|
Ngày 07 tháng 02 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được triển khai trên địa bàn tỉnh Yên Bái góp phần nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên, sự chênh lệch về mức chi trả giữa các lưu vực và việc “nợ tiền” phí DVMTR của các đơn vị được hưởng lợi đang cản trở chính sách này.
Ban quản lý rừng phòng hộ Mù Cang Chải ký cam kết quản lý, bảo vệ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Yên Bái.
DVMTR là chính sách mới được triển khai tại Yên Bái. Theo đó, các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng. Tại tỉnh Yên Bái, các đối tượng sử dụng DVMTR hoạt động năm 2012-2013 gồm các cơ sở sản xuất thủy điện gồm 13 nhà máy với tổng công suất 4.628,8 Mw và 3 cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch với tổng công suất 16.500m3/ngày đêm.
Huyện Mù Cang Chải có trên 65.000 ha rừng nằm trong diện tích rừng được chi trả phí DVMTR với đơn giá chi trả tại lưu vực sông đà là 318.859,0 đồng/ha (trong đó chi trả trực tiếp cho hộ nhận khoán là 286.973 đồng/ha); lưu vực sông hồng là 33.816 đồng/ha, tổng số tiền chi trả DVMTR được quỹ bảo vệ phát triển rừng cấp trong năm 2012 là 15 tỷ đồng.
Ông Lý A Sử, Phó chủ tịch UBND xã Nậm Khắt cho biết: “Sau khi rà soát cả xã có 5.636 ha được chi trả phí, với diện tích này các hộ nhóm hộ sẽ được nhận trên 1,135 tỷ đồng, góp phần tăng thu nhập và nâng cao ý thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng”.
Ông Giàng Nhà Trử, Trưởng bản Háng Cơ Bua phấn khởi cho biết: “Khi biết được nhận tiền chi trả phí DVMTR, bà con trong thôn ai cũng háo hức, phấn khởi. Ước cả thôn sẽ nhận được 97 triệu đồng tiền phí này, tạo điều kiện giúp bà con giữ rừng tốt hơn”. Xã Khao Mang, huyện Mù Cang Chải có 3.297 ha rừng được chi trả phí DVMTR diện tích này thuộc lưu vực sông Đà sẽ nhận được trên 1 tỷ đồng.
Theo ông Giàng A Hà, Phó chủ tịch UBND xã: “Đa số người dân sống bằng nghề nông-lâm nghiệp nên việc được nhận tiền phí chi trả DVMTR là động lực trong việc bảo vệ và phát triển rừng do đó việc tuyên truyền bảo vệ rừng sẽ có nhiều thuận lợi hơn. Bà con có thêm thu nhập từ rừng, nên chắc chắn sẽ giữ rừng tốt hơn”.
Hiện nay, huyện Mù Cang Chải đang áp dụng mức chi trả giao khoán bảo vệ rừng với đơn giá 200.000đồng/ha (áp dụng cho huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ). Với chính sách chi trả DVMTR thì người dân được hưởng lợi khi mức giao khoán bảo vệ rừng ở lưu vực sông đà lên trên 318.000 đồng/ha, tỉnh sẽ tiết kiệm được số tiền lớn hàng năm chi trả cho các hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng bằng nguồn kinh phí Nhà nước.
Ông Háng A Sa, Chủ tịch UBND xã Nậm Có cho biết: “Việc được nhận phí chi trả DVMTR bà con rất phấn khởi. Nhưng chúng tôi không khỏi lo lắng khi mà mức tiền hỗ trợ chênh lệch ở hai lưu vực sông Hồng và sông Đà là quá lớn. Trên địa bàn xã có 3 thôn: Làng Giàng, Lùng Cúng, Phình Ngài với tổng diện tích rừng trên 1.907ha không được chi trả, nếu không tuyên truyền tốt rất khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn xã”.
Ông Lê Văn Hùng, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mù Cang Chải cho biết: “Tổng diện tích rừng chúng tôi quản lý được chi trả 38.837 ha. Trong đó có 2 xã Nậm Có và Cao Phạ nằm trong lưu vực sông Hồng nên mức chi trả là 30.434 đồng/ha. Tuy nhiên, bà con được cộng thêm mức chi trả giao khoán bảo vệ rừng với đơn giá 200.000đồng/ha(áp dụng cho huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ) nên vẫn đảm bảo trên 220.000 đồng/ha. Mức phí này còn tăng khi các nhà máy thuỷ điện đi vào hoạt động nên chúng tôi tuyên truyền người dân sẽ hiểu”.
Tại Hội nghị triển khai chính sách chi trả DVMTR mới diễn ra tại huyện Mù Cang Chải, nhiều xã đã đề nghị cho phép huyện Mù Cang Chải được điều chỉnh đơn giá chi trả DVMTR theo phương án lấy tổng số tiền được chi trả tiền DVMTR năm 2012 chia đều cho tổng diện tích rừng hiện có của huyện đang quản lý bảo vệ, để đơn giá chi trả cho 1 ha rừng bình quân là như nhau với mức giá bình quân là 244.294, 8 đồng/ha.
Theo báo cáo của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng thì hiện nay còn một số đơn vị chưa chi trả phí DVMTR gồm các nhà máy thủy điện: Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Nậm Đông 3, Nậm Đông 4, Hưng Khánh, Mường Kim, Hồ Bốn trong đó có Nhà máy thủy điện Hưng Khánh, Nậm Tục 2, Ngòi Hút 1 đã kí hợp đồng, còn các đơn vị trên chưa ký hợp đồng và chưa thực hiện nghĩa vụ chi trả phí DVMTR với tổng số tiền nợ lên tới gần 5 tỷ đồng. Điều đáng nói là số tiền này các đơn vị đã được tính vào đơn giá bán điện với mức 20 đồng/kw điện.
