|
Ngày 06 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo báo cáo mới nhất ngày 4/6 của Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên WWF “Mekong Kỳ bí” tại Việt Nam, một loài dơi có hình thù kỳ dị lần đầu tiên được trông thấy tại đảo Cát Bà năm 2008.
Tuy nhiên, sau khi một nhóm các nhà nghiên cứu bắt được thêm một số cá thể, chúng mới được xác định là một loài hoàn toàn mới. Loài dơi Grifin mũi lá (Hipposideros griffin) được nhận diện bởi chiếc mũi thịt kỳ cục có chức năng trợ giúp chúng trong việc định vị qua tiếng vang, tương tự như khả năng sử dụng sóng siêu âm để giúp chúng di chuyển.
Cũng tại Việt Nam, một loài cá tí hon và gần như trong suốt, với một cơ chế giải phẫu rất phức tạp đã được phát hiện. Phallostethus cuu long có cơ quan sinh sản nằm ngay dưới miệng. Chúng giao phối với nhau bằng đầu, với cơ quan sinh sản của con đực móc vào cơ quan sinh sản của con cái.
Còn loài ếch bay Helen (Rhacophorus helenae) được phát hiện trong phạm vi chưa tới 100km tính từ TP Hồ Chí Minh. Loài ếch xanh lớn này đã tránh được sự chú ý của các nhà sinh vật học cho đến tận bây giờ nhờ việc lướt giữa các ngọn cây bằng các chi lớn và có màng và chúng chỉ nhảy xuống để sinh sản trong các hồ nước mưa. (Tài Nguyên & Môi Trường + Giao Thông Vận Tải + Nông Thôn Ngày Nay + Saigontimes 5/6) đầu trang(
Loài bọ cạp mới này thuộc họ Chaerilidae được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập được trong hang Pa Thơm, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vừa công bố một loài bọ cạp mới. Loài này có tên khoa học là Chaerilus pathom Lourenco & Phạm. Phát hiện này cũng được công bố trên Tạp chí Quốc tế uy tín Comptes Rendus Biologies (5/2014).
Theo công bố của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, loài bò cạp này được được phát hiện bởi TS. Phạm Đình Sắc (nhà khoa học của Viện) và TS. Wilson Lourenco thuộc Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris – Pháp.
Loài bọ cạp mới này thuộc họ Chaerilidae được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập được trong hang Pa Thơm, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Theo nghiên cứu, loài bò cạp này được mô tả có màu nâu vàng, có nhiều đốm nâu đậm.
Theo TS. Phạm Đình Sắc, các phát hiện mới không chỉ có ý nghĩa trong khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao. Nọc bọ cạp là nguyên liệu tự nhiên tiềm năng cho ngành dược hiện tại và trong tương lai. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/6) đầu trang(
4/6, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, Trung tâm vừa ra mắt phim ngắn truyền thông mới, khuyến khích cộng đồng cùng chung tay bảo vệ những cá thể hổ hiếm hoi còn tồn tại trong tự nhiên bằng cách không sử dụng cao hổ.
Trong những thập kỉ gần đây, quần thể hổ trong tự nhiên của Việt Nam đang giảm mạnh, chủ yếu là do nạn săn bắn và buôn bán trái phép. Việt Nam hiện chỉ còn chưa tới 30 cá thể hổ trong môi trường hoang dã.
Bà Nguyễn Thị Phương Dung, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên lo lắng: “Nếu chúng ta không có những biện pháp quyết liệt, loài hổ sẽ sớm tuyệt chủng giống như tê giác một sừng của Việt Nam”.
Đây là phim ngắn thứ hai được ra mắt trong năm 2014 nhằm giảm nhu cầu tiêu thụ cao hổ tại Việt Nam và là phim ngắn thứ 19 trong chiến dịch dài hạn của ENV nhằm giảm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. (Khoa Học & Đời Sống 6/6; Công An Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Trước nguy cơ cháy rừng gay gắt, năm nay là năm đầu tiên Nghệ An phải huy động một lực lượng lớn gồm sự phối hợp liên ngành giữa công an, quân đội, kiểm lâm và người dân các địa phương sẵn sàng tham gia chữa cháy, cứu rừng.
Tại tỉnh Nghệ An trong những ngày gần đây thời tiết nắng nóng, không mưa, kết hợp với gió phơn Tây Nam (gió Lào) làm thảm thực bì khô nỏ. Cháy rừng đã xảy ra ngày càng gay gắt.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ cháy rừng, làm thiệt hại khoảng 97,6 ha rừng và thảm lau lách, cây bụi.
Ông Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cho biết: Đây là năm có số vụ cháy rừng nhiều nhất, diện tích rừng bị cháy nhiều nhất và đau xót hơn là đã có người chết. Đây cũng là năm đầu tiên Nghệ An phải huy động một lực lượng lớn gồm sự phối hợp liên ngành giữa công an, quân đội, kiểm lâm và người dân các địa phương tham gia chữa cháy, cứu rừng.
Ông Nguyễn Xuân Đường cũng yêu cầu lực lượng công an sớm điều tra ra nguyên nhân các vụ cháy rừng. Từ đó, sớm khởi tố và đưa ra xét xử trên phương châm xử lý nghiêm, kể cả trong trường hợp vô ý gây cháy rừng.
Ngày 4/6, Đoàn công tác của Tổng cục Lâm nghiệp do Phó Tổng cục trưởng Cao Chí Công làm Trưởng đoàn đã đến kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Nghệ An.
Đoàn đã đi thực địa kiểm tra thực tế tình hình cháy rừng tại những khu vực trọng điểm cháy rừng thuộc các huyện Nam Đàn, Yên Thành,... làm việc với Sở NNPT Nghệ An về công tác phòng cháy chữa cháy rừng và một số vấn đề liên quan đến thực hiện nhiệm vụ lâm nghiệp năm 2014.
Theo đánh giá của đoàn công tác, hiện nay Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An đã chủ động xây dựng kế hoạch phòng cháy chữa chữa cháy rừng, tích cực, chủ động với phương châm "bốn tại chỗ". Trong thời kỳ cao điểm đã huy động lực lượng túc trực 24/24 giờ trong ngày. Khi xảy ra cháy rừng chính quyền địa phương đã nhanh chóng huy động các lực lượng (Kiểm lâm, Quân sự, Công an, Dân quân tự vệ, nhân dân địa phương...) và coi việc chống cháy rừng là công việc cấp bách của địa phương.
Hiện nay, tại tỉnh Nghệ An có hơn 30.000 ha rừng thông thuộc diện nguy cơ cháy cao, trong đó vùng trọng điểm gồm 16.000 ha. Tuy nhiên, hiện việc phát dọn thực bì mới chỉ triển khai được 5.000 ha. 11.000 ha rừng chưa có kinh phí để thực hiện nên nguy cơ cháy rừng luôn đe dọa. (Chính Phủ 5/6) đầu trang(
Hàng chục hécta rừng nguyên sinh dọc theo bờ suối thuộc tiểu khu 1716 và 1712 do Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha, huyện Đắk Glong (Đắk Nông) quản lý đã bị “vàng tặc” đốn hạ ngổ
Dọc theo tuyến tỉnh lộ 4 từ trung tâm thị xã Gia Nghĩa khoảng 30km, xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong nằm lọt thỏm giữa đồi núi bao quanh. Ông Đoàn Nhị Hà, Phó trưởng Công an xã, dẫn đường cho chúng tôi cho biết, hiện trên địa bàn có tới hàng chục tụ điểm với nhiều điểm khai thác vàng trái phép đã tồn tại nhiều năm nay, gây nên những điểm nóng về an ninh trật tự rất khó kiểm soát.
Có mặt tại một tụ điểm khai thác vàng trái phép thuộc tiểu khu 1716, trước mặt nhóm PV là hơn 10 lán trại kiên cố đã được dựng lên, hàng trăm con người đang thi nhau hì hục đào bới. Những cái hố sâu cả chục mét nối tiếp nhau, kéo dài hàng trăm mét. Hai bên bờ của dòng suối, những thân cây gỗ có đường kính hơn 1m bị đốn hạ ngổn ngang.
Theo tìm hiểu được biết, tại đây đã có gần 10 đầu nậu chia lô, quản lý và khai thác vàng trái phép. Một số đầu nậu có vốn dùng cả máy đào để khai thác. Tất cả từ đất, đá, cát… được máy xúc đưa lên dàn đãi sàng lọc, sau đó được người làm thủ công dùng sàng lắng để chia tách vàng cám. Với những chủ ít vốn thì chỉ cần vài cái máy nổ, một dàn đãi vàng cùng dăm nhân công là có thể kiếm được vài chỉ mỗi ngày. Tất cả hoạt động như một đại công trường, tạo nên dòng nước đục ngàu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tiếp cận với anh N.T.L. (19 tuổi, trú tại phường Nghĩa Đức, thị xã Gia Nghĩa) được biết, nhóm bạn của L khoảng 5 người đang làm cho ông chủ Đạt (trú tại huyện Đắk Song). Trung bình mỗi ngày nhóm của L. đãi được khoảng 2 chỉ vàng. Ngoài tiền ăn uống, sinh hoạt, mỗi người được ông chủ trả 70.000 đồng/ngày. Cách hầm của ông Đạt vài chục mét là đại công trường của ông Sáng - một đầu nậu đến từ huyện Đắk Mil. Khác với các chủ trong bãi vàng, ông Sáng đầu tư hẳn cả một dàn máy móc hiện đại, như: xe ủi, máy đào, giàn sàng… nhằm giảm bớt nhân công và khai thác hiệu quả hơn.
Anh Nguyễn Văn Liền (trú tại Quảng Nam) được ông Sáng thuê nấu ăn cho các thợ đãi vàng cho biết: “Mỗi ngày ông chủ thu cả chục chỉ vàng nhưng chúng em đã 3 tháng nay chưa được trả đồng lương nào, ăn uống thì khổ cực. Dù ở gần thị xã nhưng chẳng mấy khi được ra ngoài bởi vì ông chủ không cho phép”.
Ông Lê Tuấn Khang, Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha cho biết: “Cả 3 tụ điểm khai thác vàng trái phép đều nằm trên đất quản lý của Xí nghiệp. Tuy nhiên, mỗi lần chúng tôi cử cán bộ xuống ngăn cản không cho khai thác vàng thì lập tức các chủ bãi lại cho “đàn em” tới dằn mặt nên chúng tôi đành “bất lực” trước tình trạng khai thác vàng trái phép trong nhiều năm qua”.
Ông Khang cho biết thêm, các đối tượng khai thác vàng rất manh động, trong khi đó lực lượng quản lý bảo vệ rừng lại quá mỏng. Mới đây, khi 2 cán bộ bảo vệ rừng của Xí nghiệp đang đi tuần tra gần khu vực khai thác vàng trái phép thì bị hơn 10 đối tượng bịt mặt trấn áp, dùng dao chém. Rất may, các anh đã kịp chạy thoát thân.
Theo một số hộ dân sống gần đây cho biết, tình trạng khai thác vàng trái phép trên địa bàn xã Đắk Ha đã diễn ra hơn 10 năm nay, nhưng do sự buông lỏng quản lý của chính quyền địa phương và trước sức hút của lợi nhuận nên ban đầu chỉ vài chục người, vào thời cao điểm có lúc lên đến cả trăm người. Những người tham gia khai thác vàng đa phần là dân nhập cư từ các tỉnh khác đến nên rất khó kiểm soát. Do bị đào bới tứ tung và thành những hầm sâu từ 10-20m để lấy đất chứa vàng, sau đó đưa ra suối đãi nên hàng chục hécta rừng phòng hộ của Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha đã bị hủy hoại.
Đó là chưa kể việc chặt phá cây rừng để làm lều trại, đun nấu... đã khiến cho rừng phòng hộ bị tàn phá, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ngoài ra, tình trạng mất an ninh chính trị và trật tự xã hội vùng nông thôn ở khu vực này cũng đang ở mức báo động.
Việc khai thác vàng trái phép đã làm cho nguồn tài nguyên quý hiếm của đất nước bị tổn thất. Bên cạnh đó, khu rừng đặc dụng cũng đang bị đe dọa xâm hại nghiêm trọng…; còn công tác kiểm tra, xử lý thì chính quyền địa phương lại thả nổi khiến cho nguồn tài nguyên của Nhà nước đang bị mất dần, trong khi các đầu nậu đang mặc sức tung hoành. Thiết nghĩ, cơ quan chức năng địa phương cần có biện pháp kiên quyết hơn nữa trong việc xử lý các đầu nậu đào vàng trái phép ở đây.
Ông Đàm Quang Trung, Chủ tịch UBND huyện Đắk Glong cho biết, UBND huyện đã có văn bản chỉ đạo Công an, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác vàng trái phép tại các địa điểm trên.
Tuy nhiên, theo một cán bộ thường xuyên tham gia đoàn kiểm tra, nhiều khả năng “vàng tặc” đã được bảo kê. Bằng chứng là mỗi lần truy quét, lần nào đoàn kiểm tra ra quân, các ông chủ bãi vàng đều biết trước nên đã kịp thời tẩu tán phương tiện, máy móc vào rừng. Sau khi đoàn kiểm tra rút, hoạt động khai thác vàng lại được tái lập. Thậm chí, có lần đoàn kiểm tra chưa vào tận nơi thì một số thành viên trong đoàn nhận được điện thoại xin “đừng truy quét”... (Công An Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Nằm cách đất liền hàng chục km, điều kiện sống của người dân còn gặp không ít khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn... nhưng nhờ sự nỗ lực, đồng thuận giữa chính quyền và người dân, Cù Lao Chàm được đánh giá là địa điểm du lịch hấp dẫn với môi trường sinh thái đa dạng mang tính bền vững.
Cù Lao Chàm là một cụm đảo thuộc xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, Quảng Nam với 8 đảo Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Đảo có 560 hộ dân với khoảng 3.000 người.
Tại Cù Lao Chàm có hơn 311ha rạn san hô, với khoảng 300 loài; 50ha thảm cỏ biển với 5 loài đặc trưng; 76 loài rong biển; hơn 270 loài cá; 97 loài thân mềm; 11 loài động vật da gai... Khu rừng đặc dụng Cù Lao Chàm có 499 loài thuộc 352 chi, 115 họ của 5/6 ngành thực vật bậc cao...
Chính vì sự phong phú, đa dạng sinh học nên hàng năm, Cù Lao Chàm đón khá nhiều khách du lịch đến đây tham quan, lưu trú. Tuy nhiên, khi lượng khách đến khá đông, nhiều hiện tượng tiêu cực đã xảy ra như vứt rác thải bừa bãi, đặc biệt là rác thải vô cơ, rất khó phân hủy; xâm phạm đến hệ sinh thái rừng cũng như sự đa dạng sinh học biển...Thậm chí nhiều du khách còn muốn thưởng thức những món đặc sản là những động, thực vật quý hiếm sinh sống trên Cù Lao Chàm..., gây ra nguy cơ tuyệt chủng các loài động, thực vật quý hiếm.
Anh Phạm Minh Hải, trú thôn Bãi Ông cho biết trước đây, người dân Cù Lao Chàm chủ yếu sống bằng nghề biển, khai thác yến sào và nghề rừng... Tuy nhiên, khi lượng khách du lịch đến đây tăng đột biến thì nhiều người dân đã vì lợi nhuận mà “tiếp tay” cho du khách hủy hoại môi trường. Họ đã bắt và bán cua đá - một loại động vật quý hiếm, hoặc khai thác san hô làm kỷ niệm, thậm chí một số người dân còn liều lĩnh dẫn đường cho du khách đi săn.
Trước thực trạng trên, lãnh đạo thành phố Hội An đã đề ra những giải pháp tích cực nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học trên vùng đảo Cù Lao Chàm. Thành phố đã xúc tiến thành lập Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm để quản lý, bảo vệ, phát triển hệ sinh thái trong vùng.
Ngay sau khi thành lập, cán bộ Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã phối hợp với Viện hải dương học Nha Trang phục hồi rạn san hô cứng. Cán bộ Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm cũng đã vận động người dân nói không với túi nilông và tiến hành phân loại rác tại nguồn. Đến nay, 100% hộ dân sinh sống trên đảo không còn dùng túi nilông trong sinh hoạt thường ngày. Do đó, ngày 26/5/2009, Ủy ban điều phối quốc tế chương trình con người và sinh quyển thế giới của UNESCO đã công nhận Cù Lao Chàm-Hội An là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Bà Trần Thị Hồng Thúy, Phó trưởng Ban thường trực Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm-Hội An cho biết thời gian qua, với sự quản lý của lãnh đạo cùng với sự đồng thuận của người dân địa phương, công tác bảo vệ tài nguyên-môi trường, đặc biệt là các giá trị của rạn san hô, thảm cỏ biển, đa dạng sinh học đã từng bước được quản lý, bảo vệ và không ngừng phát triển; đem lại không gian xanh, sạch hơn cho điểm du lịch Cù Lao Chàm.
Không gian sạch, môi trường thân thiện, sản vật dồi dào đã khiến Cù Lao Chàm trong thời gian gần đây được xem như là “điểm sáng” trên bản đồ du lịch Việt Nam. Trong năm 2013, tổng lượt khách đến tham quan đảo đạt gần 170.000 lượt người, trong đó lượng khách quốc tế chiếm hơn 1/3.
Chính quyền xã Tân Hiệp đã hướng dẫn người dân cách làm du lịch bền vững, gắn với bảo tồn sự đa dạng hệ sinh thái trên đảo. Toàn xã đảo hiện có gần 100 hộ kinh doanh dịch vụ du lịch.
Ông Trần Tấn Dũng, Bí thư xã đảo Tân Hiệp cho biết những năm gần đây, đời sống của người dân trên đảo được nâng lên rõ rệt; thu nhập bình quân đầu người đạt 24 triệu đồng/người/năm. Năm 2013, tổng thu của xã đạt 62 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực du lịch, dịch vụ và thương mại chiếm tỷ trọng cao.
Đối với lĩnh vực ngư nghiệp, nhờ giá trị thương phẩm cao, ngư dân linh hoạt trong tổ chức sản xuất theo từng vụ cá nên thu nhập ổn định. Tổng sản lượng hải sản khai thác trong năm 2013 của đảo đạt 900 tấn, trong đó sản lượng xuất khẩu đạt gần 700 tấn.
Ông Lê Văn Giảng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hội An cho biết lượng khách đến Hội An nói chung và Cù Lao Chàm nói riêng khá đông nên việc bảo tồn đa dạng sinh học gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhờ nỗ lực tuyên truyền, giải thích và nhất là sự đồng thuận của người dân nên đến nay, bước đầu công tác bảo tồn và phát huy đa dạng sinh học đã có bước tiến đáng kể.
Ông Giảng cho biết trong thời gian tới, chính quyền địa phương tiếp tục giải thích cho người dân, các doanh nghiệp lữ hành hiểu rằng bảo vệ môi trường đa dạng sinh học của Cù Lao Chàm tức là bảo vệ “nguồn sống” của chính họ. (Vietnam+ 6/6) đầu trang(
Sáng 5-6, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đác Nông đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Y Ninh và Y Vin, trú tại xã Nâm N’đir, huyện Krông Nô về hành vi cướp tài sản.
Trước đó, vào đêm 4-6, các nhân viên trạm quản lý, bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Nam Nung (xã Nam Nung, huyện Krông Nô) phát hiện một xe cày chở hai hộp gỗ dổi tại Tiểu khu 1289 thuộc lâm phần do công ty Nam Nung quản lý.
Lực lượng quản lý, bảo vệ rừng liền chặn lại và tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện đưa về trụ sở công ty để giải quyết. Lúc này, Y Khem, trú tại thôn Đác Prí, xã Nâm N’đir đã xuất hiện, nhận số gỗ trên là của mình và đề nghị các cán bộ của công ty thả số gỗ và xe tang vật ra nhưng không được đồng ý.
Khi các nhân viên quản lý, bảo vệ rừng áp tải xe gỗ nói trên về trụ sở công ty thì bị 10 đối tượng, trong đó có Y Ninh và Y Vin mang theo dao, rựa, gậy gộc đến hành hung các anh Nguyễn Phi Long, Y Chôm là cán bộ quản lý, bảo vệ rừng của công ty và điều khiển chiếc xe cày cùng hai hộp gỗ dổi nói trên trở về nhà.
Vụ việc đang được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô tiếp tục điều tra, làm rõ. (Công An Nhân Dân 6/6; Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Sáu tháng đầu năm 2014, Vườn Quốc gia Tràm Chim kết hợp Công an huyện Tam Nông (Đồng Tháp) đã tuần tra phát hiện và ngăn chặn 94 vụ, với 434 người xâm phạm trái phép.
Qua đó bắt và xử lý 28 vụ 53 đối tượng sử dụng xung điện khai thác thuỷ sản, sử dụng câu-lưới và chăn thả gia súc trái phép.
Đồng thời, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 24 vụ với 39 đối tượng, thu tiền nộp phạt 40,7 triệu đồng. Bên cạnh đó, lực lượng Kiểm lâm Vườn Quốc gia Tràm Chim và Công an huyện Tam Nông còn phát hiện và ngăn chặn kịp thời 2 vụ xâm phạm trái phép vào vườn còn chống người thi hành công vụ làm 2 nhân viên bảo vệ bị thương...
Qua đó, Công an huyện đã lập hồ sơ truy tố 1 vụ gồm 4 tên xâm phạm trái phép vào Vườn Quốc gia Tràm Chim để đánh bắt và khai thác thủy sản bằng xung điện mang tính hủy diệt và chống người thi hành công vụ. (Nông Nghiệp VN 6/6) đầu trang(
5.6, tin từ Công an H.Nam Trà My (Quảng Nam) cho biết khoảng 1 tuần nay xuất hiện một số tư thương tuồn củ rừng có đặc điểm, hình dáng, kích thước gần giống sâm Ngọc Linh (sâm K5) từ tỉnh Kon Tum sang địa bàn Nam Trà My để trộn lẫn với sâm thật.
Sâm giả được một số hộ mua gom với giá khoảng 15 triệu đồng/kg, sau đó trộn với sâm Ngọc Linh chính hiệu rồi bán với giá gấp 3 - 4 lần. Cơ quan chức năng H.Nam Trà My đang xử lý và mở rộng điều tra; đồng thời cảnh báo người dân tìm hiểu kỹ nguồn gốc, đặc điểm sâm Ngọc Linh trước khi mua hàng và trình báo cho cơ quan chức năng gần nhất nếu phát hiện hành vi vận chuyển, mua bán sâm giả. (Thanh Niên + Công An Đà Nẵng 6/6) đầu trang(
Ngày 5/6, Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà -Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) đã tiếp nhận và tái thả lại rừng 1 cá thể voọc vá chân nâu. Cá thể voọc này trong tình trạng suy nhược, hoảng loạn do bị lạc đàn và di chuyển vào khu vực Bãi Bụt.
Voọc vá chân nâu hay còn gọi là Chà vá chân đỏ có tên khoa học Pygathrix nemaeus, là loài Linh trưởng (Primates) thuộc phân họ Khỉ ăn lá (Colobinae). Đây là loài động vật hoang dã thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm được pháp luật bảo vệ.
Ở Việt Nam, voọc vá chân nâu sống chủ yếu trong các khu rừng mưa nhiệt đới của Trung Trường Sơn (gồm các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam và TP Đà Nẵng). Trong số này có trên 60% cá thể phân bố ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (Đà Nẵng).
Các kết quả điều tra đều cho rằng số lượng quần thể voọc vá chân nâu ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà đang suy giảm nghiêm trọng. Hiện đã xác định được ít nhất có 18 đàn voọc vá chân nâu với số lượng khoảng 300 cá thể với kích cỡ đàn trung bình là 14 - 17 cá thể/đàn.
Được biết, đây là cá thể voọc vá chân nâu thứ 8 đã được Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng cứu hộ và tái thả lại Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà từ năm 2005 đến nay cùng với 2 cá thể voọc (trưởng thành) đã chuyển giao cho Vườn Quốc gia Cúc Phương và 1 cá thể voọc non chuyển giao cho Thảo Cầm Viên TPHCM để chăm sóc nuôi dưỡng phục vụ nghiên cứu bảo tồn gen.
Hiện trên thế giới, voọc vá chân nâu được xem là loài thú đặc hữu của Việt Nam và Lào, trong đó trên 80% số lượng cá thể phân bố ở Việt Nam. (Dân Trí 5/6) đầu trang(
Huyện miền núi Nam Giang của tỉnh Quảng Nam đang đứng trước thảm cảnh về môi trường. Những gì mà PV chứng kiến dọc tuyến QL 14 D đi qua huyện Nam Giang những ngày cuối tháng 5 đầu tháng 6 vừa qua cho thấy suốt một thời gian rất dài, con người đã ứng xử man rợ với thiên nhiên, để lại bức tranh môi trường nham nhở tang thương.
Dưới nắng tháng 6 chói chang, đứng ở cầu Giằng tại Km 0 + 250 trên quốc lộ 14 D, chúng tôi không khỏi rùng mình chứng kiến dòng nước vàng như nước nghệ, lừ đừ mỏi mệt chảy qua thân cầu. Bên trái cầu Giằng về phía thượng nguồn, có 2 dòng chảy - một dòng trong veo và một dòng sền sệt màu vàng.
Ông Nguyễn Trí, Giám đốc Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) sông Thanh đồng thời là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sông Thanh cho biết, dòng chảy trong là sông Cái, dòng vàng là sông Thanh. Màu vàng của dòng sông Thanh không phải bởi mưa nguồn mà do khai thác vàng vô tội vạ.
Ở khu vực cầu Cà Đăng tại km 5 + 185 thuộc địa phận xã Tàbhing, dòng sông bị đảo lộn với vô vàn hố hục. Gần 10 km sông Thanh song song QL 14 D qua xã Tàbhing chỉ còn là khe nước vàng len lỏi dưới những đống đất, đá bị vun cao như mái nhà. Dọc theo dòng sông là thôn làng và mái nhà Gươl của người Cơ Tu. Đàn ông, đàn bà Cơ Tu trốn nắng nóng dưới mái nhà Gươl, ngồi bó gối trông xuống khe nước vàng không tôm cá kể rằng có một ông nào đó tên là Năm, đem máy móc đến đào xới lòng sông lấy vàng. Ông Năm khai thác được vài tháng mới thấy huyện cho lực lượng truy quét, buộc phải rút đi để lại lòng sông biến dạng cùng hệ lụy ô nhiễm buộc dân phải gánh chịu.
Cũng tại cầu Cà Đăng, bên một căn nhà cũ nát cạnh lòng sông Thanh, chúng tôi thấy mấy chiếc máy đào công suất lớn và chiếc xe tải chất đầy phương tiện khai thác vàng. Các phương tiện này đang có người trông giữ, thể hiện cuộc đào xới lòng sông Thanh chưa đến hồi kết thúc.
Sông Thanh (còn gọi là sông Đắk Peng) khởi nguồn từ những đỉnh núi cao của huyện Đắkgley tỉnh Kon Tum, chảy qua huyện Phước Sơn, Nam Giang tỉnh Quảng Nam với tổng chiều dài 72 km. Dòng sông vốn trong xanh với những thác ghềnh đẹp như tranh vẽ giờ đây tả tơi khi đi qua địa bàn huyện Nam Giang để hòa vào dòng nước Vu Gia đổ ra biển.
Trụ sở Ban quản lý KBTTN sông Thanh đóng tại km 5 QL 14 D. Đứng từ trụ sở Ban quản lý KBTTN sông Thanh có thể nhìn rõ dòng sông – nơi thì tơi tả đất đá, hố hục, chỗ thì "lấp lóa” sắc vàng sền sệt của dòng nước đang mỏi mệt trôi xuôi. Tìm đến đây, PV không khỏi có cảm giác như nghe lời ai điếu cho số phận dòng sông từng là mạch nguồn nuôi sống đất đai rừng núi Nam Giang - khi cán bộ có trách nhiệm nói một cách lạnh lùng: Khoáng sản phức tạp vì có quá nhiều ngành quản lý!
Từ trụ sở Ban quản lý KBTTN sông Thanh ngược Q L 14 D lên cửa khẩu biên giới Nam Giang, nơi nào cũng gặp núi đồi bị đốt cháy. Trên đám cháy khét lẹt tàn tro là thân cây có độ tuổi vài năm đến vài chục năm đứng lặng câm trơ trọi. Những đám rẫy nham nhở cứ ngày một nhiều thêm. Cây to đua nhau ngả rạp, cháy đen. Người Cơ Tu, người Ve, người Tà Riềng ở Nam Giang đốt rừng vì sinh kế và cả vì "kém hiểu biết” trong khi đó các cơ quan, ban ngành có trách nhiệm với môi trường của huyện miền núi này lại tỏ ra vô can trước những gì đang diễn ra.
Kết thúc hành trình dọc QL 14 D qua Nam Giang, ngày 3 – 6, PV đã gặp ông A Lăng Cường, Trưởng phòng TN&MT huyện. Trước phản ánh của chúng tôi về thực trạng đau lòng của dòng sông Thanh, ông Cường cho biết, đã truy quét, đẩy đuổi được chủ khai thác đi và tại thời điểm này không có ai khai thác vàng ở sông Thanh nữa. Theo ông Cường, việc khai thác khoáng sản ở nơi nào cũng phức tạp như nhau. Phòng TN&MT huyện chỉ có 9 người và lĩnh vực khoáng sản chỉ có một người phụ trách nên…khó lắm!
Người đứng đầu cơ quan quản lý TN&MT huyện Nam Giang không đề cập đến tổ chức, cá nhân nào có trách nhiệm hoàn thổ và cũng không thể khẳng định đến bao giờ chấm dứt tình trạng khai thác vàng trái phép ở thượng nguồn sông Thanh có màu vàng như nghệ. Ông Cường nói rằng phải đợi đến sau Ngày Môi trường thế giới 5 – 6 phòng TN&MT Nam Giang mới có thể đề xuất, phối hợp đi truy quét đẩy đuổi vàng tặc, lâm tặc ra khỏi rừng. Trước đến nay, huyện đã nhiều lần tổ chức truy quét nhưng hễ cứ chuẩn bị ra quân là cả vàng tặc lẫn lâm tặc đã biết rồi nên cũng…khó lắm.
Sông suối đổi màu, núi rừng nham nhở là bức tranh môi trường rõ nét ở Nam Giang thời điểm này. (Đại Đoàn Kết 5/6) đầu trang(
15h ngày 3/6, Phòng PC49 Công an tỉnh Hà Giang phát hiện vụ cất giấu lâm sản trái phép (vô chủ) tại thôn Lũng Buông, xã Thuận Hòa, huyện Vị Xuyên (Hà Giang), gồm 16 thanh gỗ nghiến (6,5cmx25cmx03m); 33 khúc gỗ nghiến dạng thớt đường kính khoảng 42cm dày khoảng 24cm.
Tổ công tác đã mời Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang, chính quyền xã Thuận Hòa tiến hành lập biên bản thu số tang vật trên để xác minh, điều tra làm rõ. (Pháp Luật VN 6/6; Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Vụ cháy gần 16 ha rừng trồng thông lâu năm có xen dắm keo ở tiểu khu 226, thuộc xã Lộc Yên (Hương Khê) có thể xem là vụ cháy lớn thứ nhì trên địa bàn trong những năm gần đây.
Dù đám cháy đã được dập tắt, rừng đã bị thiệt hại, hậu quả đang được khắc phục nhưng chúng ta vẫn phải nghiêm túc rút kinh nghiệm bởi từ vụ hỏa hoạn này đã cho thấy nhiều hạn chế trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR)...
Khi tiến hành giao đất, giao rừng thì dù là tập thể hay cá nhân cũng đều muốn nhận phần nhiều về mình, thậm chí xẩy ra tranh chấp quyền lợi. Thế nhưng, khi xẩy ra cháy lớn, gây thiệt hại nhiều ha rừng thì không ai đứng ra nhận trách nhiệm. Khi vụ cháy đã qua nhiều ngày, các cơ quan chức năng vẫn đang loay hoay xác định chủ rừng là ai để hoàn thiện hồ sơ, làm rõ các vấn đề có liên quan.
Chúng tôi thực sự “sốc” khi chứng kiến cán bộ phụ trách lâm nghiệp xã Lộc Yên nhất mực khẳng định diện tích rừng bị cháy không thuộc sự quản lý của chính quyền địa phương mà của Công ty Thông trước đây, nay là Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê. Nhưng, về phía lãnh đạo công ty này lại trả lời “không liên quan”.
Khi bị cơ quan chức năng tiếp tục “truy tìm” chủ nhân rừng bị cháy, Trưởng BQL rừng phòng hộ Ngàn Sâu - Nguyễn Kim Hùng cũng “lắc đầu” vì một phần diện tích này trước đây do đơn vị quản lý nhưng năm 2007, UBND tỉnh đã có văn bản thu hồi, mọi hoạt động đơn vị tham gia chỉ với tư cách là cụm trưởng cụm bảo vệ rừng chứ không phải chủ...
Vụ cháy lớn vừa qua đã cho thấy công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp nơi đây còn nhiều bất cập, lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm. Thật đáng buồn bởi ngay đến các cơ quan chức năng trên địa bàn và UBND huyện Hương Khê cũng trả lời một cách “lơ mơ” trước câu hỏi: rừng bị cháy của ai?!
Tham gia họp rút kinh nghiệm sau một vụ cháy rừng lớn nhưng lãnh đạo huyện, trong đó có cả Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách lâm nghiệp lại phải đi tìm chủ rừng theo kiểu “nơm cá”: thấy đơn vị cử nhiều lực lượng ứng cứu khi cháy, tưởng đó là chủ rừng nên gọi đến hỏi; đơn vị có nhiều rừng ở khu vực này nên thấy “nghi ngờ”, cũng hỏi...!
Cực chẳng đã, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn phải “lệnh” cho các cơ quan hữu quan khẩn trương tìm chủ rừng. Và, sau gần 1 tuần xẩy ra cháy thì đích danh chủ rừng được chỉ ra là: của UBND xã Lộc Yên quản lý trên 7 ha, phần còn lại của hộ ông Nguyễn Văn Lâm nhận giao khoán từ UBND huyện Hương Khê theo tinh thần Nghị định 02 của Chính phủ...!
Những năm gần đây, tiểu khu 226 không chỉ là một điểm nóng về tranh chấp rừng và đất lâm nghiệp mà còn là địa điểm thường xuyên xẩy ra cháy, thậm chí, có năm cháy nhiều lần. Là một địa điểm nhạy cảm nhưng các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và chủ rừng chưa chủ động xây dựng phương án ngăn chặn, phương án PCCCR hiệu quả dẫn tới ngay đầu mùa khô này đã xẩy ra cháy lớn.
Điều này cho thấy vai trò mờ nhạt, sự quan tâm chưa đúng mức của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Phải chăng, đã đến lúc cần giải quyết dứt điểm tranh chấp, tăng cường công tác quản lý nhà nước, tiến hành giao khoán và phân định trách nhiệm cụ thể để bảo vệ rừng tốt hơn.
Qua quan sát thực tế hiện trường, chúng tôi thấy diện tích rừng bị cháy thực bì không dày, địa hình khá bằng phẳng, gần trục đường lớn, bắt đầu cháy vào ban ngày, không quá xa khu dân cư, nhân dân có kinh nghiệm trong công tác chữa cháy... Thế nhưng, do lực lượng chữa cháy mỏng (chỉ huy động được 32 người), trời nắng to và gió lớn nên hết sức khó khăn trong khống chế.
Nguy hại hơn, do “không có chủ” nên quá trình chữa cháy cũng đã thể hiện sự qua quýt, thiếu trách nhiệm, chủ quan, không triệt để của các lực lượng tham gia, dẫn tới cháy trở lại và gây thiệt hại thêm nhiều ha. Điều này được thể hiện, vào chiều 25/5, khi đám cháy lan ra khoảng 7 ha thì được người dân và các lực lượng chức năng khống chế. Tuy nhiên, đến khoảng 3h sáng hôm sau thì ngọn lửa bất ngờ bùng cháy trở lại, tàn phá thêm 9 ha nữa và đến 15h30’ mới được khống chế hoàn toàn.
Ước tính, vụ cháy này gây thiệt hại khoảng 16 ha rừng keo và thông. Như vậy, vấn đề này theo chúng tôi không chỉ là nghiêm túc rút kinh nghiệm mà các cơ quan hữu quan phải làm rõ nguyên nhân việc rừng bùng cháy trở lại, phân định trách nhiệm để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật...
Sẽ còn bao nhiêu diện tích rừng trên địa bàn tỉnh ta có nguy cơ cháy cao trong mùa hanh khô mà các chủ rừng chưa quản lý? Có bao nhiêu chủ rừng chưa xây dựng, hoặc xây dựng một cách đối phó các phương án, kế hoạch PCCCR? Những câu hỏi này mong được các cơ quan chức năng sớm tìm ra câu trả lời. (Báo Hà Tĩnh 6/6) đầu trang(
Trong tháng 5, hệ thống kiểm lâm toàn tỉnh đã tăng cường kiểm tra, phát hiện và lập hồ sơ 106 vụ vi phạm các quy định về quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, phòng cháy và chữa cháy rừng.
Trong đó có 43 vụ phá rừng làm nương rẫy trái phép, thiệt hại hơn 12 ha rừng non tái sinh; 2 vụ khai thác lâm sản trái phép, tịch thu hơn 5 m3 gỗ các loại; 45 vụ buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu hơn 22 m3 gỗ các loại; 16 vụ cất giữ lâm sản trái phép, tịch thu gần 19 m3 gỗ các loại và 3 vụ thiếu thủ tục. Đến nay, hệ thống kiểm lâm tỉnh đã xử lý 109 vụ (cả các vụ tồn lại từ tháng trước), tịch thu gần 47 m3 gỗ các loại, phạt hành chính gần 1 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Hiện nay, hệ thống kiểm lâm toàn tỉnh đang tập trung nghiên cứu nội dung và hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng phù hợp với từng địa phương; tiếp tục đẩy mạnh kiểm tra, kiểm soát lâm sản; thiết lập mạng lưới thông tin cơ sở để phát hiện các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ vi phạm theo quy định của pháp luật; xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quản lý bảo vệ rừng 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm tại huyện Phù Yên. (Báo Sơn La 4/6) đầu trang(
Xác định phòng là chính, thông tin thông suốt, kịp thời là quan trọng nhất trong phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), các chủ rừng, lực lượng kiểm lâm những ngày này đều bám rừng với quyết tâm hạn chế thấp nhất xảy ra cháy rừng.
Dưới cái nắng oi bức giữa trưa hè, anh em trong đội quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH NN MTV Lâm nghiệp Tiền Phong (gọi tắt Công ty LN Tiền Phong) không rời các chòi canh. Đối với những người canh rừng, từ tháng 5 đến tháng 8 là thời điểm cực nhọc nhất. Những ngày này, anh Hoàng Chí Linh, Trưởng phòng QLBVR, Công ty LN Tiền Phong vẫn thường xuyên rong ruổi các chốt, chòi canh để quan sát và nắm tình hình; đồng thời, đôn đốc, nhắc nhở anh em luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, không lơ là, chủ quan trước mọi tình huống.
Trong hơn 5.000 ha rừng do đơn vị quản lý, có chừng 2.000 ha rừng thông, loại đối tượng dễ gây cháy và phân bố phức tạp, tiếp giáp trong khu vực dân cư, lăng mộ, nên công tác quản lý, PCCCR luôn được công ty quán triệt thực hiện nghiêm túc. Để phục vụ công tác PCCCR hiệu quả, đơn vị thành lập Ban PCCCR với lực lượng bảo vệ rừng gần 50 người gồm cán bộ công ty và lực lượng hợp đồng theo thời điểm. Đơn vị còn hợp đồng với những vệ tinh “tai mắt”, phối kết hợp với người dân sống gần rừng để sẵn sàng huy động khi sự cố xảy ra.
Ông Mai Văn Tâm, Trưởng phòng QLBVR - Chi cục Kiểm lâm cho rằng, quan trọng nhất là việc phòng, phát hiện nhanh và thông tin ban đầu kịp thời. Với điều kiện địa hình rừng phức tạp và phương tiện, dụng cụ chữa cháy còn thô sơ thì việc xử lý khi lửa đã cháy lan sẽ rất khó khăn.
Những ngày này, từ các chủ rừng đến nhân viên các công ty trồng rừng, ban quản lý rừng phòng hộ trên khắp địa bàn... đều phải bám rừng 24/24 giờ. Nguyên nhân gây cháy không thể lường trước, thời điểm phát cháy cũng bất định, nên phải xác định tư tưởng cho anh em cán bộ luôn ở tư thế sẵn sàng chữa cháy. Ngoài đảm bảo phương châm “4 tại chỗ”, “4 sẵn sàng”, các chủ rừng còn thực hiện phương châm “3 trọng điểm”: ngày trọng điểm, giờ trọng điểm và khu vực trọng điểm.
Những năm qua, diện tích rừng của Công ty TNHH NNMTV Lâm nghiệp Nam Hòa chưa có vụ cháy lớn nào xảy ra. Ông Phan Văn Nam, Giám đốc Công ty TNHH NNMTV Lâm nghiệp Nam Hòa cho biết, đơn vị đã xác định trọng tâm, trọng điểm, bố trí sẵn sàng dụng cụ, phương tiện chữa cháy, thông tin liên lạc và đặc biệt là đảm bảo quân số trực gác, quân số huy động chữa cháy với trên 50 người hợp đồng bên ngoài và 30 người trong công ty.
Ông Phan Văn Nam cũng chia sẻ: “Chúng tôi cũng quan tâm đến chế độ bồi dưỡng thỏa đáng cho những người tham gia chữa cháy để nếu xảy ra cháy rừng lần sau thì dễ dàng huy động nhân lực.
Mặc dù sự tăng trưởng nhanh chóng về diện tích và quy mô rừng trồng đang tạo áp lực rất lớn đến quản lý bảo vệ rừng - PCCCR, song nhờ lực lượng bảo vệ rừng bám sát hiện trường, đảm bảo chế độ trực gác, chế độ thông tin liên lạc thông suốt, tổ chức dập lửa ngay từ khi đám cháy còn nhỏ, nên nhiều vụ cháy lau lách đã được ngăn chặn từ vòng ngoài, không gây cháy lan vào rừng. Việc kiểm soát xử lý thực bì cũng được tuyên truyền, hướng dẫn và có chế độ giám sát đặc biệt khi đốt nên hiểm họa cháy rừng do nguyên nhân này giảm đáng kể.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra cháy 6 vụ. Lực lượng tại chỗ đã phát hiện và cứu chữa kịp thời; đồng thời, đơn vị kiểm lâm có sự phối hợp giữa các lực lượng chữa cháy nên hầu hết các vụ cháy đều được khống chế, có 2 vụ cháy bị thiệt hại rừng với diện tích khoảng 0,5 ha rừng thông và rừng trồng keo. Năm 2013, số vụ cháy rừng giảm 50%, diện tích rừng bị cháy giảm 55,24 ha, diện tích bị thiệt hại giảm 56,08 ha so với năm 2012.
Theo ông Mai Văn Tâm, năm nay, Chi cục Kiểm lâm yêu cầu các chủ rừng, huyện, thị xã phải xây dựng sơ đồ tác chiến PCCCR. Sơ đồ phải thể hiện rõ đường giao thông đi chữa cháy và cần sử dụng phương tiện gì, mất thời gian bao lâu để tiếp cận đến điểm cháy, đồng thời phải xác định các địa điểm cụ thể để lấy nước chữa cháy. Mỗi đơn vị chủ rừng phải khảo sát tuyến đường, bấm máy định vị địa điểm và chuẩn bị sẵn biển chỉ dẫn đường để hỗ trợ cho lực lượng nhanh chóng tiếp cận khu vực cháy.
Chi cục cũng chỉ đạo sát lực lượng ứng cứu tại chỗ và lực lượng huy động từ các đơn vị của địa phương, công an, bộ đội, y tế... tùy diễn biến cháy rừng. Thường các năm trước có danh sách thành lập tổ, đội. Năm nay, để quản lý chặt chẽ, danh sách này được đưa về tận thôn, tổ với tên tuổi, số điện thoại cụ thể. (Báo TT-Huế 5/6) đầu trang(
Những năm gần đây, huyện Đak Đoa là một trong các địa phương luôn nóng về tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh. Trong đó, nổi cộm nhất là tình trạng khai thác lâm sản trái phép và lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy.
Ông Nguyễn Trọng Khẩn-Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đak Đoa nói: Năm 2012, tình trạng người dân xâm chiếm đất rừng làm nương rẫy “nở rộ”, các đơn vị chủ rừng và kiểm lâm địa bàn quản lý không xuể. Vi phạm chủ yếu xảy ra trên địa bàn xã Hà Đông.
Để ngăn chặn người dân xâm chiếm đất rừng làm nương rẫy, Hạt Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện Đak Đoa khởi tố vụ án các trường hợp vi phạm pháp luật. Đây là bước đột phá chưa có tiền lệ từ trước đến nay do nhiều nguyên nhân khách quan nên những vi phạm chủ yếu chỉ bị xử lý hành chính.
Việc làm này tạo bước ngoặt làm hạn chế tình trạng xâm chiếm đất rừng trái phép. Khởi tố các vụ vi phạm lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy mang lại tính giáo dục, răn đe khá cao, vi phạm giảm hẳn trong năm 2013 và những tháng đầu năm 2014.
Theo Hạt Kiểm lâm, đến đầu tháng 6-2014, trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 2 vụ phá rừng làm nương rẫy với quy mô nhỏ và các đơn vị chủ rừng, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Hạt Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện thành lập 3 tổ liên ngành để giải quyết và ngăn chặn vi phạm những vấn đề liên quan đến quản lý bảo vệ rừng. Đó là tổ quản lý bảo vệ rừng và đào đãi vàng trái phép ở các xã ở phía Bắc huyện gồm Hà Đông, Đak Sơ Mei, Hải Yang; tổ quản lý và bảo vệ rừng thông tại xã Gla, Tân Bình và thị trấn Đak Đoa (tổ này có nhiệm vụ cưỡng chế và tháo dỡ nhà người dân xây dựng trái phép trong khu vực hơn 500 ha rừng thông); cuối cùng là tổ xử lý các vụ vi phạm lấn chiếm đất rừng tại rừng thông.
Hiệu quả mang lại một phần còn nhờ sự kiên trì truy quét, xử lý kiên quyết các vụ vi phạm của đơn vị chủ rừng mà cụ thể là Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa. Sau sự việc lâm tặc khai thác rừng trái phép năm 2012, Ban Quản lý đã quyết liệt triển khai các biện pháp bảo vệ rừng. Ban phối hợp với các phòng ban, các xã tuyên truyền liên tục đến tận các thôn, làng; đặc biệt với các hộ dân sống gần rừng. Công tác giao khoán bảo vệ rừng cũng được thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả.
Với diện tích Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa quản lý hiện nay là trên 18.000 ha trong khi đó chỉ có 19 cán bộ, diện tích rộng nhưng lực lượng mỏng, Ban đã làm tờ trình xin cấp thẩm quyền bổ sung lực lượng quản lý bảo vệ rừng. Từ khi kinh phí của tỉnh phân bổ cho các đơn vị chủ rừng theo Quyết định 336 và Quyết định 519 của UBND tỉnh, các đơn vị chủ rừng có kinh phí để giao khoán, triển khai công tác quản lý bảo vệ rừng mang lại hiệu quả tích cực.
Đối với diện tích quản lý của Ban tại những nơi địa bàn hiểm trở, bằng nguồn kinh phí này, đơn vị đã đào hào sâu, rộng đối với những con đường độc đạo, không để các phương tiện của lâm tặc lưu thông vào rừng khai thác gỗ trái phép.
Kết quả đã đạt được trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đak Đoa là đáng khích lệ. Nhưng để mang lại hiệu quả hơn nữa, ông Hoàng Thi Thơ-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa đề xuất: Chính quyền và ban ngành liên quan thực thi nhanh hơn Quyết định 07 của Thủ tướng Chính phủ về trang bị công cụ, phương tiện làm việc cho cán bộ của các Ban Quản lý Rừng khi làm nhiệm vụ.
Cụ thể là các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, bình xịt hơi cay, áo giáp, găng tay bắt dao, mũ chống đạn, đồng phục… để lực lượng làm nhiệm vụ hoàn thành tốt hơn trọng trách của mình. (Báo Gia Lai 5/6) đầu trang(
Thanh Hoá có 5 huyện (Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh, Thường Xuân) với 192 km đường biên giới; có 149.607 ha rừng và đất lâm nghiêp (diện tích đất lâm nghiệp có rừng 123.454 ha, đất lâm nghiệp không có rừng 25.613 ha) giáp với 3 huyện Viêng Xay, Xốp Bâu và Xăm Tày, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Để thực hiện tốt công tác phối hợp BVR, PCCCR vùng biên giới hai tỉnh Thanh Hóa - Hủa Phăn; Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa được Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa giao triển khai thực hiện Chương trình phối hợp số 1258/CTPH-SNN&PTNTTH-SNLHP ngày 17/7/2012 giữa Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thanh Hoá với Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn (Lào) về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng vùng biên giới hai tỉnh Thanh Hoá - Hủa Phăn, giai đoạn 2013-2015; ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm các huyện giáp ranh thực hiện quyết liệt chương trình phối hợp.
Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho UBND các huyện vùng biên giới, tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác BVR, PCCCR: Kiện toàn 5 Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ rừng và phát triển rừng (Ban chỉ đạo) huyện, 16 Ban chỉ đạo xã, 54 Tổ đội BVR&PCCCR ở thôn (bản); xây dựng và ban hành các phương án, kế hoạch và văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ BVR, PCCCR; thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật BVR, PCCCR cho nhân dân ở khu vực biên giới hai tỉnh: Thanh Hoá - Hủa Phăn.
Tham mưu cho UBND các huyện biên giới chỉ đạo UBND các xã ký Kế hoạch phối hợp BVR, PCCCR năm 2014 với cụm bản tỉnh Hủa Phăn, kết quả: Có 7 xã huyện Mường Lát ký với 8 cụm bản huyện Viêng Xay và Xốp Bâu; 6 xã huyện Quan Sơn ký với 5 cụm bản thuộc 2 huyện Viêng Xay, Xốp Bâu; xã Hiền Kiệt huyện Quan Hóa ký với cụm bản Nậm Ngà, huyện Viêng Xay; xã Yên Khương, huyện Lang Chánh ký với cụm bản Phôn Xay, huyện Xăm Tày; xã Bát Mọt huyện Thường Xuân ký với cụm bản Phôn Xay, huyện Xăm Tày.
Hai bên đã duy trì và thực hiện có hiệu quả trao đổi thông tin về công tác PCCCR; khai thác gỗ, săn bắn, bẫy bắt động vật rừng trái phép; xâm canh, xâm cư; tình hình an ninh rừng trên địa bàn trọng điểm vùng biên giới hai tỉnh; cháy rừng ở vùng nội địa có nguy cơ cháy lan vào biên giới được hai bên được thông báo cho nhau để cùng phối hợp giải quyết và hỗ trợ lực lượng khi có yêu cầu; Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm huyện tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo các thôn (bản), xã vùng biên thuộc 5 huyện biên giới rà soát bổ sung 54 quy ước bảo vệ và phát triển rừng trên 54 thôn (bản) vùng biên; xây dựng 02 bảng tuyên truyền kiên cố viết bằng 2 thứ tiếng (Việt Nam và Lào) tại cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và Tén Tằn; in ấn và cấp 600 tờ bướm tuyên truyền về công tác PCCCR, tổ chức cho gần 1000 hộ gia đình hai bên biên giới ký cam kết thực hiện quy định về bảo vệ rừng, PCCCR theo quy định của hai nước; tổ chức 70 cuộc họp thôn bản với 2.600 người tham dự. Tổ chức tuyên truyền Nghị quyết 30a chương trình giảm nghèo nhanh đối với 61 huyện nghèo; Chương trình xây dựng nông thôn mới và các chương trình khác.
Các huyện vùng biên đã chủ động rà soát vùng trọng điểm về an ninh rừng trên địa bàn 16 xã của 5 huyện để xây dựng phương án giữ vững ổn định an ninh rừng, quản lý chặt chẽ nguồn lâm sản khai thác từ rừng tự nhiên trên địa bàn từng huyện với diện tích hơn 9.500 ha thuộc 59 Tiểu khu, 106 Khoảnh, 180 Lô. Tổ chức xây dựng Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cho cấp huyện, xã giai đoạn 2012-2020; kiện toàn và duy trì hoạt động của 54 Tổ đội quần chúng BVR, PCCCR với gần 600 người tham gia; 16 trung đội dân quân tự vệ với 304 người tham gia; có nhiệm vụ phối hợp với cụm bản của 3 huyện: Viêng Xay, Xốp Bâu, Xăm Tày, tỉnh Hủa Phăn để tuần tra, kiểm tra các khu vực trọng điểm an ninh rừng khu vực biên giới, kết quả từ đầu năm đến nay đã kiểm tra được 104 lần, phát hiện lập biên bản xử lý 04 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép, tịch thu 2,013 m3 gỗ các loại, 118 kg động vật rừng, 01 xe máy, thu nộp ngân sách Nhà nước 20.200.000 đồng.
Các Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn tham mưu xây dựng phương án chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ từ huyện tới xã, đến từng thôn (bản) trọng điểm, Trạm bảo vệ rừng của chủ rừng nhà nước; kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, dụng cụ sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng và hỗ trợ chữa cháy rừng của mỗi bên khi có yêu cầu; với số lượng có thể huy động ở cấp xã và cấp huyện là trên 12.000 người, 85 xe ô tô, 3.200 xe máy và gần 11.000 dụng cụ thô sơ chữa cháy rừng; chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn dùng thiết bị GPS và công cụ hỗ trợ điều tra, khảo sát, khoanh vẽ toàn bộ hiện trạng đất đang canh tác nương rẫy khu vực giáp danh biên giới hai tỉnh để xây dựng bản đồ quản lý nương rẫy và phục vụ công tác PCCCR, với diện tích hơn 6.410 ha; điều tra, khảo sát, xác định vùng trọng điểm cháy rừng, với diện tích 9.610 ha. Hai bên đã tăng cường tuần tra, kiểm tra kịp thời phát hiện và ngăn chặn tình trạng xâm canh, xâm cư khu vực biên giới, chủ động kiểm soát các nguyên nhân gây cháy rừng.
Vào ngày 23/3/2014 và ngày 01/4/2014, bản Pó, bản Biềng Liềng huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn đã thông báo cho Hạt Kiểm lâm huyện Mường Lát 3 vụ cháy rừng từ bản Pó, bản Biềng Liềng, tỉnh Hủa Phăn có nguy cơ cháy sang huyện Mường Lát; Hạt Kiểm lâm huyện Mường đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo UBND xã Mường Chanh, Tén Tằn huy động 853 lượt người, gồm: Kiểm lâm, Biên phòng, Đoàn kinh tế quốc phòng 5, Ban quản lý rừng phòng hộ Mường Lát và nhân dân 2 xã Mường Chanh, Tén Tằn hỗ trợ bản Pó, bản Biềng Liềng chữa cháy rừng và ngăn chặn hiệu quả không để cháy lan sang Việt Nam.
Từ năm 2011 đến nay trên địa bàn biên giới tỉnh Thanh Hoá không xảy cháy rừng. Đã xây dựng được 5.632 m đường băng cản lửa dọc biên giới 2 tỉnh giữa Cụm bản Nậm Ngà, huyện Viêng Xay với xã Pù Nhi, huyện Mường Lát và Cụm bản Khằm Nàng, Pọong Ngà huyện Viêng Xay với xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn.
Phối hợp giữa cụm Nậm Ngà huyện Viêng Xay với xã Trung Lý huyện Mường Lát tổ chức 01 cuộc diễn tập chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ với gần 400 người của hai bên tham gia. Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã hỗ trợ Phòng Kiểm lâm thuộc Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn biên tập bộ tài liệu tập huấn về nghiệp vụ PCCCR và kỹ thuật xử lý thực bì làm rẫy; cử 3 cán bộ sang tập huấn nghiệp vụ PCCCR và xử lý thực bì làm rẫy cho 30 học viên là Trưởng các cụm bản, bản huyện Sốp Bâu, tổ chức tại cụm bản Sốp Hào huyện Xốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn với thời gian 3 ngày.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình phối hợp bảo vệ rừng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại một số xã, cụm, bản vùng biên giới chưa sâu rộng, hiệu quả chưa cao. Nguy cơ cháy rừng, phát đốt rừng làm rẫy, xâm canh, xâm cư và khai thác rừng, săn bắn, bẫy bắt động vật rừng trái phép khu vực biên giới còn tiềm ẩn lớn; một số nội dung của Chương trình phối hợp ở cấp xã, cụm bản khi triển khai thực hiện không có kinh phí nên chất lượng, hiệu quả thấp.
Thực hiện mục tiêu bảo vệ an toàn diện tích 92.160 ha rừng vùng biên giới, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa tiếp tục thực hiện tốt công tác phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân khu vực biên giới hai tỉnh thực hiện tốt công tác BVR, PCCCR; tuần tra, kiểm tra các khu rừng trọng điểm khu vực biên giới hai bên để ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại tài nguyên rừng; thực hiện tốt trao đổi thông tin về tình hình cháy rừng, phát rừng làm rẫy, khai thác, săn bắn, bẫy bắt, vận chuyển động vật rừng trái phép ở vùng biên giới hai tỉnh.
Để giúp cán bộ tỉnh bạn nâng cao nghiệp vụ, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa tổ chức tập huấn kỹ thuật BVR, PCCCR tại TP. Thanh Hóa cho 30 cán bộ Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn; thành phần gồm: Cán bộ Phòng Kiểm lâm, Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn và Trưởng một số Cụm bản, bản thuộc 3 huyện Sầm Tớ, Viêng Xay, Xốp Bâu, theo 4 chuyên đề bạn đề xuất: Quy trình và các bước lập biên bản xử một vụ vi phạm hành chính ở Việt Nam (liên hệ với thực tế với nước bạn); Quy trình xử lý thực bì trồng rừng, làm rẫy an toàn (lý thuyết và thực tiễn); Phương pháp xác định và kỹ năng xây dựng bản đồ khu vực trọng điểm cháy, bản đồ quản lý nương rẫy; Quy trình theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp.
Để đánh giá kết quả sau 1 năm thực hiện chương trình phối hợp, vào trung tuần tháng 8 năm 2014, Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa phối hợp với Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn tổ chức hội nghị sơ kết năm thứ 2 thực hiện Chương trình phối hợp về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng vùng biên giới hai tỉnh Thanh Hoá - Hủa Phăn, giai đoạn 2013-2015 tại tỉnh Thanh Hóa. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 4/6) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có ý kiến chỉ đạo Chủ tịch UBND huyện An Lão khẩn trương chỉ đạo các lực lượng chức năng của huyện triển khai công tác tuần tra, truy quét trên địa bàn xã An Nghĩa và các khu vực giáp ranh với huyện Hoài Ân và Vĩnh Thạnh; điều tra làm rõ và xử lý nghiêm các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện Vĩnh Thạnh, Hoài Ân chỉ đạo lực lượng chức năng phối hợp với lực lượng chức năng của huyện An Lão tuần tra, truy quét kịp thời ngăn chặn các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép tại khu vực xã Đak Mang, huyện Hoài Ân và khu vực làng O2, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, nhằm lập lại kỷ cương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Được biết trước đó, vào các ngày 27, 28.5 các lực lượng chức năng của huyện An Lão đã tổ chức kiểm tra, truy quét tại các vùng rừng giáp ranh nói trên thì phát hiện có 6 đối tượng đang vận chuyển gỗ theo hướng từ xã Đak Mang, huyện Hoài Ân về tiểu khu 58 xã An Nghĩa, huyện An Lão.
Tổ công tác đã tiếp cận các đối tượng, yêu cầu xác minh nguồn gốc số gỗ trên và giấy tờ tùy thân. Tuy nhiên các đối tượng khai thác gỗ trái phép không những không chịu hợp tác mà còn có hành vi hung hăng chống đối và đe dọa Tổ công tác, ngăn cản không cho tịch thu, tiêu hủy số gỗ khai thác trái phép nói trên…(Báo Bình Định 5/6) đầu trang(
Chiều 5-6, Thượng tá Huỳnh Văn Tào, Phó Công an huyện Sông Hinh (Phú Yên) cho biết, cơ quan này đã ra quyết định khởi tố vụ án tham ô tài sản xảy ra tại Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Hinh. Hiện cơ quan điều tra đang củng cố hồ sơ để khởi tố bị can.
Theo kết quả điều tra ban đầu, năm 1998, BQL rừng phòng hộ Sông Hinh được Sở NN&PTNT Phú Yên giao chăm sóc 15 ha cao su trồng thí điểm tại xã Ea Trol, huyện Sông Hinh. Năm 2011, đến khi thu hoạch, ông Võ Trọng Bình, Phó ban phụ trách BQL rừng phòng hộ Sông Hinh, không xin phép cơ quan thẩm quyền mà tự tổ chức khai thác 13ha mủ cao su đem bán, đồng thời lấy tiền giao khoán mủ cao su trong năm 2012 thuộc dự án của nhà nước giao cho ông Bình quản lý rồi chiếm đoạt hơn 120 triệu đồng. Công an huyện Sông Hinh xác định ông Bình có dấu hiệu phạm tội tham ô tài sản.
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng xác định BQL rừng phòng hộ Sông Hinh có dấu hiệu hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của nhà nước trong dự án trồng mới, chăm sóc, bảo vệ 396 ha rừng phòng hộ thuộc chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ.
Hiện Công an huyện Sông Hinh đang chờ kết luận giám định tư pháp để xác định số lượng, giá trị tài sản bị thiệt hại. Trước đó, cuối năm 2013, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên đã ra quyết định khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Võ Trọng Bình, đồng thời đề nghị cơ quan thẩm quyền buộc thôi việc đối với ông này.
Liên quan đến vụ án trên, trước đây Pháp Luật TP.HCM đã có hai bài phản ánh việc ông Võ Trọng Bình lấy đất hàng trăm ha đất rừng của người dân để chia chác cho cán bộ, biến khu đất được nhà nước giao làm trụ sở thành đất kinh doanh riêng của gia đình. (Pháp Luật VN + Người Lao Động 6/6) đầu trang(
Với hơn 236.000 ha rừng trải đều trên 9 huyện, thị xã, thành phố, để làm tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị đã triển khai nhiều biện pháp, trong đó đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ rừng đến tận người dân, với nhiều hình thức và nội dung phong phú, phù hợp với tình hình thực tế ở từng địa phương.
Đến nay, Kiểm lâm địa bàn đã tổ chức họp dân với 1.035 lượt thôn, bản với 56.499 lượt người nghe và 67 trường trung học cơ sở trên 7.000 học sinh tham gia. Một hình thức khác khá hiệu quả là tổ chức các đợt tuyên truyền lưu động động bằng xe ô tô đến từng cụm dân cư, các điểm đông người, địa bàn vùng sâu vùng xa. Tại các buổi tuyên truyền lưu động, cán bộ kiểm lâm tích cực phổ biến các chính sách của nhà nước về rừng và nhắc nhở người dân tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trong các tháng mùa khô, đặc biệt là tại những vùng trọng điểm thường hay xảy ra cháy rừng để nhân dân nâng cao cảnh giác nạn cháy rừng.
Để người dân dễ nhớ, dễ hiểu nội dung tuyên truyền, Đội tuyên truyền lưu động của Chi cục Kiểm lâm đã tổ chức chiếu phim giới thiệu về tài nguyên rừng, sự đa dạng sinh học, các nguy cơ xâm hại rừng, lũ lụt, thiên tai, về vai trò của rừng trong đời sống con người.
Nhờ việc gắn tuyên truyền với xây dựng hương ước, qui ước, ký cam kết bảo vệ rừng đến từng hộ dân và thôn, bản nên đã nâng cao được nhận thức của nhân dân về vị trí tác dụng của rừng, tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng, làm cho phong trào quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng rộng khắp.
Ngoài ra, ngành Kiểm lâm cũng thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu văn nghệ, tổ chức cắm trại với chủ đề về bảo vệ rừng và môi trường thiên nhiên. Riêng trong năm 2014 đã phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thi tuyên truyền về “Bảo vệ động vật, thực vật hoang dã” trong trường học cho học sinh các trường THCS trong toàn tỉnh thu hút 27 trường tham gia hơn 2.700 em đến dự, cổ động.
Để đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như hoạt động bảo vệ rừng của lực lượng Kiểm lâm đến với người dân và chính quyền cơ sở, Chi cục đã chủ trì xuất bản Bản tin Kiểm lâm (1 số/1 tháng) cấp phát đến UBND các xã và kiểm lâm địa bàn trên 4.200 bản.
Bản tin là cầu nối để công chức Kiểm lâm, cộng tác viên cũng như người dân trao đổi, nêu gương người tốt việc tốt, những kinh nghiệm thực hiện các mô hình sinh kế về bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chi cục còn phối hợp với Hội Văn học nghệ thuật tỉnh tổ chức Trại sáng tác các ca khúc về lực lượng kiểm lâm, về ngành lâm nghiệp.
Chia sẻ về hiệu quả của công tác tuyên truyền bảo vệ và phát triển rừng, đồng chí Lê Văn Quý, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: “Nhiệm vụ của Kiểm lâm là tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác bảo vệ rừng.
Muốn bảo vệ rừng tốt thì phải dựa vào dân, chỉ có nhân dân mới bảo vệ rừng có hiệu quả nhất, vì vậy đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng là nhiệm vụ hàng đầu. Phải làm cho người dân hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời phối hợp với các cơ quan như báo chí, các tổ chức đoàn thể địa phương có các giải pháp, biện pháp để vận động tổ chức sâu rộng, thường xuyên, bền bỉ đến với người dân, từ đó huy động họ tham gia bảo vệ rừng ”.
Hoạt động tích cực của công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong thời gian qua đã có tác dụng to lớn đóng góp vào việc giữ vững và phát triển tài nguyên rừng. Hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng đã thực sự góp sức trong sự nghiệp quản lý bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Quảng Trị 6/6) đầu trang(
Đặc trưng thời tiết Quảng Trị hàng năm vào mùa hè nắng nóng kèm theo gió Tây Nam thổi mạnh. Những năm trở lại đây, nền nhiệt độ tăng dần làm cho thảm thực bì khô kiệt các hoạt động của con người vào mùa hè tăng mạnh là điều kiện thuận lợi để bùng phát các vụ cháy rừng. Đứng trước tình hình thời tiết khắc nghiệt, Kiểm lâm Quảng Trị đã chủ động tham mưu cho chính quyền các cấp tập trung làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Hàng năm Kiểm lâm Quảng Trị tham mưu cho UBND các cấp ban hành chỉ thị, công văn về phòng cháy chữa cháy rừng; công tác tuyên truyền được đẩy mạnh, nhất là các tháng cao điểm. Ở cấp tỉnh, huyện, thị xã, thành phố, các xã, các chủ rừng thành lập Ban chỉ huy bảo vệ rừng - Phòng cháy chữa cháy rừng (BCH BVR-PCCCR) để chỉ đạo, chỉ huy, kiểm tra đôn đốc công tác PCCCR. Xây dựng phương án PCCCR các cấp để phân công trách nhiệm cụ thể trên từng địa bàn, chủ động tổ chức PCCCR; tổ chức trực PCCCR để tiếp nhận xử lý thông tin, xử lý các tình huống, đề xuất các biện pháp lên BCH khi xảy ra cháy rừng bảo đảm kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm.
Lực lượng Kiểm lâm chủ động phối hợp với Công an PCCC, Sở Y tế tổ chức huấn luyện cho các chủ rừng, các tổ đội chuyên trách BVR-PCCCR về thực hành sử dụng thành thạo các trang thiết bị cơ giới, xử lý các tình huống cháy rừng, cách tổ chức, chỉ huy, sơ cứu ban đầu về người khi bị tai nạn, để hỗ trợ nhau khi chữa cháy rừng. Đài Phát thanh- Truyền hình đưa tin dự báo cháy rừng để nhân dân biết và cảnh giác khi có nguy cơ cháy rừng xảy ra. Tổ chức diễn tập cấp huyện, cấp xã để chủ động phòng ngừa, thống nhất chỉ huy, huy động lực lượng phương tiện, hậu cần đồng bộ, kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả. Các phương tiện xe chữa cháy, xe tiếp nước, dụng cụ, thiết bị chữa cháy như máy thổi gió, cưa xăng, máy cắt thực bì, bảo hộ lao động, nước uống, y tế... luôn được kiểm tra, bảo dưỡng tốt, sẵn sàng khi có lệnh điều động.
Vào thời kỳ cao điểm các tháng mùa khô, công tác kiểm tra PCCCR được thực hiện thường xuyên. Các công trình bảo vệ rừng cũng được tu sửa, nhất là đường ranh, chòi canh, các khu rừng phòng hộ, sản xuất được chăm sóc thực bì nhằm giảm vật liệu cháy và trong trường hợp cháy cũng dễ tiếp cận được đám cháy. Các công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng chú trọng làm tốt công tác phối hợp với các xã trên địa bàn, nhất là hợp đồng sử dụng lao động nhằm tạo việc làm và lực lượng hậu cần tại chỗ sẵn sàng ứng cứu khi cháy rừng xảy ra.
Về chữa cháy rừng, nhờ áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ, thực hiện tốt chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp, đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho nhân dân, nên đến nay ở tất cả các huyện đồng bằng cơ bản đất lâm nghiệp đã có chủ, hỗ trợ của các dự án trồng rừng PAM 2780, 4304, 4126, dự án Đức, Nauy cho vùng cát, dự án bảo vệ và phát triển rừng... cùng với nguồn vốn của nhân dân, rừng trồng cơ bản khép kín trên từng địa bàn và người dân đã tích cực bảo vệ rừng, nhất là công tác PCCCR nhằm bảo vệ thành quả, lợi ích rừng mang lại.
Riêng hai huyện miền núi Hướng Hoá và Đakrông có đặc điểm riêng, về sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là tập quán làm nương rẫy cũng thực hiện nhiều biện pháp như quy vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên khi mùa rẫy đến nhằm làm cho bà con chấp hành tốt khi đốt nương không để cháy lan vào rừng; trên nương rẫy cũ cũng được hỗ trợ để chuyển qua trồng rừng thay thế, tập trung nhiều nguồn lực xây dựng nhiều mô hình nông lâm kết hợp giúp người dân canh tác đem lại hiệu quả cao hơn.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Hàng năm Chi cục quan tâm chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm chủ động phối hợp với địa phương tăng cường công tác PCCC rừng trong mùa nam nắng; tham mưu UBND tỉnh kiện toàn Ban chỉ huy bảo vệ rừng cấp tỉnh, đồng thời xây dựng quy chế hoạt động của văn phòng Ban chỉ huy và xây dựng phương án PCCC rừng với phương châm 4 tại chỗ với 3 cấp độ chữa cháy rừng (cháy nhỏ, cháy vừa, cháy lớn). Phương án quy định rõ biện pháp, trách nhiệm, huy động lực lượng của các cấp chủ rừng, xã, huyện, tỉnh tuỳ theo quy mô của đám cháy. Hạt Kiểm lâm trực thuộc tham mưu kiện toàn 93 Ban chỉ huy bảo vệ rừng các cấp; giúp chính quyền địa phương xây dựng, sửa đổi, bổ sung 93 phương án bảo vệ rừng - PCCC rừng cấp xã; quản lý 76 suất khoán bảo vệ rừng 6 tháng mùa khô; tổ chức thành công 21 cuộc diễn tập chữa cháy rừng với trên 2.785 lượt người tham gia. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về PCCC rừng để nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân và các chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng”.
Việc thực hiện có hiệu quả “Dự án nâng cao năng lực PCCC rừng cho lực lượng Kiểm lâm giai đoạn 2007-2010” đã trang bị một số cơ sở vật chất phục vụ chữa cháy rừng như xe chữa cháy, các thiết bị cưa xăng, máy thổi gió, máy cắt thực bì từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nhờ làm tốt công tác dự báo và chủ động triển khai thực hiện công tác PCCC rừng nên tình hình cháy rừng trên địa bàn ngày càng giảm cả về số vụ lẫn diện tích rừng bị thiệt hại. So với năm 2009 thì năm 2013 số vụ cháy giảm 8 vụ tương ứng giảm 61,5%, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 47 ha tương ứng giảm 93%.
Với diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp, nắng nóng kéo dài trong mùa khô nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn ở mức độ cao. Vì vậy, bên cạnh sự tích cực chủ động PCCC rừng của ngành lâm nghiệp và lực lượng kiểm lâm, trách nhiệm của các ban, ngành liên quan, người dân cần tăng cường hơn nữa ý thức PCCC rừng, tích cực tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm hạn chế mức thấp nhất các vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Quảng Trị 6/6) đầu trang(
Theo Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, nắng nóng và khô hạn có khả năng tiếp tục kéo dài.
Ngày 5/6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trương Lưu đã ký Công điện yêu cầu Ban chỉ huy bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh, Chi cục Kiểm lâm tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng của các đơn vị, các chủ rừng.
Theo đó, các đơn vị, ban, ngành liên quan thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát phương án và các biện pháp triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng ở cơ sở theo phương châm “4 tại chỗ”; duy trì trực bảo vệ rừng tại hiện trường; đảm bảo phát hiện sớm các điểm cháy để có biện pháp chỉ đạo ngăn chặn kịp thời, không để cháy rừng xảy ra trên diện rộng…
Bên cạnh đó, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tổ chức phổ biến kiến thức về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; thông báo cấp dự báo cháy rừng hàng ngày; không được đốt thực bì, thắp nhang, đốt giấy tiền vàng bạc hoặc các hoạt động dễ gây cháy tại các khu vực rừng và vùng lân cận…(Báo TT-Huế + Thuathienhue.gov.vn 5/6) đầu trang(
"Ngay bên nhà mình là những cây gỗ cổ thụ, hình như có từ thời cha ông mình. Gỗ to lắm, nhiều lắm, không tính được đâu. Rừng đúng là cái lộc bất tận của trời đất" - Già bản Đinh Văn Phong ở đất Xuân Nha, huyện Mộc Châu, Sơn La kể vậy.
Đã ở vào tuổi 80 nhưng ông Phong vẫn còn khoẻ mạnh, minh vẫn và đặc biệt là giọng nói hết sức truyền cảm. Vẫn theo ông Phong thì bàn chân ông đã đi nhiều cánh rừng trong và ngoài tỉnh Sơn La như Thanh Hoá, Hoà Bình, Điện Biên… nhưng với cảm nhận của ông thì rừng Sơn La là giàu nhất: “Sơn La có những cánh rừng lim, pơmu, bách xanh, đinh thối, đinh hương, nghiến, táu, chò chỉ… rộng đến nỗi con hổ đi cũng mỏi chân, con chim bay cũng mỏi cánh, có những thân cây to tới cả chục người ôm, đã sống tới cả ngàn năm tuổi.
Dưới những tán rừng là hổ, báo, gấu, nai, lợn rừng, trăn, rắn, chim nuông… rồi rau rừng, cá suối, nhiều loại thuốc bệnh, thuốc bổ được dân gian khai thác, sử dụng thành những bài thuốc gia truyền rất hiệu nghiệm. Con người ở rừng Sơn La nếu biết khai thác, giữ gìn thì ai cũng thành tỷ phú hết”. Đôi mắt già nua của lão làng mơ màng như đang sống lại ngày xưa, giọng kể chợt chùng xuống…
Tôi hỏi ông Phong: Vậy sao bao năm sống ở rừng mà vẫn không giàu? Ông Trầm tư, bảo: Tôi không sống dựa vào rừng mà sống dựa vào sự đùm bọc của cộng đồng, bằng nghề trồng lúa nước. Nếu có phải hạ cái cây rừng thì cũng là để làm nhà, làm cầu qua suối. Nếu có phải bắn hạ con thú thì cũng bởi nó về phá nương hoặc tấn công mình. Mấy chục năm trước, đất này đâu có đường ô tô thuận lợi như bây giờ, nên những sản vật của rừng xanh chỉ phục vụ cho cuộc sống con người sở tại, không buôn bán, trao đổi, thậm chí lừa gạt, cướp lẫn nhau như bây giờ. Rừng là cái lộc của đất-trời, không cho riêng ai cả. Ai tham lam quá sẽ bị phạt thôi…
Trong số những người dân biết rõ hơn cả về sự vô giá của những cánh rừng già Mộc Châu chính là 75 hộ dân người Mông của bản Cột Mốc, xã Tân Xuân. Sự hiện diện của họ sau những cuộc di dân đến vùng lõi của rừng đặc dụng đã từng làm nóng các cuộc họp của lãnh đạo tỉnh Sơn La trong suốt nhiều năm liền của 2 thập kỷ vừa qua nhưng rồi của đành chấp nhận cho họ tái định cư bởi có quyết liệt đến mấy thì cũng như "bắt cóc bỏ đĩa".
Ông Thào A Chồng (53 tuổi), dân bản nhớ lại: Những năm 1991-1992 vừa qua, chúng tôi đang ở Phù Yên nhưng đói khổ quá nên cứ xuyên rừng đi tìm đất mới tốt hơn để sống. Đến rừng Xuân Nha, thấy cây cổ thụ bạt ngàn, chim, thú, cua, cá nhiều vô kể, đất đai màu mỡ, cứ tra hạt lúa, hạt ngô là nảy mầm, cho bông, cho bắp tốt tươi. Vậy là hạ ngựa định cư. Cán bộ đến khuyên bảo thế nào cũng không chịu chuyển vì ngày ấy có hiểu được giá trị của rừng như bây giờ đâu. Chỉ nghĩ rừng thì vô tận, chỗ nào tốt thì mình ở thôi.
Cũng theo ông Chồng thì mỗi mét vuông rừng đặc dụng Xuân Nha ngày ấy có giá trị tới cả cây vàng. Dưới mặt đất thú rừng nhiều vô kể. Còn gỗ, nào lim, nghiến, chò chỉ, dổi, phay sừng… Bao nhiêu loại gỗ quý, cây to tới mấy người ôm dày đặc mặt đất. Đặc biệt là Mộc Châu ngày trước rất nhiều gỗ long lanh, cây to tới mấy người ôm, dân chỉ chẻ ra lợp mái nhà. Những mảnh gỗ long lanh nhỏ bé, không thẳng, không to làm củi đốt cháy rất tốt.
Bắt đầu từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước, người ta khai thác gỗ ở rừng Xuân Nha để làm thuỷ điện Hoà Bình, khi ấy đường sá thuận lợi, "mỏ vàng” lâm nghiệp Mộc Châu lộ ra, thế là rừng nghèo dần, lộc trời thành khan hiếm. Không còn có chuyện lúc ốm đau xin nhau là được cái mật gấu như trước nữa.
Đem chuyện gỗ long lanh trao đổi với Hạt trưởng kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha-anh Trần Ngọc Tân, anh bảo: Gỗ long lanh quý lắm nhưng ngày trước dân mình không hiểu giá trị, lại thấy sẵn có nhiều nên sử dụng rất bừa bãi. Nó chính là thứ làm cả dân gian săn tìm sốt sình sịch bao năm qua với tên gọi khác là gỗ ngọc am.
Nhưng bây giờ ở đất Mộc Châu tìm được một cây gỗ ngọc am lớn là rất khó. Ngay cả cánh rừng đặc dụng này, kiếm một cây lim, nghiến hoặc dổi to cũng đã khó rồi. Rừng đang ngày một nghèo gỗ và đương nhiên, muông thú cũng nghèo đi đến cạn kiệt. Nhiều lúc đi tuần rừng thèm nghe cả một tiếng chim kêu... (Dân Việt 6/6) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Chiến lược về quản lý hệ thống rừng đặc dụng (RĐD), khu bảo tồn (KBT) biển và KBT vùng nước nội địa của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07 tháng 2 năm 2014.
Đây là một bước tiến mới cho nỗ lực hoàn thiện khung chính sách quốc gia về quản lý thống nhất cả ba hệ thống quản lý bảo tồn thiên nhiên, thay vì chỉ riêng hệ thống RĐD như trước đây. Tuy nhiên, chính sách này chưa cho thấy những sáng kiến mới về mặt thể chế ở cả cấp chính sách và tổ chức thực hiện. Bài viết dưới đây trình bày một số quan điểm về thay đổi cách tiếp cận về quản lý bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.
Với 168 VQG/KBT đã được xác lập trên toàn quốc, cơ chế phân cấp đã làm cho hệ thống này hiện được quản lý bởi nhiều chủ thể khác nhau như Bộ NN-PTNT (6 VQG liên tỉnh trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp), UBND các tỉnh (30 VQG cấp tỉnh), Sở NN-PTNT và Chi cục kiểm lâm (hơn 100 KBT). Bộ TN-MT cũng được giao trách nhiệm quản lý đối với các KBT đất ngập nước và hệ sinh thái núi đá vôi.
Với khung luật pháp hiện nay, các VQG/KTB chịu sự điều chỉnh quản lý bởi nhiều luật khác nhau như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng Sinh học, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đất đai và/hoặc Luật Thủy sản với nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thậm chí ít có giá trị thực thi. Theo đó, mỗi VQG/KBT lại chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau, ở những mức độ khác nhau theo ngành dọc tương ứng. Điều này không chỉ thách thức năng lực thực hiện của Ban quản lý VQG/KBT mà còn giảm tính nhất quán trong các quyết định bảo tồn.
Tình trạng “địa phương hóa” quản lý các KBT và sự hạn chế trong thẩm quyền khiến các Ban quản lý không có khả năng “chống lại” hoặc “ngăn chặn” các quy hoạch và quyết định ưu tiên phát triển kinh tế của địa phương, ngay cả với những dự án có nhiều rủi ro cho tính toàn vẹn của VQG/KBT như thủy điện, khai khoáng hay phát triển cơ sở hạ tầng. Cũng vì lý do này, những năm gần đây, nhiều diện tích RĐD đã bị chuyển đổi mục đích cho các dự án của khối tư nhân.
Hơn nữa, do tình trạng quản lý phân mảnh nên khả năng chuẩn hóa hệ thống quản lý các VQG/KBT khó hoặc ít có cơ hội thực hiện để hỗ trợ hoạch định chiến lược dài hạn và kế hoạch phát triển bền vững cho từng KBT cũng như cho cả hệ thống. Tình trạng này cũng tạo nên lỗ hổng trong việc lồng ghép và liên kết hiệu quả các kế hoạch bảo tồn với các chương trình hay nguồn lực khác như ứng phó với BĐKH, giảm nghèo… ở cấp quốc gia.
Mối quan hệ thiếu chặt chẽ giữa cơ quan chính sách cấp trung ương (như Vụ BTTN của Tổng cục Lâm nghiệp, hoặc Cục Bảo tồn ĐDSH của Tổng cục Môi trường) với các VQG/KBT gây khó khăn trong việc hình thành một cơ chế giám sát tài nguyên, thông tin và báo cáo nhất quán trên toàn quốc. Điều này làm hạn chế chất lượng quản lý nhà nước trong cả khâu ban hành và thực thi chính sách.
Phân tích sơ bộ nói trên cho thấy nhà nước cần phải hình thành một thiết chế quản lý tập trung hệ thống VQG/KBT ở cấp trung ương. Mô hình này có thể là sự kết hợp các cơ quan chuyên môn hiện có thành một Tổng cục quản lý VQG/KBT nhằm thống nhất xây dựng chính sách, điều phối nguồn lực và đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn hệ thống VQG/KBT.
VQG/KBT đã được xác định là tài sản quốc gia và được tổ chức quản lý, giám sát bởi các Ban quản lý theo sự ủy quyền và bao cấp của nhà nước. Mặc dù đã có lịch sử hơn 50 năm phát triển kể từ khi VQG Cúc Phương được thành lập với một số thành tựu bảo tồn đáng kể, thì mô hình “độc quyền quản lý” này vẫn được xem như nhằm bảo vệ khối tài sản tự nhiên của nhà nước, hơn là thực thi các hoạt động bảo tồn và phát triển hệ sinh thái, loài và quần thể sinh vật. Tình trạng xung đột tài nguyên với cộng đồng địa phương và suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam đã được thừa nhận.
Chính vì thế, chủ trương xã hội hóa, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, đầu tư tài chính của doanh nghiệp và từng bước tiếp cận, áp dụng phương pháp quản lý mới đối với RĐD, KBT biển và KBT vùng nước nội địa là rất đúng đắn.
Theo Chiến lược tại Quyết định số 218/QĐ-TTg, việc tiếp tục mở rộng diện tích hệ thống khu RĐD, KBT biển và KBT vùng nước nội địa và tiếp cận phương thức đồng quản lý, chia sẻ lợi ích sẽ là mục tiêu đến năm 2020. Với RĐD, mục tiêu này được đáp ứng bởi chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của Chính phủ và các chính sách thí điểm khác, tạo tiền đề cho việc chuyển đổi các khu rừng giàu là rừng sản xuất và rừng phòng hộ thành các khu RĐD mới.
Để đa dạng hóa nguồn lực, khai thác dịch vụ hệ sinh thái và nâng cao hiệu quả bảo tồn, nhà nước cần nghiên cứu, xem xét và cho phép thí điểm các hình thức quản lý khác như KBT tư nhân (do doanh nghiệp chủ trì như một cách để thực thi trách nhiệm xã hội môi trường của doanh nghiệp), KBT tổ chức xã hội (do các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận chủ trì, đề cao mục tiêu nghiên cứu, giáo dục bảo tồn), và KBT cộng đồng (do chính cộng đồng địa phương quản lý, gắn liền với luật tục và văn hóa bản địa và cải thiện sinh kế).
Đây là các hình thức quản lý KBT đã và đang tồn tại ở nhiều quốc gia, vì thế Việt Nam có thể cho thử nghiệm tại các KBT có quy mô vừa và nhỏ dựa trên các chính sách như cho thuê đất, rừng, mặt nước, giao khoán quản lý và/hoặc phối hợp quản lý dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
Thực tế cho thấy, hầu hết các VQG/KBT giàu có nhất về đa dạng sinh học của Việt Nam đều nằm tại các tỉnh nghèo. Do vậy, nguồn lực đầu tư cho bảo tồn là rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu để tổ chức quản lý bảo tồn hiệu quả, nhất là việc ngăn chặn các hoạt động trái phép. Các dự án bảo tồn lớn và kinh phí đầu tư phát triển cho một số VQG/KBT vẫn chủ yếu từ nguồn vốn trung ương hoặc hỗ trợ quốc tế (ODA). Tuy nhiên, các đầu tư này còn dàn trải, chủ yếu chú trọng vào cơ sở hạ tầng hơn là mục tiêu bảo tồn do thiếu một cơ quan điều phối thống nhất. Các KBT địa phương có quy mô nhỏ ít được chú ý và không có nhiều cơ hội tiếp cận, hưởng lợi từ các chính sách đầu tư của nhà nước.
Để thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược, giải pháp tăng cường nguồn lực tài chính bền vững được xem là có tính then chốt, trong đó một mặt nhà nước vẫn đảm bảo nguồn lực theo phân cấp hiện hành, mặt khác cần giảm dần sự phụ thuộc của các VQG/KBT vào ngân sách nhà nước.
Đây là thách thức rất lớn đối với nhiều KBT nằm ở các tỉnh có nguồn ngân sách eo hẹp. Để từng bước giải quyết, nhà nước cần quy định thống nhất tất cả các Ban quản lý KBT/VQG (KBT biển, vùng đất ngập nước nội địa) là đơn vị sự nghiệp có thu, có quyền chủ động thực hiện các dịch vụ công để chi phí và tái đầu tư cho hoạt động quản lý, bảo tồn với các ưu đãi tối đa về thuế, phí.
Thực tế cho thấy cũng chỉ mới có một số ít các VQG/KBT đang duy trì được nguồn thu hàng năm từ dịch vụ du lịch sinh thái. Nguồn thu từ chi trả dịch vụ hệ sinh thái (dịch vụ nguồn nước, cho thuê mặt nước, mặt đất, hiện trường nghiên cứu khoa học,…) có thể hứa hẹn tăng cường tài chính ổn định cho KBT nếu nhà nước công nhận mỗi Ban quản lý là bên bán/cung cấp dịch vụ và có quyền quản lý, sử dụng đối với nguồn thu do bên sử dụng chi trả mà không qua các quỹ ủy thác.
Chiến lược đến 2020 cũng khẳng định nhà nước khuyến khích, huy động sự tham gia đóng góp, đầu tư tài chính của cộng đồng và doanh nghiệp cho các loại VQG/KBT, tuy nhiên các Ban quản lý khó có thể tiếp cận nguồn lực này nếu chưa được trang bị tư duy và năng lực kinh doanh hoặc hướng dẫn bởi các cơ chế cụ thể, hấp dẫn hơn của nhà nước.
Ngoài ra, như kinh nghiệm ở nhiều nước khác, nhà nước cần khuyến khích các KBT chủ động xây dựng các cơ chế vận động sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức bằng các sáng kiến như thành viên bảo tồn (conservation membership) hoặc sự kiện công chúng, đồng thời tích cực tham gia tìm kiếm các nguồn tài trợ quốc tế và trong nước thông qua đề xuất dự án. Để huy động được các nguồn này, Ban quản lý cần phối hợp thực hiện với các tổ chức phi chính phủ hoặc cơ quan nghiên cứu về bảo tồn có năng lực, hoặc hình thành các tổ chức cộng đồng về bảo tồn thiên nhiên ngay tại địa bàn các VQG/KBT.
Tóm lại, với những thành công còn hạn chế và thách thức trong bảo vệ ĐDSH, bảo tồn thiên nhiên trong gần ba thập kỷ vừa qua cùng những mục tiêu chiến lược đề ra cho những năm tiếp theo, Việt Nam cần phải có các sáng kiến về cải cách thể chế trong quản lý hệ thống các KBT hiện hành.
Theo đó, cần tập trung hình thành cơ quan đầu mối thống nhất về quản lý nhà nước có đủ quyền lực và năng lực để xác lập sự hài hòa, đồng thuận ưu tiên bảo tồn trong các quyết sách về phát triển kinh tế-xã hội.
Bên cạnh đó, nhà nước cần xem xét lại hiệu quả của phân cấp quản lý KBT cho các địa phương như hiện nay và mở ra các cơ hội để các KBT có thể tiếp cận các nguồn lực tài chính cho hoạt động bảo tồn bền vững ngay tại địa bàn. Việc thực thi các sáng kiến về trao quyền cho cộng đồng địa phương và các tổ chức ngoài nhà nước cùng tham gia bảo tồn cũng vô cùng cần thiết. Để làm được điều này, sự ủng hộ và quyết tâm về chính trị của nhà nước, cũng như các khung luật pháp hướng dẫn thi hành cụ thể là yếu tố tiên quyết cần có. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/6) đầu trang(
Dù các cơ quan chức năng liên quan, cơ quan chuyên ngành của Bộ NN& PTNT và Cơ quan CSĐT (C46) Bộ Công an đã có nhiều văn bản trả lời Tổng cục Hải quan, trích dẫn nhiều Nghị định của Chính phủ và các căn cứ pháp lí làm cơ sở khẳng định việc xuất, nhập khẩu gỗ của Công ty Ngọc Hưng là không có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.
Ngày 6/4/2012, Cục Điều tra Chống buôn lậu (ĐTCBL) Tổng cục Hải quan ra Quyết định số 02/QĐ-ĐTCBL khởi tố vụ án hình sự về Tội buôn lậu xảy ra tại cảng Đà Nẵng. Ngày 19/11/2012, Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44) ra các Quyết định số 188/C44(P4) và số 189/C44(P4) khởi tố bị can đối với ông Trương Huy Liệu và bà Trần Thị Dung (Giám đốc và Phó Giám đốc Công ty Ngọc Hưng) về Tội buôn lậu, đồng thời khám xét nơi ở và làm việc, niêm phong hai kho gỗ của Công ty Ngọc Hưng tại TP Đông Hà, Quảng Trị.
Ngày 3/4/2013 tiếp tục khởi tố bổ sung vụ án Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Ngày 11/6/2013, C44 ra các Quyết định khởi tố bị can số 150/C44 (P4), số 151/C44 (P4), số 152/C44 (P4) đối với các ông Đỗ Danh Thắng, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cảng Đà Nẵng; ông Đỗ Lý Nhi, công chức Chi cục Hải quan cảng Cửa Việt, Quảng Trị và ông Lê Xuân Thành, công chức Chi cục Hải quan Khu thương mại Lao Bảo, Quảng Trị.
Bị khởi tố oan, ông Trương Huy Liệu gửi rất nhiều đơn khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan ở Trung ương, trong đó có đơn gửi Thường trực Ban Bí thư. Ít lâu sau, 4 bị can được tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú, còn ông Trương Huy Liệu bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2012 đến 16/10/2013 và bị giam tiếp hơn một năm tại Trại tạm giam T16, Bộ Công an.
Ngày 15/10/2013, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã tống đạt Bản Kết luận điều tra số 13/KLĐT-C44(P4) cho các bị can và chuyển hồ sơ cho Viện KSND Tối cao đề nghị truy tố Trương Huy Liệu, Trần Thị Dung về Tội buôn lậu theo Điều 153 Bộ luật Hình sự và ba bị can Đỗ Danh Thắng, Lê Xuân Thành, Đỗ Lý Nhi về Tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 285 Bộ luật Hình sự. Vì không có đủ căn cứ kết tội và truy tố, Viện KSND Tối cao chuyển trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan CSĐT Bộ Công an điều tra bổ sung.
Ngày 10/3/2014, Cơ quan CSĐT Bộ Công an mới có Bản kết luận điều tra bổ sung số 04/KLĐTBS-C44 (P4), nếu xem xét kĩ thì nội dung Bản kết luận điều tra bổ sung chẳng giải thích được gì thêm so với yêu cầu của Viện KSND Tối cao. Dư luận xã hội và những nhà làm luật đều khẳng định, đây là một vụ án hình sự hóa vấn đề dân sự có nhiều khuất tất, oan sai…!
Thứ nhất, nội dung Bản Kết luận điều tra số 13/KLĐT-C44(P4) ngày 15/10/2013 dài 65 trang, trình bày luẩn quẩn, vòng vo nhiều vấn đề, vụ việc Cơ quan Điều tra thực hiện không có tính lô-gíc liên quan tới vụ án, nhiều vấn đề suy đoán chủ quan áp đặt. Chủ yếu ghi nhận nhiều sự kiện đi nhiều nơi để báo công, phần nhận định và phần buộc tội đối chọi nhau.
Thứ hai, Kết luận điều tra của C44 khẳng định: Lô hàng gỗ xuất khẩu của Công ty Ngọc Hưng theo Tờ khai xuất khẩu số 849/XK/KDC32D ngày 19/12/2011 có nguồn gốc từ Lào được nhập khẩu vào Việt Nam theo Tờ khai hải quan số 1505/NK/KDC33 ngày 17/12/2011, Công ty Ngọc Hưng đã khai báo nhập khẩu, xuất khẩu, nộp thuế đầy đủ. Vậy mà Cục ĐTCBL vẫn kết tội hình sự?
Thứ ba, Kết luận điều tra cho rằng các hợp đồng và con dấu đóng trên hợp đồng là giả mạo vì người bán gỗ phía Lào không công nhận là chữ kí và con dấu của họ. Căn cứ Hiệp định Tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa Lào và Việt Nam, để có các căn cứ buộc tội, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an (C44) và Viện KSND Tối cao cùng cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Lào đã kí hàng loạt văn bản ủy thác, nhờ sự giúp đỡ của Lào nhưng cuối cùng thì Cơ quan CSĐT – Bộ Công an (C44) vẫn khẳng định: “Cho đến nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44) chưa nhận được kết quả từ Tổng cục Cảnh sát, Bộ An ninh nước CHDCND Lào và cũng chưa nhận được kết quả ủy thác tư pháp từ phía Viện KSND Tối cao nước CHDCND Lào”.
Về phía Hồng Kông, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an lại khẳng định: “Cho đến nay, Cục ĐTCBL chưa nhận được phúc đáp từ phía Văn phòng Hợp tác Quốc tế Hải quan Hồng Kông”. Hoặc là “Cho đến nay, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an (C44) vẫn chưa nhận được kết quả từ Văn phòng Interpol Việt Nam và Văn phòng Interpol Trung Quốc”. Từ các kết luận này cho thấy, một việc làm không ai ủng hộ, việc khởi tố 5 bị can là mang tính quyền lực áp đặt, không tuân thủ các quy định của luật pháp Việt Nam. Coi thường sinh mạng chính trị và sự sống của con người. Khởi tố một vụ án hình sự mà chưa hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm? Nói cách khác là “sử dụng quyền lực cá nhân bắt giam trước, khảo mãi sẽ ra tội?”.
Thứ tư, buộc tội chủ doanh nghiệp theo Điều 153 Bộ luật Hình sự 1999, được sửa đổi bổ sung ngày 19/6/2009 là không có căn cứ. Việc nhập khẩu, xuất khẩu gỗ của Công ty Ngọc Hưng đã nộp thuế hải quan đầy đủ, bên bán (Lào) chở gỗ sang tận cửa khẩu Lao Bảo giao hàng và có đầy đủ các loại giấy tờ, hóa đơn chứng minh rõ ràng, sao lại cho là buôn lậu?
Thứ năm, Cục ĐTCBL đã không đọc kĩ và áp dụng đúng đắn nội dung Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan; Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ. Thông tư số 04/2006/TT-BTM ngày 6/4/2006 của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) hướng dẫn thực hiện Nghị định 12 của Chính phủ. Ngoài ra, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan có quá nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện việc nhập khẩu gỗ từ Lào, Cam-pu-chia về Việt Nam. Tại các Công văn số 897/TCHQ-GSQL ngày 8/2/2007 của Tổng cục Hải quan, số 11383/BTC-TCHQ ngày 25/9/2008 của Bộ Tài chính, số 1007/BTC-TCHQ ngày 18/1/2013 của Bộ Tài chính, số 1328/BCT-XNK ngày 18/2/2013 của Bộ Công Thương… tất cả đều có nội dung hướng dẫn thủ tục nhập khẩu gỗ cho doanh nghiệp, phải tuân thủ đúng các quy định hiện hành của Việt Nam, Hải quan không được yêu cầu doanh nghiệp nộp thêm bất cứ hồ sơ, chứng từ nào khác so với quy định hiện hành. Việc xử phạt đã được quy định tại Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 của Chính phủ. Đối chiếu với các văn bản nêu trên thì việc Cơ quan CSĐT, Bộ Công an khởi tố vụ án hình sự là hành vi trái pháp luật.
Thứ sáu, tại Văn bản số 1328/BCT-XNK ngày 18/2/2013 của Bộ Công Thương ghi rõ: Trường hợp gỗ từ các nước xuất khẩu sang Việt Nam, doanh nghiệp của nước xuất khẩu phải tuân thủ pháp luật của nước sở tại và thủ tục xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam do doanh nghiệp nước xuất khẩu chịu trách nhiệm. Doanh nghiệp Việt Nam chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất của Việt Nam.
Đối với lô hàng gỗ xuất khẩu từ Lào về Việt Nam trong vụ án này, phía đơn vị xuất khẩu hàng hóa từ Lào đã hoàn tất thủ tục xuất khẩu theo quy định của luật pháp nước Lào. Việc Cơ quan CSĐT, Bộ Công an tiêu tốn biết bao công sức, tiền của Nhà nước để truy tìm những vấn đề giấy tờ liên quan của nước bạn nhằm mục đích gì, phải chăng là vô nghĩa đối với các yếu tố cấu thành tội phạm ở Việt Nam?
Thứ bảy, việc cân, đo, đếm gỗ trong vụ án này là thể hiện tính tùy tiện, vô lối, bất quy tắc, mạnh ai nấy làm, thể hiện: Theo Tờ khai hải quan của doanh nghiệp thì tổng khối lượng gỗ xuất khẩu là 535,8m3. Nhưng theo Văn bản số 151/STTNSV ngày 12/3/2012 của Hội đồng Giám định mẫu vật thuộc Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật (Cơ quan Khoa học CITES Việt Nam) kết luận chỉ có 431,598m3 gỗ, thấp hơn số doanh nghiệp kê khai 82,696m3.
Theo Biên bản khám xét của cơ quan Hải quan ngày 14/3/2012 thì tổng số gỗ xuất khẩu chỉ có 389,835m3, thấp hơn số doanh nghiệp khai báo 145,965m3. Theo Kết luận điều tra số 13/KLĐT-C44(P4) ngày 15/10/2013 thì tổng khối lượng gỗ lên tới 614,672m3. Cơ quan này đo áng chừng rồi quy đổi từ kg ra m3. Tạo ra chênh lệch lớn giữa tờ khai của doanh nghiệp và kết quả giám định thực tế là 78,872m3. Thật quá phi lí với kiểu cách cân, đo, đếm, buộc tội của những tổ chức nắm quyền lực trong tay!
Thứ tám, trong nội dung Bản kết luận điều tra (trang 62) Cơ quan CSĐT, Bộ Công an (C44) ghi rõ, khi Cơ quan CSĐT, Bộ Công an đang thực hiện việc xử lí vật chứng theo yêu cầu của Vụ 1, Viện KSND Tối cao tại Văn bản số 25/VKSTC ngày 12/7/2013 thì có vướng mắc là Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam và Chính phủ, Bộ An ninh Lào đều có văn bản đề nghị Chính phủ, Bộ Công an Việt Nam trả lại số gỗ trên cho Công ty EAST WELL cho Chính phủ Lào. Vì vậy, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an Việt Nam đã tạm dừng việc xử lí vật chứng của vụ án này.
Nói và viết là như vậy, nhưng trên thực tế thì Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44) đã ngấm ngầm bán toàn bộ số gỗ nhóm I này cho Công ty Phú Xuân ở tỉnh Bắc Ninh với giá rẻ như bèo (63.619.706.500 đồng). Hành vi này gây thiệt hại rất lớn về kinh tế đối với doanh nghiệp, gây thất thu quá lớn ngân sách cho Nhà nước, vi phạm nghiêm trọng Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự về xử lí vật chứng khi vụ án chưa được đình chỉ”.
Thứ chín, cơ quan làm luật, thực thi pháp luật mà cố tình viện dẫn và áp dụng sai luật. Họ quy kết Công ty Ngọc Hưng về tội buôn lậu, vì theo Nghị định 22/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ thì khi xuất khẩu gỗ nhóm IIA phải có giấy phép. Quy kết này hoàn toàn không phù hợp, vì theo kết quả giám định và tờ khai hải quan thì số gỗ này được nhập khẩu từ Lào về nên không chịu sự điều chỉnh của Nghị định 82 và Thông tư 60. Vấn đề này Văn bản số 1328 ngày 8/2/2013 của Bộ Công thương gửi Tổng cục Hải quan đã nêu rõ.
Thứ mười, không thể chấp nhận đó là, cùng một ông Tiến sĩ Đặng Tất Thế ở Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật làm Chủ tịch Hội đồng Giám định một mớ gỗ mà số liệu trong bản Kết luận giám định lần 1 do ông làm Chủ tịch kí vào Biên bản kết luận là: 431,598m3. Nhưng trong Biên bản cân, đo, đếm của Cơ quan CSĐT, Bộ Công an giám định lần 2 thì số lượng lại tăng cao tới 614,672m3, ông Tiến sĩ này cũng kí xác nhận mà không làm rõ tại sao giám định lần 2 lại cao hơn lần 1?
Sau khi vợ chồng ông Trương Huy Liệu, bà Trần Thị Dung chủ doanh nghiệp cùng 3 cán bộ hải quan bị khởi tố, ông A Lý, người mua lô hàng gỗ này của Công ty Ngọc Hưng liên tiếp sang Việt Nam nhờ Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam can thiệp. Do có mối quan hệ làm ăn giữa hai doanh nghiệp với nhau từ lâu, ông A Lý đại diện Công ty Fareast Co.Ltd, Hồng Kông, làm giấy ủy quyền cho bà Giáp Thị Dinh, thường trú tại khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thay mặt ông A Lý liên hệ với các cơ quan chức năng về lô hàng gỗ xuất khẩu của Công ty Ngọc Hưng đã bán cho Công ty của ông A Lý theo Hợp đồng kinh tế số 83/HĐKT ngày 18/12/2011 mà hai bên đã kí kết.
Biết được vụ việc bà Dinh đang cầm đơn tìm người cầu cứu giải quyết công việc, sau khi nghe bà Dinh trình bày vụ án xuất nhập khẩu gỗ của Công ty Ngọc Hưng đã bị khởi tố, ông Nguyễn Hữu Phát tự giới thiệu là người Bến Tre, cháu gọi bà Nguyễn Thị Kim Ngân bằng dì ruột (mẹ ông Phát là chị bà Ngân).
Ông hứa với bà Dinh “sẽ lo hoàn tất công việc cho em trong vòng một tháng”, mọi chi phí khi nào xong, hai bên gặp nhau tính toán sau. Ông Phát có CMND số 023137926 do Công an TP Hồ Chí Minh cấp ngày 11/8/2009. Cầm được hồ sơ của bà Dinh, ông Phát bảo, ông sẽ đi Hà Nội gặp các quan chức cao cấp ngăn cản, không cho C44, Bộ Công an bán lô hàng đang bị giữ tại kho cảng Tiên Sa, Đà Nẵng.
Mấy ngày sau, ông Phát yêu cầu bà Dinh mua quà tặng sinh nhật của một vị nguyên thủ và dẫn bà tới nhà riêng ở Hà Nội nhưng chỉ một mình ông vào biệt thự, vợ chồng bà Dinh và một giám đốc doanh nghiệp khác ở ngoài. Sau đó, bà Dinh liên tục nhận được rất nhiều tin nhắn từ số điện thoại 0938 070 261 của ông Phát, có nội dung: “Anh đang nói chuyện với anh Tư Sang, em đừng gọi nhiều, anh sẽ gọi lại sau”, “Anh đang dự tiệc với anh Tư Thắng ở nhà anh Hai Quân, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, anh sẽ gọi lại sau”, “Anh đang chờ bác Tư Sang về Sài Gòn để gặp Thiên (Thư kí Chủ tịch nước) rồi mới biết hướng đi ra sao”. Sau những lần nhắn tin này, ông Phát buộc bà Dinh phải chuyển cho ông lần thứ nhất (ngày 25/1/2014) số tiền 200 triệu đồng qua bưu điện bằng số CMND nêu trên.
Ngày 24/2/2014, ông Phát tiếp tục yêu cầu bà Dinh chuyển tiếp một tỉ đồng cho ông. Ông Phát còn buộc bà Dinh mua quà, bỏ phong bì để ông cho bảo vệ gác cổng các “quan lớn”, tổng số tiền bà Dinh đưa cho ông Phát gần 2 tỉ đồng. Theo lời hứa, sau một tháng sẽ giải quyết xong công việc, nhưng đến nay đã hơn ba tháng trôi qua mà bà Dinh chưa hề biết tin tức, lô hàng gỗ xuất khẩu bị tạm giữ trị giá hơn 500 tỉ đồng đã bị Cơ quan CSĐT (C44) bán hết rồi.
Vì quá bức xúc, bà Dinh liên tiếp gọi điện thoại cho ông Nguyễn Hữu Phát thì ông tiếp tục nhắn lại tin: “Anh đã thông báo với A92 và Cục Điều tra Viện KSND Tối cao kí quyết định kiểm tra thực tế kho hàng”, “Chiều nay họ yêu cầu C44 làm việc, sáng mai sẽ có thông tin”, “Anh đang làm việc với A92, xong việc anh gọi lại cho em biết”, “Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh trả lời không có Công ty mua gỗ, em kiểm tra nó là Công ty hay là kinh doanh cá thể”, “Anh đang cho đối chiếu lô hàng trên tờ khai hải quan với list hàng lúc tạm giữ tại Đà Nẵng với C44”, “Chưa biết thế nào đây, C44 đẩy trách nhiệm hồ sơ vụ án cho Tổng cục Cảnh sát, cho tướng Vĩnh, A92 đang xin ý kiến Bộ trưởng”, “Ý kiến của Viện Kiểm sát là phải bắt hết người mua và người bán, hiện hàng trong kho còn hơn 70%”, “Sáng mai gặp em ở Hà Nội, vì hiện giờ anh đang về nhà hàng dân tộc ở Mỹ Đình, tướng Vĩnh mời”, “Tất cả đều biết anh theo đoàn để báo cáo Chủ tịch nước, nên không ai dám làm bậy, anh nghĩ là bác Vĩnh nghe ý kiến Viện Kiểm sát bắt hết cán bộ nào làm sai, nên có ý định thương lượng với Cục Điều tra Viện KSND Tối cao”… và rất nhiều tin khác mà ông Nguyễn Hữu Phát nhắn vào điện thoại của bà Giáp Thị Dinh.
Đây rõ ràng là hành vi lừa đảo những người gặp nạn nhẹ dạ cả tin. Ông Phát từng tuyên bố ông ta quen biết tất cả các tướng lĩnh ở Bộ Công an và các nguyên thủ quốc gia. Nhiều doanh nghiệp từng chứng kiến cảnh ông Phát dẫn họ tới nhà riêng của nhiều cán bộ cao cấp ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Những ngày gần đây, phát hiện ra hành vi lừa đảo của ông Nguyễn Hữu Phát, bà Giáp Thị Dinh gọi điện thoại buộc ông Phát trả tiền lại thì ông ta hứa lèo hết ngày này sang ngày khác rồi tắt điện thoại như một cuộc bỏ trốn.
Trước đó, bà Dinh viết một lá đơn có nội dung “Đơn xin cứu xét” gửi Thủ tướng Chính phủ thì ông Phát lại bỏ đi và viết lại “Đơn tố cáo – V/v Cơ quan CSĐT C46 & C44 Bộ Công an bắt người và bán tang vật vụ án trái pháp luật”, ông Phát mạo danh chữ kí của bà Dinh kí vào đơn. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hữu Phát được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự.
Thiết nghĩ các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương sớm vào cuộc, đừng để những đường dây lừa đảo như vậy tung hoành ngang dọc, nhiều người dân oan nhẹ dạ cả tin và doanh nghiệp phải gánh chịu những nỗi đau tột cùng do bọn lừa đảo như Nguyễn Hữu Phát gây ra.
Vụ án chưa kết thúc bởi dù khởi tố, truy tố nhưng trong khi chưa đưa ra xét xử, lô gỗ là tang vật vụ án, ông Trương Huy Liệu và 5 người khác bị khởi tố chưa xác định chính thức là có tội buôn lậu hay không, vậy mà C44 (P4) Cơ quan CSĐT Bộ Công an hoặc cơ quan Hải quan chủ động đứng ra bán hơn 535,8m3 gỗ quý với giá rẻ là vi phạm nghiêm trọng quy định về tố tụng cần được làm rõ. (Người Cao Tuổi 4+5/6) đầu trang(
Ở Quảng Trị, lực lượng Kiểm lâm được thành lập vào ngày 10/6/1974 với tên gọi Hạt Kiểm lâm khu vực Vĩnh Linh, đây chính là tiền thân của Kiểm lâm Quảng Trị ngày nay.
Năm 1976, lực lượng Kiểm lâm 3 tỉnh nhập lại thành Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Trị Thiên, đến năm 1989 sau khi tái lập tỉnh Quảng Trị, Chi cục Kiểm lâm được thành lập theo Quyết định số 60/QĐ-UB ngày 22/7/1989 của UBND tỉnh.
Trải qua nhiều sự thay đổi về cơ cấu quản lý, tổ chức bộ máy và nhiều lần bổ sung quyền hạn, nhiệm vụ, lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng III vào năm 1994, Huân chương Lao động hạng II vào năm 2009 và nhiều bằng khen, giấy khen khác. Và nhất là giai đoạn 2009- 2014 , lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị không ngừng phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp tục học tập rèn luyện vươn lên hoàn thành nhiệm vụ ngày càng tốt hơn, cụ thể được thể hiện ở các nhiệm vụ sau: Chi cục Kiểm lâm đã chủ động tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh những chủ trương, biện pháp kịp thời, hữu hiệu trong công tác đấu tranh ngăn chặn tình trạng phá rừng, cháy rừng, tạo cho đất rừng có chủ thực sự nhằm bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển, sử dụng ổn định, bền vững tài nguyên rừng.
Đẩy mạnh công tác truyền thông phổ cập giáo dục pháp luật đến cộng đồng dân cư, với nhiều hình thức, nội dung phong phú, phù hợp với tình hình các địa phương. Đã tổ chức 1.035 cuộc với 70.000 lượt người tham gia, tổ chức 2 cuộc thi tìm hiểu về Luật Bảo vệ và phát triển rừng và chống buôn bán khai thác sử dụng động vật, thực vật hoang dã từ 67 trường PTTH cơ sở tại cấp huyện và chung kết tại tỉnh; phát hành hàng tháng bản tin Kiểm lâm đến các chủ rừng, UBND các xã phường và các ngành liên quan.
Nhờ đó nhận thức của nhân dân được nâng lên và người dân đã tích cực tham gia bảo vệ rừng (BVR), tố giác các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày càng nhiều hơn. Tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) bằng cách hướng dẫn, chỉ đạo cho các chủ rừng xây dựng phương án PCCCR, tổ chức lực lượng và thường xuyên tuần tra BVR. Xây dựng phương án PCCCR 3 mức để giúp cho UBND tỉnh, huyện, xã điều hành chỉ đạo khi có cháy rừng xảy ra.
Kiện toàn 93 Ban chỉ huy Bảo vệ rừng từ xã phường đến huyện, chủ động sẵn sàng các phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác PCCCR, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng BVR của chủ rừng hàng năm, thực hiện tốt công tác dự báo cháy rừng, tổ chức 21 cuộc diễn tập cấp xã và 1 cuộc diễn tập cấp huyện với 2.800 lượt người tham gia, qua đó nâng cao tính chủ động, điều hành, phối hợp trong chữa cháy rừng. Với những hoạt động tích cực trên dẫn đến tình hình cháy rừng ngày càng giảm về số vụ cháy, giảm diện tích và mức độ thiệt hại.
Về công tác đấu tranh ngăn chặn, lực lượng Kiểm lâm thường xuyên nắm thông tin và xác định các khu vực trọng điểm phá rừng, các tuyến đường vận chuyển, các địa điểm buôn bán lâm sản trái với quy định của pháp luật để tăng cường đấu tranh ngăn chặn.
Tăng cường cán bộ về cấp xã để bám địa bàn thực hiện nhiệm vụ, đã xây dựng phương án BVR, phối hợp với công an xã, dân quân tự vệ khoanh đối tượng thường có hành vi vi phạm pháp luật về rừng để tham mưu cho UBND xã có biện pháp đấu tranh ngăn chặn; thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng liên quan và chính quyền địa phương tổ chức các đợt kiểm tra trong rừng để đẩy đuổi các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, qua đó đã phát hiện và bắt giữ 2.055 vụ vi phạm, xử lý tịch thu trên 5.030 m3 gỗ các loại, 80 ster củi, trên 6.290 kg động vật hoang dã, 52 kg trầm sô, 39 máy cưa xăng, 2 xe ô tô, phá hủy tại rừng 60 lán trại, dỡ bỏ trên 6.700 các loại bẫy bắt thú rừng, giải tỏa nhiều nhóm đào đãi vàng sa khoáng trong rừng…
Tiền thu nộp ngân sách từ xử phạt vi phạm hành chính và bán lâm sản tịch thu trên 43 tỷ đồng; xử lý hình sự 3 vụ, trong đó mức án cao nhất là 36 tháng tù giam. Tình hình vi phạm các năm về sau giảm dần so với các năm trước.
Chú trọng công tác bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm đã trình và UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, đã từng bước thực hiện vai trò chủ rừng có kết quả tốt. Tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, tổ chức nghiên cứu khoa học, tập trung bảo vệ các loài động, thực vật nguy cấp quý hiếm, đặc hữu hiện có.
Từng bước tạo điều kiện để tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng để nâng cao việc quản lý, sử dụng hiệu quả các dịch vụ hệ sinh thái rừng. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa nghề rừng bằng cách tuyên truyền, tổ chức tham quan học tập cho nhân dân áp dụng các mô hình canh tác, sản xuất nghề rừng có hiệu quả, tranh thủ các dự án tài trợ để cải thiện sinh kế mới.
Trên cơ sở đề án giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư, trong 5 năm qua lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với chính quyền địa phương và các ngành liên quan tổ chức giao được 7.200 ha rừng tự nhiên để nhân dân quản lý, chăm sóc và hưởng lợi lâu dài, qua đó đã góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và có thêm ngành nghề mới ở địa phương; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng trong công tác BVR.
Công tác cập nhật diễn biến rừng được tổ chức thực hiện tốt, hàng năm kịp thời đánh giá sự biến động của rừng cả về trồng mới lẫn khai thác sử dụng, cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng …Đến nay trên địa bàn tỉnh có trên 236.000 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 141.000 ha, rừng trồng 95.000 ha, đã nâng độ che phủ của rừng từ 41% năm 1999 lên 48% năm 2013.
Về công tác xây dựng lực lượng, Kiểm lâm Quảng Trị không ngừng củng cố, kiện toàn để đáp ứng với nhiệm vụ theo từng giai đoạn, từ 1 Hạt Kiểm lâm với số công chức 40 người, trình độ trung cấp, đại học chỉ có 2 người, đến nay Chi cục đã có 8 Hạt Kiểm lâm, 2 Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên, 4 phòng chuyên môn nghiệp vụ và 1 Trạm BVR, 1 Đội Kiểm lâm cơ động, 2 Trạm Kiểm lâm trực thuộc và 15 Trạm Kiểm lâm khu vực. Số cán bộ, công chức người lao động hợp đồng là 199 người. Về trình độ chuyên môn, có 30 thạc sĩ, 131 người có trình độ đại học, 26 người có trình độ trung cấp chuyên ngành, 12 người nghiệp vụ khác.
Chi cục Kiểm lâm luôn tổ chức ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật, công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng luôn được quan tâm, đã xây dựng và ban hành 7 quy trình bắt buộc, 18 quy trình chuyên môn nghiệp vụ theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và đã đưa vào thực hiện.
Chi cục coi trọng công tác đoàn kết thống nhất trong nội bộ, quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng; thực hiện tốt công tác dân chủ cơ sở, công khai minh bạch các hoạt động của cơ quan. Thường xuyên quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các thông tin tình hình trên địa bàn kịp thời. Quan tâm thực hiên công tác quy hoạch cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ công chức cả về lý luận chính trị lẫn chuyên môn mghiệp vụ và toàn thể cán bộ công chức thường xuyên học tập rèn luyện để có đủ năng lực, trình độ, có đủ trách nhiệm, ý chí và đạo đức phẩm chất người công chức để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Với nhiều thành tích và cống hiến trong 40 năm qua, lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị được Chính phủ, ngành và tỉnh ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều năm liền, lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị đã vinh dự được Nhà nước, Chính phủ tặng nhiều phần thưởng cao quý cho tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập, lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Đây là phần thưởng cao quý mà lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị vinh dự được đón nhận.
Lực lượng Kiểm lâm Quảng Trị hứa sẽ quyết tâm phát huy những thành quả đã đạt được, khắc phục những khó khăn, phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ trong thời gian tới. (Báo Quảng Trị 6/6) đầu trang(
Xác định tầm quan trọng của rừng phòng hộ, từ năm 2013, UBND tỉnh BR-VT đã phê duyệt dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tỉnh giai đoạn 2013-2015. Dự án này được triển khai nhằm hướng tới mục tiêu tạo ra hệ thống rừng có khả năng tham gia bảo vệ môi trường một cách bền vững.
Theo thống kê của Ban quản lý rừng phòng hộ, từ năm 2008 đến nay, toàn tỉnh BR-VT đã trồng được gần 5.000 ha rừng tập trung, gần 9.700 ha rừng được khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ, tỷ lệ che phủ của cây xanh đạt 44%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng là 13%. Phần lớn diện tích rừng trồng đã phát huy tác dụng phòng hộ, chống xói mòn, rửa trôi cục bộ, cải thiện môi trường sinh thái tại địa phương, giảm nhẹ thiên tai và điều tiết nguồn nước.
Việc trồng các loại cây gỗ bản địa góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn được nguồn gen của một số cây quý hiếm tại địa phương. Đồng thời ổn định đời sống cho nông dân trong vùng dự án thông qua việc giao khoán đất rừng, hỗ trợ vốn cho sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm, tăng tích lũy cho xã hội, thực hiện ổn định dân cư trên địa bàn.
Ông Châu Anh Đức, Phụ trách phòng Quản lý Bảo vệ rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh cho biết: “Công việc của Ban quản lý rừng phòng hộ là quản lý, xây dựng và phát triển rừng phòng hộ, thường xuyên tuần tra để ngăn chặn việc lấn chiếm, quản lý diện tích được giao, thực hiện những phần việc lâm sinh như: phòng chống cháy rừng, nâng cao chất lượng rừng, tái sinh rừng trên khu vực cần phải thực hiện”.
Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 10.090 ha diện tích rừng phòng hộ. Trong đó, có 3 loại rừng phòng hộ gồm: rừng phòng hộ đầu nguồn với diện tích 4.300 ha; rừng phòng hộ chắn gió cát bay là 1.200 ha và rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển có diện tích 5.000 ha.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Phân viện điều tra quy hoạch rừng Nam bộ, chất lượng rừng trồng phòng hộ trên địa bàn tỉnh chưa đảm bảo tác dụng phòng hộ lâu dài. Mặc dù về cơ bản hầu hết các diện tích đất trống đồi núi trọc đã được đầu tư trồng rừng phủ xanh nhưng nhiều nơi tỷ lệ sinh trưởng kém, nhiều nơi cây rừng bị chết khô do nắng hạn và điều kiện lập địa quá khắc nghiệt, đất chỉ toàn là đá. Chính vì thế, năm 2013, UBND tỉnh đã phê duyệt dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2015.
Mục tiêu của dự án nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ toàn vẹn tài nguyên rừng và cảnh quan thiên nhiên của hệ thống rừng phòng hộ, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xâm hại tài nguyên rừng như chặt phá cây rừng, săn bắt động vật, thu hái các loại lâm sản, phá rừng làm nương rẫy hoặc các tác động khác gây cháy rừng, xây dựng đường sá và các công trình làm thay đổi cảnh quan môi trường của khu rừng.
Dự án cũng đặc biệt chú trọng tới việc bảo tồn và phát triển các loại thực vật rừng đặc hữu đang có nguy cơ tuyệt chủng như: cẩm lai Bà Rịa, giẻ núi Dinh, cẩm liên núi Minh Đạm, dầu Long Sơn, gõ đỏ, dáng hương, dầu cát, sến cát… Đồng thời bảo vệ nơi cư trú của các loài động vật rừng, thủy sản; nguồn gen thực vật, giống cây trồng và các sinh cảnh tự nhiên.
Để thực hiện được mục tiêu này, Ban quản lý rừng phòng hộ đã thành lập 24 tổ bảo vệ phòng chống cháy rừng ở rải rác hầu hết các địa phương có rừng trong tỉnh, nhằm mục đích huy động kịp thời lực lượng chữa cháy và phát hiện sớm các hành vi lấn chiếm đất rừng.
Anh Dương Hồng Bắc, Phụ trách trạm quản lý bảo vệ rừng khu vực Núi Dinh – Thị Vải cho biết: “Khi có tin báo cháy rừng, tổ bảo vệ phải có mặt kịp thời để cùng phối hợp với Hạt kiểm lâm kiểm tra xử lý. Chúng tôi cũng phân ca trực, đi tuần tra ngày đêm để làm nhiệm vụ bảo vệ, trồng rừng, và phòng cháy chữa cháy.”
Ngoài ra, Ban quản lý rừng phòng hộ còn thực hiện việc giao khoán cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh với tổng diện tích trên 8.700 ha cho khoảng 1.200 hộ. Việc giao khoán đất rừng nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ và trồng rừng, góp phần đáng kể vào việc ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.
Ông Bùi Văn Hiệp là một trong số các hộ nhận khoán khu vực Núi Dinh – Thị Vải. Với diện tích nhận khoán trên dưới 30 ha đất rừng thuộc khu vực Núi Dinh - Thị Vải, đến nay sau hơn 10 năm thực hiện trồng và chăm sóc rừng, phần đất rừng nhận khoán của ông Hiệp đã bạt ngàn các loại cây, lớn nhỏ có đủ. Đặc biệt là ông còn đưa vào trồng nhiều loại cây gỗ có giá trị như gió bầu, dầu lông… và một số cây ăn trái khác.
Ông Hiệp cho biết: “Ngày xưa rừng ở đây là hoang hóa toàn cỏ nứa và tre, để có được màu xanh của rừng như ngày hôm nay là cả một vấn đề. Đây là thành quả rất lớn đối với tôi và gia đình sau những năm tháng vất vả.”
Sẽ có khoảng 300 hộ nhận khoán trồng rừng như ông Hiệp khi dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2015 triển khai. Như vậy, rừng sẽ càng thêm xanh hơn và hạn chế được tình trạng chặt phá cây rừng, điều này sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, điều tiết dòng chảy, hạn chế các tác động của thiên tai, đồng thời cũng hướng tới việc tạo thêm điểm đến cho du khách thông qua các tour du lịch sinh thái rừng. (Đài PTTH Bà Rịa – Vũng Tàu 5/6) đầu trang(
Một trong giải pháp hữu hiệu để ngăn được nước biển dâng chính là rừng ngập mặn, vì thế tỉnh Khánh Hòa đã xây dựng dự án “Triển khai các mô hình phục hồi và quản lý rừng ngập mặn, thảm cỏ biển ở khu vực đầm Thủy Triều ’’.
Thông tin đáng quan tâm nhất đối với dự án là cơ chế đồng quản lý dựa vào cộng đồng trong quá trình thực hiện dự án đã mang lại hiệu quả tốt, mở ra triển vọng có thể sử dụng cơ chế này để phục hồi tiếp toàn bộ diện tích rừng ngập mặn ven đầm Thủy Triều nhằm đối phó với biến đổi khí hậu.
Sau khi nhận thực hiện dự án vào tháng 8/2012, Viện Hải dương học Nha Trang đã phối hợp với Nhà máy đường Khánh Hòa và nhân dân các xã Cam Thành Bắc, Cam Hòa, Cam Hải Đông huyện Cam Lâm để triển khai hoạt động phục hồi và trồng mới lại một số diện tích rừng ngập mặn. Nguồn vốn để thực hiện cơ chế đồng quản lý là 700 triệu đồng, trong đó 80% là kinh phí sự nghiệp khoa học, còn lại do doanh nghiệp và người dân đóng góp.
Ngay sau khi triển khai, dự án đã nhận được sự đồng thuận rất cao của nhà máy đường trong việc đóng góp đáng kể về mặt nhân lực, vật lực, cùng sự tình nguyện tham gia chăm sóc, quản lý của người dân địa phương. Sau một năm triển khai đã trồng mới được 3,5 ha rừng ngập mặn ven đầm.
Thời gian đầu triển khai việc trồng các cây non gặp nhiều khó khăn. Do đây là khu vực bãi triều, việc khai thác nguồn lợi bằng hình thức đào bới nền đáy của một số người dân đã làm ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống của cây. Ngoài ra, trong mùa khô nóng, rong mền thường xuất hiện, bao phủ, đè gẫy những cây non. Để giảm thiểu các tác động xấu này, nhóm các nhà khoa học thực hiện dự án cùng với doanh nghiệp và người dân đã tăng cường các biện pháp chăm sóc, bảo vệ, trồng dặm nhiều lần với các loài cây ngập mặn nhằm đa dạng hóa đối tượng và khả năng thích nghi của cây.
TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, Phó viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang cho biết sau 20 tháng, thấy cây phát triển rất tốt, đặc biệt là mùa mưa. Viện đã theo dõi thì chiều dài của cây đước khoảng 100cm, tỉ lệ sống trung bình đạt 88% - là tỉ lệ rất cao.
Kết quả thành công của mô hình đã khẳng định tính ưu việt của cơ chế quản lý dựa vào cộng đồng, trong đó doanh nghiệp và cộng đồng người dân đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc, bảo vệ và quản lý khu vựcrừng ngập mặn phục hồi. Những mảng rừng ngập mặn này sẽ ngăn được phần nào triều cường, sóng dữ và nước biển dâng tại khu vực rừng trồng.
Song để nâng cao hiệu quả của mô hình, thì doanh nghiệp, cũng như người dân cần được giao quyền quản lý trực tiếp các khu vực rừng phục hồi, đặc biệt cần phân định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp và cộng đồng, có như vậy, hoạt động tiếp tục khôi phục, tái tạo lại rừng ngập mặn sẽ có tính thuyết phục hơn và đạt hiệu quả cao trong thời gian tới. (Đài PTTH Khánh Hòa 5/6) đầu trang(
Ngoài lực lượng vũ trang, Kiểm lâm là lực lượng được Nhà nước trang cấp vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng, xử lý các hành vi xâm hại tài nguyên rừng và chống người thi hành công vụ trong bảo vệ rừng.
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt trong việc quản lý, sử dụng, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Hàng năm, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã tăng cường chỉ đạo các đơn vị Kiểm lâm cơ sở phối hợp với Ban chỉ huy Quân sự, Công an huyện, thị xã, thành phố tổ chức các lớp bồi dưỡng chế độ quản lý, thực hành bắn đạn thật gắn với công tác huấn luyện Dân quân tự vệ. Thực hiện Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ năm 2011, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Công an về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và đặc biệt để thực hiện có hiệu quả Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-BNNPTNT-BCA.
Ngay từ đầu năm 2014, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã xây dựng kế hoạch tập huấn và đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, trong tháng 4 và tháng 5 năm 2014 Chi cục đã phối hợp với Phòng PC 64 Công an tỉnh Thanh Hóa tổ chức 5 lớp tập huấn với gần 500 học viên là công chức, viên chức, lao động hợp đồng của 24 đơn vị Kiểm lâm; kết quả có trên 60% học viên đạt loại giỏi, gần 40% học viên đạt loại khá, không có học viên không đạt yêu cầu. Sau tập huấn, các học viên đã được Công an tỉnh cấp Giấy chứng nhận sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ.
Như vậy, đến hết tháng 5 năm 2014, 100% công chức, viên chức, lao động hợp đồng toàn lực lượng Kiểm lâm Thanh Hóa (kể cả Vườn quốc gia Bến En, 3 Khu bảo tồn thiên nhiên) đều đã được tập huấn và cấp giấy chứng nhận. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 4/6) đầu trang(
Thị xã Bắc Kạn đã và đang tích cực trong công tác trồng rừng 2014. Do quỹ đất ngày càng thu hẹp, năm nay thị xã Bắc Kan chỉ trồng rừng với diện tích là 285 ha, giảm gần ½ diện tích so với vụ trồng rừng trước.
Tranh thủ thời tiết nắng ráo, Hạt kiểm lâm thị xã Bắc Kạn đang khẩn trương phát cây giống và yêu cầu những hộ trồng rừng bảo quản, sẵn sàng cho việc trồng rừng khi điều kiện thời tiết thuận lợi. Năm nay, do diện tích đất trồng rừng tại các phường trên địa bàn thị xã Bắc Kạn đã bị thu hẹp, chính vì vậy rừng trồng mới chỉ tập trung tại các xã Xuất Hóa, Nông Thượng, Dương Quang và Huyền Tụng.
Đến thời điểm này, lực lượng kiểm lâm đã phát gần 40 vạn cây giống cho người dân trồng rừng, trong đó chủ yếu là cây mỡ. Mặc dù hiện nay, thị xã Bắc Kạn cũng đã có 30 ha cây mỡ bị sâu ong xâm hại, tuy vậy người dân vẫn ưa thích loại cây trồng này do khả năng sinh khối cao, dễ bán ra thị trường và đặc biệt là tin tưởng vào những giải pháp tận diệt sâu ong khi diện tích chưa lan rộng.
Theo kế hoạch, thị xã Bắc Kạn sẽ hoàn thành việc trồng rừng trước tháng 6 năm 2014, tuy nhiên lực lượng kiểm lâm vẫn khuyến cáo người dân không trồng rừng vào những ngày nắng to, nắng gắt, đồng thời các vườn ươm đã chuẩn bị sẵn sàng lượng cây giống dự phòng để tra, dặm những diện tích rừng trồng bị chết, kém phát triển. (Đài PTTH Bắc Cạn 5/6) đầu trang(
An Lão, Bình Định: Thí điểm dự án giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý
Được sự đồng ý của UBND tỉnh, huyện An Lão đã triển khai Dự án thí điểm giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý tại thôn 3, xã An Nghĩa.
Tham gia Dự án có 29 hộ dân với 114 nhân khẩu tại thôn 3, xã An Nghĩa thực hiện quản lý 530ha rừng tại tiểu khu 59B. Nguồn vốn do Ngân hàng Thế giới WB hỗ trợ hơn 1,8 tỷ đồng (chưa tính phần đối ứng từ ngân sách tỉnh).
Đến nay Dự án giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý tại thôn 3, xã An Nghĩa đã hòan thành việc thẩm định tính khả thi của Dự án; đánh giá thực trạng rừng; tác động của xã hội đến môi trường rừng, tác động của môi trường rừng…
Đi đôi với việc làm trên, đến nay huyện An Lão cũng đã tiến hành giao gần 37 ngàn ha đất lâm nghiệp cho tổ chức và hộ gia đình quản lý sử dụng, chiếm 62% tổng diện tích đất lâm nghiệp hiện có.
Việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý là nhằm thực hiện tốt phương châm: mỗi khu đất, mỗi cánh rừng phải có chủ thật sự; phát huy tối đa nguồn lực của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng. (Anlao.binhdinh.gov.vn 5/6) đầu trang(
Sáng 5-6, tại huyện biên giới Ngọc Hồi, UBND tỉnh Kon Tum đã tổ chức Lễ phát động trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và hưởng ứng ngày Môi trường thế giới (5-6).
Ngày Môi trường thế giới năm 2014 với chủ đề "Hãy hành động để ngăn nước biển dâng”, tỉnh Kon Tum kêu gọi mọi người hãy chung tay bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng để bảo vệ môi trường sống; hãy hành động từ chính mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng nhằm bảo vệ môi trường, để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh hơn, sạch đẹp hơn.
Trong dịp này, tỉnh Kon Tum đã phát động phong trào trồng 5,1 ha cây thông 3 lá tại khu vực sau nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngọc Hồi. (Đại Đoàn Kết 6/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) đã trồng mới hơn 1.200 ha rừng bằng giống bạch đàn và keo, đạt gần 70% kế hoạch năm, nâng tổng diện tích rừng toàn huyện lên hơn 47 nghìn ha.
Diện tích rừng mới trồng tập trung nhiều ở các xã: Đèo Gia, Tân Lập, Tân Mộc, Nam Dương.
Để công tác phát triển rừng đạt hiệu quả, thời gian tới, các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện tiếp tục tuyên truyền, đôn đốc các xã vận động nhân dân tích cực trồng rừng, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ và phòng, chống cháy rừng. (Báo Bắc Giang 6/6) đầu trang(
Ngày 4/6, ĐVTN Công an Bạc Liêu, kiểm lâm huyện Vĩnh Lợi, xã Châu Hưng A trồng 1.000 cây xà cừ tại ấp Nhà Dài, xã Châu Hưng A (Vĩnh Lợi).
Tuổi trẻ Công an Bạc Liêu diễu hành tại TP Bạc Liêu tuyên truyền cộng đồng bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, bảo vệ môi trường và hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2014 với chủ đề “Chung tay bảo vệ đại dương xanh”. (Tiền Phong 5/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một con dơi tai lớn thuộc loài tưởng là đã tuyệt chủng đã được tìm thấy ở một khu rừng tại Papua Tân Guinea, các nhà nghiên cứu thông báo ngày 4.6.
Trước khi được tìm thấy, con dơi thuộc loài Pharotis imogenenày đã không được nhìn thấy ở bất kỳ đâu trong vòng 120 năm qua, theo AFP.
“Loài này được cho là đã tuyệt chủng”, ông Luke Leung, chuyên gia nghiên cứu thuộc Trường Đại học Queensland (Úc), cho biết.
Hai sinh viên Trường Đại học Queensland đã bắt được một con cái vào giữa năm 2012 khi đang nghiên cứu thực địa tại một tỉnh duyên hải ở Papua Tân Guinea.
Con vật không giống với bất kỳ loài dơi nào còn tồn tại trên Trái Đất và sau đó đã được xác định là giống đã không được nhìn thấy kể từ sau khi một nhà khoa học Ý bắt được con đầu tiên hồi năm 1890.
Ông Leung cho biết cần phải nghiên cứu thêm để xác định được xem con dơi này có phải là một trong số ít loài động vật hữu nhũ chỉ có thể phát hiện tại vùng bán đảo phía đông nam Papua Tân Guinea hay không, hay là nó còn sống ở những vùng khác nữa.
Con dơi vừa được tìm thấy có đôi tai to bằng cái đầu và được xem là loài vật có nguy cơ tuyệt chủng trong Danh sách Đỏ của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN).
Catherine Hughes, một trong 2 sinh viên bắt được dơi quý, cho biết phát hiện này cho thấy tính đa dạng sinh học của Papua Tân Guinea.
“Có những vùng tại Papua Tân Guinea mà chưa có nhà nghiên cứu nào đi tới. Sự đa dạng của các loài vật và sinh thái tại nước này độc đáo đến nỗi bạn có thể hình dung giống như là toàn bộ các loài đều có mặt ở đó và chưa được khám phá hết”, cô nói với AFP. (Thanh Niên 5/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||