|
Ngày 07 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Vụ cháy xảy ra khoảng hơn 16h chiều ngày 6/7 tại bãi chứa đế giày và các sản phẩm phế thải của Công ty giày Rieker Việt Nam tại thôn Quảng Lăng 1 và 2 thuộc phường Điện Nam Trung (thị xã Điện Bàn, Quảng Nam).
Theo những người dân ở thôn Quảng Lăng 1 và 2 cho biết, lúc hơn 16h, họ bất ngờ nhìn thấy ngọn lửa cùng cột khói đen bùng phát tại khu đất “lò vôi” của địa phương. Tuy nhiên khi mọi người đến nơi thì được biết đây là núi đế giày cùng các phế phẩm của Công ty giày Rieker Việt Nam.
Do địa điểm cháy giữa khu rừng keo lá tràm, xa khu dân cư nên công tác chữa cháy ban đầu gặp rất nhiều khó khăn. Khoảng vài chục phút sau, 2 xe cứu hỏa cùng hơn 10 chiến sĩ PCCC từ TP Hội An có mặt tại hiện trường, tuy nhiên, do không có đường vào khu vực cháy nên các xe chữa cháy phải chạy vòng tìm chỗ tiếp cận thuận tiện.
Lúc này, ngọn lửa bốc lên rất cao, thiêu rụi rừng keo lá chàm xung quanh. Ngọn khói đen đặc quánh cao hàng chục mét bốc lên trời khiến cho nhiều người dân cách hàng chục kilômét từ thị trấn Nam Phước (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) hay tại TP Đà Nẵng cũng nhìn thấy cột khói.
Đến khoảng hơn 17h, sau khi tiếp cận được đám cháy, 2 xe cứu hỏa mới tiến hành phun nước dập lửa. Khoảng vài chục phút sau, đám cháy cơ bản được dập tắt. (Dân Trí 6/7) đầu trang(
Ngày 6-7, UBND phường Hòa Khánh Nam (quận Liên Chiểu) tổ chức hội nghị tuyên truyền phương án phòng cháy và chữa cháy (PC&CC) rừng, đồng thời diễn tập phương án chữa cháy rừng trên địa bàn phường năm 2016.
Tình huống giả định, đám cháy xảy ra tại cánh rừng thuộc tổ 159 phường Hòa Khánh Nam. Đây là khu vực địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, thảm thực bì rất dày, xa nguồn nước nên việc tiếp cận gặp khó khăn.
Nhận tin báo, UBND phường huy động khoảng 200 người trong lực lượng kiểm lâm, dân quân tự vệ, tổ bảo vệ rừng, các lực lượng vũ trang đóng chân tại địa bàn và các hộ có rừng ở khu vực xung quanh phối hợp, cơ động tiếp cận, khống chế, không để xảy ra cháy lan. Sau đó, Phòng Cảnh sát PC&CC số 4 (phụ trách địa bàn quận Liên Chiểu) xuất 2 xe cùng 40 cán bộ, chiến sĩ đến khống chế và đám cháy được dập tắt ngay sau đó.
Theo ông Bùi Trung Khánh, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, cuộc diễn tập lần đầu tiên được tổ chức, nhằm nâng cao khả năng chỉ đạo, chỉ huy của Ban chỉ đạo PC&CC rừng - bảo vệ rừng cấp phường; kiểm tra phương án PC&CC rừng, cũng như khả năng phối hợp và huy động lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ; đồng thời là dịp nâng cao ý thức, trách nhiệm về phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng của mỗi chủ rừng và mỗi người dân. (Báo Đà Nẵng 7/7) đầu trang(
Từ đầu tháng 5 đến nay, thời tiết liên tục nắng nóng kéo dài với nhiệt độ cao khiến cho nhiều diện tích rừng của tỉnh ta phải đối mặt với nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn. Vì vậy, công tác phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng đang được các cấp, các ngành và các chủ rừng quan tâm thực hiện.
Vĩnh Phúc hiện có hơn 33 nghìn ha rừng, trong đó có gần 16 nghìn ha rừng đặc dụng, hơn 4 nghìn ha rừng phòng hộ và gần 14 nghìn ha rừng sản xuất. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy rừng với tổng diện tích hơn 21 ha.
Nguyên nhân dẫn đến cháy rừng chủ yếu do thời tiết hanh khô, nắng nóng kéo dài khiến thảm thực bì khô, nỏ làm gia tăng vật liệu cháy; người dân sử dụng lửa bất cẩn khi đốt nương làm rẫy, hun lửa bắt ong; đốt vàng mã, trảng cỏ, rơm rạ gần rừng gây cháy. Riêng vụ cháy 17 ha rừng tại thôn Thanh Cao, xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, các cơ quan chức năng vẫn đang điều tra làm rõ nguyên nhân.
Tam Đảo là huyện miền núi có diện tích rừng lớn nhất tỉnh với hơn 14.624 ha. Phần lớn diện tích rừng của huyện Tam Đảo là rừng trồng thuần loài gồm keo, bạch đàn và thông. Những loại cây này có nhiều tinh dầu, khi gặp thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao rất dễ bén lửa. Trong khi đó, thực bì dưới tán rừng dày gồm lau, lem, tế, guộc, cuộn, cành khô, lá rụng…làm gia tăng vật liệu gây cháy. Vì vậy, những năm qua, huyện Tam Đảo được xem là 1 trong 6 trọng điểm cháy rừng của cả nước.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Tam Đảo, hiện trên địa bàn huyện có hơn 2.776 ha rừng có nguy cơ xảy ra cháy cao, tập trung ở các xã: Minh Quang, Đại Đình, Hồ Sơn, Đạo Trù và Tam Quan. Ngày 15/6 vừa qua, tại thôn Xạ Hương, xã Minh Quang vừa xảy ra vụ cháy làm thiệt hại gần 5 ha rừng. Ngay sau khi phát hiện, lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương đã kịp thời huy động lực lượng dập tắt đám cháy. Trước tình hình đó, huyện Tam Đảo đang tích cực triển khai các biện pháp, phương án phòng cháy chữa cháy rừng nhằm giảm thiểu thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Ông Nguyễn Văn Nam, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tam Đảo cho biết: “Để chủ động phòng cháy chữa cháy rừng, Hạt Kiểm lâm Tam Đảo đã tham mưu UBND huyện kiện toàn lại Ban chỉ huy tìm kiếm cứu nạn và phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện và xã; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; củng cố các tổ xung kích chữa cháy rừng.
Trong đó, chú trọng rà soát những vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy, bố trí lực lượng thường trực 24/24h tại các chốt canh gác lửa rừng vào những ngày nắng nóng có cảnh báo cháy rừng cấp độ IV, cấp độ V; đôn đốc các chủ rừng phát dọn thực bì để giảm vật liệu cháy. Ngoài ra, Hạt Kiểm huyện tiến hành dọn sạch gần 20 km đường băng cản lửa (gồm đường băng trắng và đường băng xanh) ở xã Đạo Trù và Minh Quang; tu sửa, mua sắm bổ sung các phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng.
Trước không ít khó khăn do lực lượng kiểm lâm mỏng; địa bàn rộng, nhỏ lẻ, phân tán; thời tiết nắng nóng kéo dài, đất sản xuất cũng như nương rẫy nằm xem kẽ với rừng; phần lớn diện tích rừng đều nằm ở nơi địa hình phức tạp, hiểm trở, công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh càng trở nên cấp thiết.
Liên tiếp những ngày qua, tình trạng nắng nóng kéo dài khiến nhiệt độ trung bình trên địa bàn tỉnh ở mức khá cao, có thời điểm nhiệt độ ngoài trời lên đến 38-40ºC, do đó nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Để công tác phòng cháy chữa cháy rừng đạt hiệu quả, cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương, mỗi người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm, đặc biệt là những người dân sống ven rừng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Vĩnh Phúc 5/7) đầu trang(
Ngày 6/7, UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định phân bổ 10 tỷ đồng cho các cơ quan, đơn vị để thực hiện các dự án trồng rừng cơ sở, thuộc dự án Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam.
Theo đó, giao các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, hiệu quả. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, giám sát các chủ đầu tư thực hiện đảm bảo kế hoạch, mục tiêu yêu cầu và thực hiện công tác báo cáo giám sát đầu tư theo quy định. (Đại Đoàn Kết 7/7) đầu trang(
Sau nhiều năm, vì những lí do khác nhau, trong đó có việc buông lỏng quản lý, diện tích rừng Tây Nguyên giảm sút.
Việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo đóng cửa rừng, tại Hội nghị “Các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020”, tổ chức tại Đắk Lắk ngày 20/6 chính là quyết tâm to lớn của Chính phủ đối với vấn đề hết sức hệ trọng này. Tuy nhiên, “đóng” thì phải “khóa”, có nghĩa là cần sự vào cuộc quyết liệt của các ngành chức năng cũng như chính quyền địa phương.
Trong những năm qua việc chỉ đạo giữ rừng Tây Nguyên luôn được nhắc tới, nhưng rừng vẫn bị xẻ thịt, hàng loạt vụ phá rừng quy mô lớn liên tiếp xảy ra mà lực lượng kiểm lâm, cơ quan chính quyền địa phương lại thiếu sự vào cuộc. Năm 2014, Tây Nguyên có 3,3 triệu hécta rừng thì đến nay chỉ còn hơn 2,5 triệu hécta.
Trước giờ đóng cửa rừng, chúng tôi đến xã vùng biên Mô Rai, huyện Sa Thầy (Kon Tum) nơi có 9 đơn vị được cấp phép chuyển đổi đất rừng lớn nhất tỉnh với diện tích hơn 37.500ha. Dù tỉnh Kon Tum đã tạm dừng việc cấp phép dự án chuyển đổi rừng trồng cao su và thực hiện lệnh đóng cửa rừng nhưng gỗ rừng vẫn hàng ngày tuồn ra khỏi địa bàn xã Mô Rai.
Theo quốc lộ 14C từ huyện Ngọc Hồi vào xã Mô Rai, dọc tuyến đường những chiếc xe cần cẩu vẫn ngang nhiên hoạt động vận chuyển gỗ ra khỏi rừng. Nhiều xe tải nặng cũng tham gia chở gỗ khiến quốc lộ này tan nát, trơ sỏi đá. Khu vực rừng Vườn Quốc gia Chư Mon Ray nằm cạnh quốc lộ 14C cũng xuất hiện nhiều toán lâm tặc canh giữ cho nhau vào đây chặt gỗ. Ở xã vùng sâu này, chuyện lâm tặc hay ai chở gỗ từ rừng ra là chuyện không hiếm.
Ông Bùi Thanh Bình - Chánh Văn Phòng UBND tỉnh Kon Tum cho biết, cách đây vài năm UBND tỉnh Kon Tum cũng xây dựng Đề án bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, suốt thời gian qua rừng tại tỉnh Kon Tum vẫn liên tục bị xẻ thịt, hàng trăm hécta rừng bị xóa sổ. Và điều dư luận quan tâm, sau chỉ đạo đóng cửa rừng của Thủ tướng, rừng ở đây sẽ được bảo vệ vững chắc.
Theo chủ trương của Chính phủ, từ năm 2009-2020, Tây Nguyên sẽ trồng mới 100.000ha cao su. Nhưng các địa phương nơi đây lại vội vàng chuyển đổi rừng một cách ồ ạt để trồng cao su, dẫn đến cuối năm 2015, diện tích cao su toàn vùng đã lên tới 164.000ha. Nhiều cánh rừng giàu có, xanh tốt bỗng nhiên bị xếp loại rừng “nghèo” để chuyển sang trồng cao su.
Do việc khảo sát không kỹ, nhiều cánh rừng “giàu” ở Gia Lai bỗng chốc biến thành rừng “nghèo” khi giao cho các doanh nghiệp. Mặc dù được xếp vào loại rừng nghèo, nhưng trên thực tế, mật độ cây rừng ở đây rất dày, cây rừng có đường kính từ 15-60cm, cùng nhiều loại gỗ quý hiếm.
Trong chuyến đi về huyện Ea H’leo, chúng tôi tìm đến Dự án trồng cao su của Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ - Xuất nhập khẩu Kim Huỳnh. Vào năm 2010, Công ty này được tỉnh giao 778ha đất lâm nghiệp tại tiểu khu 120, 121 của xã Ea Tir để khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng cao su. Ông Nguyễn Văn Trừ- cán bộ trạm bảo vệ rừng của Công ty Lâm nghiệp Chư Pả, đóng cạnh đó cho biết: “Khu vực rừng đó có trữ lượng gỗ rất lớn, nhưng không biết vì sao tỉnh lại cho chuyển đổi. Trong khi đó, khu vực được giao cho công ty khoanh nuôi, bảo vệ thì cũng bị người dân chặt phá không thương tiếc”.
Theo quy hoạch của tỉnh Gia Lai đến năm 2015, diện tích đất rừng chuyển đổi sang trồng cao su là trên 66.000ha, trong đó có hơn 51.000ha rừng tự nhiên nghèo. Qua đó, tỉnh đã cấp phép cho 44 dự án trồng cao su cho 17 doanh nghiệp thuê trồng tại 5 huyện gồm: Chư Prông, Chư Pưh, Đức Cơ, Ia Grai và Ia Pa.
Phấn đấu đến năm 2015, chương trình chuyển đổi trồng cao su sẽ hoàn tất nhưng đến nay chỉ trồng được một nửa so với kế hoạch, trồng hơn 25.000ha. Trong quá trình triển khai dự án, nhiều doanh nghiệp còn tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất khi chưa được UBND tỉnh cho phép.
Có một thực tế đáng buồn, nhiều cánh rừng khộp không thích hợp cho việc chuyển đổi trồng cao su nhưng tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai vẫn cho doanh nghiệp khảo sát trồng cao su. Tại huyện Ea H’leo (Đắk Lắk), hai dự án trồng cao su của Công ty TNHH Hoàng Nguyễn và Công ty cổ phần Đầu tư Tân Tiến được giao trên những cánh rừng khộp nhiều sỏi đá, khó trồng cao su.
Sau 3 năm được giao đất, Công ty TNHH Hoàng Nguyễn mới trồng được 80ha cao su hơn 1 tuổi nhưng cây xấu và phải trồng đi trồng lại vài ba lần. Còn dự án của Công ty cổ phần đầu tư Tân Tiến được giao chồng lên khu vực quy hoạch Khu du lịch Thác Bảy Tầng của huyện Ea H’leo. Nhiều cánh rừng khộp ở huyện Ea Súp (Đắk Lắk) cũng được giao trồng thí điểm cao su.
Và bên cạnh những kết quả đem lại từ các chính sách và chương trình phát triển như khai hoang làm kinh tế, di dân, thuỷ điện, khai khoáng, trồng cây công nghiệp... Rừng nhanh chóng bị cạn kiệt, nguồn nước càng khan hiếm, không gian sinh kế và văn hoá của các nhóm dân tộc tại chỗ bị thu hẹp đã làm cho đời sống của người dân ngày càng bấp bênh do phải phụ thuộc vào thị trường. Đóng cửa rừng Tây Nguyên là quyết định đúng đắn của Thủ tướng cần được thực hiện nghiêm túc.
Trong vòng 5 năm (từ 2010-2014), trữ lượng gỗ rừng khu vực Tây Nguỵên giảm hơn 57 triệu m3 (tương ứng giảm 17,4%), từ 327,5 triệu m3 năm 2010 xuống còn 270,5 triệu m3 năm 2015. Tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép xảy ra nghiêm trọng. Năm 2015, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 6.034 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ, phát triển rừng, tăng 463 vụ so với năm 2014 (tương ứng 8,3% số vụ).
Một số hành vi vi phạm chủ yếu là phá rừng trái phép; lấn chiếm rừng và đất rừng trái phép; khai thác gỗ và lâm sản trái pháp luật. Trọng điểm khai thác gỗ trái phép tập trung chủ yếu tại các khu vực còn nhiều rừng tự nhiên, khu vực biên giới, khu vực giáp ranh; các rừng đặc dụng. Chỉ tính trong 5 tháng đầu năm 2016, các lực lượng đã phát hiện và xử lý 1.724 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ, phát triển rừng.
Hiện các tỉnh Tây Nguyên có 2.062 cơ sở chế biến gỗ và đồ mộc, trong khi có tới 1.377 cơ sở sản xuất đồ mộc, thì chỉ có 685 cơ sở chế biến gỗ. Do phát triển mất cân bằng như vậy nên việc quản lý các cơ sở chế biến gỗ kém hiệu quả. (Đại Đoàn Kết 7/7) đầu trang(
Căn cứ vào một văn bản được Phó Chủ tịch tỉnh ký, 200 héc ta rừng phòng hộ đã được một số cán bộ thuộc Sở NNPTNT và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Nghi Xuân (Thanh Hóa) “nuốt gọn”. Hậu quả là, rừng mất, người dân địa phương đau xót, cán bộ được hưởng lợi nhưng xem ra vụ việc vẫn chưa được lãnh đạo tỉnh này xử lý…
Căn nguyên vụ việc xuất phát từ Quyết định 2643/QĐ-UBND Ngày 11/8/2011, do ông Nguyễn Đức Quyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ký. Quyết định này có nội dung cho phép chuyển mục đích sử dụng 200 hecta thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Xuân (BQL rừng Như Xuân) từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất.
Những tưởng đây là một quyết định sáng suốt mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương và cho nông dân trồng rừng, song, ẩn sau đó là màn kịch hết sức ngoạn mục được viết bởi một số cán bộ của BQL rừng Như Xuân và Sở NN&PTNT Thanh Hóa.
Theo ghi nhận của PV báo PLVN điện tử, toàn bộ diện tích 200 hecta gồm 20 lô thuộc khoảnh 2,3,5 tiểu khu 629 và khoảnh 2,3 tiểu khu 639 thuộc địa phận xã Xuân Thái (huyện Như Thanh) đang thuộc sự quản lý của BQL rừng Như Xuân có chức năng là rừng phòng hộ, giữ độ ẩm, nguồn nước cho Vườn Quốc gia Bến En.
Vậy nhưng, nại ra lí do là khu rừng này đã nghèo kiệt, không đảm bảo được chức năng phòng hộ, cán bộ BQL rừng Như Xuân đã báo cáo với lãnh đạo Sở NN&PTNT làm tờ trình gửi lên UBND tỉnh Thanh Hóa. Nội dung tờ trình thể hiện khu rừng này đã nghèo kiệt và cần phải chuyển đổi.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành và tờ trình của Sở NN&PTNT, ngày 11/8/2011, ông Nguyễn Đức Quyền (Thường vụ tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thanh Hóa) đã khẩn trương ra quyết định chuyển mục đích sử dụng 200 hecta của BQL rừng Như Xuân từ quy hoạch rừng phòng hộ sang rừng sản xuất.
Tại văn bản này cũng nêu rõ, lãnh đạo tỉnh đạo BQL rừng Như Xuân “thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng, quản lý, sử dụng, kinh doanh rừng theo quy định của pháp luật”.
Tiếp tục tạo điều kiện cho việc chuyển đổi, và để đảm bảo việc chuyển đổi có hiệu quả, UBND tỉnh cũng đã có quyết định thanh lý đối với khu rừng phòng hộ và Quyết định số 3372/QĐ-UBND về việc chuyển rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su theo đúng quy hoạch của tỉnh.
Đến ngày 28/02/2014, UBND tỉnh Thanh Hóa tiếp tục ra Quyết định số 564/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí thực hiện chính sách phát triển cao su, theo đó tỉnh hỗ trợ 9.000.000đ cho mỗi hecta ca su.
Cần phải nói thêm ở đây, các quyết định trên thể hiện rất rõ quan điểm, chủ trương, chính sách của UBND tỉnh Thanh Hóa đối với việc chuyển đổi rừng theo đúng quy định của pháp luật.
Vậy nhưng sau khi nhận được các quyết định nêu trên, BQL rừng Như Xuân đã không nghiêm túc thực hiện để phát huy thế mạnh của rừng, góp phần ổn định đời sống cho bà con nông dân tại địa phương mà trái lại đã cấu kết, lập hồ sơ “băm nát” 200 ha rừng chia nhau dưới dạng hợp đồng giao khoán.
Theo tài liệu của PV thu thập được, những cán bộ được hưởng lợi từ khu rừng này là bao gồm Giám đốc BQL rừng Như Xuân là ông Phạm Ngọc Nam (bên A) đã ký giao cho chính ông (bên B) 2,0 hecta. Một hợp đồng khác do bà Bùi Thị Hoa là Phó Giám đốc BQL (bên A) giao cho Giám đốc Phạm Ngọc Nam (bên B) 11,0 hecta.
Tiếp đó, ông Phạm Ngọc Nam cũng ký giao cho bà Bùi Thị Hoa 7,8 hecta. Song song, các hợp đồng dưới dạng giao khoán còn có thêm các cán bộ, công nhân viên thuộc BQL với tổng số 102,1/200 hecta. Thời gian giao khoán là 50 năm, trong đó lợi ích sau khi trồng rừng bên A tức BQL rừng Nhưu Xuân hưởng 20%, còn lại bên B tức bên nhân giao khoán tức cán bộ, lãnh đạo hưởng 80%.
Việc giao khoán có sự chứng kiến của ông Nguyễn Hữu Sang, Chủ tịch UBND xã Xuân Thái, nơi có 200 hecta đất rừng. Theo ông Sang, cán bộ BQL rừng Như Xuân không phải là người địa phương, không trực tiếp làm rừng. Ngược lại, người dân xã Xuân Thái là những người gắn bó bao đời nay với rừng đang thiếu đất sản xuất, đời sống hãy còn bấp bênh thì không hề được tiếp cận với khu rừng này!?
Theo thông tin PV thu thập được, ngoài các cán bộ của BQL rừng phòng hộ Như Xuân thì diện tích rừng còn lại (102,1/200 hecta) cũng được chia chác cho lãnh đạo của sở NNPTNT tỉnh Thanh Hóa, cán bộ Kiểm lâm huyện Như Thanh...
Xin nói thêm rằng, rừng phòng hộ có một vai trò, chức năng rất quan trọng. Với ý nghĩa đó, Nhà nước luôn có các chính sách khuyến khích, bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ. Ở đây, cũng chính trong tầm thẩm quyền của mình, UBND tỉnh Thanh Hóa “xóa sổ” 200 hecta rừng phòng hộ. Nhưng, ai là người chịu trách nhiệm xử lí những dấu hiệu sai phạm trên thì vẫn còn là một ẩn số!
Để có thêm thông tin khách quan, PV đã liên tục gọi điện cho bà Bùi Thị Hoa (nay là Giám đốc BQL rừng Như Xuân, là người kế nhiệm ông Nam) nhưng bất thành. PV đến trụ sở BQL tại huyện Như Thanh nhưng cũng chỉ nhận được lời từ chối hết sức nhã nhặn rằng “lãnh đạo đi họp, khi nào thuận tiện sẽ liên lạc lại với PV…”. (Pháp Luật Việt Nam 6/7) đầu trang(
Ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tăng cường công tác lãnh chỉ đạo trong việc đảm bảo thực thi pháp luật quản lý và bảo vệ rừng; xử lý nghiêm các tập thể và cá nhân vi phạm các quy định về chặt phá, khai thác mua bán vận chuyển, cất giữ kinh doanh lâm sản trái phép.
6 tháng đầu năm 2016, vi phạm phá rừng làm nương rẫy trái phép chỉ còn 60 vụ giảm 128 vụ so với cùng kỳ; khai thác lâm sản trái phép giảm 33%, tịch thu trên 2.700 m3 gỗ các loại; buôn bán lâm sản trái phép 142 vụ; cháy rừng 28 vụ giảm 49%… Tổng số vụ vi phạm lâm luật giảm gần 40% so với cùng kì năm 2015. Thu nộp ngân sách trên 1,3 tỷ đồng trong đó thu phạt hành chính là trên 1 tỷ còn lại là bán tang vật và đốc thu.
6 tháng cuối năm, Chi cục Kiểm lâm tiếp tục tăng cường công tác phối hợp với các sở ban ngành, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra kiểm soát, xử lý nghiêm các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ và phát triển rừng. Phấn đấu giảm 20% các vụ vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng trong năm 2016. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 5/7) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm 2016, lực lượng kiểm lâm tỉnh Sơn La đã kiểm tra, phát hiện, lập biên bản 306 vụ vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng, giảm hơn 37,8% so với cùng kỳ năm 2015.
Trong đó, số vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy trái phép là 60 vụ, giảm hơn 68%, gây thiệt hại 8,2ha rừng non tái sinh. Khai thác lâm sản trái phép 12 vụ, giảm 33% so với cùng kỳ, tịch thu 2,7m3 gỗ các loại. Buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép 142 vụ, tịch thu 58,6m3 gỗ các loại. Cất giữ lâm sản 54 vụ, tịch thu 70,3m3 gỗ các loại. Cháy rừng 28 vụ, giảm 49% so với cùng kỳ, thiệt hại 859,5ha rừng tự nhiên và rừng trồng.
Hiện nay, lực lượng chức năng đã xử lý 256 vụ, tịch thu 131,71m3 gỗ các loại và nhiều lâm sản khác. Tổng thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 1,3 tỷ đồng.
Ông Vũ Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La cho biết: Với sự vào cuộc quyết tâm của lực lượng kiểm lâm, sự ủng hộ của người dân, công tác bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm 2016 đã có những chuyển biến tích cực, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm mạnh, diện tích rừng bị xâm hại cũng giảm so với cùng kỳ năm 2015.
Tại các đơn vị trực thuộc đều đã triển khai thực hiện tốt các quy định về bảo vệ rừng, PCCCR, 100% các xã trọng điểm đều có kiểm lâm địa bàn tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở thực hiệu quả công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, nhất là công tác PCCCR. Phương án PCCCR được xây dựng luôn sát với thực tế ở cơ sở, lập kế hoạch triển khai thực hiện đến cấp xã, bản, cụm dân cư.
Đồng thời, tiến hành ký cam kết thực hiện các quy định về bảo vệ rừng, PCCCR giữa Chủ tịch UBND huyện, thành phố với Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn, giữa Chủ tịch UBND xã với các trưởng bản và giữa các trưởng bản với các chủ rừng, hộ gia đình.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, tình trạng phá rừng làm nương rẫy trái phép vẫn diễn ra ở một số địa bàn. Việc chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vẫn chưa được nghiêm túc thực hiện, nợ tồn đọng tiền xử phạt vi phạm hành chính còn nhiều.
Đặc biệt, tình trạng di cư tự do, tranh chấp đất đai chưa được giải quyết dứt điểm, tình trạng lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp chưa được xử lý theo quy định đang là một thách thức lớn với công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Sơn La thời gian tới. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/7) đầu trang(
Tam thuê người vào rừng khai thác gỗ kiền. Tới khi vụ án bị phát hiện, số gỗ kiền trong rừng ở khu vực Đà Nẵng và Quảng Nam gần như bị triệt hạ hết. Để che giấu hành vi sai trái của mình, Tam không ngần ngại hối lộ. Trong khi đó, những người có chức trách lại chấp nhận cầm tiền để nhắm mắt làm ngơ.
Thông thường, trong các phiên tòa, bị cáo sợ sệt, hoảng loạn nhưng riêng Vũ Văn Tam (48 tuổi, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) thì hoàn toàn khác biệt. Hắn nhìn thẳng vào HĐXX, thỉnh thoảng lại nhoẻn miệng cười. Tam chính là bị cáo trong vụ phá rừng Cà Nhong, được xem là vụ phá rừng bị phát hiện lớn nhất tại TP.Đà Nẵng từ trước đến nay.
Tam có quê gốc Nam Định di cư vào tỉnh Quảng Nam từ lâu. Năm 20 tuổi, gã theo chân các phu vàng vào rừng đãi vàng thuê. Về sau, nhờ tài ăn nói, cộng với máu “anh chị”, gã kết bạn với nhiều thành phần bất hảo. Lúc cảm thấy đã đủ “vây cánh”, gã chuyển ra làm riêng, mở bãi vàng lậu. Tam chiêu mộ khá nhiều dân có máu mặt ở phía Bắc nhờ cai quản giúp. Tam lấy tên giang hồ là Tam “Lợi”. Tên tuổi của Tam “Lợi” ngày ấy nổi như cồn. Người dân ở huyện Đông Giang nghe đến Tam đều “hồn xiêu phách lạc”.
Tam “Lợi” mở rất nhiều bãi vàng trái phép ở khu vực thượng nguồn thủy điện An Điềm. Trong giang hồ vẫn còn lưu truyền, từng có lúc, hầu hết các bãi vàng ở vùng núi này đều nằm dưới tay hắn. Khi có người lạ nhắc về hắn, ai cũng biết. Tuy nhiên, lúc hỏi nơi hắn ẩn náu thì mọi người đều dè dặt vì “tiết lộ thông tin sợ hại đến mình”.
Vùng thượng nguồn cũng đã từng là vùng ngoại bất nhập, nội bất xuất, lán trại ở các bãi vàng đều có đầu gấu cai quản. Điều đáng nói, việc khai thác rầm rộ nhưng mỗi khi có đoàn kiểm tra thì lập tức máy móc nằm im, vàng tặc rút hết. Thậm chí, lúc nào cơ quan chức năng mạnh tay, quân của gã sẵn sàng đào hố chôn hết máy móc, lán trại...
Cuối năm 1993, Nhà nước có chủ trương đóng cửa rừng, tất cả các xí nghiệp, lâm trường đều phải rút khỏi rừng, nhưng Tam “Lợi” vẫn không nhúc nhích, tiếp tục hành nghề. Năm sau, hắn làm đơn xin xác nhận nhà ở và san lấp mặt bằng trồng rừng. Ngày ấy, chính quyền xã Tư (huyện Đông Giang) chỉ phê: “Đơn trình bày của ông Tam là đúng, kính chuyển các ngành tạo điều kiện giúp đỡ, giải quyết”.
Nội dung chỉ như thế nhưng hắn xem đây như giấy phép được cấp rừng. Bằng “mối quan hệ rộng rãi”, hắn san ủi trồng cây keo, lấn chiếm đến hơn 56 ha rừng. Trong lúc chiếm rừng, hắn còn chia lô đất bán cho các đối tượng khai thác vàng trái phép, khiến vùng đất này trở thành “điểm nóng” tội phạm.
Khi vùng đất này đã bị “cày” nát, vàng trở nên khan hiếm, Tam “Lợi” quyết định chuyển qua trồng rừng kiêm phá rừng. Do sống lâu năm ở đây nên gã biết, trong rừng Cà Nhong (huyện Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) có nhiều gỗ nên nảy sinh ý định thuê người vào rừng này khai thác gỗ trái phép. Chính hắn dẫn các đàn em vào rừng, chỉ từng địa phận để khai thác. Đặc biệt, hắn chỉ chặt một loại gỗ duy nhất là kiền. Vì, đây là gỗ có giá trị cao, bán được giá.
Tam thỏa thuận với “đàn em” mỗi thanh gỗ có giá 70 nghìn đồng và chuyển đến nơi tập kết sẽ tăng lên 150 nghìn đồng. Lúc nào đủ 180 thanh gỗ, Tam sẽ cho đàn em vào rừng dùng xe tải chở đi tiêu thụ. Để ngụy trang, Tam “Lợi” để phía trên là gỗ keo, phía dưới là gỗ kiền và ung dung chở đi bán. Một điều tra viên xót xa nhận định, đến cuối năm 2014, vụ án này được khởi tố, Tam bị bắt giữ, gỗ kiền trong rừng ở khu vực Đà Nẵng và Quảng Nam gần như bị triệt hạ hết.
Trong suốt phiên tòa, Tam cho rằng không hề khai thác gỗ kiền trái phép mà chỉ khai thác gỗ keo trong vùng đất của mình. Thế nhưng, các bị cáo là “đàn em” của Tam lại thừa nhận việc nghe lời Tam để khai thác gỗ kiền. Đặc biệt, họ còn khai, Tam nhiều lần nói: “Cứ khai thác gỗ, việc quan hệ với các lực lượng chức năng đã có tao lo”. Và, các đối tượng này khai thác gỗ theo lời của Tam và số lượng gỗ khai thác được lần lượt về xuôi một cách êm đẹp.
Trong khi đó, các nhân viên trạm Quản lý và Bảo vệ rừng Cà Nhong đều có cùng lời khai: “Vào một ngày khoảng tháng 10/2013, Phạm Phú Cường (49 tuổi, nguyên Trạm trưởng) có nói với các nhân viên ở Trạm và hai nhân viên kiểm lâm địa bàn việc Tam có nói với Cường để Tam đưa người vào rừng Cà Nhong khai thác gỗ trái phép, mỗi xe gỗ Tam đưa cho anh em ở Trạm 5 triệu đồng để cải thiện. Khi nghe Cường nói, tất cả anh em trong Trạm đều đồng ý, không ai có ý kiến gì”.
Đứng sau vành móng ngựa, mặt Cường đỏ gay và thừa nhận có sự việc này. Tuy nhiên, Cường cho rằng, không hề biết gỗ Tam đưa ra khỏi rừng là gỗ kiền. Vị chủ tọa hỏi: “Tại sao Tam lại chấp nhận chung 5 triệu đồng mỗi xe gỗ nếu không có sai phạm pháp luật?”.
Cường khai: “Tam có nói, đưa số tiền ấy để bồi dưỡng, giúp anh em trong trại cải thiện bữa ăn”. Vị chủ tọa gắt: “Có ai tự dưng đưa tiền cho mình mà không có mục đích không? Bị cáo là người lớn, hiểu rõ điều này chứ có phải là đứa trẻ lên ba đâu?”. Đến lúc này, Cường chỉ cúi đầu thinh lặng. Cường cũng khai không nhớ Tam đã đưa bao nhiêu lần và tổng cộng là bao nhiêu tiền.
Khi được hỏi về việc là Trạm trưởng lại để số lượng rừng bị chặt ngày càng nhiều, trách nhiệm ở đâu? Cường cho rằng, mình đã hoàn thành đúng trách nhiệm của một Trạm trưởng. Hàng tháng vẫn vào rừng kiểm tra một đến hai lần. “Sở dĩ lâm tặc chặt nhiều như thế là vì đất rừng quá rộng mà lực lượng anh em trong trạm quá mỏng nên không thể quản hết”.
Trong khi đó, Hồ Tấn Hai (54 tuổi, nguyên Trạm phó) khai, Tam vào Trạm đưa cho mình hai lần mỗi lần 5 triệu đồng, đưa cho Cường một lần 5 triệu đồng. Tam đưa cho Trọng một lần 5 triệu đồng. Có một lần, Cường đưa cho Hai 10 triệu đồng và nói đây là tiền của Tam đưa.
Theo Cường, tổng số tiền Tam đưa là 30 triệu đồng. Số tiền này đều được giao lại cho Hai quản lý và công khai trước anh em trong Trạm. “Tôi nhận giữ tiền là theo ý của Cường và được tín nhiệm của anh em trong Trạm. Số tiền này dùng để chi tiêu ăn uống, tiệc đầu năm, cuối năm của Trạm”, Hai cho biết.
Chủ tọa nhẹ nhàng: “Vậy, có tháng nào anh em trong Trạm dùng tiền này để ăn mà không nộp tiền không?”. Hai thừa nhận: “Có”. Vị chủ gặng hỏi: “Có bao giờ Tam nói đưa tiền làm gì không?”. Hai lí nhí: “Có lần, Hai bảo, mùa mưa công nhân không thể trồng hay khai thác gỗ keo được nên xin vào rừng khai thác gỗ kiền. Điều này nhiều anh em cũng biết”.
Sau hai ngày xét xử, chiều 29/6, TAND quận Hòa Vang (TP.Đà Nẵng) nhận định, cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng của vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa và có căn cứ trong vụ án còn có tội phạm khác nên quyết định trả hồ sơ vụ án cho VKS để điều tra bổ sung.
Trong vụ án này, Vũ Văn Tam cùng 10 bị cáo khác bị truy tố tội Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng. Riêng Tam bị truy tố thêm tội Đưa hối lộ. Ngoài ra, bị cáo Phạm Phú Cường, nguyên Trạm trưởng trạm bảo vệ rừng Cà Nhong và hai nguyên Trạm phó là Hồ Tấn Hai và Thủy Ngọc Trọng cùng nhân viên của trạm là Nguyễn Văn Ấn và Lý Thanh Tùng bị truy tố tội Nhận hối lộ. Hai kiểm lâm viên Nguyễn Văn Nhung và Đinh Ngọc Bán cũng bị truy tố về tội Nhận hối lộ.
Theo cáo trạng, dù được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng nhưng khi được Vũ Văn Tam đặt vấn đề đưa tiền để khai thác gỗ trái phép với giá mỗi xe sẽ đưa 5 triệu đồng thì tất cả đều đồng ý. Tổng cộng các bị cáo là cán bộ và nhân viên, kiểm lâm của trạm bảo vệ rừng Cà Nhong đã nhận của Tam 30 triệu đồng. Nhưng tính thiệt hại do Tam đưa người vào khai thác rừng lên đến gần 700 triệu đồng. (Đời Sống Và Pháp Luật 6/7) đầu trang(
Quản lý, bảo vệ rừng vấn đề luôn được dư luận sự quan tâm đặc biệt. Tại Kỳ họp thứ Nhất, HĐND tỉnh Gia Lai khóa XI vừa qua, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương.
Theo đó cùng với việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp nhằm phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp xâm hại rừng thì cũng cần có chế độ, chính sách đối với những người tích cực tham gia đấu tranh, tố giác các hành vi xâm hại rừng nhằm hạn chế việc rừng bị tàn phá, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc đóng cửa rừng tự nhiên.
Với việc triển khai quyết liệt các biện pháp, 6 tháng đầu năm số vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai bị phát hiện và bắt giữ tăng 77 vụ so với cùng kỳ năm trước.
Các lực lượng chức năng đã phát hiện 410 vụ vi phạm. Trong đó có 34 vụ phá rừng, 323 vụ vi phạm về vận chuyển, mua bán, cất giấu lâm sản trái phép, 20 vụ vi phạm quy định về khai thác rừng, 9 vụ vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản… Hiện đã xử lý 385 vụ, trong đó xử lý hình sự 15 vụ, tịch thu hơn 1.027 m3 các loại, thu nộp ngân sách hơn 7,5 tỉ đồng.
Bàn về các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm đóng góp nhiều ý kiến của các đại biểu tại Kỳ họp thứ Nhất, HĐND tỉnh Gia Lai vừa qua. Theo đó, các cấp, các ngành, địa phương cùng vào cuộc phối hợp và triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp, ngoài ra cũng cần có cơ chế chính sách phù hợp nhằm động viên, khích lệ người dân tham gia nhận khoán, bảo vệ rừng.
Ông Trương Văn Đạt-Bí thư Huyện ủy Kbang phát biểu: “Tỉnh nghiên cứu đề nghị Trung ương ngoài chủ trương đóng cửa rừng thì toàn bộ các cơ sở chế biến rừng phải đóng cửa và di dời ra khỏi khu vực gần rừng. Hiện nay, mức giao khoán quản lý bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha sắp đến nâng lên 400.000 đồng/ha. Chính phủ nghiên cứu tăng định mức khoán lên để tạo điều kiện cho người dân có thu nhập chính từ rừng để họ ổn định cuộc sống, tham gia bảo vệ rừng”.
Liên quan đến việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc đóng cửa rừng tự nhiên và không cho chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt sang đất nông nghiệp, tại kỳ họp, Ủy viên Ban Chấp hành TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai Dương Văn Trang nhấn mạnh: Gia Lai sẽ triển khai nghiêm chỉ đạo trên, đồng thời gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành, địa phương.
Ông Dương Văn Trang-Ủy viên Ban Chấp hành TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai phát biểu: “ Sau khi có văn bản kết luận của Thủ tướng Chính phủ gửi vào thì Ban Chấp hành Tỉnh ủy sẽ tổ chức hội nghị chuyên đề mở rộng bàn về vấn đề quản lý bảo vệ rừng. Chỗ nào ở đâu rừng tự nhiên đã đóng mà còn xưởng mộc, xưởng gỗ tiêu thụ rừng tự nhiên thì ở đó chịu trách nhiệm. Theo tôi nên biểu dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân phát hiện tố giác, bắt giữ khai thác gỗ trái phép, tàng trữ gỗ trái phép. Vì anh em có làm thì mới có phát hiện được”.
Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị bằng việc thực hiện đồng bộ các biện pháp, cộng với sự chung tay của mỗi người dân trong việc tham gia nhận khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng, hy vọng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những diện tích rừng bị xâm hại, đồng thời góp phần nâng cao độ bao phủ rừng trên địa bàn tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 6/7) đầu trang(
Dù đã ở tuổi 64, nhưng ông Trần Đức Minh, hội viên cựu chiến binh ở thôn An Thọ, xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh vẫn ngày ngày rảo bước trên những lối mòn quen thuộc để tuần tra, bảo vệ rừng nguyên sinh Núi Nhàn. Gần 40 năm nay, núi Nhàn có được màu xanh chính là nhờ vào công lao to lớn của ông.
Trong cái nắng gay gắt của tháng 7 chúng tôi men theo lối mòn tiến sâu vào trong rừng Núi Nhàn để tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu rừng này. Đứng trước thảm thực vật hết sức phong phú mới thấy hết những giá trị của rừng đối với người dân nơi đây, và cũng là động lực để họ ra sức bảo vệ suốt ngần ấy năm. Núi Nhàn có hơn 42 ha rừng cây tự nhiên, địa hình thoai thoải, nằm giữa các xóm làng.
Ông Trần Đức Minh chia sẻ: Hiện nay, trên núi có nhiều loại cây từ 60 đến 70 năm tuổi, phía dưới có nhiều loài dây leo chằng chịt, đây cũng là điểm trú ngụ của nhiều loài động vật. Đặc biệt, nơi đây là căn cứ của bộ đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vào khoảng năm 1972, ông Minh cùng đồng đội là người địa phương đã chọn khu rừng này làm căn cứ. Hồi đó, Núi Nhàn là một trong những chốt quan trọng bậc nhất của khu vực Tây Sơn Tịnh.
Rừng Núi Nhàn giống như một bức bình phong che chở cho gần 260 hộ dân và trên 77 ha đất sản xuất nông nghiệp ở thôn An Thọ. Chính vì vậy, Hội Cựu chiến binh xã đã thành lập tổ tự quản rừng nguyên sinh Núi Nhàn vào tháng 3/1980 với 6 người, trong đó có 03 người thường xuyên canh giữ, bảo vệ do ông Trần Đức Minh làm tổ trưởng. Thành công lớn nhất chính của việc bảo vệ rừng là thay đổi được suy nghĩ của người dân trong việc đồng lòng giữ màu xanh nguyên thủy của Núi Nhàn giống như giữ lá phổi xanh của cộng đồng.
Ông Trần Đức Minh cho hay: "Khu vực thôn An Thọ đất đai bạc màu không sản xuất được, sản xuất đâu thì khô đó, từ đó quyết tâm của địa phương là thành lập tổ tự quản để giữ lại có màu xanh cho rừng và cây lúa, hoa màu tươi tốt của nông dân, nếu không có rừng tốt, xanh như thế này thì sản xuất không hiệu quả".
Hiện Núi Nhàn vẫn còn nguyên vẹn, không có chuyện chặt đốn cây lấy gỗ, củi hay khai thác đá. Người dân địa phương ở đây rất tự hào vì quê hương họ có một khu rừng nguyên sinh phong phú và những lợi ích do rừng mang lại. Bằng tâm huyết và sự say mê với rừng, tổ tự quản bảo vệ rừng đang ngày đêm ra sức bảo vệ nhằm giữ màu xanh của rừng Núi Nhàn cho các thế hệ mai sau.
Ông Nguyễn Văn Luận - Chủ tịch Hội CCB xã Tịnh Sơn cho biết: "Rừng này là nơi che giấu cán bộ trong thời chiến tranh, sau giải phóng khu rừng này được chính quyền địa phương quan tâm bảo vệ giữ là di tích lịch sử của Tịnh Sơn, trong Tịnh Sơn chỉ có khu rừng này là khu rừng nguyên sinh từ hồi giờ không có ai chặt phá, đối với Tịnh Sơn giữ rừng này để tạo màu xanh cho quê hương đẹp, lưu truyền sau này lại cho con cháu mình mai sau biết khu này là di tích lịch sử của Tịnh Sơn".
Mang trong mình phẩm chất của người lính Cụ Hồ gần 40 năm qua, ông Minh cùng những đồng đội của mình vẫn thầm lặng làm tốt công việc giữ rừng. Hàng ngày, ông vào tận sâu trong rừng, kịp thời phát hiện những dấu hiệu khả nghi để có biện pháp ngăn chặn.
Nhất là vào mùa nắng nắng cao điểm, công tác phòng cháy rừng luôn được đặt lên hàng đầu. Đối với ông Trần Đức Minh một thân cây phải mất hàng chục, thậm chí hàng trăm năm mới lớn lên. Bác Hồ đã từng nói: “Rừng là vàng, biển là bạc”. Chính vì vậy, bảo vệ được rừng, phát huy hiệu quả từ rừng, khai thác hợp lý và có kế hoạch thì đời sống của người dân cũng sẽ khá lên. (Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia 5/7) đầu trang(
Trưa 6-7, cây bạch đàn ở chợ tự phát trên đường Phạm Văn Bạch (P.15, Q.Tân Bình, TP.HCM) bất ngờ đổ sập khiến nhiều tiểu thương hoảng hốt tháo chạy. Một người phụ nữ đi trên đường bị đè trúng, trầy xước.
Các nhân chứng cho biết, khoảng 12 giờ 30, cây bạch đàn cao gần 20m, đường kính khoảng 50cm trước nhà số 632 Phạm Văn Bạch bỗng nhiên đổ chéo về hẻm 408. Lúc này, một phụ nữ đi xe máy ngang qua bị nhánh cây quật ngã, trầy xước.
Tại hiện trường, mái nhà số 632 Phạm Văn Bạch bị đổ sập, mái che của các nhà số 408, 410, 412 trên đường này bị hư hỏng. Ngoài ra, đường dây điện trung thế và hệ thống cáp viễn thông bị đứt. Sau khi sự cố xảy ra, nhân viên điện lực kịp thời có mặt ngắt điện để tránh gây hậu quả đáng tiếc.
Anh Tuấn, người dân địa phương cho biết: “Hơn 1 tuần qua, tôi thấy cây này có dấu hiệu bị ngã tôi nhiều lần gọi điện lên công ty cây xanh phản ánh nhưng không thấy ai xuống giải quyết. Người dân ở đây ai cũng sống trong lo sợ vì không biết cây ngã lúc nào”.
Đến 14 giờ cùng ngày, lực lượng chức năng vẫn đang khẩn trương khắc phục sự cố. (Công An TP.HCM 6/7) đầu trang(
Nằm phía Tây Bắc của "đảo ngọc" Phú Quốc (Kiên Giang), Vinpearl Safari Phú Quốc là là một điểm đến dành cho những du khách muốn hòa mình vào thiên nhiên, ngắm nhìn, tìm hiểu cuộc sống hoang dã của những loài động vật quý hiếm.
Được khai trương vào tháng 12-2015, Vinpearl Safari Phú Quốc là dự án có quy mô lớn của tập đoàn Vingroup, với mong muốn bảo tồn và góp phần tạo thêm sự phong phú về du lịch cho "đảo ngọc" vốn đã quá nổi tiếng với những bãi biển đẹp nhất Việt Nam.
Xây dựng trên diện tích 380 ha và được quy hoạch bài bản thành hai phân khu: khu vườn thú mở và công viên động vật hoang dã. Đây là nơi sinh sống của hơn 3000 cá thể của 150 loài động vật trong đó có rất nhiều loại động vật quý hiếm trên thế giới như: hổ Bengal, sư tử Châu Phi, hươu cao cổ, ngựa vằn, tê giác… Vinpeal Safari Phú Quốc không chỉ là một địa điểm du lịch độc đáo mà còn là trung tâm bảo tồn động vật hoang dã lớn nhất Việt Nam.
Ngay từ cổng chào đón khách là khu vườn thú mở, đây là nơi sinh sống của hơn 90 loài động vật như: hồng hạc, chuột túi, lạc đà… Tuy nhiên, khác với những vườn thú thông thường, ở đây tất cả những loài động vật sẽ được nuôi trong một địa điểm mở không cần nhốt kín bằng những khung sắt nhưng vẫn tạo sự an toàn tuyệt đối cho du khách.
Sau khi đã tham quan khu vườn thú mở, những chuyến xe chuyên dụng sẵn sàng đưa du khách đến với công viên động vật hoang dã để ngắm nhìn những chú sư tư, tê giác ở khoảng cách gần nhất. Đây có lẽ là trải nghiệm tuyệt vời nhất dành cho du khách vì công viên động vật hoang dã này là nơi sinh sống của 45 loài động vật quý hiếm được thả trong rừng tự nhiên, không có chuồng trại hay hàng rào ngăn cách.
Đến với Vinpeal Safari Phú Quốc du khách có cơ hội khám phá và trải nghiệm nhiều hoạt động gần gũi với thiên nhiên, giúp tăng thêm sự hiểu biết về cuộc sống của những loài động vật. Du khách sẽ cảm thấy sống động và gần gũi khi được đến với điểm khám phá hấp dẫn bậc nhất tại Việt Nam. (Báo Bình Phước 6/7) đầu trang(
Hai con rùa biển quý hiếm đã được cơ quan chức năng giải cứu trong một quán nhậu ở Thủ Đức, TP.HCM.
Ngày 6-7, ông Lê Xuân Lâm, cán bộ Tổ chức cứu hộ động vật hoang dã (WAR), cho biết vừa tiếp nhận hai cá thể rùa biển do Chi cục Quản lý Chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM bàn giao.
Ngay sau đó WAR đã đưa rùa về Khu bảo tồn biển Hòn Mun (Khánh Hòa) để thả về tự nhiên. Hai cá thể rùa biển nặng 9,5 kg. Theo ông Lâm, hai con rùa trên được công an và cơ quan chức năng giải cứu từ một quán nhậu ở quận Thủ Đức, TP.HCM.
Rùa biển thuộc loài cực kỳ quý hiếm, thuộc nhóm 1B, là loại cấm săn bắt, khai thác, mua bán và vận chuyển dưới mọi hình thức. (Pháp Luật TP.HCM 6/7) đầu trang(
Chiều ngày 6/7, Mạng lưới giám sát buôn bán động thực vật hoang dã TRAFFIC và tổ chức Truyền thông thay đổi hành vi Intelligentmedia đã tổ chức họp báo phát động chiến dịch bảo vệ tê giác giai đoạn II.
Trong cuộc họp báo, TRAFIC đã chính thức phát động Sáng kiến “Chí” (sức tại Chí) giai đoạn II với mục đích giảm thiểu nhu cầu sử dụng sừng tê giác thông qua thay đổi hành vi tại Việt Nam.
Với việc tiếp cận được 5 triệu người dân Việt Nam trong đó có khoảng 2 triệu doanh nhân, Sáng kiến Chí giai đoạn I đã đóng góp đáng kể trong việc giảm thiểu nhu cầu sử dụng sừng tê giác tại Việt Nam. Bước sang giai đoạn II, tổ chức TRAFFIC đã có mục tiêu và hướng đi rõ ràng hơn khi nhắm đến đối tượng chính tiêu thụ sừng tê giác là những đàn ông thành thị thành đạt trong độ tuổi 35 – 55.
Phát biểu trong buổi họp báo, bà Madelon Willemsen, Trưởng đại diện văn phòng TRAFFIC tại Việt Nam cho biết: Thông điệp Sáng kiến Chí truyền tải ý tưởng rằng sự thành công, uy tín và may mắn trong cuộc đời người đàn ông bắt nguồn từ ý chí và sức mạnh nội tại chứ không đến từ một mảnh sừng và khuyến khích các doanh nhân thành đạt thể hiện bản lĩnh và “Chí” của họ thông qua việc trở thành những nhà lãnh đạo tiên phong trong các công việc trách nhiệm xã hội và bảo vệ động vật hoang dã.
Với vai trò Đại sứ hình ảnh cho Sáng kiến Chí giai đoạn II, diễn viên điện ảnh – doanh nhân Trần Bảo Sơn chia sẻ: “Một doanh nhân thành công biết sức mạnh của mình nằm ở ý chí và tài lược. Thành công đến từ những cơ hội do chính họ tạo ra, không đến từ một mảnh sừng”.
Với thông điệp chính “Vượng từ chí, lụi vì sừng”, doanh nhân Trần Bảo Sơn và nhiều doanh nhân thành đạt khác nêu ra quan điểm của mình rằng đàn ông nên phát huy sức mạnh bên trong và bản lĩnh của họ, bác bỏ việc cho rằng những thành công này xuất phát từ yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như sừng tê giác.
Ông Bùi Ngọc Mạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Nghiệp vụ và tư liệu, Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết: Giai đoạn II của Sáng kiến Chí, Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền về bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; tổ chức tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng và phong phú; xây dựng các chiến dịch, chương trình tuyên truyền bảo vệ các loài động vật nguy cấp quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng như hổ, tê giác, gấu, tê tê…; tổ chức các hội nghị, hội thảo; đặt các pano, áp phích ở các cơ quan, công sở và những nơi công cộng…; đưa nội dung tuyên truyền về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo tồn các loài hoang dã, nguy cấp quý hiếm vào các nội dung sinh hoạt của chi bộ; phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí; mở các chuyên trang, chuyên mục trên website Đảng cộng sản, tạp chí tuyên giáo… , đặc biệt phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên từ Trung ương đến cơ sở.
Ông Bùi Ngọc Mạnh cũng đặc biệt nhấn mạnh tới việc nâng cao thực thi pháp luật, tăng cường chế tài, xử lý nghiêm những hành vi mua bán, tàng trữ sản phẩm từ động vật hoang dã quý hiếm. Hơn hết, ông cho rằng, việc xử phạt người bán là chưa đủ, nên siết chặt luật pháp xử lý cả những người có hành vi sử dụng sản phẩm từ tê giác.
Trong năm 2015 đã có khoảng 1300 con tê giác bị giết hại với 988 trường hợp vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm, đẩy loài tê giác tới bờ tuyệt chủng. Việt Nam là một trong số những quốc gia có tỉ lệ mua bán trái phép sừng tê giác do những nhầm tưởng về khả năng chữa bệnh, giải độc cơ thể và việc cho rằng sử dụng sừng tê giác là thể hiện sự đẳng cấp, thành đạt. (Công Lý 7/7; Đài Tiếng Nói Việt Nam 7/7) đầu trang(
Khoảng 20h ngày 2/7, Công an huyện thường Tín (Hà Nội) phối hợp với Cục Cảnh sát giao thông (C67, Bộ Công an) bắt quả tang vụ vận chuyển sản phẩm từ động vật hoang dã (ngà voi).
Vào thời điểm trên, anh Hoàng Văn Tài (30 tuổi, ở xã Hòa Bình, Thường Tín) điều khiển ôtô taxi mang biển kiểm soát 30A-244.38, trên quốc lộ 1B hướng Hà Nam - Hà Nội. Khi đến Km188+300, thuộc địa phận xã Duyên Thái (Thường Tín, Hà Nội) thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ.
Qua kiểm tra, lái xe khai nhận đang chở 3 thùng carton bên trong chứa sản phẩm chế tác từ ngà voi. Tại thời điểm kiểm tra, lái xe không xuất trình được hoá đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất sứ của số hàng.
Tài khai vận chuyển thuê số hàng này đến Bến xe Mỹ Đình để gửi đi Móng Cái (Quảng Ninh) tiêu thụ. Tên người nhận có ghi đầy đủ kèm số điện thoại trên thùng carton bọc ngoài số sản phẩm này.
Hiện vụ việc đang được mở rộng điều tra làm rõ. (Năng Lượng Mới 6/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện Văn bản số 1363/UBND-LN, ngày 18/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng về việc Sơ kết 08 năm hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (2008-2015) và 05 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) (2011-2015) và văn bản số 802/SNN-KH, ngày 11/5/2016 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) về việc tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR (2011-2015).
Từ ngày 16 đến ngày 30/6/2016, Hội nghị sơ kết 05 năm (2011-2015) thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã được tổ chức tại 10 huyện/Thành phố, gồm: Cát Tiên, Đơn Dương, Lạc Dương, Di Linh, Đức Trọng, Đạ Tẻh, Đạ Huoai, Lâm Hà, Bảo Lâm và Thành phố Bảo Lộc.
Lãnh đạo UBND huyện/Thành phố - Thành viên Ban chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh Lâm Đồng chủ trì Hội nghị.
Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh (Quỹ BV&PTR); đại diện Huyện ủy, HĐND và các Phòng, Ban, Đoàn thể thuộc huyện; Lãnh đạo Đảng ủy, UBND và Ban Lâm nghiệp các xã, thị trấn; Hạt kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng; Trưởng thôn, bản và các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tiêu biểu trên địa bàn.
Hội nghị đã đánh giá tác động, ảnh hưởng của chính sách đối với công tác quản lý bảo vệ rừng, tạo sinh kế và cải thiện đời sống kinh tế cho người làm nghề rừng; những tồn tại, vướng mắc trong triển khai thực hiện chính sách; phát hiện nhân tố thành công, các cá nhân, tập thể có thành tích trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại các đơn vị, để kịp thời khen thưởng, khuyến khích, động viên.
Trong 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, các huyện đã thực hiện tuyên truyền, phổ biến về chính sách chi trả DVMTR đến cán bộ, nhân dân và đặc biệt là các hộ dân nhận khoán BVR với nhiều hình thức, như: tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền lưu động bằng xe loa; tuyên truyền tại các hội nghị, cuộc họp từ huyện đến các thôn; cấp phát tờ rơi, apphich, banner tuyên truyền…
Công tác chi trả tiền DVMTR từ chủ rừng đến hộ nhận khoán được thực hiện đầy đủ, kịp thời và minh bạch.Một số huyện có diện tích rừng cung ứng DVMTR và số tiền được chi trả lớn trong 5 năm qua, như: huyện Lạc Dương đã thực hiện chi trả cho trên 95.000 ha rừng (chiếm 27% diện tích cung ứng DVMTR trên toàn tỉnh), với tổng số tiền đã chi trả gần 145,3 tỷ đồng, cho hơn 2.800 hộ gia đình và 12 đơn vị tập thể nhận khoán bảo vệ rừng; huyện Bảo Lâm đã thực hiện chi trả cho trên 51.000 ha rừng, với tổng số tiền đã chi trả là 87,8 tỷ đồng, cho hơn 3.200 hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng; ….
Với diện tích nhận khoán bảo vệ rừng bình quân từ 20 - 30 ha/hộ và mức thu nhập bình quân hàng năm khoảng trên 10 triệu đồng/hộ/năm, đã góp phần tạo sinh kế và cải thiện đời sống cho người làm nghề rừng, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng.
Tại Hội nghị, các đại biểu tham dự hội nghị đã nêu ra một số vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR như: kế hoạch, hồ sơ chi trả DVMTR hàng năm được cấp trên phê duyệt còn chậm; một số thành viên Ban kiểm tra giám sát, đơn vị chủ rừng chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác tuần tra bảo vệ rừng của các hộ nhận khoán; vẫn còn một số hộ nhận khoán bảo vệ rừng còn thụ động, chưa tích cực trong việc tham gia tuần tra bảo vệ rừng, nên vẫn còn để xảy ra tình trạng xâm hại tài nguyên rừng trái phép…
Đồng thời, các đại biểu cũng kiến nghị, đề xuất một số giải pháp thực hiện trong thời gian tới, như: nâng mức chi trả DVMTR để người dân gắn bó với rừng; tăng diện tích giao khoán cho các hộ gia đình để ổn định thu nhập cho người nhận khoán BVR; chi trả DVMTR đối với diện tích có rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng nhưng chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng; có chính sách ổn định công việc cho cán bộ hợp đồng chuyên trách của các Ban kiểm tra giám sát cấp huyện; tăng cường sự phối hợp với các ngành chức năng trong công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng;…
Tại các hội nghị, lãnh đạo Quỹ BV&PTR tỉnh đã phát biểu đánh giá kết quả thực hiện chính sách trên đại bàn Huyện, ghi nhận những kiến nghị của cơ sở để tổng hợp vào báo cáo tại Hội nghị sơ kết cấp tỉnh trong thời gian tới.
Nhân dịp này, Sở NN&PTNT và UBND huyện các huyện đã khen thưởng cho các tập thể và cá nhân tiêu biểucó thành tích xuất sắc trong 05 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Nhìn chung công tác tổ chức, nội dung sơ kết tại các Huyện đã thực hiện đúng văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh và hướng dẫn của Sở NN&PTNT.
Trong thời gian tới, Sở NN&PTNT tỉnh sẽ đôn đốc UBND các huyện/Thành phố còn lại tổ chức sơ kết theo đúng kế hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Tỉnh Lâm Đồng 5/7) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Quyết định số 1551/QĐ-UBND thí điểm về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác, sử dụng nguồn nước từ ngày 1/7/2016.
Theo quyết định trên, các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 35 đồng/1m3 nước khai thác trực tiếp từ nguồn nước trên địa bàn. Các cơ sở sản xuất công nghiệp hoạt động sau ngày 01/7/2016 thì thời điểm trả tiền dịch vụ môi trường rừng bắt đầu tính từ ngày cơ sở đó đi vào hoạt động.
Quyết định của UBND tỉnh Lào Cai quy định các cơ sở sản xuất công nghiệp phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng thực hiện ký hợp đồng ủy thác chi trả với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai , thực hiện kê khai lượng nước sử dụng của đơn vị và số tiền phải chi trả về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai.
Được biết, tỉnh Lào Cai là địa phương đầu tiên trên cả nước áp dụng việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ nguồn nước trực tiếp cho các dịch vụ môi trường rừng. Trước đó UBND tỉnh Lào Cai cũng đã triển khi thu tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các nhà máy thủy điện, các cơ sở nuôi cá nước lạnh, các công ty du lịch... theo quy định của Nhà nước. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/7) đầu trang(
Tinh Đắk Lắk đang triển khai nhiều biện pháp nhằm thu hồi lại gần 51.000 ha đất rừng bị chiếm dụng để trồng lại rừng, góp phần phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh tăng lên 40,4%.
Ngoài việc tổ chức, huy động tất cả các lực lượng,nguồn lực để thực hiện mục tiêu bảo vệ rừng hiện có, kiềm chế được các hành vi vi phạm pháp luật, giảm dần tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, tỉnh Đắk Lắk còn chỉ đạo các chủ rừng phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh, huyện, xã kiểm tra, rà soát, thống kê diện, tích rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép xây dựng phương án xử lý, giải tỏa, thu hồi để trồng lại rừng.
Các cấp chính quyền địa phương cũng đã phối hợp với các chủ rừng tổ chức tuyên truyền, ký cam kết nêu rõ thời hạn trả lại đất cho Nhà nước, ưu tiên cho những gia đình chấp hành cam kết được thu hoạch các sản phẩm cây trồng ngắn ngày của mùa vụ cuối cùng trên diện tích cần giải tỏa, thu hồi.
Riêng đối với các gia đình lấn chiếm, chiếm dụng đất rừng không tự nguyện giải tỏa, các đơn vị chức năng thông báo thực hiện cưỡng chế theo quy định, nhất là đối với các trường hợp chây ì, cố tình không hợp tác.
Tại huyện Ea Súp theo ghi nhận đã phá bỏ hàng trăm lán trại hoa màu xây dựng trái phép trên đất lâm nghiệp. Tại huyện Cư M’gar, Cong ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Warn đã phối hợp với các đơn vị chức năng giải tỏa, thu hồi được 65 ha đất rừng tại các lô 2, 3, khoảnh 13, tiểu khu 547A để rồng lại rừng...
Mặc dù vậy, việc thu hồi đất rừng bị lấn chiếm trái phép trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn còn quá thấp so với yêu cầu. Hiện nay, toàn tỉnh chỉ mới thu hồi được gần 2.000 ha. Ngay tại huyện Ea Súp, là địa phương có hàng nghìn ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép nhưng nay mới thu hồi chỉ trên 100 ha.
Tại huyện M’Đrắk có trên 1.247 ha rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép nhưng nay các đơn vị chức năng cũng chỉ mới thu hồi được 4,75 ha... Thậm chí, rừng, đất rừng giao cho các nhóm hộ, cộng đồng dân cư, giao cho từng gia đình cũng bị chặt phá, sử dụng đất rừng sai mục đích...
Theo đánh giá của UBND tinh Đắk Lắk, chậm thu hồi đất rừng bị lấn chiếm là do các cấp, các ngành còn nhiều lúng túng trong phương pháp tổ chức thực hiện, nhất là chính quyền cơ sở nhiều nơi còn thiếu kiên quyết. Việc phân loại hiện trạng thực tế, xác định đối tượng đang sử dụng đất lâm nghiệp trái pháp luật chưa đầy đủ, chưa kịp thời nên việc lập phương án xử lý cưỡng chế thu hồi đất rừng bị lấn chiếm còn khó khăn (Tin Tức 6/7) đầu trang(
Hiện nay, Việt Nam đang ở cuối giai đoạn thí điểm thực thi của Chương trình REDD+. Từ nay đến năm 2020, là giai đoạn nước rút để Việt Nam đẩy nhanh tiến độ các hành động chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ phấn đấu thực thi REDD+ chi trả dựa trên kết quả từ sau năm 2020.
Sáng kiến quốc tế về giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, bảo tồn và tăng cường trữ lượng các-bon rừng (REDD+) là một trong các giải pháp quan trọng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và giảm nhẹ phát thải KNK trên toàn cầu.
Là một nước chịu nhiều tác động của BĐKH, việt Nam đã quan tâm đến sáng kiến REDD+ từ rất sớm, cụ thể là xây dựng và ban hành Kế hoạch Hành động Quốc gia về REDD+, thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về REDD+, Văn phòng REDD+ Việt Nam. Việt Nam cũng đã xây dựng các chủ trương, chính sách cấp Nhà nước như Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH, Chiến lược quốc gia về BĐKH, Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh và gần đây nhất là Dự kiến Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (INDC) của Việt Nam.
Những chủ trương, chính sách trên đã theo kịp xu thế phát triển của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình chuẩn bị, sẵn sàng thực hiện REDD+ . Để thực hiện REDD+ thành công, các quốc gia cần tiếp cận theo từng giai đoạn: giai đoạn sẵn sàng; giai đoạn thí điểm/thực thi; giai đoạn chi trả dựa trên kết quả. Bằng nhiều nỗ lực, hiện nay, Việt Nam ở cuối giai đoạn thí đlểm/thực thi với 44 dự án liên quan đến REDD+ đã và đang được triển khai, tổng số vốn các nhà tài trợ cam kết là hơn 84 triệu USD. Trong đó, 24 dự án đã kết thúc với tỷ lệ giải ngân đạt 97,5%.
Những thành công bước đầu đã giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trong 47 nước đối tác UN-REDD (Chương trình hợp tác Liên Hợp Quốc về REDD+ ở các nước đang phát triển) được chuyển sang giai đoạn II của Chương trình, với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD. Riêng số vốn của dự án này đã gần bằng một nửa tổng số vốn 65,66 triệu USD dành cho 20 dự án còn lại đang hoạt động.
Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đến nay, đã có 7 tỉnh đã hoàn thành việc xây dựng và ban hành Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP) là Điện Biên, Lâm Đồng, Quảng Bình, Cà Mau, Thanh Hóa, Lào Cai và Hà Tĩnh. Dự kiến hết năm nay, số tỉnh công bố PRAP sẽ lên đến 16 tỉnh.
Đại diện nhiều địa phương tham gia các dự án REDD+ đánh giá, thành công này đến từ cơ chế công khai minh bạch các khoản quỹ chị trả dịch vụ môi trường rừng, hiệu quả của việc nâng cao nhận thức cho người dân, gắn phát triển sinh kế với bảo vệ và phát triển rừng, quản lý rừng bền vững.
Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Chánh Văn phòng REDD+ Việt Nam cho biết: Hiện nay, các chuyên gia của dự án “Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam” đang phối hợp với Văn phòng REDD+ Việt Nam khẩn trương hoàn thiện Báo cáo Đánh giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam (Báo cáo R-Package). Đây là điều kiện cần để các nước tiến tới thực hiện REDD+ và được Quỹ Đối tác các-bon trong Lâm nghiệp (FCPF) chi trả, dựa vào kết quả đo đếm lượng phát thải KNK giảm được so với trước khi thực hiện REDD+.
Các chuyên gia tư vấn đã lần lượt làm rõ 34 tiêu chí và 58 câu hỏi theo khung do FCPF đưa ra, đánh giá những điểm mạnh, chỉ ra những thiếu sót còn tồn tại và xác định các hoạt động tiếp theo cần thực hiện để chuyển sang giai đoạn thực thi REDD+. Khó khăn lớn trong quá trinh sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam là hệ thống tổ chức REDD+ ở địa phương chưa được hoàn thiện, điều phối liên ngành và điều phối giữa Nhà nước với người dân và các tổ chức xã hội dân sự chưa rõ ràng.
Cùng với đó, chưa xây dựng được khung pháp lý liên quan đến quản lý kỹ thuật của REDD+; chưa đề xuất được chương trình nâng cao năng lực giám sát các khía cạnh phi các-bon của REDD+... Giai đoạn 2016 - 2018 là khoảng thời gian để hoàn thiện các hoạt động chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+, khắc phục những tồn tại.
Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Chánh Văn phòng REDD+ Việt Nam cho biết thêm: Theo Báo cáo tự Đánh giá R-Package, Việt Nam về cơ bản đạt 7/10 điểm so với yêu cầu của FCPF. Qua các vòng tham vấn, báo cáo R-Package đã nhận được sự nhất trí của các bên liên quan. Việt Nam sẽ hoàn thiện báo cáo R-Package, đề nghị hội đồng Quỹ Đối tác các-bon trong Lâm nghiệp phê duyệt để Việt Nam có thể bước vào giai đoạn thực thi REDD+ chi trả dựa trên kết quả.
Dự kiến Việt Nam sẽ gửi báo cáo R-Package tới FCPF vào tháng 7/2016 và thuyết trình bảo vệ báo cáo tại Cuộc họp các nước thành viên lần thứ 22 của FCPF vào tháng 9/2016. Nếu được tham gia vào Quỹ Các-bon của FCPF, Việt Nam sẽ tranh thủ các nguồn lực quốc tế, thực hiện REDD+, đóng góp vào quá trình giảm nhẹ phát thải KNK toàn cầu. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/7) đầu trang(
Chiều 4-7, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ chủ trì buổi làm việc cho ý kiến về Quy hoạch vùng nguyên liệu rừng trồng cây gỗ lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2030.
Theo số liệu hiện trạng rừng tỉnh Quảng Ngãi năm 2015, toàn tỉnh có 198.486 ha rừng trồng, trong đó, diện tích rừng trồng phòng hộ 27.826 ha; diện tích rừng trồng sản xuất 121.641 ha và diện tích rừng trồng ngoài quy hoạch cho lâm nghiệp 49.018 ha.
Tuy diện tích và sản lượng gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh đã tăng trong thời gian qua nhưng chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, giá trị kinh tế sản xuất thấp, trung bình chỉ đạt 10-13 m3/ha/năm, hiệu quả kinh tế đạt thấp, bình quân đạt 40 - 80 triệu đồng/ha/chu kỳ (6-7 năm) trừ chi phí lợi nhuận chỉ đạt 1,5 – 4 triệu đồng/ha/năm.
Dự án Quy hoạch vùng nguyên liệu rừng trồng cây gỗ lớn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2030, với phạm vi quy hoạch trên địa bàn 10 huyện: Sơ Hà, Ba Tơ, Đức Phổ, Mộ Đức, Trà Bồng, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa và Sơn Tây với diện tích trồng rừng gỗ lớn ổn định 2.000 ha. Cụ thể giai đoạn 2015-2020 tập trung đầu tư xây dựng 400 ha và diện tích còn lại thực hiện sau năm 2020.
Với mục tiêu đưa năng suất bình quân rừng trồng chuyển hóa sang kinh doanh gỗ lớn đạt từ 15m3/ha/năm trở lên, năng suất bình quân rừng trồng mới và trồng lại bằng cây sinh trưởng nhanh đạt trên 20m3/ha/năm. Đối với cây sinh trưởng lâu năm, cây bản địa, chu kỳ kinh doanh đạt trên 10m3/ha/năm; đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn, đưa tỷ lệ gỗ lớn bình quân (gỗ xẻ có đường kính > 15 cm) từ 50-60% vào năm 2020 và trên 60% từ năm 2020 trở đi.
Sau khi nghe ý kiến và trao đổi với các đơn vị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ yêu cầu đơn vi tư vấn tiếp thu ý kiến góp ý của các các sở, ban, ngành tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, trình UBND tỉnh xem xét, cho ý kiến.
Trong đó lưu ý cần đánh giá và làm rõ hơn thực trạng rừng nguyên liệu hiện nay, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ trong thời gian đến; chú trọng đầu tư khâu chọn giống cây cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của từng địa phương; xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm rừng trồng gỗ lớn; phân định rõ nguồn vốn cho từng giai đoạn;… (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ngãi 5/7) đầu trang(
Xã Lực Hành (Yên Sơn) hiện có độ che phủ rừng trên 57%. Toàn xã có trên 11.850 ha đất lâm nghiệp, trong đó 704 ha rừng sản xuất. Đây là lợi thế để xã phát triển kinh tế rừng.
Trước đây, người dân địa phương không mặn mà với nghề trồng rừng vì chưa thấy hết lợi ích mà rừng mang lại. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, nhờ chính sách thu mua gỗ nguyên liệu của các nhà máy chế biến gỗ và sự hình thành các xưởng bóc gỗ trên địa bàn, người dân ở Lực Hành đã chủ động hơn.
Trên địa bàn xã hiện có cơ sở bóc gỗ của ông Vũ Văn Lý, thôn Làng Ngoài 1 và cơ sở của ông Tô Văn Linh, thôn Khuôn Khán (xã Xuân Vân). Mỗi cơ sở này giải quyết việc làm cho trên 10 lao động địa phương, đóng góp cho ngân sách xã trên 1 triệu đồng/tháng, với công suất 15 khối ván/ngày.
Trong năm nay Lực Hành có kế hoạch trồng 70,8 ha rừng. Ngoài cây keo, người dân trong xã trồng thêm nhiều loại cây khác như mỡ, bồ đề... Giai đoạn 2005 - 2015, xã Lực Hành đã trồng được trên 752 ha rừng. Trong đó có 310,5 ha keo; 192,1 ha mỡ; 3,9 ha lát; 108,5 ha bồ đề; 137,5 ha xoan và các loại tre, nứa... Mỗi năm, trung bình người dân trong xã trồng trên 70 ha rừng sản xuất.
Gia đình bà Lương Thị Nhị, thôn Làng Ngoài 1 cho biết, mặc dù năm nay không được nhà nước hỗ trợ cây giống nhưng trước những lợi ích thiết thực của việc trồng rừng, gia đình bà đã mua trên 3.000 cây keo từ các vườn cung cấp cây giống ở xã Xuân Vân để chủ động trồng rừng cho kịp thời vụ. Gia đình chị Ma Thị Hường, thôn Khuôn Lù hiện có 3 ha mỡ, 1 ha keo đã đến thời điểm khai thác.
Chị Hường chia sẻ, khi mới bắt đầu trồng rừng cũng ngại vì thời gian cho thu hoạch từ rừng dài hơn các loại cây trồng khác, tuy nhiên, sau khi được xã tuyên truyền, hướng dẫn, gia đình cũng yên tâm hơn vì thời gian chăm sóc rừng chỉ mất hơn 1 năm đầu, còn lại có thể tập trung vào các loại cây trồng ngắn ngày khác.
Theo ông Hoàng Văn Kế, Chủ tịch UBND xã Lực Hành, để người dân sống gắn bó hơn với rừng, hưởng lợi bền vững từ rừng, các cơ quan chức năng tăng cường thống kê, rà soát những hộ dân có điều kiện sống phụ thuộc vào rừng song chưa có rừng để từ đó thực hiện giao đất giao rừng cho các hộ dân đảm bảo diện tích rừng cho nhân dân sản xuất.
Bên cạnh đó, rà soát, thống kê và phân loại xác định từng loại đất phù hợp sản xuất nông nghiệp, trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, cây ăn quả để làm cơ sở lập kế hoạch và cân đối nhu cầu hỗ trợ cho người dân canh tác nông, lâm nghiệp hiệu quả; xây dựng định hướng chiến lược giao đất lâm nghiệp gắn với giao rừng, cho thuê rừng.
Cùng với việc xây dựng chính sách hỗ trợ, các cấp, ngành liên quan tiếp tục thực hiện tốt việc thu hồi rừng và đất lâm nghiệp của các hộ sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả và tiếp tục giao cho hộ khác.
Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra việc quản lý, sử dụng rừng, vận dụng linh hoạt nguồn kinh phí ngân sách các chương trình xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ dân đầu tư sản xuất lâm nghiệp; lồng ghép và phối hợp với các chương trình, các mô hình sản xuất và nguồn vốn trên địa bàn để hỗ trợ, tránh chồng chéo, đảm bảo tiết kiệm và đạt hiệu quả đầu tư. (Báo Tuyên Quang 6/7) đầu trang(
Nhắc đến bà Phạm Thị Tính ở thôn Tây Phú, xã Thượng Hiền (Kiến Xương) ai cũng biết. Gia đình bà mạnh dạn trong phát triển kinh tế và táo bạo với các dự án đưa cây lên rừng trồng mỗi năm cho thu nhập hơn 1,5 tỷ đồng, tạo việc làm và thu nhập cho hàng trăm lao động địa phương.
Dẫn chúng tôi đi thăm khu vườn rộng hơn 5.000m2 ươm trồng đủ các loại cây lâm nghiệp, cây ăn quả, bà Tính chia sẻ ý tưởng làm giàu từ nghề ươm cây giống. Xã Thượng Hiền nổi tiếng với nghề truyền thống mây tre đan. Nhận thấy nguồn nguyên liệu phục vụ làng nghề dần cạn kiệt do người dân không trồng mây trong vườn, kéo theo nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thực tế này đã lóe lên trong đầu bà ý tưởng về nghề ươm trồng cây mây giống và đưa lên rừng trồng.
Nghĩ là làm, vợ chồng bà Tính ngày đêm trăn trở suy nghĩ lai tạo ra giống mây nếp K83 thân thuôn đều, cho năng suất, sản lượng cao. Vợ chồng bà cũng lặn lội đi đến các tỉnh như: Hòa Bình, Yên Bái, Bắc Giang, Thanh Hóa và một số tỉnh khu vực Tây Nguyên để tuyên truyền, vận động, chuyển giao kỹ thuật và hợp đồng với bà con nông dân trồng mây cung cấp nguyên liệu.
Năm 2006, gia đình bà Tính đã quyết định thành lập Công ty Cổ phần Mây Song Dũng Tấn và thuê mượn đất của bà con trong thôn, quy hoạch làm vườn ươm cây giống với tổng diện tích hơn 5.000m2.
Đi dưới những hàng cây cao hàng chục mét và ngắm những luống cây giống xanh mát, ai cũng mừng cho bà Phạm Thị Tính nhưng ít người hình dung nổi, có được kết quả như hôm nay gia đình bà cũng từng khốn đốn vì thất bại. Để đầu tư cho mô hình ươm cây giống, bà Tính phải thế chấp nhà cửa vay ngân hàng hơn 700 triệu đồng. Do thiếu kinh nghiệm và kiến thức kỹ thuật nên ban đầu, việc ươm, nhân cây giống gặp rất nhiều khó khăn.
Và khi hơn 50 vạn cây mây giống cùng nhiều giống cây khác chuẩn bị xuất bán thì cơn bão lớn năm 2007 ập đến làm đổ rạp, táp lá rồi chết hàng loạt vì ngập úng. Vậy là hai vợ chồng trắng tay. Không nản chí trước thử thách của ông trời, vợ chồng bà Tính bảo nhau, quyết tâm làm lại từ đầu.
Trời không phụ người có tâm và nghị lực, mô hình vườn ươm cây giống lại bắt đầu hồi sinh nhờ sự chịu thương, chịu khó, tích lũy kinh nghiệm và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất.
Từ mô hình độc canh ươm mây giống, đến nay, Công ty Cổ phần Mây Song Dũng Tấn đã phát triển cung cấp đa dạng loại cây trồng cho thị trường khắp trong Nam, ngoài Bắc. Ngoài 5 vườn ươm cây giống tại xã Thượng Hiền, Công ty còn mở thêm 2 vườn ươm tại Thanh Hóa và Khánh Hòa. Bà Tính chia sẻ: Để mở rộng và phát triển được thị trường, Công ty đã tích cực tham gia các hội chợ thương mại công, nông nghiệp; mang cây giống tới các chợ từ thành thị tới nông thôn bày bán và treo biển quảng cáo.
Đặc biệt, từ khi lập website của Công ty để giới thiệu sản phẩm, có rất nhiều đơn hàng được đặt nên toàn bộ lượng cây giống làm ra không đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng.
Một trong những lý do để cây giống của Công ty Cổ phần Mây Song Dũng Tấn do bà Tính làm chủ được thị trường ưa chuộng chính là sự uy tín trong hợp tác làm ăn. Ngoài chất lượng cây giống được bảo đảm, bà Tính còn quan tâm tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Mỗi năm, Công ty thu mua toàn bộ hơn 280 tấn cây mây thương phẩm của bà con nông dân ở các tỉnh có thực hiện dự án, giúp cho nhiều hộ nông dân yên tâm trồng mây và có thu nhập ổn định, nâng cao cuộc sống.
Cũng nhờ những hợp đồng trồng và tiêu thụ mây này mà bà Tính đã góp phần duy trì cho nghề đan mây làm mặt ghế xuất khẩu của làng nghề Thượng Hiền tồn tại, phát triển, giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động tại địa phương.
Ông Tạ Văn Hải, Chủ tịch UBND xã Thượng Hiền cho biết: Mô hình tích tụ ruộng đất để ươm trồng cây giống của gia đình bà Tính cho hiệu quả kinh tế rõ rệt, mở ra hướng đi mới cho nhiều nông dân trong xã là chuyển đổi, tích tụ đất đai để làm giàu. Điều đáng quý, bên cạnh làm kinh tế giỏi, bà Tính còn hỗ trợ cây giống, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn nhiều nông dân của địa phương phá bỏ vườn tạp, quy hoạch trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao để vươn lên thoát nghèo. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 6/7) đầu trang(
Kết quả kiểm tra thực hiện Đề án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020 cho thấy, kết quả trồng rừng ven biển đạt thấp so với mục tiêu, yêu cầu.
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, Bộ này vừa có văn bản đề nghị các địa phương có rừng ven biển khẩn trương triển khai các biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ trồng rừng ven biển.
Theo đó, UBND các tỉnh, thành phố có rừng ven biển khẩn trương chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan, đơn vị liên quan chỉ đạo, đôn đốc chủ đầu tư các Dự án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển khẩn trương hoàn thiện thủ tục dự án theo quy định;
Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện, bảo đảm hoàn thành kế hoạch năm 2015 và 2016; tăng cường công tác tự kiểm tra, giám sát, bảo đảm chất lượng, khối lượng các công trình.
Ngoài ra, các địa phương tiếp tục rà soát, xác định quỹ đất, hiện trường trồng rừng, chủ động chuẩn bị các điều kiện trồng rừng (vật tư, cây giống đủ số lượng và tiêu chuẩn, khảo sát thiết kế);
Xem xét giao đơn vị chủ quản đầu tư các dự án có chuyên môn về bảo vệ, phát triển rừng ven biển phù hợp với thực tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối về quản lý rừng ven biển ở địa phương.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, từ đầu năm đến nay, 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển đã trồng rừng mới được 4.486 ha; trong đó, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là 3.884 ha (gồm 2.868 ha rừng ngập mặn, 1.016 ha rừng chắn gió, chắn cát) và 584 ha rừng sản xuất.
Các địa phương trên cũng phục hồi được 2.308 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; trong đó, có 1.736 ha rừng ngập mặn, 572 ha rừng chắn gió, chắn cát.
Nguyên nhân tiến độ trồng rừng ven biển đạt thấp là do năm 2015 là năm đầu tiên thực hiện Đề án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020 và quy định pháp luật mới có liên quan đến quản lý đầu tư công, nên nhiều địa phương lúng túng trong công tác xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án.
Bên cạnh đó, một số địa phương chưa quan tâm đầy đủ trong chỉ đạo xây dựng, phê duyệt triển khai các dự án, Ban quản lý Dự án chưa đủ năng lực; các dự án được phê duyệt muộn nên thời gian thực hiện trong năm 2015 ngắn, làm ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành các công trình và giải ngân dự án.
Ngoài ra, các địa phương chưa chủ động chuẩn bị vật tư, cây giống đủ số lượng và tiêu chuẩn (do yêu cầu thời gian vườn ươm dài); hiện trường, quỹ đất trồng rừng ven biển khó khăn;
Một số Ban quản lý Dự án trồng rừng ven biển không do cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp làm chủ đầu tư, quản lý nên việc tổ chức thực hiện, tổng hợp, báo cáo thiếu đầy đủ, thống nhất. (TTXVN/ Bnews 6/7) đầu trang(
Điện Biên quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp để phát triển chủ yếu 3 loại rừng; rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
Trong đó, quy hoạch rừng phòng hộ diện tích lớn nhất: 358.209,5ha. Điều đó cho thấy, quy hoạch đã định lượng được vai trò quan trọng của rừng phòng hộ đầu nguồn trong việc bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai... điều tiết nước cho vùng hạ du.
Điện Biên luôn xác định trồng rừng một mặt để phát triển kinh tế lâm nghiệp, phủ xanh đất trống đồi trọc, đảm bảo quốc phòng an ninh gắn liền với bảo vệ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên đất và môi trường.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tại Điện Biên, giai đoạn 2011 – 2020 vẫn còn nhiều vướng mắc mà rào cản lớn nhất chính là chính sách, suất đầu tư trồng rừng thấp. Cùng với đó là những khó khăn trong việc thu hồi đất để giao cho các tổ chức để trồng rừng phòng hộ, dẫn đến việc trồng rừng ở Điện Biên khó đạt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra.
Theo báo cáo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng được UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt tại Quyết định số 76/QĐ-UBND, ngày 14/01/2008, và điều chỉnh bởi các Quyết định số 262/QĐ-UBND và số 714/QĐ-UBND: Tổng diện tích đất lâm nghiệp 761.783,3ha. Trong đó, đất lâm nghiệp quy hoạch rừng đặc dụng là 118.514,6ha (gồm 41.626,8ha chưa có rừng); quy hoạch rừng phòng hộ là 358.209,5ha (trong đó, 204.064,6ha chưa có rừng) và quy hoạch rừng sản xuất là 285.059,2ha (172.271,9ha chưa có rừng).
Tính cả giai đoạn 2011-2015, tỉnh Điện Biên mới trồng được 694,43ha rừng phòng hộ, đạt 34,4%. Riêng năm 2015, kế hoạch trồng rừng phòng hộ của tỉnh này là 1.270,0ha, thế nhưng cho đến thời điểm này toàn tỉnh chỉ thực hiện trồng được 250,03ha, đạt 19,7% kế hoạch giao; một con số vô cùng thấp.
Lý giải về vấn đề này, bà Mai Hương, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên, cho biết: Kế hoạch trồng rừng toàn tỉnh Điện Biên nói chung, trong đó có kế hoạch trồng rừng phòng hộ chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là suất đầu tư trồng rừng phòng hộ quá thấp, khó thu hồi đất của dân để triển khai dự án trồng rừng.
Theo Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg, ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định: Suất đầu tư tối đa cho trồng rừng trên 1 héc-ta rừng phòng hộ được Nhà nước chi trả 15 triệu đồng bao gồm cả công chăm sóc, bảo vệ trong 4 năm.
Với mức hỗ trợ này thì chi phí nhân công của người tham gia trồng rừng chỉ đạt 60.000 đồng/công. Trong khi đó, giá nhân công theo quy định là 178 đồng/công. Nếu áp theo mức tính này thì suất đầu tư hỗ trợ trồng rừng phải phải là 50 – 60 triệu đồng/ha/4năm. Chưa kể đến giá nhân công ngoài thị trường cao hơn rất nhiều so với công trồng rừng.
Cùng với đó, diện tích đất quy hoạch trồng rừng thường là đất xấu, xa khu dân cư, điều kiện đi lại khó khăn, trong khi chi phí trồng rừng thấp nên việc trồng rừng càng khó thực hiện. Trong thực tế, đất quy hoạch trồng rừng chủ yếu là diện tích đất nương rẫy của các hộ dân, chính quyền muốn thu hồi hay vận động người dân tham gia trồng rừng hoặc thu hồi đất của dân để giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) thì phải bồi thường cho các hộ dân theo quy định Luật Đất đai; số tiền bồi thường sẽ rất lớn, trong khi ngân sách địa phương này hạn hẹp.
Được biết, năm 2015, Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) huyện Điện Biên đã tuyên truyền vận động các hộ dân đồng ý tham gia trồng rừng, sau người dân thấy đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp nên đã hủy hợp đồng không tham gia trồng nữa.
Thực tế, người dân đã làm phép so sánh từ lợi ích của việc trồng rừng thấp hơn rất nhiều so với làm nương trồng cây nông nghiệp ngắn ngày như: Ngô, sắn, dong riềng... Trong khi đó, thời gian người dân có thể hưởng lợi, khai thác từ rừng phải bước sang năm thứ 5, trong khoảng thời gian ấy, công chăm sóc rừng Nhà nước chi trả lại quá thấp, 200 nghìn đồng/ha.
Các Ban QLRPH của Điện Biên như: Ban quản lý huyện Mường Chà, Điện Biên và Tuần Giáo, dù đã được thành lập từ nhiều năm nay, nhưng chưa hề được giao đất để trồng rừng. Sau rất nhiều năm đề xuất, kiến nghị, hiện nay Ban QLRPH huyện Điện Biên mới đang trong quá trình hoàn tất thủ tục để được giao đất để trồng rừng. Tuy nhiên đến nay, việc giao đất cho Ban này còn đang gặp phải một số vướng mắc trong việc thu hồi đất của dân.
Từ những khó khăn trên, năm 2015, Ban QLRPH huyện Điện Biên được giao trồng 270ha rừng phòng hộ, nhưng chỉ trồng được 23,8ha, đạt 8% kế hoạch giao. Trong 6 tháng đầu năm 2016, Ban này được giao trồng 70ha, nhưng đến thời điểm này mới triển khai được 2,6ha, đạt 3,7% kế hoạch giao.
Trao đổi với chúng tôi, ông Hà Lương Hồng, Giám đốc Ban QLRPH huyện Điện Biên, cho biết: Việc Ban QLRPH huyện Điện Biên không thực hiện được mục tiêu, kế hoạch trồng rừng trong năm 2015 là do kế hoạch trồng rừng của tỉnh và huyện giao còn nhiều bất cập: Kế hoạch tỉnh giao sớm, từ tháng 12/2014. Nhưng mãi đến tháng 4/2015 mới được giao vốn nên Ban không triển khai được dự án trồng rừng do muộn thời vụ.
Được biết, giai đoạn 2016 – 2020, mục tiêu của tỉnh Điện Biên là tập trung bảo vệ diện tích rừng hiện còn; tiếp tục đầu tư phát triển rừng, đảm bảo nâng độ che phủ rừng từ 38,5% lên 41,5% vào năm 2020. Quản lý và bảo vệ rừng theo hướng tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, sản xuất lâm nghiệp theo hướng tạo ra chuỗi sản phẩm hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân.
Ngoài ra, thực hiện một loạt các chính sách hỗ trợ gạo chuyển tiếp; hỗ trợ cộng đồng vùng đệm; hỗ trợ vận chuyển sản phẩm chế biến cho 2 nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn đi vào hoạt động để khuyến khích người dân tham gia trồng rừng kinh tế; đồng thời khẩn trương tiến hành thủ tục giao đất cho các ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn…
Song, để Điện Biên nâng được tỷ lệ che phủ rừng lên 41,5% thì ngoài việc thu hồi đất của dân, vận động người dân tham gia trồng rừng thì phải điều chỉnh suất đầu tư trồng rừng tăng lên gấp 2, 3 lần so với quy định của Nhà nước để khuyến khích người dân tham gia trồng rừng. Thực tế hiện nay, với một tỉnh miền núi nghèo như Điện Biên, ngân sách chủ yếu phụ thuộc vào Trung ương, thì việc hiệu chỉnh, nâng suất đầu tư để thu hút người dân tham gia trồng rừng là điều rất khó.
Theo Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2016, Điện Biên được phân bổ gần 22,3 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương. Trong đó, kinh phí phục vụ công tác trồng rừng phòng hộ 12.6 tỷ đồng (chiếm 56,5% tổng vốn). Nhưng với đà này thì Điện Biên khó có thể giải ngân được số tiền trên bởi không hoàn thành được kế hoạch trồng rừng phòng hộ.
Ai cũng biết, rừng Điện Biên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước đối với các lưu vực sông Đà, sông Mã, sông Mê Kông và một số phụ lưu sông khác như: Nậm Ma, Nậm Bum, Nậm Pụ, Nậm Mức... Các con sông trên sẽ điều tiết nước cho vùng hạ du để sản xuất nôn nghiệp và cung cấp nguồn nước cho các công trình thủy điện trọng yếu của Quốc gia.
Nhưng nếu Điện Biên không có sự thay đổi về cơ chế, chính sách, cùng với việc thay đổi nhận thức của nhân dân trong việc nhìn thấy lợi ích lâu dài của việc bảo vệ và phát triển rừng thì rất khó để tỉnh này hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế lâm nghiệp, kế hoạch trồng rừng hàng năm. Đặc biệt, trong việc bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên nước, bảo vệ môi trường trong tương lai. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/7) đầu trang(
Gần đây, Hà Nội tích cực trồng cây xanh, được nhân dân đồng tình, dư luận hoan nghênh, nhất là khi ô nhiễm không khí có chiều hướng gia tăng.
Song, khi hơn 300 cây phượng vĩ được trồng tại dải phân cách một số tuyến phố như Trần Khát Chân - Đại Cồ Việt - Xã Đàn - Ô Chợ Dừa, Láng Hạ, dư luận lại xôn xao. Bên cạnh quan điểm ủng hộ, không ít ý kiến phản đối.
Một số nhà khoa học cho rằng, phượng vĩ có tán lá rộng, thích hợp trồng ở không gian rộng như công viên, vườn hoa hay vỉa hè hơn là dải phân cách. Cây phượng trồng ở dải phân cách sẽ ảnh hưởng tầm nhìn của người tham gia giao thông. Chưa kể dải phân cách ở Hà Nội thường không ổn định, nhiều lần bị "xén" để mở rộng các tuyến đường như: Trần Duy Hưng, Khuất Duy Tiến, Phạm Hùng, Trần Thái Tông... Nếu những dải phân cách vừa trồng phượng vĩ cũng bị xén để mở đường trong tương lai thì sẽ gây lãng phí.
Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội giải thích, cây phượng nằm trong danh mục 30 loại cây đô thị theo Quy hoạch hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và hồ TP Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt ngày 18-3-2014 tại Quyết định số 1495/QĐ-UBND. Đây là loài cây có hoa và tán đẹp, rễ cọc nên ít bị đổ.
Để bảo đảm cây sinh trưởng tốt, nhưng không ảnh hưởng an toàn giao thông, thành phố sẽ áp dụng kỹ thuật trồng cây bon-sai tầm trung thay thế việc trồng cây tự nhiên ở nhiều tuyến đường. Bon-sai tầm trung là những loài cây gỗ lớn hoặc trung được áp dụng các kỹ thuật hãm sinh trưởng, tạo rễ, tạo gốc, uốn thân, tạo tán...
Những cây thân gỗ này chỉ phát triển chiều cao khống chế từ 4 đến 8 m nhưng vẫn tươi tốt, ra hoa kết quả, tạo cảnh quan đẹp. TP Hà Nội sẽ nhân rộng mô hình cây bon-sai tầm trung ra nhiều tuyến phố, với các chủng loại cây khác như nhội, muồng, me, sanh, đa, đề, lộc vừng. Với kích cỡ khống chế như trên, tán cây hoa phượng hay các loại khác đều không ảnh hưởng tầm nhìn của người tham gia giao thông. Việc chăm sóc tuy tốn nhiều công sức, nhưng đổi lại, thành phố sẽ có những tuyến phố đẹp.
Những tranh luận thời gian qua về cây xanh một phần đến từ việc Hà Nội áp dụng kỹ thuật rất mới trong tạo dựng cảnh quan đô thị. Phải thừa nhận rằng, lo ngại của nhiều chuyên gia là có cơ sở, nhất là thành phố đã không ít lần "xén" vỉa hè và dải phân cách một số tuyến đường phố để khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông.
Điều này đòi hỏi việc phát triển hạ tầng đô thị cần có cái nhìn mang tính tổng thể, lâu dài hơn. Mặt khác, kỹ thuật tạo cây bon-sai tầm trung là lĩnh vực Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm. Áp dụng kỹ thuật này đồng nghĩa với việc phải làm ngược lại chu trình phát triển tự nhiên của cây. Vì vậy, những ý kiến chưa đồng thuận của các nhà khoa học cần được xem xét, tham khảo trong quá trình triển khai.
Cây xanh là một phần cơ hữu của đô thị. Với Thủ đô Hà Nội, điều này càng quan trọng hơn, khi thành phố hướng tới mục tiêu sạch - xanh - văn hiến - hiện đại. Thận trọng trong tạo dựng những không gian xanh là cần thiết. Nếu chọn được loại cây, cách trồng phù hợp, cây xanh sẽ góp phần tạo mỹ quan, tạo nên những điểm nhấn của đô thị. (Nhân Dân 6/7) đầu trang(
Xác định lâm nghiệp là tiềm năng lợi thế của địa phương, nhiều năm qua, huyện Tĩnh Gia đã thực hiện tốt chính sách giao đất, giao rừng, đồng thời tuyên truyền, khuyến khích người dân tích cực trồng rừng, nhất là trồng cây keo lai.
Với chủ trương này, nhiều gia đình đã thoát nghèo vươn lên làm giàu từ các mô hình trồng rừng đồng thời cũng góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Huyện Tĩnh Gia hiện có trên 36.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó có gần 23.000 ha đất rừng sản xuất chủ yếu là trồng keo, thông, bạch đàn và lim xanh. Xác định rõ việc phát triển kinh tế rừng là hướng đi đúng, những năm gần đây cấp ủy, chính quyền huyện Tĩnh Gia đã phối hợp với các ban ngành đoàn thể tập trung hướng dẫn, chỉ đạo, vận động nhân dân phát triển kinh tế rừng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
Để người dân yên tâm phát triển sản xuất, huyện đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ như chỉ đạo thành lập các ban phát triển rừng cấp xã và cấp thôn; có cơ chế chính sách vay vốn hỗ trợ lãi suất cho nhân dân; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, lồng ghép nhiều chương trình, dự án để hỗ trợ nhân dân trồng và đầu tư chăm sóc rừng.
Đặc biệt riêng đối với cây keo lai, Ban quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia đã trực tiếp cung ứng giống, bám sát địa bàn để chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn các hộ gia đình chăm sóc, phát triển theo đúng quy trình nhằm nâng cao giá trị sinh khối trên cùng diện tích.
Vì vậy số hộ tham gia nhận khoán và diện tích rừng trồng của huyện hàng năm luôn tăng, hiện đã có hơn 700 hộ nhận khoán. Toàn huyện đã trồng được 15 ngàn ha keo, trong đó có 10 ngàn ha đã cho thu hoạch.
Việc tổ chức, khuyến khích bằng nhiều biện pháp, chính sách hỗ trợ, nên phong trào phát triển kinh tế từ giao đất trồng rừng ở huyện Tĩnh Gia đã thực sự đem lại hiệu quả. Từ phát triển kinh tế rừng, những năm gần đây cuộc sống của người dân trồng rừng ở huyện Tĩnh Gia đã được cải thiện đáng kể, nhiều hộ dân giàu lên nhờ thâm canh cây keo lai quy mô lớn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa 6/7) đầu trang(
Hiện nay, ở một số địa phương, xu thế nhiều hộ gia đình trồng rừng liền kề nhau cùng bán cho một thương lái hoặc tự liên kết với nhau để khai thác đang diễn ra.
Tuy nhiên, khung pháp lý lại chưa quy định cụ thể về việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho hai trường hợp nêu trên. Chính vì vậydẫn đến tình trang gỗ rừng trồng từ hợp pháp thành bất hợp pháp trong bối cảnh Việt Nam tham gia VPA/FLEGT.
Với các chính sách phù hợp và định hướng xã hội hóa ngành lâm nghiệp, diện tích rừng trồng của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Từ một triệu ha (năm 1990) lên gần 3,7 triệu ha (năm 2014). Trồng rừng là nguồn sinh kế góp phần cải thiện thu nhập cho khoảng 1,4 triệu hộ gia đình. Với tốc độ phát triển như vậy, việc phát sinh các tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình trồng, khai thác rừng là khó tránh khỏi.
Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định lập báo cáo ĐTM đối với dự án khai thác rừng với diện tích từ 200ha trở lên đối với rừng trồng là rừng sản xuất, áp dụng phương thức chặt trắng, có lô thiết kế khai thác diện tích tập trung. Tuy vậy, những văn bản này không nêu rõ trong các trường hợp cá nhân, tổ chức mua lại rừng trồng của nhiều người có diện tích lớn, liền kề nhau để khai thác, hoặc nhiều hộ gia đình có diện tích liền kề, liên kết với nhau để khai thác diện tích lớn hơn 200ha.
Như vậy, vô tình các chủ rừng đã đẩy gỗ hợp pháp của mình trở thành gỗ bất hợp pháp. Trong bối cảnh Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) chuẩn bị được ký kết, việc đưa ra khung chính sách cụ thể về những trường hợp này sẽ trở nên cần thiết hơn bao giờ.
Trên thực tế, việc các chủ rừng không có đủ điều kiện, nhân lực, máy móc khai thác, phương tiện vận chuyển đến nơi tiêu thụ nên phải bán cây đứng cho thương lái. Việc các chủ rừng bị thương lái ép giá là điều không thể tránh khỏi. Trong khi đó, kết quả điều tra của Mạng lưới VNGO – FLEGT tại 4 tỉnh: Hoà Bình, Nghệ An, Bình Định, Kon Tum (tháng 8/2015) cho thấy, chỉ khoảng 10% các hộ trồng rừng có khả năng tự khai thác.
Do đó, việc các chủ rừng tự liên kết với nhau khai thác rừng với diện tích lớn hơn 200ha đang có xu hướng gia tăng trong tương lai để tránh phụ thuộc vào thương lái. Nhưng khi liên kết khai thác, diện tích rừng vượt quá 200ha các chủ rừng đã biến gỗ hợp pháp trở thành gỗ bất hợp pháp.
Bên cạnh đó, trường hợp một số thương lái thu gom rừng trồng của nhiều chủ rừng với diện tích lớn hơn 200ha để khai thác đang diễn ra phổ biến. Khảo sát thực trạng thu mua gỗ rừng trồng tại tỉnh Nghệ An cho thấy, với tổng diện tích rừng trồng gần 16 nghìn ha, chỉ có khoảng 70 thương lái chuyên mua gỗ rừng trồng.
Như vậy, mỗi thương lái sẽ thu mua khoảng 224ha cho mỗi chu kỳ khai thác. Mặt khác, các thương lái cũng ưu tiên việc thu mua gỗ của các chủ rừng có diện tích rừng liền kề nhau, để thuận lợi cho việc khai thác thuận lợi và tiết kiệm chi phí.Với những thương lái lớn, con số này sẽ còn lớn hơn số trung bình nhiều lần.
Các thương lái này thường nắm bắt quy chế, quy định nhanh nhạy. Tuy nhiên, tại Nghị định 18/2015/NĐ-CP, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 không quy định rõ ràng việc lập báo cáo ĐTM, nên khi thu mua diện tích rừng lớn hơn 200 ha các thương lái không đến chính quyền địa phương để đăng ký. Như vậy, khi Hiệp định VPA/FLEGT chính thức có hiệu lực tại Việt Nam thì chính các thương lái thu mua rừng trồng này sẽ gặp phải nhiều bất lợi rất lớn, đặc biệt về mặt kinh tế.
Ngoài ra, trách nhiệm phê duyệt hồ sơ khai thác rừng trồng của hộ gia đình thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã. Nhưng theo kết quả điều tra, 100% cán bộ Lâm nghiệp xã khi được phỏng không nắm được quy định về việc lập báo cáo ĐTM đối với khai thác rừng trồng có diện tích lớn hơn 200 ha, nên đã không yêu cầu các chủ khai thác thực hiện nghiêm theo quy định.
Khi Hiệp định VPA/FLEGT có hiệu lực, gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU phải là gỗ hợp pháp, không những thế gỗ và sản phẩm gỗ tiêu thụ trong thị trường nội địa cũng phải hợp pháp.
Vì vậy, việc tiêu thụ số lượng gỗ bất hợp pháp sẽ gặp rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến thu nhập cũng như đời sống của người trồng, khai thác rừng, đặc biệt là người dân ở các huyện miền núi. Việc khai thác rừng trồng của nhiều hộ gia đình có diện tích tập trung và lớn hơn 200 ha đã, đang và sẽ diễn ra trong tương lai.
Ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng, về lâu dài chúng ta cần bổ sung và làm rõ việc có hay không lập báo cáo ĐTM cho hai trường hợp trên tại Nghị định 18/2015/NĐ-CP, Luật Bảo vệ môi trường 2014.
Để thực hiện được điều này, các tỉnh có diện tích rừng trồng lớn, UBND tỉnh cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể và phổ biến đến các ban, ngành liên quan, chính quyền huyện, xã. UBND cấp huyện, xã, Hạt Kiểm lâm và các chủ rừng là tổ chức cần nắm rõ danh sách các hộ trồng rừng để tuyên truyền nâng cao nhận thức về quy định gỗ hợp pháp.
Đặc biệt, các cá nhân, tổ chức trên địa bàn phải thường xuyên thu mua rừng trồng để khai thác, để đảm bảo quyền lợi của người trồng rừng, khai thác rừng trong tiến trình VPA/FLEGT, cũng như tránh việc các hộ khai thác vi phạm các quy định của pháp luật. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/7) đầu trang(
Với bản tính cần cù, chịu khó lại ham học hỏi, ông Phạm Trung Việt ở thôn Nhơn Hòa 2, xã Bình Tân (Bình Sơn) đã biến vùng đất đồi khô cằn thành một trang trại kinh tế tiền tỷ.
Theo chân ông Việt, chúng tôi có cơ hội thăm mô hình kinh tế trang trại rộng 50ha của ông. Nhìn rừng keo bạt ngàn, xa ngút tầm mắt, tôi thật sự ngưỡng mộ và khâm phục cách nghĩ, cách làm của một nông dân như ông Việt.
Cách đây 30 năm, lúc mà phong trào trồng rừng nguyên liệu còn khá xa lạ với bà con nông dân, thì ông Việt đã nghĩ đến mô hình kinh tế rừng. Từ những ý nghĩ ấy, ông quyết định lên vùng đồi núi ở thôn Nhơn Hòa 2 để khai hoang trồng rừng. Khi đã có đất “sạch”, năm 1992, ông Việt đầu tư hơn 120 triệu đồng mua cây giống về trồng. “Lúc đó, ai cũng bảo tôi khùng, tự nhiên đem tiền bỏ lên núi. Vì với số tiền này tôi có thể mua được 5 lô đất đẹp ở thị xã Quảng Ngãi (nay là TP. Quảng Ngãi)”, ông Việt chia sẻ.
Song song với việc khai hoang trồng rừng, ông Việt còn tự mình mở một công ty chuyên khai thác và mua bán các sản phẩm từ rừng. Từ đây, ông có cơ hội đi nhiều nơi, học hỏi kinh nghiệm trồng rừng sao cho hiệu quả. Vừa trồng rừng, vừa kinh doanh, cuộc sống gia đình ông ngày một ổn định. Nhưng rồi niềm đam mê trồng rừng lại tiếp tục thôi thúc, nên ông Việt quyết định giải thể công ty ở TP.Quảng Ngãi, quay trở về Bình Tân mua thêm đất để trồng rừng.
Nhìn hàng chục hécta rừng đã phủ xanh trên khắp gò đồi đang chuẩn bị vào mùa thu hoạch, niềm vui “hái quả ngọt” như được nhân lên gấp bội. Thế nhưng, mọi thứ bỗng chốc tan biến khi cơn bão năm 2009 quét qua, làm ngã đổ, gãy toàn bộ rừng nguyên liệu, gây thiệt hại trên 3 tỷ đồng.
Nhìn khối tài sản “cuốn theo gió”, ông Việt như người mất hồn. Cứ ngỡ sau thiệt hại quá lớn này ông Việt sẽ từ giã nghề trồng rừng. Tuy nhiên, người đàn ông sắp bước sang tuổi lục tuần này luôn giữ một niềm tin “biến rừng thành vàng”. Song, để khôi phục lại hơn 40ha rừng cần phải có một nguồn vốn lớn. Sau nhiều đêm trăn trở, ông Việt đã mạnh dạn đến ngân hàng vay hơn 1 tỷ đồng để tiếp tục trồng rừng. Sáu năm sau bão, thay vào đống đổ nát, giờ là những rẫy keo bạt ngàn, là trang trại nuôi heo, bò và ruộng mía xanh mướt.
Hiện ông Việt đang hướng đến mô hình trồng rừng theo chứng chỉ quốc tế (FSC). Tuy nhiên, trước mắt ông chỉ trồng thử nghiệm khoảng 10ha. Tất cả các rừng keo đều được chăm sóc kỹ lưỡng, bón phân, tỉa cành theo từng chu kỳ. Đồng thời, ông thuê xe mở đường đi trong rẫy keo, tạo thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển.
Theo ông Việt, trồng rừng theo tiểu chuẩn quốc tế tuy đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bởi trồng rừng theo tiêu chuẩn quốc tế, phải trồng thưa và để 10 năm mới thu hoạch. Vì vậy, chỉ cần có một cơn bão mạnh quét qua thì, coi như mất trắng. Còn trồng rừng dày theo tập quán lâu nay của người dân tuy chất lượng, cũng như năng suất gỗ không đạt, nhưng khi gặp bão còn cứu vớt được.
“Người không chịu đất thì đất phải chịu người”, những giọt mồ hôi mặn chát lại được đền đáp xứng đáng. Năm 2015, ông Việt bán 25ha keo, thu về 2,2 tỷ đồng. Sau khi trả nợ ngân hàng, ông còn dư được vài trăm triệu. Tiếp tục lấy ngắn nuôi dài, ông Việt lại đầu tư mua cây, con giống phát triển mô hình kinh tế trang trại.
Đúc rút kinh nghiệm từ nhiều năm trồng rừng, ông Việt cho biết: “Chỉ nên trồng từ 2.500- 3.000 cây/ha. Cách làm này sẽ giảm nhân công, chi phí cây giống, phân bón... Phương pháp trồng rừng này, sau 5 năm sẽ cho thu hoạch 100 tấn/ha thay vì trồng rừng dày từ 6.000- 7.000 cây/ha, nhưng chỉ thu được khoảng 80 tấn/ha”.
Không chỉ trồng rừng, ông Việt còn đầu tư xây dựng chuồng trại và thả nuôi 1.000 con heo, 12 con bò; đồng thời thuê xe máy đào, máy xúc cải tạo hơn 1ha đất đồi thành đất nông nghiệp bằng phẳng, màu mỡ. Hiện ông đang nuôi heo lứa thứ tư, trung bình 6 tháng/lứa, thu nhập khoảng 300 triệu đồng; giải quyết việc làm cho 8- 12 lao động tại địa phương.
Nhờ mạnh dạn vay vốn đầu tư, áp dụng phương án sản xuất nông nghiệp hiệu quả, và quan trọng là lòng say mê với nghiệp nhà nông, cùng đức tính cần cù, ham học hỏi, ông Việt đã trở thành tỷ phú trên vùng đất cằn Bình Tân. (Báo Quảng Ngãi 5/7) đầu trang(
Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, vị trí đàn "trâu điên" trên thường xuyên xuất hiện thuộc vùng rừng của tiểu khu 604, 605 thuộc xã Cam Tuyền (H.Cam Lộ, Quảng Trị), nằm trong quản lý của Công ty TNHH MTV lâm trường Đường 9.
Gần đây nhất, ngày 16.5, trong lúc đi làm rừng, anh Lê Văn Tiến và Nguyễn Văn Quy (trú thôn Tân Hiệp, xã Cam Tuyền) đã bị đàn trâu hoang này tấn công. Rất may, cả hai anh đã vọt trèo lên cây cao nên mới thoát nạn.
Không may mắn như 2 anh, anh Phan Doanh (34 tuổi, trú xã Vĩnh Sơn, H.Vĩnh Linh, Quảng Trị, công nhân thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9) đã suýt mất mạng khi đối diện với đàn trâu này. Cụ thể, anh Doanh đã bị đàn trâu này tấn công vào chiều 9.5 khi đang làm việc trong rừng. Anh Doanh đã được đưa đi cấp cứu ngay sau đó và bị thủng phổi, vỡ gan (phải cắt bỏ 1/3 lá gan). Theo anh Doanh, đàn trâu tấn công anh rất to và hung dữ, bản thân anh đã từng bị đàn trâu này rượt đuổi vào thời gian trước.
Trước tình hình đáng lo ngại này, từ cuối tháng 5, UBND xã Cam Tuyền và Công ty TNHH MTV lâm trường Đường 9 đã có văn bản “cầu cứu” cơ quan chức năng. Ông Nguyễn Hồng Thái, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm trường Đường 9, cho hay động thái "cầu cứu "này là cần thiết nhằm ổn định an ninh, bảo vệ tính mạng cho công nhân và cho cả người dân.
Còn ông Hoàng Liên Sơn, Chủ tịch UBND xã Cam Tuyền cho biết đàn trâu hung dữ nêu trên không phải là trâu rừng mà nguyên gốc là trâu nhà, được thả rông nên lâu ngày thành trâu hoang. Sau nhiều văn bản, báo cáo, chỉ đạo từ địa phương lên huyện, lên tỉnh, đến thời điểm này việc xử lý đàn trâu hoang kia vẫn đang rơi vào bế tắc.
Chi cục Kiểm lâm và một số cơ quan chức năng từ chối vào cuộc vì cho rằng đàn "trâu điên" trên không phải động vật rừng, không thuộc trách nhiệm của họ mà thuộc trách nhiệm xử lý của UBND H.Cam Lộ.
Hiện vẫn chưa thống nhất được phương án xử lý đàn trâu hoang. Nếu xua đàn trâu đi nơi khác thì chúng vẫn sẽ tiếp tục tấn công người, nếu sử dụng súng bắn thuốc mê thì quá tốn kém (mỗi liều có giá tới 3 triệu đồng), còn nếu sử dụng súng bắn đạn thật thì cũng chưa ổn vì khi nghe súng nổ đàn trâu sẽ bỏ chạy nơi khác hoặc hung tợn hơn. (Thanh Niên 7/7) đầu trang(
Gần 80 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, vận chuyển gỗ dăm các tỉnh phía Bắc vừa có đơn kiến nghị lên Thủ tướng về những quy định ngặt nghèo trong việc cấp phép tàu chuyên chở dăm gỗ, khiến vận chuyển, xuất khẩu bị đình trệ.
Theo các doanh nghiệp, hơn nửa năm nay, tuy nhu cầu vận chuyển gỗ dăm lớn nhưng không có tàu nào được cấp phép. Để xuất khẩu, họ phải chuyển sang thuê ô tô chở hàng từ Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ… về Cảng Cái Lân với giá đội lên gấp 3 lần. Lý do là vì từ nửa cuối năm ngoái, Cục Đăng kiểm VN yêu cầu, phương tiện thủy nội địa chở gỗ dăm sẽ phải đáp ứng tính kín thời tiết.
Tiêu chí này đòi hỏi các phương tiện phải có nắp hầm chịu lực và đóng kín khi xếp gỗ lên trên; doanh nghiệp phải thiết kế phương tiện cho việc chở dăm gỗ trên cao và trình lên Cục Đăng kiểm VN phê duyệt, cấp phép mới được hoạt động. Lý giải cho quy định này, theo Cục Đăng Kiểm, sẽ hạn chế được nguy cơ mất an toàn cho phương tiện trong trường hợp có mưa, nước sẽ ngấm vào dăm gỗ làm tăng trọng lượng hàng.
"Rất khó để hoán cải các tàu đang chở để đáp ứng các quy chuẩn mới, trong khi các doanh nghiệp vận tải cũng không thể đóng riêng một loại tàu chỉ để chuyên chở mặt hàng này. Vì vậy trên thực tế không có một phương tiện nào phù hợp để được cấp phép", một doanh nghiệp cho biết.
Các doanh nghiệp cũng cho rằng, độ ngậm nước của gỗ chủ yếu tập trung ở vỏ cây, còn dăm gỗ thì đã được bóc bỏ vỏ. Đây là mặt hàng nhẹ và trong trường hợp ngấm nước thì trọng lượng tăng cao nhất cũng không vượt quá 18%. Trong khi đó, cơ quan quản lý có thể yêu cầu phương tiện đảm bảo tính kín thời tiết bằng bạt che như nhiều tàu chở hàng khác. Do đó, các doanh nghiệp kiến nghị cho phép tàu chở dăm gỗ được điều chỉnh quy định về việc đóng nắp hầm hàng cứng bằng việc phủ bạt che kín và chằng buộc để đảm bảo an toàn.
Trước kiến nghị của doanh nghiệp, trong văn bản vừa gửi về Bộ GTVT, Cục Đăng kiểm vẫn khẳng định, quy chuẩn quốc gia và các nước trên thế giới đều bắt buộc tàu hàng phải có nắp hầm, trừ tàu chở bùn có cửa xả đáy.
Cục Đăng kiểm tính toán, khi không có nắp hầm và bị nước lọt vào thì khối lượng chuyên chở sẽ tăng nhiều, gây quá tải vì độ ngấm nước của gỗ xẻ là 25% trong khi gỗ chưa xác định được hệ số rỗng (ngấm) sẽ phải tính với 3 giá trị là 25%, 40% và 60%. “Việc bỏ nắp hầm để phủ bạt theo kiến nghị của doanh nghiệp khi vận chuyển gỗ dăm còn có nguy cơ mất an toàn cao”, Cục Đăng kiểm cho hay.
Trao đổi thêm với Thanh Niên, ông Đỗ Trung Học, Trưởng phòng Tàu sông (Cục Đăng Kiểm VN) cho rằng, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, trước mắt, Cục sẽ báo cáo Bộ GTVT kèm theo phương án xem xét thay thế nắp hầm bằng phủ bạt, nhưng cần đạt yêu cầu không cho nước lọt vào hầm hàng, đồng thời tiến tới đưa vào trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. “Trong thời gian đó, chúng tôi kiến nghị giải pháp tạm thời là cho thay thế phủ bạt áp dụng với tàu sông, tức là tàu hoạt động trong khu vực
Trao đổi với PV Thanh Niên, TS Bùi Văn Ái - Viện Khoa học Lâm nghiệp VN cho biết, độ giãn nở của dăm gỗ có biên độ rất dài, có thể từ 18 - 40% tùy theo việc hút nước hay không khí và thời gian ngấm. Tuy nhiên, nếu vì tính không kín thời tiết nên hút nước mưa trong một thời gian ngắn, thì độ ngấm nước của dăm gỗ chỉ khoảng từ 18 - 20% chứ không thể lên đến con số 40 hay 60% được. (Thanh Niên 6/7) đầu trang(
Ngày 30/6/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 5104/UBND-CN gửi Sở Công Thương, UBND huyện M’Drắk, Công ty THNN MTV Lâm nghiệp M’Drắk, Công ty Điện lực Đắk Lắk, Công ty CP chế biến gỗ Trường Thành M’Drắk về việc cấp điện cho Nhà máy chế biến gỗ Trường Thành M’Drắk.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện M’Drắk (chỉ đạo UBND xã Krông Jing, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, các đơn vị có liên quan) và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Drắk phối hợp, tạo điều kiện cho Công ty Điện lực Đắk Lắk thỏa thuận cấp đất xây dựng công trình cấp điện cho Nhà máy chế biến gỗ Trường Thành M’Drắk.
Đề nghị Công ty Điện lực Đắk Lắk đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình cấp điện cho Nhà máy chế biến gỗ Trường Thành M’Drắk, nhằm cung cấp điện liên tục, ổn định, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất; giao Sở Công Thương đôn đốc Công ty Điện lực Đắk Lắk trong việc cung cấp điện phục vụ sản xuất cho doanh nghiệp, kịp thời giải quyết, tháo gỡ (hoặc tham mưu UBND tỉnh) những khó khăn, vướng mắc phát sinh liên quan công trình cấp điện nêu trên. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Đắk Lắk 6/7) đầu trang(./.
|
|||