Ông Kiều Tư Giang, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Yên Bái cho biết: “Việc các đơn vị nợ tiền đã làm ảnh hưởng đến chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn, khi họ chậm nộp tiền thì cũng đồng nghĩa với việc Quỹ chậm chi trả cho người dân, Quỹ không có nguồn nào để ứng cho người bảo vệ rừng được mà đều phải dựa vào nguồn quỹ các đơn vị phải đóng, do vậy Quỹ vẫn chưa thể chi trả được”.
Chỉ tính riêng huyện Mù Cang Chải, trong tổng số tiền phải chi trả cho các chủ rừng là 15 tỷ đồng, Quỹ mới tạm ứng được 10,4 tỷ đồng trong đó Ban quản lý rừng phòng hộ Mù Cang Chải là 6,4 tỷ đồng và Ban quản lý khu bảo tồn loài - sinh cảnh 4 tỷ đồng. Việc các đơn vị chây ỳ không thực hiện chi trả đã ảnh hưởng đến tiến độ của chính sách. (Báo Yên Bái 7/2)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo Cục Kiểm lâm cảnh báo, sau nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, nhiều khu vực thuộc các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Trong đó, các khu vực đang ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm thuộc các tỉnh: An Giang, Bình Phước, Bình Thuận, Ðác Lắc, Ðồng Nai, Ðác Nông, Gia Lai, Kiên Giang, Kon Tum, Lâm Ðồng, và Tây Ninh.
Các khu vực ở cấp IV, cấp nguy hiểm gồm nhiều khu vực thuộc các tỉnh Bắc Giang, Ðồng Nai. Ban chỉ đạo trung ương phòng cháy chữa cháy rừng yêu cầu các địa phương và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 7/2) đầu trang(
Anh Bùi Bình Yên, Giám đốc Khu Bảo tồn cho biết: Sau khi BQL Khu bảo tồn được thành lập, cùng với quết tâm của cả hệ thống chính trị và nhận được sự đồng lòng của nhân dân trong vùng, đến nay, tình trạng chặt phá rừng vận chuyển gỗ đã gần như được đẩy lùi.
Nhận rõ tầm quan trong trong việc bảo vệ, gìn giữ rừng, trong những năm qua, BQL khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông đã tích cực làm tốt công tác tham mưu, phối hợp tuyên truyền, vận động đến hàng ngàn hộ gia đình trong khu vực khu bảo tồn nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Bình quân hàng năm, BQL đã phối hợp với UBND các xã mở hàng chục lớp tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cộng đồng dân cư, thôn, bản về giá trị của tài nguyên rừng.
Mặt khác, xác định việc ngăn chặn, bắt giữ các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngay tận gốc luôn là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị. Bởi vậy, BQL đã thường xuyên chỉ đạo kiểm lâm điạ bàn đảm bảo 2/3 thời gian có mặt tại địa bàn. Đồng thời, thành lập nhiều chốt kiểm tra cơ động 24/24 h tại xã Tự Do, Ngọc Sơn, Ngọc Lâu với sự tham gia của chính quyền địa phương nhằm ngăn chặn, bắt giữ và xử lý các hành vi vi phạm rừng.
Đặc biệt, năm 2012, điểm mới đáng chú ý chính là công tác phối hợp trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng với các lực lượng chức năng như công an, quân đội, UBND xã có nhiều khởi sắc. Việc phân cấp bắt giữ, xử phạt hành vi vi phạm lâm luật đối với chính quyền xã phần nào tạo sự chủ động và trách nhiệm cao hơn. Cùng với đó, mô hình tham gia của người dân vào bảo vệ rừng đặc dụng cũng được đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng đến bảo vệ rừng từ gốc.
Cũng trong năm, BQL đã tổ chức ký kết quy chế phối hợp bảo vệ rừng vùng giáp ranh Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông với sự tham gia của các ban, ngành liên quan hai huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, 15 xã trên địa bàn và vùng giáp ranh.
Tuy nhiên, cũng theo anh Bùi Bình Yên, hầu hết người dân trong vùng kinh tế còn khá nhiêù khó khăn. Trong khu bảo tồn hiện có gần 2.700 hộ với 13.500 nhân khẩu đang sống tại 51 xóm, trong khi đó, đất dùng cho sản xuất nông nghiệp chỉ có 1.654 ha. Do vậy, đây là một trong những nguyên nhân tạo sức ép rất lớn đối với việc bảo vệ rừng.
Để bảo vệ rừng bền vững, đời sống nhân dân phải từng bước được cải thiện. Chính vì vậy, Khu BTTN đã từng bước quan tâm giải quyết việc làm tạo nguồn thu nhập thông qua các hỗ trợ về trồng rừng, giao khoán bảo vệ rừng (Dự án 661). Ngoài ra, một số chương trình do các tổ chức quốc tế tài trợ đã phát huy hiệu quả tích cực đối với cộng đồng dân cư như Hội tình nguyện Nhật Bản phát triển nông thôn qua phát triển sinh kế...cũng phần nào có tác động tích cực đến đời sống của người dân.
Ngay như năm 2012, BQL khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông đã thực hiện dự án: Ngọc Sơn - Ngổ Luông có sự tham gia của các tổ chức địa phương trong quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng (EU); chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững mà trọng tâm hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ rừng, bảo tồn đa sinh học và tập huấn nang cao năng lực cho cán bộ khu bảo tồn.
Thông qua chương trình này, đến nay đã có 100 hộ dân được nhận khoán bảo vệ trên 962 ha rừng. Các diện tích giao khoán đã được nghiệm thu cơ sở và được đánh giá bảo vệ cây phát triển tốt. Mới đây, BQL khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông đã thành lập được Chi hội du lịch sinh thái tại xã Tự Do (Lạc Sơn). (Báo Hòa Bình 7/2)đầu trang(
Để đảm bảo an toàn về công tác bảo vệ rừng trước, trong và sau Tết Nguyên đán, các đơn vị thuộc ngành Kiểm lâm đã thực hiện kế hoạch duy trì chế độ thường trực đảm bảo quân số theo quy định, sẵn sàng làm nhiệm vụ ứng cứu các tình huống cháy rừng, khai thác rừng trái phép, vận chuyển, buôn bán trái phép có thể xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng tập trung các huyện Nam Đàn, Nghi lộc, Đô Lương, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, TP Vinh và các huyện vùng cao.
Các hạt kiểm lâm và các đội Kiểm lâm cơ động phòng cháy chữa cháy rừng duy trì chế độ thường trực sẵn sàng, quân số, phương tiện kỹ thuật, hậu cần để ứng cứu các tình huống cháy rừng có thể xảy ra; Thường xuyên tuần tra, cài cắm nắm vững thông tin, mọi diễn biến hoạt động của lâm tặc, tham mưu cho chính quyền địa phương tổ chức lực lượng để xử lý.
Các đơn vị: hạt kiểm lâm, đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng, vườn quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống thường xuyên nắm bát thông tin mọi diễn biến tình hình klhai thác rừng, cũng như vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép ở địa bàn, tổ chức lực lượng bắt giữ và xử lý. (Đài PT- TH Nghệ An 7/2)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2013, tỉnh Yên Bái phấn đấu trồng 15.000ha rừng phòng hộ, rừng kinh tế, trong đó có 9.000ha được trồng trong vụ xuân.
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng trong điều kiện thời tiết bất ổn, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, đầu ra cho sản phẩm bấp bênh, cần phải có giải pháp, kế hoạch cụ thể từ tỉnh đến cơ sở.
Kinh tế lâm nghiệp đã và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Chỉ tính riêng trong năm 2012, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt trên 500 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn hộ dân. Trồng rừng không chỉ có tác dụng phòng hộ, cải thiện môi trường sinh thái, tạo nguồn sinh thủy mà còn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến, thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhiều năm nay, việc trồng và phát triển nghề rừng là một việc làm thường xuyên của các địa phương và người dân nông thôn.
Năm 2012, toàn tỉnh trồng mới trên 15.023ha rừng, khoanh nuôi, bảo vệ tốt 600.000ha rừng hiện có. Năm nay, Yên Bái phấn đấu trồng 15.000ha rừng. Đây không phải là diện tích quá lớn nhưng trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế vẫn tiếp tục gặp khó khăn, thị trường tiêu thụ nông sản biến động khó lường, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, nếu không có sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt và xây dựng các giải pháp cụ thể ngay trong vụ xuân này sẽ rất khó có thể hoàn thành kế hoạch.
Ông Kiều Tư Giang - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh cho biết: “Kế hoạch trồng 15.000ha rừng trong năm không phải là lớn, nhất là việc trồng rừng và phát triển vốn rừng đã trở thành nghề không thể thiếu trong đại bộ phận người dân nông thôn. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đang khó khăn, giá vật tư phân bón tăng cao, cần phải có sự chỉ đạo sát sao và sự nỗ lực cao của toàn xã hội”.
Với trách nhiệm của mình, ngay từ những ngày cuối năm 2012, Chi cục đã xây dựng kế hoạch tới từng địa phương đồng thời phối hợp rà soát quỹ đất, tiến hành tổ chức vận động các chủ vườn ươm, các ban quản lý rừng gieo ươm cây giống. Đến nay, đã có 3.570 ngàn cây giống (bạch đàn, keo, sơn tra, bồ đề) đủ tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ cho trồng rừng vụ xuân.
Các địa phương cũng đã chuẩn bị đất, phân bón và sẽ trồng trên 8.000ha rừng vụ xuân, chủ yếu là rừng kinh tế. Ngoài việc chuẩn bị giống, đất, các địa phương, các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang cũng cần tổ chức tuyên truyền sâu rộng về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây và tổ chức Tết trồng cây đầu xuân Quý Tỵ. Năm nay, tỉnh sẽ đồng loạt ra quân trồng rừng vụ xuân vào ngày 18 tháng 2 năm 2013 (tức ngày mùng 9 tháng Giêng năm Quý Tỵ). (Báo Yên Bái 6/2)đầu trang(
Nhằm đạt được mục tiêu nâng độ che phủ của rừng trên toàn huyện lên 46,8%, mùa trồng rừng vừa qua, các địa phương vùng gò đồi ở huyện Hải Lăng đã trồng mới gần 1.500 ha rừng tập trung, rừng phòng hộ và 11 vạn cây phân tán, trong đó có hơn 1.000 ha rừng kinh tế với các giống keo tai tượng và keo lá tràm, đạt kế hoạch đề ra.
Các địa phương tham gia trồng rừng đều đã chủ động được nguồn giống gieo ươm tại chỗ, đồng thời được sự hỗ trợ kịp thời kinh phí trồng và chăm sóc rừng của các chương trình, dự án nên người dân đã đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và đảm bảo chất lượng rừng trồng đạt tỷ lệ sống trên 96%. (Báo Quảng Trị 5/2)đầu trang(
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu lâm sản và ĐVHD từ các tỉnh phía Nam qua địa bàn tỉnh trong dịp trước, trong và sau Tết Quý Tỵ, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng (KLCĐ & PCCCR) số 1 đã chủ động tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng đến người dân.
Kết hợp việc xử lý vi phạm, hoạt động kiểm tra, kiểm soát. Từ đó, người dân đã tích cực phát hiện, tố giác, phát giác các đối tượng mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép, giúp lực lượng chức năng ngăn chặn, bắt và xử lý kịp thời các vụ vi phạm. Chủ động xây dựng mạng lưới thông tin từ Nam ra Bắc trong nhân dân, đổi mới liên tục công tác trinh sát, thu thập thông tin, phương thức hoạt động tuần tra và biết dựa vào chính quyền, tai mắt của nhân dân để phát hiện chính xác các thủ đoạn mới và triệt phá các ổ nhóm, các đường dây buôn bán lâm sản nguy hiểm của “lâm tặc”.
Phối hợp kịp thời, có hiệu quả với các đơn vị thuộc Công an tỉnh và một số cơ quan chức năng trong bắt giữ và xử lý các vụ việc phức tạp; quản lý lâm sản, bảo vệ tang vật sau khi xử lý, chế độ xuất, nhập đúng nguyên tắc, đúng quy chế, không để xảy ra thất thoát hoặc thiếu hụt.
Năm 2012, Đội KLCĐ & PCCCR số 1 đã bắt giữ và xử lý 249 vụ vi phạm, tổng tiền thu nộp ngân sách Nhà nước gần 17,2 tỷ đồng (kế hoạch giao năm 2012 là 12 tỷ đồng), tăng 43% so với năm 2011.
Kết quả nổi bật là an ninh rừng trên địa bàn nội tỉnh đã được giữ vững và tương đối ổn định, các tuyến tỉnh lộ và Quốc lộ 1A (qua địa bàn Thanh Hóa) được kiểm soát chặt chẽ, các điểm nóng về khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản trên địa bàn các huyện miền núi không xảy ra, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sớm được phát hiện, xử lý đúng quy định. (Báo Thanh Hóa 7/2) đầu trang(
Vừa qua, UBND tỉnh phê duỵêt đề tài trồng khảo nghiệm một số loại cây dược liệu tại xã Hang Kia và Pà Cò, huyện Mai Châu.
Theo đó, trong thời gian tới Ban Dân tộc sẽ triển khai thực hiện trồng khảo nghiệm 6 loại cây thảo dược bao gồm đương quy, bạch chỉ, xuyên khung, huyền sâm, hà thủ ô đỏ, giảo cổ lam. Đây là những cây thuốc quý hiếm thường sống vùng núi đá lạnh có giá trị kinh tế cao. Mục đích đề tài tìm ra loại cây phù hợp với điều kiện địa phương để nâng cao thu nhập tạo việc làm góp phần xoá đói giảm nghèo cho hai xã khó khăn. (Báo Hòa Bình 7/2) đầu trang(
Những năm gần đây, Hữu Lũng nổi lên phong trào trồng, chế biến gỗ rừng sản xuất. Từ những xưởng chế biến gỗ đã tạo giá trị gia tăng cho rừng. Cũng từ đây, nghề rừng phát triển và mang lại cho người dân một cuộc sống đủ đầy.
Anh Lương Long Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hữu Lũng cho biết, gỗ rừng Hữu Lũng không còn xuất bán để làm giàn giáo, cột trụ lò nữa mà được chế biến xuất khẩu sang tận Ma - Lai-xi-a, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, khi cây vải bị thoái hóa, bão hòa, người dân Hữu Lũng cũng chuyển hướng sang trồng bạch đàn theo cách của nông dân các tỉnh lân cận. Người dân chủ yếu tập trung vào trồng rừng sản xuất. Rừng Hữu Lũng với chất đất rất phù hợp với cây bạch đàn, keo nên chu kỳ trung bình 5 năm rừng đã cho thu hoạch.
Năm 2005, huyện đã ra nghị quyết về lãnh đạo phát triển nghề rừng, trong đó tập trung vào khâu chế biến tiêu thụ, khuyến khích các công ty đầu tư mở xưởng, nhà máy tại chỗ để tạo công ăn việc làm. Ngay sau khi có chủ trương, nhiều công ty như Hòa Việt, Việt Anh, Thịnh Lộc…đã tăng cường đầu tư vào các xưởng bóc, băm dăm, sấy, sơ chế để xuất khẩu. Cũng bắt đầu từ đây người dân không còn bị ép giá, không lo khâu tiêu thụ nên yên tâm trồng rừng.
Theo anh Lương Long Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện hiện mỗi năm, Hữu Lũng phát triển được trên 1.500 ha rừng trồng, khai thác chế biến trên 10 ngàn m3 gỗ. Từ gỗ rừng trồng mang lại cho người làm rừng Hữu Lũng hàng chục tỷ đồng. Điều đó đã kích thích sản xuất, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.
Nhận thấy lợi ích của chế biến gỗ rừng trồng tại chỗ mang lại, huyện đã tăng cường các biện pháp khuyến khích chế biến tại chỗ như: tư vấn, hỗ trợ chính sách thuế, tạo các điều kiện về vệ sinh môi trường để các xưởng hoạt động. Cho đến nay, toàn huyện Hữu Lũng đã có trên 20 cơ sở chế biến gỗ rừng trồng bằng hình thức bóc, sấy, băm dăm.
Anh Nguyễn Văn Việt, Giám đốc Công ty chế biến gỗ Hòa Việt chia sẻ, có thời điểm, so với bán gỗ thô, giá trị sản phẩm sau sơ chế tăng 50%, trừ chi phí ít nhất lãi thêm 25% so với bán gỗ thô. Có tích lũy, đầu tư trở lại công nghệ vì thế sản phẩm gỗ sơ chế ở Hữu Lũng ngày càng có chất lượng cao. Riêng xưởng anh đã tạo 20 chỗ làm ổn định cho lao động địa phương, còn lao động thời vụ có lúc phải tuyển thêm cả chục người. (Báo Lạng Sơn 7/2)đầu trang(
UBND huyện Cát Tiên vừa tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán năm 2012 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2013.
Trong năm 2012, lực lượng kiểm lâm huyện Cát Tiên tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và đã phát hiện, xử lý 36 trường hợp vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng, giảm 19 vụ so với cùng kỳ năm ngoái.
Đối với công tác phòng cháy chữa cháy rừng, mùa khô năm 2011 - 2012, huyện Cát Tiên tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân không phát đốt rừng bừa bãi, đồng thời chủ động, tích cực trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, vì vậy trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 1 vụ cháy rừng gây thiệt hại 0,15 hecta rừng đặc dụng; công tác chi trả tiền giao khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện theo đúng quy định, với tổng số tiền đã chi trả là hơn 9,3 tỷ đồng. (Báo Lâm Đồng 7/2)đầu trang(
Trên thị trường Hà Nội vẫn nhộn nhịp những món quà tiền tỷ biếu sếp được tiêu thụ mạnh mặc dù đã có chỉ thị nghiêm cấm mọi hình thức tặng quà Tết cho cấp trên.
Ngoài những thứ quen thuộc như vàng, bạc, đá quý thì những món quà liên quan đến bồi bổ sức khỏe cũng được tiêu thụ mạnh để làm quà biếu sếp. Đó là loại đông trùng hạ thảo - một loại được tôn là biệt dược thần kỳ giúp tăng cường sức khỏe.
Anh Nguyễn Văn Đương (Đống Đa, Hà Nội), một trong những người chuyên cung cấp Đông trùng hạ thảo tươi cho biết, loại 1 có giá 1,8 triệu đồng/1gram (tương đương 1,8 tỷ đồng/cân) con khá to, khoảng 1.500 con/kg. Loại 2 có giá 1,2 triệu đồng/1gram (tương đương 1,2 tỷ đồng/cân), con nhỏ hơn khoảng 2.500 con/kg.
Cũng theo anh Đương, từ cuối năm 2012, công ty của anh nhập từ Tây Tạng 3 kg Đông trùng hạ thảo và đến nay đã bán được hơn 2 kg. “Hầu hết khách hàng đều là những người có tiền, sẵn sàng bỏ ra vài trăm triệu để mua quà biếu sếp. Sếp ở đây chủ yếu là quan chức.
Không chỉ Đông trùng hạ thảo tươi thu hút được giới “đại gia” săn làm quà biếu, Đông trùng hạ thảo khô và các chiết xuất của nó cũng thu hút một lượng không nhỏ khách hàng có nhu cầu mua làm quà vào dịp cuối năm.
Cô Hồng, người nhà ông Lang An – chuyên bán Đông trùng hạ thảo (Hoài Đức) cho biết, “Đông trùng hạ thảo khô nguyên con có giá 10 triệu/20gram là loại đắt nhất được nhập từ Trung Quốc. Ngoài ra có hộp thuốc chế từ Đông trùng hạ thảo giá 1,5 triệu đồng/hộp, nước: 2-3 triệu đồng/10 ống. Khách từ Hà Nội xuống mua Đông trùng hạ thảo khô nhiều và cửa hàng cũng chỉ còn vài trăm gram”.
Cũng giống như thực phẩm cao cấp Đông trùng hạ thảo, nhung hươu, yến sào được coi là vị thuốc bổ, cao cấp dùng trong các trường hợp cơ thể suy nhược, thần kinh suy nhược cũng được giới “đại gia” săn biếu quà sếp.
Tại một cửa hàng bán nhung hươu trên phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội), giá nhung hươu được chia làm hai loại tươi và khô. Loại tươi có giá 1,7 triệu đồng/100gram, loại khô có giá 900.000 đồng/100gram. Tính ra, mỗi kg nhung hươu tươi có giá 170 triệu đồng và khô là 90 triệu đồng.
Tại cửa hàng bán yến sào trên đường Kim Mã (Ba Đình, Hà Nội) cho biết: Năm nào cửa hàng cũng hết hàng trước khi dân công sở nghỉ Tết, vì khách hàng phần lớn đều mua biếu, nên thường đặt trước. Yến sào huyết bán chạy nhất, chỉ hai tuần trước Tết cửa hàng bán trên 20 cân yến sào huyết, yến sào trắng có giá mềm hơn khoảng 110 triệu đồng/cân cũng bán hết veo trong vòng nửa tháng với số lượng 20 cân.
Trước đó, Ban Bí thư đã nghiêm cấm mọi hình thức tặng quà Tết cho cấp trên.
Ông Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư vừa ký ban hành chỉ thị số 21 về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
"Không tổ chức để các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi thăm, chúc Tết các địa phương. Kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng (03-02-2013) là năm lẻ, không tổ chức đón, tiếp khách tại trụ sở các cơ quan đảng. Nghiêm cấm mọi hình thức tặng quà Tết cho cấp trên; không được sử dụng tiền, phương tiện, tài sản công trái quy định vào các hoạt động trong dịp Tết và Xuân Quý Tỵ", chỉ thị nêu rõ.
UBND thành phố Hà Nội vừa yêu cầu các sở ngành, quận huyện, thị xã phải thực hiện nghiêm quy định về việc không tiêu thụ các sản phẩm động vật hoang dã nguy cấp theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ TNMT tại văn bản ngày 22/1/2013.
Thành phố yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; không mua, bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu, tặng, tổ chức tiệc liên hoan trong dịp Tết Nguyên đán, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
UBND các quận huyện, sở ngành phải phối hợp với các cơ quan chức năng, kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, tăng cường tuyên truyền về các nội dung liên quan đến quy định nêu trên. (Đất Việt 7/2)đầu trang(
Trên địa bàn huyện Bù Đăng hiện có 4 đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé, Công ty TNHH MTV Cao su Phú Riềng, Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng và Hạt kiểm lâm Bù Đăng. Những năm qua, dù huyện đã nỗ lực trong việc ngăn chặn phá rừng, xâm canh, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, nhưng tình hình vẫn diễn biến phức tạp.
Theo số liệu thống kê của Hạt kiểm lâm huyện, tổng diện tích đất lâm nghiệp bị xâm canh, lấn chiếm trái phép trên địa bàn đến tháng 12-2012 là 2.104,36 ha, chủ yếu thuộc các lâm phần do Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé và Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng quản lý.
Cụ thể, dự án Công ty cổ phần SX-XD-TM&NN Hải Vương với diện tích 594 ha tại các tiểu khu 309, 313, 315, 316 bị xâm canh lấn chiếm 100%; dự án Công ty cổ phần Kinh Thành với diện tích 462,2 ha thuộc Tiểu khu 319 bị xâm canh lấn chiếm 83%; dự án thực hiện Quyết định số 33/QĐ-TTg của huyện Bù Đăng với diện tích 226 ha tại các tiểu khu 311, 316 bị xâm canh, lấn chiếm 66,4%...
Ông Nguyễn Anh Hoàng, Chủ tịch UBND huyện Bù Đăng cho biết: Nguyên nhân dẫn đến phá rừng và lấn chiếm đất rừng là do các chủ rừng buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng, không phát hiện kịp thời các điểm phá rừng, lấn chiếm đất để phối hợp kịp thời với Ban bảo vệ rừng xã và kiểm lâm địa bàn đề ra biện pháp xử lý.
Sự phối hợp giữa chủ rừng với chủ dự án, ban bảo vệ rừng của các xã và kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng tại các khu vực quy hoạch cho các dự án chưa chặt chẽ, nhất là diện tích rừng khoanh nuôi để lại trong vùng dự án. Một số dự án thời gian hoàn thiện các thủ tục kéo dài hoặc chậm triển khai theo tiến độ được duyệt. Thậm chí một số dự án không đủ năng lực thực hiện dẫn đến tình trạng người dân phá rừng lấy đất sản xuất...
Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng vẫn là trách nhiệm chính trong bảo vệ rừng giữa chủ rừng và chủ dự án chưa rõ ràng. Cụ thể, theo quy định hiện nay, khi chưa có quyết định của UBND tỉnh về việc thu hồi đất của chủ rừng để giao cho các chủ dự án thì trách nhiệm quản lý vẫn thuộc chủ rừng. Trong khi đó một số văn bản của UBND tỉnh cũng như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chỉ đạo giao trách nhiệm cho chủ dự án có nhiệm vụ giữ rừng, dẫn đến sự đùn đẩy trách nhiệm giữa 2 chủ thể.
Theo đề xuất của ông Nguyễn Anh Hoàng tại hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh năm 2012, để hạn chế tình trạng xâm canh, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, với diện tích rừng khoanh nuôi nằm rải rác trong cùng dự án, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các chủ rừng lập hợp đồng giao khoán để giao và quy định trách nhiệm cho chủ dự án nếu để xảy ra mất rừng.
Đối với diện tích rừng khoanh nuôi sau khi bị mất rừng có diện tích nhỏ lẻ, không tập trung đã được các chủ dự án trồng cao su, đề nghị UBND tỉnh thuận chủ trương thu hồi cùng với diện tích 10% chủ dự án liên doanh giao lại cho chủ rừng quản lý.
Ông Hoàng cũng mong muốn, tỉnh tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tư vấn, quy hoạch rừng của tỉnh khảo sát đánh giá lại trữ lượng, hiệu quả rừng khoanh nuôi để có kế hoạch bảo vệ hoặc tiếp tục thu hồi, chỉ chuyển đổi mục đích khác có hiệu quả hơn. Các dự án chậm tiến độ thực hiện trên lâm phần Nông lâm trường Nghĩa Trung (thuộc Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé) và Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng phải thu hồi để thực hiện nghiêm công tác bảo vệ rừng và sử dụng hiệu quả đất lâm nghiệp... (Báo Bình Phước 5/2)đầu trang(
Được UBND tỉnh Đắk Lắk giao đất trồng rừng, nhưng Công ty TNHH Thương mại và sản xuất Lộc Phát lại đi trồng cà phê. Đến nay, cà phê đã được hơn 3 năm, tỉnh mới phát hiện ra và yêu cầu công ty phải chặt bỏ để trồng lại rừng.
Năm 2008, UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho Công ty Lộc Phát (ở huyện Krông Năng) 326ha đất lâm nghiệp ở tiểu khu 106, xã Ea Hiao (huyện Ea H’leo) để trồng rừng nguyên liệu. Nhưng sau đó, công ty này lại vừa trồng rừng nguyên liệu vừa trồng cà phê.
Theo báo cáo của UBND huyện Ea H’leo, năm 2008, công ty đã trồng 250ha keo lai tại khoảnh 3, 4 và 7; trồng 26ha cà phê chè tại khoảnh 9 của tiểu khu 106. Từ năm 2009 đến năm 2012, công ty tiếp tục trồng 16ha cà phê chè tại khoảnh 9. Khi đoàn kiểm tra liên ngành của huyện Ea H’leo đến kiểm tra vào ngày 1-11-2012, công ty đang cho công nhân và máy móc san ủi hơn 6ha đất để trồng cà phê chè tại khoảnh 7 của tiểu khu 106.
Dù đã tự ý trồng cà phê trên đất lâm nghiệp sai mục đích dự án nhưng ông Hồ Đắc Dũng (Giám đốc Công ty Lộc Phát) lại cho rằng công ty đã vận dụng trồng cà phê theo Quyết định 178 ra ngày 12-11-2001 của Thủ tướng “về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp” để lấy ngắn nuôi dài và tạo thêm thu nhập cho công nhân (?).
Nhưng ông Y Manh Ađrơng, Phó Chủ tịch UBND huyện Ea H’leo, cho biết, Công ty Lộc Phát đã trồng cà phê không đúng theo mục dự án được phê duyệt và không đúng đối tượng được thụ hưởng theo Quyết định 178.
Ngày 30-1, chúng tôi có mặt tại tiểu khu 106 thì công ty này vẫn đang cho công nhân trồng cà phê tại khoảnh 7, dù trước đó UBND huyện Ea H’leo đã yêu cầu công ty ngừng việc trồng cà phê. Nằm cạnh vườn cà phê trồng từ năm 2008 và 2009 đã cho thu hoạch, khu đất mới cũng đã phủ kín gần hết cây cà phê chè. Trong khi vườn cà phê xanh tốt, vườn keo nằm cạnh đó lại còi cọc, khẳng khiu và chưa biết đến bao giờ mới được thu.
Bà Cao Thị Vân, Đội trưởng Đội quản lý, chăm sóc và bảo vệ rừng của công ty, trần tình: “Đất ở đây bị nhiễm chất độc hóa học, trồng keo không tốt đâu, chỉ trồng được cà phê chè thôi (?). Vườn cà phê này do công nhân công ty góp vốn đầu tư hơn 5 tỷ đồng, bây giờ cây cà phê đã cho thu hoạch rồi, nếu chặt bỏ đi thì phí lắm”.
Theo bà Vân, vườn cà phê của công ty đã cho thu hoạch 2 vụ rồi và bình quân mỗi vụ lãi hơn 1 tỷ đồng. Nhưng theo tiết lộ của một cán bộ huyện Ea H’leo, vườn cà phê này đã thu lợi về cho Công ty Lộc Phát khoảng 5 tỷ đồng. Vì thế, công ty đang tìm mọi cách để giữ lại vườn cà phê này.
Công ty Lộc Phát đã trồng cà phê tại tiểu khu 106 từ năm 2008, nhưng không hiểu sao đến ngày 1-11-2012 thì đoàn liên ngành của huyện Ea H’leo mới vào kiểm tra và báo cáo tỉnh xử lý. Ông Y Manh Ađrơng, Phó Chủ tịch UBND huyện Ea H’leo, cũng cho rằng: Sau hơn 3 năm mới phát hiện ra công ty này trồng cà phê trên đất lâm nghiệp là quá muộn.
Trách nhiệm này thuộc về Hạt Kiểm lâm và Phòng NN-PTNT huyện vì đây là hai cơ quan giám sát, tham mưu cho huyện về các dự án lâm nghiệp nhưng họ đã không báo cáo kịp thời việc trồng cà phê trái phép của công ty này.
Nhưng chính bà Cao Thị Vân lại cho biết: “Năm nào cán bộ huyện cũng đi kiểm tra dự án nhưng chẳng thấy họ nhắc nhở hay bảo dừng việc trồng cà phê gì cả. Đột nhiên, mới đây họ đi kiểm tra và bảo công ty chúng tôi trồng cà phê sai mục đích dự án” (?!).
Ngày 22-1, Sở NN-PTNT Đắk Lắk đã có báo cáo gửi UBND tỉnh đề nghị cho Công ty Lộc Phát được phá bỏ 48,178ha cà phê chè đã trồng trái phép trước ngày 15-2 và trồng lại rừng trên diện tích này trong năm 2013. Nếu sau thời hạn đó công ty không phá bỏ cà phê và trồng lại rừng, tỉnh sẽ thu hồi dự án này và không bồi thường tài sản trên đất công ty đã đầu tư.
Trong khi đó, Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk lại thống nhất thu hồi dự án này theo chỉ đạo tại công văn số 8448 vào ngày 28-12-2012 của UBND tỉnh. Nhưng theo ông Y Manh Ađrơng, tỉnh nên cho công ty trồng xen cây rừng vào diện tích cà phê, vẫn giữ cây cà phê để có thu nhập và trả chi phí đầu tư. Sau khi cây rừng đã khép tán, yêu cầu phá bỏ diện tích cà phê trồng trái phép cũng chưa muộn. Như vậy, đến nay cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa thống nhất ý kiến việc thu hồi hay không thu hồi dự án này của Công ty Lộc Phát. (Sài Gòn Giải Phóng 6/2)đầu trang(
BÌNH LUẬN
Từ quan niệm cộng sinh, giữa con người và tự nhiên dần tách rời và trở nên “lệ thuộc” nhau, mà rõ nhất là câu chuyện giữ rừng. Giảm bớt sự lệ thuộc vào rừng - kinh nghiệm mà Quảng Nam đúc kết sau hơn 2 năm siết chặt các biện pháp bảo vệ rừng - cũng mở ra giải pháp mới để rừng đỡ bị xâm hại.
Số liệu thống kê từ tháng 6.2010 đến tháng 8.2012 của UBND tỉnh cho thấy ngành chức năng đã phát hiện 3.144 vụ vi phạm liên quan đến rừng, bình quân mỗi ngày có đến 4 vụ việc bị ngăn chặn. Diện tích rừng tự nhiên bị phá từ những vụ việc này cũng được ghi nhận bằng một số liệu: gần 2,5 triệu m2. Mà đấy chỉ là thiệt hại đo đếm được từ các vụ xâm hại bị phát hiện. Và rừng, trong hoàn cảnh này, chính là đối tượng bị “lệ thuộc” vào sự can thiệp nhiều hay ít của con người...
Nhưng cái gốc của vấn đề, như báo cáo của UBND tỉnh về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 4.6.2010 của Tỉnh ủy (về tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng và phát triển rừng), lại nằm ở chỗ: Phải sớm tìm cách để con người không phải “lệ thuộc” vào rừng.
Những ngày giáp tết, các cửa rừng ở Quảng Nam gần như bị giám sát chặt hơn bao giờ hết sau khi chính quyền khởi động chiến dịch truy quét trước, trong và sau tết, trong đó có nội dung ngăn không cho các đối tượng mang phương tiện, dụng cụ vào rừng trái phép. Ngay đến diện tích thăm dò vàng gốc ở Phước Sơn cũng bị xem xét “cắt” bớt với lý do giảm sự ảnh hưởng đến rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và một phần Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh…
Nhắc lại câu chuyện này để thấy, tác nhân xâm hại rừng không chỉ có người dân địa phương. Nhưng trong một giải pháp mang tính bền vững, chính quyền địa phương vừa xem chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, định canh định cư là cách “giảm bớt sự lệ thuộc” vào rừng. Là bởi, khi cuộc sống ổn định, người dân sẽ không phải tìm kiếm khoản thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái pháp luật.
Cuộc sống của người dân miền núi phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng, áp lực xấu tác động vào rừng tự nhiên ngày càng lớn khi diện tích đất trồng rừng nguyên liệu chưa đáp ứng. Vì thế, sẽ dễ hiểu vì sao tiến độ hoàn thiện đề án giao rừng gắn với giao đất cho các ban quản lý rừng được thúc giục như thế, phải tổ chức thực hiện từ năm 2013 và phấn đấu hoàn thành sau 2 năm nữa.
Xâm hại tài nguyên rừng không phải bây giờ mới xảy ra, nhưng xâm hại một cách dồn dập, bằng nhiều hình thức thì quả thật đang ở mức cao điểm. Từ cộng sinh, đã dần chuyển sang tận diệt, và câu “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” mà dân gian đúc kết không phải là vô cớ.
Nên chi, yêu cầu giảm bớt sự lệ thuộc vào rừng thông qua thúc đẩy sinh kế trong vài ba năm tới buộc phải song hành với biện pháp ngăn chặn từ bên ngoài (ngoại kích) như đang mở chiến dịch ngăn chặn từ trước tết, may ra rừng mới được bảo toàn. (Báo Quảng Nam 6/2)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Bọn săn trộm đã giết hơn 11.000 con voi tại Gabon, nơi từng được coi là thiên đường của voi rừng châu Phi, để lấy ngà từ năm 2004 tới nay.
Hơn một nửa voi rừng châu Phi, khoảng 40.000 con, sống tại Gabon. Ngà của voi tại Gabon là thứ hấp dẫn đối với bọn săn trộm vì chúng rất cứng và có sắc hồng.
Cơ quan quản lý các vườn quốc gia Gabon (ANPN), Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) và Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên (WCS) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng săn trộm voi ở Gabon, BBC đưa tin.
"Kết quả của nghiên cứu cho thấy từ 44-77% số lượng voi tại Gabon, tương đương với hơn 11.000 con, đã bị giết trong khoảng thời gian từ năm 2204 tới nay", tiến sĩ Fiona Maisels, một chuyên gia của WCS, phát biểu.
Giới bảo tồn luôn nghĩ Gabon là nơi an toàn đối với voi rừng châu Phi. Nhưng nghiên cứu mới cho thấy nạn săn voi tại đây đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính phủ. Các tổ chức bảo tồn cho rằng nhu cầu cao đối với đồ trang sức và các sản phẩm khác từ ngà voi tại châu Á khiến bọn săn trộm đẩy mạnh hoạt động giết voi trong những năm qua.
Trước đây Cộng hòa Dân chủ Congo, nước láng giềng của Gabon, là điểm nóng về nạn săn trộm voi. Nhưng do nhu cầu mua ngà voi tăng vọt ở châu Á nên bọn săn trộm từ Congo tràn sang cả những vạt rừng trong vườn quốc gia Minkebe của Gabon để tìm voi.
Chính phủ Gabon đã tăng cường các biện pháp chống săn trộm voi, song Bas Huijbregts - một nhà bảo tồn của WWF - nhận định rằng những biện pháp đó không phát huy tác dụng.
"Diện tích vườn quốc gia Minkebe vào khoảng 30.000 km2, tương đương với diện tích nước Bỉ. Đường mòn không tồn tại trong vườn quốc gia Minkebe nên nhân viên bảo vệ rừng không thể phát hiện và theo dõi những kẻ săn trộm", Huijbregts nói.
Nhà chức trách thừa nhận khoảng 50 tới 100 con voi bị hạ sát mỗi ngày trong vườn quốc gia Minkebe vào năm 2011. Phần lớn hung thủ giết voi tới từ Cameroon. Sau khi hạ sát voi, chúng thuê người vận chuyển ngà qua biên giới phía bắc của Gabon. (Vnexpress.net 7/2) đầu trang(
Một chú chó con đã được sinh ra từ phôi đông lạnh, và giới khoa học hy vọng sẽ dùng kỹ thuật này để duy trì nòi giống của những loài động vật hoang dã đang kề cận bờ vực tuyệt chủng như sói và cáo.
Klondike là tên của chú chó đầu tiên tại Tây Bán Cầu được tượng hình từ phôi đông lạnh. Nó là loài lai giữa chó săn thỏ với Labrador, và dù chẳng giống chó nào trong hai loài này đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, sự tồn tại của Klondike là tin tức đáng mừng cho những loài thuộc họ chó đang dần biến mất trong tự nhiên.
Theo các chuyên gia Đại học Cornell (Mỹ), chó mẹ thuộc loài săn thỏ của Klondike đã được thụ tinh nhân tạo, và các phôi thụ tinh được đông lạnh cho đến khi chó mang thai hộ (cũng là chó săn thỏ) sẵn sàng tiếp nhận.
Do chu kỳ của chó chỉ có thể mang thai một hoặc hai lần trong năm, việc đông lạnh được phôi của họ chó đặc biệt quan trọng để phối hợp đúng thời điểm nhằm chuyển phôi thụ tinh sang cá thể mang thai hộ.
“Chu kỳ sinh sản của chó rất khác với những loài động vật có vú”, theo Newswise dẫn lời chuyên gia Alex Travis của Đại học Cornell.
Ông Travis cho hay nhóm của mình đang nỗ lực tìm hiểu sự khác biệt trên nhằm phát triển các công cụ khác nhau, từ thuốc ngừa thai đến duy trì sự đa dạng sinh học của những loài bị đe dọa tuyệt chủng bằng cách hỗ trợ sinh sản.
Theo các chuyên gia, quá trình đông lạnh các vật chất như trứng hoặc phôi đã thụ tinh có thể là kỹ thuật cần thiết để nhân giống các loài đang đối diện nguy cơ biến mất hoàn toàn. (Thanh Niên 7/2)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||