|
Ngày 07 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chè Bát Tiên cổ thụ có đường kính trên 1m và chiều cao bằng cả tòa nhà 4 tầng… Đây có thể coi là sản vật quý của ngành chè Việt Nam cần được lưu giữ và bảo tồn.
Câu chuyện “săn” chè cổ thụ bắt nguồn từ một lão nông tên là Nguyễn Văn Tuân ở xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ nhỏ ông Tuân đã nghe các cụ cao niên kể về rừng chè Bát Tiên cổ thụ trên núi cao gần 1000m, thuộc địa phận thôn Lưu Quang.
Lời kể rằng đó là rừng chè của các tiên ông ngự trị. Nơi đó âm u, sương khói bao phủ suốt ngày đêm, lại có dãy núi Hồng cao chót vót làm bức tường thành bảo vệ rừng chè trước bất kỳ kẻ nào có ý đồ xâm phạm. Đây cũng là khu vực rừng rậm, nhiều thú dữ như hổ báo và các loại trăn, rắn lớn nên hầu như không ai đủ gan lên đó.
Cụ Thảo, 92 tuổi móm mém kể rằng, hồi còn nhỏ cụ hay chăn trâu ở khu vực chân núi. Thỉnh thoảng cụ lại nghe thấy những tiếng hát từ trên núi vọng lại và mùi chè thơm thoang thoảng bay qua. Có một điều lạ là đàn trâu không bao giờ dám lên trên sườn núi ăn cỏ. Sau này, cụ Thảo cũng vài lần nhắc nhở con cháu không được lên trên núi vì sợ điềm chẳng lành. Từ đó, người ta chỉ được nghe loáng thoáng những câu chuyện về rừng chè cổ nửa hư nửa thực qua lời đồn.
Tuy nhiên, không tin vào chuyện thần tiên, ông Tuân đã vài lần đeo balo lên núi nhưng đều không có kết quả. Năm 2008, phóng viên cũng đã một lần cùng ông Tuân lên núi cả tuần lễ nhưng không tìm ra rừng chè cổ thụ như lời đồn của dân làng. Không bỏ cuộc, ông Tuân tiếp tục hành trình đến từng ngọn núi để tìm ra được chè tiên.
Thế rồi, không phụ lòng người, trong một lần đi “săn” chè cổ vào đầu năm 2011, ông Tuân mệt lả ngồi tựa lưng vào gốc cây bên núi nghỉ ngơi. Ngắt lá chè từ một nhánh cây trong khe núi cho vào miệng, mùi vị lạ kỳ đã khiến ông Tuân không khỏi ngỡ ngàng. Ông bật dậy, nhìn xung quanh thì chính cây cổ thụ mình tựa lưng vào là một cây chè Bát Tiên khổng lồ mà bao nhiêu năm qua ông kiếm tìm.
Ngẩn ngơ trong rừng cho đến xẩm tối, ông Tuân mới xuống núi và giấu tịt câu chuyện chè cổ với tất cả mọi người vì sợ kẻ xấu sẽ chặt hạ hoặc làm một điều gì đó bất kính với “thần linh”.
Không “săn” chè cổ như ông Tuân, không tin vào những câu chuyện ma quái mà người làng hay kể, ông Trần Văn Lập, vốn là một tiều phu ở xã Minh Tiến, lại vô tình bắt gặp rừng chè này cách đây 2 năm.
Trong một lần đi lấy củi, ông Lập thấy một con trăn hoa khá lớn trườn qua khe núi lên phía trên. Định bắt con trăn lớn ấy nên ông Lập đi theo, đến lưng chừng núi thì con trăn chui vào một cái hang nhỏ gần đó rồi mất hút. Mất dấu “quái vật” nhưng ông Lập lại thấy mấy cây gỗ lạ. Nhìn kỹ, ông Lập cho rằng đó là cây xà cừ nên đã vài lần định vác búa rìu vào chặt hạ lấy củi.
Tháng 4/2011, ông Lập cùng 2 người con chuẩn bị sẵn sàng như cưa máy, dao rựa, cưa tay và một con trâu kéo vào rừng chặt hạ xà cừ. Lưỡi cưa vừa chạm đến thân cây thì ông Tuân xuất hiện và ngăn lại.
Chính bố con ông Lập cũng bất ngờ khi biết đây là cây chè cổ Bát Tiên mà những cao niên thường kể. Để kiểm chứng, ông Lập cho con trai trèo lên ngọn cây hái vài lá xuống thử thì đúng là vị chè Bát Tiên quý hiếm. Họ quyết định giữ kín bí mật về rừng chè cổ thụ nhưng thông tin vẫn bị rò rỉ ra ngoài.
Trước thông tin có được từ người dân, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đại Từ đã nhanh chóng thành lập đội khảo sát rừng chè Bát Tiên cổ. Từ thị trấn Đại Từ vượt 20 cây số mới đến được trung tâm xã Minh Tiến. Đến đây, tất cả phải đi bộ leo núi, băng rừng gần 4 giờ đồng hồ mới lên được khu vực có rừng chè cổ thụ.
Rừng chè hiện ra trước mắt, cả đoàn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp và cổ thụ của những “cụ” chè Bát Tiên. Xen bên thân chè là những cây trúc già cỗi đã úa vàng và nhiều loại cây gỗ lạ tạo cho rừng chè một “hàng rào dây thép gai” vững chắc nên rất khó để đột nhập bên trong.
Người dẫn đường phải dùng đến dao rựa phát gai mây cho thoáng. Càng vào sâu bên trong, rừng chè càng hiện ra rõ mồn một. Có những cây cao trên 20 mét và đường kính lên tới trên 1 mét. Trưởng đoàn khảo sát là ông Trương Mạnh Kiểm, hiện đang là Phó Chủ tịch UBND huyện Đại Từ cho biết thực sự choáng ngợp trước một di sản tuyệt vời mà Thái Nguyên có được. Có những cây lớn 3 người ôm không xuể và độ cao lên tới gần 30 mét. Tán cây chè xòe rộng phủ kín một vùng và thi thoảng lại có mùi thơm quyện với cây rừng ngào ngạt.
“Nằm trên dãy núi Hồng với độ cao gần 1000 mét so với mực nước biển nên rừng chè dường như rất hoang sơ, đó có lẽ là lý do mà rừng chè còn tồn tại cho đến ngày nay”, ông Kiểm phán đoán.
“Qua khảo sát cho thấy, trong rừng chè cổ có trên chục cây được gọi là “cụ chè” vì kích cỡ “khủng” cùng độ tuổi. Theo phán đoán của Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Đại Từ Lê Thanh Sơn thì những cây chè ở đây có tuổi thọ hàng trăm năm. Còn nhiều người dựa vào kích cỡ thân cây và những “mắt” có trên vỏ cây thì cho rằng, rừng chè đã có cách đây hàng ngàn năm.
Theo quan sát của phóng viên, bên cạnh những “cụ chè” còn tồn tại xanh mướt thì nhiều thân cây chè bị đổ đã và đang rục muỗng có kích cỡ lớn hơn rất nhiều. Đây là điều chứng tỏ, nơi đây đã từng có rừng chè hoang dã tồn tại lâu đời với quy mô lớn trên dãy núi Hồng.
Ông Lê Thanh Sơn, sau khi “lệnh” cho nhân viên lên hái lá chè nếm thử đã rất hồi hộp. Đúng như một số người trước đây trong xã Minh Tiến được nếm thử, chè cổ thụ nơi đây có vị mát và hương thơm như chè Bát Tiên.
Hiện đoàn khảo sát đã lấy mẫu giống và gửi Viện Chè Trung Ương để nghiên cứu. Ông Sơn cho rằng, rất có thể chè cổ là nguồn gốc chè Thái Nguyên bây giờ. Cùng với sự phát hiện tuyệt vời về chè, câu chuyện chăm sóc bảo vệ để bảo tồn rừng chè cổ này cũng là một trong những bài toán khó và cấp bách của ngành Nông nghiệp huyện Đại Từ. Bởi lẽ, hiện nay nhiều người địa phương vì tò mò đã “khăn gói quả mướp” lên thăm “cụ chè”. Tuy nhiên, cũng không ít kẻ hám lợi đang lăm le chờ cơ hội chặt đưa “cụ” đi bán.
Ông Sơn cho biết: “Cùng với công tác bảo vệ, huyện Đại Từ đồng thời có kế hoạch sưu tầm và xây dựng vườn chè cổ nhằm thu hút du khách tham quan, thưởng thức các loại chè ngon của địa phương, tạo thêm một sản phẩm du lịch đặc sắc cho Festival Trà quốc tế sắp tới tại Thái Nguyên”. (Đất Việt 6/7) đầu trang(
Dân địa phương và người từ nhiều nơi khác đang đổ xô vào các cánh rừng ở Phú Yên để đốn hạ cây ươi thu hái trái. Đã có một người chết vì bị cây ươi ngã đè.
Cây ươi 9 năm ra trái một lần, mùa này đúng chu kỳ rừng ươi sai trái, người dân thu hái nhiều đến mức đem phơi trước sân nhà như phơi lúa. Đây là loại trái cây rừng ăn lạ miệng, chế dược liệu nên bị săn lùng triệt để.
Theo chân anh Kso Lin, một người chuyên hái ươi ở xã Ea Trol, huyện miền núi Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, sau một hồi băng rừng lội suối PV đến khu vực tập trung nhiều cây ươi. Chăm chú ngước nhìn tán cây “thác đổ” (tán lá nghiêng nhiều nhánh rũ xuống như thác chảy), đoán được hướng ươi bay, trong chốc lát anh Lin cầm lên tay mấy trái ươi.
Loại trái này có đặc điểm khác lạ là ra quả sát nách cùng chung cuống với chiếc lá đài. “Chiếc lá đài như tấm áo mưa che toàn bộ trái ươi. Dân gian có câu “nở như trái ươi”. Trái khi bị thấm nước thì lập tức nở ra và thối rụng nên chiếc lá đài làm nhiệm vụ “che mưa” rất kỹ bảo vệ trái ươi đến khi chín. Vì cùng chung cuống nên khi trái ươi chín rụng thì chiếc lá đài rụng theo. Không như nhiều loại trái cây khác rụng thẳng xuống gốc, trái ươi rụng kèm chiếc lá đài giống như cái dù, gặp gió bay ra xa, có khi rơi cách gốc cây 5 - 7m nên gọi là ươi bay”, anh Lin giải thích.
Ươi bay có giá lên đến 350.000 đồng/kg, còn ươi non chỉ 100.000 đồng/kg. Tuy vậy có quá nhiều không “cầm lòng” chỉ lượm ươi bay theo cách truyền thống mà chuyển sang hái cả ươi non. Cây ươi lại cao chót vót từ 15 - 20m, thân thẳng đuột như cột điện, có cây thân to bằng thùng phuy một người ôm không xuể. Muốn hái ươi phải cưa đứt gốc.
Tuy nhiên không phải ai cưa cây ươi cũng suôn sẻ, có cây đứt thân nhưng vướng dây leo hoặc tán lá cây lớn bên cạnh nên không đổ xuống đất. Nhiều người đổ mồ hôi hột cưa cây nhưng không hái được trái, bỏ lại cả cây ươi chết đứng.
PV “chinh phục” các khu rừng cao ở xã Ea Trol và chứng kiến nhiều cây ươi thân lìa khỏi gốc mà xót xa trước sự tàn phá của con người. Trước tình trạng nhiều người đổ xô vào rừng đốn hạ cây ươi, UBND xã Ea Trol đã thành lập tổ kiểm tra chốt chặn không cho người vào rừng hái ươi. Tuy nhiên những cánh rừng này nằm ven trục giao thông phía Tây Phú Yên nên cánh hái ươi những người hái ươi dễ dàng băng tắt vào.
Chủ tịch UBND xã Ea Trol Nay Y Bình cho biết: “Xã đã tuyên truyền vận động nhân dân không nên đốn hạ cây ươi để thu hái quả trái phép. Đồng thời địa phương cũng đã chỉ đạo đội liên ngành truy quét việc mua bán vận chuyển trái ươi, lập danh sách các đầu nậu tổ chức thu mua trái ươi trái pháp luật để xử lý”.
Dạo quanh các khu vực dân cư xã Sông Hinh, vùng xa nhất của huyện Sông Hinh, thấy người dân nơi đây phơi ươi nhiều như phơi lúa. Trái ươi non xanh hái về nhiều người sợ ngành chức năng thu giữ nên phải phơi trong hiên nhà, phòng khách khoảng 2 ngày. Sau khi trái ươi chuyển sang màu nâu đen giống như ươi bay được lượm từ rừng, người dân mới đem ra sân phơi thật khô để qua mặt ngành chức năng. Thế nhưng theo kinh nghiệm của người dân địa phương, chỉ cần bóp thấy trái ươi mềm thì biết ươi non phơi khô, còn ươi bay thì cứng vỏ.
Trong vai đầu nậu đi mua ươi, PV vào nhà bà Nguyễn Thị Hoa chứng kiến nhiều bao tải đựng ươi chất sau gian bếp. Bà Hoa cho biết các đầu nậu liên tục tranh nhau mua ươi. Ươi phơi vừa khô là đầu nậu ập đến hốt vô bao cân ký tính tiền. Tuy nhiên, do xuất hiện lực lượng chốt chặn nên hoạt động mua bán phải tiến hành lén lút.
Chỉ tính riêng xã Sông Hinh, cây ươi mọc phân bổ đều trên một vùng rừng rộng bạt ngàn 23.000ha, trải dài từ khu vực thuộc Tỉnh đội quản lý, đến khu vực do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh phụ trách, rừng tự nhiên do xã quản lý và rừng giao hộ gia đình quản lý.
Ông Lê Ngọc Hải, Chủ tịch UBND xã Sông Hinh cho biết: “Khu vực rừng tự nhiên của xã Sông Hinh giao cho hộ gia đình quản lý 2.400ha. Theo quy ước, ai vào rừng mình nhận khoán thì người đó là kẻ trộm, thế nhưng không chỉ ngành chức năng mà người dân nhận quản lý rừng cũng vất vả ngăn chặn nạn đốn hạ cây ươi. Mùa ươi trải dài gần 2 tháng, người hái ươi luôn rình mò, chủ rừng khó mà canh giữ”.
Nếu cây ươi chặt nhánh hái trái thì khoảng 9 năm sau lại ra trái, còn nếu chặt gốc thì phải 20 - 30 năm sau cây mới mọc nhánh lại mới đủ sức ra trái. Nhiều khi cây ươi bị chặt không gượng nổi chết hẳn. Chính vì sự tàn phá của người hái ươi hám lợi, nhiều cánh rừng ươi ở xã Sông Hinh, Ea Trol bị đốn hạ không thương tiếc.
Gần nửa tháng qua, nhiều người dân ở các xã lân cận đến khu vực Hòn Cùng, Suối Tiên thuộc xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân dùng cưa máy cưa gốc cây ươi đổ ngã để hái trái. Mới đây, anh Trần Văn Tuấn 29 tuổi, ở thôn Suối 2, xã Xuân Quang 1 huyện Đồng Xuân cùng tốp người dân địa phương đến khu vực rừng Hòn Cùng thuộc xã Phú Mỡ (Đồng Xuân) hái ươi bằng cách dùng cưa máy cưa cây ươi đã bị cây ngã bất ngờ đập vào đầu, tử vong tại chỗ.
Trước dòng người đổ xô vào rừng thu hái trái ươi trái phép, lực lượng chức năng của xã Sông Hinh triển khai chốt chặn. Ông Ka Siu Hiệp, Phó công an xã Sông Hinh cho biết lực lượng gồm trên 10 người với 3 tổ, 1 tổ đóng trên đường và 2 tổ đi rừng. Tuy nhiên khi thấy bóng dáng cơ quan chức năng thì người hái ươi bỏ chạy vào rừng sâu.
Ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân cho hay: Lực lượng kiểm lâm đang phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tổ tuần tra và chốt chặn tại các cửa rừng để ngăn chặn tình trạng hái ươi. Vừa qua hạt kiểm lâm đã thu giữ trên 2 tạ ươi trên một chiếc xe tải vận chuyển từ Bình Định qua khu vực huyện Đồng Xuân. (Phụ Nữ TP HCM 6/7) đầu trang(
Sở thích lớn nhất của anh Bùi Văn Tuấn (28 tuổi, trú tại Đà Nẵng) là được lên núi, ngắm voọc, bảo vệ những loài linh trưởng quý hiếm.
3 giờ sáng thức dậy, xếp đồ, dắt xe chở theo một ông Tây hướng thẳng lên núi Sơn Trà (Đà Nẵng). Ngụy trang thật kỹ và ngồi đợi dưới gốc cây để xem voọc ăn, ngủ, sinh hoạt… Đó là công việc, niềm đam mê của anh Tuấn từ nhiều năm nay.
Tuấn sinh ra ở vùng quê nghèo Đại Lộc, Quảng Nam. Ngày bé, mỗi khi lên rừng kiếm củi, Tuấn lại được nghe chuyện về khỉ, voọc và các loài thú khác trên rừng nên vẫn luôn ấp ủ được tận mắt chứng kiến. Đến khi Tuấn trở thành sinh viên khoa Sinh – Môi trường (Đại học Sư phạm Đà Nẵng), ước mong đó trở thành hiện thực.
Gần kết thúc năm học thứ hai, Hội Động vật học Frankfurt tổ chức khóa tập huấn bảo tồn thú linh trưởng ở Việt Nam, Tuấn lọt vào tốp 15 sinh viên trường tham gia. Lần đầu tiên Tuấn được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của voọc ngũ sắc, được nghe những nhà nghiên cứu về động vật trong và ngoài nước nói về loài linh trưởng quý hiếm này.
Càng xem, càng nghe, Tuấn càng thích thú. Tuấn lập ra nhóm gồm 6 thành viên đề xuất nghiên cứu về loài voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà. Đề xuất của Tuấn được xét chọn ý tưởng hay và được tài trợ thực hiện với hai chiếc ống nhòm, một máy ảnh và 1,5 triệu đồng cho 10 tháng nghiên cứu.
Tháng 9/2009, Tuấn ra trường với tấm bằng loại ưu nhờ Đề tài Nghiên cứu thành phần thức ăn và một số tập tính dinh dưỡng của quần thể voọc chà vá chân nâu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà – Đà Nẵng được đánh giá cao, đạt giải nhì Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học (ĐH Đà Nẵng).
Tuấn được mời làm việc trong Dự án bảo tồn loài chà vá chân xám của Hội Động vật Frankfurt. Ba năm ròng, anh cùng nhóm nghiên cứu dựng trại, ăn ngủ trong rừng tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai). Những ngày tháng ăn ngủ giữa rừng, cơm chan nước mưa giữa đại ngàn thăm thẳm hằn sâu trong kí ức của Tuấn. Gần một tuần ròng rã lội rừng, cả nhóm mới tìm thấy đàn voọc chà vá chân xám mà mình cần nghiên cứu. Niềm vui nhân lên bao nhiêu khi nhìn thấy đàn voọc quý thì cũng chùng xuống chừng ấy khi cả nhóm tận thấy bẫy dây giăng kín, lợn rừng, cầy, sóc… giãy giụa đau đớn.
Kết thúc dự án, Tuấn trở lại thành phố Đà Nẵng làm việc. Dù nhận chức danh trưởng phòng nghiên cứu khoa học và bảo tồn thuộc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (Greenviet) nhưng Tuấn dành phần lớn thời gian ở trên núi Sơn Trà. Anh đang thực hiện một dự án nghiên cứu khác về voọc chà vá chân nâu.
Cái tên Tuấn voọc, hay Tuấn Sơn Trà được nhiều người biết đến, tin tưởng, nhiều nghiên cứu sinh người nước ngoài tìm đến anh để nhờ làm trợ lý. Anh cũng nhận hướng dẫn sinh viên Đà Nẵng khi cần nghiên cứu về voọc, hay các loài thú khác trên núi Sơn Trà.
Cuối tuần, anh lại cưỡi xe lên núi Sơn Trà để hướng dẫn khách tham quan, có khi tham gia đoàn sinh viên tình nguyện nhặt rác, có lúc để được ngắm voọc.
“Điều quan trọng nhất vẫn là ở ý thức của mỗi người. Khi nhiều người vẫn chưa hiểu hết được về loài linh trưởng thì chưa thể tìm ra cách giải cứu chúng, nhất là những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. Người ta còn mua bán, giết thịt mà không hề hay biết đến hậu quả lâu dài của nó thì những người yêu voọc như chúng tôi chưa thể ăn ngon ngủ yên”. (Tiền Phong 7/7, tr7) đầu trang(
Quảng Sơn là xã miền núi có diện tích tự nhiên 5417,67 ha với 4619,8 ha là đất đồi núi. Trong đó đất rừng sản xuất là 2978,6 ha; rừng phòng hộ là 1709,36 ha và rừng trồng giao cho các hộ là 1008,99 ha. Trước tình hình nắng nóng gay gắt khô hanh kéo dài, địa phương đã đề ra các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Xã Quảng Sơn chịu ảnh hưởng của gió Lào, nắng nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 nên bình quân mỗi năm xảy ra 4 đến 5 vụ cháy rừng trên diện rộng. Nguyên nhân gây cháy là do con người sử dụng lửa bất cẩn như đốt nương làm rẫy, bắt ong, đốt than. Trong mùa thu hoạch thì các chủ rừng thường chủ quan trong việc xử lí thực bì không đúng quy định vào mùa khô hoặc thắp nhang ở các lăng mộ trong khu vực có rừng vào các dịp tảo mộ, tết nên gây cháy.
Trong khi đó, lực lượng PCCCR mỏng, trang thiết bị lạc hậu thô sơ, chủ yếu huy động các phương tiện thủ công của người dân như: cuốc, xẻng, xô nhựa... còn các dụng cụ chữa cháy chuyên dụng chưa có nên rất khó xử lí khi có đám cháy lớn.
Dù đã chuẩn bị nhiều phương án PCCCR, nhưng nguy cơ cháy rừng tại địa phương vẫn rất cao. Nhằm nâng cao khả năng kiểm soát cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, xã đã xác định được các vùng trọng điểm thường xảy ra cháy rừng đó là khu vực đối diện ngã ba thôn Tân sơn; khu vực Rú cấm, khe Xai, Động ngùi (Linh Cận Sơn); vùng Chiêng chè nước, vùng khe Giăng (Thôn Thọ Hạ), là những vùng có nguy cơ cháy rừng cao trong mùa hanh khô. Nhờ xác định được trọng điểm các vùng dễ cháy nên đã chủ động phân công lực lượng bảo vệ trực các thời gian cao điểm, đã hạn chế được cháy rừng.
Một trong những khó khăn lớn nhất của xã đó là địa hình bị chia cắt nhiều, đồi dốc, tiếp cận khu vực cháy rất khó khăn. Bên cạnh đó vấn đề giao đất giao rừng cho dân quản lý, sử dụng, bảo vệ còn nhiều bất cập.
Ngay từ đầu năm, kiểm lâm địa bàn đã phối hợp cùng ban chỉ huy quân sự xã tham mưu giúp UBND xã kiện toàn ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR gồm 21 thành viên; thành lập 4 tiểu ban PCCCR tại cơ sở gồm 41 thành viên là lực lượng dân quân tại chỗ và 22 dân quân cơ động của xã.
Xã còn tổ chức triển khai và thực hiện tuyên truyền công tác PCCCR và bảo vệ rừng thông qua hệ thống truyền thông của xã và các cuộc họp dân. Xã phối hợp với trạm kiểm lâm thị xã, trạm kiểm lâm Rào Nan tổ chức 2 hội nghị tuyên truyền công tác PCCCR. Xã còn kết hợp với Hạt kiểm lâm thực hiện tuần tra, kiểm tra công tác PCCCR. Từ đầu năm đến nay xã đã tổ chức 26 lượt tuần tra và bắt giữ 13 đối tượng vi phạm, thu tang vật và phạt hành chính.
Ông Mai Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn (thị xã Ba Đồn) cho biết: “Dù gặp nhiều khó khăn nhưng xã xác định đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu tại địa phương. Cháy rừng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, mà còn ảnh hưởng đến hệ thống nước tưới, nước sinh hoạt của địa phương và các xã lân cận. Phương tiện phòng là chính, chứ khi xảy ra cháy với địa hình dốc quá lớn, lực lượng mỏng, phương tiện thô sơ thì khó có thể ứng cứu được. Biện pháp chính vẫn là huy động lực lượng tại chỗ, huy động người dân, chủ rừng để ngăn chặn cháy ra diện rộng”.
Xã cũng đã thiết lập được hệ thống biển báo ở các trục đường chính, bản đồ dựa theo lô đất hay tên gọi truyền thống của khu vực đó. Nguồn kinh phí còn nhiều khó khăn nên trang thiết bị chủ yếu là huy động các công cụ hiện có tại địa phương. Công tác PCCCR đã và đang được Quảng Sơn chủ động và tích cực triển khai theo phương châm 4 tại chỗ, trong đó quan trọng là xây dựng lực lượng và trang thiết bị tại chỗ.
Ngoài ra xã cũng đã kí cam kết với các đơn vị, tổ chức, cá nhân, chủ rừng, hộ gia đình trong việc quản lí rừng phòng hộ, bảo vệ rừng và PCCCR ở 4 thôn có rừng. Rút kinh nghiệm từ các năm trước, năm nay, ngay khi kết thúc mùa mưa, bước vào mùa khô xã Quảng Sơn đã vệ sinh xử lí thực bì được 455 ha rừng, đạt 70% so với diện tích cần xử lí.
Đối với một xã có diện tích rừng tự nhiên lớn, địa hình đi lại cách trở nhưng với sự vào cuộc quyết liệt, chủ động của địa phương, ý thức của người dân về PCCCR được nâng lên, hy vọng Quảng Sơn sẽ hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về rừng. (Báo Quảng Bình 7/7) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Trên địa bàn huyện Na Hang diễn ra tình trạng khai thác, vận chuyển các loại gỗ quý trái phép. (Nhân Dân 6/7, tr7) đầu trang(
Trong vài năm qua (2012 – 2014), rắn lục đuôi đỏ bùng phát ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, TP HCM, Bình Dương, ,… với hàng trăm người bị rắn cắn phải nhập viện.
Hầu hết các trường hợp bị rắn cắn thường xảy ra ở ruộng, vườn hoặc các nhà ở vùng ven đô. Trong đó có nhiều trường hợp rắn chui cả vào nhà, chui vào giường ngủ cắn người
Sự bùng phát các vụ Rắn lục đuôi đỏ cắn người là một hiện tượng cần sớm có lời giải đáp. (Khoa Học & Đời Sống 7/7, tr4) đầu trang(
Phú Yên đang bước vào đợt nắng nóng gay gắt, tại nhiều cánh rừng trên địa bàn tỉnh nguy cơ cháy rừng đang ở cấp độ cực kỳ nguy hiểm. Hiện nay, các địa phương có rừng, các chủ rừng và đơn vị làm công tác quản lý bảo vệ rừng đang tăng cường các biện pháp PCCC , liên tục tổ chức các đợt tuần tra kiểm soát, tuy nhiên, tình hình cháy rừng vẫn đang ở mức báo động nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm.
Chỉ trong tuần vừa qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ cháy rừng trồng với tổng diện tích rừng thiệt hại khoảng 26,24ha. Trong đó, xảy ra một vụ cháy rừng quy mô lớn tại xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa là thiệt hại 14,37 ha rừng trồng đến giai đoạn trưởng thành.
Tại xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân một vụ cháy cũng gây thiệt hại 1,47ha; hơn 6,5 ha rừng xã Xuân Bình thị xã Sông Cầu cũng bị thiêu rụi do cháy và một vụ cháy xảy ra tại xã Hoà Định Đông, huyện Phú Hoà làm thiệt hại 3,9ha rừng.
Nguyên nhân các vụ cháy hiện đang được điều tra, tuy nhiên theo đánh giá của các địa phương, trong các nguyên nhân thì việc bất cẩn dùng lửa trong rừng và tình trạng thiếu ý thức của người dân khi đốt rẫy là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ cháy. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 6/7) đầu trang(
Thả loài về thiên nhiên, có thể là vượn đen má vàng, cu li nhỏ, mèo rừng, rái cá vuốt bé, tê tê… mà cũng có thể là những con cá lia thia, cá mè vốn khá bình thường với con người. Điều này không chỉ có ý nghĩa phục hồi quần thể bản địa mà còn có thể bổ sung nguồn gene cho quần thể đó phát triển.
Đầu tháng 5 vừa qua, tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã (Wildlife At Risk - WAR) đã thả thành công hơn 300 cá thể lia thia (Betta splendens), cá bã trầu (Trichopsis vittata) và cá mè (Puntius rhombeus) về thiên nhiên.
Đây là những cá thể đã được các chuyên gia WAR chăm sóc và gây nuôi một thời gian dài, cho đến khi ổn định và có thể thả ra ngoài thiên nhiên. Điển hình như cá mè (Puntius rhombeus) đã được các chuyên gia nhân giống thành công và đàn cá đầu tiên đã được thả về tự nhiên.
Chuyên gia Bùi Hữu Mạnh, cán bộ bảo tồn thuộc WAR, cho biết: “Loài cá mè này phân bố rộng gần như toàn Việt Nam, chúng ăn tạp nên dễ dàng thích nghi trong điều kiện môi trường được thả. Loài này được thu mẫu tại Bình Phước, đến nay đã được nhân giống với số lượng nhiều và tiếp tục thả về tự nhiên”.
Hoạt động nhân giống, thả cá bản địa về thiên nhiên đã thực hiện được 4 năm. Tính đến nay, đã có gần 2.000 cá thể thuộc 4 loài cá bản địa bao gồm lia thia, lòng tong đá, bã trầu và lòng tong sọc được thả về các phụ lưu sông Sài Gòn.
Liệu có cần thiết thả các loài cá này về thiên nhiên? Ông Nguyễn Vũ Khôi, giám đốc WAR tại Việt Nam, chia sẻ điều này nhằm góp phần khôi phục quần thể cá bản địa tại thành phố, khuyến khích người dân địa phương sử dụng cá bản địa làm cảnh.
Cũng trong quý vừa rồi, 958 cá thể của 31 loài động vật hoang dã đã được WAR thả về sinh cảnh sống ngoài tự nhiên, gồm: vượn đen má vàng, cu li nhỏ, mèo rừng, rái cá vuốt bé, tê tê, chồn đèn, sóc đất, diều hoa miễn điện, cắt lung xám, chim le le, diều núi, cu ngói, vịt trời, rắn hổ mang chúa, rắn hổ vện, rắn hổ đất, rắn hổ mèo, rắn hổ ngựa, rắn hổ vện, rắn lục xanh, trăn gấm, trăn đất, kỳ đà vân, rùa răng, ba ba nam bộ, rùa núi viền, đồi mồi, đồi mồi dứa, tắc kè và rắn hổ mây.
Ông Khôi cho biết, các hoạt động kỹ thuật về bảo tồn như cứu và thả các loài, hay hoạt động giáo duc bảo tồn... chưa thể đo được hiệu quả ngay thời điểm này, nhưng có thể là "những bước đi mở đường" cho các thay đổi nhận thức sâu xa trong một vài thế hệ kế tiếp.
Có những cá thể khi được thả về vùng sống của chúng thì nhập vào quần thể loài xuyên biên giới giữa 2 nước, bổ sung nguồn gene cho quần thể đó phát triển.
“Những cái này không đo đếm được ngay, có thể chỉ phỏng đoán một phần ở thời điểm hiện tại. Nhưng nếu không có những động cứu con thú/chim nào đó, chúng ta biết chắc chắn nguồn gene nó đang mang trong người sẽ không còn cơ hội tiếp tục phát tán”, ông Khôi giải thích thêm. (Một Thế Giới 5/7) đầu trang(
Thớt nghiến Mộc Châu đã trở thành “đặc sản làm quà” cho những du khách qua vùng Tây Bắc, và những người làm nghề bán thớt cũng nhờ đó mà ăn nên làm ra. Nhưng ít ai biết rằng, để có được những thớt nghiến bán khắp cao nguyên kia, biết bao hecta rừng bị tàn phá.
Men theo quốc lộ 6 qua cao nguyên Mộc Châu, “thủ phủ” thớt nghiến nằm ở tiểu khu 14 chạy dài lên sườn núi qua khu vực 82. Tại đây, trước các quán hàng đều dựng một tấm thớt ghi “thớt đẹp” đặt ven đường hoặc nơi bắt mắt nhất để khách hàng chú ý.
PV dừng xe tại một quán bán nước ngọt kiêm bán thớt nghiến ở tiểu khu 14. Bà chủ quán thấy khách chạy ra quạt lấy quạt để lấy lòng khách. Đoạn bà bảo: “Vào uống nước đi rồi xem thớt, thớt ở đây là nhất rồi, vừa đẹp, bền lại rẻ”.
PV ngỏ ý muốn xem thớt, bà chủ quán dẫn vào phía trong rồi lôi dưới bể nước cạn một bao tải lớn. Phía bên trong có hơn chục cái thớt nghiến nhỏ đường kính khoảng 20 – 25cm. Chưa hết, bà ta tiếp tục lôi một bao tải khác rồi bảo: “Đây là thớt to hơn, đường kính 30, 40cm, các chú thích loại nào chị cũng có”.
Theo quan sát của PV, trong bể cạn nước đặt ngầm trong nhà có rất nhiều bao tải thớt ở phía dưới. Khi PV ngỏ ý muốn mua một số lượng lớn thớt nghiến về xuôi để bán và làm quà, bà chủ quán cho biết: “Muốn mua bao nhiêu cũng có, giá cả hợp lý thôi. Nếu mua số lượng lớn, thớt nhỏ chị bán 50 nghìn, thớt to tùy loại, trung bình 100 nghìn đồng, thế bao giờ chú cần hàng?”.
PV lấy lý do đi tham khảo giá rồi sẽ quay lại. Đến một quán bán thớt khác, ông chủ bảo: “Nếu mua thì tôi mang ra cho, to hay nhỏ, bao nhiêu cũng có. Dạo này kiểm lâm làm gắt, không dám bày bán công khai”. Ông chủ này cho hay, thớt nghiến Mộc Châu là đồ “xịn” 100% mà giá cả lại rẻ. Mỗi ngày ông bán được từ 3-5 chiếc cho du khách, còn vào dịp tết có ngày mấy chục cái, có khi “cháy” hàng.
Theo lời một người bạn, PV chạy xe vượt qua tiểu khu 14 đến một sườn núi. Quán bên đường được dựng tạm bởi những chiếc bạt rách, chủ quán là 2 phụ nữ trẻ, một người Hưng Yên và một người Hà Tây cũ lên lập nghiệp.
Họ mời mua thớt, PV đề cập thẳng thắn không mua thớt nhưng muốn nghe câu chuyện xoay quanh nghề bán thớt và tiền sẽ được trả với giá bằng cái thớt to, họ chấp nhận.Một trong hai người bảo: “Chúng tôi không có tiền mua đất nên phải mang thớt lên sườn núi ven quốc lộ 6 để bán. Chạy dọc vài cây số này có khoảng trên 20 quán bán thớt. Thớt nghiến chính hiệu chứ không phải hàng giả đâu”.
Người phụ nữ kia tiếp lời: “Thớt to mua vào giá 70, nhỏ 30 nghìn đồng. Bán ra thớt to 100, thớt nhỏ 50 nghìn đồng. Nhưng cũng tùy mặt người mà đòi giá. Có khi gặp khách Tây bảo 500 nghìn đồng họ cũng mua. Nhưng ở sườn núi bán không chạy hàng như dưới phố, ở đây ế ẩm lắm, có khi cả ngày mới bán được 1 chiếc, không đủ tiền ăn trưa”.Thớt các cô lấy ở đâu? – PV hỏi, họ cho biết: “Chúng tôi mua lại của mấy anh người Mông. Họ ở trong bản đó, khi có hàng thì họ gọi mình, mình mua thớt thô về bào nhẵn đánh bóng cho đẹp mắt rồi đem bán”.
Các cô có biết mấy anh người Mông lấy thớt ở đâu ra không? “Sao không biết, các anh ấy vào rừng chặt gỗ, cưa mỏng ra rồi cho ngựa thồ về, cậu muốn lấy gỗ, vào rừng, đầy”.Hai người bán thớt còn cho biết, họ thường xuyên bị kiểm lâm huyện Mộc Châu bất ngờ kiểm tra, thu hồi thớt nghiến. Vì thế, bây giờ họ không dám mang nhiều thớt ra quán mà cho vào bao tải khoảng 3 – 5 cái để bán dần, phòng khi lực lượng chức năng ập đến thì “tuồn” hàng cho dễ. “Thủ phủ” thớt nghiến cách Hạt kiểm lâm Mộc Châu không xa nhưng tình trạng buôn bán thớt vẫn diễn ra công khai nên khi PV trao đổi với ông Đào Mạnh Phong – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Mộc Châu, ông Phong thừa nhận: “Có tình trạng buôn bán thớt và thớt nghiến đã trở nên nhức nhối ở Mộc Châu này”.
Tuy nhiên ông Phong cho rằng: “Tôi không khẳng định 100% là rừng Mộc Châu không bị phá nhưng thớt nghiến bán ở Mộc Châu không phải do gỗ rừng Mộc Châu bởi chúng tôi đã tập huấn cho chủ tịch xã, công an xã về việc kiểm tra rừng”.
Ông Phong cho hay, năm ngoái lực lượng kiểm lâm đã thu giữ nhiều thớt nghiến, có đợt bắt được cả xe tải vận chuyển 800 cái thớt, trong năm ấy bắt 2.000 cái và tiền phạt lên tới 150 triệu đồng.
Ông Phong cũng cho biết ở tiểu khu 14 còn 24 hộ liên quan đến việc buôn bán thớt và việc kiểm tra, thu hồi không dễ. Theo ông Phong, nhiều hộ bán thớt vùi bao thớt xuống đất đá, lực lượng kiểm lâm phải dùng dụng cụ xăm đất để kiểm tra.
Ông Ngô Mạnh Phượng – Đội trưởng Đội Quản lý thị trường số 4 ở Mộc Châu than thở: “Các cơ sở buôn bán thớt hoạt động rất tinh vi, lén lút dưới hình thức bán khoai sắn, rau củ quả. Chúng tôi bắt được nhưng không có thẩm quyền xử lý mà phải giao cho lực lượng kiểm lâm. Hơn nữa, có cái khó là thớt chưa xác định là hàng hóa nên khó trong kiểm tra, xử lý”. (An Ninh Thủ Đô 7/7, tr12) đầu trang(
Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ngày 6.7 cho biết vừa phối hợp với Hạt Kiểm lâm thả 7 động vật hoang dã vào rừng tự nhiên.
Trong đó có 4 con khỉ mặt đỏ, 1 khỉ vàng,1 con khỉ mốc và 1 con rùa hộp trán vàng. Số động vật này do người dân địa phương tự nguyện giao nộp, các cơ quan chức năng bắt giữ được và đã hoàn tất công tác cứu hộ, kiểm dịch.
Được biết, trong 6 tháng đầu năm, trung tâm cứu hộ đã tiếp nhận và chăm sóc 37 cá thể động vật hoang dã; thả về môi trường tự nhiên tại vườn quốc gia 15 cá thể. (Thanh Niên 7/7; Lao Động 7/7, tr7) đầu trang(
6-7, ông Nguyễn Ngọc Quang (74 tuổi, ở thôn Hội Nhơn, xã Ân Hữu, huyện Hoài Ân, Bình Định) cho biết đã báo chính quyền địa phương và kiểm lâm đến để giao con voọc chà vá nhưng sau một ngày vẫn chưa có cơ quan chức năng nào đến tiếp nhận.
Ông cho biết sáng 6-7, nhân viên kiểm lâm có đến xem nhưng không lập biên bản, họ nói chờ cấp trên. “Chúng tôi không dám thả vì sợ gặp kẻ xấu bắt giết thịt” - ông Quang lo lắng.
Trưa 5-7, ông Quang phát hiện con vật trong khu vườn nhà mình nên gọi nhiều người bao vây bắt. Con vật trên được xác định là voọc chà vá chân đen, thuộc loài quý hiếm, nguy cấp, ưu tiên bảo vệ, rất hiếm thấy ở khu vực này. (Tuổi Trẻ 7/7, tr2) đầu trang(
Mùa khô năm nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hạn hán diễn ra khá gay gắt gây ra nguy cơ cháy rừng rất cao. Để hạn chế thấp nhất cháy rừng xảy ra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm huyện cùng các địa phương và chủ rừng tích cực triển khai thực hiện các phương án phòng chống cháy rừng.
Do trên địa bàn Quảng Trị diện tích rừng nhựa thông thuần loài và hỗn giao khá lớn, đây là các loại rừng dễ cháy và lây lan mạnh. Hơn nữa, trên địa bàn vùng núi vẫn còn sót lại nhiều vật liệu nổ sau chiến tranh vào mùa khô hạn gặp nhiệt độ cao dễ gây ra cháy nổ dẫn đến cháy rừng. Bên cạnh đó, do tập quán sống nhờ vào rừng của đồng bào, mùa khô lượng người vào rừng săn bắt, đốn củi nhiều cũng là một nguyên nhân lớn gây ra cháy rừng. Vì vậy, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) lúc nào cũng được đặt ra cấp thiết.
Từ đánh giá, nhìn nhận lại công tác bảo vệ rừng năm 2013, với phương châm “Phòng là chính” và thực hiện “4 tại chỗ”, công tác PCCCR năm 2014 được Ban chỉ huy bảo vệ rừng (BCHBVR) tỉnh xác định là nhiệm vụ trọng tâm và đã được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt đến BCH BVR các huyện, thị xã, thành phố, các sở, ngành liên quan, nhằm chủ động trong công tác PCCCR. Ngay từ đầu năm nay, BCHBVR các cấp đã được kiện toàn và phối hợp với các ngành chức năng xây dựng phương án PCCCR, cơ chế huy động lực lượng, phương tiện để ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên BCH, tăng cường kiểm tra, chỉ đạo các địa phương, chủ rừng thực hiện công tác PCCCR.
Với hơn 77.000 ha rừng chủ yếu nằm ở địa hình phức tạp, hiểm trở nên việc huy động các phương tiện chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra là rất khó khăn. Vì vậy, Hạt Kiểm lâm Đakrông chỉ đạo rất tích cực công tác PCCCR, đề ra phương án cụ thể. Lực lượng xung kích được củng cố, kiện toàn đến tận cấp xã, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát những nguy cơ có thể gây ra cháy.
Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với chính quyền các xã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền đến tận thôn, bản nhằm nâng cao ý thức phòng chống cháy rừng của người dân khi vào rừng kiếm sống hoặc đốt nương rẫy, vận động người dân ký cam kết bảo vệ rừng và tham gia phòng chống cháy rừng. Đồng thời, chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ các phương tiện, dụng cụ chữa cháy. Nhờ vậy, trên địa bàn huyện Đakrông những năm gần đây đã hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Không chỉ ở huyện Đakrông mà tất cả địa phương trong tỉnh đều triển khai tốt các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng. Hạt Kiểm lâm các huyện kịp thời nâng cấp, sửa chữa đường vào rừng, đường ranh cản lửa, chòi canh, mua sắm thêm các phương tiện chữa cháy, tổ chức phát thực bì dưới tán rừng để giảm lây lan cháy rừng. Lực lượng Kiểm lâm luôn bám sát địa bàn, tổ chức tuần tra, kiểm soát nắm chắc tình hình về rừng.
Để tạo ra sự liên kết đa chiều trong việc tham gia PCCCR, BCH BVR đã làm việc với BCH Quân sự tỉnh, Bộ đội Biên phòng, Sư đoàn 968, Đoàn Kinh tế- Quốc phòng 337, Công an PCCC về phương án hỗ trợ phương tiện, nhân lực của đơn vị khi có đề nghị hỗ trợ lực lượng của các địa phương, chủ rừng trên địa bàn tỉnh trong trường hợp xảy ra cháy lớn.
UBND huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo BCH Quân sự các cấp và Hạt Kiểm lâm xây dựng quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR giữa lực lượng Kiểm lâm và Dân quân tự vệ nhằm giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong công tác bảo vệ rừng. UBND xã xây dựng tổ, đội PCCCR thôn, bản, thành lập đội dân quân tự vệ để hỗ trợ khi cháy rừng xảy ra trên tinh thần “ 4 tại chỗ”, kịp thời dập tắt lửa khi có cháy rừng xảy ra.
Ngay từ đầu mùa khô hạn, văn phòng BCH các cấp tổ chức trực 24/24 giờ để nhận và xử lý các thông tin về cháy rừng, kịp thời báo cáo lên BCH tỉnh khi cháy rừng xảy ra trên địa bàn. Từ đó, BCH BVR thường xuyên nắm diễn biến tình hình, tổ chức dự báo cấp cháy rừng, thông tin kịp thời lên các phương tiện thông tin đại chúng để cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên phạm vi toàn tỉnh.
Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải cho biết: “Công tác PCCCR là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nên Ban Quản lý triển khai kịp thời các phương án phòng chống cháy rừng với phương châm phòng là chính, chữa cháy kịp thời và hiệu quả, chuẩn bị sẵn sàng mọi vật dụng và phương tiện chữa cháy, huy động tối đa lực lượng tại chỗ để chữa cháy kịp thời”.
Để đảm bảo chủ động chữa cháy rừng, công tác tổ chức huấn luyện cho các đơn vị chữa cháy rừng bằng phương tiện cơ giới đã được triển khai với tinh thần linh hoạt, cơ động và sẵn sàng chữa cháy. Đặc biệt, các phương tiện, dụng cụ PCCCR như xe phun nước, máy thổi gió được bảo dưỡng và mua sắm thêm đã góp phần nâng cao chất lượng chữa cháy.
Để nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ rừng cũng như công tác PCCCR, đội tuyên truyền BCHBVR đã tổ chức các cuộc họp dân ở các thôn, bản có rừng với nội dung sinh hoạt khá phong phú, sinh động và thiết thực, gần gũi với tâm lý người dân địa phương, các buổi tuyên truyền đã có vai trò tích cực hướng người dân vào công tác bảo vệ rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Mặt khác, BCH BVR cũng đã kiểm tra hoạt động các suất khoán bảo vệ rừng ở các xã có rừng, hoạt động giao rừng tự nhiên cho các hộ gia đình để bảo vệ và hưởng nguồn lợi lâu dài từ rừng để có sự chỉ đạo kịp thời về công tác này. Đồng thời, nhằm giúp đồng bào từng bước chấm dứt nạn lấn rừng, đốt rừng làm rẫy gây ra cháy rừng, từng bước phát triển sản xuất, Hạt Kiểm lâm các huyện đã xây dựng các mô hình phát triển nông lâm kết hợp bền vững như mô hình mây song, mô hình trồng cây làm thuốc, mô hình nuôi ong, hỗ trợ gạo cho đồng bào trồng rừng trên đất nương rẫy...
Những chính sách hỗ trợ kịp thời và hợp lý ấy đã phát huy hiệu quả to lớn; một mặt đảm bảo đời sống cho người dân, đảm bảo an ninh, trật tự vùng biên giới; mặt khác, nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân bởi họ được hướng dẫn cách sống dựa vào rừng nhưng không phá rừng, từ đó công tác PCCCR được người dân tham gia ngày càng tích cực hơn, góp phần cùng với các ngành chức năng bảo vệ tài nguyên rừng là để bảo vệ cuộc sống chung cho cộng đồng. (Báo Quảng Trị 4/7) đầu trang(
TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang vừa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp 55 cây keo (trị giá trên 3 triệu đồng) tại thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn. Tại phiên tòa, sau khi đại diện VKSND huyện Sơn Động phát biểu quan điểm cho rằng, HĐXX đã có một số vi phạm về tố tụng, HĐXX đã quyết định hoãn phiên tòa để củng cố lại tài liệu, chứng cứ.
Theo ông Nguyễn Văn Long, bị đơn trong vụ án cho biết: Năm 1998, UBND huyện Sơn Động đã cấp “sổ xanh” giao 3,2 ha đất rừng 02 tại lô d, khoảnh 21 thôn Nòn cho anh Nguyễn Văn Quang (con trai ông Long) để trồng nhiều loại cây rừng, trong đó có chám và keo.
Tiếp đó, năm 1999, Chi cục kiếm lâm Bắc Giang - BQL bảo tồn Tây Yên Tử đã ký hợp đồng với gia đình ông giao khoán bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng với diện tích 2,5 ha rừng III a1, thuộc lô a, khoảnh 21, khu vực thôn Nòn trong đó có cả diện tích 3,2 ha đất rừng 02, anh Quang).
Năm 2005, khi UBND huyện Sơn Động GPMB thi công làm tuyến đường Đồng Rì mới đi xuyên qua khu đất rừng 02 của gia đình ông Long đã được bồi thường trên 40 triệu đồng. Năm 2007, Nhà máy nhiệt điện Sơn Động đã lấy 1 phần đất rừng 02 của gia đình ông Long tại phần đất tiếp giáp giữa đường Đồng Rì mới và đường cũ để xây dựng đường ống dẫn nước.
Gia đình ông đã được bồi thường tiền đất, cây trồng là chám, keo trên 10 triệu đồng. Tại khu vực đất chéo méo giừa đuờng Đồng Rì mới và cũ này, vẫn còn vài trăm cây keo của gia đình ông Long đã chục năm tuổi, khi dự án đường ống nước không lấy vào...”
Ngày 19/3/2012, ông Long có cho cháu là Phạm Văn Huấn, ở thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn chặt 55 cây keo trên phần diện tích chéo méo trên để bán gỗ.
Ngày hôm sau, gia đình ông Nguyễn Huy Thông và con trai là Nguyễn Văn Thái có “Đơn kiện” gửi Công an thị trấn Thanh Sơn cho rằng gia đình ông Long đã chặt phá 300 cây keo và đã “phi tang”.
Ngày 25/7/2012, sau khi mời 2 bên đến giải quyết, Công an thị trấn Thanh Sơn đã kết luận, số cây trên là của gia đình ông Long.
Không đồng ý với cách giải quyết của Công an thị trấn Thanh Sơn, ông Thái có đơn đề nghị UBND thị trấn Thanh Sơn giải quyết. Tại Văn bản số 59/BC-UBND, ngày 31/10/2012 UBND thị trấn Thanh Sơn đã khẳng định: “số keo tranh chấp là do gia đình ông Nguyễn Huy Thông trồng và yêu cầu ông Long phải bồi thường gia đình ông Thông trên 3 triệu đồng...”.
Theo ông Long cho biết: Hiện tại ông Thông đang là Trưởng thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn. Trên thực tế, diện tích đất rừng và cây rừng của hộ ông Thái (con ông Long) ở phía bên kia đường Đồng Rì cũ. Khi đường Đồng Rì mới chạy qua đất rừng ông Long, tự nhiên toàn bộ khu đất rừng của gia đình ông Thông mất vị trí bám mặt đường, nên rất cần đoạn chéo méo 70 mét dài bám mặt đường này.
Vì trên thực tế, ở đây đã có nhiều lô đất rừng mặt tiền bán trao tay nhau vài chục triệu đồng/100m2. Đây mới là nguyên nhân sâu xa của vụ kiện đã kéo dài trên 2 năm qua, chứ không phải giá trị bồi thường 55 cây keo “còi”.
Ngày 13/6/2014, Toà án huyện Sơn Động, Bắc Giang đưa vụ án tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng trên ra xét xử sơ thẩm.
Khi thẩm vấn tại Toà, ông Long đã trình bày các tài liệu liên quan gồm: “sổ xanh” giao đất rừng 02 của UBND huyện năm 1998, diện tích 3,2 ha; Hợp đồng giao khoán bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng 12,5 ha; biên bản bồi thường của Hội đồng GPMB huyện Sơn Động diện tích đất và cây rừng cho hộ ông Long tại khu vực chéo méo trên và khẳng định số cây keo còn lại ông cho anh Huấn chặt là gia đình ông trồng trên đất được nhà nước giao...
Còn ông Thông lại cho rằng, số cây keo trên do gia đình ông trồng trên đất của thị trấn quản lý, nhưng không đưa ra được “hợp đồng” giao khoán nào của thị trấn...
Đại diện VKSND huyện Sơn Động nêu quan điểm: “Thẩm phán đã vi phạm Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự vì, vụ án này người gây thiệt hại cho ông Thông và trực tiếp được hưởng lợi là anh Phạn Văn Huấn, cháu ông Long ở thôn Nòn, vì anh Huấn là người khai thác số keo trên bán được 800.000 đồng và hưởng số tiền trên. Việc ông Thông kiện ông Long là không chính xác, lẽ ra Thẩm phán phải hướng dẫn ông Thông khởi kiện ông Huấn và đưa ông Long tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã cung cấp rất nhiều tài liệu, chứng cứ... đều là bản photo-copy, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, nhưng Thẩm phán không tiến hành lập biên bản là vi phạm khoản 1 Điều 83; khoản 2 Điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự...”.
Trước những quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, sau khi nghị án, HĐXX TAND huyện Sơn Động đã quyết định hoãn phiên toà để củng cố lại các tài liệu, chứng cứ. (Bảo Vệ Pháp Luật 4/7, tr5) đầu trang(
4-7, nguồn tin từ Trạm kiểm lâm số 3 thuộc Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng (Đắk Nông) cho biết, ngày 3-7 trong lúc đi tuần tra, lực lượng kiểm lâm tại đây đã bắt quả tang đối tượng Nguyễn Sỹ Đạt (SN 1986) cùng các đối tượng đang sinh sống trên địa bàn xã Đa K’Rang, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đang tiến hành khai thác gỗ trái phép.
Khi bị phát hiện, nhóm người này hiện đang trong quá trình dùng cưa lốc để xẻ gỗ. Qua kiểm tra tang vật lực lượng kiểm lâm cho biết tại Lô 1, khoảnh 6 thuộc Tiểu khu 1808 có 3 cây xá xị thuộc nhóm 2A, 1 cây dổi nhóm 3 đường kính mỗi cây từ 80cm đến 1m bị cưa trái phép với khối lượng lên đến trên 18m3. (Công An TPHCM + Đại Đoàn Kết + Tin Tức + Lao Động + Pháp Luật VN 5/7; Sài Gòn Giải Phóng 4/7; Đời Sống & Pháp Luật 7/7; Tiền Phong 7/7, tr2; Giao Thông 7/7, tr13) đầu trang(
Báo cáo tình hình các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng sáu tháng đầu năm 2014 (ngày 4-7), kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự trong hai vụ cháy rừng gần đây.
Cụ thể, vụ cháy hơn 13 ha rừng tại xã Khánh Thượng, Khánh Vĩnh và vụ cháy hơn 11 ha rừng trồng tại xã Suối Tân và xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm. Hai vụ cháy này cơ quan chức năng vẫn đang điều tra, thu thập thêm chứng cứ.
Theo báo cáo, toàn tỉnh Khánh Hòa đã kiểm tra, phát hiện và lập biên bản 255 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 118 vụ so với cùng kỳ năm 2013). Qua đó, xử phạt vi phạm hành chính và tịch thu hơn 48 m3 gỗ tròn, 160 m3 gỗ xẻ các loại, ba ô tô, 64 xe máy, thu nộp ngân sách nhà nước trên 4,5 tỉ đồng.
Về tình trạng khai thác, mua bán trắc dây (rộ lên từ tháng 3 đến giữa tháng 5-2014), kiểm lâm bắt giữ 30 vụ vi phạm, thu trên 37 kg. Điều đáng nói là thương lái Trung Quốc mua trắc dây theo kiểu vơ vét, đẩy giá lên cao rất đáng ngờ.
Hiện nay nạn khai thác, mua bán trắc dây trái pháp luật trên địa bàn Khánh Hòa đã được ngăn chặn. (Pháp Luật TPHCM 5/7) đầu trang(
Do hám lợi xe ô tô biển số 53L-8725 mang lô gô xe cứu thương để chở trái phép 8 tấn quả ươi.
Vào lúc 9 giờ ngày 3.7.2014, tại thị trấn Tăng Bạt Hổ, Hạt Kiểm Lâm huyện Hoài Ân bắt giữ xe ô tô biển số 53L-8725 mang lô gô xe cứu thương do ông Hoàng Ngọc Thuận sinh năm 1987, trú tại TP Quy Nhơn điều khiển chở trái phép trên 1 tấn trái ươi.
Tiếp đó vào lúc 2 giờ sáng ngày 4.7, lực lượng kiểm lâm Hoài Ân đã mai phục bắt giữ xe ô tô mang biển số 77C-01620, trên xe chở trên 8 tấn trái ươi, do ông Phan Văn Hòa sinh năm 1973, trú tại TP Quy Nhơn điều khiển.
Trước tình hình nhiều người dân hám lợi đã chặt cây để hái quả, UBND huyện Hoài Ân đã chỉ đạo cho Hạt Kiểm lâm, các ngành có liên quan và UBND các xã, thị trấn tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc chặt phá cây ươi và mua bán vận chuyển trái phép trái ươi. (Infonet 5/7; Người Lao Động 4/7; Công An TP Đà Nẵng 7/7; An Ninh Thủ Đô 7/7) đầu trang(
Phóng viên Báo Người Lao Động đã theo chân cơ quan chức năng tỉnh Phú Yên lần tìm dấu vết loài thú quý hiếm này.
Nhiều người dân xã Xuân Quang 1, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên kể đã nhìn thấy 2-3 con bò tót xuống núi, hằng đêm phá hoại hoa màu. Sau 3 đêm thức trắng, đến rạng sáng 4-7, phóng viên Báo Người Lao Động là một trong những người đầu tiên ghi được hình của một cá thể nghi bò tót đang ăn bắp của dân.
Đã 11 đêm cùng người dân thức canh cá thể nghi bò tót, ông Lê Quốc Hải - trưởng thôn Đồng Hội, xã Xuân Quang 1 - nói: “Dân trong vùng không lo, chỉ sợ cánh thợ săn tỉnh ngoài. Nghe người ta treo giá đầu, sừng bò tót cả trăm triệu đồng mà thấy lo quá!” - ông Hải nói. Vì thế, người dân thôn Đồng Hội đành thức trắng đêm, chấp nhận mất dần những vạt bắp để bảo vệ bò tót khỏi họng súng của cánh thợ săn chuyên nghiệp.
Hai rẫy bắp của các ông Trần Đình Cường và Trần Văn Bình là nơi những cá thể nghi bò tót tìm đến ăn hằng đêm. Để PV phục ghi hình, ông Hải chọn nơi cuối rẫy, theo chiều gió nhằm tránh bị phát hiện. PV buộc phải tắm thật kỹ bằng loại xà phòng không mùi hương. “Chúng biết chúng tôi ở đây nhưng hiểu rằng mùi quen không gây hại. Còn khi có mùi lạ của các anh đến, chúng sẽ không ra khỏi rừng” - ông Hải dặn dò.
Trời sập tối. Ông Hải cùng 2 chủ rẫy lặng lẽ đưa PV đến nơi ẩn nấp. Ở giữa rẫy, muỗi nhiều hơn, chỉ cần đưa 2 ngón tay ra là có thể kẹp được nhưng có bị chích vẫn không được đập. Ông Hải cấm PV ngủ gục vì sợ tiếng ngáy làm kinh động đến loài vật này.
Sương lạnh, ngứa họng cũng chỉ được nuốt tiếng ho vào bụng. Thế mà, gần nửa đêm, vài người lạ ào ào đến xem bò tót. Họ vừa râm ran chuyện trò vừa rọi đèn khắp nơi. “Đi đứt đêm nay rồi!” - ông Hải giận dữ. Quả thực, suốt đêm ấy, những con thú này không ra ngoài rừng.
Đến gần sáng, đứng bên trong bìa rừng, chúng rống lên. Ông Hải hối thúc PV leo lên chòi cao. “Không được ra ngoài ăn, chúng đang rất tức giận. Chúng mà lao ra đây là đổ ruột như chơi” - ông Hải lo lắng.
Đêm thứ hai, PV lại theo ông trưởng thôn và người dân vào rẫy bắp. Mới 20 giờ 40 phút đã nghe tiếng xào xạc ở rẫy bắp ông Bình. Dưới ánh trăng, một con bò đen to lớn hiện ra. Khoảng cách xa và ánh sáng quá yếu nên PV phải nhờ ông Bình bật đèn pin để hỗ trợ. Nhưng chưa kịp bấm máy, một con bò giống cái nặng khoảng 600 kg với cổ và yếm hơi mỏng, 2 chiếc sừng dài và vuốt cong vào nhau, 4 cẳng chân màu trắng vụt bỏ chạy.
Lát sau, một con bò đen lớn hơn, ước gần 1 tấn mò ra. Rút kinh nghiệm, PV đợi nó tiến lại gần hơn. Chỉ được vài bước chân, con bò dừng lại, khịt khịt mấy cái rồi ngửa cổ lên cao để hít. PV lại đánh đèn nhưng chưa kịp bấm máy, nó đã bỏ chạy.
Đêm thứ ba, PV lại vào rẫy bắp. Lần này phải nhờ đến Chủ tịch UBND tỉnh và Công an Phú Yên hỗ trợ thiết bị chuyên dụng ghi hình tội phạm ban đêm ở khoảng cách xa để săn hình. Hơn 1 giờ 30 phút, tiếng xộp xoạp khi bò gặm bắp rất gần, PV mới bắt đầu bấm máy. Dù ở khoảng cách xa nhưng nhờ đứng trên cao, PV đã ghi được hình ảnh con bò rừng nghi là giống cái xuất hiện trong đêm thứ hai.
Khi ghi được hình, người mừng nhất lại là dân và những chủ rẫy. “Vợ tôi tiếc rẫy bắp bị bò rừng ăn gần hết nên bàn thu hoạch sớm nhưng tôi không chịu. Để đấy đến khi nào ghi được hình, biết rõ con gì ăn để các cán bộ kiểm lâm không còn nghĩ chúng tôi bịa đặt. Giờ thì mãn nguyện rồi” - ông Bình vui ra mặt.
Với khuôn mặt hốc hác sau nhiều đêm thức trắng, ông Cường không giấu nổi lo lắng: “Bây giờ biết vậy rồi, kiểm lâm phải làm sao chứ để thế này, người ta thịt mấy con bò mất”. Trong khi đó, ông Đặng Chí Hậu, Chủ tịch UBND xã Xuân Quang 1, kiên quyết khẳng định những con bò ở đây chính xác là bò tót.
Ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân, cho biết trong ngày 4-7, đơn vị này và Chi cục Kiểm lâm Phú Yên đã vào rừng ghi nhận hiện trường, lấy các mẫu phân, nước tiểu để xác định đây có phải là bò tót hay không. Nếu đúng là bò tót, kiểm lâm sẽ đề nghị trung ương có biện pháp đưa đi nơi khác bảo tồn.
Ông Tâm thừa nhận đã nhận được tin báo của người dân trước đây nhưng do Hạt kiểm lâm không có điều kiện, khả năng xác định chính xác nên chỉ cử cán bộ theo dõi. Trong khi đó, theo ông Lê Quốc Hải, Trưởng thôn Đồng Hội, người dân đã liên tục báo vụ việc cả tháng mà kiểm lâm không làm gì. “Giờ thấy báo chí vào cuộc, họ mới hành động” - ông Hải nói. (Người Lao Động + Pháp Luật TPHCM 5/7; VTC 4/7; Đời Sống & Pháp Luật 6/7) đầu trang(
Trong những tháng đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hiệu quả, trong đó chi cục đã chỉ đạo 10 đơn vị trực thuộc phối hợp với nhân dân các địa phương, trồng mới thêm 10.021,5 ha rừng theo Chương trình 147.
Để hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng, phá rừng trái phép, ngay từ cuối năm 2013, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã đẩy mạnh việc phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), thành lập 1.438 tổ tuyên truyền thôn, bản, tổ chức hơn 700 hội nghị tuyên truyền với gần 39.000 lượt người tham gia. Chi cục đã phối hợp cùng Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa, Báo Thanh Hóa phát sóng và đăng tải các chuyên mục tuyên truyền về nội dung bảo vệ và phát triển rừng.
Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở và các chủ rừng, hạn chế được nạn phá rừng, đốt rừng. Ngoài ra, ngành kiểm lâm cũng đã xây dựng và ký kết kế hoạch phối hợp bảo vệ và PCCCR năm 2014 với các lực lượng chức năng liên quan như: Công an, bộ đội biên phòng trên địa bàn các huyện.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã chỉ đạo Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 phối hợp với Xí nghiệp Vận tải đường sắt, xây dựng kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu lâm sản trên tuyến đường sắt. Trong 6 tháng năm 2014, 2 đơn vị đã phát hiện, phối hợp bắt giữ và xử lý 3 vụ gỗ vô chủ, thu giữ 146 kg tê tê, tổng giá trị khoảng 365 triệu đồng. Tại các huyện miền núi, việc quản lý cưa xăng được ngành đặc biệt quan tâm quản lý chặt chẽ.
Nhờ các giải pháp hiệu quả, trong 6 tháng năm 2014, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 408 vụ vi phạm hành chính, tịch thu gần 280 m3 gỗ các loại, gần 400 kg động vật hoang dã, hơn 200 kg các sản phẩm từ động vật rừng, 1 xe máy, 7 cưa xăng. Tổng số tiền nộp ngân sách qua việc siết chặt, bắt giữ và xử phạt các vụ sai phạm trên đạt hơn 10,1 tỷ đồng. Về 2 vụ cháy rừng tại các xã Hà Phú, Hà Thái (Hà Trung) gây thiệt hại 8,25 ha rừng, chi cục đã phối hợp với Công an huyện Hà Trung khởi tố hình sự người gây ra cháy rừng.
Tại các khu bảo tồn thiên nhiên, việc khoanh nuôi tái sinh rừng đặc dụng được thực hiện tốt. Chi cục đã đấu mối với các sở, ngành có liên quan, trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Đề án thành lập Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động (Quan Hóa).
Tình hình an ninh rừng trên địa bàn tỉnh trong các tháng đầu năm vẫn được giữ vững. Chi cục Kiểm lâm tỉnh vẫn tiếp tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để rừng xứ Thanh mãi xanh. (Báo Thanh Hóa 4/7) đầu trang(
Chiều ngày 4.6, ông Nguyễn Quý Khánh – Giám đốc Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới Nghệ An - xác nhận chiếc xe mang BKS 37A - 064.42 bị Đội Kiểm lâm Cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 2 (ĐKLCĐ và PCCCR số 2), thuộc Chi cục Kiểm lâm Nghệ An bắt giữ chiều 2.7 do chở gỗ lậu được đăng ký bởi Cty TNHH Thiết bị Xây dựng Hùng Lĩnh (đóng tại 37B, đường Nguyễn Thái Học, TP.Vinh, Nghệ An).
Như thông tin báo LĐO đã đưa, vào khoảng 13g ngày 2.7, ĐKLCĐ và PCCCR số 2 nhận được tin báo, có 2 xe ôtô vận chuyển gỗ đinh hương xuất phát từ Đồn Biên phòng Mỹ Lý (xã Mỹ Lý, Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An) về xuôi nên đã bố trí người đón lõng trên QL 7 thuộc địa bàn xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn. Vào khoảng 16h cùng ngày, các kiểm lâm viên đã phát hiện, bắt giữ chiếc ôtô 7 chỗ mang BKS 37A – 064.42 đang vận chuyển một khối lượng lớn gỗ đinh hương.
Ngay sau khi bắt giữ, cán bộ kiểm lâm đã yêu cầu tài xế đưa xe và tang vật về cơ quan để kiểm tra, xử lý. Tuy nhiên, khi đi trên đường, lợi dụng sơ hở của các cán bộ kiểm lâm, tài xế chiếc xe này đã bỏ trốn. Được biết Cty TNHH Thiết bị Xây dựng Hùng Lĩnh đang thi công xây dựng tại đồn biên phòng Mỹ Lý thuộc huyện biên giới Kỳ Sơn, Nghệ An.
Ông Phạm Văn Thái - Đội trưởng ĐKLCĐ và PCCCR số 2 cho biết lực lượng chức năng đang điều tra, truy tìm chiếc xe thứ hai đang bỏ trốn. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có kết quả. (Giao Thông Vận Tải 5/7; Lao Động 4/7) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Điện Biên là tỉnh miền núi với diện tích đất lâm nghiệp hơn 750.000ha, chiếm gần 80% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Bởi vậy, những năm qua, công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 của Chính phủ luôn được tỉnh chú trọng.
Theo Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, đến cuối năm 2013, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã tiến hành giải ngân hơn 13 tỷ đồng chi cho các chủ rừng, hộ gia đình và cộng đồng dân cư. Tính đến cuối tháng 5/2014, Quỹ đã giải ngân gần 85 tỷ đồng chi trả cho chủ rừng, hộ gia đình và cộng đồng thôn. Dự kiến, trong quý III/2014, Quỹ sẽ hoàn thành việc chi trả tiền năm 2013.
Sau 3 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh đã thu được một số kết quả nhất định. Cụ thể, t ại các lâm phần có triển khai chính sách chi trả, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm rõ rệt.
Môi trường rừng từng bước được bảo vệ; khả năng phòng hộ, điều tiết nước từ rừng tăng lên. Tỉnh huy động được một lực lượng lớn từ nhân dân, các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng để tuần tra bảo vệ rừng một cách thường xuyên, chủ động. Cũng t ừ chính sách này đã mang đến nguồn hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc, nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn tham gia bảo vệ rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên cho biết, để phát triển rừng bền vững, trong thời gian tới, tỉnh sẽ triển khai các biện pháp như: phối hợp chặt chẽ giữa Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp để chủ động việc đảm bảo công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng; quán triệt đến các đơn vị liên quan chú trọng và làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về chính sách chi trả môi trường rừng; thực hiện tốt công tác rà soát giao đất, giao rừng, tiếp tục chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng sau khi các huyện đã rà soát, xác định chủ rừng.
Đồng thời tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát về tổ chức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng để đảm bảo nguồn kinh phí chi trả đúng mục đích, hiệu quả,…
Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên cũng cho biết những khó khăn, như hiện nay, còn số diện tích rừng lớn, tỉnh Điện Biên chưa xác định được chủ rừng để chi trả tiền dịch vụ, do một số huyện còn triển khai chậm việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2013-2015 .
Một số đơn vị, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ chưa thực sự phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trong việc thực hiện nộp kinh phí thụ hưởng dịch vụ môi trường rừng theo qui định. Mặt khác, trình độ dân trí thấp khiến người dân ở vùng cao, vùng xa chưa có nhận thức tích cực về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Tuyên Giáo 5/7) đầu trang(
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT cho biết, trong niên vụ trồng rừng năm nay, toàn tỉnh sẽ thực hiện trồng mới 8.500 ha rừng tập trung, bao gồm, rừng phòng hộ, môi trường cảnh quan 1.240 ha; rừng ngập mặn 30 ha và rừng sản xuất 7.230 ha.
Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp đã tổ chức gieo ươm được gần 70 triệu cây con giống lâm nghiệp trong tổng số 133,7 triệu cây con giống các loại, đáp ứng nhu cầu cây con giống phục vụ trồng rừng.
Ngoài ra, các đơn vị chức năng cũng đã tổ chức chăm sóc rừng trồng lần 1 (năm 2014) với diện tích trên 11.000 ha, chăm sóc rừng phòng hộ, môi trường cảnh quan trên 600 ha, rừng sản xuất 10.419 ha.
Tuy nhiên, nắng hạn kéo dài từ đầu năm đến nay đã làm cho một số diện tích rừng trồng trên địa bàn tỉnh bị chết. Ngành Lâm nghiệp đang thống kê thiệt hại và chuẩn bị việc trồng dặm khi mùa mưa đến. (Báo Bình Định 6/7) đầu trang(
Cuối tháng 5 vừa qua, đoàn cán bộ của Chi cục thủy lợi và phòng chống lụt bão tỉnh (thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) đã có chuyến khảo sát và làm việc về vấn đề giao khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh.
Tính đến ngày 31-12-2013, diện tích rừng phòng hộ khu vực Gò Công do Hạt quản lý là 1.658,8 ha (trong đó huyện Gò Công Đông: 606,15 ha; Tân Phú Đông: 1.052,45 ha). Theo bảng tổng hợp kinh phí khoán quản lý, bảo vệ rừng năm 2013 thì tổng số hộ dân tham gia ký kết là 173 với 1.010,36 ha với tổng số tiền là 202.072.060 đồng.
Được biết, Hạt Quản lý đê và rừng phòng hộ tỉnh cũng đã xây dựng Kế hoạch về việc giao nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ năm 2014 và những năm tiếp theo. Trong đó, có quy định cụ thể số lượng, số diện tích rừng giao cho hộ dân, nhóm hộ; đặc biệt là sẽ đề nghị cắt hợp đồng đối với những nhóm hộ đồng quản lý, bảo vệ nhưng thời gian qua không có tác động chăm sóc, quản lý khu vực rừng mình quản lý.
Đồng thời tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương, các Đồn Biên phòng ở khu vực rừng phòng hộ của hai huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông để tăng cường tuyên truyền giúp người dân nâng cao ý thức về trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ trước biến đổi khí hậu ngày một diễn biến phức tạp. (Báo Ấp Bắc 5/7) đầu trang(
Bình Dương: Ngành chế biến gỗ phấn đấu tăng trưởng 10%
Năm 2014, ngành chế biến gỗ xuất khẩu Bình Dương phấn đấu tăng trưởng ít nhất 10% so với năm 2013 với giá trị xuất khẩu đạt 1, 67 tỷ USD.
Trong 6 tháng đầu năm nay, ngành chế biến gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Dương đã đạt giá trị xuất khẩu 802 triệu USD, chiếm gần 28%/tổng kim ngạch xuất khẩu của tòan tỉnh.
Đến nay hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Tỉnh Bình Dương đã đầu tư đuợc công nghệ sản xuất đồng bộ, nên đa dạng đuợc ngành hàng xuất khẩu theo nhu cầu thị trường các nước như Châu Âu , Mỹ và Nhật Bản cũng như ở các thị trường mới như Trung Đông, Châu Phi…(VTV9 7/7) đầu trang(
Từ những quả đồi trơ trọc, xa tít tắp, anh Nguyễn Văn Long, ở bản Mường Đầm Bối, xã Yên Trung, huyện Thạch Thất đã dồn hết tâm sức cải tạo, trồng mới thành những khu rừng xanh tốt, mang lại giá trị kinh tế cao. Từ hai bàn tay trắng, bằng nghề trồng rừng, anh Long đã cất được ngôi nhà giữa vùng đồi núi với trị giá lên đến cả tỷ đồng.Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Nguyễn Văn Long không nghĩ sau này mình lại gắn bó với nghề trồng rừng. Sinh ra trong một gia đình thuần nông, Long là con thứ 6 trong gia đình có 7 anh chị em ruột. Vì hoàn cảnh khó khăn nên học hết cấp II Long đã phải nghỉ ở nhà kiếm kế sinh nhai phụ giúp bố mẹ.
Hồi tưởng lại những năm tháng gian khó, Long cho biết bản thân đã trải qua rất nhiều nghề, từ nuôi vịt, làm thợ xây... trước khi gắn bó với rừng. Anh nói: "Hồi mới nghỉ học đã cùng bố mẹ và anh chị trong gia đình nuôi đàn vịt hàng trăm con, số lượng lớn nhất Yên Trung khi đó.
Nói thì dễ, khi bắt tay vào làm mới thấy khó khăn chất chồng. Bởi vào quãng những năm 2006 - 2007, đất rừng ở Yên Trung hầu hết đã giao ổn định đến các hộ dân, để có diện tích lớn lúc này là việc không dễ. Không nản chí, anh cùng gia đình đã bỏ công sức khai hoang, cải tạo 1ha đất rừng, phần đất của gia đình được giao để trồng những cây keo tai tượng đầu tiên. "Sống ở đất rừng nhưng chưa bao giờ thực sự làm nghề trồng rừng. Vì thế khi bắt tay vào trồng cây mới thấy phải học hỏi nhiều điều. Tôi phải làm đủ thứ việc, từ tìm hiểu chất đất, tham khảo giống cây trồng, rồi xem người ta chăm sóc, cắt tỉa như thế nào để cây sống và phát triển tốt".
Long cho biết bao nhiêu khó khăn, vất vả Long phải đương đầu và trải qua để hoàn thành trồng 1ha rừng đầu tiên. Giống phải tự mua, tự vận chuyển, đất đai cằn cỗi, pha đá sỏi, nhiều chỗ cỏ gianh cũng không mọc được, tưới nước không biết bao nhiêu cho đủ, rồi do ở khu vực miền núi nên hay gặp mưa gió, đất bị rửa trôi, thời tiết lạnh giá thất thường...
Ròng rã 5 năm trời chăm sóc, đến cuối năm 2012, đầu năm 2013, lứa cây keo đầu tiên được thu hoạch, 1ha Long chỉ thu về được 35 triệu đồng. Nếu tính thời gian 5 năm thì thu nhập từ trồng rừng không cao, nhưng Long vẫn quyết tâm theo đuổi và đã nhận thầu thêm 10ha đất. Điều đáng nói ở đây là phần diện tích anh nhận thầu đều nằm ở những khu vực canh tác rất khó khăn, vừa xa, trên núi cao hẻo lánh và chất đất rất xấu. Anh Long cười vui, nói: "Vì xấu nên mới không ai dám trồng, nếu đất đẹp chắc cũng không đến lượt tôi nữa! Khi mới nhận vợ chồng tôi cũng hoang mang".
Kể về những việc làm của người thanh niên đất Mường, không thể không nói đến "nghề tay trái" của anh. Biết trước việc trồng cây keo phải 5 - 6 năm mới được thu hoạch, vợ chồng Long đã tính toán làm thêm nghề phụ để "lấy ngắn nuôi dài". Hằng ngày lên rừng chăm sóc cây, tối về hoặc khi rảnh rỗi, Long lại phụ giúp vợ làm nghề may đo quần áo.
Từ một anh chàng nông dân chính hiệu, ngày ngày gắn bó với cái cày, cái cuốc, nhưng Long vẫn làm rất tốt công việc đòi hỏi con mắt thẩm mỹ và óc sáng tạo cao, đó là thiết kế và cắt may quần áo cho vợ anh - chị Nguyễn Thị Bắc cùng hai nhân công khác may cho dân làng trong vùng. Cơ sở may mặc Long Bắc làm ăn uy tín nên được khách hàng ưa chuộng và tin tưởng, nhiều người từ các xã Yên Bình, Tiến Xuân (Thạch Thất); xã Yên Quang (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) đã tìm đến.
Chạy xe men theo con đường khúc khuỷu, xa xa là dãy núi Vua Bà cao lừng lững, anh Long đưa PV lên khu rừng Cổ Gà. Đứng từ phía ngoài, chỉ tay vào dãy núi phía trong cùng, Long nói: Muốn lên đó phải để xe ở đây, lội bộ thêm hai quả đồi nữa mới tới nơi. Mất một thời gian khá lâu, xuyên qua những vạt rừng keo tai tượng đã cao gấp đôi thân người trưởng thành, chúng tôi cũng đến được quả núi, nơi có cánh rừng trồng của Long.
"Trèo đèo lội suối" mới hiểu, người gắn bó với rừng phải có một sức khỏe dẻo dai. Khu rừng Cổ Gà là một trong 3 vạt rừng Long đang trồng cây keo tai tượng. Mới là năm thứ hai nhưng cây keo được chăm bón kỹ nên phát triển rất tốt, thân cây đều, chỉ năm tới là cây sẽ khép tán. Long nói rằng, qua đợt trồng đầu tiên đã rút ra nhiều kinh nghiệm nên việc chăm sóc cũng không gặp khó khăn, chủ yếu mất nhiều công vì đường đi lại trắc trở, tiền thuê nhân công làm cỏ cũng cao hơn so với những khu rừng địa thế thuận lợi hơn.
Thân sinh anh Long, bà Cấn Thị Hữu, năm nay 76 tuổi là người hiểu rõ nhất nỗi khổ khi cải tạo đất rừng cằn khô để trồng cây. Bà Hữu kể: "Hồi vợ chồng tôi mới về mảnh đất Mường Yên Trung sinh cơ lập nghiệp, cũng gian nan lắm, chỉ đủ miếng ăn cho con. Bây giờ thấy các con làm được như vậy cũng vui, dù còn rất nhiều khó khăn đang chờ phía trước".
Cùng với trồng cây keo, anh Long còn tìm đến cây sắn. Từ những năm 2009 - 2010, xót xa trước cảnh nhiều đồi, núi bỏ hoang cho cây dại mọc, anh Long đã cất công đi tìm chủ nhân và mạnh dạn hỏi thuê. Sau khi thỏa thuận, chủ đất cho thuê trong hạn kỳ 3 năm. Vì nhận thầu thời gian ngắn nên không thể trồng cây công nghiệp dài ngày, anh quyết định chuyển sang trồng sắn.
Để đến được khu trồng sắn, PV phải đi theo một con đường quanh co chạy xuyên qua các quả đồi, vượt qua một con suối và nhiều dốc đá sỏi. Hỏi anh, chuyện chuyên chở giống, phân bón và hàng trăm tấn sắn khi thu hoạch, Long cười tươi đáp: "Chuyện đó với nông dân thì chẳng khó khăn gì. Khó nhất là làm thế nào để trồng cây xanh tốt, năng suất cao, bán được giá và đắt hàng".
Trước khi phủ xanh các đồi núi trọc bằng cây sắn, Long đã tham khảo ý kiến của nhiều người, trong đó có cả chuyên gia nông nghiệp. Mọi khâu từ chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, bón phân, làm cỏ... Long rất cẩn trọng và chỉ bảo tận tình tới từng nhân công được thuê mướn. Vì thế mà cây sắn ở vườn nhà anh Long tốt hơn hẳn các gia đình khác.
Năm 2014, anh trồng thêm 5ha, nâng tổng diện tích sắn lên 25ha, nhiều nhất xã Yên Trung. Với diện tích này, cứ đến vụ trồng hoặc thu hoạch, anh phải thuê khoảng 30 lao động, làm ròng rã trong 2 tháng mới xong. Nói chuyện với PV, Long đúc kết: "Trồng rừng nếu chỉ có tình yêu với rừng là chưa đủ, mà phải có nghị lực và quyết tâm cao. Đất dù xấu hay tốt nhưng biết trân trọng và sử dụng đúng cách thì đất sẽ không phụ công người".
Nói về "vua" trồng rừng Nguyễn Văn Long, Phó Chủ tịch xã Yên Trung Đinh Công Tuân cho biết, ở Yên Trung, gần như hộ dân nào cũng có vài héc ta đất rừng, nhưng giàu lên từ rừng không phải ai cũng làm được như Long. Điều đáng trân trọng ở con người Long là biết phát huy thế mạnh địa phương, mạnh dạn nhận việc khó ít người làm được. (Hà Nội Mới 7/7, tr8) đầu trang(
Việc trồng rừng ở miền núi là việc làm cần thiết, vừa có lợi cho xã hội, vừa có lợi cho gia đình. Người ta đã nói rất nhiều về việc trồng rừng ở miền núi. Bà con ta ở miền núi cũng rất cố gắng trong việc trồng rừng. Rừng giúp cho bà con vươn lên rõ rệt trong cuộc sống.
Thế nhưng, việc trồng rừng còn được thực hiện ngay cả ở đồng bằng, ở ven biển và ở cả... thành phố!
Chúng ta vẫn biết, hệ thống rừng phòng hộ ở đồng bằng đã giúp rất nhiều cho việc sản xuất các cây nông nghiệp. Ngoài việc chống gió bão, nó còn cải thiện tiểu khí hậu cho ruộng lúa và cũng góp phần không nhỏ cho việc cung cấp chất đốt, cung cấp nguyên vật liệu để xây dựng nhà cửa, chuồng trại và các công trình ở nông thôn.
Cây lâm nghiệp phân tán có ý nghĩa rất to lớn khi chúng ta quan tâm tới việc chọn lọc cây để trồng. Nếu quanh nhà, quanh vườn, dọc các lối đi, ven các mương máng, trong các trường học, bệnh viện... ta đều tổ chức trồng cây lâm nghiệp thì ở mỗi làng xã chúng ta sẽ tạo được hàng nghìn khối gỗ. Ngoài bạch đàn, keo, xà cừ... bà con còn trồng lát, xoan, sấu, mít, bồ đề, long não và nhiều loại cây lâm nghiệp giá trị khác.
Ở trung du, cây lát Mexico có nơi mọc rất tốt, chỉ 10 năm mà đường kính thân tới 50-60cm. Tại vùng cát nóng bỏng ở miền Trung, nhiều nơi cây neem (xoan chịu hạn) vừa trồng và cho lứa quả rất mỹ mãn. Neem lên rất khỏe, ngay trên vùng đất cát khô hạn, nó vẫn mọc tốt.
Ở Ninh Thuận, hàng nghìn hécta neem đã phủ kín những bãi cát mênh mông. Chúng sẽ là nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào cho bà con ta sau ít năm nữa. Tôi tới thăm những vườn neem mà do chính PV cùng bà con trồng cách đây 7 năm ở Hòa Thắng (Bắc Bình, Bình Thuận). Thật ngạc nhiên vì chúng đã mọc thành rừng có cây đường kính thân đã được 30-40cm.
Nó hoàn toàn có thể được sử dụng để làm cột, kèo trong xây nhà hoặc xẻ ván để đóng đồ mộc. Cả miền Trung còn biết bao cồn cát mênh mông. Sao ta không đưa neem và nhiều loại cây khác vào trồng!?
Tại nhiều làng quê, dọc các con đường đều được trồng kín nhãn, vải, xoài, trám, sấu và nhiều loại cây ăn quả khác. Nó cũng được coi là cây lâm nghiệp nhưng là cây lâm nghiệp đa tác dụng...(Dân Việt 6/7) đầu trang(
Ngày 26.6, đại tá Nguyễn Văn Định - Phó Giám đốc CA tỉnh Quảng Trị - đã ký công văn gửi Tổng Biên tập Báo Lao Động hồi âm về bài báo “Xe chở gỗ quá tải ào ào lưu thông trên QL9”.
Sau khi báo phát hành, CA tỉnh đã kiểm tra và xác nhận: Trong 2 ngày 24 - 25.5, các xe vận chuyển hàng hóa trên QL9 hoạt động thành đoàn, lợi dụng thời điểm tại trạm kiểm tra tải trọng đang dừng phương tiện khác vào cân gặp sự cố xe hư hỏng, một số xe đã vượt trạm cân. Sau vụ việc trên, lãnh đạo CA tỉnh đã chỉ đạo xây dựng phương án tăng thêm lực lượng tuần tra kiểm soát, không để cho phương tiện hoạt động thành đoàn hoặc lợi dụng các sơ hở khác để vượt trạm cân.
Từ đó đến nay đã giải quyết dứt điểm tình trạng các phương tiện vận chuyển gỗ vượt trạm kiểm tra tải trọng trên QL9. “Việc các lái xe lợi dụng có phương tiện hư hỏng tại trạm cân tụ tập thành đoàn để vượt trạm cân là do điều kiện khách quan chứ hoàn toàn không do sự “lơ là” hay tiếp tay của lực lượng CSGT” - công văn viết.
CA tỉnh Quảng Trị cảm ơn phóng viên Báo Lao Động đã phản ánh kịp thời tình hình vận chuyển gỗ quá tải trên địa bàn tỉnh, góp phần trong công tác kiểm tra tải trọng xe quá tải, quá khổ đạt hiệu quả cao hơn, đưa hoạt động giao thông đi vào nền nếp, an toàn. (Lao Động 4/7, tr7) đầu trang(
Năm 2014 tỉnh Lâm Đồng chi cho đầu tư phát triển rừng gần 261 tỷ đồng, trong đó có 185 tỷ trích từ nguồn dịch vụ môi trường rừng; toàn tỉnh có 376.136ha rừng giao khoán quản lý bảo vệ cho 22.852 hộ dân. (Thanh Niên 5/7, tr2) đầu trang(
Một khu chợ rộng hơn 10.000m2 với đầy đủ hệ thống kiôt bán hàng được khánh thành trong niềm vui chung của bao người dân làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê Thượng, xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn.
Với vị trí đắc địa ngay ngoài đầu làng, liền kề đường Nguyễn Văn Cừ vừa được nâng cấp mở rộng, khu chợ đã nhanh chóng thu hút nhiều tiểu thương vào kinh doanh. Chỉ có điều khác với các chợ dân sinh thuần túy, chợ làng Phù Khê Thượng mở ra chỉ có gỗ là mặt hàng trao đổi, mua bán duy nhất.
Theo Ban lãnh đạo thôn Phù Khê Thượng, ý tưởng làm chợ gỗ xuất phát từ chính nhu cầu thực tế địa phương. Toàn xã có hơn 2.000 hộ dân, (trong đó 22 hộ thành lập doanh nghiệp) thì hầu hết đều tham gia làm nghề mộc truyền thống, chế tác, sản xuất sản phẩm gia dụng, mỹ nghệ liên quan đến nhiều loại gỗ; riêng thôn Phù Khê Thượng đã có khoảng 500 hộ làm nghề, nhu cầu nguyên liệu là rất lớn.
Trong khi đó thời gian trước đa số các hộ đều phải mua nguyên liệu từ một số cơ sở kinh doanh ngoài xã dẫn đến tình trạng bị tư thương ép giá, phụ thuộc gây khó khăn cho sản xuất làng nghề.
Đứng trước yêu cầu thực tế này, Ban lãnh đạo thôn Phù Khê Thượng đã tham mưu cho UBND xã Phù Khê đề nghị ngành chức năng thị xã Từ Sơn cho phép lập quy hoạch và phê duyệt dự án xây dựng chợ gỗ ở địa phương. Đây cũng là hạng mục đầu tư phù hợp với lộ trình xây dựng nông thôn mới của xã.
Gần 500 gian hàng ở chợ gỗ Phù Khê Thượng khiến cho khu chợ gỗ ở đây gần như là chợ gỗ lớn nhất khu vực miền Bắc, với tổng giá trị hàng hóa tới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng. Kích thước các miếng gỗ ở đây cũng rất đa dạng, từ những mảnh nhỏ, vụn như que củi tới cả khối gỗ lớn đường kính hàng mét.
Những người mua hàng cũng rất đa dạng: từ các thương lái cho tới thợ mộc, chủ xưởng đi chọn gỗ... và cả những gia đình làm nghề ở những làng xung quanh, như Phù Khê Đông.
Mặc dù là khu chợ gỗ rất lớn, các mặt hàng gỗ ở đây đều gần như luôn luôn đầy đủ giấy tờ, chứng nhận hợp pháp về nguồn gốc xuất xứ.
Còn có một điều thú vị nữa khi bạn đến tìm hiểu về chợ gỗ và các làng nghề gỗ nơi đây. Đó là trên toàn quốc, thương hiệu đồ gỗ Đồng Kỵ đã trở nên rất nổi tiếng, nhưng ít ai biết rằng, nơi sản xuất chính, cũng như cung cấp các sản phẩm chất lượng cao, hàng đặt theo yêu cầu chủ yếu là các làng nghề xung quanh, trong đó có Phù Khê. (Thời Báo Làng Nghề Việt 3/7, tr16) đầu trang(
Chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012 - 2014 đã đạt được một số mục tiêu cơ bản. Ngoài bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, chương trình góp phần nâng cao giá trị, chất lượng, độ che phủ rừng; tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân sống bằng nghề rừng. Tuy nhiên, trên thực tế, phát triển rừng chưa thực sự bền vững, nhiều vướng mắc cần được kịp thời tháo gỡ…
Qua giám sát của HĐND tỉnh về diện tích rừng được giao cho người dân khoanh nuôi bảo vệ ở các huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Chà, Mường Nhé… cho thấy: Rừng không bị xâm hại, được bảo vệ nghiêm ngặt, đã góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng trong toàn tỉnh lên gần 41%. Tổng diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt trên 25.600ha; khoanh nuôi tái sinh gần 9.700ha; trồng mới hơn 440ha rừng tập trung…
Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, chặt phá rừng, đốt rừng làm nương giảm rõ rệt. Không chỉ bảo vệ rừng mà người dân được giao rừng đã tích cực trồng cây gây rừng, tăng thu nhập trên diện tích được giao. Khu rừng đầu nguồn bản Hát Hẹ, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên xanh ngút ngàn, hầu hết các chủ rừng đều trồng tre bát độ.
Ông Lò Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Núa Ngam cho biết: Vài năm trở lại đây, nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ rừng, bà con trong xã tích cực nhận khoanh nuôi bảo vệ rừng. Thấy được hiệu quả kinh tế từ trồng tre bát độ lấy măng, người dân trong xã đã trồng hàng trăm héc ta. Ngoài góp phần quan trọng giữ nước, chống xói mòn, bà con còn có thu nhập đáng kể từ bán măng tre. Hiện măng bát độ vào chính vụ có giá bán đổ từ 3.000 - 4.000 đồng/kg, đầu vụ giá bán 7.000 - 8.000 đồng/kg, nhiều hộ có thêm thu nhập 20 - 30 triệu đồng/năm từ bán măng.
Khác với các chủ rừng ở xã Núa Ngam, chủ rừng ở xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo đã tận dụng điều kiện về thổ nhưỡng, tiểu vùng khí hậu trồng hàng trăm héc ta táo mèo tập trung theo các chương trình, dự án hỗ trợ trồng rừng. Vài năm trở lại đây cuộc sống của các chủ rừng sung túc hơn nhờ thu nhập từ quả táo mèo.
Ông Mùa Dũng Dình, Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Tỏa Tình phấn khởi cho biết: Táo mèo đã trở thành mặt hàng đặc sản, không ít hộ có thu nhập cả trăm triệu đồng mỗi năm nhờ táo mèo, như gia đình ông Mùa A Hồng, Mùa Giống Dua, Mùa Chờ Vàng… Cây táo mèo đã góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xóa đói giảm nghèo tại địa phương.
Tuy nhiên, cũng qua thực tế giám sát của HĐND tỉnh về Chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên địa bàn tỉnh cho thấy, do quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng chưa bám sát thực tế sản xuất của người dân, lại thường xuyên điều chỉnh nên việc triển khai thực hiện còn nhiều vướng mắc. Một số huyện chưa công bố quy hoạch rừng cho cấp xã, thôn, bản.
Tại huyện Tuần Giáo, người dân ý thức được lợi ích của rừng nên tích cực tham gia trồng rừng nhưng bất cập là một số cán bộ chính quyền chưa nắm được quy hoạch 3 loại rừng, ranh giới giao trên thực địa nên khó tuyên truyền, phổ biến và giám sát nhân dân thực hiện. Bên cạnh đó, vấn đề quyết toán các dự án trồng rừng 327, 661 trên địa bàn huyện Tuần Giáo còn vướng mắc, không lập được thủ tục thanh lý rừng để người dân khai thác tận dụng gỗ rừng sản xuất đến tuổi khai thác phục vụ nhu cầu cuộc sống, phát huy hiệu quả kinh tế từ lâm nghiệp!
Chính sách hỗ trợ gạo cho người dân trồng rừng còn nhiều điểm bất hợp lý khi hộ gia đình có đông nhân khẩu tham gia chuyển đổi diện tích nương ít, mức hỗ trợ mỗi héc ta không quá 700kg/năm, nhưng hộ có ít nhân khẩu tham gia chuyển đổi diện tích nương nhiều thì mức trợ cấp lại được tính theo khẩu với mức 10kg/tháng (không quá 7 năm). Phương thức trợ cấp gạo theo quy định phải tổ chức đấu thầu và cấp gạo 3 tháng/lần nên khi vào mùa mưa việc thực hiện gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, việc khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân ở một số nơi không hiệu quả do mức khoán thấp, người dân nhận tiền nhưng không thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh phần lớn không đủ năng lực thực hiện dự án, trồng rừng chưa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm nên người dân chưa mạnh dạn đầu tư hoặc liên doanh, liên kết với doanh nghiệp để trồng rừng…
Ông Lò Quang Chiêu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Khi dự án trồng mới 5 triệu héc ta rừng kết thúc, cơ cấu nguồn vốn dự án từ ngân sách Trung ương giảm, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng. Kế hoạch vốn bảo vệ và phát triển rừng hàng năm phân bổ cho tỉnh rất thấp chỉ đạt hơn 30% nhu cầu thực hiện. Trong khi điều kiện trồng rừng ngày càng khó khăn do đất quy hoạch trồng rừng phần lớn là đất bạc màu, độ dốc lớn, xa dân cư, chi phí đầu tư cao mà suất đầu tư trồng rừng phòng hộ, đặc dụng theo quy định tại Quyết định 60/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ rất thấp so với điều kiện trồng rừng hiện nay tại tỉnh.
Thời gian tới, cùng với tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, cần có mức hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ rừng hợp lý; đưa các loại giống cây trồng giá trị kinh tế cao trồng xen với rừng. Chỉ khi người dân sống được nhờ rừng thì rừng mới phát triển bền vững. (Báo Điện Biên Phủ 4/7) đầu trang(
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang ngày 4-7-2014 đã kết luận điều tra, chuyển sang Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị truy tố Võ Văn Hồng (ảnh, SN 1962, ngụ TP.Long Xuyên, tỉnh An Giang), nguyên kế toán Ban quản lý dự án (BQLDA) trồng rừng phòng hộ đặc dụng tỉnh An Giang, về hành vi “tham ô tài sản”.
Ngày 29-7-1998, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định (QĐ) 661 về thực hiện dự án (DA) trồng mới 5 triệu hécta rừng (gọi tắt là Chương trình 661). Ngày 1-4-1999, UBND tỉnh An Giang ban hành quy chế làm việc của ban điều hành DA này, đến năm 2007 chuyển thành BQLDA trồng rừng phòng hộ trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh.
Theo đó, ông Lương Văn Liếng là Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm kiêm Giám đốc ban, ông Lê Văn Hoàng - Chi cục phó kiêm Phó giám đốc và ông Vũ Thế Hưởng - Phó phòng tổng hợp phụ trách tài chính. Ngày 10-4-2006, Trưởng phòng tổng hợp Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang - Lê Hùng Quý có văn bản đề nghị lãnh đạo ban phân công Võ Văn Hồng làm kế toán thanh toán cho chương trình.
Theo cơ quan điều tra, từ khi thành lập BQLDA (2007 - 2010), ông Hoàng đã ký hợp đồng với các đơn vị thi công thực hiện theo QĐ của Thủ tướng Chính phủ. Kinh phí được cấp để thực hiện DA trồng rừng phòng hộ đồi núi ở các huyện trong tỉnh tăng dần theo từng năm: 2008 là 5,4 tỷ đồng, năm 2009 nhận 7,3 tỷ, sang 2010 là 14,7 tỷ .
Theo báo cáo của Kho bạc Nhà nước tỉnh An Giang, khối lượng thanh toán hàng năm đã thực hiện xong, nhưng việc quyết toán cho cả DA vẫn đang tiến hành. Lợi dụng số vốn đầu tư cho chương trình khá lớn, Hồng chớp cơ hội tư túi bằng cách lập các chứng từ khống. Do tin tưởng cấp dưới nên ông Hoàng đã ký vào các phiếu ủy nhiệm chi mà không kiểm tra. Mãi đến năm 2012 khi thanh quyết toán chương trình này, BQLDA mới phát hiện hành vi biển thủ công quỹ của kế toán Hồng qua 76 chứng từ thanh toán khống để chiếm đoạt hơn 2 tỷ đồng, hầu hết được đưa vào các khoản chi như vốn đầu tư mua máy tính, nhiên liệu phục vụ chương trình và chi phí của ban quản lý. (Công An TPHCM 5/7) đầu trang(
4-7, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi chủ trì cuộc họp về tình hình giải quyết vốn thực hiện kế hoạch bảo vệ - phát triển rừng và trồng rừng bán ngập ở lòng hồ thủy điện Cần Đơn giai đoạn 2011-2020.
Phát biểu tại buổi họp đại diện Sở NN&PTNT cho biết, UBND tỉnh giao cho Sở NN&PTNT nông thôn thực hiện các dự án cơ sở như: phê duyệt dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2010-2015 cho ban quản lý rừng phòng hộ Bù Gia Phúc; bảo vệ và phát triển rừng cho hạt kiểm lâm thị xã Phước Long; phát triển và bảo vệ rừng quốc gia Bù Gia Mập; trồng rừng bán ngập ở lòng hồ thủy điện Cần Đơn… Nhưng các dự án vẫn chưa thể triển khai do vướng mắc về nguồn vốn từ năm 2013 chưa được giải quyết.
Đến nay dự án trồng rừng bán ngập tại lòng hồ thủy điện Cần Đơn mới chỉ trồng được 30 ha/gần 2000 ha do thiếu nguồn vốn. Qua đó, kiến nghị UBND tỉnh xem xét đề xuất Sở tài chính và Sở kế hoạch - đầu tư giao vốn năm 2013, kế hoạch vốn năm 2014 và các năm tiếp theo cho Sở NN&PTNT thực hiện các dự án đúng tiến độ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Phát biểu tại buổi họp, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi chỉ đạo: Yêu cầu Sở tài chính, Sở kế hoạch - đầu tư phối hợp bàn bạc thống nhất phương án để sớm có nguồn vốn cho các dự án được triển khai đúng tiến độ. Đối với dự án trồng rừng bán ngập lòng hồ thủy điện Cần Đơn, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn làm thủ tục đưa vào danh mục dự án cần triển khai sớm nhất. Trước mắt, tạm ứng kinh phí từ nguồn vốn bảo vệ và phát triển rừng. Khi triển khai dự án nên làm thí điểm một vùng sau đó mới nhân rộng. (Binhphuoc.gov.vn 4/7) đầu trang(
Chợ Mới có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm gần 90% tổng diện tích tự nhiên, gần 80% dân số sinh sống sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Nhiều nguyên nhân: Do đời sống kinh tế còn gặp khó khăn, thiếu đất canh tác, nhận thức người dân còn hạn chế… đã dẫn đến tình trạng khai thác rừng, mua bán lâm sản trái phép vẫn còn diễn ra trên địa bàn huyện.
Là huyện có rừng và đất lâm nghiệp với diện tích rộng lớn, địa hình phức tạp, đặc biệt diện tích rừng phòng hộ hiện nay chưa có Ban quản lý, nên việc thu nhận thông tin, bám nắm địa bàn của cán bộ kiểm lâm và chính quyền địa phương trong việc tổ chức tuần tra ngăn chặn các hành vi vi phạm còn gặp nhiều khó khăn.
Do lợi nhuận thu được từ việc buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép cao nên các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng có những thời điểm diễn biến phức tạp, thủ đoạn của các đối tượng ngày càng tinh vi. Các đối tượng vi phạm thường hoạt động có tổ chức, canh gác, theo dõi và sẵn sàng chống trả quyết liệt để tẩu tán tang vật, phương tiện vi phạm khi lực lượng kiểm lâm và ngành chức năng phát hiện, bắt giữ.
Bên cạnh đó, tình trạng vận chuyển gỗ trái phép khu vực giáp ranh rất khó quản lý, các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép bằng xe máy, việc vận chuyển thường nhỏ lẻ từ xã Thần Xa (huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) đi qua xã Như Cố, xã Quảng Chu về huyện Phú Lương (Thái Nguyên) với nhiều hình thức tinh vi nên lực lượng kiểm lâm rất khó phát hiện và bắt giữ.
Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, do địa bàn rộng, địa hình phức tạp, lực lượng kiểm lâm còn thiếu, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác còn thô sơ, hạn chế. Tuy nhiên, với sự phối hợp chặt chẽ và sự chỉ đạo quyết liệt của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Mới đã từng bước đẩy lùi nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép ngay từ đầu năm đã có nhiều kết quả đáng khích lệ. Trong thời gian qua lực lượng chức năng của huyện đã phát hiện, xử lý 16 vụ vi phạm (06 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; 07 vụ cất giữ lâm sản trái phép; 02 vụ khai thác rừng trái pháp luật…).
Được biết, hiện nay Hạt Kiểm lâm huyện đang phối hợp cùng các ngành chức năng tổ chức tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng núi đá tại xã Tân Sơn, thành lập tổ chốt đặt tại khu vực thôn Bản Quất của xã Như Cố nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép.
Ông Nguyễn Văn Minh- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Mới cho biết: Thực hiện chức năng nhiệm vụ được giáo lực lượng kiểm lâm huyện Chợ Mới đã tham mưu đề xuất kịp thời trình UBND huyện ban hành một số văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời, phối hợp với các ngành chức năng có liên quan để đẩy mạnh công tác phòng ngừa, điều tra xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng; hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, nhất là các loại động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác chỉ đạo cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn cơ sở, giám sát chặt chẽ việc khai thác tận thu gỗ và lâm sản. Tuyên truyền sâu rộng đến các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Với việc thời gian qua ngành chức năng và chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng ở một số xã trọng điểm trong địa bàn nên ý thức quản lý, bảo vệ rừng, nhận thức được tác hại của nạn phá rừng của người dân đã có nhiều chuyển biến. Cùng với công tác tuyên truyền, cán bộ kiểm lâm địa bàn đã chủ động tham mưu, phối hợp với chính quyền xã giữ rừng tận gốc, xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển vốn rừng. Cán bộ kiểm lâm địa bàn phối hợp với tổ, đội bảo vệ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát các vùng trọng điểm, các khu vực giáp ranh, phối hợp với nhân dân nắm bắt thông tin, phát hiện kịp thời các tụ điểm chặt phá rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép để ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện, để đẩy lùi tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng hiệu quả hơn nữa, trong thời gian tới đơn vị sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đồng thời, phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản, vận động nhân dân cùng đấu tranh với các hành vi vi phạm luật bảo vệ rừng, cùng với đó phải xử lý nghiêm các vụ vi phạm... (Báo Bắc Cạn 4/7) đầu trang(
Ông Đinh Xuân Tiến, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Chà cho biết: 100% diện tích rừng trên địa bàn huyện đều được chi trả dịch vụ môi trường rừng nên UBND huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện, UBND các xã, thị trấn tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường và đơn vị tư vấn tiến hành rà soát, hoàn thành thủ tục giao đất, giao rừng tới các cộng đồng dân cư và hộ gia đình để người dân sớm được hưởng dịch vụ môi trường rừng, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
Để công tác giao đất, giao rừng được triển khai đúng tiến độ và đạt hiệu quả, UBND huyện Mường Chà đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tuyên truyền, phổ biến cho người dân hiểu về các chính sách, quy định của việc chi trả dịch vụ môi trường rừng và pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng.
Đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát và hoàn thành thủ tục giao đất giao rừng theo Kế hoạch số 388/KH – UBND ngày 20/2/2013 của UBND tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2014, UBND huyện Mường Chà đã thu hồi 2.644 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích trên 175.719m2.
Đồng thời, triển khai rà soát, hoàn thành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho cá nhân và cộng đồng dân cư. Đến nay, huyện đã hoàn thành giao đất, giao rừng cho 8/12 xã, thị trấn; 72 tổ dân phố, bản với tổng diện tích 18.849,56ha. Đầu năm 2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên đã chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng với số tiền tạm ứng gần 4 tỷ đồng.
Mường Tùng là một trong những xã có diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng lớn nhất huyện và đã cơ bản hoàn thành công tác giao đất, giao rừng. Ông Lù Văn Vặn, Chủ tịch UBND xã Mường Tùng cho biết: Đến nay, xã có 13/15 bản được giao đất giao rừng với tổng diện tích 4.617,29ha, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên đã tiến hành chi trả cho người dân gần 1 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Giống như xã Mường Tùng, xã Sa Lông có 3.969ha đất có rừng, trong đó: 1.398ha rừng phòng hộ; 1.231ha rừng sản xuất; 1.340ha rừng đặc dụng. 100% diện tích rừng trên địa bàn xã được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Để người dân sớm được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng, UBND xã đã tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng huyện triển khai công tác giao đất, giao rừng. Đến nay, toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn xã đã hoàn tất thủ tục giao đất, giao rừng, chỉ chờ bàn giao trên thực địa tới các cộng đồng dân cư là người dân sẽ được hưởng lợi.
Hiện nay, UBND huyện Mường Chà đang chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng trên địa bàn huyện để người dân được hưởng lợi từ rừng. Dự kiến, huyện sẽ hoàn thành việc giao đất giao rừng tới hộ gia đình và cộng đồng dân cư vào cuối năm 2014. (Báo Điện Biên Phủ 4/7) đầu trang(
Sau gần 2 năm triển khai (từ tháng 11/2012 đến nay), tỉnh Thừa Thiên-Huế đã trồng được hơn 23.000 cây ngập mặn, gồm trên 10.000 cây trồng tập trung, và hơn 13.000 cây trồng phân tán, với tỷ lệ cây sống đạt trên 85%.
Đây là kết quả phối hợp giữa Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Thừa Thiên-Huế với nhà tài trợ Microsoft.
Từ những kết quả này, Tập đoàn Microsoft cam kết tiếp tục tài trợ cho Thừa Thiên-Huế nhân rộng các mô hình để mở rộng diện tích cây ngập mặn trở thành những lá chắn bảo vệ tự nhiên cho cộng đồng và môi trường sinh thái.
Thông qua dự án, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Thừa Thiên-Huế đã tìm ra được bộ giống thích hợp để phát triển diện tích rừng ngập mặn, với nhóm cây trồng chính là đước đôi, vẹt khang và bần chua.
Tỉnh cũng đã chủ động hoàn toàn công nghệ sản xuất giống ngập mặn phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù của từng vùng trên đầm phá Tam Giang-Cầu Hai phục vụ cho việc trồng rừng.
Để mở rộng diện tích rừng ngập mặn, dự án nói trên cũng đã tổ chức bốn lớp tập huấn, đào tạo, phổ biến cho hơn 100 lượt người dân địa phương về vai trò, ý nghĩa, giá trị của rừng ngập mặn; kỹ thuật xây dựng vườn ươm, thu hái, gieo ươm và sản xuất giống cây ngậm mặn; kỹ thuật trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng ngập mặn.
Trước đó, Cục Hợp tác và Phát triển Hà Lan đã hỗ trợ tỉnh Thừa Thiên-Huế trồng thử nghiệm 4.000m2 với 2.200 cây ngập mặn tại Cồn Tè (1.800 cây bần chua, 200 cây mắn, 200 cây sú); với tỷ lệ cây sống trên 80%, chiều cao cây trung bình cao hơn 1,5m; trong đó có nhiều cây đã ra hoa kết trái.
Hiện ở Cồn Tè, Cục Hợp tác và Phát triển Hà Lan tiếp tục tài trợ để trồng mở rộng thêm 2,5ha rừng ngập mặn và đã trồng phân tán được hơn 4.000 cây ngập mặn. Đây hiện được xem là nơi trồng cây ngập mặn thành công nhất tại Thừa Thiên-Huế.
Từ thành công của các mô hình nói trên, tỉnh Thừa Thiên-Huế đang phấn đấu trồng 300 ha diện tích rừng ngập mặn, tập trung chủ yếu ở vùng ven phá của thị xã Hương Trà, Lăng Cô (huyện Phú Lộc), trong đó, khu vực Cồn Tè, xã Hương Phong (thị xã Hương Trà) có 70ha nhằm tăng khả năng phòng hộ ven biển, ven đầm phá và thích ứng với biến đổi khí hậu… (Vietnam+ 4/7) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Khánh Sơn đã trồng mới 300 ha rừng keo và 100.000 cây phân tán; tiến hành chăm sóc 1.010ha rừng được trồng những năm trước theo Chương trình 147. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được đảm bảo.
Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm. 6 tháng đầu năm, lực lượng chức năng đã phát hiện và lập biên bản xử lý 21 vụ vi phạm, giảm 10 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đã xử lý hành chính 18 vụ, tịch thu 17,2m3 gỗ các loại; phạt hành chính hơn 122 triệu đồng. (Quân Đội Nhân Dân 4/7; Báo Khánh Hòa 3/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Cơn khát ngà voi tại Trung Quốc đang đổ thêm dầu vào ngọn lửa bạo lực và đổ máu khắp châu Phi và Trung Đông. “Vàng trắng” trở thành nguồn tài chính chủ yếu của các tổ chức phiến quân như al-Shabab tại Somalia và Quân đội kháng chiến của thượng đế (LRA) ở Uganda và Nam Sudan.
Theo báo Hong Kong Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng, tuần trước Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) công bố báo cáo cho biết LRA kiếm được 4-12 triệu USD mỗi năm từ buôn lậu ngà voi. Thủ lĩnh LRA Joseph Kony đã bị Tòa án hình sự quốc tế (ICC) truy tố và đang bị truy nã ở Uganda. Năm ngoái, cựu ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng khẳng định các nhóm phiến quân như al-Shabab “buôn lậu ngà voi để tiếp vốn cho hoạt động khủng bố”.
Liên minh Hành động vì voi (EAL) cho biết Trung Quốc là thị trường tiêu thụ ngà voi lớn nhất thế giới và phần lớn lượng hàng nhập vào nước này đi qua ngả Hong Kong. Ước tính tổng lượng ngà voi đến thị trường Trung Quốc chiếm 60-90% nguồn cung từ châu Phi. Giá ngà voi ở Trung Quốc tăng gấp ba lần trong vòng bốn năm qua, hiện lên đến 2.100 USD/kg. Năm 2013, nhà chức trách Hong Kong thu giữ tới 8.041kg ngà voi, một con số kỷ lục, cao hơn 40% so với năm 2012 và 300% so với năm 2003.
Các nước đang bàn thảo khả năng thực hiện “cơ chế ra quyết định” (DMM), cung cấp cho một số nước ủng hộ buôn ngà voi như Trung Quốc và các quốc gia châu Âu cơ chế mua bán ngà voi hợp pháp. Tuy nhiên chuyên gia Alex Hofford thuộc Tổ chức WildAid cho rằng DMM sẽ là một “thảm họa” đối với những con voi còn sót lại ở châu Phi.
“Thực tế thị trường thương mại ngà voi hợp pháp luôn trở thành vỏ bọc che đậy hoạt động buôn lậu ngà voi bất hợp pháp” - chuyên gia Hofford nhấn mạnh. Giám đốc Cơ quan Điều tra môi trường (EIA) Mary Rice cho rằng vấn đề lớn nhất là những hành vi bất hợp pháp trở thành chuyện cơm bữa ở thị trường hợp pháp.
Tổ chức International Wildlife Trade Campaign (IWTC) ước tính ngành công nghiệp săn bắn và buôn lậu ngà voi bất hợp pháp hiện có giá trị lên tới hơn 10 tỉ USD mỗi năm. IWTC cảnh báo nếu tình trạng săn bắt hiện nay tiếp tục, chỉ 10 năm nữa loài voi châu Phi sẽ tuyệt chủng. (Tuổi Trẻ 7/7, tr19) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||