Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Rừng phòng hộ đầu nguồn ở xã Trà Xinh và Trà Thọ, huyện Tây Trà đang bị lâm tặc cưa hạ. (Nhân Dân 5/8, tr7) đầu trang(
Ngày 4/8, Công an huyện Thanh Bình cho biết, vừa ngăn chặn 2 vụ săn bắt động vật hoang dã trái phép, bắt quả tang 3 đối tượng liên quan.
Trước đó, chiều 3/8, nhận tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà ông Nguyễn Văn Đường (48 tuổi, ngụ xã Tân Quới, huyện Thanh Bình) đang nhốt 1 con chim lạ. Lực lượng Cảnh sát môi trường kết hợp với Công an xã Tân Quới đến tìm hiểu và tạm giữ con chim lạ, có trọng lượng gần 4 kg, chiều dài sảy cánh 1,2m. Theo các ngành chức năng, đây là loại chim quý hiếm nằm trong danh sách đỏ có tên là Giang Sen, loài vật quý xếp hàng thứ 2 sau Sếu đầu đỏ.
Cùng ngày, Công an huyện Thanh Bình cũng bắt giữ 3 đối tượng, gồm: Nguyễn Ngọc Lành, Hồ Văn Yên và Nguyễn Văn Thê (cùng ngụ tại xã Tân Quới) đang vận chuyển 25 con Cò Trâu và 1 con Giang Sen. Qua khai thác các đối tượng vừa dùng lưới săn bắt được, trên đường mang về nhà tìm nơi tiêu thụ thì bị bắt giữ.
Hiện vụ việc đã chuyển toàn bộ số chim trên cho hạt kiểm lâm tỉnh để thả về với thiên nhiên. (Công An Nhân Dân 5/8, tr8) đầu trang(
Tình trạng khai thác cát dọc theo tuyến đê biển các xã Diễn Kim, Diễn Hùng, Diễn Hải của huyện Diễn Châu, Nghệ An diễn ra một cách công khai, ồ ạt.
Nguồn tài nguyên cát biển mất dần, nguy cơ nước biển xâm thực đồng ruộng, các ao nuôi trồng thủy sản cũng như gây xói mòn, sạt lở đe dọa cuộc sống của người dân.
Trong số các xã bị khai thác cát biển vô tội vạ hiện nay, thì xã Diễn Kim – Diễn Châu là nơi diễn ra mạnh mẽ nhất. Cát biển nơi đây được xem là miếng “mồi” béo bỡ của các công ty xây dựng, những hộ dân chuyên cung cấp vật liệu tại huyện Diễn châu.
Có mặt tại bãi biển Diễn Kim vào những ngày cuối  tháng 7.2014, phóng viên tận mắt chứng kiến cảnh hàng loạt phương tiện như xe bò, xe công nông, ô tô tải nối đuôi nhau tiến ra mép biển để “ăn cát”. Chỉ chừng 30 phút, với 3 lao động là có thể lấp đầy cát trên xe rồi nghênh ngang tiến lên đường đê.
Địa điểm múc cát ở xã Diễn Kim chỉ cách mực nước biển khoảng 5– 6 mét, nằm ngay bên chân rừng phòng hộ. Sau khi cát bị lấy đi tạo thành những cái hố sâu hoắm, mưa xuống là gây xói mòn, sạt lở, rừng dương chết mòn vì không thể nào đứng vững. Không những thế nước biển còn ăn sâu vào hệ thống công trình thủy lợi, làm cho nhiều diện tích đất nông nghiệp, ao nuôi trồng thủy sản ở Diễn Kim hoang hóa, mất khả năng canh tác, sản xuất.
Chứng kiến cảnh khai thác này, bà Nguyễn Thị Kích - một người dân địa phương bức xúc cho biết: “Từ khi giá cát đổ nền nhà lên cao bà con nhân dân trong xã thi nhau mua xe bò mới, xe hoa mai, công nông tự chế về để múc cát, phục vụ nhu cầu xây dựng trong xã. Ngoài ra đến mùa làm muối, bà con cũng đưa một phần cát biển xuống để làm mới ruộng, nâng cao chất lượng muối. Cát bị lấy tự phát, không được quy hoạch cụ thể nên nhiều nơi múc sâu quá mức, gây ra sạt lở, xói mòn rừng phòng hộ, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp”.
Không những người dân trong xã Diễn Kim ồ ạt khai thác mà thời gian gần đây, nhiều người dân ở các địa phương cũng tham gia gây nên tình trạng lộn xộn, phức tạp. Nhiều xe tải không chỉ chở cát phục vụ các công trình nhỏ cho dân, làm muối mà còn bán cho các công ty xây dựng trên địa bàn huyện, phục vụ các công trình giao thông.
Tại xã Diễn Hùng, Diễn Hải, tình trạng khai thác cát không rầm rộ như ở xã Diễn Kim nhưng cũng gây sạt lở, bức xúc cho người dân. Hàng ngày vào chập tối hay mờ sáng, các loại xe hoa mai, xe tải đua nhau xuống biển chất cát tràn thùng. Việc chở quá tải này khiến cho nhiều đoạn để chạy qua hai xã này bị xuống cấp, nứt nẻ.
Trao đổi với PV, ông Trần Văn Tiến – chủ tịch xã Diễn Hải cho hay: “Việc khai thác cát biển đã bị xã cấm từ lâu, bắt được xe nào sẽ xử lý thật nghiêm. Tuy nhiên họ lợi dụng vào chập tối hay mờ sáng để xúc cát nên chúng tôi cũng gặp nhiều khó khăn”.
Ông Lê Văn Thuận – Trưởng phòng TN-MT Diễn Châu, Nghệ An cho biết: “Về chủ trương, huyện không cấp giấy phép cho một địa phương, đơn vị nào cả. Việc khai thác cát ở bờ biển về lâu dài sẽ gây nên những hệ lụy như xói mòn, sạt lở, ảnh hưởng rừng phòng hộ, nước mặn xâm nhập. Chúng tôi sẽ cho ngưởi kiểm tra, sẽ xử lý rất nghiêm những cá nhân, đơn vị sai phạm”. (Lao Động 5/8) đầu trang(
Vụ một kiểm lâm viên ở Thanh Hóa bị công an bắt vì nghi nhận hối lộ 100 triệu đồng đang giúp lộ sáng những “bí ẩn”. Đó là loại “bí ẩn” mà nhiều người chẳng… lạ lẫm gì. Và nó chẳng đến mức u minh như rừng thẳm.
Ai phá rừng? Dĩ nhiên là lâm tặc. Nhiều loại gỗ quý cứ dần biến mất, kể cả ở những cánh rừng nguyên sinh. Trộm gỗ, phá rừng, cũng như mọi hành vi trộm cướp khác, có nguồn lợi lớn khủng khiếp mà chẳng buôn bán gì bằng. Lâm tặc vì thế bất chấp luật pháp, bất chấp nguy hiểm để đoạt lợi. Còn chuyện bị rừng thiêng “vật” chỉ là chuyện mơ hồ, không đủ để dọa những kẻ mang máu liều. Chuyện môi trường bị tàn phá ra sao càng trở nên “xa xỉ” với chúng.
Ai bảo vệ rừng? Dĩ nhiên là kiểm lâm. Lực lượng này cũng thực thi công vụ trong quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước quy định, được tổ chức theo hệ thống chuyên nghiệp, vận hành bằng tiền thuế của nhân dân. Kiểm lâm có trong tay công cụ chấp pháp, có phương tiện, vũ khí, có những địa điểm hoạt động phù hợp nhất để bảo vệ rừng được tốt nhất.
Ai cũng có trách nhiệm bảo vệ rừng, nhưng rõ ràng, không ai làm việc đó thuận lợi và hiệu quả hơn kiểm lâm. Lực lượng này chính là người canh gác cho những cánh rừng không bị rùng mình bởi tiếng cưa máy, cho muông thú trong rừng khỏi họa diệt vong, cho lâm tặc biết rằng rừng vàng không phải nơi vô chủ mà xông vào cướp bóc.
Lý thuyết là thế. Còn thực tế là rừng xanh vẫn thét lên những tiếng kêu đau đớn. Muông thú vẫn la liệt trên bàn nhậu. Gỗ quý thành nội thất hạng sang cho người giàu. Sản vật nơi thâm sơn cùng cốc thành món quà trao tay cho những mối quan hệ. Thực tế là những chiếc xe tải vẫn nườm nượp từ núi cao xuống đồng bằng như chốn không người, là những vụ bắt bớ mang nhiều tính “minh họa”. Lâm tặc và những người có liên quan đến lâm tặc cứ giàu hơn. Rừng thẳm thưa đi những bóng cây. Còn dân nghèo khốn khổ vì lũ thượng nguồn…
Sao lý thuyết và thực tế lại xa vời đến thế? Núi rừng kia gập ghềnh những con đường độc đạo, lâm tặc dễ gì đưa xe tải vào ra như giữa đồng bằng. Ngả lối nào tới rừng xanh chẳng có kiểm lâm viên, đám cướp rừng dễ gì “làm ăn lớn”. Và, chuyện luồn lách, băng suối vượt đèo để thoát được những kiềm tỏa ấy có lẽ chỉ hợp với kiểu lâm tặc “cò con”. Rõ là phải có những thỏa hiệp vì tư lợi. Phải có những mối quan hệ ngầm. Phải có những bí ẩn mà có lẽ ai… cũng biết.
Rút cuộc, ai mới thực sự là lâm tặc? Có lẽ chẳng khó để trả lời. (Gia Đình & Xã Hội 4/8) đầu trang(
Mấy ngày qua, thông tin về việc một số cán bộ kiểm lâm Thanh Hóa bị công an bắt quả tang khi đang nhận hối lộ 100 triệu đồng gây xôn xao dư luận.
Câu chuyện này có lẽ cũng sẽ là một "chuyện thường ngày ở huyện" bởi nạn hối lộ, chung chi vốn đã khá quen thuộc ở nhiều lĩnh vực, dù Nhà nước cũng như xã hội đều muốn loại bỏ. Nhưng vụ việc này đã được dư luận đặc biệt chú ý do nó xảy ra không phải ở rừng, cũng không phải sự dấm dúi mà diễn ra ngay bên trong trụ sở của kiểm lâm. Như vậy là đã có một cuộc thương lượng đưa và nhận hối lộ giữa doanh nghiệp và cán bộ kiểm lâm. Đã tìm thấy những cọc tiền được cho là tang vật hối lộ. Đã có những cán bộ kiểm lâm bị "bắt tận tay, day tận trán" khi đang "vòi tiền". Đáng xấu hổ là tất cả những điều ấy đều diễn ra ngay trong trụ sở của cơ quan kiểm lâm.
