Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 05 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Đà Nẵng bắt đầu vào mùa nắng nóng, thời tiết khô hanh, vì vậy, việc phòng chống cháy rừng càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhưng, công tác này cũng đang gặp không ít khó khăn.
Trong năm 2013 và từ đầu năm 2014 đến nay, công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn Đà Nẵng đã được triển khai đồng bộ. Tình hình cháy rừng tại Đà Nẵng cũng được hạn chế ở mức tối đa, với kết quả 10 vụ cháy rừng trong năm 2013, thiệt hại hơn 14ha; và từ đầu năm đến nay, số vụ cháy rừng cũng xảy ra không đáng kể.
Có được kết quả này, theo Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Đà Nẵng đã triển khai đồng bộ việc theo dõi, quản lý chặt chẽ việc sử dụng lửa trong sản xuất lâm nghiệp đối với người dân.
Bên cạnh đó, việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cũng được quan tâm, với việc TP đầu tư hơn 400 triệu đồng xây dựng 1 bể chứa nước chữa cháy rừng 70m3, 1 hệ thống cấp nước cho xe chữa cháy rừng, các bảng cấp dự báo cháy rừng...
Công tác trực phòng cháy chữa cháy rừng cũng được lực lượng kiểm lâm thực hiện nghiêm túc. Việc cảnh báo nguy cơ cháy rừng thì được thực hiện hàng ngày đảm bảo thông tin kịp thời các cấp dự báo chý rừng đến các địa phương, cơ quan, đơn vị, cộng đồng thông qua nhiều kênh.
Đồng thời, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai thực hiện quy chế phối hợp với Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy TP trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng... Các các chủ rừng, các đơn vị có hoạt động sản xuất kinh doanh trong rừng, ven rừng; các xã, phường có rừng... đã được tra chặt chẽ, yêu cầu khắc phục những thiếu sót trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng... Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm cũng thực hiện xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm đốt lửa thực bì không báo cáo, không xin phép...
Tại cuộc họp mới đây về công tác phòng chống, chữa cháy rừng tại Đà Nẵng, rất nhiều cơ quan chức năng liên quan đến công tác này cho rằng, còn rất nhiều khó khăn phòng, chữa cháy rừng và rừng luôn đối mặt với nguy cơ cháy rừng cao.
Ông Nguyễn Hữu Thiết, Phó chủ tịch UBND quận Liên Chiểu-địa phương có nhiều rừng chia sẻ, tại địa phương, có nhiều khu vực nghĩa trang nằm trong khu vực rừng. Việc kiểm soát người đốt vàng mã, đốt nhang... trong khu vực này gặp không ít khó khăn. Trong khi đó, nguy cơ cháy rừng do tác nhân này là rất lớn. Dù vậy, những người đến đốt nhang, đốt vàng mã đa phần là những người từ những địa phương khác đến nên công tác tuyên truyền không dễ thực hiện.
Đại tá Nguyễn Phong, Phó giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy-Chữa cháy TP.Đà Nẵng cũng cho hay, việc chữa cháy rừng hiện nay là vô cùng khó, bởi hiện các khu vực của Đà Nẵng đa phần không có nguồn nước để phục vụ chữa cháy trên rừng.
“Khi cháy rừng, kèm với gió lớn sẽ càng khiến cho đám cháy lan mạnh, nếu không có phương tiện chuyên dụng, nước... thì không thể nào nhanh chóng dập tắt đám cháy rừng. Nên chăng, tại các khu vực rừng, các đơn vị Kiểm lâm nên làm những khu vực trữ nước, như làm hố, rọ đá xung quanh để giữ nước, khi có sự cố có thể cơ động sử dụng lượng nước này để chữa cháy!” đại tá Nguyễn Phong nói thêm. “Tôi từng chỉ huy tham gia chữa cháy rừng, nhưng rõ ràng trang bị cho công tác chữa cháy rừng còn quá đơn giản, phương tiện còn thô sơ!”- đại tá Nguyễn Min, Phó chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự TP.Đà Nẵng nhận xét.
Ông Nguyễn Hữu Thiết cũng cho hay, trong những đợt chữa cháy rừng xảy ra trên địa bàn quận Liên Chiểu, địa phương cũng huy động lực lượng có khi đến 500-700 người, nhưng chủ yếu đều được trang bị những phương tiện thủ công, không thể tiếp cận được đám cháy.
“Nên chăng, trước mắt, cần phải đầu tư ít nhất cho mỗi xã, phường có rừng 1 máy khò để phục vụ công tác cháy rừng. Bên cạnh đó, cũng phải xây dựng những đập tự nhiên để trữ nước, để ngay khi có xảy ra, thì công tác chữa cháy rừng mới được thực hiện nhanh chóng và giảm thiểu thiệt hại...!” ông Thiết góp ý thêm. (Thanh Niên 6/5) đầu trang(
Nhằm giảm đến mức thấp nhất tình trạng cháy rừng trong mùa khô năm 2014, các ngành chức năng và lực lượng phòng, chữa cháy rừng tại cơ sở tỉnh Quảng Ngãi đã chủ động phòng ngừa, chuẩn bị lực lượng, phương tiện ứng phó với mọi tình huống khi có cháy rừng xảy ra.
Trên địa bàn huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi) hiện có diện tích rừng trên 40 ngàn hecta, trong đó rừng trồng chiếm trên 10 ngàn hecta nên cháy rừng sẽ ảnh hưởng lớn đến tài sản của đơn vị và nhân dân trong vùng.
Ông Ngô Vĩnh Phong, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Ba Tơ c ho biết: Từ đầu năm 2014 đến nay, Hạt kiểm lâm huyện Ba Tơ đã củng cố, tăng cường lực lượng phòng cháy rừng tại cơ sở, tăng cường kiểm tra các chủ rừng về công tác phòng, chữa cháy rừng, đã tổ chức trên 50 đợt tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và triển khai Quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, với gần 3.000 người tham dự.
Theo ông Nguyễn Văn Tâm, Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ: Công ty đã tổ chức cho công nhân phát băng trắng, dọn sạch thực bì cạnh khu vực rừng để tránh sự lây lan của lửa. Đồng thời triển khai các tình huống giả định cháy do đốt rẫy, huy động lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ chữa cháy kịp thời tránh lây lan ra diện rộng. Công ty đã tạo trên 40 ngàn mét vuông băng trắng và băng xanh, bổ sung thêm dụng cụ gồm bình khí CO2, can đựng nước, bàn đập lửa, rựa, máy bơm nước; xây dựng mới 3 chòi canh lửa ở những vùng có nguy cơ cháy rừng cao để kịp thời phát hiện. Đơn vị cũng đã thành lập các Ban chỉ huy phòng chống cháy rừng và 48 tổ phòng chống cháy rừng tự nguyện ở 10 xã, thị trấn.
Trước tình hình thời tiết nắng nóng như hiện nay, các thành viên tổ bảo vệ rừng ở các thôn Khánh Giang, Trường Lệ, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành thường xuyên tuần tra, thực hiện tốt công tác phòng, chữa cháy rừng cộng đồng. Cùng với việc bảo vệ tốt 1.000 hecta rừng tự nhiên, xã Hành Tín Đông có gần 400 hecta nằm trong vùng rừng phòng hộ dọc theo Suối Chí được khoanh nuôi bảo vệ không để xảy ra cháy rừng, chặt phá rừng.
Với nhiều biện pháp tích cực, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của các ngành chức năng và các địa phương ở miền núi, số vụ, số diện tích rừng bị cháy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong mùa khô năm nay sẽ được hạn chế đến mức thấp nhất. (Đài PTTH Bình Dương 6/5) đầu trang(
Gần đây, các cơ quan tiến hành tố lụng tại Quảng Bình đã thừa nhận để xảy ra 3 vụ án oan sai. Tất cả các vụ án này đều bắt nguồn từ sự cẩu thả, thiếu trách nhiệm của chính CQĐT. Dư luận cho rằng vụ án “cướp gỗ sưa” gây chấn động tại địa phương này có thê’ cũng sẽ rơi vào tình cảnh đó.
Ông Trần Trường Phi, Phó Viện trưởng (phụ trách kiểm sát án hình sự) VKSND tỉnh Quảng Bình đã nhận định như vậy khi nói về vụ án "cướp gỗ huê" (gỗ sưa -PV) mà dư luận nghi vấn có oan sai nghiêm trọng.
Như báo chí đã phản ánh, khi nhận được đơn kêu oan của các "bị can" trong vụ án "cướp gỗ huê" ở Quảng Bình, PV đã về làm việc vói các cơ quan tiến hành tố tụng của sự vụ bất thường này. Trong khi, đại diện VKSND và TAND tỉnh tỏ ra cầu thị, trao đổi nghiêm túc thì CQĐT Công an tỉnh Quảng Bình đã viện lý do từ chối làm việc.
Đại diện VKSND tỉnh cho biết, vụ án trên cả tòa và viện đã ba lần trả hồ sơ vì CQĐT không cung cấp đuợc đủ chứng cứ theo yêu cầu. Theo vị đại diện của VKSND tỉnh, động cơ của các bị can này là quyên góp tiền đi mua bán kiếm lời, có trả giá, không có hành vi cướp. Cuớp là phải đè bẹp ý chí, dùng vũ lục tức khắc. Trong khi đó, ở đây, đôi bên có quan hệ thân quen, ở gần nhà nhau, có người là anh em, chú cháu ruột với nhau. Ông Trần Trường Phi đã đặt nghi vấn, “bị hại” Phạm Văn Toàn đứng ra tố cáo là do bị ép.
Ông lập luận: Sự việc xảy ra sau khi đôi bên thống nhất việc mua bán, trả giá, giao hàng xong nhưng thanh toán chưa hết tiền. Đen một tháng sau, qua nhiều lần trao đổi, thanh toán tiền bạc mua bán, Toàn mới đứng ra tố cáo nhóm của Nguyễn Văn Hiệu cướp gỗ huê của nhóm mình.
Trong hồ sơ vụ án, có một chi tiết được các điều tra viên lý giải không hề thuyết phục. Sự thật khách quan là có việc nhóm của Toàn và Hiệu gặp nhau giao tiền mua bán gỗ. Toàn thừa nhận có lấy từ nhóm của Hiệu 390 triệu đồng; việc giao nhận này có nhiều người chứng kiến. Đê buộc các “bị can” có hành vi cướp tài sản, bác hành vi mua bán trên, bản kết luận điều tra cho rằng, số tiền này là do nhóm của Hiệu mang biếu tặng Toàn (!?).
Phản bác lại lập luận này, ông Phi thẳng thắn: “Các bị can này đều có hoàn cảnh khó khăn, họ lấy đâu ra số tiền lớn như vậy để cho Toàn. Tất cả các bị can đều khai, số tiền này họ vay mượn, góp lại để mua số gỗ huê trên (khoảng 400kg - PV)”.
Đồng quan điểm với ông Phi, ông Ngô Văn Xảo, nguyên Phó Chánh án TAND tỉnh Quảng Bình chia sẻ: “Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tôi đã có văn bản đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng, cần xem lại toàn bộ diễn biến của vụ việc. Tôi không dám nói đến những nguyên nhân khác, nhưng ở đây phải nói, CQĐT chưa làm hết trách nhiệm của mình”.
Còn theo quan điểm của TAND tỉnh Quảng Bình, đây là vụ án oan sai, cần phải tuyên án vô tội. Xuất phát từ quan điểm đó, ngày 20/01/2014, TAND tỉnh Quảng Bình đã ra Quyết định số 29/2014/QĐ - THS trả lại hồ sơ vụ án.
Thẩm phán Hoàng Đại Anh, ngưòi trực tiếp thụ lý và ký trả hồ sơ vụ án này tại tòa sư thẩm lập luận: “Làm gì có chuyện cuớp mà sáng cuớp, tối lại ra quán cà phê gặp nhau đê trao đổi chuyện thanh toán tiền nong. Cuớp thì phải đe dọa, phải dùng hung khí. Vậy ai cầm rựa, ai cầm dây? Anh phải làm cho rõ xem”.
Ông Hoàng Đại Anh phân tích thêm: Kết luận điều tra rất mơ hồ, định giá không rõ ràng. "Tôi thấy nó (bị hại Phạm Văn Toàn - PV) trong vụ này vừa ăn cướp, vừa la làng”, thẩm phán Anh nhận định, Toàn là người vu cáo, đổ tội cho các "bị can".
Theo quy định tố tụng, khi CQĐT muốn làm việc với các bị can, bị hại và nhũng người liên quan phải có giấy triệu tập. Try nhiên, theo ông Xảo tiết lộ: “Các điều tra viên chỉ dùng điện thoại cá nhân để liên lạc làm việc. Trong hồ sơ vụ án thể hiện rất rõ, không có giấy triệu tập. Khi đọc lời trình bày của các “bị hại”, đều có một điểm chung rất lạ lùng. Tất cả mười mấy bản lời khai giống y hệt nhau như có sự sắp đặt sẵn”.
Còn bị can Nguyễn Văn Dũng khẳng định: “Họ (các điều tra viên - PV) hẹn chúng tôi đến quán cà phê ngồi nói chuyện. Gần tan cuộc, họ đưa cho chúng tôi mấy bản tờ khai giấy trắng (chưa viết gì) rồi nói: Nếu anh em bận công việc thì cứ ký vào đây rồi về, có gì bọn mình viết vào cho, không sao đâu. Vì nghĩ không có tội và cũng chưa lúc nào bị công an bắt, nên cứ thế bọn tôi ký vào. Sau này có người hỏi, tại sao không đi cướp mà lại nhận tội cướp thì chúng tôi mới ngỡ ngàng. Khi biết việc, tất cả anh em chúng tôi đều có đơn khiếu nại gửi CQĐT và nhiều cấp ngành nhưng không nhận được trả lời”.
Khi PV đặt câu hỏi vì sao CQĐT lại khởi tố các bị can trong khi họ không có tội, Nguyễn Văn Hiệu trình bày: Sau khi nhóm của Hiệu mua xong của nhóm Toàn đã bán số gỗ trên cho anh Phạm Hải, có một điều tra viên tên S. đã tìm gặp trưởng nhóm Nguyễn Văn Hiệu, đề nghị mọi người chung chi một số tiền lớn.
Hiệu khẳng định, vị điều tra viên nàỵ cho hay, nếu mọi người chịu chi ra số tiền đó thì sẽ cho êm, nếu không sẽ làm vụ này thành án?! Do số tiền yêu cầu quá lớn nên các thành viên trong nhóm của Hiệu đã không đồng ý. Mặc dù tất cả các bị can đều tái khẳng định nội dung này là hoàn toàn đúng sự thật, nhưng nhóm PV đang tiếp tục cho điều tra, kiểm chứng.
Có thể khẳng định, đây là vụ án 1 có chủ thể (các bị can) của tội phạm, còn các yếu tố khác mập mờ, không rõ ràng, về khách thể bị xâm hại ở đây, theo thẩm phán Hoàng Đại Anh là không đạt. Tài sản được pháp luật bảo vệ trong vụ án này là tài nguyên rừng do VQG Phong Nha - Kẻ Bàng quản lý chứ không phải là tài sản của nhóm Phạm Văn Toàn. Theo ông Anh, các đối tượng trong nhóm của Hiệu cũng như nhóm của Toàn chỉ bị xử lý hành chính bởi hành vi vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng.
Cũng theo vị thẩm phán này, CQĐT chưa thể hiện được việc định giá tài sản bị thiệt hại. Đây là điều kiện cần trong một tội danh cấu thành vật chất. Hơn nữa, số tài sản “nghi bị thiệt hại” (là vật chứng của vụ án) không hề thu giữ được. Lẽ ra CQĐT phải tìm mọi cách thu hồi lại số tài sản này (đã bán cho ông Phạm Hải) và toàn bộ số tiền các nhóm giao nhận mua bán số gỗ huê trên.
Một nguồn dư luận còn cho rằng, ngoài nguyên nhân “không chịu chung chi”, 15 người trong nhóm của Hiệu đã bị ép án để "thí tốt" cho những đầu nậu buôn huê nổi tiếng đất Quảng Bình là: Hùng M., Hải T. và Tài T... Những nhân vật này được cho là người "cầm trịch" trong vụ tổ chức chặt phá, tiêu thụ và đang sở hữu sản phẩm từ ba cây gỗ huê quý giá trong VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. (Đời Sống & Pháp Luật 28/4) đầu trang(
Thời gian qua với lý do không có đất sản xuất, rừng nghèo kiệt, giá trị thấp, trồng cây không thành rừng, một số hộ dân ở xã An Lạc, huyện Sơn Động (Bắc Giang) đã phá bỏ rừng tái sinh (chủ yếu trong lim và trồng trám) để chuyển đổi sang trồng các loại cây khác.
Việc dân tự ý chặt phá rừng là hành vi viphạm pháp luật. Tuy nhiên, đằng sâu đó còn ẩn chứa nhiều vấn đề chính quyền địa phương cần phải tính toán thấu đáo.
Xã An Lạc hiện có 2.200ha đất rừng sản xuất được giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng theo Nghị định số 02/CP của Chính phủ, ngày 15/01/1994 (chủ yêu trồng lim và trám).
Trước và sau Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014, một số hộ dân nhận giao khoán chăm sóc rừng đã tự ý chặt bỏ để trồng loại cây khác. Ban đầu chỉ có 25 hộ ở thôn Đồng Bây chặt bỏ khoảng 14ha. Sau dó, sự việc lan rộng sang các thôn khác: Cò Noọc, Đồng Bài, Biểng, Đồng Dương cũng chặt bỏ rừng.
Ông Mã Văn Cảnh, Phó Chủ tịch UBND xã An Lạc, lý giải, người dân cho rằng, do có ít đất sản xuất trong khi nhu cầu phát triển kinh tế gia đình thúc bách. Hơn nữa, việc trồng rừng tái sinh không đem lại lợi ích kinh tế nên muốn chuyển đổi sang trồng loại cây khác có giá trị kinh tế hơn.
Ngày 21/3, PV về xã An Lạc để tìm hiểu vấn đề. Trên diện tích rừng khoảng 0,3ha của ông Mã Văn Cường (trú thôn Đồng Bây), các cây trám già cỗi đã bị chặt hạ. Ông Cường cho biết, năm 1993, gia đình ông được giao khoảng 4ha diện tích rừng để trồng cây trám và lim nhằm làm tái sinh rừng. Sô' lượng cây lim sống được là rất ít và phát triển chậm không thành rừng. Diện tích cây trám trước đây cho hưởng lợi từ việc thu nhựa trám, khoảng 40 nghìn đồng/ngày. Nhưng qua hơn 20 năm khai thác, lượng nhựa trám đã cạn kiệt, không đem lại lợi ích kinh tế nữa. Không còn thu nhập từ cây trám, ông Cường đã tự ý chặt 0,3ha rừng trám, định chuyển sang trồng cây keo.
Việc người dân tự ý chặt phá rừng trồng theo hình thức Nhà nước giao khoán chăm sóc đã vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Do đó, ngay sau khi phát hiện sự việc, Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động đã báo cáo cấp trên, đồng thời phối hợp cùng Công an huyện, Ban Qủan lý Khu bảo tồn Tây Yên Tử, UBND xã An Lạc đến từng hộ kiểm tra.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã phát hiện trên địa bàn xã An Lạc có 41 hộ có hành vi tự ý chặt phá rừng, chuyển sang trồng loại cây khác. Tổng diện tích rừng bị chặt phá lên tới 30,27ha rừng. Lực lượng chức năng đã lập biên bản vi phạm; chuyển hồ sơ cơ quan chức năng xử lý theo quy định pháp luật.
Trên thực tế, diện tích rừng tái sinh được trồng theo Nghị định 02/NĐ-CP ở An Lạc hiện không còn nhiều giá trị kinh tế, nhất là diện tích rừng trám, là có thật. Ông Nguyễn Văn Thủy, Hạt Phó Hạt Kiểm lâm Sơn Động, cho rằng, nhiều diện tích rừng tái sinh trên địa bàn xã không phát triển được thành rừng. Do đó, ý định chuyển đổi cây trồng của người dân thiết nghĩ là chính đáng.
Tuy nhiên, ông Thủy khẳng định, việc tự ý chặt phá rừng của người dân là vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm minh. “Trong 41 trường hợp, chúng tôi đã chuyển hồ sơ sang cơ quan công an đề nghị xử lý hình sự; các trường hợp còn lại do diện tích chặt phá không lớn nên chỉ xử phạt hành chính”-ông Thủy cho biết.
Cùng với việc tiến hành biện pháp xử lý vi phạm, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với các cấp ủy đảng, chính quyền tuyên truyền bà con không được tự ý chặt phá rừng mà phải xin phép và chờ cấp có thẩm quyền quyết định.
Sau khi được tuyên truyền phổ biến pháp luật, nhiều hộ dân vi phạm đã nhận thức được việc làm sai của mình. Họ đã dừng ngay việc tự ý chặt phá rừng và đang chờ các cấp có thẩm quyền cho phép. Nhiều người dân cũng đang làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt vi phạm hành chính do hành vi phá rừng trái pháp luật. Đồng thời, các hộ dân ở An Lạc cũng đang làm đơn đề nghị cấp phép cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt.
Việc người dân xin cấp cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt có nên hay không? An Lạc là một xã ĐBKK của huyện Sơn Động. Diện tích tự nhiên của xã la gần 12 nghìn ha, dân số là 856 hộ. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chỉ bằng 4% diện tích đất lâm nghiệp. Như vậy, người dân chủ yếu sống dựa vào rừng. Năm 2013 diện tích trồng rừng kinh tế của xã là 187,6ha (chiếm khoảng 9% diện tích rừng sản xuất). Thực tế trong số 91% diện tích rừng sản xuất còn lại nhiều diện tích rừng đang trở nên nghèo kiệt. Việc chuyển đổi một số diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt cũng là một việc làm hợp lý.
Ông Nguyễn Văn Hiệu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động cho rằng, nên cho chuyển đổi một số diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cây khác có hiệu quả kinh tế hơn. Nhưng việc này vượt quá thẩm quyền của Hạt nên Hạt đang đề xuất với cấp trên để xử lý, có giải pháp để bảo đảm đời sông cho người dân, vừa bảo vệ phát triển rừng hiệu quả. (Dân Tộc & Phát Triển 23/4) đầu trang(
Gần đây, nhiều diện tích rừng tự nhiên tại Tiểu khu 1698, được giao cho người dân ở bon Bu N’đóh, xã Đắk Wer (Đắk R’lấp) quản lý bị tàn phá nặng nề.
Theo thống kê diện tích rừng bị phá lên tới hơn 7 ha. Được biết, rừng tại Tiểu khu 1698 đã được ngành Kiểm lâm giao khoán bảo vệ cho bon. Theo đó, già làng bon Bu N’đóh đã thống nhất phân chia thành ba khu quản lý gồm: khu số 1 do ông Điểu Run quản lý; khu số 2 do ông Điểu Bích quản lý và khu số 3 do ông Điểu Jơm quản lý.
Theo ông Điểu Jơm thì thời gian gần đây rừng tự nhiên tại khu vực đầu suối Trãng Tranh, phía đông Tiểu khu 1698 thuộc khu vực số 3 do ông quản lý bị tàn phá nặng nề. Qua tìm hiểu, thì ông được biết những người phá rừng tại khu vực ở xã Nhân Cơ; thị trấn Kiến Đức, xã Đắk Wer, đều cùng huyện Đắk R’lấp và ông Điểu N’Khươn ở xã Đắk N’drung cùng nhiều người dân khác ở xã Đắk N’drung (Đắk Song).
Điều đáng nói là khi phát hiện Điểu Long và Điểu N’Khươn chia đất phá rừng khu tiếp theo dọc suối nhỏ, ông Điểu Jơm ra ngăn chặn thì bị hai đối tượng này đe dọa.
Tiếp đó, ông Điểu Jơm cùng một số người dân ở bon Bu N’đóh phát hiện và ra ngăn chặn một số người dân phá rừng tại đường Trãng Tranh thì các đối tượng Điểu Tâm, trú ở thôn 4, xã Đắk R’tíh (Tuy Đức); Điểu Thê, Điểu Tuy cùng trú ở thôn 4, xã Trường Xuân (Đắk Song) cùng nhiều người khác đe dọa hành hung ông Điểu Jơm và một số người giữ rừng khác là Điểu Chiến, Điểu Nel, Điểu N’Jel ở bon Bu N’đóh, xã Đắk Wer. Những ngày gần đây, các đối tượng này liên tục điện thoại đe dọa đến tính mạng khiến những người quản lý, bảo vệ rừng bon Bu N'đóh hết sức hoang mang, lo lắng.
Ông Điểu Jơm cũng như những người dân quản lý, bảo vệ rừng ở bon Bu N’đóh đề nghị các cấp, các ngành chức năng của xã Đắk Wer và huyện Đắk R’lấp sớm vào cuộc điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng, sang nhượng trái phép đất rừng và đe dọa tính mạng người khác để bảo vệ những diện tích rừng tự nhiên còn lại tại Tiểu khu 1698 và tạo điều kiện để người dân bon Bu N’đóh yên tâm gắn bó với rừng. (Báo Đắc Nông 6/5) đầu trang(
Để giải quyết hài hòa mối quan hệ trong sử dụng, quản lý tài nguyên rừng với cộng đồng người dân địa phương không phải chuyện một sớm, một chiều...
Việc đảm bảo lợi ích của các Ban quản lý rừng, bảo vệ và phát triển bền vững rừng và góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân sống trong khu rừng, vùng đệm rừng đặc dụng như một tấm chăn hẹp, bên này kéo thì bên kia lạnh!
Vì thế, rất cần sự vào cuộc của nhiều cấp, nhiều ngành, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để người dân an cư lạc nghiệp và trở thành một lực lượng quan trọng trong việc bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Các phương cách hiện nay chưa thực sự phát huy hiệu quả khiến cuộc chiến mưu sinh và bảo vệ rừng của người dân vùng lõi còn “căng như dây đàn”…
Thanh Hóa có 84.682,35ha rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch rừng đặc dụng thuộc hai Vườn Quốc gia (Bến En và một phần VQG Cúc Phương), ba Khu bảo tồn thiên nhiên (Xuân Liên, Pù Hu, Pù Luông), hai khu bảo tồn loài (Sến Tam Quy và các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động), bốn khu di tích lịch sử văn hóa (Lam Kinh, Hàm Rồng, Đền Bà Triệu, Trường Lệ Sầm Sơn).
Trong những năm qua, tỉnh mới tập trung thực hiện việc bảo vệ nguyên vẹn, an toàn diện tích rừng hiện có hay nói cách khác là mới làm tốt công tác quản lý bảo vệ tài nguyên động thực vật rừng, hạn chế người dân địa phương vào rừng để khai thác lâm sản và canh tác nông nghiệp.
Ông Mai Văn Chuyên, Trưởng phòng Bảo tồn, Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa cho biết: “Để giải quyết hài hòa mối quan hệ trong sử dụng và quản lý tài nguyên rừng, tạo khung pháp lý về chính sách chia sẻ lợi ích; quyền và nghĩa vụ của Ban quản lý các khu rừng đặc dụng với cộng đồng địa phương, tỉnh Thanh Hóa đã đưa vào thí điểm ở một số nơi theo nguyên tắc đồng quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân sống trong khu rừng đặc dụng và vùng đệm rừng đặc dụng.
Theo đó, người dân được phép khai thác một số lâm sản ngoài gỗ và được hưởng một số chính sách về hỗ trợ sinh kế như mô hình chăn nuôi, trồng cây, phát triển kinh tế tăng thu nhập, cải thiện đời sống và nâng cao nhận thức bảo tồn cho người dân. Chính sách về đồng quản lý, sử dụng tài nguyên rừng bền vững bước đầu tạo ra một số các lợi ích cho những người tham gia ở địa phương. Nhưng đây là lĩnh vực mới nên nhận thức, cách tiếp cận về chia sẻ lợi ích trong bảo tồn đa dạng sinh học còn chưa rõ ràng, cơ chế quản lý chưa đồng bộ, thiếu các công cụ pháp lý và những hỗ trợ kỹ thuật, tài chính nên chất lượng, hiệu quả triển khai các hoạt động còn nhiều vấn đề bất cập”.
Nhận thức vấn đề cần giải quyết, UBND tỉnh thực hiện cơ chế thí điểm chia sẻ lợi ích tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Pù Hu thông qua việc thực hiện dự án “Tăng cường năng lực quản lý và thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn đa dạng sinh học” do Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam hỗ trợ.
Tuy nhiên, kết quả cũng chỉ dừng lại ở việc xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích thông qua các văn bản thỏa thuận sử dụng lâm sản phụ còn nặng về định tính, hỗ trợ, bước đầu xây dựng mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm mới ở phạm vi một số thôn, chưa thực sự áp dụng và nhân rộng hiệu quả mô hình, do đó, nguy cơ xâm hại tới tài nguyên đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn cao.
Trao đổi với PV, ông Lê Quốc Việt, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho hay: “Việc giải quyết hài hòa đời sống người dân trong vùng lõi rừng với bảo vệ rừng là cả một vấn đề. Việc giao đất cho dân không phải thẩm quyền của ngành lâm nghiệp. Muốn đưa người dân ra khỏi vùng lõi thì rất nhiều thứ liên quan. Ngoài kinh phí, quỹ đất còn tập tục địa phương. Ngày trước đã có dự án đưa người Mông ra khỏi rừng nhưng khi có đất, có nhà, dân dứt khoát không đi vì quen sống như vậy. Quan điểm của ngành là rất muốn đưa dân ra khỏi rừng, tách bạch ra mới dễ quản lý, chứ để như thế này thì quả là đánh đố, đồ nhà mình ngay thành phố, cửa khóa then cài mà hở ra là mất. Đây rừng ngay sát nách người dân thì có tăng cường kiểm lâm viên cũng khó giữ. Người dân bảo, biết phá rừng là vi phạm pháp luật nhưng đói sẽ chết nhanh hơn!”.
Trả lời câu hỏi của phóng viên: Để hạn chế tình trạng “chảy máu rừng”, trước mắt cần có giải pháp gì, ông Việt cho biết: “Trong thời gian tới, Nhà nước cần đánh giá thực tiễn để hoàn thiện thể chế, xây dựng khung pháp luật và chính sách; hỗ trợ kỹ thuật và tài chính, tạo đòn bẩy thực hiện toàn diện cơ chế chia sẻ lợi ích nhằm quản lý rừng bền vững.
Xây dựng phương án chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, trong đó, nội dung phương án cần cụ thể hóa, định lượng tỷ lệ, đối tượng khi áp dụng các phương thức tiếp cận, khai thác tài nguyên rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng sống trong vùng lõi và vùng đệm rừng đặc dụng.
Quy hoạch sử dụng đất vùng đệm các khu rừng đặc dụng gắn với xác định chi tiết cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp. Phát huy vai trò điều tiết của Nhà nước, hỗ trợ tìm kiếm thị trường sản phẩm sản xuất ra của người nông dân, tránh tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa. Thực hiện đầy đủ, toàn diện phương án giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp đồng thời đẩy mạnh công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tăng cường thực hiện các chương trình điều tra, nghiên cứu về sinh thái rừng, lượng hóa giá kinh tế do môi trường rừng cung cấp và đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hợp lý trên địa bàn tỉnh. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò và lợi ích của chia sẻ lợi ích, bảo tồn đa dạng sinh học; tạo sự đồng thuận, tự nguyện tham gia của cộng đồng vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng đây là chìa khoá của sự thành công. Thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm các khu rừng đặc dụng, bảo đảm bù đắp được các chi phí cơ hội, tạo lòng tin và mang lại lợi ích cho toàn cộng đồng”.
Có lẽ, việc triển khai các giải pháp, dự án còn nhỏ giọt, quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao nên chưa giải quyết được phương cách mưu sinh của người dân. Vì thế, rừng tiếp tục bị “chảy máy” khiến các loài động vật mất môi trường sống, có nguy cơ tuyệt chủng. Nguồn sống từ rừng của người dân ngày càng cạn kiệt, khó khăn theo đó sẽ tăng lên. Điều đó, rất cần sự chung tay, vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương…(Công Lý 7/5) đầu trang(
Các khu rừng nằm ở đầu nguồn lòng hồ thủy điện, vùng giáp ranh giữa Phước Sơn với các địa phương lân cận luôn bị xâm hại. Những “chiến lợi phẩm” mà lực lượng chức năng địa phương thu về sau mỗi đợt truy quét chỉ là phần nổi của thực tế xâm hại tài nguyên rừng nơi đây.
Năm 2011, khi thủy điện Đắc Mi 4 tích nước đưa vào hoạt động cũng là lúc những cánh rừng đặc dụng đầu nguồn luôn bị lăm le tàn phá. Thời điểm này, tại khu vực bãi Đà Lạt (thuộc tiểu khu 687, xã Phước Kim, Phước Sơn) lực lượng chức năng phát hiện 55m3 gỗ đã cưa tròn, rọc phách chuẩn bị chờ thời cơ vận chuyển ra bên ngoài. Cách đó không xa, khu vực cầu Dây – Nước Chè (xã Phước Chánh, Phước Sơn) còn vô tình trở thành “bàn đạp” giúp đối tượng lén lút chở gỗ lậu vào ban đêm.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2013, “lâm tặc” đã chuyển sang hoạt động ở địa bàn xã Phước Hòa để thực hiện mục đích kép: mở đường tận thu vàng và lấy gỗ. Con đường lên các bãi vàng thuộc địa bàn xã Phước Hòa với nhiều đoạn gỗ nằm lăn lóc. “Số phận” của nhiều gốc cổ thụ đặt trong tình thế có thể đổ ngã bất cứ lúc nào từ hệ lụy mở đường.
Ngành kiểm lâm thống kê, năm 2013, chỉ riêng xã Phước Hòa đã xảy ra 46 vụ liên quan đến khai thác, vận chuyển gỗ trái phép; ngành chức năng tịch thu gần 80m3 gỗ các loại, tạm giữ 3 ô tô.
Trong khi đó, theo Công an huyện Phước Sơn, tổ công tác liên ngành huyện đã phát hiện nhiều công cụ, phương tiện phục vụ cho việc khai thác khoáng sản trái phép tại khu vực 38, 39 thuộc tiểu khu 647 (xã Phước Hòa). Theo đó, phá hủy 3 lán trại, 4 máy nổ và đẩy đuổi hàng chục đối tượng vào rừng trái phép.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phước Sơn - ông Trần Lanh thừa nhận, địa phương chưa kiểm soát hết các điểm khai thác khoáng sản, kèm theo việc lén lút tận thu gỗ bất hợp pháp. Có thực tế một bộ phận người dân dựa vào rừng kiếm sống, hoặc “tiếp tay” cho lâm tặc xâm hại rừng, đặc biệt ở điểm nóng là các xã Phước Hòa, Phước Đức, Phước Hiệp, Phước Chánh, Phước Mỹ.
“Diện tích rừng giao cho chính quyền xã, thị trấn và một số chủ rừng quá rộng nên có nơi chưa kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Trong khi đó, thủ đoạn chống người thi hành công vụ, hăm dọa trắng trợn của “lâm tặc” đã làm cho một số cán bộ ngại va chạm” – ông Lanh cho biết.
UBND tỉnh từng có nhiều văn bản cấm đưa người, phương tiện không rõ nguồn gốc vào “rừng cấm”; yêu cầu các tổ chức, cá nhân khi thi công các công trình, dự án có tác động đến rừng và đất lâm nghiệp phải đăng ký với chính quyền sở tại và ngành chức năng.
Thế nhưng, dù đã có hàng chục doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong rừng đặc dụng, phòng hộ, nhưng đến nay, Phước Sơn chỉ có 4 đơn vị được cấp chứng nhận ra vào rừng, gồm Công ty TNHH Phước Minh, Công ty TNHH Thành Lộc Sơn, Công ty TNHH Nghĩa Sơn, Ban quản lý dự án nhà máy thủy điện Đắc Mi 4. Ngoài ra, kiểm lâm đã cắm 25 biển cấm tại các khu rừng phòng hộ.
Theo UBND huyện Phước Sơn, đến nay địa phương đã kết thúc việc khai thác tận thu, tận dụng gỗ trên diện tích khai hoang trồng cao su tại tiểu khu 646 (xã Phước Hiệp), tuyến đường Phước Công – Phước Mỹ; hoàn thành việc kiểm tra, giám sát khai thác tận thu, tận dụng gỗ hỗ trợ làm nhà theo Quyết định 167 (giai đoạn 2) đạt 401/443 nhà.
Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng vẫn phức tạp. Giai đoạn từ tháng 6.2010 đến 3.2014, ngành chức năng của huyện đã phát hiện, lập biên bản 758 vụ vi phạm liên quan đến phá rừng; tịch thu hơn 1.697m3 gỗ các loại và nhiều phương tiện vận chuyện khác.
Đáng nói, có 17 vụ án đã điều tra, khởi tố; cảnh cáo 1 tổ chức cơ sở đảng, khai trừ ra khỏi Đảng 3 đảng viên và 6 đảng viên bị hình thức cảnh cáo và khiển trách liên quan đến vi phạm về pháp luật bảo vệ rừng.
Bên cạnh các điểm nóng khai thác gỗ trái phép trong khu vực đầu nguồn lòng hồ thủy điện thì tình trạng tận thu tài nguyên rừng tái diễn ở vùng giáp ranh giữa Phước Sơn với các huyện Hiệp Đức, Nam Giang, Nông Sơn.
Trước đây, UBND tỉnh yêu cầu các ban quản lý dự án thủy điện chủ động phối hợp với chủ rừng, kiểm lâm sở tại, chính quyền địa phương thực hiện tốt quy chế phối hợp trong bảo vệ rừng đầu nguồn, nhưng thực tế bộc lộ không ít bất cập. Nhiều vụ phá rừng trong lưu vực lòng hồ thủy điện Đắc Mi rất chậm phát hiện, việc xác định trách nhiệm rất mơ hồ.
“Thời gian gần đây, nạn phá rừng, xâm canh, lấn chiếm đất rừng trái phép diễn ra khá phức tạp. Trong khi đó, ban quản lý các nhà máy thủy điện trên địa bàn chưa triển khai thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước và Chỉ thị số 33/CT-UBND ngày 12.12.2011 của UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng đầu nguồn” - ông Trần Lanh nói. (Báo Quảng Nam 7/5) đầu trang(
Mùa mưa hay nắng, đối với những người lính giữ rừng, họ vẫn canh cánh bên mình trách nhiệm phải bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng, dù có những lúc đối mặt với nhiều hiểm nguy, đe dọa rình rập...
Theo những cán bộ kiểm lâm thị xã Hương Trà dẫn đường, PV dọc  tuyến Quốc lộ 49 Huế - A Lưới lên Trạm Kiểm lâm lòng hồ Bình Điền. Để đến được đây, ngoài hơn 30 km đường nhựa, PV phải qua một chuyến đò ngang trên lòng hồ Thủy điện Bình Điền.
Hôm PV lên, trạm chỉ còn 4 thành viên, 2 thành viên khác vừa phải đi rừng. Lâu lâu có dịp tiếp đón “khách quý”, các anh vui ra mặt. Anh Trần Văn Vinh - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm lòng hồ Bình Điền trò chuyện, năm 2009, sau khi có Thủy điện Bình Điền, khu vực này trở thành điểm nóng phá rừng, đường vận chuyển lâm sản “lý tưởng” của lâm tặc. Do đó, anh em phải thường xuyên bám sát chốt chặn, tuần tra. Nhất là dịp cuối năm thường là thời điểm lâm tặc lộng hành khai thác, vận chuyển gỗ về xuôi nhất. Do đó, dù lễ, Tết, quân số trực chốt phải luôn đạt 70% lực lượng trở lên.
Trạm đóng biệt lập, xa trung tâm, nên ngoài nhiệm vụ giữ rừng, cánh đàn ông các anh còn kiêm luôn nội trợ, đi chợ, giặt giũ. Để chủ động thực phẩm, các anh còn trồng thêm rau xanh, nuôi gà, câu cá để cải thiện bữa ăn. Trong bữa cơm trưa đạm bạc, các anh em trong trạm vui vẻ ôn lại chuyện nghề.
Anh Vinh cho biết, hơn 25 năm làm công tác quản lý, bảo vệ rừng, anh đã trải qua rất nhiều vị trí, đơn vị công tác. Mới nhất, vào năm 2009, anh được chuyển từ trạm về nhận nhiệm vụ Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm lòng hồ Bình Điền.
Anh tâm sự: “Kỷ niệm về rừng mình có rất nhiều. Tuy vậy, điều nhớ nhất là ngày 12/9/2012, lúc anh em đi tuần tra và bắt giữ được một ghe máy. Ít giờ sau, chủ phương tiện bị tịch thu tên Lê Văn Mong đã liều lĩnh tấn công để cướp ghe. Cũng may có đông anh em nên đối tượng đã bị khống chế. Vào năm 2013, ông Mong đã bị xử phạt 9 tháng tù giam”.
“Cũng chưa lâu, đồng nghiệp Thảo ở Đội Kiểm lâm cơ động - PCCCR số 1 thuộc Chi cục Kiểm lâm bị một nhóm lâm tặc trấn áp cướp lại gỗ ngay tại địa bàn lòng hồ Bình Điền. Anh em còn nhớ như in, lúc đó, sau khi đội tuần tra bắt giữ được một số lượng gỗ của bọn lâm tặc, trong đội cử một mình anh Thảo ở lại canh giữ lâm sản tịch thu được để tiếp tục công tác xử lý thì xảy ra sự việc trên. Đó cũng là bài học để anh em hết sức cảnh giác, phòng bị”, anh Vinh kể lại.
Anh Nhật, thành viên trong trạm trải lòng: “Mọi người vẫn thường gọi đùa chúng tôi là “kiểm lâm quần đùi”, giống như loài vạc “ăn đêm”, vì thường phải lội sông, lội suối làm nhiệm vụ. Những ngày giá rét, anh em phải nằm  trên ca nô giữa lòng hồ để canh gác, bởi đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển gỗ về xuôi. Có những chuyến đi tuần tra dài ngày lên tận Khe Lác, Trà Ve, giáp ranh giữa Hương Trà và A Lưới, cách trạm đóng chân hàng chục cây số. Đoạn nào có sông, có suối thì chèo ghe; gặp những đoạn khô, dốc thì vác ghe cuốc bộ”.
Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Trà cho biết, Hương Trà là địa bàn có diện tích rừng 26.270 ha, gồm 17.174 ha rừng trồng và 9.095 ha rừng tự nhiên với đủ loại địa hình phức tạp. Trong đó có 2 hồ thủy điện là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản trái phép. Đây cũng là khu vực lâm sản từ các nơi như Nam Đông, A Lưới, Hương Thủy đổ về, nên áp lực trong việc tuần tra kiểm soát rất lớn, trong khi đó lực lượng tại các trạm chốt rất mỏng.
Bên cạnh đó, vì thiếu đất sản xuất, trong khi cuộc sống của những đối tượng phá rừng còn quá khó khăn, chủ yếu sống dựa vào nghề rừng, nên họ vẫn chặt phá, đặt bẫy săn bắt động vật rừng để trang trải qua ngày. Tuy nhiên, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các đơn vị, chủ rừng hoặc tăng cường tuần tra kiểm soát, nên đã hạn chế được những vụ khai thác trái phép.
Hiện, toàn tỉnh có 22 trạm kiểm lâm và hàng chục tổ kiểm lâm cơ động. Số trạm, tổ đóng chân ở vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh chiếm đa phần. Trong đó phải kể đến Trạm Chà Lệnh Mụ Nú (thuộc xã Hương Nguyên, huyện A Lưới), Khe Liềm (nằm chênh vênh bên dòng Ô Giang, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền)... Những trạm này nằm lọt thỏm giữa đại ngàn rừng núi, cách xa khu dân cư, giao thông cách trở, nên việc bảo vệ rừng rất khó khăn.
Vì là địa bàn có trữ lượng gỗ lớn và tính đa dạng sinh học cao, nên nhiều khu vực rừng của Thừa Thiên Huế trở thành “sào huyệt” hay còn là “cội” của bọn lâm tặc chuyên phá rừng. Để giảm thiểu tình trạng xâm phạm tài nguyên rừng, lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng phải thường xuyên chia thành từng đội và phân thành nhiều tuyến để tuần tra.
Hành trang cho một chuyến đi rừng của các anh thường kéo dài từ 8 đến 10 ngày đêm. Ngoài thực phẩm, gạo, nước uống… còn có súng hơi cay, súng cao su, súng AK, bình xịt hơi cay, còng số 8; hoặc mang thêm máy GPS, la bàn và bản đồ. Trên đường đi tuần, anh em vừa cảnh giới lâm tặc, vừa phải tháo gỡ rất nhiều dây bẫy động vật rừng, hủy bỏ nhiều cây cầu treo được lâm tặc thiết kế để tời gỗ. Đến những đoạn suối phải lật bỏ những tảng đá còn nằm lởm chởm được dựng lên để biến thành đê.
Theo lý giải của những người canh giữ rừng, lâm tặc làm vậy để đắp thành những con đập nhỏ, phân khúc ra nhiều đoạn để dùng sức nước đẩy gỗ về xuôi dễ dàng. Hành vi phá rừng của lâm tặc cũng ngày càng tinh vi hơn, nên việc đối phó tình trạng này gặp rất nhiều khó khăn, nhiều phương tiện máy cưa, máy xẻ được độ lại nên âm thanh phát ra rất nhỏ, khó phát hiện. Đó là chưa nói đến việc lâm tặc dùng lựu đạn và súng tự chế tấn công lại tổ tuần tra.
Kiểm lâm là lực lượng “tả xung hữu đột”. Dù mùa nắng hay mưa đều không ngơi nghỉ. Mùa mưa thì chống chặt phá, vận chuyển gỗ rừng, mùa hè phải kiêm thêm phòng chống cháy rừng. Trong quá trình làm nhiệm vụ, người nào cũng gặp nạn đôi ba lần, không vì người hại thì cũng do rủi ro khách quan như bị rắn độc cắn, vắt đeo, côn trùng có nọc độc chích hút,... hay bị thương trong lúc tham gia chữa cháy rừng. (Tài Nguyên Môi Trường 6/5) đầu trang(
Xã Phước Tiến (Bác Ái) có 5.823 ha rừng, trong đó có 3.760 ha rừng phòng hộ. Với vị trí “đầu ngõ” trên tuyến giao thông huyết mạch của huyện Bác Ái, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở đây diễn ra khá phức tạp.
Anh Đỗ Văn Hoàng, cán bộ Kiểm lâm địa bàn xã Phước Tiến cho biết: Trong 4 tháng đầu năm, lực lượng chức năng phối hợp chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức tuần tra, truy quét tại các khu vực trọng điểm; tịch thu 5 m3 gỗ các loại, lập biên bản xử phạt hành chính 4 vụ với số tiền 7,5 triệu đồng. Đây là các nguồn lâm sản trái phép từ nhiều hướng được chuyển qua địa bàn xã Phước Tiến. Đối tượng là người đến từ nơi khác, thuê mướn người dân địa phương chặt phá rừng và vận chuyển gỗ lậu.
Cũng vào thời điểm này, bà con Raglai địa phương bước vào mùa phát dọn nương rẫy để sản xuất vụ mới, làm tăng nguy cơ xảy ra cháy rừng, nhất là ở các thôn Suối Rua, Đá Bàn.
Ông Hoàng Văn Đặng, Chủ tịch UBND xã, kiêm Trưởng Ban chỉ huy Bảo vệ rừng và Phòng cháy, chữa cháy rừng xã Phước Tiến cho biết: Thời gian qua, địa phương đã đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tới người dân về công tác bảo vệ và phát triển rừng; phát trên hệ thống truyền thanh, lồng ghép nội dung tuyên truyền trong các cuộc họp dân tại địa bàn dân cư sinh sống gần rừng và ven rừng.
Qua phân loại đối tượng, xã giao các hội, đoàn thể có trách nhiệm vận động hội viên ký cam kết không tiếp tay, không tham gia phá rừng, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép. Thực hiện các đợt cao điểm, lực lượng công an, quân sự xã phối hợp cán bộ Kiểm lâm địa bàn cùng đơn vị chủ rừng tăng cường tuần tra, truy quét những vùng trọng điểm phức tạp.
Ngoài ra, đơn vị chủ rừng chỉ đạo các Trạm quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn tích cực tuần tra, kiểm soát trong lâm phần quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng làm rẫy, khai thác rừng trái phép, sớm phát hiện ra nguy cơ cháy để huy động lực lượng cứu chữa kịp thời; đồng thời lập danh sách, hướng dẫn các hộ dân đăng ký đốt rẫy theo đúng thời điểm, tránh tình trạng cháy lan, gây ảnh hưởng đến tài nguyên rừng.
Qua tăng cường biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở xã Phước Tiến đã giảm đáng kể, hạn chế nạn đốt rẫy, hầm than trên địa bàn. (Báo Ninh Thuận 6/5) đầu trang(
Các anh chưa một phút giây nản lòng, vẫn ngày đêm tuần tra canh gác để giữ vững sự bình yên cho các cánh rừng.
Sau gần 20 năm thành lập, với những thành tích nổi bật, Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR (Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị) vừa được tỉnh Quảng Trị đề nghị Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.
Tháng 5 thời tiết ở Quảng Trị bắt đầu xuất hiện gió Lào, trời khô hanh, nắng nóng. Đây cũng là thời kỳ các hoạt động có hành vi vi phạm lâm luật của nhiều đối tượng thường xuyên xảy ra.
Quảng Trị địa hình đa dạng, có đường QL 9 và đường Hồ Chí Minh đi qua nên việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động kiểm tra, ngăn ngừa, ngăn chặn xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, lâm sản trái phép cũng như PCCCR càng phức tạp hơn.
Ông Trần Minh Tuấn, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Quảng Trị cho biết, hằng năm đội xây dựng kế hoạch công tác cụ thể, áp dụng các biện pháp như xác định các vùng trọng điểm, phân công các người theo dõi địa bàn các huyện để nắm bắt tình hình, đặc biệt là các địa bàn thường xảy ra vi phạm, củng cố xây dựng các cơ sở quần chúng cung cấp thông tin để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.
Nhờ tạo được lòng tin với quần chúng nên đội đã có nhiều nguồn thông tin chính xác, kịp thời ngăn chặn những hành vi vi phạm.
Với những địa bàn phức tạp, dễ xảy ra tình trạng xâm hại rừng như các huyện Hướng Hóa, Đakrông, Vĩnh Linh, đội thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra cơ động ngăn chặn tình trạng vận chuyển, mua bán trái phép lâm sản trên các tuyến giao thông.
Nhiều tháng liền anh em của đội cơ động phải bám sát địa bàn, đêm ngày gác chốt, ngăn chặn các đối tượng.
Kết quả trong 5 năm qua đã tổ chức kiểm tra cơ động 800 lần với hơn 2.000 lượt người tham gia, phát hiện 411 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, phát hiện và thu giữ hơn 967 m3 gỗ quy tròn các loại, hơn 2.000 kg động vật rừng, 162 kg trầm xô và nhiều lâm sản khác...
Theo ông Tuấn, để hoạt động ngày càng hiệu quả, đội luôn hiện tốt quy chế phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm, Công an tỉnh và Biên phòng.
Thời gian qua đội đã phối hợp nhận và chuyển giao với các đơn vị công an 97 lần, lập biên bản 99 vụ, thu giữ hơn 276 m3 gỗ quy tròn các loại và 1.248 kg động vật rừng...
Phối hợp và nhận chuyển giao với các đơn vị biên phòng 20 lần, lập biên bản 20 vụ, thu giữ hơn 53 m3 gỗ quy tròn các loại.
Ngoài ra, đội còn thực hiện các nhiệm vụ là lực lượng trực tiếp, nòng cốt PCCCR. Không lùi bước trước những khó khăn đó, đội thường xuyên phối hợp với các đơn vị Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng và các đơn vị chức năng trong công tác tuần tra, kiểm tra PCCCR, chủ động tiếp nhận thông tin, huy động lực lượng tham gia chữa cháy rừng trong mùa khô.
Tổ chức trực 24/24h trong thời gian cao điểm mùa cháy rừng để sẵn sàng kịp thời tham gia chữa cháy khi có yêu cầu. Trong 5 năm đội đã huy động lực lượng phương tiện của đội và các đơn vị gồm 158 lượt người, 25 lượt phương tiện tham gia chữa cháy rừng 15 lần tại các địa bàn, nhờ vậy mà rừng Quảng Trị luôn được bảo vệ tốt.
Gần 20 năm hoạt động, mỗi khi xuất trận, Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR của Quảng Trị đánh đâu thắng đấy, lực lượng được bảo toàn. Tuy cuộc chiến không cân sức bởi một phần do lực lượng kiểm lâm cơ động quá mỏng, chỉ có 10 đồng chí, phần nữa là trang thiết bị, công cụ hỗ trợ thiếu và yếu mà người vi phạm thì lại có đầy đủ các loại phương tiện và vũ khí.
Nhưng các anh không nản lòng, vẫn ngày đêm tuần tra canh gác để giữ vững sự bình yên cho các cánh rừng. (Nông Nghiệp VN 7/5) đầu trang(
Đắk Lắk: Giảm tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép
Đắk Lắk đang tiếp tục thống kê, rà soát lại diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép và lập kế hoạch phá bỏ hoa màu, lán trại và trồng lại rừng đối với diện tích rừng bị phá, lấn chiếm, đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng xâm hại tài nguyên rừng theo đúng quy định của pháp luật.
Các công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ kiểm điểm nghiêm túc về việc để rừng bị mất, bị chặt phá, chấn chỉnh, nâng cao vai trò hoạt động của lực lượng kiểm lâm để làm tốt vai trò tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong hoạt động bảo vệ rừng.
Thời gian qua, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp tích cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn, xử lý kịp thời thời các tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 777 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu trên 1.216 mét khối gỗ các loại và 1.159 phương tiện, với số tiền sau xử lý trên 7,2 tỷ đồng, giảm 115 vụ vi phạm so với cùng kỳ này năm ngoái. Trong đó, hành vi khai thác lâm sản trái phép chỉ còn 27 vụ, giảm 40% so cùng kỳ năm ngoái, số vụ vi phạm còn lại chủ yếu là mua bán, vận chuyển lâm sản, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Tỉnh đã thành lập các đội liên ngành về phối hợp cùng với các địa phương, chủ rừng tập trung lực lượng kiểm tra các vùng trọng điểm thường xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại một số dự án trồng rừng, cải tạo rừng trên địa bàn các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’Leo hay các khu vực rừng giáp ranh với các tỉnh Phú Yên, Gia Lai, Khánh Hòa, Đắk Nông, Lâm Đồng.
Tỉnh đã ra quân xử lý kiên quyết, giải tỏa hàng trăm lán trại, cây trồng, nhà của các hộ dân cố tình lấn chiếm đất rừng trái phép. Từ đó đã thu hồi hàng trăm ha đất rừng giao lại cho các công ty lâm nghiệp, UBND xã quản lý nhằm có kế hoạch cấp đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất sản xuất hoặc trồng lại rừng.
Tại tiểu khu 215 xã Cư Kbang và khoảnh 5,6,7,8,10 thuộc tiểu khu 196 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Rừng Xanh đứng chân trên địa bàn xã Ea Rốk (huyện Ea Súp) các đơn vị chức năng đã phá bỏ hàng chục lán trại, thu hồi trên 114 ha đất lâm nghiệp do người dân chiếm dụng trái phép giao lại cho công ty, chính quyền địa phương quản lý.
Tại huyện Buôn Đôn, các lực lượng chức năng tổ chức tuyên truyền, vận động 39 hộ gia đình có xe độ chế tự giác tháo bỏ hoặc không tham gia vận chuyển lâm sản trái phép…
Đắk Lắk cũng đã kiểm tra 44 xưởng chế biến gỗ trên địa bàn 9 huyện và đã phát hiện 25 cơ sở vi phạm về cam kết bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy, không có giấy phép xây dựng nhà xưởng…; trong đó đã đình chỉ hoạt động 12 cơ sở. (Đảng Cộng Sản VN 6/5) đầu trang(
Xóa sổ “ngành công nghiệp mật gấu”: Đường xa vạn dặm!
“Ngành công nghiệp mật gấu” là mối đe dọa lớn và trực tiếp đối với sự tồn vong của các loài gấu trong tự nhiên. Không chỉ ở Việt Nam mà đối với các nước trong khu vực, việc xóa bỏ “ngành công nghiệp” hút mật gấu đang là điều cấp thiết để bảo tồn loài gấu hiện nay.
Hoạt động khai thác mật gấu cũng như các quan niệm truyền thống về sử dụng mật gấu là các yếu tố chính gây nên tình trạng suy giảm về số lượng loài không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước lân cận. Người Việt Nam và một số quốc gia tại châu Á đặc biệt ưa chuộng thịt và các sản phẩm chế biến từ động vật hoang dã với lý do sử dụng thịt và sản phẩm từ động vật hoang dã sẽ mang lại sức mạnh từ thiên nhiên. Từ đó, nhu cầu tiêu thụ các động vật dũng mãnh như hổ, gấu rất lớn.
Hoạt động khai thác mật gấu ở Việt Nam phát triển khá nhanh  từ cuối những năm 1990 nhờ sự tăng trưởng về kinh tế và mức sống tăng lên rõ rệt, đặc biệt là ở các khu vực thành thị, thu nhập cao của nhiều người dân cho phép họ tiêu dùng những mặt hàng xa xỉ.
Theo báo cáo của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, có tới 22% người Việt Nam từng sử dụng mật gấu, Hà Nội có tỷ lệ sử dụng mật gấu cao hơn nhiều so với Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Hà Nội có tới 35% số người được hỏi đã sử dụng mật gấu, trong khi con số ở TP. Hồ Chí Minh là 16% và Đà Nẵng là 15%.
Ở Việt Nam, có hai loại đang được nuôi ở là gấu ngựa và gấu chó. Trong đó, gấu ngựa là loại đang được nuôi phổ biến vì có hàm lượng kháng viêm ursodeoxycholic axit (UDCA) cao. Theo pháp luật Việt Nam, cả hai loài này đều được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao nhất, thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Việc săn, bắn, bẫy, tàng trữ, giết mổ, buôn bán hay quảng cáo gấu và các sản phẩm từ gấu đều là những hành vi vi phạm pháp luật.
Mặt khác, gấu còn được liệt kê trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Mọi hành vi vi phạm liên quan đến gấu, có thể bị xử phạt hành chính lên đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP và Nghị định 179/2013/NĐ-CP) hoặc xử lý hình sự lên đến 7 năm tù giam (Điều 190 Bộ luật hình sự 1999 - sửa đổi bổ sung năm 2009).
Ngoài ra, gấu được bảo vệ theo Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp CITES.
Các chuyên gia sinh vật học khẳng định, mặc dù được chăm sóc, chủ động cung cấp nguồn thức ăn trong điều kiện nuôi nhốt song số phận của hàng ngàn con gấu nuôi cũng không khá hơn những con gấu hoang dã bị bắn chết, bởi các chủ trại chích hút mật theo kiểu “vắt kiệt”, lặp đi lặp lại nhiều lần khiến cá thể gấu nuôi bị nhiễm trùng túi mật, mắc bệnh hoặc chết.
Ở Việt Nam quan niệm chích hút và sử dụng mật gấu không phải là một hành động trái đạo đức, xuất phát từ truyền thống văn hóa và quan niệm lâu đời về công dụng chữa bệnh của mật gấu. Hơn nữa, các cơ quan chức năng khi phát hiện gấu nuôi nhốt trái phép thường thiếu sự quyết tâm và cam kết lâu dài để xử lý vi phạm theo đúng luật pháp bảo vệ động vật hoang dã. Vì vậy, tương lai của loài gấu ngựa và gấu chó tại Việt Nam đang bị đe dọa bởi tình trạng tiêu thụ và sử dụng mật gấu phổ biến như hiện nay. Gấu tiếp tục bị săn bắt từ tự nhiên, bán cho các trang trại, bị giam trong các cũi sắt chật hẹp chờ đến lượt bị chích hút để khai thác mật.
Các chuyên gia y học cho rằng, sẽ chẳng có ai chết vì thiếu mật gấu. Ngược lại, người ta còn trở nên bệnh tật hơn, thậm chí có thể chết vì sử dụng mật gấu. Mật gấu không phải là “thần dược” để thay thế thuốc điều trị bệnh.
Bảo vệ gấu đòi hỏi phải xóa sổ "ngành công nghiệp" khai thác mật gấu. Bên cạnh đó tăng cường thể chế luật pháp và thực thi pháp luật, giảm thiểu nhu cầu về mật gấu cũng như tác động đến thái độ, hành vi và quan niệm về sử dụng mật gấu vốn đã tồn tại hàng bao thế kỷ nay cũng là những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhằm hướng đến mục tiêu chấm dứt tình trạng buôn bán và tiêu thụ mật gấu.
Để thay đổi được một quan niệm, cần phải có thời gian. Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ đáng kể trên chặng đường dài hướng đến mục tiêu bảo vệ loài gấu. Kế hoạch xóa bỏ tình trạng nuôi nhốt gấu thông qua tiêu hao về số lượng là bước đi đầu tiên cực kỳ quan trọng và cấp bách trên chặng đường dài này. (Tài Nguyên Môi Trường 6/5) đầu trang(
Sáng 6/5, Hạt Kiểm lâm H.Phù Mỹ (Bình Định) cùng ngành chức năng xã Mỹ Thọ kiểm tra hành chính đã phát hiện, lập biên bản tại vườn nhà ông Nguyễn Thanh Lương ở thôn Chánh Trực có chứa hơn 1 tấn gỗ trắc dây, loại nhóm 1.
Theo ông Lương, số gỗ trên không phải của ông mà do người nào đó đem bỏ vào vườn nhà. Hiện số gỗ này đang được Hạt Kiểm lâm H.Phù Mỹ tạm giữ để làm rõ, xử lý theo pháp luật. (Thanh Niên 7/5) đầu trang(
Đội Kiểm lâm cơ động số 2 tỉnh Đắc Lắc ra thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe tải BS 47P-3167 chở 7,74m3 gỗ sơn huyết (nhóm 1) không rõ nguồn gốc bị đơn vị này phát hiện, tạm giữ tại H.M’Đrắk trong 10 ngày qua. (Thanh Niên 7/5) đầu trang(
Sáng 6/5, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn đi kiểm tra và làm việc với các ngành, đơn vị liên quan về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCR tại Khu BTTN Kẻ Gỗ.
Ban quản lý Khu BTTN Kẻ Gỗ quản lý và bảo vệ gần 50 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trên địa bàn 4 huyện, 25 xã, 81 tiểu khu. Diện tích rừng tự nhiên có nguy cơ xâm hại cao tập trung trên địa bàn huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên với diện tích gần 28.000 ha; trong đó, hơn 6.000 ha thuộc địa bàn xã Kỳ Thượng (Kỳ Anh) và gần 22.000 ha thuộc địa bàn các xã: Cẩm Mỹ, Cẩm Sơn, Cẩm Thịnh, Cẩm Lạc (Cẩm Xuyên).
Gần đây, sau khi báo chí phản ánh về tình trạng khai thác rừng trái phép trên lâm phần Khu BTTN Kẻ Gỗ, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã tiến hành kiểm tra, xác minh. Theo đó, tại tiểu khu 360A xã Cẩm Thịnh (Cẩm Xuyên), các tiểu khu 366, 367B, 361 (xã Kỳ Thượng – Kỳ Anh) phát hiện 46 cây, khối lượng khoảng 27,47 m3 (rừng sản xuất 16 cây, khối lượng 8,77 m3; rừng đặc dụng 30 cây, khối lượng 18,7 m3) nằm rải rác trên tuyến đã bị khai thác trái phép.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng nhận định, tình trạng khai thác rừng trái phép từ khoảng tháng 1/2014 đến nay; đối tượng sử dụng cưa xăng để cắt hạ, xẻ cây thành từng bê, sau đó dùng trâu kéo gỗ ra khỏi rừng.
Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn cho rằng, tình trạng phá rừng tại các tiểu khu trên xẩy ra trong thời gian dài là do sự buông lỏng, không bám sát địa bàn của chủ rừng, kiểm lâm và chính quyền địa phương; trong khi đó, lâm tặc ngày càng hoạt động tinh vi, thậm chí còn được sự tiếp tay của lực lượng trong và ngoài chức năng để chặt phá rừng. Công tác quản lý chế biến, cưa xẻ gỗ trái phép chưa được xử lý dứt điểm; công tác PCCR triển khai thiếu đồng bộ...
Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT chỉ đạo Ban quản lý Khu BTTN Kẻ Gỗ và lực lượng kiểm lâm kiểm điểm làm rõ trách nhiệm để xẩy ra tình trạng trên; huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên làm rõ vai trò quản lý nhà nước của các xã và ngành chức năng để báo cáo với UBND tỉnh.
Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm điều tra, củng cố hồ sơ, kiên quyết xử lý theo luật định. Mặt khác, rà soát lại các cơ sở chế biến lâm sản trái phép để có phương án xử lý triệt để; các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền để công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCR năm 2014 hiệu quả. (Báo Hà Tĩnh 6/5) đầu trang(
Lãnh đạo Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) cho hay, đơn vị này vừa tạm đình chỉ công tác đối với 2 trạm trưởng trạm bảo vệ rừng do để lâm tặc mặc sức hoành hành, triệt hạ lâm sản như phản ánh của báo điện tử Dân trí.
Chiều 6/5, lãnh đạo BQL Khu BTTN Kẻ Gỗ đã có báo cáo gửi Báo điện tử Dân trí về kết quả xử lý bước đầu của đơn vị này sau loạt phóng sự “Kinh hoàng lâm tặc “đại phẫu” rừng bảo tồn”.
Nội dung báo cáo cho biết, ngay sau khi báo xuất bản bài điều tra đầu tiên, Ban chấp hành Đảng ủy, lãnh đạo Ban đã triệu tập cuộc họp khẩn bàn phương án thực hiện cụ thể. Ngay sau đó Ban đã tích cực phối hợp với Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh, chính quyền hai huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên vào cuộc kiểm tra, xử lý những vấn đề báo phản ánh.
Báo cáo thừa nhận thực trạng rừng thuộc khu BTTN Kẻ Gỗ bị lâm tặc nhưDân trí phản ánh là có. Qua kiểm tra tại 4 tiểu khu (360A, 361, 366, 367B) đơn vị đã phát hiện 46 cây, với khối lượng 27,47m3 bị lâm tặc khai thác trái phép; trong đó rừng sản xuất 16 cây, khối lượng 8,77m3, rừng đặc dụng 30 cây, khối lượng 18,7m3. Thời gian lâm tặc triệt hạ gỗ được xác định là từ đầu năm 2014 đến thời điểm kiểm tra, 24/4/2014.
Nêu rõ nguyên nhân khiến rừng bị triệt hạ, lãnh đạo Khu BTTN Kẻ Gỗ cho hay, sau khi báo đăng và cũng như quá trình kiểm tra tại hiện trường, đơn vị đã tạm đình chỉ ngay công tác đối với 2 cán bộ là ông Lê Quang Đài (Trạm trưởng trạm Bảo vệ rừng số 2) và ông Bùi Đức Hạnh (Trạm trưởng trạm Bảo vệ rừng số 3) để phục vụ công tác điều tra, xác minh, làm rõ trách nhiệm.
Ngoài việc đình chỉ hai cá nhân nói trên, báo cáo cũng nêu rõ lãnh đạo Ban cũng đang tiếp tục làm bản kiểm điểm, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm của cá nhân, các tập thể trực thuộc để xử lý và báo cáo trước UBND tỉnh.
Cùng với việc xử lý cán bộ, báo cáo nói trên cũng cho biết, lãnh đạo Khu BTTN Kẻ Gỗ đã triển khai hàng loạt các biện pháp để ngăn chặn tình trạng lâm tặc triệt phá rừng. Cụ thể lãnh đạo Ban đã điều động 8 cán bộ tại các phòng, trạm ít xung yếu tăng cường lực lượng bảo vệ rừng cho Trạm số 2 và Trạm số 3 thuộc địa bàn xã Kỳ Thượng; tổ chức thêm 4 điểm chốt chặn tại các vị trí nhạy cảm, có nguy cơ cao nhằm kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn các hành vi khai thác vận chuyển lâm sản trên toàn tuyến và bảo vệ nguyên hiện trường. (Dân Trí 6/5) đầu trang(
Trong khi các “thợ săn” vẫn hàng ngày lùng sục trong những cánh rừng để săn bắt thú rừng phục vụ những thực khách ưa “đặc sản rừng” khiến nguồn động vật hoang dã ngày càng cạn kiệt, thậm chí tuyệt chủng, thì từ lâu, nhiều người biết đến thầy giáo Trần Quốc Việt - giáo viên Trường THCS Măng Bút, huyện Kon Plông, Kon Tum với việc làm đầy trách nhiệm: bảo vệ động vật hoang dã. (Giáo Dục & Thời Đại 5/5) đầu trang(
Chủ tịch UBND xã An Toàn Đinh Công Niên khẳng định: Khu bảo tổn thiên nhiên An Toàn đến nay đã có nhiều điểu kiện thuận lợi để đưa vào khai thác.
Đó là tuyến đường từ trung tâm xã An Hòa lên An Toàn với chiều dài 45km đã được bê tông hóa mấy năm nay, tạo điểu kiện cho phương tiện tham gia giao thông đi lại an toàn để đến với Khu bảo tồn.
Việc sớm xây dựng và triển khai các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (nhất là các dự án du lịch sinh thái) sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương và bảo vệ Khu bảo tồn trước sự xâm nhập trái phép của "lâm tặc".
Quy mô Khu bảo tồn có tổng diện tích 22.450ha, bao gồm 24 tiểu khu nằm trong qui hoạch các khu rừng đặc dụng đã được UBND tỉnh phê duyệt. Khu bảo tồn được qui hoạch xây dựng với 3 phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với tổng diện tích 6.097,9ha; Phân khu phục hồi sinh thái 16.352,1 ha và Phân khu hành chính dịch vụ.
Nhiệm vụ chủ yếu gồm các dự án như: Bảo vệ rừng, phục hồi rừng sinh thái, nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực, xây dựng cơ bản, phát triển kinh tế-xã hội, phát triển du lịch với tổng kinh phí trên 50,458 tỷ đồng và thời gian thực hiện từ nay đến năm 2020.
Ông Bùi Tiến Dũng - Phó Chủ tịch UBND huyện An Lão cho biết: Khai thác tiềm năng kinh tế và du lịch của Khu bảo tổn thiên nhiên An Toàn, huyện An Lão là nhằm bảo vệ các mẫu rừng nhiệt đới và á nhiệt đớivới tính đa dạng sinh học cao của duyên hải Nam Trung bộ; bảo vệ nhiều loài động, thực vật rừng có nguồn gen đặc hữu, quí hiếm và các loài đang bị đe dọa.
Đến nay, huyện đã qui hoạch và giao 20ha rừng cho Công ty Dược và Trang thiết bị Bình Định xây dựng Trung tâm khảo nghiệm dược liệu để khai thác, nhân giống và thu mua, chế biến các loại dược liệu quí dưới tán lá rừng để chăm lo sức khỏe cho nhân dân. (Pháp Luật VN 5/5) đầu trang(
Rừng cây “khủng” - Vườn quốc gia Nam Cát Tiên cách TP Hồ Chí Minh khoảng 150km về phía Bắc.
Nam Cát Tiên từ lâu được biết đến là khu rừng nguyên sinh, gắn với tộc người Châu Mạ. Ở đây, người ta còn tìm thấy di chỉ văn hóa Óc Eo từ nhiều thế kỷ trước, minh chứng cho sự tồn tại của con người ở vùng đất này. Một điều thú vị là từ thượng nguồn, sông Đồng Nai vượt đồi núi và luồn lách vào tận rừng Nam Cát Tiên trước khi đổ về đồng bằng, chia khu rừng này thành hai bờ riêng biệt, tạo sự đa dạng sinh học phong phú. Vì vậy, các nhà khoa học và chính quyền địa phương đã quyết liệt ngăn chặn việc xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trong khu vực bảo tồn vườn quốc gia.
Ở Nam Cát Tiên, dịch vụ du lịch được tổ chức gắn liền với giáo dục bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học. Với sự hướng dẫn của nhân viên vườn, du khách có thể tự tổ chức cho mình một chuyến khám phá đầy thú vị.
Ở Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, ngoài cây tùng “thọ” nhất với tuổi đời cả thiên niên kỷ, du khách còn khám phá được cây thiên tuế cao vời vợi, tuổi đời bằng một nửa cây tùng. Cây gõ đỏ nằm trong Sách Đỏ Việt Nam có bề hoành trên hai mét cũng ngần ấy tuổi của cây thiên tuế. Rừng ở Nam Cát Tiên được bảo vệ cực kỳ nghiêm ngặt, kể cả những cây gỗ quý bị ngã do xói mòn, mưa bão vẫn được giữ nằm nguyên giữa rừng.
Người Châu Mạ, người Ch’Ro, S’Tiêng ở đây bảo: Của rừng phải để lại rừng, không được mang về nhà. Với họ, đây là khu rừng thiêng, đã che chở, bảo bọc cho con người sống an lành từ bao đời nay. (Dulichvn.org.vn 6/5) đầu trang(
23-4, tại Trường THCS Trung Hưng (phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, HN), Sở NN&PTNT cùng Sở GD-ĐT Hà Nội đã tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch tuyên truyền công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) trong các trương trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn thị xã Sơn Tây năm 2014.
Đây là địa phương thứ tư của thành phố triển khai hoạt động này sau Ba Vì (năm 2013), Mỹ Đúc (năm 2012) và Sóc Sơn (năm 2011). (HN Mới 28/4) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa cóvăn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị triển khai kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014-2020.
Theo đó, các địa phương chỉ đạo các ban ngành xây dựng quy hoạch vùng sản xuất kinh doanh rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh (trồng rừng mới, trồng lại sau khai thác và chuyển hóa rừng trồng với mục đích kinh doanh gỗ lớn) trình UBND tỉnh phê duyệt. Tập trung tại 19 tỉnh thuộc 3 vùng sinh thái có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trồng, khai thác, vận chuyển, chế biến gỗ lớn và gắn với thị trường tiêu thụ là vùng Đông Bắc bộ, vùng Bắc Trung bộ và vùng Duyên hải Nam Trung bộ, đồng thời khuyến khích thực hiện trên phạm vi cả nước.
Trong giai đoạn 2014-2015, các tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng các mô hình kinh doanh gỗ lớn làm cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện hàng năm và triển khai nhân rộng ở các giai đoạn tiếp theo.
Riêng đối với 3 tỉnh: Bắc Giang (Mô hình chuyển hóa rừng Keo lai, Vối thuốc), Thanh Hóa (Mô hình chuyển hóa rừng Keo tai tượng) và Quảng Trị (Mô hình chuyển hóa rừng Keo lai) đề nghị xây dựng được mô hình trong năm 2014.
Ngoài ra, tổ chức lồng ghép các chương trình, dự án, nguồn vốn hiện có tại địa phương để kết hợp triển khai thực hiện các nội dung trong kế hoạch hành động được phê duyệt như chuyển hóa rừng trồng, trồng mới và trồng lại rừng với mục đích kinh doanh gỗ lớn.
Các tỉnh cũng cần xây dựng chính sách hỗ trợ của tỉnh để thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch hành động về phát triển rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn phù hợp với điều kiện của địa phương. Tạo điều kiện cho các chủ rừng phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị trồng rừng sản xuất. (Chính Phủ 6/5) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND tỉnh Kon Tum chuyển mục đích sử dụng 32,5 ha đất rừng phòng hộ sang xây dựng đường ra biên giới xã Đăk Nhoong - Đăk Blô, huyện Đăk Glei.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum chỉ đạo thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ trên và việc trồng rừng thay thế theo đúng quy định pháp luật hiện hành. (Chính Phủ 6/5) đầu trang(
Bằng nguồn vốn của chương trình 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững trong năm 2014, huyện Đam Rông sẽ được hỗ trợ để trồng 150 ha rừng ở 8/8 xã của huyện.
Để chương trình được thực hiện theo đúng tiến độ trong mùa mưa, hiện nay UBND huyện Đam Rông đã chỉ đạo cho Ngành Kiểm lâm, 2 Ban quản lý rừng ở địa phương là Serê pốc và Phi Liêng triển khai việc đốt dọn thực bì được gần 40 ha đồng thời hoàn tất nguồn cây giống đảm bảo chất lượng, số lượng để cùng các hộ gia đình nhận khoán quản lý bảo vệ rừng thực hiện.
Ngoài trồng 150 ha theo chương trình 30a trong năm nay huyện Đam Rông cũng được dự án Flitch hỗ trợ để triển khai trồng mới 300ha, hiện nay các hộ dân đã đăng ký trồng rừng được 221 ha.
Thông qua các chương trình trồng rừng nói trên sẽ góp phần tạo điều hiện cho các hộ dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống, đồng thời nâng cao độ che phủ rừng ở địa phương. (Đài PTTH Lâm Đồng 6/5) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành văn bản số 416/UBND-KTN, yêu cầu các Sở, Ban, ngành và UBND các huyện, thành phố tập trung tăng cường chỉ đạo thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2014.
Để thực hiện hoàn thành mục tiêu trồng rừng mới của tỉnh năm 2014 là 9.500 ha, trong đó vụ Xuân – Hè phấn đấu trồng mới đạt 70% kế hoạch, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban, ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2014; đặc biệt lưu ý chỉ đạo, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, hộ gia đình có dự án trồng rừng sử dụng vốn hỗ trợ, vốn vay. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng lâm nghiệp, hướng dẫn ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tăng cường thông tin tuyên truyền, khuyến khích, tạo điều kiện hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trồng rừng.
Ngoài ra, theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả giai đoạn 2008-2015 theo Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND tỉnh và tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 11/10/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển lâm nghiệp tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2020.
UBND tỉnh cũng chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục tham mưu xây dựng các chính sách khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào trồng rừng và phát triển sản xuất lâm nghiệp; kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư trồng rừng đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đề xuất xử lý đối với các dự án vi phạm về tiến độ thực hiện. Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp; rà soát, đề xuất điều chỉnh những diện tích đất lâm nghiệp sử dụng không hiệu quả cho phù hợp với năng lực tổ chức sản xuất của các tổ chức và cá nhân.
Sở Tài chính cân đối, bố trí nguồn vốn hỗ trợ lãi suất vốn vay cho các dự án trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả giai đoạn 2008 - 2015 theo Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo, đôn đốc các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình vay vốn trồng rừng, trồng cây ăn quả theo Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND.
UBND các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc công tác chuẩn bị hiện trường; khẩn trương hoàn thành việc lập hồ sơ thiết kế các hạng mục lâm sinh, trình thẩm định trước ngày 10/6/2014. Chuẩn bị giống, vật tư và những điều kiện cần thiết khác để thực hiện trồng rừng; thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, phải sử dụng giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Cùng với đó, huy động mọi nguồn lực tham gia trồng rừng và phát triển sản xuất lâm nghiệp, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao; tăng cường công tác truyên truyền, phổ biến các chính sách về phát triển lâm nghiệp và các văn bản quy định về phòng cháy chữa cháy rừng đến người dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân lập dự án hỗ trợ vay vốn theo Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển lâm nghiệp khác.
Rà soát, điều chỉnh quỹ đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình, cá nhân cho phù hợp với quy định của Luật Đất đai để phát huy hiệu quả sử dụng đất và tăng cường công tác khuyến lâm, tổng kết, nhân rộng các mô hình điển hình trong phát triển sản xuất lâm nghiệp. Tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TU; kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Langson.gov.vn 6/5) đầu trang(
Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Bình Định cho biết: Các đơn vị sản xuất kinh doanh cây giống lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện việc đăng ký kế hoạch sản xuất với 132,7 triệu cây giống các loại cung ứng cho vụ trồng rừng năm 2014.
Các chủ rừng và ban quản lý rừng đang tiến hành công tác chuẩn bị đất, cây giống cho kế hoạch trồng rừng và chăm sóc rừng trồng đợt I năm 2014; đồng thời xây dựng và triển khai các phương án phòng chống cháy rừng trong năm.
Đến nay, diện tích rừng được chăm sóc đợt I năm 2014 là 8.466ha, đạt 76,8% kế hoạch; trong đó rừng phòng hộ 283ha, rừng trồng sản xuất 8.183ha. (Sài Gòn Giải Phóng 6/5) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2014, đến trung tuần tháng 4, toàn tỉnh chuẩn bị được hơn 7 triệu cây giống các loại, đạt 52% kế hoạch.
Các huyện, thành phố đã trồng 266,6 nghìn cây phân tán; chuẩn bị hiện trường trồng rừng hơn 1.500 ha và đã trồng mới trên 1.397 ha rừng, đạt 16,3% kế hoạch. Các địa phương có diện tích trồng rừng tập trung cao là: Kim Bôi 400 ha, Lương Sơn 270 ha, Lạc Thuỷ 230 ha, Lạc Sơn trên 160 ha...
Bên cạnh đó, các địa phương đã đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và khai thác được trên 29.000 m3 gỗ, 23.965 ste củi, giá trị ước đạt trên 28 tỷ đồng. (Báo Hòa Bình 6/5) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa phê duyệt kế hoạch thu, chi tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2014. Theo đó, tổng mức thu phí dịch vụ môi trường rừng trong năm 2014 của Lâm Đồng khoảng trên 140 tỷ đồng, trong đó chủ yếu của các nhà máy thủy điện (trên 133 tỷ đồng), số còn lại thu từ các cơ sở sản xuất, cung cấp nước sạch và các đơn vị kinh doanh du lịch.
Tổng mức chi dự kiến là 185 tỷ đồng, trong đó chi trả cho các chủ rừng (các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được giao khoán bảo vệ rừng theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hoặc được giao, thuê đất trồng rừng, bảo vệ rừng) là trên 167 tỷ đồng.
Hiện dơn giá chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng ở lưu vực sông Đồng Nai là 495.000 đồng/ha/năm, lưu vực sông Sêrêpôk là 385.000 dồng/ha/năm. (Sài Gòn Giải Phóng 6/5) đầu trang(
Ông Phạm Hồng Lượng - Phó giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Trung ương -cho biết, trong khi một số tỉnh có tỷ lệ giải ngân cao như Lâm Đồng 90%, Lai Châu 98%, Yên Bái 80%, thì một số tỉnh khác vẫn còn chậm trong việc chi trả tới chủ rừng như Quảng Nam là 2%, Lào Cai 6%, Điện Biên 15%.
Hầu hết các tổ chức chính phủ quốc tế và tổ chức xã hội dân sự đều bày tỏ sự quan ngại về việc giải ngân tiền dịch vụ môi trưòng tới các chủ rừng còn chậm và đạt tỷ lệ chưa cao việc chi trả chậm.
Lý do giải ngân chậm tại một số tỉnh được đưa ra là do tỷ lệ giải ngân phụ thuộc vào số lượng, quy mô và khả năng tiếp cận tới các chủ rừng.
Hiện hầu hết các chủ rùng ở Lâm Đồng là các lâm trường quốc doanh đã có tài khoản ngân hàng, thì tỉnh Sơn La có hơn 64.000 chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình sống tại các vùng sâu, vùng xa, không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Vì vậy, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng có thể thực hiện trong 1 tháng, ngược lại ở Sơn La cần đến 3 tháng.
Theo Bộ NN&PTNT, việc chi trả sẽ áp dụng cho đối tượng là những chủ rừng tự nhiên. 2014, Bộ dự kiến sẽ duy trì đảm bảo nguồn thu khoảng 1.150 tỷ đồng để chi trả dịch vụ môi trường rừng cho hơn 4 triệu ha rừng, đảm bảo giải ngân kịp thời số tiền dịch vụ đến các chủ rừng. (Công Thương 5/5) đầu trang(
Những ngày đầu tháng 4 này, PV lên một xã vùng gò đồi thị xã Hương Trà. Bình Điền đã có những chuyển biến mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn chính trị, xã hội. Có được điều đó là nhờ chính sách phát triển kinh tế rừng của xã, cộng với người dân ngày càng chí thú hơn với việc phát triển rừng.
Xã Bình Điền có đa phần diện tích là đồi rừng. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền xã xác định rừng chính là thế mạnh, là chìa khóa giảm nghèo bền vững cho bà con nông dân. Vì vậy, xã đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đối với cuộc sống, được người dân hưởng ứng, tích cực.
Hiện nay, trên địa bàn xã có 12.000 ha rừng, trong đó 430 ha thuộc dự án WB3 và 1.100 ha người dân đang trồng và chăm sóc. Trong năm 2013-2014, được sự quan tâm của tỉnh và thị xã đã thu hồi 66 ha đất rừng của các lâm trường giao cho bà con, tạo điều kiện cho bà con phát triển sản xuất.
PV được giới thiệu về hộ gia đình ông Nguyễn Mạo, một trong những hộ phát triển mạnh nghề rừng. Con trai ông Mạo hiện là Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã, cho hay: “Gia đình anh đang trồng 16 ha rừng. Nếu tính trung bình mỗi ha thu lãi 60 triệu đồng thì với 16 ha rừng, sau 5 đến 6 năm phát triển gia đình ông thu gần 1 tỷ đồng. Như thế trung bình mỗi năm gia đình ông cũng thu nhập gần 200 triệu từ trồng rừng. Đó là chưa kể 4 ha cao su, trong đó 2 ha đang thu hoạch mỗi tháng cho thu nhập hơn 4 triệu đồng.
Từ hiệu quả của việc phát triển rừng và sự ổn định của thị trường thu mua cây lấy gỗ làm nguyên liệu giấy nên nhiều hộ gia đình đã chủ động phát triển rừng trên diện tích của mình. Nhiều hộ còn tập trung vốn mua từ vài ha đến hàng chục ha của các hộ khác để tiện trong việc mở rộng diện tích canh tác.
Hiện nay, bình quân 1 ha keo, tràm thâm canh tốt mật độ có thể lên đến trên 3.000 cây, khai thác lúc 5 - 7 năm tuổi sẽ cho năng suất khoảng 120 - 150 tấn gỗ nguyên liệu, bán xong trừ hết chi phí còn thu nhập khoảng 60 triệu đến 80 triệu đồng. Riêng cây cao su nếu mủ được giá một ha có thể cho thu nhập trên 500 ngàn đồng/ngày. Tuy nhiên, tại thời điểm này giá mủ cao su đang xuống nên bà con chỉ thu khoảng 300 ngàn đồng/ngày.
Xã Bình Điền được đánh giá là một trong những xã có phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi khá mạnh so với các địa phương khác trong toàn tỉnh. Nhiều hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh, trung ương nhờ trồng, khai thác và vận chuyển gỗ rừng trồng, nhất là ở các thôn như Bình Lộc, Vinh An, Đông Hòa... Hiện, hộ trồng ít cũng có khoảng 0,5 ha, hộ trồng nhiều lên đến cả 20 ha.
Ngoài ra, trồng rừng cũng giúp giải quyết hàng trăm lao động ở địa phương. Số lao động này chủ yếu được thuê mướn với tiền công 150 ngàn đồng đến 300 ngàn đồng/ngày để trồng mới, chăm sóc cây non trong những năm đầu và khai thác khi cây đến tuổi. Các đơn vị ươm cây giống, vật tư nông nghiệp cũng thu nhập khá nhờ cung ứng dịch vụ cho trồng rừng.
Ông Trần Tranh, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Điền kể: Trước đây, đời sống của người dân nơi đây gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu phát triển kinh tế là theo hình thức tự cung tự cấp, thu nhập chỉ dựa vào cây sắn, hạt lúa, hạt ngô trên nương, trên rẫy. Năm nào thời tiết không thuận lợi thì năm ấy có đến vài tháng thiếu đói. Thiếu kinh nghiệm lẫn kỹ thuật, người dân trong xã chủ yếu tự nhân giống cây con để trồng vì thế cây khi phát triển không đảm bảo về chất lượng.
Nhờ sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước và các dự án nhất là dự án WB3 tiến hành giao đất, giao rừng tập huấn kỹ thuật cũng như cung cấp giống đạt chất lượng cho bà con. Từ đây đưa trồng rừng trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực của người dân địa phương. Người dân ở đây còn biết thực hiện có hiệu quả phương châm “lấy ngắn nuôi dài” thông qua việc trồng các loại cây ngắn ngày xen dưới những tán rừng keo, tràm, cao su để có thêm nguồn thu nhập.
Một thực tế hiện nay, tổng diện tích rừng của địa phương là 12.000 ha nhưng đa phần là của các lâm trường và các công ty, số đất rừng do xã và nhân dân quản lý chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Vì thế, chưa thể phát huy hết được tiềm năng thế mạnh của địa phương. (Báo TT-Huế 6/5) đầu trang(
2014, Hạt kiểm lâm Phù Ninh được UBND tỉnh giao chỉ tiêu trồng rừng dự án bảo vệ và phát triển rừng với diện tích 100ha.
Là huyện đồng bằng có diện tích đất lâm nghiệp ít, manh mún chiếm chưa đầy ¼ diện tích tự nhiên của toàn huyện nên việc triển khai thực hiện kế hoạch gặp nhiều khó khăn.
Ngay từ đầu năm, được sự chỉ đạo của chủ đầu tư là UBND huyện, Hạt kiểm lâm Phù Ninh đã vận động nhân dân khai thác và trồng thay thế cây trồng mới trên những khu rừng bạch đàn chồi kém chất lượng; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền hướng dẫn nhân dân kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng.
Đến nay, toàn huyện đã cấp đủ 100 ha cây giống keo tai tượng hạt ngoại đến bà con chủ rừng và tổ chức trồng rừng đúng khung thời vụ. (Báo Phú Thọ 6/5) đầu trang(
2014, tỉnh Phú Thọ đề ra kế hoạch trồng 6.420 ha rừng, trong đó: Dự án bảo vệ và phát triển rừng là 3.375 ha, Tổng công ty giấy Việt Nam là 1.535 ha; Các thành phần kinh tế khác là 1.510 ha.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra, ngay từ đầu Quý III năm 2013, các đơn vị sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức vệ sinh, chuẩn bị vườn ươm, vật tư phục vụ sản xuất gieo ươm cây giống.
Dù cuối năm 2013, đầu năm 2014 thời tiết diễn biến bất lợi, rét đậm, rét hại kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến công tác sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp; song với công nghệ tiên tiến như nuôi cấy mô, sử dụng hạt giống nhập ngoại cùng quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt sản xuất giống, đến nay các đơn vị sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã gieo ươm được trên 11,4 triệu cây giống các loại có chất lượng tốt, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đáp ứng đầy đủ cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng năm 2014. (Sở NN&PTNT Phú Thọ 5/5) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang