh) có thời gian 25 năm sang hình thức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) có thời gian sử dụng 50 năm, giúp người dân yên tâm lao động, sản xuất.
Đến thời điểm phóng viên xác minh thực tế thì ở xã Khánh An đã cấp sổ đỏ 567 ha đất cho 270 hộ dân. Còn hơn 289 hộ dân chưa được cấp sổ đỏ trong phần đất còn lại sau khi đã đối trừ là 3.489 ha (làm tròn số). Chủ tịch UBND xã Khánh An Quách Văn Hợp cho biết: Các hộ dân mới chỉ được cấp sổ đỏ trên phần đất canh tác nông nghiệp. Sau khi HĐND tỉnh giám sát và phát hiện có sai sót, UBND huyện đã tạm dừng việc cấp sổ đỏ cho người dân, chờ chỉ đạo cấp trên.
Xã Nguyễn Phích được nhận hơn 4.230 ha đất lâm nghiệp được bàn giao từ Lâm ngư trường U Minh I, II vào năm 2004 và Lâm ngư trường Sông Trẹm vào năm 2009 theo Nghị định 181 của Chính phủ. Đến nay, 152 trong số 647 hộ dân đã được cấp sổ đỏ theo hình thức giống như xã Khánh An, với hơn 320 ha, tập trung chủ yếu ở hai ấp 15 và 16. Còn một lượng lớn đất lâm nghiệp chưa cấp sổ đỏ cho người dân lâm phần. Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích Võ Văn Liêu thừa nhận: Việc cấp sổ đỏ cho người dân trên lâm phần theo Nghị định 181 thời gian qua còn chậm và xã đã có yêu cầu tạm dừng, chờ cấp trên có hướng dẫn tiếp theo.
Được biết, mỗi hộ dân trên lâm phần rừng tràm huyện U Minh được giao khoán trung bình từ năm đến bảy ha đất lâm nghiệp. Theo quy định, người dân phải trồng rừng bắt buộc 70% diện tích được giao khoán; diện tích còn lại được sản xuất nông nghiệp kết hợp. Khi có chủ trương chuyển từ sổ xanh sang sổ đỏ, người dân ở lâm phần rừng tràm vô cùng phấn khởi vì được trao quyền nhiều hơn trên phần đất của mình; có cơ hội tiếp cận đồng vốn từ ngân hàng dễ dàng hơn để đầu tư canh tác lâu dài. Thế nhưng, không ít hộ dân bất ngờ vì phần đất trước kia của mình nay bị thu nhỏ.
“Trong sổ đỏ chúng tôi được cấp chỉ ghi phần đất nông nghiệp (30%); số đất trồng rừng (70%) còn lại của chúng tôi bị bỏ ra ngoài sổ” - Ông Nguyễn Quốc Tải, ngụ ấp 15, xã Nguyễn Phích cho biết.
Huyện Trần Văn Thời là địa phương thứ hai của tỉnh Cà Mau được nhận đất rừng để cấp sổ đỏ lại cho người dân theo Nghị định 181; trong đó, xã Khánh Bình Tây Bắc được nhận hơn 2.700 ha, xã Trần Hợi được nhận 836 ha. Số liệu giám sát của HĐND tỉnh thể hiện, tính đến ngày 30-6-2017, tại địa bàn xã Trần Hợi, chưa có hộ dân nào được chuyển từ sổ xanh sang sổ đỏ. Trong khi đó, xã Khánh Bình Tây Bắc nhận đất lâm nghiệp từ Lâm, ngư trường Trần Văn Thời (cũ) và tiến hành cấp sổ đỏ cho 1.076 hộ dân với hơn 2.700 ha; chỉ còn 13 hộ dân chưa được cấp sổ đỏ với diện tích 26 ha.
Trao đổi với phóng viên, một số hộ dân ở Khánh Bình Tây Bắc tỏ ra rất lạc quan, phấn khởi bởi phần đất trước đây vẫn nguyên vẹn, không bị mất và từ một quyển sổ xanh, nay được cấp lại thành nhiều quyển sổ đỏ.
Về cách thức cấp quyền sử dụng đất cho người dân trên địa bàn theo Nghị định 181, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trần Văn Thời Hồ Song Toàn cho biết: Trước đây, huyện sử dụng nguồn vốn tài trợ từ Dự án Bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển phía nam của Việt Nam để hỗ trợ người dân trong việc cấp sổ đỏ. Việc cấp sổ đỏ theo hiện trạng thực tế, cho nên sau khi cấp lại, hộ dân có nhiều cuốn sổ đỏ trên một phần đất được giao trước đó. Việc cấp sổ đỏ theo hiện trạng nêu trên, HĐND tỉnh đã giám sát và phát hiện huyện thực hiện chưa đúng.
Đến nay, trong số sáu xã nhận bàn giao đất rừng để cấp sổ đỏ cho người dân lâm phần theo Nghị định 181, có hai xã nhận đất nhưng chưa cấp sổ đỏ cho các hộ dân là các xã Trần Hợi (huyện Trần Văn Thời) và Khánh Hòa (huyện U Minh). Các xã còn lại thuộc hai huyện nêu trên, tuy có cấp sổ đỏ cho người dân nhưng tiến độ còn chậm, và việc cấp sổ chưa đúng so với quy định.
Cụ thể: Huyện U Minh chỉ cấp sổ đỏ trên phần đất nông nghiệp, làm “mất” của người dân 70% đất canh tác trồng rừng; huyện Trần Văn Thời thì cấp sổ đỏ theo hiện trạng thực tế, kéo theo hệ lụy một hộ dân có nhiều sổ đỏ trên cùng một diện tích.
Theo Trưởng ban Kinh tế, ngân sách HĐND tỉnh Cà Mau Trần Ngọc Diệp, việc cấp sổ đỏ không phức tạp; căn cứ vào sổ xanh của người dân có diện tích bao nhiêu thì chuyển thành sổ đỏ bấy nhiêu và mục đích sử dụng vẫn là đất lâm nghiệp. Người dân vẫn sản xuất kết hợp 30% trên phần đất đó, 70% còn lại vẫn thực hiện trồng rừng bắt buộc. Việc cấp sổ đỏ ở các huyện Trần Văn Thời và U Minh đều tự gây khó cho các địa phương này trong công tác quản lý. Việc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp như ở huyện Trần Văn Thời, về lâu dài sẽ làm gia tăng diện tích đất sản xuất, thu hẹp diện tích đất trồng rừng.
Qua giám sát, Ban Kinh tế, ngân sách HĐND tỉnh Cà Mau phát hiện ra những sai sót nêu trên và kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, thu hồi, điều chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai mục đích; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ cấp sổ đỏ cho người dân trên địa bàn lâm phần; thực hiện trình tự, thủ tục giao đất lâm nghiệp cho dân sử dụng bảo đảm đúng quy định hiện hành. (Nhân Dân 5/8) đầu trang(
Hơn 1 tuần nay, Giám đốc ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tuyên Hóa không đến cơ quan làm việc, không có giấy phép xin nghỉ việc, không báo cáo lên cấp trên.
Chiều 5.8, trao đổi với PV Dân Việt, ông Hoàng Minh Đề - Bí thư Huyện ủy Minh Hóa xác nhận, ông Nguyễn Hữu Sơn (SN 1976, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa) “mất tích” một tuần nay. Không ai liên lạc được với ông Sơn.
Ông Sơn giữ chức Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa từ 2 năm nay.
Theo ông Đề, thời gian qua, ông Sơn không có biểu hiện khác biệt, là người có trình độ, năng lực nên mới được bổ nhiệm trong làm Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa, quán lý hơn 22.000 ha rừng đầu nguồn.
"Hiện tôi đã chỉ đạo Ban tổ chức Huyện ủy, phòng Nội vụ huyện Tuyên Hóa vào cuộc kiểm tra. Ông Sơn “mất tích” khỏi cơ quan hơn một tuần nay, không có giấy xin nghỉ việc, không báo cáo cấp trên là rất lạ lùng” - ông Đề cho biết. (Dân Việt 5/8) đầu trang(
Thông tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Quảng Nam cho biết mặc dù sự cố vỡ đường ống dẫn dòng của Dự án thủy điện Sông Bung 2 (xã Laêê, huyện Nam Giang) xảy ra đã gần 1 năm nhưng việc bồi thường thiệt hại cho các đơn vị thi công và người dân tham gia trồng rừng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Theo ông Lê Minh Hưng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Nam, nguyên nhân của việc chậm trễ là do Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung không nắm bắt quy trình, trình tự xử lý thiệt hại do thiên tai gây ra; thiếu sự phối hợp với tổ công tác thu thập thông tin, xử lý số liệu thiệt hại và Ban Quản lý Dự án thủy điện Sông Bung 2.
Sở NN-PTNT đã yêu cầu Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong công tác điều hành; đốc thúc Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung phối hợp với các đơn vị thi công, người dân tham gia trồng rừng, Ban Quản lý Dự án thủy điện Sông Bung 2 và các cơ quan huyện Nam Giang khẩn trương hoàn thiện hồ sơ bồi thường thiệt hại. (Người Lao Động 6/8) đầu trang(
So với tổng mức kinh phí dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đã tiết kiệm được 22%, tương đương hơn 200 tỷ đồng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự án “Tổng Điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” đã thực hiện với tổng kinh phí 750,95 tỷ đồng. Như vậy, so với tổng mức kinh phí dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đã tiết kiệm được 22%, tương đương hơn 200 tỷ đồng.
Tổng kinh phí được phê duyệt thực hiện “Dự án Tổng Điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” là 960 tỷ đồng, trong đó, ngân sách nhà nước 771,02 tỷ gồm: ngân sách Trung ương là 672,08 tỷ đồng, ngân sách địa phương 98,94 tỷ đồng.
Như vậy, ngân sách Trung ương tiết kiệm được 72,3 tỷ so với dự toán, tương đương 16%. Ngân sách địa phương tiết kiệm được 139,45 tỷ, tương đương 27%.
Nhiều địa phương đã tự bảo đảm kinh phí thực hiện kiểm kê rừng (ngân sách Trung ương không hỗ trợ) như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn cho biết, qua tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016 cho thấy, diện tích rừng tăng 989.607 ha, bình quân 160.000ha/năm. Diện tích rừng ở nhiều vùng sinh thái tăng nhanh như: Đông Bắc tăng 5%, Bắc Trung bộ tăng 3%, Tây Bắc tăng 1,5% và Duyên hải Nam Trung Bộ tăng 5,2%… Đây cũng là những vùng có sự tăng lên cả về diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên.
Diện tích rừng tăng do nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng mạnh do ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, phát triển mạnh số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ đã tăng từ 1.200 doanh nghiệp (năm 2000) lên đến 3.500 doanh nghiệp (năm 2015).
Nhiều vùng cây nguyên liệu công nghiệp tập trung (Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ) được hình thành, hiệu quả trồng rừng được cải thiện, người trồng rừng có cơ hội tích lũy tăng thu nhập, nên diện tích rừng tăng nhanh. Ngoài ra, một số diện tích do khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đã phục hồi đủ tiêu chí thành rừng. (Bnews 6/8) đầu trang(
Nhiều năm gần đây, giá gỗ rừng trồng luôn ổn định ở mức 1,2 triệu đồng/tấn, người trồng rừng có lãi. Để phát triển bền vững, người trồng rừng đang hướng đến chuyện “nuôi” rừng để khai thác cây gỗ lớn, nhằm tăng hiệu quả kinh tế.
Bình Định là địa phương dẫn đầu khu vực duyên hải Nam Trung bộ trong phong trào trồng rừng. Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh này đã có đến 134.306ha rừng trồng. Trong đó, rừng SX có 97.212ha, số còn lại là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Trong 97.212ha diện tích rừng SX ở Bình Định có 9.700ha của Cty TNHH Trồng rừng Quy Nhơn, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của Nhật Bản, 7.500ha của 3 công ty lâm nghiệp: Sông Kôn, Hà Thanh, Quy Nhơn; còn lại hơn 80.000ha là do các tổ chức ngoài quốc doanh và hộ nông dân sở hữu.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm Bình Định, phân tích: Trong nhiều năm liền gần đây, giá gỗ nguyên liệu luôn đứng ở mức 1,2 triệu đồng/tấn, đầu ra ổn định. Với mức giá này, người trồng rừng lãi rất khá. Bởi, mức đầu tư cho 1ha rừng suốt chu kỳ 7 năm của nông hộ không cao, tính cả cây giống, công cán, đầu tư chăm sóc chỉ khoảng 30 triệu/ha. Năng suất rừng trồng hiện nay ở Bình Định khá cao, đạt thấp nhất cũng 100 tấn/ha, đầu tư tốt hơn sẽ đạt đến 120 - 130 tấn/ha. Với mức giá 1,2 triệu đồng/tấn, tính năng suất bình quân 100 tấn/ha, 1ha rừng sẽ thu được 120 triệu đồng. Trừ chi phí đầu tư và chi phí công khai thác, người trồng rừng cầm chắc còn lãi 60 - 70 triệu đồng/ha”, ông Dũng tính toán.
Tuy nhiên, người trồng rừng ở Bình Định thường “ăn non”, khi rừng mới được khoảng 4 - 5 tuổi mà có gỗ nguyên liệu có giá là đốn bán, do đó không khai thác hết tiềm năng kinh tế của rừng trồng.
Để từng bước hướng đến việc “nuôi” rừng khai thác cây gỗ lớn, Bình Định đang xây dựng đề án phát triển cây gỗ lớn với diện tích 10.000ha, triển khai tại 3 công ty lâm nghiệp Sông Kôn, Hà Thanh và Quy Nhơn và các địa phương có nhiều diện tích rừng trồng Phù Cát, Vân Canh, Hoài Ân…
Theo ông Nguyễn Thế Dũng, chu kỳ của rừng gỗ lớn kéo dài 10 - 12 năm mới khai thác. Đến lúc này cây gỗ lớn không bán cho những nhà máy băm dăm nữa mà sẽ được cung ứng cho những doanh nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu trên địa bàn với giá trị cao hơn. Nuôi rừng khai thác cây gỗ lớn có rất nhiều mặt lợi. Cái lợi “vô hình” mà người trồng không thấy được là về mặt môi trường. Độ che phủ của rừng duy trì hàng chục năm nên đất không bị mưa gió làm xói mòn.
Bình Định là địa phương dẫn đầu khu vực duyên hải Nam Trung bộ trong phong trào trồng rừng. Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh này đã có đến 134.306ha rừng trồng. Trong đó, rừng SX có 97.212ha, số còn lại là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Trong 97.212ha diện tích rừng SX ở Bình Định có 9.700ha của Cty TNHH Trồng rừng Quy Nhơn, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của Nhật Bản, 7.500ha của 3 công ty lâm nghiệp: Sông Kôn, Hà Thanh, Quy Nhơn; còn lại hơn 80.000ha là do các tổ chức ngoài quốc doanh và hộ nông dân sở hữu.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm Bình Định, phân tích: Trong nhiều năm liền gần đây, giá gỗ nguyên liệu luôn đứng ở mức 1,2 triệu đồng/tấn, đầu ra ổn định. Với mức giá này, người trồng rừng lãi rất khá. Bởi, mức đầu tư cho 1ha rừng suốt chu kỳ 7 năm của nông hộ không cao, tính cả cây giống, công cán, đầu tư chăm sóc chỉ khoảng 30 triệu/ha. Năng suất rừng trồng hiện nay ở Bình Định khá cao, đạt thấp nhất cũng 100 tấn/ha, đầu tư tốt hơn sẽ đạt đến 120 - 130 tấn/ha. Với mức giá 1,2 triệu đồng/tấn, tính năng suất bình quân 100 tấn/ha, 1ha rừng sẽ thu được 120 triệu đồng. Trừ chi phí đầu tư và chi phí công khai thác, người trồng rừng cầm chắc còn lãi 60 - 70 triệu đồng/ha”, ông Dũng tính toán.
Tuy nhiên, người trồng rừng ở Bình Định thường “ăn non”, khi rừng mới được khoảng 4 - 5 tuổi mà có gỗ nguyên liệu có giá là đốn bán, do đó không khai thác hết tiềm năng kinh tế của rừng trồng.
Để từng bước hướng đến việc “nuôi” rừng khai thác cây gỗ lớn, Bình Định đang xây dựng đề án phát triển cây gỗ lớn với diện tích 10.000ha, triển khai tại 3 công ty lâm nghiệp Sông Kôn, Hà Thanh và Quy Nhơn và các địa phương có nhiều diện tích rừng trồng Phù Cát, Vân Canh, Hoài Ân…
Theo ông Nguyễn Thế Dũng, chu kỳ của rừng gỗ lớn kéo dài 10 - 12 năm mới khai thác. Đến lúc này cây gỗ lớn không bán cho những nhà máy băm dăm nữa mà sẽ được cung ứng cho những doanh nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu trên địa bàn với giá trị cao hơn. Nuôi rừng khai thác cây gỗ lớn có rất nhiều mặt lợi. Cái lợi “vô hình” mà người trồng không thấy được là về mặt môi trường. Độ che phủ của rừng duy trì hàng chục năm nên đất không bị mưa gió làm xói mòn. (Nông Nghiệp VN 4/8) đầu trang(
Trong những năm vừa qua, các đơn vị chủ rừng tại huyện Bảo Lâm đã giữ mức ổn định việc giao khoán để quản lý, bảo vệ (kể cả việc giao khoán được chi trả theo dịch vụ môi trường rừng) gần 50.000 ha.
Toàn bộ diện tích rừng nói trên được giao khoán cho gần 3.000 hộ quản lý, bảo vệ; trong đó, có 2.600 hộ đồng bào dân tộc thiểu số và giao cho tập thể cộng đồng tại các xã Lộc Bảo, Lộc Nam, Lộc Phú quản lý bảo vệ khoảng 1.000 ha. Tổng mức chi trả tiền quản lý, bảo vệ rừng hàng năm hơn 20 tỷ đồng. Bằng việc nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng, bình quân mỗi năm, mỗi hộ nhận khoán có thêm nguồn thu nhập từ 7 đến 8 triệu đồng.
Tuy ổn định được diện tích giao khoán, nhưng việc kiểm tra, quản lý, bảo vệ rừng chưa được chặt chẽ, tình trạng xâm hại rừng vẫn còn diễn biến rất phức tạp. (Báo Lâm Đồng 4/8) đầu trang(
Cử tri huyện Quế Phong đề nghị UBND tỉnh quan tâm bố trí nguồn kinh phí thực hiện công tác quy hoạch, bảo vệ rừng trên địa bàn, bao gồm cả kinh phí để tiến hành đo đạc, cấp đất lâm nghiệp cho nhân dân để phát triển sản xuất lâm nghiệp. Đồng thời nghiên cứu sớm có quyết định giao chỉ tiêu, nguồn kinh phí giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng hàng năm để huyện chủ động trong việc tổ chức giao khoán bảo vệ rừng.
Vấn đề này ngành chức năng trả lời như sau:
Đối với kiến nghị bố trí nguồn kinh phí thực hiện công tác quy hoạch về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện bao gồm cả kinh phí để tiến hành đo đạc, cấp đất lâm nghiệp cho nhân dân để phát triển sản xuất lâm nghiệp:
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 5988/QĐ-UBND.NN ngày 11/11/2009; hiện nay UBND tỉnh đang xem xét để điều chỉnh Quy hoạch để phù hợp với kết quả điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Nghệ An (phê duyệt tại Quyết định số 48/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh).
Trên cơ sở Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020, các địa phương phải xây dựng Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện theo quy định để phục vụ công tác quản lý và xây dựng kế hoạch bảo vệ phát triển rừng hàng năm trên địa bàn.
Tuy nhiên do nguồn kinh phí hạn chế nên việc triển khai xây dựng Quy hoạch tại các huyện gặp nhiều khó khăn, đến nay vẫn chưa được thực hiện. Việc cử tri đề xuất bố trí nguồn kinh phí thực hiện công tác quy hoạch về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện bao gồm cả kinh phí để tiến hành đo đạc, cấp đất lâm nghiệp cho nhân dân để phát triển sản xuất lâm nghiệp là rất cần thiết, UBND tỉnh ghi nhận kiến nghị này và trong thời gian tới sẽ ưu tiên xem xét, bố trí kinh phí để thực hiện.
Đối với kiến nghị sớm có quyết định giao chỉ tiêu, nguồn kinh phí giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng hàng năm để huyện chủ động trong việc tổ chức giao nhận khoán bảo vệ rừng:
Việc tổ chức giao nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện là nhiệm vụ thường xuyên liên tục theo từng giai đoạn, vì vậy việc phân bổ kinh phí ngân sách bảo vệ rừng hàng năm không ảnh hưởng tới việc tổ chức giao nhận khoán bảo vệ rừng của huyện. Tuy nhiên, để các địa phương chủ động nguồn kinh phí giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng hàng năm, trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ ưu tiên bố trí kinh phí cho các địa phương để có căn cứ làm các hồ sơ, thủ tục liên quan chi trả tiền công bảo vệ rừng cho các hộ nhận khoán theo quy định. (Báo Nghệ An 6/8) đầu trang(
UBND huyện Hàm Tân cho biết, hiện nay địa phương đang tập trung công tác trồng và chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng.
Cụ thể, về trồng rừng tập trung, tính đến nay toàn huyện trồng được 936 ha, đạt 247,62% so với kế hoạch, nhưng so cùng kỳ năm trước chỉ bằng 84,4%, giảm 200 ha. Được biết, nguyên nhân giảm là do đất trồng rừng đã được trồng hết những năm trước; diện tích rừng trồng được chăm sóc hiện nay của huyện là 277 ha.
Trong công tác bảo vệ rừng, toàn huyện đã phát hiện và và xử lý 2 vụ vi phạm, thu phạt 9 triệu đồng, tịch thu 0,381 m3 gỗ xẻ, 0,433 m3 gỗ tròn, cùng một số phương tiện vận chuyển khác. (Báo Bình Thuận 6/8) đầu trang(
Để có được trên 9.000ha rừng nguyên liệu giấy hiện nay, Cty Nguyên liệu giấy Miền Nam đã trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể… Đã có đến 23 cán bộ, công nhân của Cty đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất vùng rừng núi nơi cực Bắc Tây Nguyên này. Những ký ức về một thời gian khó vẫn còn đây như tiếp thêm động lực cho cán bộ, công nhân của Cty vượt qua thử thách để giữ lấy thành quả ấy.
Năm 2000, Cty Nguyên liệu giấy Đồng Nai bắt đầu mở vùng nguyên liệu, trồng rừng ở tỉnh Kon Tum. Hơn 17 năm qua, để có được trên 9.000ha rừng nguyên liệu giấy hôm nay, công ty đã phải trải qua bao thăng trầm, gian khó để trồng và giữ rừng. Bom mìn còn xót lại của chiến tranh, nước lũ, mưa nguồn, muỗi rừng, vắt suối… đã cướp đi tính mạng của 23 cán bộ, công nhân của Cty. Sự nghiệp trồng rừng đã in đậm dấu ấn của quá khứ khốc liệt nhưng đấy cũng chính là động lực để hàng trăm kỹ sư, cán bộ, công nhân của công ty bám rừng, bám đất, bạt núi, mở đường trên khắp 8 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Kon Tum, đưa cây thông 3 lá phủ xanh những vùng đất trơ trọi, hoang vu do chất độc dioxin của đế quốc Mỹ đã làm tàn lụi mọi gốc cây, ngọn cỏ trên đất rừng Kon Tum.
Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch kiêm Giám đốc Tống Hữu Chân nhớ lại, vượt qua gian khó, từ năm 2000 đến 2004 công ty đã trồng được gần 17.000ha rừng nguyên liệu giấy. Rừng đang phát triển tốt thì gặp phải khó khăn do không còn vốn để phát dọn thực bì, vì số rừng trồng đến năm thứ 3 thì hết quy trình chăm sóc theo quy định của Tổng Công ty Giấy Việt Nam. Đất Tây Nguyên 6 tháng mùa khô không một giọt mưa, khắc nghiệt nên mùa khô năm 2003-2004, hơn 1.600ha rừng của công ty bị lửa thiêu rụi. Rừng bị cháy kết hợp với việc Nhà máy bột giấy Kon Tum ngừng xây dựng khiến việc giải ngân vốn cho công ty chăm sóc, bảo vệ và phòng chống cháy rừng hầu như ngừng trệ.
Không có tiền lo cho rừng, nguy cơ cháy luôn rình rập, Cty lâm vào cảnh khốn khó. Hơn 8 tháng không có lương. Trong tổng số 232 cán bộ, công nhân của Cty có trên 100 người xin chuyển hoặc xin nghỉ việc, trong đó có gần 40 kỹ sư lâm nghiệp và cán bộ kỹ thuật. Phó Bí thư Đảng ủy Phạm Văn Hà nhớ lại: “Khi ấy nghĩ đến mùa khô, với nguy cơ hàng trăm tỉ đồng của Nhà nước bỏ vào rừng sẽ tiếp tục bị cháy mà xót xa, cám cảnh. Đây là thời điểm nguy nan nhất, khó khăn nhất của những người trồng rừng nguyên liệu giấy Kon Tum.
Việc cháy rừng, mất rừng nguyên liệu giấy ở Kon Tum đã nhiều lần được đặt lên bàn nghị sự của Chính phủ. Bộ Công nghiệp lúc ấy đã chỉ đạo Tổng Công ty Giấy phải kiên quyết giữ lấy gần 14.000ha rừng còn lại. Cty giấy Đồng Nai cùng lúc đó được chuyển đổi thành Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam với việc chuyển trụ sở đặt đại bản doanh chỉ huy tại tỉnh Kon Tum.
Chiếc ghế giám đốc của Cty này luôn “nóng” không kém gì sức nóng của lửa rừng. Đã có hai vị giám đốc xin “thoái vị” chiếc ghế nóng này. Năm 2005, Tổng Công ty Giấy Việt Nam điều động một vị ở Vĩnh Phúc vào làm giám đốc thì cũng chỉ gần hai năm sau, vị giám đốc này cũng “cáo lui”, xin thôi để trở lại Phú Thọ. Tống Hữu Chân từ Kế toán trưởng được tín nhiệm giao chức phó giám đốc rồi hơn một năm sau trở thành giám đốc. Đã có rất nhiều người không dám nhận lấy cái chức vị này vì lo hơn là vui, lo nhất là mất rừng và tai ương có thể đến bất cứ lúc nào. Trưởng thành từ công nhân rồi đến kế toán, Tống Hữu Chân đã gắn bó, đắm mình với Cty từ những ngày đầu gian khó. Nhìn thấy rừng bị cháy, người lao động bị mất việc làm, anh không nỡ.
Anh tâm sự: “Biết là khó, cực kỳ khó khăn nhưng anh em, tổ chức tín nhiệm chẳng lẽ mình lại thoái thác. Hơn nữa mình là đảng viên, lại nguyên là người lính mà đứng nhìn rừng bị mất từng ngày hay sao!”.
Thế là xắn tay vào việc. Cùng với việc ngược xuôi lo tiền đầu tư tiếp cho rừng, Giám đốc Tống Hữu Chân và ban lãnh đạo lặn lội hết từng hang cùng, ngõ hẻm ở những vùng sâu như: Sa Thầy, Đak Tô, Ngọc Hồi, Tu Mơ Rông… để đánh giá, khảo sát thực trạng của rừng. Địa hình ở Kon Tum rất khó khăn, cách trở, với độ cao so với mặt nước biển từ 1.100 mét đến 1.300 mét, núi đồi chia cắt, đất dốc đồi cao, nơi xa trụ sở công ty nhất đến trên 100km.
“Nếu không sát, không lội hết rừng thì rất khó biết thực trạng để quản lý” - Giám đốc Chân tâm sự. Anh kêu gọi anh em xốc lại đội ngũ, bàn cách giữ lấy rừng. Cũng có một số ít người xin chuyển khỏi công ty vì chưa tin vào sự thành công của cơ chế mới, cách quản lý mới do Giám đốc Chân đưa ra. Đứng trước hàng trăm cán bộ, công nhân viên của công ty, Giám đốc Chân dõng dạc: “Bây giờ là lúc chúng ta phải đoàn kết, chung sức lại để giữ lấy rừng, giữ lấy chính cuộc sống của chúng ta. Ai vì sự nghiệp chung, vì rừng thì hãy ủng hộ tôi…”.
Sự tâm huyết, lăn xả vào công việc của giám đốc khiến mọi người dần thay đổi suy nghĩ, ủng hộ và tiếp tục bám rừng cùng ban giám đốc. Sự năng động, mạnh dạn quyết đoán của Tống Hữu Chân đã làm cho diện mạo của công ty có sức sống mới. Đó là kiên quyết thay đổi, luân chuyển những cán bộ yếu, không phù hợp với công việc. Cùng với công tác cán bộ là việc phân bổ lại cơ cấu khoán hợp lý, thiết lập cơ chế để các ban nhận rừng có trách nhiệm gắn bó với rừng. Giữ được rừng thì được thưởng, mất rừng thì phải đền. Mà cũng đã có một vài cán bộ phải đền (trồng lại hoặc bị mất cây) hết cả trăm triệu đồng đều phải bỏ tiền túi của cá nhân mà vẫn phải chấp nhận. Chế độ tiền lương cũng được phân bổ lại. Tất cả đều bình xét hằng tháng theo 3 loại: loại A hưởng 100%; loại B: 70% và loại C: 50%.
Để có tiền, có vốn tiếp sức cho rừng, Tống Hữu Chân phải tất tả ngược xuôi đến các bộ, ngành chức năng để thuyết phục, bảo vệ các phương án giữ rừng của mình. Công ty được Bộ Công Thương phê duyệt dự án phòng cháy chữa cháy với kinh phí trên 27 tỉ đồng. Dự án đã được triển khai với việc xây dựng 400 bể nước, 20 lán trại trực chỉ huy phòng chống cháy, rà ủi khoảng 700km đường cơ giới, đường ray cản lửa, đường bao lô, mua sắm dụng cụ, ống nước… để phục vụ công tác phòng, chữa cháy rừng.
Luôn trẻ trung, xởi lởi với mọi người là phong cách sống hằng ngày của vị giám đốc 53 tuổi này. Khi mới nhận chức giám đốc, mọi người trong công ty chưa tin vì khả năng xốc lại đội ngũ để chống lại lửa rừng. Nhưng đến hôm nay, mọi việc đều đã thay đổi. Tiếp xúc với nhiều cán bộ, công nhân của công ty mọi người đều đánh giá cao tinh thần trách nhiệm thực tiễn đến lối sống bình dị, sâu sát nhưng cũng kiên quyết của Tống Hữu Chân. Từ các trưởng phòng thuộc cấp như Nguyễn Nhã Hoàng, Nguyễn Trung Trực, Hà Bá Hường, Cao Vinh Quang… đến các trưởng ban và các Phó Giám đốc Phạm Văn Hà, Võ Đình Lợi đều cho rằng: may mắn cho công ty khi đã lựa chọn được một giám đốc biết cách quản lý, sát người, sát việc, thấu lý, đạt tình và luôn lắng nghe, đối thoại để tìm ra giải pháp tốt nhất, chung tay giữ lấy sự nghiệp rừng nguyên liệu giấy của công ty.
Khi nhắc lại những quá khứ thăng trầm của công ty, tâm sự với chúng tôi, Tống Hữu Chân giọng chùng xuống: “Em à, chúng ta sẽ mãi không được quên ký ức đau buồn khi 23 cán bộ công nhân của Cty đã vĩnh viễn nằm xuống nơi mảnh đất này, với sự nghiệp này… Không chỉ có hàng trăm tỉ đồng đã đổ xuống mà còn có cả xương máu nữa… Mình phải giữ lấy, quyết tâm giữ lấy vì sự phát triển của rừng nguyên liệu, em ạ”.
Cuối năm 2014, một sự kiện làm nức lòng cán bộ, đảng viên và người lao động Cty. Đó là việc TCty Giấy Việt Nam đã quyết định xây dựng nhà máy sản xuất ván Vener tại xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô do công ty quản lý. Nhà máy có công suất thiết kế 12.000m3 ván vơ nia/1 năm với nguyên liệu đầu vào là số gỗ tỉa thưa hằng năm trên phần diện tích rừng thông trên 9.000ha của Cty nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng trồng, tạo điều kiện cho rừng phát triển, giải quyết việc làm và thu nhập cho nhân dân huyện Đăk Tô. Đảng bộ Cty cũng vừa nhận cờ đơn vị 5 năm liền trong sạch vững mạnh tiêu biểu của Tỉnh ủy Kon Tum khen tặng. Bí thư Đảng ủy Tống Hữu Chân 12 năm liền đạt danh hiệu đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Hôm nay, những người đến với Cty Nguyên liệu giấy Miền Nam đều nhận thấy, có một ngọn lửa đang cháy, nhưng không phải là ngọn lửa rừng mà là ngọn lửa lòng nhiệt huyết của Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch kiêm Giám đốc Tống Hữu Chân đang cùng với những người lao động ở vùng cực bắc Tây Nguyên này giữ rừng, giữ lấy nguồn nguyên liệu chính để phục vụ cho công nghiệp sản xuất giấy và những ngành phụ trợ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum và những vùng lân cận.
Siết chặt tay anh lúc chia tay, Giám đốc Tống Hữu Chân vội nhảy lên chiếc xe U-oát thẳng tiến về phía rừng. Ở đó, anh em công nhân, những người lao động của Cty đang chờ anh, đón người giám đốc đến để “chia lửa” với mình, để bàn và giải quyết những việc mới phát sinh nơi rừng sâu, núi cao, nơi những cây thông, những cánh rừng… đang bật dậy, hồi sinh từ những vùng đất lửa. (Lao Động 6/8) đầu trang(
Ông Trương Phước Anh-Giám đốc Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn Gia Lai vừa ký quyết định gửi Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ về việc tiếp nhận bàn giao lãnh đạo mới.
Theo công văn này, ông Nguyễn Tất Thành-phó Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia Grai về làm phó Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ. Nguyên nhân, ông Nguyên Đức-Trưởng Ban và cấp phó đã hết thời gian bổ nhiệm nhưng chưa được xem xét bổ nhiệm lại vì đang trong thời gian bị kỷ luật và có sai phạm trong công tác quản lý, đang bị công an tỉnh Gia Lai điều tra.
Trước đó, vào ngày 15/5/2017, Thanh tra tỉnh Gia Lai ra kết luận số 06/KL-TTr về việc thanh tra toàn diện công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp tại Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ. Kết quả thanh tra thể hiện, vào năm 2011, Ban này được tỉnh Gia Lai giao quản lý 9.148,6 ha đất lâm nghiệp. Qua một thời gian quản lý, Ban này bất ngờ báo cáo diện tích đất lâm nghiệp đang quản lý chỉ là 6.677 ha (hụt hơn hơn 2.471ha). Thanh tra tỉnh Gia Lai còn phát hiện 15 cán bộ Ban này, trong đó có ông Nguyễn Đức đã lấn chiếm hơn 84.000 m2 đất lâm nghiệp để làm trang trại trồng cà phê, tiêu và xây nhà kiên cố…
Ngoài ra, trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, Ban này tiếp nhận các nguồn vốn về dịch vụ môi trường rừng hơn 25 tỉ đồng, đã quyết toán được hơn 20 tỉ đồng. Một trong những nguyên nhân khiến số tiền 5 tỷ đồng chưa quyết toán được là vì Ban này đã chi sai nguyên tắc tài chính khi không nhập quỹ hơn 3,6 tỉ đồng. Trong đó, số tiền đã chứng minh được nội dung chi và có chứng từ chi là hơn 2,4 tỷ đồng. Còn lại hơn 1,2 tỷ đồng không phản ánh vào sổ sách kế toán, không còn tồn trong quỹ, không có chứng từ chứng minh đã được sử dụng vào mục đích gì.
Thanh tra tỉnh Gia Lai kết luận, những hành vi trên có dấu hiệu của hành vi tham nhũng và những người phải chịu trách nhiệm cho sai phạm này là ông Nguyễn Đức cùng thuộc cấp.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Kim Hương-Trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, chi Cục kiểm lâm Gia Lai bị kết luận có dấu hiệu lợi dụng việc được giao thực hiện hợp đồng với Ban này xây dựng diễn tập chữa cháy rừng để chiếm đoạt, tham nhũng số tiền hơn 113 triệu đồng. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/8) đầu trang(
Công tác thu hồi toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá, lấn chiếm để trồng lại rừng ở Tây Nguyên hiện gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc.
Nhiều nông, lâm trường và công ty lâm nghiệp tại Tây Nguyên đã và đang trong quá trình giải thể, bàn giao đất cho địa phương. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền các tỉnh Tây Nguyên phải thực hiện là thu hồi toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá, lấn chiếm để trồng lại rừng theo Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo Ban chỉ đạo Tây Nguyên, hiện có hơn 282.000ha đất lâm nghiệp đang bị tranh chấp tại 5 tỉnh Tây Nguyên, trong đó, 70% đã giao quyền sử dụng cho các đơn vị quản lý. Thực hiện Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ, các tỉnh đã triển khai kế hoạch thu hồi để trồng lại rừng nhưng kết quả không đáng kể. Tại tỉnh Đăk Lăk, có 60.000ha phải thu hồi, đến nay, các huyện mới chỉ triển khai cầm chừng và đã thu hồi được vài chục ha. Tình hình thu hồi đất rừng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Nông cũng trong tình trạng tương tự.
Việc thu hồi diện tích rừng bị phá, lấn chiếm đang gặp nhiều khó khăn do diện tích quá lớn, người dân đã canh tác lâu năm, tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai diễn biến phức tạp. Theo thống kê, trong 6 tháng đầu năm, tình trạng phá rừng ở Tây Nguyên có chiều hướng gia tăng và khó kiểm soát. (VTV 6/8) đầu trang(
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu trên toàn cầu.
Rất nhiều giải pháp đã được các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội... đưa ra nhằm giảm thiểu rủi ro thảm họa do biến đổi khí hậu gây ra. Trong đó, trồng rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn là một giải pháp quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Rừng ngập mặn không chỉ có tác dụng bảo vệ đê điều, khu dân cư, bảo tồn, gìn giữ môi trường và tài nguyên sinh vật mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, làm giảm ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, rừng ngập mặn còn góp phần mở rộng thềm lục địa và cải thiện kinh tế cho người dân.
Nhà nước đã ban hành tương đối đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, các chính sách để ưu tiên phát triển rừng ngập mặn, rừng phòng hộ thông qua Luật bảo vệ rừng năm 2004; ngoài ra còn có Nghị định 119/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 của Chính phủ về một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu và Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015-2020.Trên cơ sở đó, tháng 7/2016, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp đã ký kết Bản ghi nhớ trong phối hợp triển khai Dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa” và quản lý các diện tích rừng do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trồng.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Cao Chí Công cho biết, Tổng cục Lâm nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam triển khai công tác trồng rừng. Hai bên đã phối hợp khảo sát đánh giá thực trạng tại địa phương để đưa ra phương án trồng rừng phù hợp, thống nhất phương án, quy hoạch trồng rừng để Hội Chữ thập đỏ các địa phương triển khai thực hiện. Tổng cục Lâm nghiệp cũng đã giới thiệu các đơn vị có chuyên môn để tư vấn cho Trung ương Hội Chữ thập đỏ phối hợp triển khai trồng và chăm sóc rừng...
Ông Cao Chí Công cho biết thêm, hiện nay, hoạt động trồng rừng sản xuất không cần bất cứ chính sách gì các chủ rừng vẫn trồng rất tốt và hiệu quả nhưng đối với trồng rừng phòng hộ đặc dụng thì lại vô cùng khó khăn, đặc biệt là trồng rừng ven biển. Việc trồng rừng đã khó khăn, việc bảo vệ rừng còn khó khăn hơn nhiều. Có một thực trạng là: Hội Chữ thập đỏ trồng rừng tại địa phương nhưng lại không phải là chủ rừng, diện tích rừng được trồng chưa bàn giao được cho chủ rừng cụ thể nên công tác quản lý, bảo vệ rừng tại một số địa phương chưa được chú trọng. Bên cạnh đó, tại một số nơi còn xảy ra việc tranh chấp trong săn bắt, nuôi trồng thủy sản...Phó trưởng Ban Phòng ngừa và ứng phó thảm họa, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Trần Sĩ Pha chia sẻ, dự án trồng rừng ngập mặn hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như: Chiến lược quản lý, sử dụng, phát triển bền vững những diện tích rừng do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã trồng chưa thực sự được quan tâm và đầu tư đúng mức. Ở một số nơi, nhiều diện tích rừng bị chặt phá để sử dụng vào những mục đích khác.
Bên cạnh đó, Bản đồ hiện trạng về diện tích rừng, quyền sử dụng đất đối với diện tích rừng ngập mặn do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trồng chưa được chính quyền địa phương xác nhận. Tính đến nay, ngoài Ninh Bình là địa phương mà UBND tỉnh đã giao Hội Chữ thập đỏ quản lý diện tích rừng đã trồng thì mới có 3/9 tỉnh được xác nhận bản đồ hiện trạng là: Nam Định, Thanh Hóa và Quảng Ninh. Ngoài ra, tại các địa phương chưa có phương án khai thác kinh tế từ rừng ngập mặn.
Theo ông Trần Sĩ Pha, để tăng cường công tác quản lý và phát triển bền vững các diện tích rừng ngập mặn do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trồng, Hội đang lên ý tưởng xây dựng thí điểm mô hình du lịch sinh thái rừng ngập mặn, sinh kế bền vững gắn với biển – rừng... tại ít nhất 50% các tỉnh, thành có dự án trồng rừng ngập mặn của Hội.
Để nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn, Phó Giám đốc Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Bùi Quang Huy cho rằng, cần phối hợp công tác phòng chống thiên tai gắn với sinh kế người dân mới thuyết phục được người dân tham gia.Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là đơn vị luôn tiên phong trong các hoạt động phòng ngừa, ứng phó thiên tai, thảm họa. Nhận thức được tầm quan trọng của rừng ngập mặn, năm 1994, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam triển khai dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa”. Dự án được Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ từ năm 1994 - 2005. Từ năm 1997 - 2015, dự án được Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ thông qua Hiệp Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Dự án tiếp tục được Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ trực tiếp từ 4/2016 đến 8/2017. Tổng kinh phí thực hiện dự án những năm qua đạt trên 11,3 triệu đô la Mỹ, trong đó Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ trên 7,2 triệu đô la Mỹ.
Dự án trồng rừng ngập mặn được Hội Chữ thập Việt Nam thực hiện tại 10 tỉnh: Thanh Hoá, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Vĩnh Phúc và Hoà Bình. Trong đó, 8 tỉnh thực hiện trồng rừng ngập mặn và 2 tỉnh trồng rừng phòng hộ. Các loại cây được trồng là: Trang, đước và bần. Rừng ngập mặn do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trồng chiếm trên 4,27% tổng diện tích rừng ngập mặn hiện đang tồn tại tại Việt Nam, chiếm 25% diện tích rừng tại các tỉnh có triển khai chương trình.
Dự án trồng rừng ngập mặn được đánh giá là dự án “5 nhất” của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Đây là dự án có thời gian triển khai dài nhất, từ năm 1994 đến năm 2017. Dự án được triển khai ở nhiều địa bàn nhất: 166 xã trồng rừng, 392 xã được can thiệp các biện pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thảm họa. Dự án có nhiều thành phần cộng đồng tham gia nhất: Hơn 324.000 học sinh, hơn 10.000 giáo viên, hơn 6.000 cán bộ xã. Dự án có số lượng người hưởng lợi nhiều nhất với hơn 9 triệu người. Đây còn là dự án có hiệu quả nhất vì đến năm 2025, số rừng ngập mặn này sẽ hấp thụ được ít nhất 16,3 triệu tấn CO2, tương đương 218,81 triệu đô la Mỹ.
Đến nay, về cơ bản dự án đã được hoàn thành, đáp ứng được mục tiêu đề ra. Thực hiện dự án đã có 24.000 ha rừng ngập mặn được trồng hiện còn sống, bảo vệ được gần 100 km đê biển... Ngoài ra, dự án còn trồng được 103 ha tre bảo vệ đê sông và 398 ha phi lao bảo vệ ven biển. Bên cạnh đó, dự án còn thực hiện hỗ trợ xây dựng cộng đồng an toàn - giảm thiểu rủi ro thảm họa tại 392 xã thông qua việc nâng cao nhận thức, năng lực về phòng chống thiên tai, thảm họa cho chính quyền và người dân. Những can thiệp của dự án chính là các hoạt động cụ thể hoá chiến lược của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam về công tác phòng ngừa và ứng phó thảm họa. Đây cũng là mô hình điểm được các Hội ở các quốc gia đến tham quan và học tập trong nhiều năm qua. (Tin Tức 5/8) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Thông tư quy định theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp hàng năm.
Theo đó, sẽ theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp theo 4 nội dung sau: Theo trạng thái rừng; theo chủ quản lý; theo các nguyên nhân; theo mục đích sử dụng rừng.
Phương pháp thực hiện theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp được dự thảo nêu rõ bao gồm: 1- Công tác chuẩn bị; 2- Thu thập thông tin về rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp ; 3- Lập bản đồ hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp, tổng hợp kết quả; 4- Tổng hợp kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp các cấp; 5- Tổng hợp kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc; 6- Công bố kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp; 7- Quản lý lưu trữ cơ sở dữ liệu kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp.
Dự thảo nêu rõ, đối với việc công bố kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp ở địa phương, Chi cục Kiểm lâm tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp, kiểm tra hồ sơ kết quả của cấp huyện về mức độ đầy đủ, chính xác của kết quả thu thập và tính thống nhất của số liệu giữa các biểu cập nhật đối với từng cấp xã, huyện, giữa biểu số liệu với bản đồ; thẩm định kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp của cấp tỉnh và tổng hợp hồ sơ, trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn tỉnh.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá mức độ đầy đủ của tài liệu, số liệu và tính pháp lý của hồ sơ công bố diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp do Chi cục Kiểm lâm tỉnh báo cáo; phê duyệt kết quả hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp của địa phương, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 31/1 năm sau.
Đối với việc công bố kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, Tổng cục Lâm nghiệp có trách nhiệm tổng hợp, kiểm tra hồ sơ kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp của các tỉnh; tổng hợp kết quả diễn biến rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp toàn quốc trước ngày 31/3 năm sau. (Đấu Thầu 7/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong ngày 5/8, nắng nóng hoành hành tại miền Bắc Bồ Đào Nha và quần đảo Kythera của Hy Lạp, đã gây cháy rừng, khiến nhiều người dân phải sơ tán.
Tại Bồ Đào Nha, cháy rừng đã bùng phát tại khu vực gần làng Caiz, nằm cách Porto - thành phố lớn thứ 2 của nước này, 55km về phía Đông Bắc.
Hơn 70 lính cứu hỏa, được sự hỗ trợ của 21 xe chuyên dụng, đã được huy động dập tắt các đám cháy. Trong khi đó, giới chức địa phương thông báo sơ tán người dân tại một công viên nước gần đó và phong tỏa một đường cao tốc do lo ngại khói lửa dày đặc gây hậu quả nghiêm trọng.
Do thời tiết nắng nóng nghiêm trọng, ngày 5/8, Cơ quan khí tượng quốc gia Bồ Đào Nha đã đưa ra mức cảnh báo màu vàng tại 13 vùng trên cả nước, mức cảnh báo cao thứ 2 trong hệ thống cảnh báo thiên tai của nước này. Nhiệt độ trong ngày tại một số tỉnh miền Nam Bồ Đào Nha đã lên tới 38 độ C.
Theo Cơ quan khí tượng quốc gia Bồ Đào Nha, sau khi trải một mùa Đông và Xuân khô bất thường, tính đến cuối tháng 7/2017, gần 80% diện tích đất của quốc gia Nam Âu này bị khô nẻ nghiêm trọng. Hồi tháng 6 vừa qua, hơn 60 người đã thiệt mạng và hơn 250 người bị thương trong một vụ cháy rừng lớn kéo dài 5 ngày tại miền Trung Bồ Đào Nha.
Cũng trong ngày 5/8, cháy rừng đã khiến hàng chục hộ dân ở Kythera của Hy Lạp phải sơ tán. Chính quyền địa phương ngay lập tức ban bố tình trạng khẩn cấp trên đảo.
Địa thế hiểm trở cùng với việc gió liên tục đổi hướng đã gây khó khăn cho công tác cứu hỏa. Do quy mô đám cháy rất lớn, lực lượng cứu hỏa địa phương đã yêu cầu được sự hỗ trợ từ các khu vực lân cận.
Tháng 7 và tháng 8/2016, cháy rừng nghiêm trọng cũng đã xảy ra tại Hy Lạp do nhiệt độ tăng cao. Dự báo, nhiệt độ tại nhiều nơi ở nước này trong vài ngày tới có thể lên tới 40 độ C.
Trước đó, thời điểm cuối tháng 7 và đầu tháng 8, Tây Ban Nha và Italy hứng chịu đợt nắng nóng và cháy rừng nghiêm trọng. Tại Italy, tổng cộng 26 thành phố lớn đang được Bộ Y tế đặt trong tình trạng báo động cao nhất do nắng nóng khi nhiệt độ lên tới 40 độ C. (Vietnam+ 6/8) đầu trang(
Nhân tuần lễ “Ngày Voi thế giới 12/8”, chính quyền bang New York (Mỹ) vừa tiêu hủy gần 2 tấn ngà voi nguyên bản và đồ tạo tác được làm từ ngà voi.
Sự kiện trên do Hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) và Cục bảo vệ môi trường New York tổ chức, là kết quả của cuộc điều tra kéo dài 3 năm về tình trạng buôn lậu ngà voi tại địa phương. Theo các chuyên gia, số ngà voi bị tiêu hủy được lấy từ khoảng 100 con voi, có trị giá từ 8 đến 10 triệu USD. (An Ninh Thủ Đô 6/8) đầu trang(
Loài người đã và đang mang lại nhiều hiểm họa cho sự tồn vong của các loài động vật ăn thịt lớn thông qua các hoạt động săn bắn, đánh bẫy, lấn chiếm sinh cảnh… đặc biệt trong các trường hợp bảo vệ vật nuôi.
Mặc dù nhiều hiểm họa đã được kiểm soát đáng kể, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tập trung riêng tới vấn đề thu hẹp phạm vi sinh sống đối với các loài động vật ăn thịt lớn còn tồn tại trên khắp hành tinh.
Nhằm lấp khoảng trống này, hai nhà nghiên cứu Christopher Wolf và William Ripple thuộc Đại học Bang Oregon (Hoa Kỳ) đã tiến hành so sánh bản đồ phạm vi hiện tại của 25 loài ăn thịt lớn (từ 15kg trở lên) với bản đồ phạm vi trước đây. Kết quả nghiên cứu mới được giới thiệu trên Tạp chí Royal Society Open Science vào tháng 7 vừa qua.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy các loài ăn thịt lớn trên thế giới đang bị thu hẹp sinh cảnh một cách đáng ngại, với 22 trong số 25 loài, tương đương 80% số loài được nghiên cứu đã mất đi hơn 20% phạm vi sinh sống.
Riêng loài sói đỏ (Canis rufus) đã mất tới 99,7% nơi cư trú, theo sau là loài sói Ethiopia (Canis simensis) mất đi 99,3%, hổ (Panthera tigris) 95%, sư tử (Panthera leo) 94%, chó hoang châu Phi (Lycaon pictus) 93% và báo săn (Acinonyx jubatus) 92%.
Ngoài sói đỏ, toàn bộ 13 loài ăn thịt lớn bị thu hẹp phạm vi phân bố nhiều nhất đều đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, suy giảm số lượng quần thể, theo Sách đỏ IUCN.
6 loài ăn thịt ít bị thu hẹp phạm vi nhất bao gồm linh miêu Á-Âu (Lynx lynx) 12%, chó dingo (Canis lupus dingo) 12%, linh cẩu vằn (Hyaena hyaena) 15%, linh cẩu đốm (Crocuta crocuta) 24%, sói xám (Canis lupus) 26%, và linh cẩu nâu (Parahyaena brunnea) 27%.
Một số loài ăn thịt sống dưới nước không bao gồm trong nghiên cứu là rái cá (Lutrinae) và gấu trắng Bắc Cực (Ursus maritimus). Loài sói bờm cũng không được phân tích do không có dữ liệu lịch sử đáng tin cậy.
Theo các bản đồ phạm vi phân bố trước đây, khoảng 96% diện tích đất liền (không bao gồm Nam Cực) từng tồn tại ít nhất một loài ăn thịt lớn. Ngày nay, chỉ còn lại 34% diện tích trái đất vẫn tồn tại các loài ăn thịt.
Phân tích tình trạng của các loài ăn thịt cùng quần xã – nói cách khác là các loài có cùng điều kiện tài nguyên như nhau – có thể là chìa khóa mang lại những chiến lược bảo tồn hiệu quả. Theo ông Wolf, sự phục hồi của các loài ăn thịt tại châu Âu và Mỹ có thể giúp đảo ngược lại xu hướng suy giảm phạm vi sinh sống trong dài hạn mà nhóm đã quan sát được. Với những con số thu hẹp phạm vi đáng lo ngại, việc bảo tồn toàn bộ một quần xã là vô cùng cần thiết để có thể duy trì chức năng hệ sinh thái và phòng tránh hiểm họa tuyệt chủng.
Các động vật ăn thịt vốn từng xuất hiện nhiều nhất ở Đông và Đông Nam Á, nơi có tới 9 loài ăn thịt lớn trong cùng sống một hệ sinh thái, và châu Phi với 6 loài từng đồng tồn tại. Vì vậy không mấy ngạc nhiên khi đây là những nơi suy giảm động vật ăn thịt lớn nhiều nhất với trung bình 2,9 loài bị mất đi, trong khi toàn bộ phần còn lại của châu Á mất đi trung bình 2,8 loài. Châu Đại Dương, châu Âu và châu Mỹ mất đi trung bình 1 hoặc ít hơn 1 loài, trong đó cần nhấn mạnh rằng một số nơi tại châu Âu và Tây Mỹ đã mất đi 100% các loài từng tồn tại.
Theo hai tác giả, sự thu hẹp phạm vi của các động vật ăn thịt lớn có liên quan chặt chẽ tới tốc độ gia tăng dân số nông thôn, kèm theo chăn nuôi gia súc và mở rộng diện tích đất canh tác. Kết luận này đi ngược với các nghiên cứu trước đó, cho rằng các loài ăn thịt lớn phải đối mặt với rủi ro tuyệt chủng do cần những con mồi lớn hơn và sinh cảnh rộng hơn.
Tăng lòng bao dung của con người đối với động vật ăn thịt lớn, đồng thời xây dựng các khu bảo vệ là vô cùng cấp thiết để bảo tồn các loài ăn thịt khỏi nguy cơ tuyệt chủng bởi mất đi những loài này đồng nghĩa với việc mất đi những hiệu ứng sinh thái quan trọng.
Các động vật ăn thịt lớn giúp duy trì các dịch vụ sinh thái và kinh tế đang trực tiếp và gián tiếp giúp duy trì sự đa dạng các loài động vật có vú, các loài chim, động vật không xương sống và lưỡng cư. Thêm vào đó, chúng còn tác động lên các quy trình và điều kiện sinh thái khác.
Mặc dù dân số các khu vực nông thôn được dự đoán ngày càng gia tăng, các loài động vật ăn thịt vẫn có thể được an toàn nếu từ người dân đến chính sách đều ủng hộ bảo tồn. Thực tế này đã được chứng minh với sự phục hồi các loài ăn thịt tại châu Âu và nhiều nơi khác, như loài sói xám tại Mỹ. Đồng thời, các biện pháp nông nghiệp thân thiện với các loài săn mồi có thể sẽ giúp giảm tác động của việc mở rộng canh tác đối với phạm vi sinh sống của chúng – một lĩnh vực vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu và thực tiễn. (Bảo Vệ Rừng & Môi Trường 5/8) đầu trang(./.
|
|||