Những năm gần đây, dư luận đã nhiều lần lên án những vụ lâm tặc tấn công kiểm lâm, phá rừng trục lợi. Và tất nhiên rất nhiều người phẫn nộ. Song sự phẫn nộ ấy có lẽ đáng nhân lên gấp bội khi chính những người được giao trọng trách ngăn chặn những hành vi phi pháp, bảo vệ rừng lại đang tiếp tay cho cái xấu.
Tháng 12-2011 tại Nghệ An đã xảy ra một vụ xe chở gỗ lậu bị lật làm 10 người chết. Và chỉ đến khi vụ việc đau lòng ấy xảy ra thì người ta mới "vỡ" ra sự liên quan của hàng loạt cán bộ kiểm lâm trên địa bàn. Những cán bộ biến chất này rồi cũng phải nhận sự trừng phạt của pháp luật.
Nhưng trước thực trạng mỗi năm vẫn có rất nhiều cánh rừng trên cả nước bị chặt phá bởi lâm tặc có nên đặt ra trách nhiệm từ chính cán bộ kiểm lâm khi chuyện "kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc" đã được dư luận nhiều lần đề cập. Ngay chính trạm kiểm lâm ở Thanh Hóa nói trên cũng đã từng được báo chí tố chuyện "làm luật" từ hồi năm 2011… Rừng bị tàn phá, lợi ích chỉ vào tay một số người trong khi sự thiệt hại với đất nước, với xã hội và người dân thì vô cùng lớn. Những lũ ống, lũ quét, những thiên tai tàn phá cuộc sống người dân thời gian qua có nguyên nhân trực tiếp chính là nạn phá rừng.
Tất thảy chúng ta đều mong rừng được bảo vệ, những loại cây con quý hiếm được bảo tồn. Song, mọi nỗ lực có thể sẽ "đổ sông đổ bể" nếu còn tồn tại những sâu mọt ngay trong chính các lực lượng được giao nhiệm vụ bảo vệ, bảo tồn.
Một vụ hối lộ đã xảy ra, nhiều vụ trước đó đã xảy ra và còn bao nhiêu vụ sẽ xảy ra liên quan đến kiểm lâm? Sự ăn hối lộ một cách trơ trẽn ngay trong chính trụ sở kiểm lâm là một điều đáng xấu hổ và đáng để lên án cả về khía cạnh pháp luật và nhân cách. Vụ việc cũng làm lộ ra một khoảng tối đã "vượt khỏi tầm soát của pháp luật".
Và nó cũng như lời giải đáp chua chát cho câu hỏi trong dư luận bấy lâu là vì sao có không ít cán bộ ngành kiểm lâm cứ giàu lên một cách nhanh chóng như vậy. Phải chăng sự giàu có bất thường ấy là nhờ vào lộc rừng và cả lộc của lâm tặc? (Hà Nội Mới 5/8, tr1) đầu trang(
Dân gian có câu "Cháy nhà mới ra mặt...chuột”, quả là rất đúng với vụ cán bộ kiểm lâm đòi, nhận hối lộ vừa xảy ra tại Thanh Hóa chiều 1-8 vừa qua.
Đành rằng cái kiểu "cháy nhà” này đã xảy ra quá nhiều, và với riêng ngành kiểm lâm cũng chẳng có gì gọi là lạ, là hy hữu. Có điều người ta băn khoăn, sao lâu nay trong nhà biết là có chuột, có nhiều chuột, mà vẫn cứ bảo rằng... không có chuột.
Vậy là vào chiều 1-8 này, cái sự như lửa cháy đã diễn ra ở Trụ sở Trạm Kiểm lâm cơ động phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 tại phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa. Trước đó, sáng 1-8, tổ kiểm lâm cơ động do ông Lê Đức Hải trạm trưởng làm tổ trưởng kiểm tra một xe ô tô chở gỗ trên Quốc lộ 1A, đã phát hiện xe này có 1,5 m3 gỗ giáng hương không có giấy tờ, đã đưa về trụ sở để xử lý, lập biên bản, đưa số gỗ vận chuyển trái phép vào kho.
Cùng với đó còn có một số xe ô tô chở động vật hoang dã cũng bị đưa về trạm để giải quyết. Tưởng rằng giữa thanh thiên bạch nhật như vậy, mọi sự đã rõ ràng như vậy thì làm sao còn xảy ra cái chuyện ăn hối lộ, đưa hối lộ được. Đúng là quá ngạc nhiên.
Ngạc nhiên ngay cả khi lực lượng C47 (Cục CSĐT PCTP về tham nhũng Bộ Công an), Công an tỉnh xuất hiện, lập biên bản, bắt giữ Lê Đức Hải, người ta tưởng là "lâm tặc” nên gọi cho cả cảnh sát 113 Thanh Hóa. Chỉ khi sự việc vỡ lở người ta mới...à, thì ra vậy!
100 triệu đồng. Số tiền đòi hối lộ cho 1,5 m3 gỗ giáng hương đã gớm. Nhưng người ta còn gớm hơn cái sự đòi này của anh tổ trưởng, trạm trưởng Lê Đức Hải này. Theo lãnh đạo của đội, "từ trước đến nay anh Hải chưa vi phạm kỷ luật gì. Anh Hải là cán bộ trẻ, có năng lực trong công tác, nhất là việc đấu tranh với các đối tượng buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Anh Hải mới được lãnh đạo bổ nhiệm trạm trưởng”.
Trước con mắt của lãnh đạo, một cán bộ trẻ, năng lực, trong sáng như vậy vì sao đã sớm sa ngã. Lẽ nào sự nhìn nhận của lãnh đạo là nhầm? Hay cái vỏ bọc khéo che đậy, chỉ khi lực lượng C47 của Bộ Công an vào cuộc mới bị xé rách?
Từ vụ việc, dư luận buồn càng thêm buồn. Đành rằng rừng cả nước hầu như đã bị phá trụi rồi. Còn mấy vạt rừng nguyên sinh, đầu nguồn, trong vùng sâu cũng đang bị gặm nhấm nốt. Lâm tặc phá. Kiểm lâm cũng phá. Kẻ trực tiếp, kẻ gián tiếp, đồng lõa, tiếp tay. Nơi nơi rừng bị phá, gỗ chuyển trước mặt trạm kiểm lâm cũng vẫn làm ngơ.
Dư luận than, rằng đã được "bảo kê”, "chia phần” rồi. Vậy nhưng, trước thực trạng phản ánh, mấy vị có chức, có quyền của ngành, của địa phương vẫn than "lực lượng quá mỏng”, thẩm quyền chưa đủ...
Dù sao, người ta vẫn mong những sự kiện tai tiếng của kiểm lâm ở Thanh Hóa này vẫn chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh” mà thôi. (Đại Đoàn Kết 4/8, tr10) đầu trang(
Sau những vụ phá rừng khai thác trái ươi, tại Quảng Ngãi, tình trạng người dân vào rừng khai thác vỏ cây bùi bán cho các thương lái lại rộ lên. Trong khi đi tuần tra kiểm soát, lực lượng kiểm lâm huyện Sơn Hà mới đây đã bắt giữ 1,1 tấn vỏ cây bùi vận chuyển trái phép.
Trong khi tuần tra kiểm soát trên tuyến đường liên huyện Di Lăng - Trà Trung, lực lượng kiểm lâm huyện Sơn Hà đã phát hiện và bắt giữ một xe tải vận chuyển trái phép 1,1 tấn vỏ cây bùi. Sau khi phát hiện, lực lượng kiểm lâm huyện Sơn Hà đã tịch thu toàn bộ số vỏ cây bùi nói trên và xử phạt chủ xe 3 triệu đồng.
Theo các tư thương, vỏ cây bùi được mua với giá từ 6.000 - 10.000 đồng/kg để bán sang Trung Quốc; hoặc bán cho các cơ sở làm nguyên liệu pha trộn sản xuất nhang.
Cây bùi là loại cây trong danh mục cấm khai thác. Tuy nhiên, hiện nay, rất nhiều người đã đổ xô vào rừng tìm loại vỏ cây này. Việc khai thác dễ làm chết cây, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng, đặc biệt là những khu rừng phòng hộ. (VTV 5/8) đầu trang(
Theo đồ án quy hoạch chung, dự án phim trường kết hợp sinh thái trảng cỏ Bù Lạch (xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng) có diện tích trên 408,4 ha, chia thành 3 khu: Khu A (hơn 336,3 ha đất trảng cỏ, mặt nước hồ, đất rừng, đất trồng các loại cây công nghiệp và đường đi) dành riêng cho phim trường và du lịch sinh thái rừng tự nhiên, du lịch dã ngoại kết hợp trò chơi dân gian như chọi trâu, đua ngựa, đua đà điểu, trò chơi dã ngoại, trận địa dã chiến... cùng với dịch vụ ăn uống, nghỉ dưỡng ven hồ.
Khu B (hơn 59,4 ha) là làng nghề của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, với nhiều loại hình như dệt thổ cẩm truyền thống, khảm gỗ điêu khắc, đan tre nứa, nấu rượu cần... Khu thác Voi (hơn 12,5 ha) kết hợp giữa khu thác hiện có với văn hóa bản địa,tạo cho du khách những tour du lịch về nguồn, khám phá cuộc sống người dân bản địa.
Tại cuộc họp nghe báo cáo kết quả triển khai dự án diễn ra ngày 29-7, Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Phan Minh Hoàng, Trưởng ban quản lý dự án, cho biết, hiện các hạng mục móc ranh chống xâm canh khu A và làm đường vành đai ngoài trảng cỏ đang trong quá trình lập báo cáo kinh tế kỹ thuật và dự toán kinh phí, trình thẩm định, phê duyệt, tình trạng phá rừng trong khu vực vẫn diễn biến phức tạp.
Do không có chức năng bảo vệ rừng và bắt giữ đối tượng vi phạm nên Ban quản lý dự án đã chủ động báo chính quyền địa phương và ngành chức năng khi phát hiện vụ việc. Tuy nhiên, số đối tượng này lại không được xử lý nghiêm nên tình trạng chặt phá rừng liên tục xảy ra.
Mặt khác, các xưởng cưa trên địa bàn vẫn lén lút hoạt động về đêm do không được triệt phá tận gốc cũng tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Ông Hoàng đề nghị, UBND tỉnh chỉ đạo địa phương và ngành chức năng cùng tham gia bảo vệ rừng; hỗ trợ kinh phí để thành lập tổ bảo vệ rừng và mua sắm phương tiện phục vụ công tác kiểm tra, giám sát thực hiện dự án.
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trăm yêu cầu: Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh chủ động phối hợp địa phương và các sở, ngành liên quan từng bước khắc phục, tháo gỡ khó khăn và đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, không phá rừng, lấn chiếm đất rừng.
UBND huyện Bù Đăng chỉ đạo ngành chức năng quản lý chặt và xử lý nghiêm những đối tượng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, đồng thời vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng.  (Báo Bình Phước 3/8)  đầu trang(
Thống kê của Bộ NN&PTNT cho thấy, mặc dù các địa phương đã chủ động trong việc phòng chống cháy rừng, tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết nhiều ngày không mưa, nắng nóng và khô hạn kéo dài nên tại một số tỉnh thuộc khu vực Trung Bộ đã liên tiếp xảy ra cháy rừng.
Tổng diện tích rừng bị cháy trong tháng 7 là 330ha. Tính chung 7 tháng qua, diện tích rừng bị cháy của cả nnước là 2.064ha, tăng 133,3% so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích rừng bị chặt phá trong tháng 7 là 82ha. Lũy kế 7 tháng đầu năm, diện tích rừng bị chặt phá của cả nước là 502ha, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước. (Kinh Tế & Đô Thị 4/8, tr10) đầu trang(
Tỉnh Trà Vinh được xem là đô thị xanh với hàng ngàn cây cổ thụ trên 100 năm tuổi. Trong đó có 2 cây đại lão cổ thụ là cây dầu dù và cây sao trên 300 năm tuổi ít nơi nào có được.
Ông Nguyễn Văn Hưởng, Phó phòng Tổng hợp phụ trách cây xanh (Công ty TNHH MTV công trình đô thị Trà Vinh) cho biết: “Cây cổ thụ lâu năm nhất ở TP Trà Vinh là cây dầu dù ở đường Sơn Thông. Cây dầu dù này trên 300 năm tuổi tán vươn ra như cây dù che mát khoảng không rộng mấy trăm mét vuông”.
Ngoài ra, ở khu vực gần ao Bà Om cũng có một cây sao thuộc hàng đại lão trên 300 năm tuổi với thân rất to mấy người ôm chưa xuể. Cả 2 cây đại lão cổ thụ này được xem là tài sản vô giá ở địa phương, cùng với hệ thống hàng ngàn cây cổ thụ trên 100 năm tuổi che bóng mát cho cả đô thị Trà Vinh. (Khuyến Học & Dân Trí 7/8, tr11) đầu trang(
Hội Bảo vệ Thiên nhiên - Môi trường Việt Nam đang rà soát lại tất cả cổ thụ và cây di sản có giá trị trên cả nước để có kế hoạch chăm sóc, bảo vệ.
Việt Nam hiện có hơn 620 cây di sản với tuổi thọ trung bình từ 200 đến 300 năm được vinh danh tại nhiều địa phương. Phần lớn cây di sản được công nhận đã bị những công trình kiến trúc, nhà ở bao vây; bị ảnh hưởng hóa chất độc hại và sự tàn phá của thiên nhiên làm cho héo úa, chết khô…
Theo các chuyên gia việc chăm sóc đúng kỹ thuật sẽ giúp cây khỏe mạnh và chống chịu được sâu bệnh, kéo dài tuổi thọ. (Khoa Học & Đời Sống 4/8, tr4) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tỉnh lộ 3, đoạn thuộc địa bàn xã Suối Cát, huyện Cam Lâm xuất hiện tình trạng một số hộ dân đốt rừng làm nương rẫy, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng. (Nhân Dân 3/8, tr7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 4/8, sau vụ việc cán bộ kiểm lâm nhận hối lộ ở Thanh Hóa, Phó tổng cục trưởng Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Bá Ngãi ký văn bản, đề nghị các địa phương chấn chỉnh, tăng cường quản lý hoạt động kiểm lâm.
Theo đó, những cán bộ, công chức kiểm lâm vi phạm pháp luật, phải loại khỏi lực lượng; người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn sẽ bố trí công việc khác phù hợp, hoặc chuyển công tác.
Tổng cục Lâm nghiệp cũng yêu cầu Giám đốc Sở NN&PTNT Thanh Hóa, phối hợp làm rõ hành vi vi phạm của Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 (Chi cục Kiểm lâm Thanh hóa); xử lý kịp thời, nghiêm minh người có hành vi vi phạm và trách nhiệm của người đứng đầu theo quy định; Thanh Hóa khẩn trương rà soát, phân loại, sắp xếp cán bộ, công chức kiểm lâm, có phương án cụ thể để thực hiện chủ trương “kiểm lâm gắn với địa bàn”.
Chỉ tổ chức kiểm soát lưu thông trên các tuyến quốc lộ trong trường hợp cần thiết, khi không thể quản lý được tại rừng và nơi tiêu thụ; không để xảy ra trường hợp tương tự.
Ông Ngãi cũng giao Cục Kiểm lâm, phối hợp với Thanh tra Tổng cục Lâm nghiệp có phương án đấu tranh chống tiêu cực trong hoạt động kiểm soát lâm sản ở nơi dư luận phản ánh “có mùi”.
Đồng thời, kiểm tra, thanh tra đột xuất về hoạt động thực thi công vụ của đơn vị, công chức kiểm lâm trong toàn quốc, nhất với hoạt động kiểm soát lâm sản. (Tiền Phong 5/8, tr4; Chính Phủ 4/8; Nông Nghiệp Việt Nam 5/8, tr3; An Ninh Thủ Đô 5/8; Thanh Niên 5/9; Công An Nhân Dân 5/8, tr1; Người Lao Động 5/8, tr3)  đầu trang(
Quyết định tạm đình chỉ công tác 15 ngày (từ 4 – 18/8) đối với trạm trưởng Lê Đức Hải và KLV Lê Chí Thanh, thuộc Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 (Chi cục KL Thanh Hóa).
Chiều ngày 4/8, ông Lê Thế Long, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Kiểm lâm Thanh Hóa đã ký quyết định trên.
Trở lại vụ việc, C48 – Bộ Công an ập vào dùng súng khống chế, bắt giữ KLV Lê Đức Hải chiều tối 1/8. 3 KLV và 1 lái xe trong tổ công tác do ông Hải làm tổ trưởng gồm: Nguyễn Xuân Vịnh, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thế Vinh, Đỗ Đình Chung và lái xe Hà Lê Minh đã tường trình lại vụ việc, báo cáo cơ quan Công an và Chi cục KL tỉnh.
Theo đó, các KLV trên chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi, phát hiện, bắt giữ, kiểm tra và thuê máy cẩu số gỗ giáng hương vi phạm từ trên xe ô tô 37C 06012 xuống kho tạm giữ tang vật của Đội KLCĐ số 1.
“Từ 14h30 ngày 1/8 tôi được lãnh đạo gọi xuống phòng xử lý để kiểm tra chiếc xe vi phạm trên.Sau khi chủ hàng đến thì ông Lê Đức Hải mời vào làm việc và đề nghị chúng tôi ra ngoài, trong phòng còn lại ông Hải, lái xe và chủ hàng. Trong quãng thời gian này tôi, ông Vịnh và ông Thanh kiểm đếm, ghi lý lịch số gỗ giáng hương vi phạm và đã có chữ ký của ông Mùi lái xe.
Sau khi xong việc tôi lên phòng tắm (khoảng 18h30), khi đang tắm thì có 2 người mặc quần áo thường phục xưng là công an gõ cửa, nói tắm xong thì ở tại phòng không được đi đâu. Đến khi ông Lê Văn Hải, Đội phó gọi xuống niêm phong xe tôi mới xuống”, KLV Đỗ Đình Chung cho biết.
Như vậy, tường trình của các KLV trong tổ công tác đều khẳng định họ không có mặt tại thời điểm ông Lê Đức Hải “giao dịch” với chủ hàng và bị công an bắt giữ. Từ những tình tiết này, dư luận và những người công tác trong ngành KL đang đặt ra nhiều nghi vấn “đây là một kịch bản đã được dựng sẵn(?)”.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Đội trưởng đội KLCĐ số 1 lập luận: “Tôi nghĩ sự việc lần này hoàn toàn vì lợi ích cá nhân, có thể một số doanh nghiệp tố cáo vì thời gian vừa qua chúng tôi làm quyết liệt”.
Theo ông Hùng, có nhiều dấu hỏi được đặt ra, bởi từ trước tới nay chưa có vụ chở gỗ vi phạm pháp luật nào lại công khai như vụ này. “Thường thì họ phải giấu kỹ gỗ vi phạm đi, đằng này gỗ giáng hương được chất ngay trên số gỗ có giấy tờ ở sau thùng xe”, ông Hùng nói.
Cũng theo ông Hùng, trong quá trình làm việc tài xế xe gỗ cho biết anh ta được thuê chở hàng đi nhưng chủ hàng lại không nói phải đi đâu. Đặc biệt, khi ông Lê Đức Hải bị bắt hai cục tiền đã được tẩm hóa chất và có ghi lại số seri tiền (?).
“Theo tôi tội này chưa thể cấu thành tội hối lộ, bởi người đưa hối lộ phải được gì thì người ta mới hối lộ chứ. Ông Nguyên (người nhận là chủ hàng) đã đồng ý nộp phạt 40 triệu đồng và gỗ vi phạm cũng đã được chất vào kho”, ông Hùng nêu quan điểm.
Ông Lê Thế Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh nói: “Vụ việc lần này đã gây nên một cú sốc lớn cho lực lượng KL cả nước. Nếu anh em nhận hối lộ thật thì đúng là một nỗi đau. Đây bài học sống còn của KL chúng tôi”.
Trao đổi với PV, ông Trịnh Văn Chiến - Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cho biết, ngay sau khi sự việc một cán bộ kiểm lâm của Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1, bị C48 - Bộ Công an bắt giữ, lãnh đạo tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng phối hợp, điều tra làm rõ vụ việc.
“Quan điểm của chúng tôi là, sau khi có kết quả điều tra, sẽ xử lý nghiêm những người vi phạm”, ông Chiến nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/8, tr3; Thanh Niên 5/8, tr3; Tiền Phong 5/8, tr4) đầu trang(
1-8, ông Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24-9-2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Trong 3 năm (2011-2013), Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã ký hợp đồng và hợp đồng ủy thác với 16 đơn vị trong tổng số 29 đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, kết quả thu được 211 tỷ 73 triệu đồng, đạt 79,02% kế hoạch.
UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức hệ thống quản lý, thực hiện chính sách bảo đảm đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở; Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh hướng dẫn các chủ rừng thực hiện chi trả, quản lý và sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đúng mục đích, đầu tư hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR tại cơ sở và tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ và công tác chi trả đúng quy định.
Trong 3 năm, đã giải ngân chi trả 183 tỷ 193 triệu đồng trong tổng số 189 tỷ 743 triệu đồng phải chi trả cho các chủ rừng. Qua đó, tạo thêm việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân làm nghề rừng và tác động tích cực đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần tăng độ che phủ của rừng.
Phát biểu tại Hội nghị, ông Cầm Ngọc Minh đánh giá cao sự vào cuộc của các cấp, các ngành, địa phương trong việc thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đề nghị đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội về giá trị môi trường rừng, nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng và người dân.
Các ngành, địa phương tham mưu cho UBND tỉnh những giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách, đặc biệt là trách nhiệm của các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng trong việc thu nộp quỹ.
Thực hiện lồng ghép thực hiện chính sách với xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các dự án trồng rừng, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn. Nhân dịp này, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho 7 tập thể và 10 cá nhân. (Báo Sơn La 4/8) đầu trang(
4-8, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng phối hợp với UBND xã Kon Chiêng (huyện Mang Yang) tổ chức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng dân cư thôn ở 2 làng Đê Tar và Klăh.
Tổng diện tích rừng được giao khoán quản lý và bảo vệ rừng của 2 làng trên 2.610 ha với tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả là 371,3 triệu đồng. Trong đó, làng Đê Tar có 70 hộ tham gia quản lý bảo vệ 2.221,9 ha với tổng số tiền chi trả là 317,6 triệu đồng, trung bình mỗi hộ nhận được 4,5 triệu đồng/hộ; làng Klăh có 91 hộ với diện tích rừng quản lý hơn 389 ha, tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả là 55,6 triệu đồng.
Ông Nguyễn Thanh Kính-Chủ tịch UBND xã Kon Chiêng-cho biết: Đây là tiền dịch vụ môi trường rừng của các năm 2011, 2012, 2013 được chi trả cho 2 cộng đồng dân cư thôn-những người trực tiếp tham gia quản lý và bảo vệ rừng, với tư cách là những chủ rừng. (Báo Gia Lai 4/8) đầu trang(
Sau 2 năm thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Lâm Đồng tiếp tục thực hiện và hoàn thiện bộ máy tổ chức Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, mở rộng địa bàn và diện tích khóan bảo vệ rừng, đối tượng được chi trả và người hưởng lợi dịch vụ môi trường rừng, hình thành một hệ thống kiểm tra, giám sát chi trả DVMTR từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã.
Đồng thời, định mức chi trả cho công tác khoán BVR theo chính sách thí điểm chi trả DVMTR tăng gấp 3 - 4 lần. Nếu như trong thời gian thực hiện thí điểm 2 năm 2009 - 2010 bình quân mỗi hộ nhận khoán BVR được chi trả 2,8 đến 3 triệu đ/năm thì đến nay đã tăng lên 10,5 đến12triệu đ/năm; diện tích và số hộ nhận khoán cũng  tăng từ 8.000hộ với hơn 202.000ha lên trên 15.000 hộ với hơn 322.000 ha.
Chính sách chi trả DVMTR góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện công tác xã hội hóa nghề rừng, đồng thời huy động một nguồn nhân lực lớn cho công tác BVR, nhất là các hộ dân sống gần rừng, đời sống người bảo vệ rừng được cải thiện khả quan, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện thí điểm giảm, góp phần ổn định an ninh chính trị địa phương. (Đài PTTH Lâm Đồng 4/8) đầu trang(
Gần 81ha rừng tại các lưu vực thủy điện được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt và yêu cầu chủ rừng, đơn vị quản lý (khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, rừng phòng hộ Nam Sông Bung, Bắc Sông Bung, Hạt Kiểm lâm Đại Lộc, Bắc Trà My) thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2014. (Thanh Niên 5/8, tr2) đầu trang(
Đến cuối tháng 7, tỉnh Tuyên Quang đã trồng mới hơn 11.500 ha rừng, đạt 83,6% kế hoạch năm, trong đó diện tích rừng trồng tập trung đạt gần 11.000 ha, rừng phân tán trên 555 ha (vượt 11,1%).
Năm 2014 tỉnh phấn đấu trồng 13.800 ha rừng, trong đó trên 13.000 ha rừng sản xuất và 500 ha trồng cây phân tán. Dự kiến công tác trồng rừng sẽ hoàn thành vào cuối quý 3 năm 2014. (Nông Thôn Ngày Nay 5/8, tr13) đầu trang(
Để thực thi FLEGT-VPA, bên cạnh vai trò của các DN chế biến và XK gỗ, không thể không nói đến vị trí quan trọng của hộ trồng rừng bởi nếu không có chứng từ, bằng chứng chứng minh nguồn gốc gỗ là hợp pháp từ hộ trồng rừng thì không DN nào có thể đảm bảo được các yêu cầu về tiêu chí của FLEGT-VPA.
Theo thống kê, hiện 500 DN chế biến và XK gỗ vốn là những DN có khả năng về tài chính nhưng lại không có đất để trồng rừng bởi thực hiện theo chủ trương giao đất, giao rừng của Nhà nước, diện tích đất rừng đã được giao cho 1,4 triệu hộ trồng rừng quản lý. Như vậy, mỗi DN chế biến và XK gỗ không thể tự mình liên kết với hàng nghìn hộ trồng rừng để đảm bảo đủ số lượng nguyên liệu được. Do đó rất cần sự hỗ trợ của cơ quan quản lý Nhà nước ở đây.
Có thể thấy ở đây có hai vấn đề cần sự tham gia của Nhà nước.
Thứ nhất là vai trò của Nhà nước trong việc làm thế nào để từng người dân trồng rừng, từng hộ gia đình hiểu và thực hiện cho đạt các tiêu chuẩn cần có đối với FLEGT. Đây thực sự là một vấn đề bởi nó không chỉ đơn giản là chứng minh diện tích đất rừng trồng có sổ đỏ mà nhiều tiêu chí khác trong FLEGT sẽ là xa lạ với người dân khi mà khái niệm về bền vững, môi trường xanh… cũng mới chỉ được một bộ phận người dân, DN Việt Nam tiếp cận trong vài năm trở lại đây.
Ở đây thấy rõ là vai trò của Nhà nước trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, đào tạo, kiểm tra, thậm chí là chế tài đối với việc thực thi FLEGT đối với mỗi hộ trồng rừng. Xác định được là vậy nhưng để thực hiện được mục tiêu quả là không dễ.
Vấn đề thứ hai cần sự hỗ trợ của Nhà nước là trong kết nối giữa DN XK gỗ và 1,4 triệu hộ trồng rừng. Nên chăng chính quyền địa phương cần đứng ra làm cầu nối trung gian kết nối giữa hộ trồng rừng và DN. Bởi DN thì sợ hộ trồng rừng bỏ, không làm theo cam kết hay ngược lại, hộ trồng rừng lo DN không bao tiêu sản phẩm, lúc đó chính quyền địa phương sẽ đóng vai trò cầu nối.
DN chủ động với FLEGT, nhưng nếu người trồng rừng thờ ơ thì mục tiêu của Hiệp định cũng không đạt kết quả. Người dân cần hiểu và thực hiện đúng tiêu chí của FLEGT không chỉ bởi để đáp ứng yêu cầu của hiệp định này mà quan trọng hơn là làm quen với việc Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi sản xuất quốc tế, ở đó vấn đề hội nhập bắt đầu từ mỗi người dân.  (Hải Quan 4/8) đầu trang(
Việc thị trường Trung Quốc giảm nhập hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, ngành gỗ vẫn nổi lên như một điểm sáng ấn tượng cả về số lượng, lẫn giá trị xuất khẩu.
Theo số liệu thống kê của Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh (Hawa), từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ chế biến đã đạt hơn 3 tỷ USD. Đặc biệt, trong lúc các ngành hàng xuất khẩu khác đang khó khăn về đơn hàng thì rất nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước đã có hợp đồng sản xuất cả năm.
Theo dự báo, năm nay, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sẽ cán mốc 6,5 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2013. “Hiện Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất ASEAN, đứng thứ hai tại châu Á và thứ 6 trên thế giới. Triển vọng xuất khẩu gỗ trong năm 2014 của ngành rất tươi sáng với thông tin lạc quan ở những thị trường nhập khẩu như Australia, Singapore, Malaysia, Indonesia…”, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hawa cho hay.
Đại diện nhiều doanh nghiệp cho rằng, ngay khi thị trường Trung Quốc gặp trục trặc, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng không gặp khó khăn nhiều ở cả nguồn nguyên liệu và thị trường. Nguyên nhân là nguồn cung nguyên liệu từ gỗ trong nước đã đáp ứng 50% nhu cầu sản xuất dành cho xuất khẩu.
Còn lại là từ gỗ nhập từ các nước có sự quản trị rừng bền vững chiếm 50% như Mỹ, châu Âu và một ít từ Trung Quốc khoảng 300.000 USD/ năm, chủ yếu thuộc các phụ kiện như rây trượt, tay nắm tủ, ổ khóa... Thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là Mỹ, châu Âu, sau đó là một loạt những thị trường khác như: Trung Quốc, Nhật Bản…
Theo kết quả khảo sát về “Nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ ở Việt Nam” nhờ sự hồi phục của kinh tế trong nước, tiêu dùng đồ gỗ của thị trường nội địa trong năm 2014 và các năm tiếp theo sẽ tiếp tục tăng.
Thực tế, trong 4 năm qua, thương mại đồ gỗ Việt Nam đã đạt gần 20 tỷ USD/năm; Trong đó, tiêu dùng đồ gỗ của người dân thành thị chiếm khoảng 30% cho hộ gia đình, 40% cho các công trình dự án mới và 30% thị phần còn lại là của thị trường nông thôn.
Khác với thời gian trước, khi sản phẩm nội thất cung ứng cho thị trường trong nước hầu như được nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Thái Lan… hiện doanh nghiệp trong nước đã bắt đầu chiếm lĩnh thị trường và được người tiêu dùng lựa chọn.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc điều hành Công ty Scansia Pacific cho biết, suy thoái kinh tế tại thị trường châu Âu khiến cho giá thành sản xuất đồ gỗ tăng, gây khó khăn trong việc cạnh tranh. Nhiều nhà máy của các quốc gia sản xuất đồ gỗ lớn như Ý, Đức, Mỹ… buộc phải thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa.
Đơn cử tại Trung Quốc, do bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá ở mức cao và giá nhân công lao động ở Trung Quốc tăng, nên mặt hàng đồ gỗ chế biến từ Trung Quốc đang mất dần lợi thế cạnh tranh. “Ngành gỗ đang chứng kiến sự chuyển dịch nhiều đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Các nhà nhập khẩu đang tăng cường đàm phán với các doanh nghiệp trong nước, đặt hàng thay cho nhà cung ứng từ Trung Quốc. Để đáp ứng các đơn hàng chúng ta sử dụng nguồn nguyên liệu chủ yếu trong nước và nhập từ các nước đối tác”, ông Thắng nói thêm.
Nhìn xa hơn, theo ông Khanh, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) dự kiến sẽ được ký kết vào cuối năm nay. Khi thuế suất cắt giảm sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam thâm nhập các quốc gia trong TPP như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia...
Việc thực thi cam kết TPP sẽ tạo dựng môi trường đầu tư minh bạch và cạnh tranh, qua đó sẽ thu hút được nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước vào ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam.
“Đây là cơ hội lớn cho Việt Nam để mở rộng thị trường và thị phần gỗ, sản phẩm gỗ. Nếu mạnh dạn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ chiếm được thị trường dễ dàng. Đã đến lúc các ngành chức năng, doanh nghiệp cùng sát cánh tận dụng thời cơ để đưa ngành gỗ có bước tiến đột phá”, ông Khanh nói thêm. (Tin Tức 5/8, tr7) đầu trang(
UBND tỉnh Kiên Giang vừa ban hành Công văn số 745/UBND - KTCN chỉ đạo các sở, ngành và địa phương trong tỉnh thực hiện ngay các biện pháp ngăn ngừa, cảnh giác hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân núp bóng dưới hình thức kêu gọi hợp tác trồng rừng.
Công văn nêu rõ: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Kiên Giang, Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang, các báo, đài Trung ương thường trú trên địa bàn và các địa phương tăng cường cập nhật thông tin, tổ chức tuyên truyền, khuyến cáo để các doanh nghiệp và công dân không bị mắc bẫy lừa đảo của các đối tượng xấu. Khi phát hiện các đối tượng có dấu hiệu lừa đảo thì báo ngay cho các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương biết để xử lý kịp thời.
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh và các địa phương tăng cường kiểm tra, theo dõi, kiểm soát chặt chẽ quy trình thành lập doanh nghiệp, chi nhánh công ty, đăng ký vốn điều lệ, phát hành cổ phiếu, nghĩa vụ thuế... để phát hiện, ngăn ngừa, xử lý kịp thời.
Công an tỉnh tiếp tục theo dõi chặt chẽ các công ty có dấu hiệu lừa đảo, củng cố chứng cứ để có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế thiệt hại cho nhân dân.
Theo Văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang, hiện nay, một số công ty hoạt động bất hợp pháp đang thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân với thủ đoạn là tuyên truyền có nguồn vốn lớn hàng chục tỷ đồng của những tổ chức phi chính phủ trên thế giới hỗ trợ cho dự án trồng rừng, với mức khoảng 15 triệu đồng/ha.
Các công ty này đã và đang tuyên truyền, vận động đến các địa phương kêu gọi doanh nghiệp và nhân dân tham gia, trong đó có tỉnh Kiên Giang để thực hiện ý đồ lừa đảo. (Tin Tức 5/8) đầu trang(
4/8, Đoàn công tác của Ban chỉ đạo Tây Nguyên do ông Trần Việt Hùng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên làm trưởng đoàn đã làm việc với tỉnh Kon Tum về tình hình thực hiện chủ trương, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Tại buổi làm việc, các đại biểu đã tập trung thảo luận, đánh giá các vấn đề chính như tình hình quản lý, bảo vệ, phát triển rừng ở Tây Nguyên trên các mặt; những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện quản lý, bảo vệ rừng; tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, trong đó trọng tâm là chuyển đổi đất rừng tự nhiên sang trồng cao su theo Quyết định só 750/QĐ-TTg ngày 3-6-2009 của Thủ tướng Chính phủ; kết quả sắp xếp lại các doanh nghiệp lâm nghiệp, đơn vị quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn Tây Nguyên.
Các đại biểu cũng đưa ra nhiều ý kiến đề xuất trong công tác quản lý và bảo vệ rừng như kiến nghị cấp kinh phí để đo đạc, xây dựng ranh giới đất rừng của các lâm trường, giao cho lâm trường tự chủ trong việc sử dụng, tận dụng tài nguyên đất; có chính sách đặc thù để các lâm trường có thể vay vốn; chính sách cho những người làm công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Thay mặt Đoàn giám sát, ông Trần Việt Hùng đã tiếp thu những kiến nghị, ý kiến của tỉnh Kon Tum; đồng thời, lưu ý tỉnh Kon Tum thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, quyết liệt hơn nữa trong công tác vận chuyển lâm sản trái phép, đẩy mạnh vai trò, trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm, chính quyền cơ sở; tăng cường kiểm tra, kiểm soát các xe gỗ quá tải trọng, quá khổ đang lưu hành và cần tiến hành thực hiện tốt việc đo đạc, cắm mốc, nhất là ở các công ty lâm nghiệp...
Hiện nay, trữ lượng rừng ở Kon Tum được đánh giá là một trong các tỉnh cao nhất cả nước với tổng diện tích đất lâm nghiệp khoảng gần 736.000ha, chiếm 75,9% diện tích tự nhiên; trong đó, diện tích có rừng 631.000ha (bao gồm 589.500ha rừng tự nhiên và 41.590ha rừng trồng), diện tích đất chưa có rừng 77.300ha, diện tích đất lâm nghiệp đã trồng cao su là 27.456ha...
Trong những năm qua, tỉnh Kon Tum luôn chủ trọng thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng như thực hiện chủ trương đóng cửa rừng sớm nhất toàn quốc; chủ động giải quyết đất chồng lấn, đất lấn chiếm đối với các công ty lâm nghiệp, chủ rừng; việc chuyển đổi rừng nghèo, đất trống sang trồng cây cao su góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và an ninh nông thôn được giữ vững.
Đặc biệt, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm cả về số vụ và mức độ thiệt hại, nhất là vi phạm về phá rừng làm rẫy; tình hình cháy rừng được ngăn chặn, không gây thiệt hại. Cụ thể, sáu tháng đầu năm 2014 số vụ cháy rừng giảm 41%, diện tích thiệt hại giảm 28% so với cùng kỳ năm trước. (VietnamPlus 4/8) đầu trang(
Là xã thuộc huyện miền núi Đoan Hùng, lợi thế lớn nhất để phát triển kinh tế - xã hội ở xã Phúc Lai là trồng cây lâm nghiệp và cây chè. Đây là những loại cây trồng chủ lực góp phần giúp người dân thoát khỏi đói nghèo.
Ông Đinh Xuân Trường ở khu 3, một trong những hộ có diện tích đất rừng thuộc diện nhiều nhất xã khẳng định: Ở vùng đất bán sơn địa như Phúc Lai, sản xuất nông nghiệp vừa khó khăn vừa không đạt hiệu quả kinh tế cao. Muốn thoát khỏi cái nghèo thì không thể trông vào cây lúa, cây ngô mà phải tìm loại cây trồng khác.
Nhờ chính sách giao đất, giao rừng của nhà nước, gia đình tôi đã mạnh dạn đầu tư vào gần chục ha để trồng keo. Sau mấy vụ thu hoạch, đến nay gia đình cũng đã xây dựng được nhà, mua sắm được một số tiện nghi phục vụ cuộc sống, nuôi con ăn học và có nguồn vốn để tái đầu tư sản xuất. Nhiều hộ gia đình khác ở Phúc Lai cũng đã thoát khỏi cái nghèo đeo bám nhiều năm, trở thành hộ khá giả, có “của ăn của để” nhờ rừng như gia đình ông Hoàng Quang Minh, Đinh Văn Nhất, Đinh Công Điệp...
Kinh tế phát triển, đời sống được cải thiện, việc đóng góp vào các hoạt động xã hội của địa phương cũng được các gia đình trên ủng hộ nhiệt tình. Hiện nay, toàn xã Phúc Lai có 725ha đất rừng, chủ yếu trồng các loại keo. Năng suất bình quân rừng ở đây vào khoảng 60 - 70m3/ha. Trên địa bàn xã có 2 cơ sở chế biến gỗ, cùng với hàng trăm cơ sở khác trên địa bàn huyện sẵn sàng thu mua gỗ cho người dân địa phương.
Mặc dù có lợi thế để phát triển kinh tế đồi rừng nhưng Phúc Lai vẫn chưa thực sự khai thác hết tiềm năng. Ông Nguyễn Đức Nhung, Phó Chủ tịch UBND xã khẳng định: Năng suất trồng rừng của địa phương vẫn còn có thể nâng cao hơn nữa nếu người trồng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chăm sóc, đầu tư thâm canh.
Khó khăn chính của người trồng rừng hiện nay là chưa tiếp cận được nhiều với các tiến bộ kỹ thuật mới; một số hộ trồng rừng diện tích nhỏ khó khăn trong việc vay vốn thời điểm đầu vụ trồng mới; giá vật tư, máy móc phục vụ tăng cao trong khi giá bán gỗ nguyên liệu xuống so với vài năm trước...
Được sự tuyên truyền vận động của lực lượng kiểm lâm cùng với nhận thức về lợi ích lâu dài do rừng mang lại, người dân Phúc Lai ngoài việc trồng đã có ý thức bảo vệ rừng khá tốt. Các hộ có rừng thường xuyên kiểm tra, phát bỏ thực bì, dọn cỏ rác... đề phòng xảy ra hỏa hoạn. Nhờ đó, trong nhiều năm nay, trên địa bàn xã diện tích rừng luôn được đảm bảo an toàn.
Để nâng cao năng suất rừng trồng, tăng thu nhập, lực lượng kiểm lâm huyện cũng như UBND xã Phúc Lai khuyến cáo bà con nên lựa chọn loại keo lai ngoại, chu kỳ sinh trưởng ngắn, năng suất tốt, loại bỏ dần giống keo nội cũ.
Bên cạnh đó, xã cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ vay vốn trồng rừng hoặc mở các dịch vụ phục vụ việc chế biến, kinh doanh các sản phẩm lâm nghiệp như xưởng bóc gỗ, xưởng xẻ; xưởng làm đồ mộc, dịch vụ cung ứng cây giống...
Định hướng đó của địa phương sẽ giúp người trồng rừng yên tâm đầu tư thâm canh, bảo vệ rừng an toàn để rừng thực sự là “vàng”..(Báo Phú Thọ 4/8) đầu trang(
Từ năm 2008, tại Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng (Đắk Lắk) đã xảy ra vụ tranh chấp 486ha rừng trồng, giữa 28 hộ dân với Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành (có trụ sở tại thành phố Buôn Ma Thuột), khiến quyền lợi chính đáng của người trồng rừng bị xâm phạm.
Ban Quản lý (BQL) Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, quản lý, bảo vệ hơn 9 nghìn ha rừng, trong đó có gần 5.000ha rừng sản xuất và rừng trồng. Thực hiện kế hoạch trồng rừng theo Chương trình 661, từ năm 2001 đến 2008, có 3 nhóm hộ (11 hộ) và 17 hộ dân các xã Cư Klông và Ea Tam, huyện Krông Năng được BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng giao khoán 546ha đất lâm nghiệp để trồng rừng.
Hơn 10 năm qua, các hộ dân đã đầu tư tiền của, công sức trồng được 486ha keo xen thông, và đến thời điểm tháng 8-2014 này, 486/486 ha rừng trồng đều đã đến tuổi khai thác sản phẩm. Việc giao khoán giữa BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng với các hộ dân được thực hiện theo Quyết định số 661/QĐ-TTg, ngày 29-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ “về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng”.
Qua tìm hiểu được biết, trong số 28 hộ nhận khoán, có 12 hộ được BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng lập Hồ sơ giao khoán và Khế ước giao khoán đất lâm nghiệp vào ngày 16-6-2001 với thời gian là 50 năm. Còn lại 16 hộ, có hợp đồng trồng và chăm sóc rừng. Với quy trình nhận khoán như trên, các hộ nhận trồng rừng sẽ được hưởng quyền lợi theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12-11-2001 của Thủ tướng Chính phủ “về quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp”.
Cụ thể, trong 3 năm đầu, các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp trồng, chăm sóc rừng được Nhà nước đầu tư theo định mức 4 triệu đồng/ha (bao gồm cả tiền cây giống), và từ năm thứ 4 trở đi được chi trả 100 nghìn đồng/ha/năm cho công tác bảo vệ rừng trồng. Ngoài ra, theo tính toán, từ khi trồng đến thời kỳ thu hoạch lâm sản, các hộ nhận khoán còn đầu tư thêm kinh phí và công lao động với mức bình quân 30 triệu đồng/ha.
Như vậy, về mặt pháp lý, cũng như thực tiễn, thì các hộ dân nhận khoán đất lâm nghiệp để đầu tư trồng rừng chính là chủ rừng và hoàn toàn được quyền hưởng lợi từ rừng theo đúng chính sách đã ban hành.
Thế nhưng, từ tháng 10-2008 đến nay, toàn bộ 486ha rừng của 28 hộ dân đã xảy ra tranh chấp với Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là do ngày 3-10-2008, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 2572/QĐ-UBND về việc thu hồi 568,43ha đất của BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành thuê thực hiện dự án trồng rừng, đã chồng lấn lên toàn bộ diện tích rừng trồng của dân.
Trong khi đó, trước khi ban hành quyết định trên, tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức đoàn liên ngành để kiểm tra thực địa.
Tại Biên bản phúc tra “Báo cáo kết quả điều tra hiện trạng rừng và đất đai vùng dự án thuê đất trồng rừng của Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành tại BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng” vào ngày 7-4-2008, ông Nguyễn Thế Anh Sơn, trên cương vị Giám đốc BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng đã đề nghị: “Đối với diện tích đất đã giao khoán cho các hộ dân trồng rừng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ không thể giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành để lập dự án đầu tư trồng rừng”.
Như vậy, Quyết định số 2572/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk đã bỏ qua kết quả điều tra hiện trạng rừng của đoàn liên ngành cũng như ý kiến của BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, vô hình trung thu hồi trái pháp luật (không có quyết định thu hồi và không đền bù cho dân) toàn bộ 486 ha rừng trồng hợp pháp của 28 hộ dân để giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành.
Trong các ngày đầu tháng 8-2014, chúng tôi tìm hiểu hiện trạng rừng trồng tại các tiểu khu 311, 314, 315, 316 và 323 cho thấy: Rừng keo xen thông do 28 hộ dân đầu tư trồng, chăm sóc phát triển khá tốt, thông vào thời kỳ cho thu nhựa, cây keo đã quá tuổi khai thác, nhưng do xảy ra tranh chấp nên hiện bà con chưa khai thác được.
Trao đổi với PV, ông Vũ Đình Triều, thôn Tam Hà, xã Cư Klông bức xúc: “Gia đình được nhận 31ha đất trồng để trồng rừng, ngoài tiền hỗ trợ của Nhà nước theo Chương trình 661, gia đình tôi phải vay ngân hàng hơn 200 triệu đồng để đầu tư trồng rừng. Thế nhưng từ cuối năm 2008 xảy ra tranh chấp kéo dài, khiến gia đình tôi lâm vào cảnh nợ nần và có nguy cơ trắng tay vì mất rừng một cách vô lý!”.
Trong số 3 nhóm hộ nhận khoán trồng rừng, thì nhóm 4 hộ gồm: CCB Phan Khắc Văn, Ngô Văn Vực, Hà Thế Phiệt và Đồng Đức Chính mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, với hy vọng làm giàu từ rừng và tạo thêm công ăn việc làm cho bà con địa phương. Với 132,2ha đất lâm nghiệp nhận khoán trồng rừng trong thời gian 50 năm, hiện nay nhóm hộ ông Văn đã đầu tư trồng được 61ha, với định mức đầu tư khoảng 30 triệu đồng/ha rừng keo xen thông. Ngoài ra, nhóm hộ ông Văn còn đầu tư 3,5 tỷ đồng để xây dựng 4 hồ đập thủy lợi và 5 km đường nội bộ phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và khai thác rừng.
Ngày 2-8, trong khi dẫn PV đi tìm hiểu thực tế khu vực rừng đang tranh chấp, ông Văn cho biết: Các hộ dân chúng tôi đã đầu tư vào rừng khá lớn, nhưng nay tranh chấp không được giải quyết, rừng đã đến tuổi khai thác mà không khai thác được, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Thậm chí rừng keo quá 10 tuổi chưa khai thác được đang có hiện tượng rỗng ruột!”.
Cũng theo lời ông Văn, trong khi đang xảy ra tranh chấp, thì vào ngày 5-5-2014 Công ty CP trồng rừng Trường Thành ban hành Quyết định số 12/QĐ-CT về việc chặt hạ, xử lý, dọn dẹp 50.000m2 rừng Thông để trồng lại rừng trong năm 2014 tại tiểu khu 316, xã Ea Tam, huyện Krông Năng. Và vào ngày 24-5-2014, Công ty CP trồng rừng Trường Thành cử tốp 7 công nhân, do ông Uông Xuân Thu, sinh năm 1956 chỉ huy, sử dụng 2 cưa lốc vào rừng Thông do nhóm hộ của CCB Phan Khắc Văn trồng tại tiểu khu 316 thuộc xã Ea Tam để chặt hạ rừng của nhóm hộ này.
Theo biên bản hiện trường do Công an xã Ea Tam lập vào hồi 17 giờ ngày 24-5-2014, đã xác nhận: “Tại tiểu khu 316, có khoảng 700-800 cây Thông trồng từ năm 2006 bị cắt thành từng khúc có chiều dài 2m. Thông bị cắt còn tươi, cây to nhất có đường kính gốc 27cm, còn đại đa số có đường kính gốc 13-17cm, diện tích bị chặt 8.000m2”.
CCB Phan Khắc Văn ước tính tổng thiệt hại diện tích rừng bị Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành chặt hạ hơn 300 triệu đồng. Sau khi rừng trồng bị chặt hạ trái pháp luật, nhóm hộ CCB Phan Khắc Văn đã có đơn tố giác tội phạm tổ chức xâm phạm và hủy hoại tài sản tới cơ quan chức năng huyện Krông Năng với mong muốn hành vi phạm pháp luật của tổ chức và cá nhân thuộc Công ty CP trồng rừng Trường Thành phải được xử lý nghiêm minh.
Trao đổi với PV xung quanh những tranh chấp giữa Công ty CP trồng rừng Trường Thành với 28 hộ dân, ông Nguyễn Văn Lương, Phó giám đốc Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng khẳng định: “Vụ việc đã kéo dài nhiều năm. Cuối năm 2013 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk đã ban hành các quyết định giải quyết với quan điểm công nhận rừng các hộ dân trồng thuộc quyền sở hữu của Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành theo tinh thần của Quyết định số 2572/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk. Nhưng các hộ dân không chấp thuận, và đã khởi kiện ra tòa án”.
Thụ lý giải quyết vụ kiện dân sự của các hộ Võ Văn Nam (xã Tam Giang) và Mai Trung Đông (xã Cư Klông), khởi kiện các Quyết định Giải quyết Khiếu nại lần 2 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk trong vụ tranh chấp rừng trồng, với quyết định công nhận rừng của dân trồng thuộc quyền sở hữu của Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành, ngày 22-7-2014, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xét xử sơ thẩm dân sự đã tuyên: Hủy các Quyết định Giải quyết Khiếu nại lần 2 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk trong giải quyết vụ tranh chấp rừng trồng Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, vì các quyết định này ban hành trái thẩm quyền, vi phạm quy định của Pháp luật(!).
Qua điều tra, chúng tôi cho rằng, việc UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 2572/QĐ-UBND, thu hồi không có quyết định thu hồi 486ha rừng trồng, không đền bù cho 28 hộ dân, để giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành là vi phạm các quy định của Pháp luật. Chính Quyết định số 2572/QĐ-UBND dẫn tới xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của 28 hộ dân, và cũng là nguyên nhân xảy ra tranh chấp, khiếu kiện kéo dài.
Vì thế, UBND tỉnh Đắk Lắk cần hủy bỏ, hoặc ban hành quyết định điều chỉnh Quyết định số 2572/QĐ-UBND theo hướng: Không đưa diện tích rừng các hộ dân đã trồng theo Chương trình 661 vào diện tích thu hồi để giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành.
Đồng thời xử lý nghiêm hành vi tổ chức hủy hoại tài sản mà Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành gây ra; bảo vệ quyền lợi chính đáng của 28 hộ dân đã bỏ công sức, tiền của trồng 486ha rừng trong thời gian hơn 10 năm qua theo đúng quy định của pháp luật. (Năng Lượng Mới 4/8) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành công văn số 2997/UBND-KTN ngày 1/8/2014 triển khai trồng rừng thay thế đối với các công trình có chuyển mục đích sử dụng rừng.
Theo đó, các dự án đầu tư đã lập Phương án trồng rừng thay thế được UBND tỉnh phê duyệt, yêu cầu các chủ đầu tư, đơn vị trồng rừng thay thế khẩn trương tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ thực hiện việc trồng rừng thay thế theo Phương án đã được UBND tỉnh phê duyệt và phải hoàn thành chậm nhất ngày 31/12/2014.
Đối với các dự án đầu tư chưa lập Phương án trồng rừng thay thế, UBND tinh yêu cầu các chủ đầu tư khẩn trương lập Phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác theo quy định tại Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt chậm nhất vào ngày 30/9/2014 và tổ chức thực hiện hoàn thành việc trồng rừng thay thế trước ngày 31/12/2014.
Trường hợp các chủ đầu tư không có khả năng tổ chức việc trồng rừng thay thế thì sớm có văn bản báo cáo và đề nghị UBND tỉnh thống nhất cho nộp tiền về Quỹ bảo vệ phát triển rừng tỉnh để tổ chức triển khai thực hiện.
Ngoài ra, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT thường xuyên theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc triển khai thực hiện trồng rừng thay thế của các chủ đầu tư, đơn vị trồng rừng trên địa bàn tỉnh. (Quangnam.gov.vn 4/8) đầu trang(
Kết quả điều tra xã hội học của Sở Tư pháp Lâm Đồng cho thấy: Để nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng, các cấp, ngành chức năng không chỉ áp dụng biện pháp xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, mà cần phải đa dạng hóa hình thức tuyên truyền trên những địa bàn trọng tâm, trọng điểm, gắn với việc phát huy vai trò giám sát, phát hiện của nhân dân.
Khi hỏi về tình hình tuân thủ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở Lâm Đồng, số người trả lời “phương án chưa tốt” chiếm tỷ lệ đến 55,7% (165/296 phiếu); trong khi tỷ lệ thấp hơn một nửa với 27,1% (80/296 phiếu) trả lời “phương án tốt”.
Theo Sở Tư pháp Lâm Đồng, “phương án chưa tốt” ở đây cho rằng, trong thời gian qua, việc phát hiện những vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở Lâm Đồng chưa kịp thời, thực tế đã xuất hiện nhiều trường hợp tái phạm hành vi xâm hại rừng với tính chất và mức độ khác nhau; hoặc có nhiều đối tượng không tự giác chấp hành các quyết định xử phạt của cơ quan thẩm quyền, nên buộc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
Đánh giá mức độ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, số phiếu điều tra được phản hồi với tỷ lệ 50,3% cho rằng “nghiêm minh”, 38,9% cho rằng “chưa nghiêm minh” và 10,8% còn lại chọn phương án “chưa có cơ sở đánh giá”.
Mức xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, phát triển rừng theo Nghị định 157/2013 của Chính phủ, tỷ lệ số người chọn lựa giữa các ô phiếu khá chênh lệch nhau như: “phù hợp” (73,3%), “chưa phù hợp” (22,6%) và “chưa có cơ sở đánh giá” (4,1%).
Cũng cần nói thêm về hiệu quả công tác tập huấn, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở Lâm Đồng, qua điều tra xã hội học của Sở Tư pháp Lâm Đồng, hiện chỉ có 79,7% số người chọn tiêu chí “đạt được những kết quả nhất định”; còn lại 20,3% chọn tiêu chí “chưa có cơ sở đánh giá và không hiệu quả”.
Trong đó, nói riêng về “kênh tuyên truyền” đến các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, kết quả với tỷ lệ số phiếu điều tra cho rằng đạt mức độ “thường xuyên”, “không thường xuyên” và “chưa thực hiện” lần lượt với những con số còn cách biệt là: 60,5%; 39,2% và 0,3%.
Đáng kể hàng ngày còn có thêm “kênh tải luật” bảo vệ và phát triển rừng từ internet, đài, báo, các phương tiện thông tin truyền thông khác thâm nhập vào đời sống cán bộ, công chức, nhân dân… đạt kết quả khá cao trong số phiếu điều tra với tỷ lệ 85,5%. Ngoài ra, từ việc cung cấp các nguồn tin báo tội phạm xâm hại rừng, người dân Lâm Đồng đã thể hiện ý thức ngày càng phát huy trong việc tham gia bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Để nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác bảo vệ và phát triển rừng ở Lâm Đồng trong trước mắt cũng như trong lâu dài, kết quả điều tra xã hội học của Sở Tư pháp Lâm Đồng đã “thu nhận” những ý kiến đề xuất đáng quan tâm.
Đó là các tỷ lệ số phiếu gần bằng nhau - từ 86,8% đến 87,8% và 89,2% cho rằng, cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để triển     khai điều chỉnh đầy đủ và chuẩn xác các quan hệ về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Thực hiện đồng thời 2 giải pháp cấp thiết là: Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng xã hội, trong đó lưu tâm đến việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng được thụ hưởng theo quy định. Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Qua phân tích những kết quả điều tra xã hội học nêu trên, theo đánh giá chung của Sở Tư pháp Lâm Đồng, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn Lâm Đồng vẫn còn tiềm ẩn những phức tạp.
Đồng thời đề xuất thêm với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng là cơ quan chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành chức năng và chính quyền địa phương các cấp trong tỉnh tiếp tục rà soát, kiểm tra và tự kiểm tra, xem xét tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, kịp thời tham mưu với UBND tỉnh Lâm Đồng điều chỉnh, bổ sung, ban hành mới để thực thi phù hợp hơn với yêu cầu thực tế. (Báo Lâm Đồng 4/8) đầu trang(
Huyện U Minh có hơn 30.000 ha rừng, đây là loại hình sinh thái rừng đặc thù, bảo tồn tính đa dạng sinh học.
Ngoài những giá trị về các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú dưới tán rừng, rừng tràm U Minh còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, vì vậy việc quản lý, bảo vệ không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của người dân.
Hơn 20 năm thực hiện chủ trương giao đất giao rừng của Nhà nước cho dân quản lý, đã nhận được sự đồng thuận rất cao từ phía người dân. Bởi lẽ, ngoài vấn đề giải quyết thoả mãn nhu cầu về đất ở, đất sản xuất cho dân nghèo, qua đó còn có những chính sách ràng buộc, gắn chặt quyền lợi và trách nhiệm bảo vệ rừng đối với mỗi người dân.
15 năm về định cư tại ấp 15, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, ông Nguyễn Minh Ðẳng là một trong những hộ dân điển hình trong việc khai thác những tiềm năng kinh tế trên đất rừng. Là người tiên phong trong việc định hướng phát triển thử nghiệm nhiều loại cây trồng, vật nuôi phù hợp đem lại nguồn lợi kinh tế lớn, vừa bảo đảm được cuộc sống gia đình, còn tạo động lực tích cực trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Nguyễn Minh Ðẳng chia sẻ, ngoài cây tràm truyền thống, đất rừng U Minh còn thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, nếu khai thác tốt thế mạnh này người dân sống trên lâm phần rừng tràm cũng dễ làm giàu.
Rừng tràm U Minh Hạ vốn có tiềm năng kinh tế dồi dào, một số hộ dân còn phát huy ý tưởng xây dựng mô hình du lịch sinh thái rừng, thu hút khách tham quan, vừa nâng cao giá trị vốn có của xứ sở rừng tràm, vừa quảng bá thương hiệu các loài đặc sản quý hiếm như mật ong, cá đồng, rùa, rắn và một số chủng loài chim quý hiếm.
Ðiều quan trọng hơn hết chính là họ đã biết phát huy thế mạnh về tiềm năng kinh tế, đồng thời còn góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên được thiên nhiên ưu đãi này.
Ông Trần Văn Nhì, thành viên HTX 19/5, thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ, cho biết, HTX có 45 hộ thành viên, quản lý hơn 600 ha rừng, doanh thu hằng năm khoảng 1 tỷ đồng từ nguồn lợi mật ong, cá đồng và khai thác tràm; 90% hộ thành viên có kinh tế khá, giàu. Ngoài ra, hằng năm HTX còn tiếp đón hàng trăm lượt khách tham quan du lịch và nghiên cứu khoa học.
Năm 1990, thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc xét giao khoán đất lâm nghiệp cho dân nghèo trong tỉnh, thời điểm này huyện U Minh đã tiếp nhận hơn 2.000 hộ dân từ nhiều địa phương khác đến định cư theo dạng hợp đồng dài hạn. Chính sách này nhằm tạo điều kiện cho người dân được an cư lập nghiệp, vừa gắn trách nhiệm trong việc tăng cường biện pháp quản lý bảo vệ rừng tràm, tác động với việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên theo phương thức ăn chia.
Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống của một bộ phận người dân sống trên các lâm phần rừng tràm vẫn còn tồn tại một số khó khăn, đó là vấn đề mâu thuẫn giữa công tác quản lý bảo vệ rừng và sản xuất lúa, nếu khắc phục được vấn đề này thì người dân sẽ yên tâm bám rừng.
Ông Ngô Thanh Ðiền, Phó Chủ tịch UBND huyện U Minh, cho biết, vấn đề mong mỏi của người dân về khắc phục những khó khăn này cũng đang là chủ điểm nằm trong chủ trương chung của tỉnh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Trong đó, có lĩnh vực phát triển kinh tế rừng, như tổ chức lại sản xuất và bố trí dân cư khu vực rừng tràm.
Huyện U Minh cũng đang tiến hành thực hiện thí điểm đề án sắp xếp lại dân cư dưới tán rừng, và sẽ tiếp tục nhân rộng khi đề án này mang tính khả thi cao. Ðồng thời, tiến hành phương án cấp dứt điểm đất rừng cho người dân theo Nghị định 181 của Chính phủ để người dân yên tâm sản xuất. Phương án tách lúa ra khỏi rừng huyện U Minh cũng đang chờ chủ trương để sớm triển khai thực hiện.
Ngoài ra, huyện U Minh sẽ triển khai tiếp phương án đầu tư vốn để người dân sống trên lâm phần rừng tràm có điều kiện phát triển sản xuất. Một khi có vốn và làm chủ được đất rừng thì việc làm giàu trên đất rừng không còn là chuyện quá khó đối với bà con.
Không còn phụ thuộc vào cây tràm truyền thống, rừng tràm U Minh Hạ đang xuất hiện nhiều mô hình sản xuất tổng hợp, đặc biệt là khi cây keo lai đang dần cho thấy được giá trị kinh tế cao.
Với loại cây trồng này, các chủ rừng đang quy hoạch lại sản xuất, vừa duy trì và phát huy giá trị cây tràm truyền thống vừa quy hoạch trồng xen canh cây keo lai, nhằm giúp cho người dân rút ngắn thời gian sản xuất, có thu nhập ổn định, yên tâm bám rừng. Hiện tại, các chủ rừng cũng đã quy hoạch trồng hơn 1.000 ha cây keo lai, 50% diện tích đã được khai thác, giá trị kinh tế đem lại là rất thiết thực.
Khai thác có hiệu quả tiềm năng đất rừng, ổn định đời sống người dân là mục tiêu cơ bản trong định hướng lâu dài của Ðảng bộ huyện U Minh, bằng nhiều giải pháp thiết thực, người dân sống trên lâm phần rừng tràm sẽ sớm ổn định đời sống.
Bước đột phá trong phát triển kinh tế rừng hiện nay chính là việc giao đất cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển trồng rừng thâm canh đã đem lại hiệu quả trong thời gian qua, đất rừng U Minh cũng đang mở hướng đi mới khi cây keo lai, một loài cây có giá trị kinh tế được đưa vào trồng theo quy hoạch hợp lý.
Ðây cũng là cơ hội để người dân phát triển kinh tế, rừng tràm U Minh tiếp tục phát huy thế mạnh, khi đó bài toán giảm nghèo đối với dân sống trên đất rừng U Minh Hạ sẽ rất khả thi. (Báo Cà Mau 2/8) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định vừa ban hành Quyết định số 16/2014/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung một số chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm gỗ nội thất trên địa bàn.
Theo đó, mỗi năm, doanh nghiệp được hỗ trợ 2 lần tham gia trực tiếp tại hội chợ, triển lãm trong nước (trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh) và 2 lần tham gia trực tiếp tại hội chợ, triển lãm nước ngoài.
Mức hỗ trợ thực hiện bằng 100% mức chi thực tế, nhưng không quá 150 triệu đồng/1 lần/doanh nghiệp khi tham dự hội chợ, triển lãm ở nước ngoài và 30 triệu đồng/1 lần/ doanh nghiệp khi tham dự hội chợ, triển lãm trong nước.
Nội dung hỗ trợ bao gồm: Chi phí thuê gian hàng hoặc mặt bằng; chi phí vận chuyển hàng mẫu chỉ áp dụng cho 1 lượt đi. Quyết định này có hiệu lực từngày 21/7/2014 - 31/12/2020. (Công Thương 1/8, tr14) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Hiện tượng một số loài vật biến mất trên Trái đất là sự khởi đầu cho giai đoạn tuyệt chủng mới. Sự kiện tuyệt chủng cuối cùng xảy ra từ 65 triệu năm trước, sau khi một thiên thạch va vào Trái đất, loài khủng long đã bị tuyệt chủng.
Đa dạng sinh học hành tinh - hiệu quả của 3,5 tỷ năm tiến hóa, đã đạt đến điểm tới hạn. Đó là cảnh báo của một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, đăng tải trên tạp chí Science (Mỹ).
Từ năm 1.500 có hơn 320 loài động vật có xương sống bị tuyệt chủng. Số lượng các loài động vật có xương sống còn lại bị giảm đi 1/4. Tình hình bi thảm tương tự cũng diễn ra đối với nhóm động vật không xương sống.
“Những giai đoạn tuyệt chủng trước đây có nguyên nhân từ sự thay đổi tự nhiên trên hành tinh hoặc va chạm với thiên thạch. Sự khởi đầu giai đoạn tuyệt chủng hiện nay có liên quan đến hoạt động của con người” - Giáo sư Rodolfo Dirzo ở Trường ĐH Stanford nhận định.
Hiện tại có khoảng 16 - 33% loài động vật có xương sống bị đe dọa tuyệt chủng. Số lượng các động vật lớn giảm nhanh nhất, trong đó có voi, tê giác và gấu trắng Bắc cực. Phần lớn các loài động vật hoang dã sinh ít con hơn, cần nhiều diện tích để sống hơn. Thân hình to lớn và khối lượng cơ thể nặng nề của chúng là mục tiêu săn bắn dễ dàng.
Mặc dù chiếm tỷ lệ thấp trong số các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng, sự giảm thiếu về số lượng các loài động vật lớn gậy ra hậu quả rất nghiêm trọng. Điều này đã được chứng minh bởi các thí nghiệm tiến hành ở Kenia. Tại quốc gia này, các nhà nghiên cứu đã cô lập một số khu vực không có các loài động vật lớn sinh sống như ngựa vằn, hươu cao cổ, voi.
Họ quan sát xem hệ sinh thái thay đổi như thế nào khi không có những loài động vật lớn nàỵ. Kết quả là các loài gặm nhấm đã nhanh chóng đến sinh sống tại những khu vực cô lập đó.
“Khi mật độ dân cư tăng cao, các loài động vật lớn càng bị đẩy đuổi ra khỏi khu vực sống càng nhanh. Khi đó số lượng các loài gậm nhấm tăng lên, kèm theo đó là sự gia tăng các mầm mống gây bệnh - Giáọ sư Dirzo cho biết - Ai có thể ngờ được rằng, sự thiếu vắng các loài động vật lớn lại gây ra hậu quả nghiêm trọng như vậy?”.
Tình trạng của các loài động vật không xương sống cũng bi đát không kém. Trong vòng 35 năm trở lại đây, số lượng nhện, bướm, bọ hung, sâu bọ giảm khoảng 45%; trong khi đó dân số của loài người tăng gấp đôi.
75% lượng nông sản trên thế giới mà chúng ta thu hoạch được là nhờ côn trùng (chẳng hạn, thụ phấn). “Các giải pháp trở nên rất phức tạp - Giáo sư Dirzo cho biết - Việc dừng xây dựng ngay lập tức những khu dân cư mới và dừng khai thác tài nguyên quá đà có thể là giải pháp hữu ích, nhưng những giải pháp đó phải thích ứng với từng khu vực cụ thể trên thế giới”. (Giáo Dục & Thời Đại 1/8, tr14) đầu trang(
Có 8 loài tê tê trên thế giới và tất cả đang có nguy cơ tuyệt chủng khi bị săn bắt ráo riết ở cả châu Phi lẫn châu Á. Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN) cho biết tê tê là loại động vật giao dịch bất hợp pháp hàng đầu trên thế giới.
Tùy theo loại và độ tuổi mà tê tê có thể nặng 1,6 kg đến hơn 33 kg, có những trường hợp cá biệt cơ thể dài hơn 1,5 m. Thịt tê tê khá ngon nên trở thành đặc sản trên các bàn ăn trong nhà hàng. Đã vậy loài này còn bị hại vì lớp vảy của nó được sử dụng rộng rãi trong đông y.
Nguồn cung cấp tê tê hợp pháp đang ngày càng ít đi và các tay săn trộm đã chuyển từ châu Á sang châu Phi. Trong tháng 7.2014, hải quan VN đã thu giữ 1,4 tấn vảy tê tê bất hợp pháp được vận chuyển về từ Sierra Leone, tương đương với hơn 1 vạn con tê tê bị tiêu diệt.
Hãng tin UPI dẫn lời Giáo sư Jonathan Baillie đang hợp tác với IUCN cho biết phải nhanh chóng có hành động bảo tồn nếu không muốn loài động vật có 80 triệu năm tiến hóa này tuyệt chủng. (Thanh Niên 5/8, tr10) đầu trang(
An ninh đã được thắt chặt tại thủ đô Washington (Mỹ) khi có khoảng 50 nhà lãnh đạo châu Phi sẽ có mặt tại đây để tham dự Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - châu Phi bắt đầu từ ngày 4-6/8.
Theo kế hoạch, trong ngày làm việc đầu tiên của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Phi, các nhà lãnh đạo Mỹ và châu Phi sẽ tập trung thảo luận vấn đề buôn bán động vật hoang dã, ngày thứ hai sẽ tập trung vào các vấn đề thương mại và ngày cuối cùng sẽ là các vấn đề an ninh.
Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - châu Phi là cơ hội quan trọng đối với Mỹ nhằm đuổi kịp các đối tác Trung Quốc và châu Âu trong việc tiếp cận khu vực châu Phi không chỉ có chiến tranh và xung đột, mà còn có rất nhiều cơ hội làm ăn kinh tế. (VTV 5/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng