|
Ngày 06 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Đó là số liệu được đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng năm 2015 khu vực Nam Bộ do Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) tổ chức sáng 5/11 tại Kiên Giang.
Tham dự hội nghị có lãnh đạo Cục Kiểm lâm, chi cục Kiểm lâm 19 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam.
Ông Nguyễn Ngọc Nhật, Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm cho biết, theo số liệu thống kê, tổng hợp từ 19 chi cục Kiểm lâm các tỉnh, thành phố Nam Bộ, từ đầu năm đến nay đã phát hiện 1.875 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó đã xử lý hình sự 22 vụ, phạt hành chính 1.736 vụ, thu nộp ngân sách 10,6 tỉ đồng. Các địa phương phát hiện, xử lý nhiều vụ vi phạm là Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cà Mau…
Trong đó, có 120 vụ phá rừng trái phép thuộc các tỉnh Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Kiên Giang… Phát hiện và xử lí 337 vụ khai thác lâm sản trái phép ở các địa phương có rừng tự nhiên như Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Nai… Có 704 vụ mua, bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật, tịch thu 758 m3 gỗ.
Có 12 tỉnh, thành phố để xảy ra cháy rừng với 49 vụ, diện tích bị cháy là 141,6 ha, giảm 25% về số vụ so với năm 2014 nhưng về diện tích lại tăng 59,1%. Các vụ cháy rừng với diện tích cháy lớn trong thời gian qua đều tập trung ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, An Giang… Nguyên nhân chính dẫn đến cháy rừng chủ yếu là do ý thức chủ quan của người dân khi đốt đồng, nương rẫy, dùng lửa bắt ong trong rừng… (Chính Phủ 5/11; Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
Ngày 5-11, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, từ đầu năm đến nay, tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, đầu độc cây rừng tại địa phương diễn ra phức tạp. Lực lượng chức năng đã lập biên bản 1.578 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 58 vụ và hơn 62 ha so cùng kỳ.
Tổng số vụ vi phạm đã xử lý là 1.424 vụ, trong đó xử phạt hành chính 1.378 vụ, chuyển xử lý hình sự 46 vụ. Chủ yếu các hành vi: phá rừng trái phép 419 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 358 vụ, khai thác rừng trái phép 348 vụ… Qua xử lý vi phạm, cơ quan chức năng đã tịch thu 571 phương tiện, dụng cụ; hơn 1.757 m3 gỗ; 150 cá thể, 118 kg thịt động vật; thu nộp ngân sách 32 tỷ đồng.
Liên quan đến hàng loạt vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh, sau khi tiến hành kiểm tra, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Đoàn Văn Việt đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với tập thể, người đứng đầu và cá nhân liên quan.
Đồng thời, kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc giao khoán đất rừng sản xuất theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Chính phủ trên địa bàn tỉnh; trước mắt, tạm ngưng việc giao khoán đất rừng theo nghị định này, tiến hành tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm đã được giải tỏa để đưa vào kế hoạch trồng lại rừng năm 2016. (Nhân Dân 5/11; Sài Gòn Giải Phóng 6/11) đầu trang(
Người bán cho rằng nhà nào sở hữu được đầu của linh dương sẽ không có ma quỷ nào dám đến quấy phá.
Thời gian gần đây, xuất hiện nhóm người chở đầu linh dương còn nguyên sừng đi bán khắp các tỉnh, thành ở ĐBSCL. Cụ thể, vào sáng 5-11, trên đường Nguyễn Trung Trực thuộc phường An Bình, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, 1 người đàn ông trạc 50 tuổi, chở 7 đầu động vật lạ nên nhiều người hiếu kỳ kéo đến xem.
Người này cho biết đây là bộ đầu còn nguyên sừng của linh dương sừng xoắn được mang từ vùng Tây Nguyên về bán lại. Tùy vào chiều dài của sừng mà giá bán dao động từ 3,5 triệu đồng đến hơn 4 triệu đồng/bộ.
Anh Quách Huy Thịnh, một người dân ở đây cho biết đây là lần đầu tiên anh tận mắt chứng kiến bộ đầu của con vật này mà từ trước đến nay chỉ biết qua các chương trình về động vật trên truyền hình.
“Thoáng nhìn thì thấy nó cũng đẹp và lạ. Tuy nhiên, tôi không dám mua vì không biết nói là hàng thật hay giả. Vả lại, do người bán giới thiệu là nhà nào sở hữu được bộ thủ cấp này sẽ trừ ma, diệt quỷ nên tôi càng không muốn mua”- anh Thịnh hoài nghi.
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Bành Thanh Hùng, Trưởng Phòng Bảo vệ rừng và Bảo tồn Thiên nhiên thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang, cho biết linh dương sừng xoắn thuộc nhóm động vật quý hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Tuy nhiên, để có thể biết được hàng thật hay giả thì rất khó vì những người này thường thay đổi địa điểm mua bán.
“Chúng tôi sẽ tìm mọi biện pháp để xử lý nếu như việc mua bán động vật này xảy ra trên địa bàn”- ông Hùng khẳng định. (Người Lao Động 5/11) đầu trang(
Ngày 5-11, Hoàng thân Đan Mạch Hen-rích Ma-ri-ê Han-xơ An-đrét (Henrik Marie Hans Andres)-chồng Nữ hoàng Đan Mạch Ma-gơ-rét Đệ nhị (Margrethe II), Chủ tịch danh dự tổ chức World Wide Fund for Nature (WWF) Đan Mạch - cùng đoàn lãnh đạo cấp cao của WWF Đan Mạch đã có buổi tiếp xúc với báo chí nhân chuyến thăm Việt Nam từ ngày 28-10 đến 5-11.
Dành nhiều cảm xúc cho Việt Nam, Hoàng thân Hen-rích chia sẻ, ông đã có dịp thăm lại ngôi nhà nơi ông đã sống 5 năm đầu đời tại số 80 Phan Đình Phùng, Hà Nội khi cha ông phụ trách các doanh nghiệp gia đình trong lĩnh vực công nghiệp.
Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Hoàng thân đã dành phần lớn thời gian đi thăm các dự án được tài trợ bởi WWF Việt Nam và WWF Đan Mạch, đặc biệt là mô hình du lịch sinh thái Nhà Dài thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên, các mô hình bảo tồn đa dạng sinh học tại Huế, Đà Nẵng... Đánh giá về công tác bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam, Hoàng thân Hen-rích cho biết: “Việt Nam là đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên và có nỗ lực lớn trong công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên”.
Hoàng thân bày tỏ hy vọng các tổ chức như WWF Việt Nam sẽ nỗ lực hơn nữa để mở rộng các mô hình bảo tồn đa dạng sinh học. Được biết, Hoàng thân Hen-rích là người đã thành lập WWF Đan Mạch cách đây 43 năm. WWF Đan Mạch đã hỗ trợ và hợp tác chặt chẽ với WWF Việt Nam trong nhiều năm qua, đặc biệt trong dự án thúc đẩy nuôi trồng tôm bền vững. (Quân Đội Nhân Dân 5/11; Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Chuyện chúa sơn lâm dũng mãnh bị con người hạ gục bằng nhiều cách được ghi chép, kể lại đến ngày nay
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Võ Khoa Châu, năm nay 71 tuổi, ở làng Tân Mỹ, TT.Vạn Giã (H.Vạn Ninh, Khánh Hòa) dẫn chúng tôi đến cây sộp cổ thụ cách nhà ông chừng 200 m, nói: “Xưa kia, một con cọp bị người dân hạ gục, đem về để tại gốc cây sộp này”.
Người dân làng Tân Mỹ ngày nay vẫn truyền nhau câu chuyện ông Đinh Văn Bé đánh cọp để cứu con chó quý. Theo nhà nghiên cứu Võ Khoa Châu, chuyện xảy ra cách đây đã hơn 50 năm. Ông Bé khi ấy ngoài 30, là người cao lớn, giỏi võ nghệ. Ông nuôi một đàn chó săn, trong đó có con chó đầu đàn rất tinh khôn.
Một lần, ông Bé dẫn đàn chó ra Sơn Đừng (thuộc xã Vạn Thạnh, H.Vạn Ninh) săn thú. Bỗng nhiên, một con cọp từ đâu xuất hiện chồm lên, chụp đúng con chó đầu đàn. Con chó sủa lên thảm thiết. Thấy vậy, ông Bé cầm một khúc cây có gai nhọn xông đến đánh tới tấp vào đầu cọp để cứu con vật quý. Trúng đòn, cọp vằn nhả con chó ra nhưng vẫn ngồi lên trên và dùng chân giữ chặt con mồi, mắt gườm gườm nhìn ông Bé. Bất ngờ, cọp quật đuôi, phóng lên hòng vồ người. Ông Bé cúi xuống né được.
Người và cọp quần nhau một hồi lâu, đoạn cọp vồ hụt, va vào một gốc cây sau lưng ông Bé, làm bật cả rễ. Ông Bé thừa thế, quay người giáng những đòn chí tử vào đầu cọp. Hạ được cọp, ông Bé chạy đến chỗ con chó đầu đàn, nhưng nó đã chết do bị cọp bấm yết hầu. Con cọp được đem về gốc cây sộp của làng Tân Mỹ. Người dân kéo đến xem đông như hội.
Quận trưởng nghe tiếng, liền cho lính xuống chở cọp về quận và thưởng cho ông Bé 5.000 đồng.
Vạn Ninh xưa kia cũng là một vùng đất nhiều cọp dữ. Về chuyện bắt cọp, người dân địa phương còn lưu truyền câu chuyện người săn cọp sau đó bị cọp bắt. Ba người nọ lên rừng, phát hiện trong hang có mấy chú cọp con mà không thấy cọp mẹ đâu nên bắt cọp con mang về dưới làng để bán cho sở thú. Một đêm, ba người ra ngoài sân nhà nằm ngủ thì cọp mẹ về làng, bắt người nằm giữa tha đi. Sau vụ đó, dân làng không dám ngủ ngoài sân nữa và mỗi khi đi rừng, đi tìm trầm kỳ, người ta nằm ngủ kiểu “quây tròn”, vì không ai dám nằm giữa.
Nhà thơ Giang Nam cho biết trước năm 1945, quê ông ở TX.Ninh Hòa (Khánh Hòa) nổi tiếng nhiều cọp. Người dân thường đào những hố sâu trên rừng núi để bẫy cọp. Hố này sâu lút đầu người, miệng hố rộng khoảng 2 m2, bên trên phủ lá cây để “ngụy trang”. “Khi cọp “sập bẫy”, hố sâu nhưng lại hẹp nên cọp không có “thế” lấy đà phóng lên. Cọp kiệt sức, người ta quây trên miệng hố, dùng dây trói cọp rồi đưa lên, mang về bán cho các sở thú”, nhà thơ Giang Nam kể.
Cũng khoảng thời gian này, ở Ninh Hòa có ông Giáo Nhân làm những bẫy cũi lớn, đặt rải rác ở vùng núi Ổ Gà để nhử cọp. Trong cũi nhốt một con chó sống làm mồi. Cọp vào trong cũi ăn mồi thì cửa ngoài sập xuống. Cọp dính bẫy, người ta giữ lại bộ da, còn bộ xương nấu cao.
Chuyện săn bắt cọp một thời còn diễn ra ngay tại Nha Trang. Nhà thơ Nguyễn Tư Giản từng viết: “Đại Lãnh văn viên cô nguyệt hạ /Nha Trang xạ hổ loạn vân gian” (nhà thơ Quách Tấn dịch: “Lắng vượn trăng mờ đêm Đại Lãnh /Bắn hùm mây rối núi Nha Trang”).
Trong cuốn Những chuyện kể dân gian tại Khánh Hòa, tác giả Lê Quang Nghiêm cho biết khoảng năm 1935 - 1942, tại Nha Trang có nhóm 5 - 7 người Pháp và vài người Việt thường săn bắn cọp để giải trí. Tay súng thiện xạ người Pháp lai tên là Charles, con ông kỹ sư Pháp mà người ta thường gọi ông Lục Điếc, hay rủ bạn là sĩ quan Pháp hoặc người Pháp là chủ đồn điền cao su Suối Dầu đi cùng.
Săn được, vật quý lưu lại tặng bạn bè là bộ da cọp. Mấy tay săn cọp dùng súng bắn đạn chài. Những tay thiện xạ thích dùng súng trường bắn đạn xoáy, vì hiệu quả hơn nhờ sức công phá mạnh khoét rộng vết thương con vật.
Nhà thơ Giang Nam vẫn còn nhớ một câu chuyện buồn. Khoảng trước năm 1954, khi đó ông công tác ở Ty Thông tin tỉnh Khánh Hòa. Có lần, đoàn công tác từ H.Diên Khánh về lại chiến khu Đồng Bò ở Nha Trang vào đêm tối. Khi ngang qua một quãng rừng thì thấy có ánh đèn pin loang loáng.
Mọi người biết đó là nhóm người phục vụ cho Pháp đi săn cọp và thú rừng nên khi thấy đèn pin thì nằm xuống, không cựa quậy. Tuy nhiên, có một đồng chí làm “động”, bị toán thợ săn bắn chết. Biết bắn nhầm người, nhóm đi săn mặc kệ, bỏ đi. (Thanh Niên 6/11) đầu trang(
Ngày 24/7/2015, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) tiếp nhận hồ sơ vụ mua bán, cất giữ lâm sản trái phép do Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột chuyển để điều tra xử lý theo thẩm quyền cùng tang vật là 35 hộp gỗ xẻ chủng loại pơ mu nhóm IIA có khối lượng 9,565m³.
Để phục vụ cho công tác điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Buôn Ma Thuột đề nghị ai là chủ sở hữu 35 hộp gỗ xẻ chủng loại pơ mu nhóm IIA có khối lượng 9,565m³ do Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột tạm giữ ngày 15/5/2015 tại tổ 22, Buôn Păm Lăm, phường Tân Lập, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk thì liên hệ với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Buôn Ma Thuột, địa chỉ: 1 Lý Thái Tổ, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để làm việc.
Quá trình làm việc gặp ông Nguyễn Trọng Lý – Điều tra viên, số điện thoại:05003.955612. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo, nếu không có tổ chức, cá nhân nào đến nhận, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Buôn Ma Thuột sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. (Công An Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa cảnh báo nguy cơ cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm và nguy hiểm tại 18 tỉnh trên cả nước.
Theo đó, nhiều khu vực thuộc 18 tỉnh thành trên cả nước đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Cụ thể, các khu vực sau đang ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm, nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh: Tỉnh Phú Thọ có khu vực Hạ Hòa, Cẩm Khê, Tam Nông, Yên Lập; tỉnh Quảng Ninh có khu vực Ba Chẽ, TX. Cẩm Phả. (Chính Phủ 6/11) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đắk Nông, toàn tỉnh hiện có hơn 126.000ha rừng dễ cháy, tập trung nhiều ở các huyện Đắk G’Long, Tuy Đức, Đắk R’Lấp.
Chi cục Kiểm lâm trực thuộc sở và một số đơn vị liên quan đang tập trung công tác phòng cháy chữa cháy rừng, nhất là trong bối cảnh mùa khô năm nay đến sớm và được dự báo gay gắt hơn các năm trước.
Toàn tỉnh Đắk Nông hiện có gần 254.000ha đất có rừng, bao gồm hơn 220.000ha rừng tự nhiên, phần còn lại là rừng trồng. Do đặc điểm rừng phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh và thường xuyên chịu tác động bởi các hoạt động của con người; thảm thực vật rừng khá đa dạng và phong phú, mùa khô kéo dài trung bình từ 5-6 tháng mỗi năm nên nguy cơ cháy rất cao.
Việc chữa cháy rừng cũng gặp nhiều khó khăn do địa bàn dàn trải, nhiều khu vực có địa hình phức tạp, độ dốc lớn. Những năm gần đây, tình trạng người dân di cư tự do đến phá rừng và sống gần rừng cũng gia tăng thêm nguy cơ cháy rừng.
Trước thực trạng trên, ngành chức năng tỉnh Đắk Nông đã kiện toàn, thành lập hơn 103 Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng trực tiếp tại cơ sở, bao gồm 49 Ban trực thuộc các xã có diện tích rừng lớn, nguy cơ cháy cao; 54 Ban thuộc các công ty lâm nghiệp, khu bảo tồn, doanh nghiệp ngoài quốc doanh…
Tỉnh cũng thành lập 115 tổ đội phòng cháy chữa cháy rừng từ cấp tỉnh đến cơ sở với gần 2.000 người tham gia để nâng cao ý thức cảnh giác, phòng cháy chữa cháy rừng cũng như phản ứng sớm, kịp thời hơn khi có sự cố xảy ra.
Ngoài ra, nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2015-2016, tỉnh đã xây dựng, làm mới và tu sửa gần 150ha các diện tích đường băng trắng cản lửa; thực hiện biện pháp giảm vật liệu cháy có kiểm soát trên diện tích gần 500ha.
Tỉnh cũng tu sửa, xây mới nhiều chòi canh giữ lửa rừng cũng như chấn chỉnh, lắp mới hệ thống hàng nghìn biển báo cấm lửa, bảng nội quy, dự báo cấp cháy rừng… tại nhiều khu vực có nguy cơ cháy rừng cao.
Đoàn kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng của các chủ rừng cũng như tăng cường tuyên truyền tới đông đảo nhân dân về tầm quan trọng của công tác này.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông, ngành chức năng sẽ kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng cũng như khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác này nhằm giảm thiểu thấp nhất số vụ, diện tích rừng bị cháy.
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với chính quyền cấp cơ sở xây dựng phương án huy động lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ; tăng cường theo dõi, canh gác tại các khu vực trọng điểm, nhất là vào những tháng cao điểm mùa khô (khoảng tháng 1-3/2016) sắp tới. (Vietnam + 6/11) đầu trang(
Mô hình nuôi nai lấy nhung, đem lại hiệu quả kinh tế cao, từ lâu đã phát triển mạnh ở nhiều tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tại Trà Vinh mô hình này được khởi xướng và nhân rộng trong 8 năm trở lại đây
Theo lãnh đạo UBND xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, Trà Vinh, người đầu tiên khởi xướng mô hình nuôi nai lấy nhung ở địa phương là ông Nguyễn Văn Hẳng, ở ấp 2. Từ một cặp nai giống ban đầu mua với giá khoảng trên 20 triệu đồng thời điểm năm 2007, đến nay gia đình đồng đã phát triển đàn nai lên tới hàng chục con.
Ngoài đàn nai sinh sản và để khai thác lấy nhung, gia đình ông còn bán nai giống cho những hộ nuôi nai trong vùng, với giá 30 triệu đồng/cặp nai giống 1 năm tuổi; 45 – 50 triệu đồng/cặp nai giống 2 năm tuổi, giá nhung nai 15 triệu đồng/kg. Từ năm 2008 đến nay, ông đã bán được 80 triệu đồng nai giống và trên 140 triệu đồng nhung nai, trừ mọi chi phí đã bắt đầu có lợi nhuận trên 160 triệu đồng.
Một số hộ nuôi nai cho biết, nai tuy là động vật hoang dã, nhưng rất dễ chăm sóc, sức đề kháng tốt, ít bị bệnh, chuồng trại làm cũng đơn giản, có thể xây tường, hoặc dùng lưới B40 bao quanh, có mái che mưa, nắng và sạch sẽ thoáng mát. Người nuôi nên chú ý, cần ngăn chia từng ô từ 8- 10 m2 để nhốt riêng từng con đực, tránh nai húc nhau, ảnh hưởng tới chất lượng nhung.
Thức ăn cho nai cũng phong phú và dễ kiếm, giá rẻ như cỏ, lá các loại cây rừng, trong đó có lá mít và lá sung nai rất khoái khẩu, ngoài ra người nuôi có thể cho nai ăn thêm thức ăn tinh như cám, lúa, đậu. Khẩu phần của nai ăn cũng không nhiều như dê, bò mỗi ngày chỉ cần cho nai ăn 2 lần và buổi sáng và tối, vì trong tự nhiên nai có đặc tính thích ăn đêm.
Nai đực nuôi khoảng được 3 tuổi bắt đầu cho nhung, từ lúc nai mọc nhung cho tới khi thu hoạch được khoảng 50 ngày và thời gian thu hoạch nhung lần tiếp theo cách lần thứ trước khoảng 10 tháng. Nai có vòng đời khoảng 30 năm, trong suốt thời gian nuôi, nai đực nếu được chăm sóc tốt, mỗi con cho thu hoạch nhung 2 lần/năm và trọng lượng nhung cũng tăng theo độ tuổi của nai, trung bình mỗi năm tăng từ 350 – 400 gram.
Nai cái nuôi khoảng 25 tháng tuổi bắt đầu sinh sản, mỗi năm đẻ 1 con, nai cái tuy không cho nhung, nhưng có sức sinh sản tốt, giúp tăng nhanh đàn nai và bán nai giống cũng cho lợi nhuận cao.
Hiện nay đầu ra của con nai giống và nhung nai rất ổn định, vì địa phương đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh cấp phép, tạo điều kiện cho nông dân nhân rộng mô hình, đa dạng hóa giống vật nuôi cho giá trị kinh tế cao, góp phần xóa nghèo ở địa phương. Lãnh đạo xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè cho biết, địa phương đã và đang xác định mô hình nuôi nai lấy nhung là một mô hình mới, hướng phát triển mới trong chăn nuôi, cần được nhân rộng.
Tuy nhiên, để mô hình nuôi nai lấy nhung phát triển mạnh hơn nữa, người nuôi rất cần sự tham gia tích cực từ phía các ngân hàng, để người nuôi có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay đầu tư ban đầu. Đặc biệt là đầu tư mua con giống, khoảng từ 30 triệu đồng – 50 triệu đồng/cặp (tùy tuổi của nai), đây là một số tiền không phải người nông dân nào cũng có khả năng đầu tư. (Dân Sinh 6/11) đầu trang(
Ngay từ đầu mùa khô năm 2015, UBND huyện Nà Hang đã chỉ đạo các biện pháp tăng cường quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), hạn chế thấp nhất những thiệt hại xảy ra.
Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn Trung ương, thời tiết khí hậu năm 2015 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, mùa khô sẽ đến sớm và khắc nghiệt... nguy cơ dẫn tới cháy rừng là rất cao. Trước tình hình đó, ngay từ đầu mùa khô hanh, Ban chỉ huy PCCCR huyện Nà Hang đã triển khai các phương án bảo vệ rừng và PCCCR năm 2015.
Hạt Kiểm lâm huyện Nà Hang tiến hành khoanh vùng trọng điểm, xây dựng các phương án PCCCR cụ thể, sát với tình hình thực tế ở mỗi một khu vực, vùng có khả năng xảy ra tình trạng phát, đốt, xâm chiếm đất lâm nghiệp, phát thực bì trồng rừng trái phép. Toàn huyện xác định ý thức tự bảo vệ rừng của người dân là quan trọng, do đó công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng và PCCCR được thường xuyên.
Hạt Kiểm lâm Nà Hang phát huy phương tiện truyền thanh cơ sở tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng, phát hàng nghìn tờ rơi nói về bảo vệ rừng, PCCCR cho các chủ rừng, học sinh ở các xã trọng điểm; nhắc nhở mọi người đi vào rừng không đem lửa gây cháy rừng vào những ngày nắng nóng kéo dài.
Đồng chí Hoàng Quang Huy, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nà Hang cho biết, lực lượng kiểm lâm huyện còn mỏng, vì vậy nếu không có sự vào cuộc của các cấp chính quyền thì công tác PCCCR thực sự rất khó khăn. Hạt đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện chỉ đạo và tổ chức thực hiện bảo vệ rừng, PCCCR khi có tình huống xảy ra.
Đồng thời tổ chức hội nghị chuyên đề về triển khai công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR; thành lập tổ công tác liên ngành hỗ trợ công tác quản lý bảo vệ rừng, kiểm soát, giám sát các hoạt động khai thác, vận chuyển, sơ chế lâm sản.
Từ đầu năm đến nay, Hạt đã tổ chức được 38 buổi tuyên truyền pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, PCCCR cho 2.262 lượt người nghe; thực hiện ký cam kết bảo vệ rừng giữa Chủ tịch UBND xã với Chủ tịch UBND huyện được 8/8 xã, thị trấn; trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố ký cam kết với Chủ tịch UBND xã, thị trấn được 99/99 thôn, tổ; hộ gia đình ký cam kết với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố được 1.644 hộ. Củng cố kiện toàn các Ban Chỉ đạo, tổ, đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng và PCCCR từ huyện đến cơ sở.
Đối với cấp huyện, thành lập 1 Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với 23 thành viên do đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách kinh tế làm Trưởng ban; đội cơ động bảo vệ rừng, PCCCR với 20 thành viên.
Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã tham mưu mỗi xã xây dựng và kiện toàn 8/8 Ban Chỉ huy với 205 thành viên; củng cố kiện toàn tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, PCCCR thôn, bản 99 tổ, với 615 người tham gia; cấp 244 bộ dụng cụ chữa cháy rừng cho 8/8 xã, thị trấn trên địa bàn huyện; thường xuyên theo dõi các yếu tố khí tượng trên địa bàn huyện nhằm dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trong những ngày nắng hạn kéo dài.
Bên cạnh chú trọng phương châm 4 tại chỗ, UBND huyện Nà Hang yêu cầu các tổ chức, cá nhân ở gần rừng, hoạt động trong rừng... khi phát hiện cháy rừng cần phải khẩn trương dập lửa và báo ngay cho lực lượng kiểm lâm, chính quyền cơ sở nơi gần nhất; huy động mọi lực lượng, phương tiện, dụng cụ trên địa bàn để chữa cháy kịp thời trong trường hợp cấp thiết; lực lượng công an, quân đội, phối hợp với lực lượng Kiểm lâm thực hiện tốt công tác PCCCR nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại về rừng khi có tình huống xấu xảy ra. (Báo Tuyên Quang 6/11) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Công văn số 3352/UBND-KTN yêu cầu các sở, ngành; các công ty cao su Sông Bé, Bình Phước, Phước Long và UBND các huyện, thị xã thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng trong mùa khô 2015-2016. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:
UBND các huyện, thị thực hiện và chỉ đạo UBND các xã, các chủ rừng trên địa bàn thực hiện nghiêm quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. Kiểm tra, rà soát các nội dung của Phương án BVR-PCCCR năm 2015, hướng dẫn các xã và các đơn vị chủ rừng xây dựng Phương án BVR-PCCCR năm 2016. Tăng cường thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về bảo vệ rừng, tập trung tuyên truyền công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2015-2016...
Đồng thời, duy trì các đoàn liên ngành truy quét và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, cháy rừng. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện, thị xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm, người đứng đầu đơn vị được giao thiếu trách nhiệm, để xảy ra phá rừng, cháy rừng trong khu vực quản lý. Đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn các chủ rừng thực hiện tốt việc phòng cháy rừng, tổ chức tốt lực lượng, phương tiện sẵn sàng chữa cháy rừng. Chỉ đạo các xã, các chủ rừng quản lý nghiêm ngặt việc đốt lửa trong rừng và dùng lửa để đốt dọn, vườn, rẫy...
Đối với Sở Nông nghiệp và PTNT, yêu cầu các chủ rừng thực hiện tốt việc bố trí lực lượng, phương tiện tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, cháy rừng để kịp thời phát hiện, xử lý.
Chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Hạt Kiểm lâm thị xã Phước Long tăng cường các hoạt động tuyên truyền, tuần tra BVR, PCCCR tại rừng đặc dụng Bù Gia Mập, Khu di tích lịch sử núi Bà Rá. Tổ chức lực lượng trực bảo vệ rừng, sẵn sàng hỗ trợ các địa phương khi xảy ra các vụ việc cấp bách về phá rừng, cháy rừng. (Báo Bình Phước 5/11) đầu trang(
Để chủ động thực hiện tốt phương án phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng mùa khô năm 2015-2016, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã triển khai quyết liệt và đồng bộ nhiều biện pháp, chủ động ngăn ngừa nguy cơ cháy rừng.
Toàn tỉnh hiện có trên 33.000 ha rừng, trong đó: rừng đặc dụng là hơn 15.000 ha, rừng phòng hộ là 4.000 ha, rừng sản xuất là 13.000 ha. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, các vụ cháy xảy ra chủ yếu trên địa bàn 2 huyện Tam Đảo và thị xã Phúc Yên.
Nguyên nhân dẫn đến cháy rừng chủ yếu là do người dân sử dụng lửa bất cẩn khi đốt nương làm rẫy, hun lửa bắt ong; đốt thực bì, cỏ khô, rơm rạ gần rừng gây cháy và mâu thuẫn giữa các cá nhân dẫn đến hành vi đốt rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho mỗi người dân, đặc biệt là các chủ rừng.
Hạt Kiểm lâm các huyện, thị cũng phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt kiểm tra, triển khai phương án phòng, chống cháy rừng tại các xã có diện tích trồng rừng nhiều, đặc biệt là các trọng điểm có thể xảy ra cháy rừng. Đồng thời, các chủ rừng cũng đã xây dựng đội PCCC tại chỗ, triển khai nhanh các phương án chống cháy rừng khi có sự cố xảy ra để hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất.
Để đảm bảo công tác PCCR, trong thời gian tới, ngành kiểm lâm sẽ phối hợp với các ngành chức năng tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đầy đủ, kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng có thể xảy ra; tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, thực hiện nghiêm chế độ trực 24/24; phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về PCCCR để răn đe và giáo dục phòng ngừa. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 5/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Yên Bái đã phát hiện và xử lý hơn 160 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Các vụ vi phạm xảy ra chủ yếu ở các huyện vùng cao là Văn Chấn, Trạm Tấu và Mù Cang Chải; tập trung vào các lĩnh vực như: vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép, xâm lấn đất rừng làm nương rẫy và đốt nương gây cháy rừng.
Cùng với công tác kiểm tra, xử lý các vụ vị phạm, công tác phòng cháy - chữa cháy rừng được tỉnh Yên Bái chú trọng, đặc biệt là vào thời điểm trước và trong mùa khô 2015. Ông Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái, cho biết:
Rút kinh nghiệm từ những năm trước, cháy rừng thường do thiếu hiểu biết, thiếu ý thức trong đốt nương làm rẫy, chúng tôi đã chỉ đạo Hạt kiểm lâm, cán bộ kiểm lâm địa bàn hướng dẫn người dân đốt nương theo đúng quy trình, kỹ thuật. Việc hướng dẫn phải tiến hành tỉ mỉ theo hình thức cầm tay chỉ việc. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, tổ chức cho cán bộ và người dân ký cam kết bảo vệ và phòng chống cháy rừng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 5/11) đầu trang(
Nhờ chủ động nắm tình hình và huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thực hiện tốt phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, trong 10 tháng năm 2015, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh tiếp tục được giữ vững.
Công tác phòng ngừa, tấn công trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội được đẩy mạnh. Các tệ nạn cờ bạc, mại dâm, ma túy được tăng cường truy quét. Trong tháng 10, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy, ước tính giá trị thiệt hại do cháy nổ là 160 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy nổ, không có người chết và bị thương, ước tính giá trị thiệt hại hơn 12 tỷ đồng.
Công tác kiểm tra thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường được đẩy mạnh. Ngành chức năng phát hiện, xử lý 24 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với tổng số tiền phạt hơn 600 triệu đồng.
Công tác phòng chống cháy rừng được chỉ đạo tích cực, nguy cơ cháy rừng được cảnh báo thường xuyên, trong tháng 10 không xảy ra vụ cháy rừng, góp phần bảo vệ thành quả kinh tế - xã hội của cá nhân, tổ chức trên địa bàn. (Báo Vĩnh Phúc 5/11) đầu trang(
Tháng 10/2015, hiện tượng El Nino ở Việt Nam đã bắt đầu, trước 1 tháng so với năm 2014, và sẽ kéo dài mạnh nhất trong vòng 60 năm là nhận định của các nhà khoa học.
Ngày 7/1/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng ký ban hành Chỉ thị 01/CT-UBND về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô, trong đó nhấn mạnh: Để chủ động PCCCR có hiệu quả và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương, đơn vị quản lý rừng và các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm các nội dung. Và, Chủ tịch UBND huyện, thành phố “phải xác định công tác PCCCR là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền các cấp trong suốt mùa khô”.
Mùa khô năm 2014 - 2015, các địa phương trong toàn tỉnh đã được thẩm định phương án PCCCR với kinh phí gần 14 tỷ đồng. Địa bàn toàn tỉnh xảy ra 33 vụ cháy với 80,64 ha; trong đó cháy rừng trồng 10 vụ với 27,2ha; cháy rừng tự nhiên 8 vụ với 9,52ha và cháy thảm cỏ, cây bụi dưới tán rừng 15 vụ với 43,92ha. Đáng khích lệ là đánh giá tổng thể, các vụ cháy đã được lực lượng chữa cháy kiểm lâm và chủ rừng dập tắt kịp thời nên hầu như không gây thiệt hại nhiều về tài nguyên rừng, chỉ thiệt hại một phần diện tích rừng mới trồng trong thời gian chăm sóc.
So với mùa khô 2013 - 2014, số vụ cháy và diện tích giảm 7 vụ (50,92ha). Tuy nhiên, số vụ cháy rừng trồng, rừng tự nhiên có tăng cả về số vụ và diện tích (cháy rừng trồng tăng 3 vụ với 12,34ha và cháy rừng tự nhiên 4 vụ với 0,22ha). Tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng qua cháy rừng vẫn còn diễn ra khá phức tạp, không những không giảm mà còn gia tăng.
Nguyên nhân là thời tiết khô hanh, nắng nóng gay gắt; phong tục tập quán của người dân địa phương, người dân sử dụng lửa bất cẩn trong đốt nương làm rẫy, lấy mật ong, chăn thả gia súc, đi tảo mộ...
Mùa khô năm 2013 - 2014, ngân sách tỉnh đầu tư cho hạng mục hợp đồng Tổ đội 3 tháng cao điểm mùa khô 4,342 tỷ đồng (chiếm 30,5% tổng kinh phí PCCCR toàn tỉnh) nhưng không đạt hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, mùa khô năm 2014 - 2015, ngành NN&PTNT thí điểm tại 3 địa phương là Đà Lạt, Đức Trọng và Lạc Dương mô hình hợp đồng Tổ đội 3 tháng cao điểm giữa người dân thay vì với chủ rừng gồm 75 người.
Quan sát từ thực tiễn bảo vệ rừng và trực tiếp gặp những người dân trong tổ đội, các chủ rừng, chúng tôi khẳng định mô hình đổi mới này đã thực sự vượt trội tính ưu việt.
Trao đổi với ông Nguyễn Khang Thiên - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, ông khẳng định: “Mùa khô năm 2015 - 2016 này, chúng tôi đã đúc kết những kết quả và kinh nghiệm của mô hình hợp đồng mới đã đạt được từ 3 địa bàn thí điểm nên quyết định triển khai trên toàn tỉnh. Mặt khác, năm nay chúng tôi tham mưu cho Sở NN&PTNT tổ chức tập huấn xây dựng phương án PCCCR mùa khô vừa sớm hơn vừa mở rộng đối tượng tham dự”.
Đợt tập huấn hướng dẫn xây dựng phương án PCCCR vừa kết thúc trong tháng 10 do Chi cục Kiểm lâm tổ chức. Đối tượng tham dự bao gồm lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật của các Ban quản lý rừng, các công ty TNHH MTV lâm nghiệp, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 và 2; Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà. Theo đó, mục đích xây dựng phương án PCCCR đặt ra hết sức rõ ràng là: bảo vệ rừng an toàn về lửa, hạn chế đến mức thấp nhất sự xuất hiện cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Vì vậy, phương án PCCCR phải đạt được các biện pháp phòng cháy rừng (PCR) và các điều kiện an toàn về phòng cháy rừng; các tình huống cụ thể có thể xảy ra, khả năng cháy lan, phát triển của đám cháy theo các mức độ khác nhau và tình huống cháy lớn, phức tạp nhất; kế hoạch huy động, sử dụng lực lượng, phương tiện tổ chức chỉ huy, biện pháp kỹ thuật, chiến thuật chữa cháy và công việc phục vụ chữa cháy phù hợp với từng giai đoạn của tình huống cháy.
Phương án PCCCR phải được bổ sung chỉnh lý kịp thời khi có những thay đổi về tính chất, đặc điểm nguy hiểm về cháy và các điều kiện liên quan đến hoạt động chữa cháy. Mặt khác, phương án PCCCR phải phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và kinh phí đầu tư; nội dung các công việc PCCCR phải cụ thể, thiết thực, thực hiện đồng bộ các biện pháp PCR có hiệu quả và khả thi như xử lý tình huống khi có xảy ra cháy rừng ở các mức độ khác nhau theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện và hậu cần) và khả năng huy động chữa cháy rừng khi có cháy lớn xảy ra.
Xác định các trọng điểm cháy trên lâm phần quản lý để đề ra các phương án PCCC phù hợp và hiệu quả. Đưa công tác PCCCR vào nề nếp, vận hành theo một cơ chế thống nhất, chủ động trước các tình huống cháy rừng xảy ra. Thủ trưởng các đơn vị phải chịu trách nhiệm về tính xác thực và hiệu quả của phương án PCCCR đã lập.
Trên cơ sở những mục đích và yêu cầu đặt ra nêu trên, đợt tập huấn đã cụ thể hóa một số nội dung để người tiếp nhận thông tin nắm chắc và triển khai thực hiện tại đơn vị, cơ sở của mình.
Đó là giải pháp làm giảm vật liệu cháy, trong đó đối tượng rừng ưu tiên đầu tư kinh phí bao gồm: rừng thông non trong giai đoạn nuôi dưỡng có chiều cao dưới 8m chưa qua (hoặc mới qua) nuôi dưỡng; rừng cảnh quan du lịch (cụ thể 2 bên đèo Prenn, đường Mimoza, đường vào Khu du lịch hồ Tuyền Lâm và Đan Kia - Suối Vàng; các khu rừng nội ô có thực bì từ cấp I trở lên và đường lên đỉnh Lang Biang; đoạn đường đèo Bảo Lộc).
Đó còn là rừng trồng trong giai đoạn chăm sóc phải tiến hành làm cỏ, vun xới. Cùng đó, nội dung tập huấn cũng phân loại cụ thể đối tượng khác như rừng hạn chế đầu tư kinh phí làm giảm vật liệu cháy; rừng không đầu tư kinh phí. Phương án PCCCR còn phải xác định cụ thể về diện tích, chu kỳ làm giảm vật liệu cháy...; về các biện pháp, kế hoạch cụ thể trong từng lĩnh vực như tuyên truyền, tổ chức tuần tra canh gác, thông tin liên lạc...; thiết bị, chế độ chính sách; đối tượng và thời gian hợp đồng; các phương án huy động chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra...
Với những nội dung thiết thực vừa nêu; những kinh nghiệm và kết quả đạt được từ mùa khô năm 2014 - 2015, cùng sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tỉnh, hi vọng mùa khô năm 2015 - 2016 này rừng Lâm Đồng sẽ giảm thiểu tối đa thiệt hại do nguyên nhân từ cháy. (Báo Lâm Đồng 6/11) đầu trang(
Trong 2 ngày 2 và 3-11, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho 80 người dân ở 2 xã Bưng Riềng và Bình Châu (huyện Xuyên Mộc).
Các trưởng ấp, tổ trưởng tổ dân cư khu vực giáp ranh với rừng, các hộ dân sống trong rừng và ven rừng, các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản, động vật hoang dã ven rừng… đã được nghe các báo cáo viên tuyên truyền về vai trò, tác dụng của rừng; lợi ích của người dân khi tham gia bảo vệ, phát triển rừng; tác hại của việc chặt, phá rừng gây biến đổi khí hậu toàn cầu và các quy định hiện hành của pháp luật nhằm bảo đảm thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng; một số chính sách liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng… (Báo Bà Rịa – Vũng Tàu 5/11) đầu trang(
Từ ngày 3 đến 5-11, Tổ công tác tuyên truyền bảo vệ và phát triển rừng BĐBP Quảng Trị phối hợp với các xã biên giới và đồn Biên phòng trên địa bàn huyện Đakrông về từng thôn, bản tổ chức tuyên truyền pháp luật 8 bản thuộc 3 xã biên giới của huyện Đakrông.
Theo đó, cán bộ BĐBP tỉnh đã tuyền truyền về Luật bảo vệ và phát triển rừng, kết hợp với tuyên truyền Nghị định 34/2014/NĐ-CP, ngày 29-4-2014 về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước CHXHCN Việt Nam và Nghị định 06/2014/NĐ-CP, ngày 21-1-2014 về Biện pháp VĐQC bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; Chỉ thị 01/CT-TTg, ngày 9-1-2015 về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Qua 3 ngày tổ chức tuyên truyền trên địa bàn 8 bản thuộc 3 xã biên giới huyện Đakrông, đã có trên 720 hộ/1.472 người dân tham dự. Mặc dù trời mưa, rét nhưng bà con dân bản vẫn có mặt đông đủ để lắng nghe các nội dung tuyên truyền.
Thời gian tới, Bộ chỉ huy BĐBP Quảng Trị sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các nội dung trên về từng bản làng biên giới nhằm nâng cao nhận thức trong bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới và bảo vệ phát triển rừng cho bà con nhân dân. (Biên Phòng 5/11) đầu trang(
Thời gian qua, Vườn Quốc gia Bến En đã thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng, như: Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân đối với các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tại 8 thôn với tổng số 250 lượt người tham gia.
Lập danh sách, tổ chức giáo dục những đối tượng có hành vi lén lút vào rừng khai thác, kinh doanh, buôn bán lâm sản trái phép; săn bắn, bẫy động vật hoang dã. Thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh...
Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục, Vườn Quốc gia Bến En đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm. 9 tháng năm 2015 đã thực hiện gần 3.000 lượt tuần tra rừng; xử lý vi phạm hành chính 12 vụ, phạt tiền 50 triệu đồng.
Những tháng cuối năm, công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng được dự báo là có nhiều khó khăn, phức tạp. Chính vì thế, Vườn Quốc gia Bến En đã tăng cường thực hiện các phương án, kế hoạch bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. Thực hiện nghiêm việc quản lý người vào rừng nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, xâm lấn đất rừng đặc dụng... (Báo Thanh Hóa 6/11) đầu trang(
Cà Mau là tỉnh duy nhất trong cả nước có 3 mặt giáp biển, với chiều dài bờ biển là 254 km, có hệ thống sông rạch lớn với nhiều cửa đổ ra biển, đã hình thành nên diện tích rừng ngập mặn, phèn rộng lớn, có tổng diện tích tự nhiên lâm phận hiện nay gần 165.000 ha.
Toàn bộ diện tích lâm phận được quản lý bởi 33 tổ chức quản lý rừng và trên 5.000 hộ dân được nhà nước giao rừng để quản lý sản xuất bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật. Các hệ sinh thái rừng ngập ở Cà Mau là vành đai tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng hiện nay trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, việc bao chiếm đất rừng để nuôi tôm đã diễn ra một cách có hệ thống với mức độ ngày càng trầm trọng ở rừng ngập mặn, đặc biệt hầu hết diện tích khu vực bãi bồi Mũi Cà Mau đều bị dân di cư tự do bao chiếm làm đầm nuôi tôm, do giá trị xuất khẩu cao.
Mức độ phá rừng tỷ lệ thuận với sự gia tăng dân số cơ học; tính từ năm 1982 đến năm 1990, tỷ lệ tăng dân số trên khu vực này là 7%/năm, tỉ lệ tăng về lao động lên đến 21%/năm, diện tích rừng ngập mặn trong khu vực đã bị tàn phá nặng nề, sức ép rất lớn của cộng đồng đè lên hệ sinh thái rừng ngập mặn dẫn đến sự cạn kiệt về tài nguyên rừng.
Tỉnh Cà Mau tập trung toàn lực để khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, giải tỏa và tái định cư khu vực bãi bồi, khu vực rừng phòng hộ rất xung yếu, đến những năm đầu của thế kỷ XXI tình hình khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng, phát triển kinh tế xã hội vùng rừng đã từng bước đi vào ổn định.
Từ những kết quả tích cực đó, trên hai hệ sinh thái rừng Cà Mau đã thành lập hai Vườn quốc gia (Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn quốc gia U Minh Hạ) và đai rừng phòng hộ rất xung yếu ven biển Tây nằm giữa 2 hệ sinh thái hình thành một vành đai phía Tây của tỉnh chạy dài từ rạch Tiểu Dừa đến Mũi Cà Mau và hiện nay là vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển Thế giới; Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đồng thời là vùng đất ngập nước theo Công ước Ramsar; tất cả đều đang trong giai đoạn phát huy vai trò một cách ổn định trong việc bảo tồn sự đa dạng sinh học vốn có của rừng ngập nước Cà Mau.
Thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh. Tỉnh tiếp tục sắp xếp đổi mới các lâm trường quốc doanh, rà soát quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đến năm 2010, kết quả đạt được như sau: Mở rộng đai rừng phòng hộ ven biển phía Đông từ 1.000 m trước đây lên bình quân 3.000 m.
Tổ chức di dời dân cư sống rải rác ở các cửa sông, vùng rừng phòng hộ rất xung yếu vào bên trong để ổn định sản xuất. (3) Sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các lâm trường quốc doanh. (4) Kết quả: sau khi sắp xếp tổ chức quản lý rừng, công tác quản lý bảo vệ rừng dần đi vào ổn định.
Ở khu vực rừng ngập mặn mô hình nuôi tôm sinh thái, nuôi ốc len kết hợp với quản lý bảo vệ rừng phát triển mạnh và đạt hiệu quả cao. Việc bổ sung loài cây keo kai vào trồng rừng tại Cà Mau, bước đầu đã tạo ra năng suất, sản lượng cao, từng bước thâm canh rừng trồng, đáp ứng với nhu cầu thị trường.
Mối liên kết trong sản xuất cũng được phát triển; các công ty lâm nghiệp đang thể hiện vai trò tốt hơn trong việc tổ chức sản xuất, cung ứng giống cây trồng lâm nghiệp và khai thác tiêu thụ lâm sản cho các hộ nhận khoán, hợp tác đầu tư cùng các hộ dân để phát triển rừng; liên kết với các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong việc hướng dẫn các hộ nhận khoán phát triển mô hình nuôi tôm sinh thái (tôm – rừng) và mua sản phẩm tôm khai thác từ mô hình này với giá bán cao; góp phần làm tăng tỷ lệ diện tích có rừng và tăng thu nhập cho nông dân.
Tuy nhiên hiện nay còn những tồn tại, khó khăn chủ yếu sau: (1) Diện tích trồng keo lai ở U Minh Hạ đang kinh doanh rừng với chu kỳ ngắn, khai thai thác trắng một lần, nên giá trị gia tăng chưa cao. Người dân trồng rừng chưa sẵn sàng kinh doanh cây gỗ lớn chu kỳ dài; do chưa có khả năng đầu tư dài hơi. (2) Xói lở bờ biển ngày càng gia tăng kể cả phía Đông và phía Tây, việc xây dựng các công trình chống xói lở có kinh phí rất lớn, trong khi việc trồng rừng ngập mặn ven biển gặp nhiều khó khăn thì diện tích rừng ven biển vẫn có nguy cơ sạt lở sâu vào nội địa mỗi ngày.
Trong thời gian tới, tỉnh Cà Mau phát triển lâm nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng rừng và đất lâm nghiệp một cách bền vững , bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, an sinh xã hội; góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân vùng rừng.
Từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng chất lượng, hiệu quả, năng lực canh tranh. Sử dụng môi trường rừng để phát triển du lịch sinh thái, thu hút đầu tư vào chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành ngành có hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Đến năm 2020, diện tích có rừng tập trung là 105.000 ha, nâng độ che phủ của rừng và cây phân tán đạt 26%.
Thu hút các nhà đầu tư, nhà khoa học tham gia trong lĩnh vực lâm nghiệp; phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, xây dựng mô hình hợp tác trong lâm nghiệp, mô hình quản lý rừng bền vững, tạo điều kiện thuận lợi về thể chế để nông dân, hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất cùng doanh nghiệp nhằm tích tụ đất cho sản xuất quy mô lớn. (Môi Trường Và Đời Sống 5/11) đầu trang(
Việt Nam được đánh giá là 1 trong 16 nước có đa dạng sinh học (Đ DSH) cao nhất thế giới.
Tuy nhiên, hiện tỷ lệ suy giảm ĐDSH của Việt Nam cũng không ngừng tăng cao do nhiều nguyên nhân. Để giảm thiểu tình trạng này, bồi hoàn ĐDSH đang được xem là phương pháp tối ưu, bền vững cho công tác bảo tồn.
Bồi hoàn ĐDSH được hiểu là một cơ chế bồi thường cho những thiệt hại, và là một phần quan trọng của công cụ đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Trong đó, bồi hoàn ĐDSH không chỉ là một trong những cơ chế giải quyết những áp lực về ĐDSH mà còn góp phần cải thiện tài chính bền vững cho công tác bảo tồn. Đặc biệt, nó giải quyết những tổn thất tiềm năng của ĐDSH gây ra bởi nhiều nguyên nhân.
Hiện trên thế giới đã có trên 30 quốc gia đang yêu cầu một số hình thức bồi thường thiệt hại cho ĐDSH. Tại Hoa Kỳ, các cơ quan công quyền và chủ dự án được luật pháp yêu cầu phòng tránh, giảm thiểu hoặc giảm thiểu những tác động bất lợi đối với một số loại môi trường sống như là một điều kiện tiên quyết để có được giấy phép cho phép phát triển đất. Có thể yêu cầu bồi hoàn nếu không thể tránh tác động lên các hệ sinh thái đất ngập nước và thủy sản theo Luật nước sạch năm 1972.
Đối với nước Úc, bồi hoàn được kích hoạt như một yêu cầu ở cấp liên bang theo Luật Bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH năm 1999 và bằng Luật quy hoạch và bảo tồn trong một số bang và vùng lãnh thổ. Một số Bang đã giới thiệu các quy định và hướng dẫn lập kế hoạch ghi chú theo hướng dẫn của dự luật này.
Những thay đổi trong thành phần ĐDSH được đề cập, một số yêu cầu bồi hoàn chỉ cho phép đối với các loài thực vật bản địa, tác động chi tiết tới các loài có nguy cơ đe dọa hoặc cả hai. Tại bang Victoria, 'bồi hoàn thực vật bản địa' được yêu cầu theo Qui chế thực vật bản địa trong Đạo Luật Quy hoạch và Môi trường là điều kiện để dự án được phê duyệt.
Không chỉ đưa việc bồi hoàn là điều kiện bắt buộc tại các đạo luật mà tại nhiều nước phát triển theo PGS. TS Lê Xuân Cảnh thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật được biết bồi hoàn ĐDSH còn được xây dựng theo cơ chế thị trường. Trong đó ngân hàng hóa bảo tồn là một trong những cách để đáp ứng được yêu cầu bồi hoàn.
Lợi ích ĐDSH được tạo ra thông qua hoạt động bồi hoàn được khởi xướng ‘gửi ngân hàng' và sau đó được bán như các khoản tín dụng giảm thiểu cho các nhà phát triển để bù đắp những tác động còn lại từ các dự án phát triển đã được phê duyệt. Tại Hoa Kỳ và New South Wales, Australia, có luật pháp về ngân hàng giảm thiểu hoặc ngân hàng bảo tồn.
Tại bang Victoria, Australia, các chủ dự án có thể mua các khoản tín dụng thực vật có nguồn gốc từ các chủ đất đã đăng ký để đảm bảo yêu cầu bồi hoàn. Họ không bị ràng buộc bởi luật pháp, nhưng có thể chọn cách thức này để hoàn thành nghĩa vụ bồi hoàn vì lý do chi phí hoặc tính thiết thực.
Nước ta có nền ĐDSH cao nhưng hiện trên toàn lãnh thổ cũng có hơn 800 công trình dự án thủy điện, 5.000 điểm mỏ khai thác hơn 60 loại khoáng sản khác nhau. Hầu hết các dự án khai thác khoáng sản, công trình thủy điện đều phân bố ở những nơi có tài nguyên sinh học rất cao, làm giảm giá trị ĐDSH, nên vấn đề bồi hoàn tài nguyên, bảo tồn Đ DSH là vô cùng quan trọng và đang đứng trước nhiều thách thức.
Trong những năm gần đây, vấn đề phục hồi môi trường, bảo tồn ĐDSH đã được Nhà nước quan tâm, thể hiện trong các quy định pháp luật hiện hành như Luật Bảo vệ môi trường, Đa dạng sinh học, Bảo vệ và phát triển rừng... và các văn bản dưới Luật.
Điển hình về mối liên hệ trực tiếp giữa ĐTM với phục hồi môi trường là Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản và Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết một số nội dung của Quyết định số 71/2008/QĐ- TTg. Hiện nay, các dự án này được các Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM xem xét, thẩm định cùng với các báo cáo ĐTM của các dự án khai thác mỏ.
Tuy nhiên bồi hoàn ĐDSH được các chuyên gia đánh giá là một lĩnh vực phức tạp và thế giới chưa có cách thống nhất để thực hiện nên cần xây dựng những nét đặc trưng cho trường hợp của Việt Nam. Theo TS Phạm Anh Cường, Cục trưởng Cục Bảo tồn ĐDSH, Tổng cục Môi trường cho rằng để đưa vấn đề bồi hoàn ĐDSH vào thực tiễn của Việt Nam, cần tiến hành nhiều bước như tuyên truyền phổ biến tới doanh nghiệp; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia; triển khai các dự án thí điểm; luật hóa trong các văn bản Nhà nước.
PGS. TS Lê Xuân Cảnh cũng cho rằng để xây dựng được cơ chế, chính sách bồi thường Đ DSH tại Việt Nam sẽ mất một thời gian dài và lộ trình đó cần có những bước đi cần thiết trong đó cần có sự tham gia tích cực hơn nữa sự trao đổi giao lưu trong khu vực và quốc tế liên quan đến sự phát triển các chính sách, tiêu chuẩn, cơ chế và năng lực, liên quan đến dự phát triển chính sách ĐTM và bồi hoàn ĐDSH.
Ngoài ra cần xây dựng một chương trình trung và dài hạn để đạt được các mục tiêu của kế hoạch bồi thường và bồi hoàn ĐDSH. Các kế hoạch bồi hoàn bao gồm một kế hoạch tài chính để đảm bảo kinh phí cần thiết thực hiện các kế hoạch quản lý cho bồi hoàn, kể cả chi phí cơ sở hạ tầng, quản lý và giám sát. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong tháng 10 và 11/2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Bình Thuận đã tổ chức kiểm tra hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng của 16 đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh.
Trong đợt kiểm tra này, đoàn công tác của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Bình Thuận tập trung rà soát, kiểm tra hồ sơ, bản đồ cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Kiểm tra công tác quản lý, sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2014 và 2015 theo quy định của liên bộ Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Kiểm tra kế hoạch thu chi dịch vụ môi trường rừng năm 2015 và xây dựng kế hoạch thu chi năm 2016.
Tại các buổi kiểm tra, đoàn công tác của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Bình Thuận đã ghi nhận những vướng mắc, khó khăn và ý kiến đề xuất trong hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng của các đơn vị chủ rừng cũng như của các hộ dân tham gia công tác nhận khoán bảo vệ rừng…
Hoạt động kiểm tra việc chi trả dịch vụ môi trường rừng là hoạt động thường xuyên của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Bình Thuận. Hoạt động này nhằm thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt hiệu quả, mang tính công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng rừng, cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Việc đánh giá tình hình thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng ở các đơn vị chủ rừng nhằm chấn chỉnh, nhắc nhở kịp thời các thiếu sót của đơn vị trong công tác quản lý sử dụng tiền, lập hồ sơ chi trả dịch vụ môi trường rừng theo đúng quy định của pháp luật. (Báo Bình Thuận 5/11) đầu trang(
Theo đó, địa bàn thí điểm phải đáp ứng những yêu cầu được quy định trong quyết định của Tổng cục Lâm nghiệp về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong khuôn khổ thực hiện chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II.
Là một phần trong sáng kiến của Liên Hợp Quốc về giảm phát khí thải nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng, chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II hứa hẹn đem đến cho Việt Nam những lợi ích từ việc chi trả dựa trên kết quả thực hiện REDD + trong tương lai và thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành.
Theo đó, địa bàn thí điểm phải đáp ứng những yêu cầu được quy định trong quyết định của Tổng cục Lâm nghiệp về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong khuôn khổ thực hiện chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II.
Địa bàn thí điểm phải được BQL rừng phòng hộ thuộc địa bàn 6 tỉnh thí điểm triển khai Chương trình UN-REDD đang thực hiện khoán hoặc có cam kết khoán quản lý, bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo quy định hiện hành.
UBND cấp xã được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng thuộc địa bàn 6 tỉnh triển khai Chương trình UN-REDD, có phương án hoặc kế hoạch giao diện tích UBND xã đang tạm thời quản lý đến hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn hoặc có các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn.
Được Nhà nước giao quản lý diện tích rừng tự nhiên (rừng phòng hộ và rừng sản xuất); rừng phòng hộ là rừng trồng. Có sự cam kết ủng hộ của chính quyền địa phương và sự tự nguyện của người dân tham gia thí điểm chia sẻ lợi ích. Có Kế hoạch REDD+ theo hướng dẫn của chương trình UN-REDD.
Với thời gian triển khai trong vòng 2,5 năm (2016 - 2018), mỗi tỉnh được lựa chọn tối đa 2 đơn vị thí điểm với diện tích rừng tối thiểu là 300 ha và tối đa là 6.000 ha, bao gồm rừng phòng hộ và rừng tự nhiên được Nhà nước giao quản lý, rừng phòng hộ là rừng trồng và đất lâm nghiệp cam kết sẽ trồng rừng phòng hộ.
Đơn vị thí điểm phải đảm bảo đã xây dựng Kế hoạch REDD+ được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo hướng dẫn của BQL Chương trình UN-REDD Trung ương (gọi chung là PMU).
Việc thực hiện Kế hoạch REDD+ phải đảm bảo có sự tham gia của các hộ gia định, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn và kết quả thực hiện các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phải được giám sát, đánh giá theo hệ thống các chỉ số của khung giám sát, đánh giá thực hiện Kế hoạch REDD+ do BQL Chương trình UN-REDD cấp tỉnh (PPMU) xây dựng theo hướng dẫn của PMU.
Việc chia sẻ lợi ích được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch, dân chủ, dựa vào kết quả thực hiện ở mỗi đơn vị. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
Mới đây Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt tiến hành cấp hơn 99.000 cây giống cho bà con nhân dân 2 xã Quế Sơn và Tiền Phong (huyện Quế Phong, Nghệ An) để trồng rừng.
Đợt này, hơn 120 hộ nghèo, hộ đặc biệt khó khăn của 2 xã Quế Sơn và Mường Nọc được Khu BTTN Pù Hoạt cấp 99.300 cây keo lai úc, trị giá hơn 109 triệu đồng. Đây là số cây giống thuộc dự án “Đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất huyện Quế Phong giai đoạn 2009 – 2015”.
Cây giống giao cho người dân phải đủ tiêu chuẩn: 4 tháng tuổi, có chiều cao trên 40cm, đường kính cổ rễ trên 4mm, chất lượng cây tốt, không sâu bệnh, đạt tiêu chuẩn đem trồng. Để chương trình hỗ trợ cây giống phát huy được hiệu quả, cán bộ kỹ thuật của đơn vị đã đi khảo sát, hướng dẫn bà con cách làm đất, đào hố, đảm bảo khoảng cách giữa các cây, hàng, kỹ thuật trồng và chăm sóc…
Dự kiến đến hết tháng 11/2015, Khu BTTN Pù Hoạt sẽ hoàn thành kế hoạch cấp gần 1,2 triệu cây giống cho 1.689 tổ chức, hộ dân, nâng diện tích rừng trồng lên 600 ha với tổng số tiền hỗ trợ đầu tư gần 1,3 tỷ đồng. (Dân Sinh 6/11) đầu trang(
Điểm sáng trên miền Tây Gio Linh hôm nay chính là người đồng bào dân tộc Vân Kiều đã phát huy trí tuệ, tinh thần năng động, sáng tạo và sự nỗ lực không ngừng để đánh thức tiềm năng, thế mạnh sẵn có ở địa phương 2 xã Linh Thượng và Vĩnh Trường (huyện Gio Linh, Quảng Trị).
Không chỉ làm giàu từ phát triển kinh tế rừng, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương, người Vân Kiều còn có nhiều hỗ trợ, giúp đỡ cho người nghèo vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn.
Anh Hồ Văn Truyền, Chủ tịch UBND xã Linh Thượng cho biết, hơn 10 năm trước, cuộc sống người Vân Kiều gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính là do trình độ người dân còn thấp, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vẫn còn hằn sâu trong nếp nghĩ, cùng với đó là tập quán sản xuất lạc hậu…
Được sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương về xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, các lớp đào tạo nghề, chuyển giao các tiến bộ KHKT, nguồn vốn ưu đãi… đã giúp người dân địa phương có nhiều chuyển biến từ nhận thức đến hành động trong phát triển kinh tế.
Về phía chính quyền địa phương, cán bộ, đảng viên xã Linh Thượng đã tích cực tuyên truyền, vận động và khuyến khích người dân tập trung phát triển kinh tế vùng gò đồi, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, trong đó xác định rõ cây trồng chủ lực để giúp người dân làm giàu, thoát nghèo bền vững là trồng rừng.
Để người dân trồng rừng đạt hiệu quả cao, xã tích cực phối hợp với các cơ quan, ban ngành liên quan hướng dẫn kỹ thuật, kinh nghiệm về trồng rừng, công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, tổ chức bảo vệ, khai thác đi đôi với trồng rừng mới... cho người dân. Nhờ vậy, hiện nay, xã Linh Thượng có hơn 1.360 ha rừng trồng, trong đó, rừng trồng của hộ gia đình hơn 860 ha.
Bình quân hàng năm, toàn xã trồng mới hơn 100 ha, trong năm 2014, trồng mới hơn 140 ha. Nhiều hộ gia đình Vân Kiều đã thoát nghèo bền vững, vươn lên làm giàu từ trồng rừng, tiêu biểu như ông Nguyễn Văn Bình ở thôn Khe Me với hơn 15 ha rừng, ông Hồ Quốc Hưng ở thôn Bến Mộc II với hơn 30 ha rừng…
Ông Nguyễn Văn Bình, một hộ trồng rừng tiêu biểu ở Linh Thượng cho biết: “Là một người Vân Kiều nên tôi hiểu rõ tập quán sản xuất lạc hậu ở địa phương. Những năm làm Bí thư Đảng ủy xã Linh Thượng, tôi luôn động viên, khuyến khích người dân thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, tích cực trồng rừng phủ xanh đồi trọc, ứng dụng kỹ thuật vào chăn nuôi...
Để làm thay đổi từ tư tưởng đến hành động của người dân, tôi xác định, mình phải gương mẫu tiên phong và làm có hiệu quả, khi đó mọi người mới làm theo”. Đến nay, dù đã bước vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng ông Bình vẫn là tấm gương trong phát triển kinh tế với 15 ha tràm, hơn 2 ha cây cao su, 2 mẫu lúa, gần 20 con trâu bò, 3 ha ao cá... cho thu nhập mỗi năm trên 50 triệu đồng.
Cũng như xã Linh Thượng, người dân xã Vĩnh Trường luôn chú trọng phát triển kinh tế rừng. Ông Hồ Văn Sâm, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Trường cho biết: “Hiện nay, diện tích rừng trồng toàn xã là 350 ha, bình quân hàng năm trồng mới từ 25- 40 ha. Hiệu quả từ kinh tế rừng mang lại sự đổi thay mạnh mẽ, nhiều gia đình đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu từ rừng”.
Ông Hồ Vê, thôn Xóm Bàu cho biết: “Ngày trước, tôi xác định rõ, trên mảnh đất này chỉ có trồng rừng mới mong đổi thay cuộc sống. Khi bắt tay vào trồng rừng, tôi gặp rất nhiều khó khăn, vì không có tiền mua cây giống, phân bón nên chỉ còn cách cứ khai hoang đến đâu thì đi vay tiền của người thân, hàng xóm đến đó để mua cây giống về trồng. Do không có kinh nghiệm trong trồng, chăm sóc rừng nên cây mới trồng được không lâu lại chết. Không chịu bỏ cuộc, gia đình tôi vẫn tiếp tục trồng rừng”.
Đến nay, ông Hồ Vê đã có trang trại tổng hợp rộng gần 12 ha, trong đó hơn 6 ha rừng trồng, 3 ha cao su, hàng chục con trâu, bò… thu nhập hàng năm trên 100 triệu đồng.
“Rừng đã mang lại nhiều người lợi nhuận cho người Vân Kiều ở Vĩnh Trường”, anh Hồ Văn Xá, thôn Xóm Tre cho biết. Là một trong những người tiên phong trồng rừng ở Vĩnh Trường, anh Xá bắt đầu trồng rừng từ năm 1997, đến nay, đã có 15 ha rừng. Bình quân hàng năm anh khai thác 2- 3 ha rừng, 3 ha cao su, gần 1 ha tiêu, hàng chục con trâu, bò nhốt chuồng… với thu nhập bình quân hàng năm trên 150 triệu đồng chính là thành quả mà anh Xá đạt được hôm nay sau hành trình làm ăn đầy gian truân. (Báo Quảng Trị 6/11) đầu trang(
Với hơn 200.000 ha rừng sản xuất, Quảng Ninh được đánh giá là vùng nguyên liệu rộng lớn và dồi dào cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực băm dăm gỗ xuất khẩu.
Thế nhưng, một nghịch lý là hiện nay tình trạng thiếu nguyên liệu đang xảy ra trầm trọng gây ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp và người lao động, cũng như sự phát triển của ngành công nghiệp xuất khẩu dăm gỗ của Quảng Ninh.
Thời điểm này năm ngoái, toàn bộ khu vực bãi đổ nguyên liệu rộng hàng héc ta của dây chuyền băm dăm gỗ Cẩm Hải, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả đầy ngập gỗ keo. Mỗi ngày ở đây nhập trên dưới 500 m3 gỗ keo. Thế nhưng từ đầu năm đến nay, dây chuyền sản xuất này hoạt động cầm chừng, đặc biệt 2 tháng gần đây “đắp chiếu” để không.
Hiện toàn bộ bãi chứa nguyên liệu sạch bách không một cây gỗ; nhiều thiết bị máy móc đã bắt đầu bị rỉ sét trông như phế thải. Anh Phạm Văn Hùng, Phó Quản đốc Phân xưởng Dây chuyền Băm dăm gỗ này cho biết: Nguyên nhân của tình trạng trên là do thiếu nguyên liệu. Cẩm Hải là khu vực có nhiều diện tích rừng trồng của Công ty, diện tích rừng của người dân trên địa bàn cũng rất lớn, vì vậy chưa bao giờ chúng tôi nghĩ tới việc thiếu nguyên liệu ở đây cả, vậy mà nó lại đã diễn ra.
Không chỉ riêng Cẩm Hải, ở các vùng khác cũng không khá hơn… Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả còn một dây chuyền băm dăm gỗ khác ở Đồng Mỏ (Mông Dương) nhưng hiện cũng chỉ vận hành 1/10 sản lượng so với trước đây.
Cũng do thiếu nguồn gỗ để băm dăm, mới đây Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đã phải bán đi một dây chuyền băm dăm gỗ. Dây chuyền sản xuất còn lại tuy vẫn hoạt động, nhưng chỉ với tần suất 3 ngày/tháng, sản lượng đạt 500 m3/tháng, bằng 1/20 sản lượng trung bình cùng kỳ 2014. Điều đáng nói Ba Chẽ là nơi có diện tích rừng sản xuất lớn, được coi là trung tâm cung cấp gỗ nguyên liệu cho các cơ sở băm dăm gỗ keo từ Tiên Yên về đến Cẩm Phả.
Cùng với Công ty Lâm nghiệp Ba Chẽ, việc thiếu nguyên liệu gỗ keo cũng đang khiến cho các xưởng sản xuất dăm gỗ của Công ty CP Cảng Thái Hưng tê liệt. Thái Hưng được coi là “ông lớn” trong lĩnh vực xuất khẩu băm dăm gỗ trên địa bàn tỉnh, là một trong những đơn vị xuất khẩu dăm gỗ cho khách hàng Nhật Bản.
Để đảm bảo ổn định nguồn hàng xuất khẩu, Công ty đặt 3 xưởng sản xuất với quy mô lớn tại các vùng giàu nguyên liệu, nhưng hiện 2 xưởng đã phải dừng hoạt động. Xưởng còn lại đặt tại cảng Mũi Chùa (Tiên Yên) cũng hoạt động cầm chừng với sản lượng đạt 1/5 so với cùng kỳ năm ngoái.
Tình trạng thiếu hụt nguyên liệu đã khiến cho trên 20 doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ quy mô lớn của tỉnh và hàng chục các cơ sở băm dăm nhỏ kéo dài từ Ba Chẽ đến Tiên Yên, Đầm Hà, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái… bị ảnh hưởng nặng nề.
Theo ông Nguyễn Văn Bắc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả, băm dăm gỗ là hạng mục sản xuất kinh doanh mang lại doanh thu cao nhất, khoảng 2/3 tổng doanh thu của đơn vị. Ông Bắc cho biết, ngay tại Công ty của ông, hiện doanh thu đã giảm đến 70% so với năm ngoái. Tính đến cuối tháng 10, tổng doanh thu của đơn vị mới đạt 43 tỷ đồng, trong đó thu từ xuất khẩu dăm gỗ chỉ gần 14 tỷ đồng. (Năm 2014, doanh thu của Công ty đạt trên 200 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu 15 hầm dăm gỗ đạt giá trị trên 160 tỷ đồng).
Còn với Công ty CP Cảng Thái Hưng, trước đây trung bình mỗi năm Công ty này xuất trên 700.000 tấn dăm gỗ cho Nhật Bản, trong đó ngoài lượng dăm gỗ băm tại 3 xưởng của Công ty, Công ty còn nhập dăm của 15 đơn vị trên địa bàn và 5 đơn vị ngoại tỉnh với tỷ lệ 70% nguồn hàng trong tỉnh, 30% lượng hàng ngoài tỉnh.
Tuy nhiên từ đầu năm đến nay, do thiếu nguyên liệu, xưởng của Công ty tê liệt; lượng dăm nhập từ 15 nhà cung cấp trong tỉnh rất thấp, nên chủ yếu phải nhập từ ngoài tỉnh. Tính tại thời điểm tháng 10, Công ty phải nhập đến trên 90% sản lượng hàng từ các tỉnh, thành bạn. Việc này kéo theo chi phí vận chuyển tăng cao.
Bà Phạm Thị Xuân, Giám đốc tài chính Công ty CP Cảng Thái Hưng khẳng định: Hiện phía bên Nhật vẫn dành cho mình giá tốt, ổn định, tuy nhiên với chi phí cao nên Công ty không có lợi nhuận, nhiều thời điểm thu không đủ bù chi. Sở dĩ trong tình hình khó khăn ấy Thái Hưng vẫn phải đảm bảo đủ sản lượng bởi thực hiện các hợp đồng đã ký trước đó.
Cùng với việc doanh nghiệp thiệt hại thì người lao động cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu như 100% các cơ sở băm dăm gỗ trên địa bàn đều giảm việc hoặc không có việc đồng nghĩa người lao động không có việc làm, ảnh hưởng đến thu nhập. Tính trung bình mỗi dây chuyển sản xuất băm dăm gỗ tạo việc làm tối thiểu cho 20 – 30 lao động. Riêng 3 dây chuyền dừng hoạt động của 2 Công ty lâm nghiệp Ba Chẽ và Cẩm Phả đã khiến cho khoảng 60 lao động phải chuyển việc khác; 3 dây chuyền của Thái Hưng cũng đã bớt đi việc làm của 80 lao động địa phương.
Nguyên nhân của tình trạng thiếu nguyên liệu nói trên được cho là hậu quả cơn bão Hải Yến cuối năm 2013 làm gãy đổ gần 20.000 ha rừng sản xuất, trong đó chủ yếu là rừng từ 3 – 5 tuổi, tức là năm 2015 này là đến tuổi khai thác. Điều này cho thấy các doanh nghiệp không phải cứ ở trong vùng nguyên liệu là đã yên tâm về nguyên liệu. Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả là một ví dụ.
Công ty này có đến trên 12.000ha rừng sản xuất. Theo tính toán với 2 dây chuyền băm dăm với công suất mỗi ngày sản xuất được 400 tấn dăm như hiện nay sẽ phải sử dụng sản lượng gỗ khai thác trong khoảng trên 6ha rừng (mỗi ha 70 tấn); một năm sẽ khai thác 1.700 ha rừng.
Với chu kỳ khai thác rừng keo sản xuất là 6 đến 7 năm thì với tổng diện tích trên 12.000 ha rừng của Công ty như hiện nay là đảm bảo đủ sản lượng gỗ khai thác mỗi năm để cung cấp nguyên liệu băm dăm. Thế nhưng chỉ một cơn bão Hải Yến đi qua với thiệt hại không quá lớn, trên 300 ha rừng gãy đổ cũng đã khiến cho Công ty lao đao vì thiếu hụt nguyên liệu. Bởi vậy có thể thấy đã đến lúc chính các doanh nghiệp phải tự chủ động xây dựng vùng nguyên liệu ổn định và bền vững cho mình, nhất là đối với các đơn vị chuyên chế biến và xuất khẩu.
Ngoài ra một nguyên nhân khác được cho là dẫn đến giảm sút vùng nguyên liệu là tình trạng phát triển nở rộ và tự phát hàng loạt các cơ sở băm dăm gỗ nhỏ lẻ trong dân. Do không cạnh tranh được với các đơn vị lớn nên các cơ sở này thường chọn cách thu mua gỗ non (dưới 5 tuổi) của các hộ trồng rừng nghèo để làm nguyên liệu. Trước tình hình này, các đơn vị chức năng cũng cần phải xem lại quy hoạch phát triển các cơ sở băm dăm gỗ, trong đó phải thắt chặt quản lý các cơ sở băm dăm tự phát, nhỏ lẻ, không phép để hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng nguồn nguyên liệu.
Theo ông Hoàng Công Đãng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, việc liên kết giữa doanh nghiệp và các hộ trồng rừng theo hướng liên kết “2 nhà”, trong đó doanh nghiệp hỗ trợ hộ trồng rừng một phần chi phí đầu tư, hộ trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp đang là một hướng mở.
Hướng mở này phù hợp nhất đối với loại cây trồng là cây keo, vốn thời gian khai thác không quá lâu. Thực tế qua tiếp cận một số doanh nghiệp cũng đã thể hiện mong muốn triển khai liên kết “2 nhà” như vậy để xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu của mình.
Thực tế hiện nay trên toàn tỉnh chưa có cơ sở chế biến gỗ tinh, chế biến các sản phẩm từ gỗ để phục vụ các ngành công nghiệp giá trị cao thì hoạt động băm dăm gỗ vẫn rất lợi thế. Chính bởi vậy nên, vấn đề xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu, nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp xuất khẩu dăm gỗ đã và đang trở nên cấp thiết. Đây cũng là giải pháp căn bản để các doanh nghiệp lâm nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất khẩu dăm gỗ trên địa bàn giải quyết triệt để tình trạng thiếu nguyên liệu như hiện nay. (Môi Trường Và Đời Sống 5/11) đầu trang(
Phú Thọ là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế rừng, nhưng do đầu tư dàn trải, manh mún, nhiều diện tích rừng trồng không hiệu quả dẫn đến năng suất chất lượng rừng trồng thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu chế biến gỗ trên địa bàn.
Từ đầu năm đến nay, doanh nghiệp chế biến gỗ Thái Hoàn, nằm trên địa bàn xã Quế Lâm, huyện Đoan Hùng phải hoạt động cần chừng, gần nửa lao động liên tục nghỉ việc. Chị Nguyễn Minh Tâm, phụ trách doanh nghiệp cho biết mục tiêu xuất khẩu hơn 600 triệu đôi đũa, cùng nhiều sản phẩm que y tế, que càphê, que kem sang Nhật Bản, Hoa Kỳ trong năm nay khó hoàn thành kế hoạch.
Từ nhiều tháng nay, việc thu mua nguyên liệu gỗ gặp rất nhiều khó khăn do giá gỗ nguyên liệu biến động thất thường và tăng cao. Để có nguyên liệu sản xuất, doanh nghiệp đã phải tranh mua với các doanh nghiệp khác ở Hà Giang, Tuyên Quang có khi Yên Bái về làm.
Trong khi đó, chị Nguyễn Hồng Hảo, chủ cơ sở sản xuất gỗ Thanh Thủy, xã Quế Lâm phàn nàn các doanh nghiệp lớn cạnh tranh thu mua nguyên liệu gỗ bằng cách nâng giá khiến cho cơ sở chế biến nhỏ như của gia đình chị rất khó thu mua gỗ phục vụ chế biến.
Giá gỗ nguyên liệu hiện nay đã tăng từ 10-20% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng vẫn khó thu mua. Từ đầu năm đến nay, cơ sở sản xuất gỗ ván thanh của gia đình chị hoạt động chỉ 50-60% công suất. Để có nguyên liễu gỗ duy trì hoạt động, doanh nghiệp cũng phải đặt mua cả rừng cây chưa đủ tuổi.
Theo Phòng Công Thương huyện Đoan Hùng, trong 10 năm gần đây, nghề chế biến gỗ trên địa bàn huyện đã tăng lên nhanh chóng. Đến nay, toàn huyện có hàng trăm cơ sở và hộ gia đình làm nghề chế biến lâm sản, mỗi năm tiêu thụ hàng chục nghìn mét khối gỗ nguyên liệu.
Sản phẩm gỗ xẻ, ván, gỗ bóc của huyện được xuất khẩu nhiều nước trên thế giới, góp phần nâng cao đời sống của người dân và làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Tuy nhiên, việc tăng trưởng nóng các cơ sở chế biến gỗ đã dẫn đến khan hiếm nguồn nguyên liệu, nhiều cơ sở hoạt động cầm chừng, không ít cơ sở cũng đã phải tạm dừng hoạt động.
Không riêng ở huyện Đoan Hùng, nghề chế biến gỗ cũng phát triển mạnh ở các huyện Hạ Hòa, Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập... với tổng số 709 cơ sở chế biến gỗ vừa và nhỏ trên địa bàn toàn tỉnh. Mỗi năm, các cơ sở này tiêu thụ hàng trăm nghìn mét khối gỗ nguyên liệu.
Việc tăng quá nhanh các cơ sở chế biến gỗ tại các địa phương đã khiến cho nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm. Theo tính toán, hiện nay nhu cầu gỗ lâm sản phục vụ cho các cơ sở chế biến gỗ và sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh cần tới 680.000 m3/năm, nhưng đến nay sản lượng nguyên liệu gỗ bình quân của tỉnh mới chỉ đạt trên 280.000 m3/năm, thiếu tới 400.000m3/năm.
Một số doanh nghiệp chế biến gỗ, sản xuất giấy lớn nằm trên địa bàn tỉnh mặc dù đã xây dựng được kế hoạch "gối đầu" nguyên liệu lâu dài như các nhà mấy giấy Bãi Bằng, Việt Trì, Lửa Việt... nhưng hiện vẫn thiếu tới 70% nguồn nguyên liệu.
Riêng nhà máy giấy Bãi Bằng cần trên 500.000m3 nguyên liệu/năm, nhưng hiện tỉnh mới đáp ứng được 100-120.000m3/năm. Còn các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ bị động hoàn toàn với nguồn nguyên liệu, phần lớn nguyên liệu phải thu mua nguồn nguyên liệu lớn tại các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Sơn La...
Dự báo đến năm 2016-2020, nhu cầu nguyên liệu gỗ, giấy sẽ tăng lên 820.000m3/năm. Ngành chế biến lâm sản và sản xuất giấy sẽ lâm vào cảnh thiếu nguyên liệu trầm trọng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Thọ, toàn tỉnh có 143.500ha đất rừng sản xuất, tuy nhiên diện tích rừng trồng hàng năm trên địa bàn tỉnh chưa tương xứng với diện tích đất rừng trồng của tỉnh, còn nhiều diện tích rừng trồng quảng canh, nhất là rừng trồng bạch đàn chồi hiệu quả kinh tế thấp.
Từ năm 2010-2014, toàn tỉnh trồng được 26.000ha, bình quân mỗi năm trồng được 6.600ha. Trong 5 năm sản lượng gỗ khai thác mới chỉ đạt 1,4 triệu m3, bằng 93,3% kế hoạch, trung bình mỗi năm khai thác khoảng 28.000m3/năm, đáp ứng được từ 30-40% nhu cầu nguyên liệu phục vụ ngành chế biến gỗ và sản xuất giấy trên địa bàn hiên nay, còn lại là phải thu mua từ nơi khác.
Khắc phục tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu gỗ, tỉnh Phú Thọ đang xây dựng chiến lược phát triển vùng nguyên liệu bền vững, nhằm đưa kinh tế đồi rừng phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có.
Dự kiến, tỉnh sẽ quy hoạch vùng phát triển nguyên liệu gắn với các nhà máy chế biến với diện tích khoảng 70.000ha rừng trồng, chủ yếu là sản xuất gỗ nhỏ để phát huy cao nhất năng xuất rừng trồng, đồng thời đáp ứng đủ nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đưa loài cây phù hợp để trồng rừng sản xuất gồm keo tai tượng, keo lai, mỡ vào trồng, nâng tỷ lệ giống mới lên 30-40% vào năm 2020, đồng thời áp dụng quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh, trồng mới và chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn để tăng năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng, nâng cao tỷ lệ gỗ nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến và sản xuất đồ gỗ lớn trên địa bàn.
Tỉnh còn khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiến tiến, hiện đại, đồng bộ; đưa tỷ lệ ván nhan tạo, ván ghép thanh, đồ gỗ từ 10% như hiện nay lên 30% vào năm 2020. Mặt khác, tỉnh cũng thu hút đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ván ghép thanh, ván MDF, nhà máy chế biến gỗ tại huyện Thanh Sơn và Đoan Hùng.
Ngoài ra, tỉnh Phú Thọ đã kiến nghị Chính phủ tiếp tục bố trí kinh phí bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 và kinh phí thực hiện đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất lâm nghiệp, đồng thời kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sớm ban hành các văn bản để tránh chồng chéo trong phân cấp quản lý ở các sở, ban, ngành; hỗ trợ kinh phí để quy hoạch vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung gắn với chế biến, tạo vùng nguyên liệu ổn định, bảo đảm sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp. (Vietnam + 6/11) đầu trang(
Cuối năm nay, Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) sẽ có hiệu lực. Lúc này thuế suất hầu hết các mặt hàng, trong đó có đồ gỗ, đều được cắt giảm còn 0%.
Thông tin từ Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM cho thấy xuất khẩu gỗ năm nay vẫn ổn định như những năm trước. Sở dĩ xuất khẩu không tăng mạnh là do nền kinh tế thế giới vẫn chưa thật sự phục hồi.
Một số thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trước đây đang có xu hướng giảm. Tình trạng đồ gỗ Trung Quốc xuất bán vào Việt Nam thời gian qua giảm, ngược lại hàng Việt Nam xuất sang nước này tăng, trong đó mặt hàng dăm gỗ được bán nhiều sang thị trường Trung Quốc.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, cho biết 8 tháng đầu năm, xuất khẩu đồ gỗ đạt 4,3 tỉ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng mạnh đạt 1,6 tỉ USD, chiếm 38,7%; kế đến là thị trường Nhật 654 triệu USD; Trung Quốc 575,7 triệu USD. Thị trường châu Âu chưa có tăng trưởng do suy thoái kinh tế còn kéo dài chưa thể phục hồi được. Nhiều nhà máy sản xuất, chế biến gỗ tại Đức, Ý phải đóng cửa. Dự kiến cả năm 2015, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sẽ đạt trên 7 tỉ USD, tăng 15% so với năm trước.
Giá trị xuất khẩu trên đã phản ánh được thực lực của các doanh nghiệp gỗ trong nước. Được biết những năm trước đây, cho dù xuất khẩu tốt nhưng nhập khẩu nguyên liệu, sản phẩm gỗ chiếm tỉ trọng lớn còn trong năm qua khá thấp. Trong năm 2014, nhập khẩu đồ gỗ từ các nước chỉ khoảng 56 triệu USD, dự kiến năm nay nhập khẩu cũng sẽ tương đương năm ngoái. Cho thấy tỉ trọng đồ gỗ ngoại nhập tại thị trường Việt Nam không nhiều, chủ yếu là hàng trong nước.
Trong khi đó, mức tiêu thụ đồ gỗ nội địa đang dần phục hồi. Chẳng hạn năm 2009, tiêu thụ nội địa tăng mạnh, lên đến 2,9 tỉ USD. Tuy nhiên sau đó, do kinh tế khó khăn nên mức tiêu thụ giảm xuống còn 1,75 tỉ USD. Đến năm 2014 tăng lên 2 tỉ USD và dự kiến trong năm nay mức tiêu thụ nội địa ít nhất cũng tương đương năm ngoái.
Cuối năm nay, thuế suất các mặt hàng đồ gỗ trong khu vực AFTA sẽ được điều chỉnh còn 0%. Về lý thuyết thì sản phẩm gỗ từ các nước trong khu vực sẽ tràn sang Việt Nam, trong đó có cả ASEAN + 1 (có cả Trung Quốc tham gia sân chơi này). Theo đó, đáng ngại nhất là hàng từ Trung Quốc với mẫu mã đa dạng, giá rẻ.
Theo ông Huỳnh Văn Hạnh, đối thủ kế đến là Thái Lan, thời gian qua họ đã âm thầm thu gom các hệ thống phân phối lớn tại Việt Nam để chi phối thị trường sau này (những người đến sau sẽ lệ thuộc vào họ, tức phải mua lại hệ thống của người Thái nếu muốn xâm nhập vào thị trường này). Đối với Malaysia thì không đáng lo ngại vì họ xâm nhập vào thị trường Việt Nam theo cách khác. Họ không chú trọng vào hệ thống phân phối mà tập trung đầu tư nhà máy để sản xuất là chủ yếu...
Theo ông Hạnh, đồ gỗ trong khu vực tràn vào thì họ đã vào rồi nhưng ngành đồ gỗ trong nước vẫn đứng vững và phát triển tốt tại thị trường nội địa. Hàng Thái khó cạnh tranh với hàng trong nước do mẫu mã không đa dạng, họ chỉ đưa sang Việt Nam những mặt hàng có thế mạnh của họ. Malaysia cũng khó cạnh tranh do họ tập trung sản xuất...
Cũng theo ông Hạnh, đến thời điểm này chưa thấy làn sóng hàng nước nào tràn vào Việt Nam như dự đoán trước đây. (Người Lao Động 6/11) đầu trang(
Ngày 5.11, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã trao giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty TNHH Nitori Bà Rịa-Vũng Tàu, có tổng vốn đăng ký là 150 triệu USD.
Theo đó, công ty này sẽ đầu tư tại KCN Phú Mỹ 3 (H.Tân Thành) nhà máy sản xuất đồ gỗ, đồ nội - ngoại thất và trang trí nội - ngoại thất theo loại hình doanh nghiệp (DN) chế xuất trong KCN, với quy mô 8.000 sản phẩm/ngày.
Đây là DN thứ 25 của Nhật Bản, nâng tổng vốn đầu tư của quốc gia này đạt 2,25 tỉ USD tại Bà Rịa-Vũng Tàu; đồng thời là DN đầu tiên của Nhật Bản đầu tư vào KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3, hướng đến phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giai đoạn 2015 - 2020. Dự án chính thức khởi công xây dựng nhà máy vào tháng 6.2016. (Thanh Niên 6/11) đầu trang(
Báo Thanh tra ngày 13/10/2015 đã đăng bài phản ánh hàng loạt sai phạm tại Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Trà Tân (Cty Trà Tân), trong đó có nhiều sai phạm nghiêm trọng như để mất vốn Nhà nước giao, phải chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục xử lý theo pháp luật.
Ngày 22/10, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 348/QĐ-UBND về thu hồi 5.335m2 đất vườn ươm tại xã Nghĩa Dõng (TP Quảng Ngãi), do Cty Trà Tân không sử dụng nhiều năm qua mà cho người ngoài thuê để thu lợi.
Quyết định của Chủ tịch tỉnh giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh - Chi nhánh TP Quảng Ngãi quản lý, nhằm thực hiện tạo ra quỹ đất sạch để trình cấp thẩm quyền đưa quỹ đất vào sử dụng có hiệu quả. (Thanh Tra 6/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Hãng xe Thụy Điển Volvo đang phát triển một công nghệ giúp các tài xế tại Úc có thể tránh khỏi sự ám ảnh từ ... những chú chuột túi.
Một nhóm kỹ sư của Volvo từ Gothenburg, Thụy Điển nơi đặt đại bản doanh của Volvo đã tới Canberra, Úc nhằm phát triển công nghệ này.
Công nghệ mới chưa được đặt tên nhưng về bản chất đây là một sự nâng cấp từ công nghệ phanh tự động City Safety vốn có mặt trên hầu hết các xe của Volvo. Chiếc xe được trang bị công nghệ mới này sẽ sử dụng các camera và cảm biến quét đường phía trước để phát hiện ra bất cứ chú chuột túi nào đang băng qua đường. Còi báo động sẽ vang lên và nếu tài xế vẫn không dừng xe, hệ thống sẽ khởi động quá trình phanh tự động.
Volvo là một hãng sản xuất xe có kinh nghiệm trong việc phát triển các hệ thống nhằm tránh việc va chạm với động vật hoang dã. Tại Thụy Điển, hãng xe đã thành công trong việc giúp các lái xe tránh va chạm với những con nai sừng tấm thường xuyên xuất hiện trên đường. Tất nhiên với chuột túi nó sẽ rất khó khăn bởi chúng hoạt động đột ngột và nhanh hơn nai.
Vấn đề va chạm giữa phương tiện giao thông và chuột túi tại Úc đã trở nên khá nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê mới đây cho thấy có 20.000 vụ va chạm giữa chuột túi và xe hơi trong năm 2014 với tổng thiệt hại khoảng 53 triệu USD. (Công An Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Các nhà khoa học Trung Quốc đã giải mã ra được bí mật ngôn ngữ của gấu trúc lớn, mở ra nhiều cơ hội bảo tồn loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng này.
Nhóm nghiên cứu tới từ Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Gấu trúc lớn (CCRCGP) đã tìm ra hơn 10 loại âm thanh mà gấu trúc lớn sử dụng để nói những câu như “Tôi yêu bạn,” “Tôi đang đói” và “Đi chỗ khác đi.”
Hiện nhóm nghiên cứu đang lên kế hoạch phát triển một công cụ phiên dịch “Tiếng gấu trúc,” sử dụng công nghệ nhận biết giọng nói để hiểu được những con gấu đang giao tiếp gì với nhau.
Quá trình nghiên cứu ngôn ngữ của loài gấu trúc lớn đã kéo dài suốt 5 năm qua. Các nhà nghiên cứu đã ghi lại âm thanh do gấu trúc đực và cái trưởng thành cùng gấu trúc con phát ra trong nhiều tình huống khác nhau.
Kênh Tân Hoa Xã cho biết, nhóm nghiên cứu đã phiên dịch được 13 loại âm thanh khác nhau của gấu trúc. Dựa trên những âm thanh gấu trúc phát ra trong các hoạt động như ăn uống, gây lộn hay giao phối, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra khi gấu trúc con kêu “gee-gee” có nghĩa là chúng đang đói. Khi chúng kêu “wow-wow” nghĩa là chúng không vui, và “coo-coo” nghĩa là tốt hoặc tuyệt vời.
Giám đốc CCRCGP Zhang Hemin cho biết: “Chúng tôi đã giải mã được một số ngôn ngữ của loài gấu trúc, và kết quả khá là thú vị. Gấu trúc đực thường sống một mình, do đó chúng chỉ học ngôn ngữ duy nhất từ mẹ của chúng. Nếu một con gấu mẹ liên tục kêu lên âm thanh như tiếng chim, nó đang lo lắng cho con non. Khi gấu mẹ gầm lớn nghĩa là có kẻ lạ mặt đang đến gần.”
Giám đốc Zhang giải thích tiếng gầm có nghĩa là “đi chỗ khác đi.” Khi cần bày tỏ tình cảm, gấu đực sẽ kêu lên “baa,” trong khi gấu cái đáp lại bằng âm thanh như tiếng chim liếp chiếp. Những âm thanh này khiến các nhà nghiên cứu rất bất ngờ.
“Ban đầu chúng tôi rất bối rối vì không biết mình đang nghiên cứu tiếng gấu trúc, tiếng chim, tiếng chó hay tiếng cừu nữa. Nhưng nếu hiểu được ngôn ngữ của gấu trúc, chúng tôi sẽ có nhiều cơ hội để bảo tồn chúng hơn, nhất là trong môi trường hoang dã”, giám đốc Zhang chia sẻ. (Vietnam + 6/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||