|
Ngày 05 tháng 06 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Từ những lời đồn thổi về ý nghĩa phong thủy của loại gỗ Hương giáng, thời gian qua, nhiều người dân bất chấp lệnh cấm, xâm nhập vào Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng và vùng đệm để khai thác loại gỗ này. Mặc dù lực lượng kiểm lâm liên tiếp phát hiện, xử lý nhiều vụ khai thác, vận chuyển gỗ Hương giáng nhưng vì lợi nhuận, nhiều đối tượng vẫn lén lút khai thác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng.
Mấy tháng gần đây người dân vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng kéo nhau vào vùng núi đá vôi thuộc khu vực giáp ranh các xã Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, huyện Bố Trạch đốn hạ cây Hương giáng.
Ông Nguyễn Ngọc, ở xã Sơn Trạch cho biết: Cây Hương giáng thường mọc rãi rác trên núi đá vôi, trước đây người dân thường sử dụng làm củi đốt. Gần đây gốc Hương giáng được chế tác làm vật trang trí trong nhà, có giá cao nên nhiều người ồ ạt vào rừng khai thác bán cho các thương lái chuyên săn đồ gỗ phong thủy. Mỗi gốc Hương giáng có giá từ vài triệu đồng, gốc nào đẹp có u sần thì lên tới 10 đến 20 triệu đồng.
Theo ông Ngọc, sở dĩ cây Hương giáng có giá trị là do lời đồn thổi Hương giáng có khả năng trừ tà ma, đem lại may mắn, tài lộc cho người sử dụng, vì thế, người dân vẫn bất chấp, lén lút khai thác: “Hương giáng hồi trước dân cứ hái về thổi củi cho thơm. Khoảng 6 đến 7 tháng trở lại đây họ mua về bỏ trong nhà làm cảnh cho đẹp, trừ ma, trừ quỷ…”.
Việc khai thác Hương giáng diễn ra chủ yếu trên địa bàn các xã Sơn Trạch, Xuân Trạch, Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Từ đây các đầu nậu thu gom thân gốc, bí mật vận chuyển đến vùng khác chế tác thành các bức tượng hoặc đồ trang trí… rồi mang đi tiêu thụ nên các ngành chức năng rất khó phát hiện.
Ông Đoàn Thanh Bình, Phụ trách Bộ phận Pháp chế, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng cho biết: Do lợi nhuận cao, nhiều đối tượng vẫn lén lút khai thác khiến cây Hương giáng tại vùng đệm Vườn quốc gia này có nguy cơ cạn kiệt.
Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 31 vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển, mua, bán trái phép cây Hương giáng, tịch thu gần 5.600 kg gỗ, xử phạt hơn 90 triệu đồng.
Hiện các lực lượng chức năng tỉnh Quảng Bình tăng cường ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất việc khai thác, mua, bán, chế biến, vận chuyển trái pháp luật cây Hương giáng.
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục Trưởng Chi Cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình cho biết, cây Hương giáng là tên gọi của người dân địa phương, hiện vẫn chưa xác định được tên khoa học và không có trong bảng phân loại nhóm gỗ nên lúng túng trong lập hồ sơ và xử lý theo quy định của pháp luật: “Chúng tôi đã tham mưu cho UBND tỉnh tiến hành các biện pháp ngăn chặn, bằng cách truy quét liên ngành ở các vùng có khai thác Hương giáng để ngăn chặn triệt để ngay tại gốc. Tổ chức truy quét ngăn chặn các cơ sở mà có chế biến mộc mỹ nghệ liên quan đến Hương giáng này”.
Trước việc khai thác Hương giáng rộ lên ở tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu UBND tỉnh Quảng Bình chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, chế biến, mua, bán trái phép cây hương giáng trên địa bàn tỉnh. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm theo đúng các quy định của pháp luật.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Quảng Bình đã yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng… triển khai hàng loạt biện pháp ngăn chặn, xử lý nạn khai thác, mua, bán cây Hương giáng trái phép.
Ông Đinh Huy Trí, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng cho biết: tình trạng khai thác Hương giáng trái phép vẫn âm ỉ ở các xã vùng đệm với thủ đoạn tinh vi hơn.
Lãnh đạo Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng tiến hành khảo sát cây Hương giáng để có biện pháp bảo vệ, ngăn chặn thích hợp: “Chúng tôi cũng tiến hành điều tra đánh giá về trình trạng phân bố Hương giáng, đặc biệt trong lâm phận của Vườn quốc gia để chủ động có giải pháp cụ thể đối với từng khu vực một. Tùy theo từng mức độ phân bố để bố trí lực lượng cho nó phù hợp để ngăn chặn ngay từ đầu, không để xảy ra khai thác Hương giáng trái phép trong vùng lõi”.
Bên cạnh việc tăng cường các biện pháp ngăn chặn khai thác Hương giáng trái phép, các ngành chức năng tỉnh Quảng Bình tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rõ giá trị thực tế của loại gỗ này; đồng thời yêu cầu các đơn vị chức năng nhanh chóng xác định giá trị, chủng loại của loại gỗ Hương giáng để tăng cường quản lý, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. (VOV 5/6) đầu trang(
Từ hai văn bản của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) tỉnh Cao Bằng về phê duyệt hồ sơ cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, một số đối tượng đã lợi dụng để phá rừng phòng hộ, viện lý do cần đường vận chuyển cây giống, thậm chí cố tình phá rừng sai lệch vị trí cấp phép cải tạo…
Theo tìm hiểu của chúng tôi, Sở NN và PTNT Cao Bằng đã ban hành hai Quyết định số 611/QÐ-SNN (ngày 31-8-2016) và số 787/QÐ-SNN (ngày 19-12-2016) về việc phê duyệt hồ sơ cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất của cộng đồng xóm Khuổi Chót (xã Quang Trọng, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng). Việc cải tạo rừng nghèo kiệt là rừng sản xuất thực hiện theo Thông tư 23/2013 của Bộ NN và PTNT. Hiện trường cải tạo đã quy định rõ địa điểm và diện tích; cơ quan cấp cơ sở có trách nhiệm giám sát việc thực hiện trên thực tế để tránh làm sai hay lợi dụng làm sai.
Tuy nhiên, việc cải tạo rừng sản xuất nghèo kiệt tại xã Quang Trọng lại diễn ra khác với nội dung nêu trên. Ngày 21-2-2017, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng lập đoàn công tác kiểm tra hiện trường, phát hiện ông Lê Văn Ðoàn, ở huyện Hòa An đang tự ý mở đường tại khu vực rừng phòng hộ do cộng đồng xóm Khuổi Chót quản lý. Ông Ðoàn không xuất trình được giấy tờ liên quan và thừa nhận chưa xin phép cơ quan chức năng. Tổng diện tích rừng mà ông này đã phá là 2.250 m2 có chiều dài 900m, chiều rộng 2,5m qua khu vực lô 9, lô 10 khoảnh 1B, tiểu khu 505 là rừng phòng hộ.
Ông Ðoàn khai nhận, do không có đường đi lại để phát dọn thực bì và vận chuyển cây con đến trồng rừng tại khu vực đã xin cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt nên đã tự ý phá rừng mở đường. Ðiều đáng nói, người này thuê cả máy xúc để san ủi phá rừng làm đường vận xuất nhưng chính quyền địa phương không hay biết. Bí thư Chi bộ xóm Khuổi Chót Trần Thị Yểm khẳng định, việc mở đường của ông Lê Văn Ðoàn xóm không biết gì. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng, với hành vi mở đường, phá rừng trái phép, ông Lê Văn Ðoàn chỉ phải chịu hình thức xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
Một sự việc khác nghiêm trọng hơn cũng diễn ra tại xóm Khuổi Chót, xã Quang Trọng là giấy phép cho cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt ở một nơi, nhưng lại "cải tạo" ở nơi khác, trong phạm vi rừng phòng hộ. Ngày 21-2-2017, Chi cục kiểm lâm tỉnh Cao Bằng kiểm tra hiện trường lô rừng do chính cộng đồng xóm Khuổi Chót xin cải tạo ngày 17-10-2016 được Sở NN và PTNT Cao Bằng phê duyệt theo Quyết định số 787 (ngày 19-12-2016).
Tuy nhiên, tại hiện trường kiểm tra, đoàn công tác phát hiện lô rừng xin cải tạo chưa có tác động các biện pháp lâm sinh để tiến hành trồng rừng. Trong khi đó, lại phát hiện hai lô khác cây rừng đang bị chặt hạ với tổng diện tích 40.800 m2 (nhiều hơn diện tích được cải tạo trong giấy phép 800 m2). Qua đối chiếu bản đồ, khu vực này nằm trong rừng phòng hộ và ở vị trí khác hoàn toàn khu vực được phép cải tạo.
Ðáng nói hơn, hồ sơ cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt đứng tên Cộng đồng xóm Khuổi Chót, nhưng đối tượng vi phạm lại là người ở nơi khác đến. Trưởng xóm Khuổi Chót Trần Văn Tuyên cho biết: Khu rừng nêu trên được cộng đồng xóm chuyển nhượng cho ông Lê Ðình Quang (sinh năm 1975, quê quán: xã Bộc Liêu, huyện Ðịnh Hóa, tỉnh Thái Nguyên; hiện sống ở thành phố Cao Bằng). Việc chặt hạ lô rừng này do ông Lê Ðình Quang tiến hành. Ngày 20-3, Chi cục Kiểm lâm yêu cầu ông Quang đến làm việc. Người này cho biết mua lô rừng có diện tích 51 ha nêu trên từ cộng đồng xóm Khuổi Chót với mức giá 50 triệu đồng.
Ðây là hành vi trái quy định, thế nhưng, sau khi nhận rừng, ông Quang đại diện cộng đồng xóm Khuổi Chót vẫn ký được hợp đồng với Trung tâm Ðiều tra quy hoạch, thiết kế nông, lâm nghiệp để xin cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt ở khu vực trên (?!) Khi được phê duyệt, ông Quang tự ý thuê người phá rừng ở một khu vực khác, là rừng phòng hộ. Và đến khi Chi cục Kiểm lâm tỉnh lập biên bản, ông ta mới biết mình phá "nhầm" rừng phòng hộ!
Ðây là những sự việc nghiêm trọng bởi hành vi phá rừng diễn ra ngang nhiên ngay trong khu vực phòng hộ; việc người dân tự ý bán rừng được giao diễn ra một cách "bình thường" dưới sự xác nhận của xã. Liệu trách nhiệm này chỉ thuộc về cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn hay sự phối hợp giữa kiểm lâm các cấp với chính quyền cơ sở thiếu chặt chẽ?
Chủ tịch UBND xã Quang Trọng Lô Văn Phòng cho biết, khi bàn giao hiện trường, xã không được tham gia, cho nên không biết chuyện xảy ra ở thực địa. Trong khi đó, kiểm lâm viên phụ trách khu vực đã có 30 năm kinh nghiệm trong nghề thì một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng đánh giá là: "Yếu kém về năng lực chuyên môn và lý do tuổi tác nên quản lý không tốt". Còn đối với cán bộ địa chính xã Quang Trọng thì Chủ tịch UBND xã Lô Văn Phòng cho rằng, "không biết xem bản đồ địa chính"!
Ðược biết, cuối năm 2016, Hạt kiểm lâm Thạch An đã đề nghị được chuyển đổi vị trí rừng vi phạm trong sự việc nêu trên từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất nhưng chưa được phê duyệt. Ðầu năm 2017, việc vi phạm, phá rừng phòng hộ ngay tại khu vực này xảy ra. Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng Nguyễn Văn Minh khẳng định, việc "chặt nhầm" diện tích rừng nói trên là đáng tiếc; việc mua bán giữa chủ rừng với cá nhân, tổ chức khác là sai và trách nhiệm của ngành kiểm lâm khi để xảy ra sự việc là không thể phủ nhận.
Phó Giám đốc Sở NN và PTNT Cao Bằng Ðặng Hùng Chương khẳng định: "Sở đã đề nghị lên UBND tỉnh kiểm điểm trách nhiệm, xử lý kỷ luật công chức kiểm lâm phụ trách địa bàn xã và lãnh đạo Hạt kiểm lâm Thạch An".
Sở NN và PTNT tỉnh Cao Bằng trong Báo cáo số 626 (ngày 17-5-2017) đề nghị UBND tỉnh Cao Bằng yêu cầu UBND huyện Thạch An hủy bỏ hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái quy định do UBND xã Quang Trọng chứng thực trong sự việc nêu trên. Theo điều 20 Nghị định số 157/2013/NÐ-CP, trường hợp ông Lê Ðình Quang thuê người phá rừng sai vị trí được phép cải tạo với diện tích 40.800 m2 phải xử lý hình sự do vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, Sở này đề nghị không xử lý hình sự với ông Lê Ðình Quang mà chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính ở mức cao nhất, với lý do lo ngại gây hoang mang trong cộng đồng dân cư tại địa bàn chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao và ảnh hưởng đến tâm lý tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện các dự án trồng rừng tại tỉnh Cao Bằng. Ðến ngày 22-5, UBND tỉnh Cao Bằng chưa có văn bản trả lời về việc này.
Qua những sai phạm nêu trên, thiết nghĩ tỉnh Cao Bằng cần sớm chỉ đạo rà soát lại toàn bộ diện tích rừng phòng hộ đã giao cho các vùng quản lý, tránh việc khai thác trái phép. Việc xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật về những hành vi lợi dụng chính sách của Nhà nước để cố tình làm sai trong công tác bảo vệ rừng phòng hộ là điều phải làm ngay. (Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông phát hiện 8 cây gỗ nghiến với khối lượng 90m3 đã bị chặt hạ tại khu vực rừng thuộc xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Trao đổi với PV Báo Thanh tra, ông Nguyễn Đình Thỏa, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông cho biết: Qua công tác thăm nắm tình hình, lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện một số đối tượng lạ mặt có dấu hiệu khả nghi xuất hiện trên địa bàn. Hạt chủ động phối hợp cùng Công an huyện và chính quyền địa phương tổ chức mật phục.
Vào lúc 20 giờ ngày 15/5/2017, đã phát hiện và truy bắt 4 đối tượng đi trên 2 xe máy có dấu hiệu khả nghi. Các đối tượng bỏ chạy, để lại 2 xe máy và 2 khúc gỗ được xác định là bừu gỗ nghiến cùng một số giấy tờ tùy thân và đăng ký xe máy.
Vụ việc và các tang vật đã được bàn giao cho Công an huyện thụ lý giải quyết.
Xác định đây là số gỗ nghiến mới bị chặt hạ trên địa bàn, lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện tại lô 1, khoảnh 10, khu 363A (khu rừng Đin Đen), thôn Phù Cà, xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông có 8 cây gỗ nghiến (nhóm IIA) khối lượng 90m3 bị chặt hạ. 1 cây gỗ chai, 1 cây gỗ chặm khối lượng khoảng 5m3 bị đổ theo trong quá trình 8 cây gỗ nghiến bị chặt phá.
Đây là khu rừng phòng hộ do UBND xã Sỹ Bình quản lý và là khu rừng nguyên sinh còn khá nguyên vẹn, gần như chưa bị tác động với nhiều loại lâm sản quý hiếm. (Thanh Tra 3/6) đầu trang(
30/5, đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, trong khu vườn của gia đình ông Hoàng Văn Năm (xóm Khuôn Câm, xã Quy Kỳ, Định Hóa) có chứa trên 30 khúc gỗ tròn không rõ nguồn gốc.
Số gỗ này có đường kính 25-35cm, chiều dài khoảng 2m với tổng khối lượng trên 4,3m3. Qua xác minh, đội Kiểm lâm nhận thấy, đây là gỗ phay thuộc nhóm 6 (nhóm gỗ quý hiếm cần phải có hồ sơ cấp phép khai thác, vận chuyển của cơ quan chức năng).
Tuy nhiên, số gỗ trên không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc, không có dấu búa của cơ quan kiểm lâm. Khi được hỏi, ông Hoàng Văn Năm cho biết, số gỗ trên không phải của gia đình mình và cũng không biết là của ai?.
Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng Thái Nguyên đã tiến hành lập biên bản thu giữ toàn bộ số gỗ và đưa về kho của Đội để xử lý theo quy định của pháp luật.
Với việc không thừa nhận số gỗ do mình khai thác, không biết nguồn gốc xuất xứ, vậy gia chủ có bị xử lý?
Trong vụ việc này, cơ quan chức năng cần làm rõ việc, nguồn gốc số gỗ trong vườn nhà ông Năm từ đâu mà có. Nếu ông này khai thác trái phép số gỗ trên và cơ quan chức năng có đủ căn cứ xác định thì ông Năm có thể bị truy cứu trách nhiệm theo Điều 175, BLHS về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Theo Nghị định 157/2013/ NĐ–CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì người có hành vi lấy lâm sản trong rừng không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép nhưng đã thực hiện không đúng quy định cho phép bị xử phạt thấp nhất là 600 nghìn đồng, cao nhất lên đến 100 triệu đồng. Ngoài ra còn phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 7, Điều 12 của Nghị định này.
Tại điểm d, khoản 4, Điều 23 Nghị định 157/2013/ NĐ–CP về hành vi mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng với gỗ không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm từ trên 3m3 đến 6m3. (Người Đưa Tin 3/6) đầu trang(
“Xây cất phát triển du lịch như quy hoạch hiện tại ở Sơ̛n Trà sẽ thu hẹp diện tích rừng nguyên sinh, gây phương hại khôn lường đến những bản sắc thu hút du lịch, nhất là đàn Voọc Chà Vá chân nâu tại Sơn Trà. Do đó phươ̛ng cách quy hoạch phát triển khu du lịch quốc gia Sơ̛n Trà trong hiện tại là “Phát triển du lịch hủy hoại bản sắc đặc thù của Sơn Trà”, là nhận định của Chủ tịch Hội Bảo tồn Đa dạng Sinh vật Thế giới trong thư kiến nghị gửi đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về quy hoạch Sơn Trà.
2.6, TS Sinh học Đặng Trung Phước, Chủ tịch Hội Bảo tồn Đa dạng Sinh học Thế giới (Biodiversity Conservancy International), kiêm Chủ Tịch Hội đồng quản trị Hiệp Hội Canada Việt Nam đã gửi thư kiến nghị đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng Bí thư, Chủ tịch TP. Đà Nẵng và các Sở ban ngành liên quan.
Trong bức thư này, TS. Đặng Trung Phước đã có những phân tích, nhận định về du lịch Sơn Trà và bản quy hoạch Sơn Trà hiện nay đang gây ra sự quan ngại sâu sắc trong giới khoa học trước nguy cơ tuyệt chủng của loài Voọc chà vá chân nâu.
Ông Phước nhận định, đàn Voọc Chà Vá chân nâu là động vật rất duy biệt, đẹp nhất trong các loài linh trưởng, có một không hai trên toàn thế giới, đang sống đơ̛n trọi trên bán đảo Sơ̛n Trà, hoàn toàn cách biệt với các hệ sinh thái khác trong đất liề̀n. Đàn Voọc này là một điểm nóng du lịch chính yếu thứ nhất.
Nguy cơ tuyệt chủng của Voọc Chà Vá chân nâu mà cả thế giới rất quan tâm và Việt Nam đang bảo vệ là điểm nóng du lịch thứ hai.
Hệ sinh thái hoang sơ̛ trên đất liề̀n cũng như dưới biển và sự phong phú của sự đa dạng động thực vật của Sơ̛n Trà thể hiện một sinh cảnh quan đặc thù của Đà Nẵng; Đây là điểm nóng du lịch thứ ba.
Bán đảo Sơ̛n Trà với ba điểm vừa nêu trên là những đặc thù không thể thiếu của thành phố Đà Nẵng. Không có Sơ̛n Trà đầ̀y bản sắ́c, Đà Nẵng chỉ là một trong những thành phố ven biển thông thường của Viêt Nam.
Phân tích về bản quy hoạch Sơn Trà hiện nay, ông Phước nhận định, phát triển du lịch quốc gia trên bán đảo Sơn Trà không nhất thiết phải xây khu nghỉ dưỡng, khách sạn, chợ búa tại Sơn Trà, nhất là diện tích rừng sinh thái của bán đảo không những rất nhỏ hẹp mà còn hoàn toàn cách biệt với các hệ sinh thái trong đất liề̀n.
Xây cất phát triển du lịch như quy hoạch hiện tại ở Sơn Trà sẽ thu hẹp diện tích rừng nguyên sinh và sẽ gây phương hại khôn lường đến những bản sắc thu hút du lịch như đã nêu trên, nhất là đàn Voọc Chà Vá Chân Nâu sẽ bị tuyệt chủng.
Do đó phương cách quy hoạch phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà trong hiện tại theo lối “phát triển du lịch, đồng thời hủy hoại bản sắc thu hút du lịch đặc thù của Sơn Trà” là không thuận lý.
“Chính vì điề̀u này, người dân trong và ngoài nước đã bày tỏ sự không đồng thuận cao độ. Chúng tôi, những chuyên gia khoa học với nhận thức sâu về̀ tầm quan trọng cột trụ của hệ sinh thái, môi trường và sự đa dạng sinh vật trong sự sống trên trái đất, rất hoan nghênh Thủ Tướng đã đề nghị duyệt lại quy hoạch khu du lịch quốc gia Sơn Trà vì sự không đồng thuận của người dân và cũng vì bản sắc sinh thái đặc thù cao độ của bán đảo này”, ông Phước nhấn mạnh.
Từ những lập luận đó, TS Đặng Trung Phước kiến nghị về quy hoạch Sơn Trà:
Sơn Trà trong trạng thái nguyên sơ luôn luôn là của tất cả mọi người dân Đà Nẵng và hơn 90 triệu người Việt Nam.
Những khu nghỉ dưỡng không những không tạo nên bản sắ́c du lịch mà còn hủy hoại những điểm thu hút du lịch của Sơn Trà như liệt kê ở trên. Đây là điề̀u không thuận lý nhất, cần phải cẩn trọng lưu ý trong quy hoạch.
Phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà nên tập trung vào mô hình du lịch tham quan có tổ chức để bảo vệ sự toàn vẹn của Sơn Trà. Sử dụng đàn Voọc Chà Vá chân nâu, có nguy cơ bị tuyệt chủng đang được bảo vệ làm điểm nhấn, sẽ thu hút hàng triệu triệu người đến thăm và tham quan. Đây là lối quảng bá du lịch quốc gia một cách tuyệt mỹ, đồng thời quảng bá bản sắc nhân văn và nhân bản của Việt Nam trong việc bảo tồn các sinh vật đang bị đe dọa tuyệt chủng.
Dich vụ du lịch tham quan sẽ tạo nên lợi nhuận gấp nhiều lần hơn những khu nghỉ dưỡng, đồng thời góp phần vào nỗ lực xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm cho người dân.
Sơn Trà sẽ mãi mãi giữ được cái nguyên sơ của tự nhiên, một bản sắ́c càng ngày càng hiếm tại Việt Nam. Do đó Sơn Trà đáng được gọi là hòn ngọc xanh của Đà Nẵng và nên được bảo tồn như một rừng quốc gia. (Lao Động 3/6) đầu trang(
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch gửi văn bản đề nghị Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng có biện pháp xử lý việc ông Huỳnh Tấn Vinh sau phát biểu về Sơn Trà.
Theo VnExpress, văn bản do Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái ký ngày 2/6 nêu: Tại tọa đàm “Phát triển du lịch bền vững khu du lịch quốc gia Sơn Trà”, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội du lịch TP Đà Nẵng, được mời tham dự và trình bày các ý kiến liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà.
“Dù đã được chủ trì tọa đàm nhắc nhở về việc cân nhắc kỹ nội dung phát ngôn, đảm bảo chuẩn xác, nhưng ông Huỳnh Tấn Vinh vẫn cố tình phát biểu nội dung thiếu chính xác”, văn bản cho hay.
Nội dung "thiếu chính xác" được Bộ dẫn ra là ông Vinh nói quy hoạch Sơn Trà vi phạm các điều luật như: Luật Bảo vệ phát triển rừng, Luật đa dạng sinh học, Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo... “Phát ngôn của ông Vinh là chủ quan, thiếu cơ sở và làm cho dư luận hiểu sai vấn đề”, văn bản có đoạn.
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đề nghị Hiệp hội Du lịch TP Đà Nẵng xem xét, có biện pháp xử lý; yêu cầu ông Vinh có văn bản giải trình, trả lời Bộ trước ngày 15/6 để báo cáo cấp có thẩm quyền.
Thông tin trên Tuổi Trẻ, ông Huỳnh Tấn Vinh, chủ tịch Hiệp hội du lịch Đà Nẵng đã có ý kiến về việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi công văn đề nghị xử lý những phát ngôn về Sơn Trà của ông.
Ông Vinh cho rằng việc Bộ Văn hóa thể thao và du lịch ra văn bản như vậy là cách hành xử không khoa học, không cầu thị bởi ông phát biểu trong một tọa đàm mang tính chất khoa học. Các phát biểu đều phải có căn cứ khoa học, có cơ sở.
Theo ông Vinh, nếu Bộ thấy phát biểu của ông chưa chính xác thì phải chứng minh bằng chứng cứ khoa học rằng đó là sai chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính hay yêu cầu kiểm điểm.
Ông Vinh cũng nói thêm, các phát biểu của ông tại buổi tọa đàm đều dựa vào căn cứ luật như Luật đầu tư, Luật bảo vệ và phát triển rừng, đa dạng sinh học…Các điều khoản ở đây đều được ông tìm hiểu kỹ càng rồi mới lên tiếng.
Theo một luật sư thuộc Đoàn luật sư Đà Nẵng, Hiệp hội du lịch Đà Nẵng là một tổ chức xã hội không phải là cơ quan nhà nước trực thuộc Văn hóa thể thao và du lịch nên không thể quản lý họ như một đơn vị “con”.
Trừ trường hợp hoạt động của Hiệp hội có vi phạm pháp luật, vi phạm hành chính được chứng minh và có kết luận của cơ quan chức năng thì Hiệp hội chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Đối với những phát ngôn như của ông Huỳnh Tấn Vinh hoặc những phát ngôn mang tính phản biện khác tại tọa đàm thì dù đúng hay sai Bộ Văn hóa thể thao và du lịch chỉ được hành xử bằng cách tiếp thu hoặc không. Không thể áp dụng mệnh lệnh hành chính để đòi xử lý hoặc bắt giải trình. (Đời Sống & Pháp Luật 4/6) đầu trang(
“Đó không phải là thái độ khoa học cầu thị của bộ Văn hóa -Thể thao-Du lịch”, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng nhận định với phóng viên Một Thế Giới về văn bản mới đây của Bộ này. Theo tin mới nhất thì Bộ VHTT-DL ngay trong ngày chủ nhật, 4.6, đã thu hồi văn bản yêu cầu ông Vinh giải trình, và nhận trách nhiệm về những sơ xuất này.
Theo đó, vào ngày 2.6, Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL ký văn bản yêu cầu ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội du lịch Đà Nẵng giải trình về những phát ngôn tại tọa đàm “Phát triển Du lịch bền vững khu vực du lịch quốc gia Sơn Trà” do Bộ này chủ trì hôm 30.5.2017 tại Hà Nội.
Văn bản trên cho rằng: “Ngày 30.5.2017, tại Tọa đàm “Phát triển Du lịch bền vững khu vực du lịch quốc gia Sơn Trà”, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch thành phố Đà Nẵng được mời tham dự và trình bày các ý kiến liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà”.
Mặc dù đã được chủ trì tọa đàm nhắc nhở về việc cân nhắc kỹ nội dung phát ngôn, đảm bảo chuẩn xác nhưng ông Huỳnh Tấn Vinh vẫn cố tình phát biểu tại tọa đàm những nội dung thiếu chính xác”.
“Cụ thể, ông Vinh phát biểu quy hoạch này vi phạm các điều luật như sau: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, điểm 2 điều 4 rừng đặc dụng; Luật đa dạng sinh học năm 2008, điều 8,9,21,2 khoản 2 điều 72; Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo năm 2015 điều 16; Luật bảo vệ phát triển rừng điều 7, điều 12; Luật đa dạng sinh học điều 9; Luật tài nguyên môi trường điều 22, 23,24 và các Nghị định khác”.
Bộ VH-TT-DL cho rằng việc phát ngôn trên của ông Huỳnh Tấn Vinh là chủ quan, thiếu cơ sở và làm dư luận hiểu sai vấn đề nên “đề nghị Hiệp hội Du lịch TP.Đà Nẵng xem xét sự việc trên đồng thời có biện pháp xử lý; yêu cầu ông Vinh có văn bản giải trình, trả lời Bộ Văn hóa trước ngày 15.6.2017 để Bộ báo cáo cấp có thẩm quyền”.
Trả lời Một Thế Giới từ Đà Nẵng, ông Huỳnh Tấn Vinh cho rằng ‘văn bản đó không đúng với một thái độ khoa học và cầu thị’.
Ông phân tích: “Thứ nhất là tọa đàm vừa rồi tôi được mời tới với tư cách là một người đọc báo cáo tham luận khoa học; trong tranh luận khoa học thì có nhiều ý kiến khác nhau, đó là bình thường. Nếu ai không đồng tình thì hãy chứng tỏ bằng lý luận khoa học của mình để bảo vệ cái lý của mình, chứ không phải lấy một văn bản hành chính để bịt miệng người nói khác ý kiến của mình”.
“Đó không phải là thái độ khoa học cầu thị, bởi vì đó là bộ VH-TT-DL, tranh luận, nhất là tranh luận khoa học nữa, thì đó là cách làm không hay”, ông Vinh nói.
Trước đó, tại tọa đàm hôm 30.5, kết thúc phần tham luận của mình, ông Vinh tái khẳng định: “Chúng tôi không chọn bao nhiêu phòng (xây dựng trên bán đảo), chúng tôi chọn giữ Sơn Trà, bảo toàn nguyên vẹn vẻ tự nhiên đó để thu hút khách du lịch và để báu vật Sơn Trà đó cho thế hệ con em chúng ta”.
“Còn tùy các bạn, các bạn hủy nó thì hãy hủy. Tôi sẽ chiến đấu tới cùng để không xảy ra điều đó. Nếu yêu Sơn Trà theo kiểu của các bạn, khai thác để làm ra tiền chảy vào túi của một số người đó là cách chọn lựa của các bạn mà chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh”, ông Vinh tuyên bố. (Một Thế Giới 4/6) đầu trang(
"Tôi hoan nghênh Bộ VHTTDL đã nhìn nhận ra vấn đề. Trên tinh thần cầu thị, thời gian tới tôi vẫn muốn đóng góp với Bộ VHTTDL về các vấn đề liên quan đến bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)", ông Vinh cho biết.
Ngay sau khi biết thông tin Thứ trưởng Bộ VHTTDL Huỳnh Vĩnh Ái chỉ đạo rút văn bản 2383 yêu cầu mình phải làm giải trình liên quan đến các phát ngôn tại buổi tọa đàm quy hoạch bán đảo Sơn Trà, ông Huỳnh Tấn Vinh-Chủ tịch Hiệp hội Du lịch TP.Đà Nẵng tỏ ra rất vui mừng.
“Tôi rất vui và hoan nghênh Bộ VHTTDL đã nhìn nhận ra vấn đề. Tại buổi tọa đàm, tôi phát biểu trên tinh thần đóng góp ý kiến để phản biện. Mục đích của tôi là cùng đóng góp mong tìm ra phương án tối ưu nhất để bảo tồn và phát triển bán đảo Sơn Trà. Như tôi đã nói, quan điểm của tôi là phải bảo tồn Sơn Trà, chúng tôi chọn giữ Sơn Trà chứ không phải chọn bao nhiêu phòng”, ông Vinh nói.
Ông Vinh còn cho biết thêm, dù cá nhân nào đó có hiểu lệch đi ý kiến của ông và đã tham mưu ra văn bản yêu cầu ông kiểm điểm và giải trình thì ông vẫn tiếp tục đóng góp các ý kiến liên quan đến vấn đề bán đảo Sơn Trà với Bộ VHTTDL trên tinh thần cầu thị, lắng nghe lẫn nhau.
Như Dân Việt đã thông tin trước đó, ngày 2.6, Bộ VHTTDL đã có văn bản 2383 đề nghị Hiệp hội du lịch TP.Đà Nẵng yêu cầu ông Huỳnh Tấn Vinh có văn bản giải trình liên quan đến việc ông phát ngôn: “Quy hoạch Sơn Trà vi phạm các điều luật như: Luật Bảo vệ phát triển rừng, Luật đa dạng sinh học…”.
Bộ VHTTDL cho rằng, ông Vinh phát biểu như trên là chủ quan, thiếu cơ sở và làm cho dư luận hiểu sai vấn đề. Sau khi văn bản này ban hành, phát biểu trên báo Dân Việt ông Vinh đã nêu rõ quan điểm: “Nếu Bộ VHTTDL cho rằng những ý kiến của tôi đưa ra chưa đúng thì cần có ý kiến chứng minh ngược lại, chứ không phải sau cuộc họp lại gửi công văn yêu cầu kiểm điểm tôi. Với văn bản đề nghị kiểm điểm tôi có thể thấy Bộ VHTTDL và Tổng cục Du lịch không khoa học, không có tinh thần cầu thị".
Đến trưa 4.6, Bộ VHTTDL đã phát đi thông cáo thông tin Thứ trưởng Bộ VHTTDL Huỳnh Vĩnh Ái chỉ đạo thu hồi văn bản nêu trên và nhận trách nhiệm sơ suất khi ban hành văn bản này. (Dân Việt 4/6) đầu trang(
Một phát ngôn bị cơ quan chức năng cho là “có vấn đề”, “đòi xử lý” lại nhận được sự đồng tình và nể phục của 100% bạn đọc.
Tại tọa đàm “Phát triển du lịch bền vững khu du lịch quốc gia Sơn Trà” tổ chức hôm 30-5, ông Huỳnh Tấn Vinh (Chủ tịch Hiệp hội du lịch thành phố Đà Nẵng) đã nhấn mạnh quy hoạch Sơn Trà đang vi phạm các điều luật Luật Bảo vệ phát triển rừng, Luật đa dạng sinh học… và ông khẳng định sẽ góp tiếng nói đến cùng để bảo vệ giá trị của Sơn Trà.
Sau đó, Bộ VH-TT&DL có văn bản gửi Hiệp hội, yêu cầu “xử lý” vì cho là phát biểu này thiếu chính xác. Tuy nhiên, đến ngày 4-6, Bộ rút lại văn bản trên.
Một phát ngôn được cơ quan chức năng cho là “có vấn đề”… ngược lại đang nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của người dân. 100% ý kiến bạn đọc gửi về cho báo Pháp Luật TP.HCM đều nhận định ông Vinh hoàn toàn đúng.
Các bạn Mạnh Tuấn, Lang Dong, Hung Nguyen Tuan, Minh Phước, Bang Ngo…đều cho rằng “ông Vinh không hề sai”, “hãy bảo vệ rừng, đừng vì lợi ích trước mắt mà khai thác hết thiên nhiên”. Bạn Huy Luu còn cảm kích “cả nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng cần lắm những người như ông.”
Bạn đọc Việt An nói: “Thay vì lắng nghe, dường như Bộ đang muốn tìm cách gây áp lực với những người có ý kiến trái chiều. Các ý kiến bày tỏ về điều gì mới quan trọng, chứ không nằm ở lỗi diễn đạt”. Đồng tình, độc giả Lao Gia cho rằng “nếu Bộ nói ông Vinh nói sai thì phải tìm cách chứng minh mình đúng để công luận ủng hộ, cớ sao đòi xử lý người ta?”. Bức xúc hơn, độc giả Hùng chấn vấn: "Tại sao họp lấy ý kiến mà không được phát biểu ý kiến của mình, thế họp làm cái gì?”.
Phát ngôn của ông Vinh tuy đi ngược với những gì đang được dự định thực hiện ở Sơn Trà nhưng lại thuận ý với đại đa số người dân. Thậm chí, bạn Nguyễn Lê còn nhận ra “phải có tình yêu như thế nào với Sơn Trà thì ông Vinh mới có phát biểu ruột gan đến vậy. Tôi ủng hộ và cảm phục ông”.
Việc phá rừng để xây khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại đây… được bạn Nguyễn Lê xem là đang xóa đi vẻ hoang sơ, cũng là điều độc nhất vô nhị của Sơn Trà, tự đánh mất một công trình mà thiên nhiên tạo dựng cho chúng ta suốt mấy ngàn năm qua.
Không phải vô lý mà chủ ý gìn giữ lá phổi xanh Sơn Trà đến cùng của ông Vinh nhận được nhiều đồng tình đến vậy. Độc giả Thanh Tâm nhận định phát biểu của ông không chỉ có cơ sở khoa học (bảo vệ nguồn gen quý hiếm và đảm bảo cho đa dạng sinh học) mà còn có tinh thần trách nhiệm cao đối với xã hội qua nhiều thế hệ.
Song song với đó, đông đảo bạn đọc cũng phản ứng với cách xử lý của Bộ VH-TT&DL. Đại diện nhóm này là ý kiến của độc giả Thúy: “Tôi không đồng tình với cách phản ứng thiếu lịch sự của ban tổ chức hội nghị khi cản trở khách mời phát biểu quan điểm”.
Bạn Khúc Văn Tĩnh cũng cho rằng “làm cấp trên cần lắng nghe ý kiến cấp dưới, kể cả những ý kiến trái chiều. Có nhiều ý kiến mới đúc kết được ý tưởng hay và tốt để thực hiện”. “Họp là phải có phản biện, vậy mới ra vấn đề. Người dân đều đã hiểu hết, trách nhiệm của Bộ là làm sao cho ngành của mình phát triển bền vững, đất nước được bình an”, là lời nhắc của bạn Hoàng Văn Bằng.
Độc giả Cao Bàng Đức tâm tư và đặt nhiều kỳ vọng: “liệu một mình ông Vinh có thể bảo vệ lá phổi cho thành phố Đà Nẵng không? Rất cần những nhà khoa học chân chính đứng ra cùng ông, đưa đầy đủ luận chứng khoa học để bảo vệ Sơn Trà”.
Quyết định rút lại văn bản yêu cầu xử lý ông Vinh tuy muộn nhưng được đánh giá là động thái tích cực, phát hiện sai chịu sửa của Bộ. Qua sự việc này có thể thấy quyền phán xét cuối cùng thuộc về người dân. Mọi người đều hiểu “phá thì dễ, giữ được tự nhiên mới khó” và “quyết tâm bảo vệ thiên nhiên là một quan điểm rất nhân văn và khoa học” không chỉ của ông Vinh mà của nhiều người dân trong cả nước. (Pháp Luật TPHCM 4/6) đầu trang(
Sau nhiều giờ vật vã đường rừng, PV đến khu rừng phòng hộ đầu nguồn xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) và chứng kiến cảnh tàn phá rừng nghiêm trọng.
Đi theo cung đường độc đạo vào xã Hòa Bắc với nhiều ổ voi, ổ gà, khói bụi chằng chịt do lượng lớn xe tải chở vật liệu qua lại, PV cùng đồng nghiệp đến được đường mòn để vào khe Đương. Con đường “hành xác” này từng là nỗi ám ảnh của các PV khi tiếp cận khu vực rừng này trong nhiều năm qua. Nhiều đoạn, chúng tôi phải cài xe máy số 1, 2 rồi dắt bộ lên dốc. Mặt đường gồ ghề đá, đất sét pha cát khiến xe ngã túi bụi, trượt xuống dốc. Khó khăn lắm chúng tôi mới dựng xe được và đẩy lên dốc.
Thỉnh thoảng, sự yên bình trong rừng xanh bị xé toang bở những tiếng gầm rú của động cơ. Đó là những chiếc xe máy đã được “độ” của những người dân địa phương đang đi vào rừng. Những người này nhìn chúng tôi với ánh mắt ái ngại, nghi ngờ. Mất gần 2 giờ đồng hồ leo qua nhiều con dốc dựng đứng, đường đá lởm chởm, chúng tôi cũng đến được khu vực rừng tại thuộc khoảnh 6, tiểu khu 29 rừng Hòa Bắc do Công ty TNHH MTV Bông Sen Vàng Đà Nẵng (gọi tắt là Công ty Bông Sen Vàng) làm chủ rừng.
Từ khu nhà lán của Công ty Bông Sen Vàng, có một lối mòn với dốc gần dựng đứng dẫn lên phía trên. Đi một đoạn nữa, chúng tôi gặp 3 người mang theo “hành lý” từ trong rừng ra. Các công nhân của Công ty Bông Sen Vàng nhận ra những người quen vì họ thường vào rừng khai thác gỗ. “Hôm nay có thể đã bị “động” nên họ rút ra khỏi rừng. Thông thường khi có cán bộ, cơ quan chức năng hay báo chí đi vào khu vực khe Đương là có người làm nhiệm vụ cảnh giới ở bên ngoài thông báo cho những người khai thác gỗ ở bên trong để họ án binh, rút lui, tìm cách đối phó”, một công nhân cho biết.
Tiếp tục đi ngược lên đỉnh núi gần với tiểu khu rừng 27, PV ghi nhận có nhiều lối mòn xuyên vào rừng. Theo các lối mòn này có nhiều cây gỗ lớn bị khai thác từ nhiều năm trước. PV tiếp tục khảo sát ở 3 ngọn đồi nữa nằm giữa tiểu khu 27 và 29 và phát hiện các “công xưởng” khai thác gỗ giữa rừng. Những cây gỗ gụ, kền kền… được lâm tặc dùng cưa máy hạ xuống, xử thành phách sau đó vận chuyển đưa ra khỏi rừng.
Hiện trường cho thấy việc khai thác gỗ vừa được thực hiện chỉ trong 1 vài ngày trở lại khi mùn cưa, các phách gỗ còn tươi mới, nhiều lá còn xanh khắp nơi, cơm, nước ngọt vương vãi khắp nơi.
Đặc biệt khu vực rừng ở tiểu khu 29 bị “rút ruột” nghiêm trọng khi nhiều gốc cây vừa bị triệt hạ, gỗ được xử thành phách, thành khúc còn nằm ngổn ngang, chưa kịp vận chuyển ra ngoài. Nhiều gốc cây vẫn còn chảy mủ, nhựa tươi rói. Ở một con suối gần đó có lán trại của lâm tặc, vẫn còn nhiều vật dụng như quần áo, nồi niêu, nước ngọt, bánh trái... Một số khúc gỗ lớn, phách gỗ được che giấu bằng cành, lá cây.
Theo tìm hiểu của PV, sau khi gỗ được khai thác trong rừng, được xẻ thành phách sau đó vận chuyển ra bìa rừng, đưa lên xe máy “độ” rồi chở ra nơi tập kết. Mỗi ngày, một lâm tặc có thể đem được 2-3 phách gỗ ra khỏi rừng, bán với giá 400-600 nghìn đồng mỗi phách.
Khu vực rừng bị phá gần tiểu khu 27 là rừng tự nhiên đầu nguồn có chức năng rừng phòng hộ. Còn rừng tại khoảnh 6, tiểu khu 29 do Công ty TNHH MTV Bông Sen Vàng Đà Nẵng làm chủ rừng. Đơn vị này đã được UBND TP.Đà Nẵng giao đất giao rừng theo Quyết định số 2188 ngày 21-4-2017 về việc thu hồi rừng giao cho Công ty Bông Sen Vàng để trồng rừng, quản lý bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh. Công ty này được giao 21ha đất rừng. Điều đáng nói, đơn vị này chỉ vừa được giao đất giao rừng nhưng đã đầu tư trang thiết bị, máy móc để thực hiện các công đoạn thăm dò khai thác khoáng sản (chủ yếu là vàng) từ 3 năm nay.
Ông Phạm Văn Mạnh, người phụ trách tại hiện trưởng của Công ty Bông Sen Vàng cho biết, Công ty đang chờ thủ tục được cấp phép để thực hiện thăm dò khai thác khoáng sản và thực hiện các yêu cầu của chính quyền địa phương. Về tình trạng phá rừng trên diện tích đất rừng đã được giao, ông Mạnh cho biết: “Chúng tôi thừa nhận chỉ chặt một vài cây làm lán trại để cho người trông nom diện tích đất rừng, đẩy đuổi những người khai thác vàng trái phép xâm nhập. Việc phá rừng là do người dân địa phương (lâm tặc) thực hiện. Hàng ngày, lâm tặc thường đi đến khu vực rừng này và khai thác gỗ sau đó vận chuyển ra bên ngoài tiêu thụ. Ngoài ra, một nhóm người khai thác vàng trái phép trong diện tích đất của công ty cũng phá rừng. Mục đích của họ là mong muốn chính quyền, các cơ quan kiểm tra, xử lý trách nhiệm xảy ra phá rừng trên diện tích đất của chúng tôi để họ có điều kiện, có thêm thời gian để khai thác vàng trái phép trước khi công ty được cấp phép hoạt động”.
Sáng 3-6, bà Lê Thị Thu Hà - Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc cho biết: “Nhận được thông tin có khai thác gỗ tại khu vực trên, UBND xã và Hạt kiểm lâm huyện Hòa Vang đã vào cuộc kiểm tra thực tế. Chúng tôi ghi nhận có tình trạng phá rừng. Hiện đoàn kiểm tra liên ngành đã lập biên bản và đang làm báo có gửi UBND huyện”.
Theo báo cáo ban đầu của Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang đến UBND huyện Hòa vang cho thấy, qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 13 gốc cây bị chặt mới, có đường kính từ 0,3 - 0,6m, trong đó có 8 gốc cây bị chặt mới nằm trong khu vực rừng được giao cho Công ty Bông Sen Vàng.
Trao đổi với PV, ông Đặng Phú Hành - phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang cho biết: “UBND huyện đã chỉ đạo UBND xã Hòa Bắc và Hạt kiểm lâm huyện Hòa Vang kiểm tra thực tế; đồng thời đến ngày 10-6, các đơn vị phải hoàn tất báo cáo gửi UBND huyện để có cơ sử xử lý vụ việc. Quan điểm của huyện là xử lý dứt điểm, sai đến đâu xử lý đến đó đối với hành vi phá rừng. Nếu có dấu hiệu và đủ cơ sở về hành vi hủy hoại rừng thì sẽ khởi tố vụ án. Khu vực rừng bị khai phá do Công ty Bông Sen Vàng làm chủ nhưng trách nhiệm về quản lý, bảo vệ thuộc về UBND xã Hòa Bắc và Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang”. (Công An TPHCM 3/6) đầu trang(
Mùa nắng nóng năm nay, Yên Thành đã xây dựng 30 km đường băng trắng cản lửa PCCCR, nhằm bảo vệ an toàn cho gần 6.000 ha rừng trên địa bàn.
Với phương châm phòng là chính, Yên Thành đã chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp với 20 xã có rừng trên địa bàn và 4 đội sản xuất huy động lực lượng phát dọn và thu gom thực bì ở 1.000 ha rừng; tu bổ và làm mới được 30 km đường băng trắng cản lửa, 15 bảng tuyên truyền, biển cấm lửa ở các vùng trọng điểm. Mở rộng các tuyến đường dân sinh và đầu tư xây dựng mới một số đoạn đường huyết mạch phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) ở khu vực rừng thông xã Mỹ Thành, Công Thành, Đồng Thành, Xuân Thành và Tân Thành.
Ngoài duy tu bảo dưỡng 2 máy thổi gió và 3 cưa xăng sẵn có, năm nay, Ban QLR phòng hộ huyện còn chuẩn bị gần 300 dụng cụ PCCCR sẵn sàng ứng phó khi có cháy xảy ra.
Đặc biệt vào thời điểm này, nắng nóng gay gắt kèm theo gió Tây Nam thổi mạnh, dự báo cháy rừng đang ở cấp độ cao, huyện Yên Thành đã tập trung các giải pháp cấp bách trong công tác PCCCR; phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong quần chúng nhân dân.
Vào thời gian cao điểm dễ xảy ra cháy, lãnh đạo địa phương chỉ đạo Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, phối hợp chặt chẽ với chủ rừng, địa phương cắt cử người trực gác tại các cửa rừng, tuyệt đối nghiêm cấm người dân và trẻ em đưa lửa vào rừng để đốt ong; đồng thời thực hiện nghiêm quy chế trực chỉ huy và phương án 4 tại chỗ để bảo vệ tài nguyên rừng. (Báo Nghệ An 3/6) đầu trang(
Việc thi công tuyến đường được dự đoán sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng, điển hình là các hoạt động san ủi, đào đắp.
Dự án đường giao thông Ba Chẽ - Hạ Long, đoạn từ xã Đồn Đạc (huyện Ba Chẽ) đến tuyến dường vành đai phía Bắc TP Hạ Long do UBND huyện Ba Chẽ (Quảng Ninh) làm chủ đầu tư với mục đích kết nối tiêu thụ nông sản cho bà con huyện Ba Chẽ tới khu vực trung tâm Hoành Bồ - Hạ Long — Cẩm Phả.
Dự kiến, chiều dài toàn tuyến của Dự án là 18,39km, quy mô đường cấp IV miền núi, bề rộng nền đường Bnền = 7,5m, bề rộng mặt đường Bmặt = 5,5m.
Theo Văn bản số 3691/SNN&PTNTKL ngày 07/11/2016 của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh gửi UBND huyện Ba Chẽ thì tuyến đường sẽ sử dụng 48,4 ha rừng; trong đó 15,7ha rừng đặc dụng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn — Kỳ Thượng, 13,3ha rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Cao Vân, 8,6ha rừng phòng hộ Ba Chẽ và 10,8ha rừng sản xuất của một số hộ nhân dân.
Đối với khoảng 20ha đất rừng dự kiến sử dụng làm bãi đổ thải; để hạn chế việc san lấp, sói lở đất mới, làm phá vỡ hệ sinh thái rừng đặc dụng, ảnh hưởng đến tính năng của rừng phòng hộ đầu nguồn và gây bồi lắng lòng hồ Cao Vân;
Sở NN&PTNT đề nghị chủ đầu tư nghiên cứu, lựa chọn các địa điểm đổ thải ở các khu vực rừng sản xuất; lập hồ sơ xây dựng phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng chuyển đổi mục đích sang làm bãi đổ thải đất đá.
Trong biên bản điều tra, xác định hiện trạng rừng tự nhiên để thực hiện Dự án ngày 27/12/2016 và Văn bản số 08/VB — BTTT ngày 21/2/2017 của Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn — Kỳ Thượng nêu rõ: diện tích tuyến đường của Dự án dự kiến đi qua các khoảnh 5, 7, 11 tiểu khu 72 xã Hòa Bình, huyện Hoành Bồ thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn — Kỳ Thượng có chiều dài khoảng 15,7ha.
Hiện trạng rừng nơi tuyến đường đi qua là trạng thái rừng tự nhiên trung bình, rừng tự nhiện phục hồi, rừng tự nhiên nghèo, rừng hỗn giao tre nứa ước tính trên 14ha; diện tích còn lại là đất trống, trảng cỏ, cây bụi. Đường kính cây gỗ dao động từ 6cm đến 40cm; mật độ từ 520 cây/ha đến trên 1.180 cây/ha; trữ lượng từ 36m3 /ha đến 111,5m3 /ha; tổng trữ lượng gỗ là 1.217,8m3 (chưa tính đến sản lượng tre, nứa và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ).
Văn bản số 08/VB-BTTT cũng cho biết, hiện tại nơi Dự án đi qua hệ sinh thái rừng đang diễn thế tích cực với hệ động thực vật đa dạng; có nhiều loài thực vật có giá trị bảo tồn, thuộc loài quý hiếm, có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, Sách Đỏ thế giới (IUCN) như sến mật, vàng tâm, sồi đĩa, dẻ, táu...
Đây là một trong các diện tích rừng có tính đa dạng sinh học cao và được xem là một khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi thấp trong khu Khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng và cả vùng Đông Bắc nói chung. Đồng thời, Văn bản số 08/VB-BTTT còn dự báo: “...
Việc thi công tuyến đường được dự đoán sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng điển hình là các hoạt động san ủi, đào đắp trong khi thi công và các hoạt động của các phương tiện giao thông khi khai thác tuyến đường sẽ gây chia cắt sinh cảnh sống của một số loài động vật, ô nhiễm nguồn nước hồ Cao Vân, tiềm ẩn cao các nguy cơ cháy rừng; khai thác trái pháp luật gỗ, lâm sản ngoài gỗ trong rừng đặc dụng”.
Ngày 3/4/2017, Văn bản số 475/TĐ- ĐTM của Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường thuộc Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) gửi Ban quản lý dự án công trình huyện Ba Chẽ đã khẳng định: “Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Đa dạng sinh học năm 2008, việc xây dựng tuyến đường trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 01 trong những hành vi bị nghiên cấm về đa dạng sinh học.
Việc xây dựng tuyến đường có bề rộng nền đường Bnền = 7,5m, bề rộng mặt đường Bmặt = 5,5m trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là vi phạm Quyết định số 24/2012/ QĐ-TTg ngày 1/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 — 2020 (theo Quyết định này, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chỉ được phép làm các tuyến đường mòn với bề rộng tối đa không quá 1,5m)”.
Ngoài ra, Văn bản số 475/TĐ — ĐTM của Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường thuộc Tổng cục Môi trường còn đề nghị Ban quản lý dự án công trình huyện Ba Chẽ lưu ý các yêu cầu của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh tại Văn bản số 3691/SNN&PTNT-KL ngày 07/11/2016 về việc nghiên cứu, lựa chọn các điểm đổ thải để hạn chế việc san lấp, xói lở đất mới, làm phá vỡ hệ sinh thái rừng đặc dụng, ảnh hưởng đến tính năng của rừng phòng hộ đầu nguồn và gây bồi lắng lòng hồ Cao Vân;
Đồng thời thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Để rộng đường dư luận, phóng viên đã liên hệ với ông Nguyễn Minh Sơn - Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ. Ông Sơn cho biết, ngày 20/4/2017, UBND huyện Ba Chẽ đã có văn bản gửi lên UBND tỉnh Quảng Ninh về việc xin được điều chỉnh hướng tuyến của Dự án nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường; còn các thông số kỹ thuật khác của Dự án như bề rộng nền đường, bề rộng mặt đường, chiều dài toàn tuyến, chiều dài đi qua rừng đặc dụng là thế nào...?
Ông Sơn chỉ nói chung chung là không nhớ hết, hoặc đang đợi khảo sát thiết kế lại. Sau đó phóng viên đã gửi nội dung câu hỏi tới email theo yêu cầu của ông Sơn từ ngày 27/4, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được hồi âm; phóng viên đã liên lạc nhiều lần qua điện thoại nhưng cũng không thấy ông Sơn trả lời!?..
Trong cuộc trao đổi ngắn vào sáng ngày 12/5/2017, ông Vũ Văn Diện (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh) cho biết: Cách đây 3-4 hôm đã giao lại cho UBND huyện Ba Chẽ tự bàn, tự quyết định và trình lại; phải rà soát, mời các ngành vào họp để đề xuất phương án, báo cáo đánh giá tất cả các tác động ảnh hưởng.
Theo GS, TSKH Đặng Huy Huỳnh — Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam): Đất nước ta đang phải chịu nhiều hệ lụy xấu do biến đổi khí hậu, do vậy rừng càng trở nên quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
Nhà nước đã có quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia... rồi thì đừng vì lý do này khác mà xén vào rừng; phải nghiêm túc thực hiện quy định của Nhà nước.
Cho dù Dự án có điều chỉnh hướng tuyến và sửa lại mà ảnh hưởng đến rừng, đến môi trường và đa dạng sinh học trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, rừng bị thu hẹp như hiện nay thì không nên triển khai Dự án.
Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nêu rõ: “...không chuyển diện tích rừng tự nhiên hiện có sang mục đích sử dụng khác (trừ các dự án phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, hoặc các dự án đặc biệt, cấp thiết do Chính phủ quyết định); dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên trên phạm vi cả nước...”.
Đứng trước những thách thức do biến đổi khí hậu, do suy giảm môi trường đang tác động tiêu cực và ngày càng trực tiếp, gay gắt tới mọi mặt đời sống xã hội; các vị lãnh đạo đứng đầu của Đảng, Nhà nước ta đều khẳng định quyết tâm:
Không đánh đổi môi trường lấy dự án. Do vậy, chính quyền huyện Ba Chẽ cần xem xét một cách kỹ lưỡng, để không đi ngược lại với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những cánh rừng bớt đi lời khẩn cầu, kêu cứu vì “thương tích” và “chảy máu”. (Pháp Luật+ 4/6) đầu trang(
Chiều 4/6, trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Tiến Phong, Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, vụ cháy rừng phòng hộ ở khu vực núi Ngang, xã Bồ Lý (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đã được khống chế. Theo ông Phong, vụ cháy bắt đầu phát hiện từ sáng 3/6.
“Vụ cháy không có thiệt hại về người. Ngày 3/6, đám cháy đã gây thiệt hại khoảng 15 ha rừng, còn ngày 4/6 chắc phải cháy thêm hơn chục hec-ta nữa. Tuy nhiên, đó là ước lượng ban đầu”- ông Phong cho biết.
Chỉ đạo trực tiếp công tác khống chế, chữa cháy ngày 4/6, tuy nhiên, ông Phong cho biết, hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra vụ cháy rừng ở xã Bồ Lý, các cơ quan chức năng đang điều tra, làm rõ.
Về nghi ngại vụ cháy liên quan đến khu vực rừng phòng hộ mà tỉnh Vĩnh Phúc có chủ trương làm “siêu” nghĩa trang bị dư luận phản ứng mới đây, ông Phong nói: “Bây giờ chưa thể nói gì được liên quan đến vấn đề đó, cháy thì phải chữa đã”.
Trước đó, rừng phòng hộ ở khu vực núi Ngang, xã Bồ Lý- nơi vừa diễn ra đám cháy được đề xuất để khu nghĩa với tổng mức đầu tư gần 700 tỷ đồng. Sau khi nhiều người dân, dư luận phản ứng, Vĩnh Phúc đã dừng dự án. Thủ tướng cũng yêu cầu Vĩnh Phúc báo cáo về vấn đề trên. (Tiền Phong 5/6) đầu trang(
Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam vừa trao Bằng công nhận Cây Di sản Việt Nam đối với cây tung ở buôn Ky, phường Thành Nhất, TP. Buôn Ma Thuột cho Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường tỉnh.
Cây tung tại buôn Ky có tuổi đời khoảng 200 năm tuổi, chu vi gốc 17 mét, cao hơn 50 mét, được xem là một trong những cây gỗ lớn nhất trong các rừng đầu nguồn nguyên sinh hiếm hoi còn lại tại TP. Buôn Ma Thuột.
Như vậy, toàn tỉnh đã có 4 cây, cụm cây được công nhận Cây Di sản Việt Nam. Trong đó, TP. Buôn Ma Thuột có 1 cây và 1 cụm cây (cây tung và 2 cây long não), huyện Cư M’gar 1 cụm cây (K’tung-bồ đề-bằng lăng chung một gốc) và huyện Buôn Đôn 1 cây (cây bồ đề).
Việc công nhận Cây Di sản Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong việc gìn giữ những cây cổ thụ quý, bảo vệ nguồn gen đa dạng sinh học mà còn góp phần nâng cao ý thức của mọi người và toàn xã hội về vấn đề bảo vệ môi trường, cây xanh. (Khoa Học & Phát Triển 2/6) đầu trang(
Trong những năm gần đây, mặc dù trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chưa có vụ cháy rừng nào lớn xảy ra, nhưng bắt đầu vào mùa nắng nóng, các lực lượng phòng chống cháy rừng trên địa bàn tỉnh luôn đặt mình trong tình trạng ứng phó kịp thời nếu mỗi khi có cháy rừng xảy ra.
Cứ đều đặn mỗi tuần hai lần các cán bộ của ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến HảiQuảng Trị thường xuyên tuần tra kiểm soát trên khu vực rừng mà mình được quản lý.
Ông Hoàng Duy Quang, Phó giám đốc ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải Quảng Trị cho biết:“Đơn vị đã tổ chức triển khai trực cháy 24/24 giờ, bên cạnh đó các tổ bảo vệ rừng thường xuyên có mặt những nơi mình trực tiếp nhận rừng để trực tiếp phòng cháy.”
Nhờ làm tốt công tác phòng chống cháy rừng mà 3 năm trở lại đây, trên khu vực rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Hiện nay, phần lớn rừng đã được giao cho người dân quản lý, nên tại các địa phương có rừng thì công tác tuyên truyền luôn đặt được lên hàng đầu.
Theo ông Thái Văn Thành, Phó chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị cho biết, huyện đã tổ chức ký cam kết cũng như bảo vệ rừng đối với từng hộ dân, đồng thời có liên kết với các hộ trồng rừng, để thành lập các bộ hồ sơ liên quan đến quản lý rừng trên địa bàn, để phân chủ ra quản lý cho hợp lý.
Hiện tại toàn tỉnh Quảng Trị có là 236.000 ha rừng, để làm tốt công tác phòng chống cháy rừng tỉnhQuảng Trị đã triển khai nhiều phương án, đặc biệt là phương án bốn tại chỗ, trong đó về lực lượng và phương tiện luôn được tỉnh Quảng Trị chuẩn bị sẵn sàng.
Trao đổi ANTV, ông Võ Văn Hưng, Giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Trị cho hay, Sỏw NN&PTNT đã chỉ đạo đồng bộ các giải pháp, trong đó là tiếp tục tuyên truyền cho người dân về nguy cơ tác hại do cháy rừng gây ra, chuẩn bị cũng như triển khai các phương án để phòng CCCR. Thực hiện các giải pháp lâm sinh, các giải pháp về ký thuật để hỗn giao các loại cây thực hiện lâu dài công tác phòng chống cháy rừng.
Bắt đầu vào mùa nắng nóng, kèm theo gió phơn Tây Nam thổi mạnh, nên vấn đề về cháy rừng ở địa bàn tỉnh Quảng Trị có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chính vì vậy, rất cần sự vào cuộc của cả cộng đồng và quan trọng nhất vẫn là ý thức của mỗi một người dân, như vậy việc phòng chống cháy rừng trên địa bàn Quảng Trị mới đạt hiệu quả cao. (ANTV 4/6) đầu trang(
Để bảo vệ an toàn diện tích rừng, từ đầu năm 2017 đến nay Hạt Kiểm lâm huyện Như Thanh phối hợp với các ban, ngành trên địa bàn tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); tổ chức 3 lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác PCCCR; tham mưu cho UBND huyện xây dựng kế hoạch về huy động lực lượng, phương tiện hậu cần tham gia chữa cháy rừng, đặc biệt là ở các vùng trọng điểm cháy.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện phương án PCCCR của xã, chủ rừng, nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục những thiếu sót trong công tác PCCCR; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định về công tác PCCCR.
Ngoài ra, hạt kiểm lâm huyện còn tổ chức thường trực PCCCR 24/24 giờ/ngày trong thời gian cao điểm để nắm bắt thông tin và có biện pháp chữa cháy rừng kịp thời khi có cháy rừng xảy ra; thường xuyên nắm bắt diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi xâm hại rừng và đất lâm nghiệp. Tính đến giữa tháng 5-2017 Hạt Kiểm lâm huyện Như Thanh đã phát hiện và xử lý 10 vụ vi phạm xâm hại rừng với số tiền hơn 30 triệu đồng, tịch thu 2 cưa xăng. (Báo Thanh Hóa 4/6) đầu trang(
UBND tỉnh cho thuê đất rừng, nhưng doanh nghiệp lại "triệt hạ" rừng, lấy đất sang nhượng cho người dân. Chuyện thật như đùa đang xảy ra tại tỉnh Đắk Nông.
Vào đầu năm 2016, UBND tỉnh Đắk Nông cho Công ty TNHH Nguyên Vũ thuê hơn 162ha rừng nằm dọc quốc lộ 28 ở xã Quảng Sơn, trong đó có hơn 156ha rừng thông. Theo quyết định cho thuê, công ty này chỉ được sử dụng vào mục đích quy hoạch quản lý khai thác nhựa thông, trồng bơ, trồng và chăm sóc rừng trồng. Nhưng đến nay, có một diện tích lớn rừng thông đã bị “triệt hạ” và sang nhượng cho người dân lấy đất sản xuất, làm nhà.
Đi thực tế trên diện tích rừng thông được giao cho Công ty TNHH Nguyên Vũ, chúng tôi chứng kiến nhiều cây thông bị đốn hạ, bị đốt cháy trơ trụi; một số diện tích đã được người dân dùng máy múc gốc trồng tiêu, bơ, cà phê... Người dân canh tác trái phép ở đây khẳng định đất rừng được mua của Công ty TNHH Nguyên Vũ và cung cấp cho chúng tôi giấy viết tay thực hiện việc mua bán đất rừng. Ông Chu Văn Chung (ở thôn Quảng Hợp, xã Quảng Sơn) đã cung cấp một mảnh giấy thể hiện việc nhận đất và giao tiền có chữ ký với bên bán là Phan Thành Nghĩa (quản lý của Công ty TNHH Nguyên Vũ).
Còn ông Lê Đình Thi (xã Quảng Sơn) cho biết, vào tháng 2-2017, Công ty TNHH Nguyên Vũ đã bán cho gia đình ông 5 sào đất rừng với số tiền 200 triệu đồng. Người nhận tiền cũng là ông Phan Thành Nghĩa và được sự đồng ý của bà Nguyễn Thị Kim Thoa - Giám đốc Công ty TNHH Nguyên Vũ. Tại giấy viết tay mua đất rừng giữa ông Lương Hữu Dũng (xã Quảng Sơn) với Công ty TNHH Nguyên Vũ, ông Phan Thành Nghĩa cũng đại diện công ty này nhận của ông Dũng 300 triệu đồng khi bán 1ha đất rừng. Qua điều tra, chúng tôi biết được có nhiều hộ dân ở xã Quảng Sơn đã mua bán đất rừng bằng giấy viết tay với ông Phan Thành Nghĩa.
Từ những mảnh giấy mua bán đất viết tay nêu trên, chúng tôi đã tìm ra một đường dây mua bán đất rừng do Phan Thành Nghĩa (ở thôn 1C, xã Quảng Sơn, quản lý của Công ty TNHH Nguyên Vũ) cầm đầu. Sau khi xem những bằng chứng, ông Phan Thành Nghĩa thừa nhận mình là người trực tiếp bán đất rừng, nhận tiền của nhiều hộ dân, đồng thời cung cấp thêm nhiều bằng chứng liên quan.
Theo tài liệu ông Nghĩa cung cấp cho PV, đến nay ông ta đã bán 7 lô đất lâm nghiệp của Công ty TNHH Nguyên Vũ cho 13 hộ dân xã Quảng Sơn với tổng diện tích gần 6,4ha và thu được hơn 2,3 tỷ đồng. Ông Nghĩa còn cho biết đã nhận tiền mua đất của năm hộ dân khoảng 1,5 tỷ đồng, nhưng do Công ty TNHH Nguyên Vũ chưa cắt thông xong nên chưa bàn giao đất.
Ai đã chống lưng cho ông Phan Thành Nghĩa bán đất rừng trái pháp luật? Theo điều tra của PV, vào năm 2004, ông Phan Thành Nghĩa (nguyên quán tại quận Gò Vấp, TPHCM) đến xã Quảng Sơn lập nghiệp bằng nghề kinh doanh, buôn bán nông sản. Năm 2009, ông Nghĩa thành lập Doanh nghiệp tư nhân Quốc Triệu kinh doanh, chế biến lâm sản. Đến tháng 4-2016, Bộ Công an phát hiện Doanh nghiệp tư nhân Quốc Triệu kinh doanh hơn 50m3 gỗ lậu nên đình chỉ hoạt động, xử phạt hành chính và cấm hành nghề kinh doanh lâm sản. Trong năm 2009, ông Nghĩa quen biết bà Nguyễn Thị Kim Thoa - Giám đốc Công ty TNHH Nguyên Vũ.
“Bà Thoa rất tin tưởng và giúp tôi rất nhiều trong chuyện làm ăn, nhất là việc kinh doanh, buôn bán gỗ tại Quảng Sơn. Đến năm 2016, Công ty TNHH Nguyên Vũ được UBND tỉnh Đắk Nông giao quản lý, bảo vệ, sản xuất kinh doanh hơn 162ha rừng thông tại xã Quảng Sơn. Do bị động về phương án, các điều kiện khác trong quản lý, bảo vệ nên đã giao cho tôi điều hành công việc. Trong thời gian này, tôi đã nhiều lần dùng tiền của mình trả lương công nhân, xây dựng trạm quản lý bảo vệ rừng, làm đường và bà Thoa hứa nếu làm tốt sẽ cắt cho tôi 3ha đất để sản xuất, nuôi vợ con”, ông Nghĩa cho hay.
Trước việc bán đất rừng trái quy định, ông Nghĩa cho biết đã nói với bà Nguyễn Thị Kim Thoa không nên làm như vậy nhưng bà Thoa bảo cứ làm đi. “Sau đó bà Thoa viết giấy ủy quyền điều hành công ty nên tôi tin tưởng làm theo chỉ đạo chứ không phải tự ý thực hiện”, ông Nghĩa trần tình.
Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Kim Thoa khẳng định: “Tôi không chỉ đạo ông Phan Thành Nghĩa bán đất rừng cho người dân. Ông Nghĩa đã lợi dụng sự tín nhiệm của gia đình tôi bán đất rừng trái quy định. Việc ủy quyền cho Phan Thành Nghĩa điều hành công ty chỉ là tạm thời từ 25-3 đến 20-4-2016 do gia đình bận đi công tác xa. Cũng trong thời gian này, ông Nghĩa đã lấy đất của công ty bán cho nhiều người dân để trục lợi cá nhân với nhiều tỷ đồng, nhưng tôi không biết. Đến khi một số người dân tới đòi đất thì tôi mới phát hiện. Sau đó ông Nghĩa đã viết bản tường trình gửi lãnh đạo công ty, thú nhận việc làm sai trái và hứa tự chịu trách nhiệm với các sai phạm trên. Hiện tôi đã đề nghị cơ quan Công an tỉnh Đắk Nông điều tra làm rõ sự việc”.
Trong khi đó, ông Nghĩa lại nói rằng: “Việc bà Thoa ủy quyền điều hành công ty là để cài bẫy chứ không phải vì lý do tin tưởng. Tôi bắt đầu bán đất cho dân từ đầu năm 2016 đến nay chứ không riêng gì thời gian được ủy quyền. Sau khi mua đất, người dân dùng máy múc gốc thông và trồng cây nhưng công ty không hề ngăn chặn. Nếu không có sự thỏa thuận của công ty, người dân có canh tác được không? Bà Thoa đã cố tình tạo ra bằng chứng vô can để đẩy hết trách nhiệm cho tôi”.
Vậy ai đã chỉ đạo bán rừng và nhận tiền tỷ từ việc bán đất rừng ở xã Quảng Sơn, câu hỏi đó xin dành cho các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Nông. (Sài Gòn Giải Phóng 4/6) đầu trang(
Sâu róm xuất hiện trên cây thông nếu không xử lý kịp thời sẽ làm cây yếu, cháy lá và lụi tàn dần.
Hiện nhiều khu vực rừng thông trong tỉnh Nghệ An xuất hiện sâu róm gây hại. Tại rừng thông ở huyện Nghi Lộc, có nơi, sâu róm xuất hiện với mật độ lên đến 150 con/cây; còn tại huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, có nơi sâu róm xuất hiện 100 - 200 con/cây... Chỉ riêng huyện Nghi Lộc có trên 420 ha thông bị sâu róm gây hại.
Nguyên nhân của tình trạng sâu róm xuất hiện nhiều là do ảnh hưởng của thời tiết. Mầm bệnh sâu róm trong cây thông tiềm ẩn từ những mùa vụ trước chưa được xử lý triệt để.
Vào mùa này, thời tiết tại Nghệ An nắng nóng, khô hạn, tồn tại nhiều yếu tố thuận lợi để sâu róm xuất hiện, gây hại. Lúc đầu các cây thông chỉ xuất hiện sâu róm với số lượng ít, sau đó lan rộng đến cây khác.
Sâu róm xuất hiện trên cây thông nếu không xử lý kịp thời sẽ làm cây yếu, cháy lá và lụi tàn dần. Thực tế, tại nhiều vùng trồng thông của tỉnh Nghệ An, trước đây sâu róm gây hại đã làm nhiều cây thông chết, nguy cơ lan rộng trên nhiều vùng rừng thông khác, gây thiệt hại lớn cho người trồng thông và các đơn vị lâm nghiệp.
Trước diễn biến sâu róm xuất hiện nhiều, ngành lâm nghiệp, các hộ quản lý rừng thông và các đơn vị liên quan triển khai nhiều giải pháp trong phòng trừ, tránh lây lan trên diện rộng. Giải pháp kỹ thuật đang được triển khai là dùng đèn bẫy để diệt sâu và phun thuốc trên cây thông để sâu chết, trong đó có thuốc chế phẩm sinh học VBT 16.000 IU/MG.
Tuy nhiên, đây chỉ là các giải pháp kỹ thuật thông thường, hiệu quả diệt trừ chưa cao, chỉ mang tính mùa vụ, khó xử lý dứt điểm để cây sạch bệnh, không xuất hiện sâu vào những năm sau.
Ngành lâm nghiệp và các hộ trồng, quản lý rừng thông mong muốn nhà khoa học, quản lý lâm nghiệp đưa ra giải pháp để xử lý triệt để tình trạng cứ đến mùa là sâu lại xuất hiện và gây hại trên rừng thông. (Nhân Dân 3/6) đầu trang(
Nhà báo Trần Đăng Tuấn, người từng gửi tâm thư lên TP.Hà Nội về việc thay thế cây xanh năm 2015 đã có những chia sẻ về việc chặt 1.300 cây xanh để mở đường.
Trước thông tin về việc Hà Nội đang xem xét di chuyển, chặt hạ 1.300 cây xanh để phục vụ dự án mở rộng đường vành đai 3 đoạn Mai Dịch - Cầu Thăng Long, Nhà báo Trần Đăng Tuấn, người từng gửi tâm thư lên lãnh đạo TP.Hà Nội về việc thay thế 6.700 cây xanh hồi năm 2015 đã có những chia sẻ trên trang facebook cá nhân.
Nhà báo Trần Đăng Tuấn chia sẻ rằng, vào những ngày nắng nóng gần 40 độ, khi ông đọc được thông tin 1.300 cây xanh sắp bị chặt để mở đường ông cảm thấy ngột ngạt.
Nói về việc chặt 1.300 cây này, ngày hôm qua trên trang cá nhân Nhà báo Trần Đăng Tuấn viết: “Đa số người dân thấy tiếc. Không hẳn là phản đối (vì đây là mở đường ở chỗ thường tắc nghẽn), nhưng nhiều người hỏi sao không tính đến phương án giữ được cây ở giữa, mở rộng sang hai bên. Một số thì cho rằng mở đường phải chặt cây, phản đối là làm khó cho nhà quản lý...”
“Theo tôi, chủ đầu tư và chính quyền Hà Nội nên công khai nói về các tính toán phương án khi lập dự án. Nếu việc giữ cây là bất khả do các lý do về an toàn hay kinh phí, cũng cần nói rõ để tất cả biết. Giải thích rõ vì sao không thể giữ cây. Người dân cần biết chắc chắn là mọi phương án đã cân nhắc và không có cách khác. Mặt khác, không loại trừ khả năng người ta vẫn thấy còn có cách và có khả năng giữ được cây thì cũng phải lắng nghe. Lẽ ra việc này cần nói sớm. Sắp chặt rồi dân mới đọc được trên báo!. Không hỏi dân thì cũng nên cho dân thấu tỏ mới là cách làm đúng”, ông Tuấn chia sẻ thêm.
Nhà báo Trần Đăng Tuấn chia sẻ: “Chiều muộn đi xe máy về nhà. Quãng đầu là đường bê tông trên cao. Gió tạt vào người nóng hầm hập. Cái nóng luồn vào trong mũ bảo hiểm, một lúc thì đầu âm âm như trong nồi hấp. Cũng may vẫn là có gió. Nếu không thì như trên chảo rang. Quãng sau vào đường lớn có cây. Tuy không che được hết đường nhưng vẫn thấy dịu hẳn đi. Gió không mát nhưng không nóng rãy nữa. Quãng cuối vào phố hẹp hai hàng cây đan nhau phủ kín đường. Nói là cảm giác như mở cửa tủ lạnh thì hơi quá. Nhưng là như từ đường nắng vào hầm để xe mát âm.
Thôi chưa nói cây có hồn, cây là kỷ niệm...Chỉ nói đúng là cây khiến mát hơn rất nhiều. Không có cây cái chảo lửa thành phố này hút cạn sức người. Hà Nội đang bê tông hóa ào ạt và không cưỡng nổi. Dưới đá và xi măng nóng bỏng. Nhìn lên trên nhà cao tầng một rừng máy điều hòa đang điên cuồng chạy, xả hơi nóng vào không gian vốn đã nóng hừng hực. Ít ra cần giữ cây và thêm cây nếu không thì với những ngày hè trên 40 độ này nhiều hoạt động làm ăn sẽ không làm nổi….”
Trước những tâm tư trên của người từng gửi tâm thư lên lãnh đạo TP.Hà Nội về việc thay thế 6.700 cây xanh hồi năm 2015, PV báo Người Đưa Tin đã liên lạc qua điện thoại để lắng nghe ông chia sẻ.
Nhà báo Trần Đăng Tuấn cho biết: “Việc này là liên quan đến mở đường, tôi chưa có ý kiến phải đối hay ủng hộ nhưng tôi chỉ có ý kiến phải làm rõ các phương án là có bắt buộc chặt cây không? Nhưng có tình tiết là Hà Nội chưa quyết (chưa quyết chặt cây hay không – PV)”.
Cũng theo trả lời của ông Tuấn thì việc xét di chuyển, chặt hạ 1.300 cây xanh lần này khác với việc thay thế 6.700 cây là lần này làm vì mở đường. Ngoài ra, ông Tuấn cho biết chưa có ý kiến gì thêm ngoài những chia sẻ trên trang cá nhân.
Trước đó, vào năm 2015, Nhà báo Trần Đăng Tuấn khi đó cũng nêu ý kiến và gửi thư ngỏ đến ông Nguyễn Thế Thảo - Chủ tịch UBND TP.Hà Nội khi đó về vấn đề này. Sau khi thư ngỏ này được đăng trên facebook đã nhận được hàng ngàn ý kiến đồng tình ủng hộ. Và như đã biết, kế hoạch thay thế cây 6.700 cây xanh sau đó được dừng lại. (Người Đưa Tin 3/6) đầu trang(
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Phù Cát, hiện nay, trên địa bàn xã Cát Khánh có 1.201 ha đất có rừng, trong đó rừng sản xuất 902 ha, rừng phòng hộ 32 ha, rừng đặc dụng 267 ha; diện tích rừng có nguy cơ cháy cao khoảng hơn 1.000 ha, tập trung chủ yếu ở các thôn: Phú Dõng, Phú Long, Ngãi An và Chánh Lợi.
Diện tích rừng sản xuất và rừng phòng hộ ven biển được xác định có nguy cơ cháy cao, đặc biệt là rừng dương ven biển. Hầu hết rừng có nguy cơ cháy cao tập trung tại những khu vực đồi dốc, xa nguồn nước.
Do đó, bên cạnh việc kiện toàn ban chỉ huy, thành lập các tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), địa phương đã chuẩn bị phương tiện, dụng cụ sẵn sàng ứng phó khi xảy ra cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ); tổ chức tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Ông Trần Bá Ðăng, Phó Chủ tịch UBND xã Cát Khánh, cho biết: “Những năm qua, địa phương luôn xây dựng lịch và hướng dẫn cách đốt rẫy cho người dân. Người dân trước khi đốt rẫy phải làm đường ranh cản lửa, báo cho chính quyền biết để lực lượng PCCCR của xã trực tiếp giám sát, nhằm tránh tình trạng cháy lan vào rừng. Nhiều hộ đã cam kết đốt nương rẫy đúng quy định”.
Tuy nhiên, thực tế tại địa phương vẫn còn tình trạng một số người dân đốt rẫy không đúng quy định, bất cẩn khi sử dụng lửa trong rừng, nên công tác PCCCR cần được các ngành chức năng và chủ rừng tiếp tục chú trọng. Ðể chủ động PCCCR, Hạt Kiểm lâm huyện Phù Cát cũng đã cập nhật liên tục cấp dự báo cháy rừng, trên cơ sở đó, phối hợp với các ngành chức năng, địa phương, chủ rừng chủ động PCCCR. (Báo Bình Định 2/6) đầu trang(
Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đặc biệt là ở các khu vực giáp ranh, các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị chủ rừng, lực lượng kiểm lâm tập trung Tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng.
Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị chủ rừng, lực lượng kiểm lâm tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng và ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm nội dung Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đến toàn thể cán bộ công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan đơn vị.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020, tập trung bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; thực hiện lồng ghép các chương trình dự án đã được phê duyệt góp phần thúc đẩy công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên, Văn Chấn tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản tại khu vực giáp ranh khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu (thời gian tổ chức đầu tháng 6/2017).
Theo dõi, giám sát và kịp thời tham mưu xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương thiếu trách nhiệm để rừng bị phá, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép... xảy ra trên địa bàn quản lý. Phối hợp với Sở Tư pháp và các đơn vị liên quan rà soát lại quy định về xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân liên quan trong quản lý bảo vệ rừng để kịp thời điều chỉnh, bổ sung, thay thế cho phù hợp với tình hình thực tế, trong đó quy định cụ thể mức độ, hình thức xử lý kỷ luật, xử lý người đứng đầu...
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tổ chức quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh, xây dựng các phương án quản lý bảo vệ rừng và tổ chức triển khai thực đảm bảo thực hiện đúng các quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Tăng cường lực lượng Kiểm lâm về tuyến xã, các vùng trọng điểm còn nhiều rừng, các địa bàn giáp ranh; tổ chức tuần tra, kiểm soát để phát hiện kịp thời, ngăn chặn các hành vi vi phạm ngay từ cơ sở, tại các khu rừng nguyên sinh, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của các khu bảo tồn; các khu vực giáp ranh, địa bàn có diễn biến phức tạp về tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật, kiên quyết xử lý nghiêm các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng theo quy định.
Chỉ đạo Hạt Kiểm lâm các huyện, thị xã, thành phố và đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân các cấp, chỉ đạo chủ rừng, các lực lượng liên quan thực hiện quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, giám sát chặt chẽ việc để các phương tiện, công cụ, cơ giới vào rừng, tăng cường quản lý hoạt động của các cơ sở kinh doanh chế biến gỗ, các hộ gia đình sống gần rừng khai thác, xẻ gỗ làm nhà theo đúng quy định.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cương quyết đấu tranh, ngăn chặn các hành vi tiêu cực trong hoạt động thực thi công vụ, nhiệm vụ, làm trong sạch đội ngũ cán bộ nhất là trách nhiệm của kiểm lâm địa bàn; đồng thời thực hiện thường xuyên, quyết liệt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng.
Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục đôn đốc và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện trong quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học và khai thác khoáng sản trên địa bàn; kịp thời phát hiện, lập hồ sơ xử lý và cương quyết giải tỏa diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép, sử dụng sai mục đích để trồng lại rừng; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác...
Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan tiếp tục rà soát, theo dõi, kiểm tra đối với các dự án đầu tư liên quan đến rừng và đất lâm nghiệp để kịp thời đôn đốc hướng dẫn, hỗ trợ các dự án đầu tư thực hiện đúng tiến độ và thực hiệ có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng; kiên quyết xử lý, thu hồi dự án vi phạm, sai phạm nghiêm trọng gây thiệt hại tài nguyên rừng hoặc chủ đầu tư không hợp tác, phối hợp với cơ quan chức năng và chính quyền địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cân đối, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí vốn để thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững theo quy định.
Công an tỉnh chỉ đạo các Phòng nghiệp vụ và Công an các huyện, thị, thành phố chủ động phối hợp với lực lượng chức năng (Chủ rừng, Kiểm lâm, Quản lý thị trường...) tăng cường công tác kiểm tra, đấu tranh, triệt phá các đường dây, băng nhóm hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép; phối hợp các cơ quan đơn vị chức năng liên quan nghiên cứu các quy định hiện hành về xử lý đối với chủ rừng, chủ doanh nghiệp được nhà nước giao, cho thuê rừng nhưng thiếu trách nhiệm để rừng bị thiệt hại.
Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ thường xuyên để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được xác định trong các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan. Chỉ đạo chính quyền cấp xã nâng cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm về diện tích rừng được giao quản lý trên địa bàn.
Thường xuyên chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các văn bản liên quan đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng để nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư nhằm bảo vệ tốt diện tích rừng ở địa phương; Quản lý chặt chẽ tình trạng dân di cư tự do từ nơi khác đến địa phương, vận động người dân trở về nơi cũ, kiên quyết không để dân di cư tự do, các hộ gia đình ra ở riêng lợi dụng phá rừng xẻ gỗ làm nhà trái phép.
Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các huyện, thị, thành phố, các chủ rừng và các xã, phường, thị trấn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nơi nào để xảy ra phá rừng, hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép... mà không phát hiện, ngăn chặn kịp thời và không tìm ra đối tượng vi phạm thì người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền nơi đó chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trưởng các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; thủ trưởng các đơn vị chủ rừng khác có trách nhiệm quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng được giao, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các văn bản liên quan đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức, ý thức của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng dân cư sống gần rừng tích cực tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; thường xuyên kiểm tra đôn đốc các hộ dân, cộng đồng, tổ nhóm nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng thực hiện tốt các cam kết bảo vệ rừng.
Bố trí lực lượng bảo vệ rừng phối hợp với kiểm lâm địa bàn tổ chức tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi đốt nương làm rẫy, lấn chiếm rừng, khai thác, tàng trữ, vẫn chuyển lâm sản trái phép. Thủ trưởng các đơn vị, chủ rừng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh và trước pháp luật nếu để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép trên diện tích được giao quản lý. (Yenbai.gov.vn 4/6) đầu trang(
Thành phố Tam Điệp có 2 loại rừng chính là rừng phòng hộ và rừng sản xuất, cấp ủy, chính quyền, Hạt kiểm lâm Tam Điệp và các chủ rừng trên địa bàn tích cực, chủ động trong công tác phòng chống cháy rừng.
Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phòng chống cháy rừng, trong những năm qua, UBND thành phố Tam Điệp đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, đưa công tác bảo vệ rừng vào Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển KT- XH hàng năm, do đó, rừng được bảo vệ tại gốc, chất lượng tài nguyên rừng tăng lên.
Theo số liệu thống kê, thành phố Tam Điệp hiện có gần 2.400 ha rừng, bao gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất, tập trung ở các xã: Đông Sơn, Quang Sơn, Yên Sơn và Phường Nam Sơn. Đáng chú ý là khu rừng phòng hộ núi đá thuộc phường Nam Sơn và xã Quang Sơn nằm bao bọc xung quanh các kho của công ty vật liệu nổ Bắc Trung Bộ và kho vũ khí của 1 số đơn vị quân đội có mặt hàng có nguy cơ gây cháy nổ cao.
Trước tình hình nắng nóng như hiện nay, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chỉ đạo Ban Lâm nghiệp các địa phương phối hợp với Hạt Kiểm lâm Tam Điệp chủ động triển khai thực hiện phương án phòng chống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ.
Thành phố Tam Điệp đã xây dựng, củng cố, kiện toàn lực lượng và chuẩn bị phương tiện đảm bảo cho công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Đối với lực lượng tại chỗ gồm dân quân và nhân dân trên địa bàn các thôn, xã, phường có rừng. Trong đó, mỗi xã, phường thành lập 2 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng gồm 30 người; các xã, phường có rừng bố trí từ 700- 800 người, cùng dụng cụ cần thiết, sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống xảy ra. Ngoài ra, thành phố đã hiệp đồng với các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn để triển khai công tác phòng chống cháy rừng.
Tại các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao và những khu vực trọng điểm, khu vực có kho quân sự, dân sự; các địa phương kiên quyết không để phát sinh nguồn lửa; thường xuyên theo dõi thông tin cảnh báo cháy rừng để chủ động phòng ngừa; chủ động lắp đặt hệ thống biển báo cấm lửa và biển báo cấp cháy rừng để cảnh báo cho người dân biết; có phương án kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng trong thời kỳ cao điểm như hiện nay.
Vừa qua, Hạt Kiểm lâm Tam Điệp đã phối hợp tổ chức tập huấn về công tác phòng chống cháy rừng cho 55 người là thành viên Ban Lâm nghiệp các xã, phường, trưởng thôn, tổ có rừng và các chủ rừng. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phòng chống cháy rừng, lợi ích do rừng mang lại trong nhân dân.
Theo dự báo thời tiết, nắng nóng còn tiếp diễn trong những ngày tới, hiện nay, Hạt Kiểm lâm Tam Điệp đang phối hợp với các địa phương tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra các vùng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao; tuyên truyền, hướng dẫn người dân tuân thủ đúng các quy trình khi xử lý thực bì để đảm bảo an toàn trong công tác phòng chống cháy rừng. (Đài PTTH Ninh Bình 2/6) đầu trang(
Hai loài Dầu mít (Dipterocarpus. costatus) và Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) đang bị đe dọa ở Việt Nam và đều nằm trong Sách Đỏ Thế giới (Oldfield et al., 2003) và Việt Nam (BKHCN, 2007), cần được bảo vệ.
Hai loài Dầu mít và Dầu song nàng phân bố ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Dầu mít có vùng phân bố hẹp, chỉ gặp ở bốn khu vực: Vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước), vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát (Tây Ninh), rừng phòng hộ Tân Phú (Đồng Nai) và đảo Phú Quốc (Kiên Giang).
Trong khi đó, loài Dầu song nàng có vùng phân bố rộng hơn, bao gồm khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, rừng phòng hộ Tân Phú, vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước), Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh), khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu (Bà Rịa-Vũng Tàu) và một số tỉnh khác ở Tây Nguyên và đảo Phú Quốc.
Hai loài này đang bị đe dọa ở Việt Nam và đều nằm trong Sách Đỏ Thế giới (Oldfield et al., 2003) và Việt Nam (BKHCN, 2007) cần phải được bảo vệ.
Việc bảo tồn và quản lý một loài đòi hỏi các thông tin về sinh thái và đa dạng di truyền. Hiện nay, các tư liệu về sinh học sinh thái, đặc biệt mức độ đa dạng di truyền quần thể và loài của hai loài Dầu mít và Dầu song nàng còn thiếu. Trong hai năm 2015-2016, TS Nguyễn Minh Tâm -Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam - được giao thực hiện đề tài: “Bảo tồn nguồn gene của hai loài Dầu mít (Dipterocarpus. costatus) và Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) đang bị đe dọa tuyệt chủng ở Đông Nam Bộ”, mã số VAST.BVMT.01/15-16”.
Đề tài là một trong những nhiệm vụ Bảo vệ môi trường cấp Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam. Ngày 14/2/2017, đề tài được Hội đồng nghiệm thu cấp viện hàn lâm nghiệm thu, đánh giá đạt loại xuất sắc.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các nhà khoa học Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã đánh giá hiện trạng quần thể và loài trên cơ sở khảo sát thực địa để xác định hiện trạng phân bố, số lượng cá thể, cấu trúc quần thể; và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để đánh giá đa dạng di truyền ở cả hai mức độ cá thể và quần thể trên cơ sở phân tích 10 cặp mồi Microsatellite (SSR). Các cây trội và mức độ thụ phấn chéo ở cây trội đã được xác định để thu thập hạt giống đảm bảo chất lượng, cuối cùng nhân giống tại Vườn ươm Biên Hòa, góp phần bảo tồn hữu hiệu hai loài Dầu song nàng và Dầu mít ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ.
Một số kết quả chính đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ:
Đề tài đã xác định được hiện trạng hai loài Dầu mít (Dipterocarpus costatus) và Dầu song nàng (D. dyeri) ở rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Loài Dầu mít chỉ có 45 cá thể, phân bố ở hai Tiểu khu 88 và Tiểu khu 86 thuộc phân trường III. Loài dầu song nàng có số lượng khá lớn (khoảng 500 cá thể), phân bố ở bốn tiểu khu: Tiểu khu 82 (Phân trường I), Tiểu khu 86 (Phân trường III), Tiểu khu 91 (Phân trường IV) và Tiểu khu 80A (Phân trường V). Không có cây tái sinh được tìm thấy trong thời gian khảo sát thực địa.
Hoạt động của con người đã làm suy giảm kích thước quần thể và ảnh hưởng đến cấu trúc tuổi của loài Dầu mít ở rừng phòng hộ Tân Phú.
Loài Dầu mít duy trì mức độ đa dạng di truyền thấp. Sự suy giảm tính đa dạng di truyền loài Dầu mít ở rừng phòng hộ Tân Phú liên quan đến hoạt động của con người, đặc biệt số lượng cá thể bị suy giảm nghiêm trọng. Mức độ trao đổi gene giữa hai quần thể bị hạn chế.
Trong khi đó, loài Dầu song nàng duy trì tính đa dạng di truyền cao hơn. Loài Dầu song nàng ở rừng phòng hộ Tân Phú có số lượng cá thể khá lớn, khoảng 500 cá thể và phân bố thành bốn quần thể có khả năng trao đổi di truyền với nhau.
Nghiên cứu xác định được cấu trúc di truyền của hai loài Dầu mít và Dầu song nàng ở Tân Phú, xác định được hai quần thể Dầu mít có thể xuất hiện hiện tượng suy giảm kích thước quần thể; tìm được vị trí địa lý của 31 cây mẹ dự tuyển Dầu mít và 60 cây mẹ dự tuyển Dầu song nàng và xây dựng mối quan hệ di truyền giữa các cây mẹ dự tuyển cho mỗi loài; chọn được 20 cây mẹ tuyển chọn Dầu mít và 21 cây mẹ tuyển chọn Dầu song nàng trên cơ sở kết hợp cả hai tiêu chí đặc điểm hình thái và đặc điểm di truyền.
Đề tài cũng xác định được mức độ thụ phấn chéo phổ biến ở loài Dầu song nàng ở rừng phòng hộ Tân Phú; xây dựng được quy trình kỹ thuật nhân giống hai loài Dầu mít và Dầu song nàng tại Vườn ươm của Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa; đã nhân được 512 cây giống loài Dầu song nàng và 486 cây giống loài Dầu mít tại vườn ươm của Trung tâm và bàn giao cho Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa để tiếp tục chăm sóc và trồng rừng tại khu rừng cảnh quan của Trung tâm. Đây sẽ là quần thể mới cho hai loài Dầu mít và Dầu song nàng.
Để bảo tồn quần thể và loài của hai loài Dầu mít và Dầu song nàng, một số giải pháp bảo tồn nguyên vị và chuyển vị đã được đề cập. Các cây dầu thuộc hai loài Dầu mít và Dầu song nàng cũng như nơi sống của chúng cần phải được duy trì nguyên trạng. Việc bảo tồn chuyển vị cũng đã được tiến hành tại vườn ươm của Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa. Một quần thể mới cho mỗi loài với kích thước lớn (>200 cá thể) sẽ được thiết lập tại rừng cảnh quan 162 ha thuộc Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa. Với kích thước quần thể này, có thể hạn chế được mối quan hệ cận noãn trong quần thể. Đối với quần thể Dầu mít, cần bổ sung cây giống từ khu vực khác như vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát (Tây Ninh) và vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) để góp phần làm tăng tính đa dạng di truyền ở quần thể mới.
Các kết quả nghiên cứu trên cho phép áp dụng để bảo vệ hai loài dầu nghiên cứu và các loài dầu khác đang bị đe dọa ở Việt Nam. Đặc biệt là kết quả về di truyền đóng góp vào hiểu biết rõ hơn về chọn cây mẹ và nhân giống của loài dầu ở Việt Nam. Bên cạnh đó, đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý cập nhật thông tin về giá trị bảo tồn và nâng cao sự hiểu biết của người dân sống gần rừng về sự tuyệt chủng loài cần bảo vệ.
Bên cạnh các kết quả đạt được nêu trên, đề tài cũng đã công bố 2 bài báo Quốc tế (Genetics and Molecular Research, Journal of Forestry Research (danh mục SCI-E)) và 4 bài báo khoa học trong các tạp chí trong nước, trong đó có 2 bài đăng trên Tạp chí Sinh học, 1 bài đăng trên Tạp chí Công nghệ Sinh học và 1 bài trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đồng thời đề tài đã hướng dẫn bảo vệ thành công 2 thạc sỹ khoa học. (Khoa Học & Phát Triển 3/6) đầu trang(
Chiều 2/6, ông Trần Viết Phương-Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng cho biết lực lượng đã đi kiểm tra và nhận thấy tình trạng phá rừng tại Khe Đương (xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang) là có thật.
Ông Trần Viết Phương cho hay, tại hiện trường kiểm tra, lực lượng kiểm lâm phát hiện 12 gốc cây bị chặt hạ. Trong đó có 3 lóng gỗ tròn dài từ 4 – 9m, 3 gốc có đường kính 20 – 50cm thuộc nhóm gỗ 6,7,8, toàn bộ số gỗ này có dấu hiệu bị mối mọt. Số gỗ còn lại đã được chuyển ra khỏi hiện trường trước đó.
Đáng chú ý, trong số 12 gốc cây bị đốn hạ có 8 cây trong phạm vi rừng được UBND TP Đà Nẵng giao cho Công ty TNHH MTV Bông Sen Vàng quản lý, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh. Tuy nhiên đến ngày 21/4 vừa qua, UBND TP Đà Nẵng đã có quyết định thu hồi rừng giao cho Công ty Bông Sen Vàng tại khu vực này.
Thừa nhận với kiểm lâm Đà Nẵng, Công ty Bông Sen Vàng (khai thác vàng tại Khe Đương) cho biết trong lúc dọn dẹp mặt bằng làm lán trại, công nhân của công ty đã chặt hạ 4 cây rừng dù chưa được phép của cơ quan quản lý. 8 cây còn lại, phía Công ty Bông Sen Vàng cho rằng do các đối tượng khác thực hiện.
Trước đó khi có thông tin phản ánh của người dân xã Hòa Bắc về việc công nhân Công ty Bông Sen Vàng đưa máy móc vào phá rừng, bà Lê Thị Thu Hà – Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc khẳng định “chỉ là tin đồn”.
“Không có chuyện phá rừng đâu. Việc quản lý và bảo vệ rừng ở Hòa Bắc, chùng tôi luôn luôn có biện pháp để kiểm soát”, bà Hà nói.
Hiện, Chi cục kiểm lâm Đà Nẵng đang tiếp tục làm việc với Công ty TNHH MTV Bông Sen Vàng để làm rõ vụ việc, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (Giao Thông 3/6) đầu trang(
Những ngày nắng nóng đỉnh điểm này, trên địa bàn huyện Kỳ Sơn có nơi lên tới gần 40 độ, cũng lại đang mùa đốt rẫy, vì vậy nguy cơ xảy cháy rừng là rất cao.
Đến huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) vào thời điểm này không khó bắt gặp cảnh những đám cháy hay những mảnh rẫy còn bốc khói do đốt rừng làm rẫy. Những ngày đầu tháng 6, nắng nóng được cho là đỉnh điểm của năm 2017 với nền nhiệt ngoài trời trên 40 độ C, những đám cháy đó đang tiềm ẩn nguy cơ gây cháy rừng cao.
Thông tin từ ngành Kiểm lâm Kỳ Sơn cho hay, các xã biên giới như Nậm Càn, Mỹ Lý có trữ lượng rừng giàu và rừng trung bình nhiều nhất huyện thì lại là những nơi bà con vẫn phụ thuộc vào nguồn lương thực là lúa rẫy. Xã Na Ngoi có trên 19.000 ha, dân số trên 5.000 người. Ngoài một số thôn bản có ruộng nước, hầu hết các hoạt động trồng trọt đều có ít nhiều liên quan đến việc phát rừng, đốt nương làm rẫy.
Một cán bộ ủy ban xã Na Ngoi cho biết, hiện nhiều bản trong xã đã trồng lúa nước, tuy nhiên các thôn bản như Pù Quặc 1, Pù Quặc 2, Pù Quặc 3, Thăm Hón… hầu hết người dân vẫn trồng lúa rẫy.
Xã Nậm Càn có trên 90km2 diện tích tự nhiên, 7 bản người Mông, chỉ có rất ít ruộng nước nên hầu hết cư dân đều phụ thuộc vào nguồn lương thực từ lúa rẫy. Xã Mỹ Lý có 12 bản, chủ yếu là người Thái cũng là vùng sản xuất lúa rẫy.
Đó là những địa bàn xa xôi, các xã Tà Cạ, Tây Sơn khá gần trung tâm huyện nhưng hiện tượng đốt nương làm rẫy vẫn còn khá phổ biến. Trong buổi chiều ngày 01/06/2017 đi qua địa bàn giáp ranh giữa bản Hòa Sơn xã Tà Cạ và xã Tây Sơn chúng tôi đã ghi lại một số hình ảnh về hiện tượng phát nương làm rẫy trên địa bàn này. Những đám cháy do đốt rẫy xuất hiện lác đác từ ngọn núi phía đối diện tuyến đường từ xã Tà Cạ đi Tây Sơn nghi ngút khói.
Huyện Kỳ Sơn có 21 xã, thị trấn thì hầu hết các xã đều có người dân canh tác lúa rẫy. Hàng năm từ tháng 4 - 6 âm lịch là thời gian bà con phát nương làm rẫy. Đây cũng là thời điểm thường xuyên nắng nóng nhất trong năm, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Trong năm 2017, trên địa bàn huyện Kỳ Sơn chưa xảy ra vụ cháy rừng nào. Từ đầu năm cơ quan này cũng đã tổ chức được các cuộc tuyên truyền về phòng chống cháy rừng cho 4.000 lượt người dân. Hiện cũng nắng nóng cực điểm nên lực lượng này cũng đang tập trung cao độ, một lãnh đạo ngành Kiểm lâm Kỳ Sơn cho biết thêm.
Tuy nhiên, vào tháng 3/2016, địa bàn xã Na Ngoi (Kỳ Sơn) từng xảy ra vụ cháy rừng nghiêm trọng. Sau 5 ngày, ngọn lửa đã lan rộng hàng km mới được khống chế. Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn diện tích rừng thiệt hại trong vụ cháy là 11,5ha. Hiện nay vẫn chưa xác định được thủ phạm gây ra hỏa hoạn.
Huyện Kỳ Sơn có hơn 104.000 ha đất có rừng, trong số này có những địa bàn như Nậm Càn, Na Ngoi vẫn còn những khu rừng gỗ sa mộc quý hiếm. Có thể nói nguy cơ xảy ra cháy rừng trong mùa nắng nóng là hiện hữu, bởi vậy chính quyền và các ngành liên quan cần tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra để ngăn chặn, không để xảy ra các vụ cháy rừng từ đốt nương làm rẫy. (Báo Nghệ An 2/6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) ngày 1/6 đã có công văn gửi các cơ quan thông tấn báo chí và các hiệp hội doanh nghiệp liên quan tới những vướng mắc trong hoạt động xuất nhập khẩu gỗ...
Theo đó, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: Đối với mẫu vật (gỗ) tiền Công ước (xuất, nhập trước ngày Ban Thư ký CITES ban hành Thông báo số 2016/064 có hiệu lực) có hồ sơ xuất xứ, nguồn gốc hợp pháp (loài Trắc, Cẩm lai, loài Giáng hương) sẽ được Cơ quan quản lý CITES Việt Nam hướng dẫn, giải quyết theo quy định…
Trước đó, một số cơ quan báo chí và Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) phản ánh: Một số DN tại Hà Tĩnh đã nhập khẩu hợp pháp một lượng lớn gỗ trắc, cẩm lai, gỗ hương từ Lào về để xuất khẩu. Tuy nhiên theo Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 24 tháng 2 năm 2017 của Bộ NN-PTNT (ban hành danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES), các lô gỗ này sẽ phải có giấy phép CITES mới được XK, gây khó khăn cho DN…
Vấn đề này, Tổng cục Lâm nghiệp lý giải:
1. Việt Nam là thành viên CITES từ năm 1994. Từ đó đến nay, Việt Nam đã và đang thực hiện đầy đủ trách nhiệm thực thi các quy định của CITES trong kiểm soát buôn bán các loài động vật, thực vật có tên trong các Phụ lục CITES.
Thực hiện Thông báo số 2016/064 ngày 06/12/2016 của Ban Thư ký CITES về hiệu lực áp dụng Phụ lục CITES sửa đổi, Bộ NN-PTNT đã ban hành Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT. Tại Điều 1 của Thông tư này quy định rõ: “ban hành kèm theo Thông tư này Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES”.
Việc sửa đổi, bổ sung các Phụ lục CITES được thực hiện theo quy định tại Điều XV của Công ước CITES. Theo đó, năm 2013, loài Trắc (Dalbergia cochinchinensis) được bổ sung vào Phụ lục II thuộc đối được phép buôn bán quốc tế nhưng phải có giấy phép CITES do cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia thành viên cấp; năm 2016, các loài thuộc chi Cẩm lai Dalbergia, loài Giáng hương Tây phi (Pterocarpus erinaceus) và một số loài khác được bổ sung vào Phụ lục II. Như vậy, Thông tư 04/2017/TT-BNNPTNT không quy định trình tự, thủ tục cấp phép CITES mà chỉ nội luật hóa Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES.
2. Trước khi ban hành Thông tư 04 nêu trên, Bộ NN-PTNT đã chỉ đạo Cơ quan quản lý CITES Việt Nam có văn bản số 375/CTVN-ĐVHD, ngày 27/12/2016 gửi các tổ chức, cá nhân liên quan về áp dụng Phụ lục CITES và đã đăng tải trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Lâm nghiệp. Dự thảo Thông tư cũng đã được xin ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân ở trung ương và địa phương.
3. Tổng cục Lâm nghiệp thấy rằng, việc áp dụng các chính sách mới (Phụ lục CITES mới bổ sung, sửa đổi) sẽ có một số doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc áp dụng; Tổng cục Lâm nghiệp đang phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam, nắm bắt những phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp để thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật và Công ước CITES về giấy phép CITES.
Đối với mẫu vật (gỗ) tiền Công ước (xuất, nhập trước ngày Ban Thư ký CITES ban hành Thông báo số 2016/064 có hiệu lực) có hồ sơ xuất xứ, nguồn gốc hợp pháp (loài Trắc, Cẩm lai, loài Giáng hương) sẽ được Cơ quan quản lý CITES Việt Nam hướng dẫn, giải quyết theo quy định tại Điều 17 của Nghị định số 82/2006/NĐ-CP, ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
4. Tổng cục Lâm nghiệp luôn tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân kinh doanh gỗ hợp pháp; giao Cơ quan quản lý CITES Việt Nam làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân để giải đáp các thắc mắc liên quan. (Nông nghiệp Việt Nam 2/6) đầu trang(
1.6.2017, ngay sau khi Báo Lao Động đăng bài viết phản ánh tình trạng hàng ngàn m3 gỗ nhập khẩu bị ùn ứ nhiều năm tại miền Trung bởi “vướng” thông tư của Bộ NNPTNT, Bộ NNPTNT đã có văn bản số 808/TCLN-CTVN thông tin như sau:
Việt Nam là thành viên CITES (Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) từ năm 1994, từ đó đến nay, Việt Nam đã và đang thực hiện đầy đủ trách nhiệm thực thi các quy định của CITES trong kiểm soát buôn bán các loài động vật, thực vật có tên trong các Phụ lục CITES. Thực hiện Thông báo số 2016/064 ngày 6.12.2016 của Ban thư ký CITES về hiệu lực áp dụng Phụ lục CITES sửa đổi, Bộ NNPTNT đã ban hành Thông tư số 04/2017. Tại Điều 1 của Thông tư này quy định rõ “ban hành kèm theo Thông tư này Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES”.
Việc sửa đổi, bổ sung các Phụ lục CITES được thực hiện theo quy định tại Điều XV của Công ước CITES, theo đó năm 2013 loài trắc (Dalbergia cochinchinensis) được bổ sung vào Phụ lục II thuộc đối được phép buôn bán quốc tế nhưng phải có giấy phép CITES do cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia thành viên cấp; năm 2016, các loài thuộc chi cẩm lai (Dalbergia), loài Giáng hương Tây phi (Pterocarpus erinaceus) và một số loài khác được bổ sung vào Phụ lục II.
Như vậy, Thông tư 04/2017 không quy định trình tự, thủ tục cấp phép CITES mà chỉ nội luật hóa Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES. Theo ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, trước khi ban hành Thông tư trên, Bộ NNPTNT đã chỉ đạo Cơ quan quản lý CITES Việt Nam có văn bản số 375 ngày 27.12.2016 gửi các tổ chức, cá nhân liên quan về áp dụng Phụ lục CITES và đã đăng tải trên trang thông tin điện tử của Tổng cục lâm nghiệp. Dự thảo Thông tư cũng đã được xin ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân ở trung ương và địa phương.
Hiện Tổng cục Lâm nghiệp đang phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam để nắm bắt những phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp để thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật và Công ước CITES về giấy phép CITES. Đối với mẫu vật (gỗ) tiền Công ước (xuất, nhập trước ngày Ban thư ký CITES ban hành Thông báo số 2016/064 có hiệu lực) nguồn gốc hợp pháp (các loài trắc, cẩm lai, giáng hương Tây Phi) sẽ được Cơ quan quản lý CITES Việt Nam hướng dẫn, giải quyết theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10.8.2006 về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm... (Lao Động 3/6) đầu trang(
Mới đây, tại thôn Ba Bàu, xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận) Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm thực hiện nhiệm vụ trồng rừng, kết hợp tôn tạo Vườn cây lưu niệm “Đời đời nhớ ơn Bác” và khởi công trồng rừng năm 2017.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, ông Nguyễn Tiến Dũng, TGĐ Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận cho biết, đầu năm 1997, trước tình hình Chính phủ có chủ trương hạn chế khai thác gỗ từ rừng tự nhiên và xuất khẩu gỗ phải qua gia công chế biến. Từ đó, Cty đã đề ra chiến lược thực hiện dự án để đầu tư kinh doanh gỗ rừng trồng. Bắt đầu tư dự án trồng rừng tại huyện Hàm Thuận Nam – nơi chúng ta đang đứng và làm lễ kỷ niệm 20 năm trồng rừng.
Trải qua nhiều năm mày mò tìm kiếm, thử nghiệm nhiều loại cây trồng thích hợp; cải tạo đồng ruộng, khai hoang đất; vay vốn, tìm nguồn vốn, huy động vốn đầu tư…đến nay Cty đã cùng hợp tác với các đối tác đã trồng trên 8.000 ha, trong đó có khoảng 2.500 ha keo lai, 3.500 ha bạch đàn và khoảng 2.000 ha cao su. Nhờ đó, mỗi năm Cty đã đưa vào khai thác gỗ rừng trồng bình quân trên 500 ha, tại các huyện Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình.
Theo ông Dũng, nhìn lại 20 năm thực hiện nhiệm vụ trồng rừng, bên cạnh lợi ích về mặt kinh tế mang lại doanh thu cho Cty hàng năm từ 70- 80 tỷ đồng, còn đóng góp ngân sách nhà nước hàng năm trên 20 tỷ đồng, đồng thời mang lại lợi ích rất lớn cho môi trường và xã hội; cải thiện môi trường sinh thái trên nhiều vùng đất nghèo nàn, phủ xanh đất trống đồi trọc, điều hòa khí hậu, tích trữ điều hòa nguồn nước sông suối, chống sói mòn, góp phần tái tạo môi sinh phát triển nên những vùng đất trù phú hơn. Đặc biệt, việc trồng rừng còn góp phần tạo công việc làm hàng năm cho hàng ngàn lao động thời vụ tại địa phương; đóng góp hàng trăm triệu đồng cho các hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa trên các địa bàn hoạt động của Cty.
“Nhân kỷ niệm 20 năm thực hiện nhiệm vụ trồng rừng, Cty kết hợp tôn tạo Vườn cây lưu niệm “Đời đời nhớ ơn Bác”; công trình được Tỉnh ủy, HĐND và UBND Tỉnh tạo lập nhân kỷ niệm ngày sinh Bác 19/5/1999 tại nơi đây. Nhiều loài cây bản địa được siêu tập về đây tạo thành quần thể sinh thái, tô đậm thêm ý nghĩa cho khu lưu niệm Đời đời nhớ ơn Bác. Khu lưu niệm được tôn tạo trong năm 2015, đến nay tiếp tục thực hiện..." , ông Dũng nhấn mạnh.
Được biết, hiện nay Cty có trên 18.000 ha đất lâm nghiệp, trồng trên 10.000 ha rừng trồng, hàng năm trồng mới khai thác gần 1.000 ha. (Nông nghiệp Việt Nam 3/6) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có Quyết định số 374/QĐ-UBND thu hồi diện tích hơn 400 ha đất lâm nghiệp do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ không có nhu cầu sử dụng để giao cho địa phương quản lý và lập phương án đưa vào sử dụng.
Cụ thể, diện tích đất thu hồi trên được giao cho UBND các xã: Ba Trang (99,8 ha), Ba Khâm (151,9 ha), Ba Động (3,6 ha), Ba Thành (58,2 ha), Ba Điền (16 ha), Ba Vinh (11,2 ha) , Ba Cung 60,7 ha), huyện Ba Tơ quản lý và lập phương án giao đất cho nhân dân địa phương thiếu đất sản xuất.
Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉnh lý hồ sơ địa chính và các thủ tục đất đai theo quy định.
UBND huyện Ba Tơ chỉ đạo các phòng liên quan của huyện và UBND các xã nêu trên tiếp nhận và quản lý đối với diện tích đất thu hồi, không để người dân tiếp tục lấn chiếm, sử dụng đất trái quy định; đồng thời khẩn trương lập phương án giao đất cho nhân dân địa phương sản xuất, trình UBND huyện phê duyệt, làm cơ sở để tổ chức giao đất ngoài thực địa cho nhân dân sản xuất. (Tài Nguyên & Môi Trường 1/6) đầu trang(
Theo nghiên cứu của Đại học Michigan (Michigan State University, Urban Forestry), sự hiện diện của một cây ở gần nhà giúp giảm 30% lượng không khí ô nhiễm. Một cây trưởng thành hút mất 450 lít nước trong đất rồi lại trả về không khí dưới dạng hơi nước để làm mới không khí. Một cây phong có đường kính 30cm, trong một mùa nó có thể hút được lượng chất kim loại nặng trong đất như 60mg cadmium, 140 mg chrome, 820mg Nickel, và 5.200mg chì. Một cây trưởng thành có thể cung cấp lượng O2 cần thiết cho 4 người.
Vấn đề chặt cây xanh để phục vụ dự án phát triển đô thị thời gian qua thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Tại Hà Nội, để mở rộng đường Phạm Văn Đồng, thành phố sẽ đánh chuyển, chặt hạ 1.300 cây xanh, phần lớn là xà cừ lâu năm trong 3 tháng tới. Theo kế hoạch, đơn vị thi công sẽ chặt hạ hơn 1.000 cây, di chuyển 158 cây, cắt tỉa 142 cây. Trong số này có 986 cây xà cừ đường kính từ 0,4 m đến 1,2 m; còn lại là sấu, hoa sữa, phượng vĩ... điều này khiến nhiều người dân vô cùng tiếc nuối.
TTƯT.PGS.TS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý môi trường, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết: Sự phát triển của đô thị là tất yếu để phù hợp với nền kinh tế - xã hội. Nhưng làm sao để sự phát triển đô thị hài hòa với vấn đề bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết. Ở các nước trên thế giới, quy hoạch hạ tầng luôn tính đến quy hoạch cây xanh, chứ không có chuyện, cứ có dự án mới lại phá bỏ cây xanh. Ở nước ngoài, họ quy định riêng cho từng tuyến phố, từng đô thị về việc đường rộng, hẹp, xây hầm hay cao tốc một phần phụ thuộc vào quy hoạch cây xanh trước đó, họ vẫn giữ được bản sắc riêng vốn có của tự nhiên.
TTƯT.PGS.TS Nga chia sẻ: Khi triển khai xây dựng đô thị mới, chủ đầu tư phải đảm bảo quỹ đất cho cây xanh. Cây được trồng phải đúng chủng loại, đúng tiêu chuẩn theo quy hoạch. Khi cải tạo, nâng cấp đường đô thị hoặc các công trình có liên quan đến việc chặt hạ, dịch chuyển, trồng mới cây xanh, chủ đầu tư phải thông báo cho cơ quan quản lý cây xanh. Việc lựa chọn các hình thức bố trí cây, loại cây trồng trên đường phố phải phù hợp với từng loại đường phố, điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng.
TTƯT.PGS.TS Nga cho biết, cây xanh rất quan trọng, đặc biệt là ở thành phố. Nghiên cứu tại Singapore và Mỹ cho thấy thành phố có nhiều cây xanh có thể giảm nhiệt độ ngoài trời khoảng 4 độ C, giảm chi phí năng lượng khoảng 12%, giảm độ bụi 13%, tăng các giao dịch thương mại thêm 12% và giá trị đất đai 23%.
Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu cây xanh Canada (FCA), một cây khỏe mạnh có thể hấp thụ khoảng 2,5 kg CO2/ năm, một cây trưởng thành có thể hấp thụ từ 3.000 đến 7.000 hạt bụi/ m3 không khí. Một cây trưởng thành có thể cung cấp lượng O2 cần thiết cho 4 người.
Theo nghiên cứu của Đại học Michigan (Michigan State University, Urban Forestry), sự hiện diện của một cây ở gần nhà giúp giảm 30% lượng không khí ô nhiễm. Một cây trưởng thành hút mất 450 lít nước trong đất rồi lại trả về không khí dưới dạng hơi nước để làm mới không khí. Một cây phong có đường kính 30cm, trong một mùa nó có thể hút được lượng chất kim loại nặng trong đất như 60mg cadmium, 140 mg chrome, 820mg Nickel, và 5.200mg chì.
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa nóng lên và môi trường đô thị đang tạo thành những đảo nhiệt, thì cây xanh là sự cần thiết để cải thiện môi trường và chất lượng cuộc sống như: cây xanh làm giảm lượng khí CO2 và tẩy đi mọi chất dơ bẩn trong không khí như ngăn bụi, giảm tiềng ồn, cây giảm nhiệt bằng cách tạo bóng mát và chống gió bão. Ta có thể tiết kiệm chi phí điều hòa và sưởi ấm nhờ trồng cây xung quanh công trình xây dựng. Cây giúp chống xói mòn và giữ đất. Cây tạo nên phong cảnh, cung cấp nơi cư trú, thức ăn cho các loài chim và bảo vệ cư dân thành phố.
Ngoài ra, cây xanh còn có tác dụng giảm tiếng ồn, âm thanh phản xạ qua lại nhiều lần qua các tán cây sẽ giảm lượng âm thanh đáng kể. Vì vậy, thiết kế các lớp cây trồng xen kẽ cây bụi, cây thấp tầng và cây cao để giảm bớt âm thanh thành phố đến các công trình.
Vì vậy, việc thay thế, di chuyển hay chặt hạ cây xanh ở các dự án đều có nghiên cứu hiện trạng, vị trí các cây cổ thụ một cách nghiêm túc trước khi cân nhắc lựa chọn giải pháp thiết kế. Thiết nghĩ các nhà đầu tư hay cơ quan quản lý đưa ra nhiều phương án thiết kế để trưng cầu ý kiến của người dân, tạo sự đồng thuận trong dư luận…là việc hết sức cần thiết.
Trong trường hợp nếu phải xây dựng mở rộng thì cố gắng di dời tất cả cây xanh đến nơi phù hợp để "lá phổi" của thành phố được duy trì.
Thành phố cũng nên hướng dẫn và tổ chức cho các gia đình, căn hộ tự trồng cây xanh, trồng hoa, thậm chí hỗ trợ tài chính để các nhà trồng cây ở những nơi thiếu cây xanh. Nên tổ chức các lớp hướng dẫn trồng cây trong nhà, trong khuôn viên hẹp, nghiên cứu loại cây nào phù hợp cho căn hộ cho nhà trong phố, ban công, sân thượng. Thành phố nên tổ chức thi nhà có ban công trồng cây đẹp hoặc sân thượng trồng cây đẹp, TS Nga nhấn mạnh. (Sức Khỏe & Đời Sống 3/6) đầu trang(
Rào cản lớn đối với các hộ dân trồng rừng là việc yêu cầu người dân lập bảng dự kiến các sản phẩm trong hồ sơ khai thác để được cấp có thẩm quyền phê duyệt và làm căn cứ cho việc theo dõi, giám sát, xác nhận nguồn gốc lâm sản khi lưu thông.
Quy định này được thể hiện tại Thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT ngày 28/6/2016 Thông tư Quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của PV tại các tỉnh như: Hòa Bình, Quảng Ninh, Bình Định… cho thấy, những quy định của thông tư đang “vượt tầm” của các hộ trồng rừng. Bởi lẽ, phần lớn các hộ dân tham gia trồng rừng là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 54,58%) trình độ học vấn thấp. Vì vậy, họ không có đủ năng lực tự mình tìm hiểu và nắm rõ được đầy đủ các quy định, thủ tục trong các văn bản pháp luật.
Bên cạnh đó, gỗ rừng trồng được các hộ khai thác chủ yếu là gỗ nhỏ, mật độ trồng rừng cao (mật độ > 2000 cây/ha), địa hình rừng trồng lại bị chia cắt khiến việc xác định khối lượng khai thác rất khó khăn. Điều này đã khiến cho các hộ dân không tự thực hiện được việc đo đếm này và khi bắt buộc thực hiện thì họ chỉ có thể ước lượng một cách thiếu cơ sở tính toán cho trữ lượng mà phải kê khai vào bảng.
Trên thực tế, theo tìm hiểu của PV, năm 2011, Bộ NN- PTNT đã ban hành Thông tư 35/2011/TT – BNNPTNT, ngày 20/5/2011 hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Năm 2012, Bộ lại tiếp tục ban hành Thông tư 01/2012/TT – BNNPTNT ngày 04/01/2012 nhằm kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc gỗ, tạo thuận lợi khi lưu thông ra thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, khi áp dụng thực tế cho các hộ gia đình trồng và khai thác rừng đã bộc lộ nhiều bất cập. Trong đó, nổi cộm là việc lập bảng dự kiến sản phẩm phù hợp với năng lực thực hiện của hộ gia đình khiến người trồng rừng, khai thác gỗ gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về xin phép và kê khai sản lượng khai thác.
Tháng 6/2012 Bộ NN - PTNT lại tiếp tục ban hành Thông tư 21/2016/TT – BNNPTNT ngày 28/6/2016 thay thế Thông tư 35. Điểm mới của thông tư này là việc không yêu cầu lập bản dự kiến khai thác. Tuy nhiên, tại khoản b, mục 1 Điều 6 của Thông tư 21 về khai thác chính, tận dụng, tận thun có quy định rừng trồng “trước khi khai tác…chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng gửi bảng kê lâm sản đến ủy ban nhân dân cấp xã”. Điều này, được hiểu ngay cả khi không còn yêu cầu lập bản dự kiến khai thác, chủ rừng vẫn phải gửi bản kê lâm sản đến UBND xã trước khi khai thác. Vì vậy, vấn đề bảng kê vô hình chung vẫn không được giải quyết dứt điểm.
Bên cạnh đó, tại khoản b, mục 1, Điều 6, Thông tư 21 tiếp tục căn cứ vào trữ lượng gỗ báo cáo trước khai thác để làm cơ sở cho các cơ quan chức năng theo dõi, giám sát, xác nhận nguồn gốc lâm sản. Điều này theo chuyên gia lâm nghiệp Vũ Long là thiếu cơ sở, bởi lẽ, trữ lượng gỗ sau khai thác luôn có sự sai khác rất lớn so với con số dự kiến khai thác. Việc không kê khai bảng dự kiến sản phẩm sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy, trong đó, ảnh hưởng lớn nhất đó là việc làm chậm tiến trình tham gia Hiệp định thương mại song phương ký giữa EU với quốc gia đối tác xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, theo đó: Quốc gia đối tác cam kết chỉ xuất khẩu vào EU gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp… khi phải đáp ứng đầy đủ các quy định để xuất khẩu gỗ sang Châu Âu.
Ở một góc cạnh khác, theo bà Nguyễn Thị Bảy – Cty TNHH Hoàng Phát, với đặc thù bán hàng nội thất của các làng nghề (đơn cử như làng nghề Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Nội) mỗi ngày có thể bán tới hàng ngàn sản phẩm nhỏ lẻ, thời gian bán 24/24. Thế nhưng, theo quy định, tại thông tư, mỗi sản phẩm khi muốn bán đều phải xin xác định nguồn gốc xuất xứ của gỗ, điều đáng nói, gỗ được các hộ gia đình dùng để đóng hàng nội thất đều là gỗ nhập khẩu từ Châu âu có nguồn gốc và giấy tờ hợp pháp. Vậy câu hỏi đặt ra, mỗi khi bán sản phẩm các hộ dân đều phải chạy tới cơ quan kiểm lâm để xin giấy xác nhận liệu có bất cập? - bà Bảy đặt vấn đề.
Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Tân – Chuyên gia Trung tâm phát triển nông thôn bền vững cho rằng, cần phải có điều chỉnh các quy định. Trong đó, phải loại bỏ bảng kê lâm sản khỏi yêu cầu báo cáo trước khai thác và đưa bảng kê lâm sản sau khai thác làm cơ sở để theo dõi, giám sát trữ lượng gỗ được khia thác và thu thuế sử dụng đất. Ngoài ra cần phải tăng cường hơn nữa năng lực và nhận thức cho người dân về các yêu cầu cần được thực hiện khi tuân thủ các quy định của pháp luật. Đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người dân trong việc kiểm tra, giám sát giúp người dân thuận tiện trong việc thực thi các quy định của pháp luật. (Diễn Đàn DN 1/6) đầu trang(
Làm tốt công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), huyện Phong Thổ đã bảo vệ được diện tích rừng hiện có và tạo việc làm, tăng thu nhập cho bà con vùng có rừng để phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống tiến đến giảm nghèo bền vững.
Đưa chúng tôi đi thăm cánh rừng của xã, anh Nguyễn Ngọc Dương – cán bộ địa chính nông lâm nghiệp xã Bản Lang kể: “Trước đây, do nhận thức của bà con hạn chế nên trên địa bàn xã còn xảy ra tình trạng cháy rừng, cháy thảm cỏ, ảnh hưởng đến môi trường sống. Từ mùa khô năm 2013-2014 trở lại đây, tình trạng cháy rừng, cháy thảm cỏ không còn xảy ra. Có được kết quả đó, ngoài sự vào cuộc tích cực của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, vận động thì phải kể đến hiệu quả từ chính sách chi trả DVMTR”.
Đứng từ trên cao nhìn sang các ngọn núi bên cạnh, Bản Lang như một bức tranh sinh động được bao phủ bởi những cánh rừng xanh bạt ngàn và lác đác tô điểm bằng những ngôi nhà, vườn chuối, nương ngô. Diện tích rừng của xã phân bố đều ở các bản, nhiều nhất ở Thèn Thầu, Nà Đoong, Nà Giang, Sàng Giang, Hợp 1, 2 và Dao Chản. Năm 2016, xã có trên 1.500 hộ dân tham gia bảo vệ 5300,80ha rừng và được chi trả số tiền trên 1.600 triệu đồng. Từ số tiền này, bà con có thêm điều kiện phát triển kinh tế gia đình. Nói như chị Hà Thị Lả ở bản Hợp 2 thì số tiền chi trả DVMTR giúp gia đình chị mua nông cụ lao động, gà giống về nuôi. Không chỉ vậy, các thành viên trong gia đình chị cũng hiểu hơn về lợi ích của rừng trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn… từ đó nâng cao ý thức bảo vệ, gắn bó hơn với rừng.
Chính sách chi trả DVMTR được huyện Phong Thổ triển khai thực hiện từ năm 2012. Theo đó, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 1082/QĐ-UBND ngày 25/6/2012 về việc thành lập Ban Chỉ đạo bảo vệ, phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR huyện giai đoạn 2012-2020. Thành lập và duy trì hoạt động 180 tổ chuyên trách bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) ở các thôn, bản và tổ hợp tác xã DVMTR. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng, PCCCR cho lực lượng bảo vệ rừng ở cơ sở. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR cũng được các cấp, các ngành, chính quyền địa phương từ huyện đến xã, bản quan tâm. Từ năm 2012-2016, huyện tổ chức tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 834 buổi với 42.841 lượt người tham gia; cấp phát 850 tờ gấp tuyên truyền; xây dựng 23 biển tuyên truyền tại các khu dân cư.
Hằng năm, UBND huyện chỉ đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ phối hợp với các bên có liên quan, UBND các xã rà soát toàn bộ diện tích rừng, xây dựng phương án giao khoán cho cộng đồng dân cư thôn, bản quản lý bảo vệ. Trên cơ sở lựa chọn những người có uy tín, có ý thức trách nhiệm làm tổ trưởng; rà soát, sắp xếp lại các hộ nhận khoán hợp lý; thống nhất thực hiện nội dung hợp đồng giao khoán, phương thức thanh toán tiền công, phương pháp tuần tra bảo vệ rừng với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán. Bằng những việc làm thiết thực, công tác chi trả DVMTR được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo công bằng, khách quan, thu hút đông đảo Nhân dân tham gia. Nhận thức của bà con trong bảo vệ rừng được nâng cao.
Anh Nguyễn Thành Đô - Phó Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện cho biết: “Từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, nhận thức của Nhân dân trong bảo vệ, PCCCR trên địa bàn huyện chuyển biến rõ nét. Bà con tích cực tham gia trồng, bảo vệ, PCCCR trong mùa khô. Các hoạt động xâm phạm, phá hoại rừng, khai thác lâm sản trái phép, tình trạng cháy rừng, cháy thảm cỏ giảm rõ rệt, diện tích rừng cơ bản được bảo vệ tốt. Chất lượng rừng cũng như khả năng phòng hộ của rừng nâng cao, việc cân bằng môi trường sinh thái, giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống và sinh hoạt của Nhân dân được tăng cường”.
Không chỉ bảo vệ rừng mà chính sách chi trả DVMTR còn tạo việc làm cho lao động địa phương, giúp bà con có thêm nguồn lực (trung bình 1,3 triệu đồng/hộ/năm) đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đẩy lùi đói nghèo. Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chính sách chi trả DVMTR cũng là “đòn bẩy” hữu ích.
Điển hình có thể kể đến xã Sin Suối Hồ xây dựng được 4km đường giao thông tại các bản: Sin Súi Hồ, Sân Bay, Dền Sung với số tiền DVMTR đóng góp trên 500 triệu đồng. Thị trấn Phong Thổ xây dựng nhà văn hóa thôn Vàng Khon với số tiền đóng góp từ chi trả DVMTR trên 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, chính sách chi trả DVMTR còn góp phần tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và đã góp phần quan trọng thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống Nhân dân ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Sau 6 năm triển khai thực hiện, chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Phong Thổ đã thực sự mang lại nhiều lợi ích thiết thực cả về trước mắt và lâu dài đối với Nhân dân và bộ mặt nông thôn địa phương. (Báo Lai Châu 2/6) đầu trang(
Mặc dù Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) cùng các doanh nghiệp thành viên rất tích cực mở rộng thị trường, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại nhưng ngành gỗ của Bình Dương vẫn đang gặp không ít khó khăn. Điển hình là nguồn nguyên liệu và nhân lực.
Trong 5 tháng đầu năm 2017, BIFA đã có nhiều hoạt động quan trọng như tham dự cuộc họp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho ý kiến về Dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19- 12-2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Bên cạnh đó, BIFA đã tổ chức được 3 lớp đào tạo thuộc Dự án Score, gồm 1 lớp về chuyên đề hợp tác tại nơi làm việc và 2 lớp về chuyên đề an toàn vệ sinh lao động cho hơn 60 cán bộ, nhân viên của 13 DN gỗ trên địa bàn tỉnh...
Về xúc tiến thương mại, từ đầu năm đến nay BIFA đã tham gia nhiều hoạt động lớn, như tham gia hội chợ VIFA Home, hội chợ VIFA EXPO, hội thảo Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam - Nam Phi tổ chức tại Bình Dương… Đối với các hội viên của hiệp hội cũng có nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, điển hình như tham dự chương trình gặp mặt Egilat 11 tại Đà Nẵng, gặp gỡ đoàn thương mại Canada tại TP.Hồ Chí Minh… để tìm kiếm các cơ hội giao thương cho ngành gỗ.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch BIFA cho biết, Bình Dương là địa phương có ngành gỗ phát triển mạnh, đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam. Ngành gỗ cả nước nói chung và Bình Dương nói riêng còn rất nhiều cơ hội để tăng giá trị xuất khẩu, khi uy tín và chất lượng gỗ của các DN tỉnh nhà ngày càng tăng trên thị trường trong và ngoài nước.
Ông Lương Ngọc Kim, Giám đốc Công ty Gỗ Kim Thành A (TX.Thuận An) cho biết, từ quý 4-2016 đến nay nguồn nguyên liệu gỗ cho DN sản xuất rất khó khăn. Hiện nay, thương lái Trung Quốc đang tăng cường gom mua gỗ cao su ở nước ta, trong khi gỗ từ tập đoàn cao su thanh lý phải qua giá bán có thuế VAT và thực hiện theo cơ chế đấu thầu, cùng với đó thuế suất hiện tại của xuất khẩu gỗ cao su không đồng đều, tạo kẽ hở gian lận thương mại đã đẩy giá cao su từ 200 USD tăng lên 350 USD/ m3. Trong thời gian tới, việc khan hiếm gỗ nguyên liệu nếu không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy, đó là tình trạng thất nghiệp sẽ xảy ra trên diện rộng và kéo dài; các ngành công nghiệp phụ trợ, bảo hiểm xã hội... sẽ gặp khó khăn.
Đối với các DN sản xuất viên nén gỗ, hiện cũng đang gặp không ít khó khăn. Trước hết đến từ việc sức cạnh tranh không kiểm soát từ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ làm viên nén gỗ, vì các hộ này không có đăng ký kinh doanh, không có nghĩa vụ đối với thuế… nên vô hình chung đã đẩy giá thành của sản phẩm này xuống thấp. Bên cạnh đó, việc khan hiếm nguyên liệu của ngành gỗ cũng dẫn đến việc khan hiếm nguyên liệu sản suất viên nén gỗ. Tuy giá trị viên nén gỗ không cao nhưng nó đóng vai trò quan trọng cho các doanh nghiệp khác trong việc sử dụng nguồn viên nén này để sấy, đốt lò gỗ.
Lãnh đạo một DN gỗ ở TX.Tân Uyên chia sẻ, sau Tết Nguyên đán 2017, lực lượng lao động sớm trở lại làm việc ổn định, tuy nhiên vấn đề đáng lo hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực ngành gỗ hiện chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Hiện nay, hầu hết lao động trong ngành gỗ vẫn tự học nghề là chính, chưa có nhiều lớp hỗ trợ đào tạo nghề từ phía ngành chức năng để nâng cao được tay nghề cho người lao động. Vị này đề xuất, đối với tỉnh Bình Dương, cần thành lập một trường chuyên đào tạo về kỹ năng chế biến gỗ nhằm phục vụ nhu cầu cho các DN gỗ hiện nay.
Vừa qua, đại diện BIFA đã tham dự cuộc họp bàn về thương mại gỗ và sản phẩm gỗ theo đề nghị của các hiệp hội gỗ trong cả nước được tổ chức tại Hà Nội. Tại cuộc họp, đại biểu của các hiệp hội gỗ đã thống nhất kiến nghị cần tăng thuế xuất khẩu gỗ xẻ từ 10% hiện nay lên 20% đối với tất cả các quy cách gỗ, hoặc cấm xuất khẩu gỗ thô để giữ nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước.
Ông Huỳnh Quang Thanh cho rằng, Chính phủ cần đóng vai trò trung tâm cho việc lưu trữ nguồn nguyên liệu gỗ để cung cấp cho doanh nghiệp, thông qua nguồn nguyên liệu gỗ cao su thanh lý từ các tập đoàn cao su, công ty cao su; cùng với đó cần có những chính sách hỗ trợ để có thể liên kết được với các hộ trồng rừng với các nhà máy chế biến gỗ. Ông cũng đề nghị cơ quan chức năng cần làm chặt chẽ hơn trong việc chấp thuận cho những đơn vị nào có đủ tính chất để xuất khẩu gỗ, tránh việc xuất khẩu gỗ tràn lan, mất kiểm soát. (Báo Bình Dương 3/6) đầu trang(
Gần 50 doanh nghiệp (DN), cơ sở chế biến gỗ tại phường Long Bình, TP. Biên Hòa (Đồng Nai) đã kêu trời khi bị UBND TP. Biên Hòa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tréo ngoe ở đây, căn cứ mà chính quyền xử phạt lại… chọi nhau chan chát, khiến DN bị phạt không tâm phục, khẩu phục…
Từ ngày 2.3 đến ngày 28.4.2017, đoàn kiểm tra liên ngành phường Long Bình và TP. Biên Hòa đã tổ chức kiểm tra 51 DN, cơ sở chế biến sản phẩm từ gỗ tại tổ 24, 25 và 26, thuộc khu phố 8 trên địa bàn phường. Đây là làng chế biến gỗ sầm uất, hình thành hơn chục năm nay. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với 50/51 DN, cơ sở trên. Đồng thời, lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất với 45/51 DN, cơ sở.
Trong số đó, có 11/51 DN, cơ sở bị đoàn kiểm tra áp dụng hình thức “xử phạt bổ sung” là “đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh từ 6-9 tháng”… Đơn cử 3 cơ sở bị UBND TP. Biên Hòa ra quyết định xử phạt hành chính bằng tiền gồm: Hoàng Văn Khương (35 triệu đồng), Trịnh Phúc Diễn (39 triệu đồng) và Phạm Thị Lê Huyền (39 triệu đồng). Ngoài hình thức phạt tiền trên, các hộ trên còn bị “đình chỉ hoạt động sản xuất mộc gia dụng, các hoạt động sản xuất từ gỗ”...
Ông Hoàng Văn Khương bức xúc phản ánh: “Cơ sở chúng tôi sản xuất nhỏ, theo kiểu gia đình, 5-7 anh em biết nghề mộc xúm nhau làm nghề kiếm sống… Chúng tôi làm đã nhiều năm rồi, có cơ quan, cán bộ nhà nước nào tới hướng dẫn làm “bản kế hoạch bảo vệ môi trường”…? Bất ngờ, đoàn kiểm tra xuống kiểm tra và cho rằng, thiếu “bản kế hoạch bảo vệ môi trường”, vi phạm Nghị định 155… Thế là bị phạt; hơn thế, bị cấm hoạt động 9 tháng. Khổ quá, từ ngày bị cấm hoạt động, tôi phải đi làm thuê, anh em tản mát, nhiều đơn hàng trót nhận trước đây, không thể làm, phải bồi thường hàng chục triệu đồng…”.
Tương tự, ông Trịnh Phúc Diễn cũng cho biết, cơ sở của ông quy mô nhỏ, “bản thân tôi chẳng biết gì về “bản kế hoạch bảo vệ môi trường”, nên khi họ bảo vi phạm, tôi đành chịu, ký đại… Nhưng bị phạt hàng chục triệu đồng, lại còn bị đình chỉ hoạt động 9 tháng, tôi tức lắm. Thà cán bộ xuống tuyên truyền, chúng tôi biết mà không thực hiện, bị phạt là đúng. Đằng này, không tuyên truyền, chẳng hướng dẫn, đột ngột xuống kiểm tra bảo vi phạm, phạt… Như vậy là không công bằng”…
Bà Phạm Thị Lệ Huyền - đại diện DN tư nhân Đại Trường Thịnh - cho biết: “DN tôi bị phạt 60 triệu đồng, kèm theo máy móc bị niêm phong và bị đình chỉ sản xuất 6 tháng, vì “không có bản bảo vệ môi trường” - vi phạm điểm d, khoản 2, Điều 11, chương II, Nghị định số 155/2016, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Thật kỳ lạ, Nghị định 155 có hiệu lực từ ngày 1.2.2017. Đây là nghị định rất mới, DN chưa được tuyên truyền, phổ biến, thậm chí không biết…
Hơn nữa, chưa cơ quan nhà nước nào xuống hay mời, để hướng dẫn DN thực hiện “bản kế hoạch bảo vệ môi trường”. Chúng tôi chưa biết cái “bản kế hoạch bảo vệ môi trường” gồm nội dung gì nữa thì làm sao thực hiện? Lẽ ra, các DN, cơ sở phải được chính quyền, cơ quan chức năng hướng dẫn xây dựng “bản kế hoạch bảo vệ môi trường”, đơn vị nào sau đó không thực hiện, mới xử phạt chứ.
Ở đây, DN không hay biết. Nghị định 155 có hiệu lực tháng 2, thì tháng 3 xuống kiểm tra, quy kết vi phạm, phạt, đình chỉ… Làm vậy khác nào “đánh úp” DN ?”.
Theo luật sư Nguyễn Văn Quynh - Trưởng Văn phòng luật sư Hãng Hưng Yên: “Việc UBND TP. Biên Hòa đình chỉ hoạt động các DN, cơ sở gỗ dựa trên điểm b, khoản 6, Điều 11, Nghị định 155 là trái với quy định của khoản 2, Điều 25, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Theo đó, luật chỉ quy định đình chỉnh hoạt động của tổ chức, cá nhân có thời hạn, khi hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội.
Ở đây, các DN, cơ sở chưa có “bản kế hoạch bảo vệ môi trường”, thì không thể nào gây ra hậu quả nghiêm trọng tới môi trường… Chỉ hành vi xả thải, không xử lý chất thải mới gây ra hậu quả trên. Do đó, việc Nghị định 155 - văn bản dưới luật - quy định đình chỉ hoạt động của DN, là trái với Điều 25 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012”.
Trong khi đó, ông Nguyễn Tấn Long - Phó Chủ tịch UBND TP. Biên Hòa - xác nhận: “Hầu hết các cơ sở đã kiểm tra đều hoạt động với quy mô hộ kinh doanh. Theo quy định tại Nghị định 155 của Chính phủ thì các cơ sở này không bị áp dụng đình chỉ hoạt động với hình thức niêm phong, nên vẫn tiếp tục hoạt động và có khả năng gây ô nhiễm môi trường” (?). Nhưng trên thực tế, các hộ Hoàng Văn Khương, Trịnh Phúc Diễn, Phạm Thị Lệ Huyền… vẫn bị đình chỉ hoạt động.
Mặt khác, tại sao cơ quan chức năng chưa hề xuống hướng dẫn các cơ sở thực hiện “bản kế hoạch bảo vệ môi trường” đã xuống kiểm tra, xử phạt theo Nghị định 155; trong khi Nghị định 155 mới có hiệu lực… 1 tháng? Tất cả những câu hỏi này, ông Long không trả lời thỏa đáng, càng khiến nhiều DN, cơ sở chế biến gỗ phường Long Bình không tâm phục, khẩu phục…
Cách đây không lâu, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 đã khẳng định DN tư nhân nhỏ và vừa là thành phần kinh tế hết sức quan trọng của đất nước. Thế nhưng ở đây, việc đối xử với hàng chục DN, cơ sở gỗ như thế này của chính quyền TP. Biên Hòa cho thấy chưa hợp tình, hợp lý. (Lao Động 5/6) đầu trang(
Hiện nay, các doanh nghiệp chế biến gỗ luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã, đặc tính sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh về giá cả. Đặc biệt, để có thể đối phó với những thách thức khốc liệt và nắm bắt được các cơ hội để tồn tại, hơn lúc nào hết doanh nghiệp chế biến gỗ phải chú trọng đẩy nhanh xây dựng và áp dụng mô hình kế toán quản trị để phục vụ quản lý kinh doanh một cách tốt nhất.
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á. Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực.
Dự tính hiện có khoảng 3.500 doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ, 340 làng nghề gỗ và số lượng lớn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ chưa được thống kê đầy đủ. Trong đó, 5% số DN thuộc sở hữu nhà nước, 95% còn lại là thuộc khu vực tư nhân (bao gồm cả 16% có vốn đầu tư nước ngoài).
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì các DN chế biến gỗ có quy mô đa phần là nhỏ. Khảo sát thực tiễn tại các DN chế biến gỗ trên địa bàn TP. Nam Định cũng có thể thấy, các DN mới chủ yếu áp dụng các chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết định để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính, đối tượng phục vụ là các đối tượng bên trong và bên ngoài DN, chưa chú trọng đến công tác lập báo cáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà quản lý.
Tình hình đó yêu cầu các DN chế biến gỗ trên địa bàn TP. Nam Định cần đẩy nhanh tiến trình xây dựng và áp dụng mô hình kế toán quản trị để phục vụ quản lý kinh doanh một cách tốt nhất. Việc xây dựng mô hình kế toán quản trị ở các DN chế biến gỗ trên địa bàn TP. Nam Định cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, DN chế biến gỗ cần xây dựng và áp dụng mô hình kế toán quản trị phù hợp, có hiệu quả; Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, chi tiết các thông tin, thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, đơn giá, dự toán để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành cũng như ra các quyết định kinh doanh; Cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin theo yêu cầu quản lý về chi phí của từng công việc, từng bộ phận, dự án, sản phẩm… và xác lập các nguyên tắc, phương pháp phù hợp để đảm bảo được tính so sánh giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng như giữa các thời kỳ, giữa số kế hoạch và số thực tế.
Hiện có 2 mô hình kế toán quản trị (mô hình kế toán quản trị kết hợp với kế toán tài chính và mô hình kế toán quản trị tách biệt với kế toán tài chính).
Theo mô hình tổ chức công tác kế toán riêng biệt: Bộ phận kế toán tài chính thực hiện thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ chủ yếu cho việc lập, trình bày báo cáo tài chính của DN. Bộ phận kế toán quản trị thu thập, xử lý, phân tích các thông tin kế toán tài chính phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ DN.
Tuy nhiên, khi tổ chức bộ máy kế toán, DN phải tách ra hai bộ phận riêng biệt, do vậy mô hình này có rất nhiều hạn chế như: Tổ chức nhiều nội dung có sự trùng lặp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, bộ máy kế toán cồng kềnh, hiệu quả không cao, không phát huy được vai trò của từng bộ phận kế toán và trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật tính toán và hệ thống thông tin hiện đại. Do vậy, mô hình này không phù hợp với các DN sản xuất.
Theo mô hình tổ chức công tác kế toán kết hợp: Khi tổ chức bộ máy kế toán không cần phải tách ra thành 2 bộ phận kế toán tài chính và kế toán quản trị riêng biệt. Mỗi bộ phận kế toán đều có nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin đến từng đối tượng kế toán cụ thể có liên quan, vừa phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính vừa phục vụ cho việc lập các báo cáo quản trị.
Do vậy, trong mỗi bộ phận đồng thời phải tiến hành kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp. Tuy nhiên, DN chế biến gỗ vẫn cần phải bố trí một bộ phận riêng để thực hiện nhiệm vụ thu thập, phân tích thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán sản xuất kinh doanh và ra quyết định kinh doanh.
Thứ hai, cần xác lập nội dung công tác kế toán quản trị trong DN chế biến gỗ cho phù hợp với yêu cầu quản lý và mô hình kế toán quản trị.
Theo đó, nhà quản trị DN cần căn cứ vào quy mô và đặc điểm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, trình độ, khả năng của đội ngũ cán bộ kế toán; thực tế trang thiết bị kỹ thuật, yêu cầu quản trị DN đặt ra đối với kế toán quản trị để có thể lựa chọn và thiết kế các mẫu chứng từ sao cho phù hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở các bộ phận trong DN.
Mẫu chứng từ kế toán phục vụ cho kế toán quản trị phải hợp lý, phù hợp và phải phản ánh được đầy đủ các chỉ tiêu, số liệu, ngày lập, nội dung kinh tế của các nghiệp vụ…theo yêu cầu quản trị của DN.
Bên cạnh đó, DN chế biến gỗ cũng cần quy định rõ trách nhiệm của các bộ phận quản lý trong việc kiểm tra nội dung từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh trên chứng từ, để từ đó đưa ra các biện pháp xử lý, truy cứu trách nhiệm của từng đối tượng nếu có sai sót nghiêm trọng.
Trong phòng kế toán, phải quy định rõ trách nhiệm đối với từng nhân viên, từng bộ phận trong việc kiểm tra chứng từ trước khi ghi chép vào sổ hoặc nhập dữ liệu vào máy.
Thứ ba, về tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán trong kế toán quản trị: Tùy theo yêu cầu cụ thể trong từng DN chế biến gỗ mà thiết kế, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán quản trị theo yêu cầu.
DN chế biến gỗ có thể mở các tài khoản kế toán chi tiết theo các cấp trong từng DN vụ kinh tế phát sinh như khi tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo từng công việc, từng sản phẩm, từng bộ phận sản xuất, cũng như khi bán hàng và xác định kết quả kinh doanh theo từng địa điểm, từng nhóm mặt hàng, kế toán hàng tồn kho theo từng loại nguyên vật liệu, sản phẩm, thành phẩm.
Để phục vụ yêu cầu quản lý riêng DN chế biến gỗ có thể thiết kế xây dựng sổ kế toán mới như phiếu tính giá thành theo từng công việc, sổ chi tiết bán hàng cho từng khách hàng.
Thứ tư, hệ thống báo cáo kế toán quản trị cần xây dựng phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin quản lý nội bộ, đảm bảo tính chất có thể so sánh. Báo cáo quản trị phải vừa trình bày được các thông tin thực hiện vừa phải trình bày các thông tin dự toán tương ứng để đảm bảo so sánh những kết quả thực tế so với dự toán.
Thứ năm, tăng cường khả năng phân tích của kế toán quản trị, trước hết là phân tích mối quan hệ Chi phí – Doanh thu – Lợi nhuận. Mô hình kế toán quản trị cho phép chi tiết từng thành từng phần cụ thể như: Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm, kế toán quản trị bán hàng và xác định kết quả bán hàng, kế toán quản trị về tài sản cố định, hàng tồn kho, tiền lương công nợ… Phân tích các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định và phân tích mối quan hệ giữa doanh thu – chi phí – lợi nhuận.
Mọi biện pháp mà nhà quản lý đưa ra áp dụng nhằm mục đích không ngừng gia tăng lợi nhuận cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Muốn vậy, phải tăng doanh thu thuần, giảm chi phí, trước hết là chi phí biến đổi: Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi phí biến đổi – Tổng chi phí cố định
Giả sử tổng chi phí cố định không thay đổi thì lợi nhuận sẽ tùy thuộc vào doanh thu và chi phí biến đổi chênh lệch này được gọi là lãi giới hạn (lợi nhuận giới hạn): Lợi nhuận giới hạn = Doanh thu – Tổng số chi phí biến đổi
Tỷ suất lợi nhuận giới hạn trên doanh thu = (Lợi nhuận giới hạn/ Doanh thu thuần) * 100
Từ kết quả trên, ta có: Lợi nhuận giới hạn – Chi phí cố định > 0 có lãi ; =0 hòa vốn ; <0 lỗ vốn.
Tóm lại, kế toán quản trị là một bộ phận kế toán cấu thành có vai trò quan trọng là cung cấp thông tin về kế toán tài chính cho lãnh đạo DN và các nhà quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy các DN chế biến gỗ trên địa bàn TP. Nam Định cần khẩn trương xây dựng và áp dụng mô hình kế toán quản trị để phục vụ quản lý kinh doanh một cách tốt nhất. (Tạp Chí Tài Chính 4/6) đầu trang(
Báo cáo của Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, trên địa bàn Hà Nội có hơn 4.000 cây xà cừ, trong đó đa phần các cây đã già cỗi.
Cây xà cừ mang yếu tố lịch sử vì được trồng chủ yếu từ thời Pháp trên nhiều tuyến phố, gắn bó với ký ức của nhiều người dân Hà Nội. Tuy nhiên, theo đánh giá, không gian trên đường phố của Hà Nội không đủ cho bộ rễ cây xà cừ phát triển.
Đặc trưng của Hà Nội là không gian vỉa hè quá hẹp, nhà cửa san sát ngay cạnh cây xanh, nhiều công trình ngầm, trong khi tán cây nặng, gốc rễ lại quá lớn, nên rễ ăn ngang, mất cân đối, dễ đổ ngã khi mưa bão.
Theo thống kê của Công ty TNHH MTV công viên cây xanh Hà Nội, từ năm 2014 - 2016 đã có 132 cây xà cừ bị đổ gãy trong mùa mưa bão, chiếm tỷ lệ lớn trong số các cây bị đổ gãy của Hà Nội.
Sở Xây dựng Hà Nội cho rằng việc thay thế cây xà cừ, đặc biệt các cây già cỗi, sâu mục là cần thiết và cần được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, theo sở này, việc di chuyển cây xà cừ lớn về vườn ươm chăm sóc không hiệu quả, quá trình di chuyển cần đến máy móc siêu trường, siêu trọng tốn kém, việc trồng lại trên các tuyến đường khác là không được do không thuộc danh sách cây đô thị trồng mới…
Nếu chặt hạ chỉ tốn 14,4 triệu đồng/cây thì dịch chuyển tốn 25,4 triệu đồng/cây.
Sở Xây dựng đề nghị phối hợp các nhà khoa học, các viện, trường nghiên cứu đầy đủ về cây xà cừ để tham mưu TP đánh giá về hiện trạng, xây dựng phương án thay thế cây. Trước mắt sẽ chặt những cây xà cừ quá lớn, nguy hiểm, sâu mục, cong nghiêng… và trồng thay thế bằng các cây đô thị phù hợp.
Với các dự án bắt buộc xử lý thì tiến hành chặt hạ những cây có đường kính lớn hơn 50 cm. Về lâu dài, sẽ thay thế bằng hệ thống cây xanh có chủng loại phù hợp hơn, có phương án, lộ trình hợp lý, rõ ràng. (Thanh Niên 3/6) đầu trang(
Việc loại bỏ nguyên liệu gỗ bất hợp pháp trong sản xuất có thể ảnh hưởng tới một số làng nghề và doanh nghiệp sản xuất gỗ có nguồn gốc quý hiếm, nhưng lợi ích lớn hơn từ yêu cầu này buộc ngành gỗ phải đặt ra bài toán chuyển đổi.
Tại Hội thảo “Ngành gỗ Việt Nam nói không với gỗ bất hợp pháp” do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam(VIFORES) phối hợp với Tổ chức Forest Trends (Tổ chức thương mại Lâm sản của Hoa Kỳ) tổ chức mới đây, ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch, Tổng thư ký VIFORES cho biết, ngày 11/5, Chính phủ Việt Nam và EU đã hoàn thành việc đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyên (VPA) trong khuôn khổ của Chương trình Thực thi Luật Lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT) do EU khởi xướng.
Mục đích của Hiệp định VPA là đảm bảo gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU và bán tại thị trường nội địa đều phải có nguồn gốc hợp pháp. Điều này có nghĩa, các nguồn gỗ nguyên liệu có rủi ro cao sẽ khó có khả năng đáp ứng được các yêu cầu mới trong bối cảnh VPA được áp dụng và sẽ bị loại khỏi chuỗi cung cấp.
Cùng với Hoa Kỳ, EU là một trong 2 thị trường xuất khẩu gỗ chính của Việt Nam. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ vào 2 thị trường này chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Trong đó, xuất khẩu gỗ vào EU đạt 720,5 triệu USD, gần tương đương mức 732,1 triệu USD năm 2015. Trong 3 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu sang thị trương này đạt gần 221 triệu USD.
Trên thực tế, trước VPA, từ năm 2013, EU đã áp dụng quy chế gỗ EUTR. Theo đó, các công ty nhập khẩu/sản xuất các mặt hàng gỗ bán tại EU phải thể hiện trách nhiệm giải trình nhằm loại bỏ gỗ bất hợp pháp ra khỏi thị trường. Vì vậy, VPA được cho là sẽ không tác động nhiều đến tình hình xuất khẩu gỗ sang EU.
Tuy nhiên, theo ông Quyền, yêu cầu sử dụng gỗ hợp pháp không hẳn đến hoàn toàn từ VPA, mà còn đến từ những lợi ích quốc gia và từ mối quan hệ thương mại với các quốc gia cung cấp gỗ nguyên liệu cho Việt Nam và các quốc gia tiêu thụ các mặt hàng gỗ của Việt Nam.
“Do đó, việc loại bỏ nguồn cung gỗ nguyên liệu có rủi ro cao sẽ khiến hình ảnh và thương hiệu của các doanh nghiệp gỗ Việt cạnh tranh hơn trên trường quốc tế”, ông Quyền nói và cho rằng, yêu cầu loại bỏ nguồn gỗ nguyên liệu rủi ro cao sẽ tác động đến một bộ phận các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu gỗ nguyên liệu, các doanh nghiệp chế biến sản phẩm từ nguồn gỗ này và nhiều hộ gia đình tại các làng nghề.
Theo thống kê của VIFORES, mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu trên 4 triệu m3 gỗ nguyên liệu. Lượng gỗ nhập khẩu từ các nguồn “sạch” là trên 2 triệu m3, còn lại là từ các nguồn khác, bao gồm cả nguồn có rủi ro cao về tính hợp pháp như từ các khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông và một số quốc gia khu vực châu Phi.
Bài toán chuyển đổi đã được ngành gỗ chú ý tới. Tại hội thảo nêu trên, VIFORES đã cùng Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA BINH DINH) và Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA) ký biên bản và ra tuyên bố chung về việc “nói không với gỗ bất hợp pháp”.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch HAWA khẳng định, Hội sẽ có những biện pháp để ngăn chặn doanh nghiệp sản xuất gỗ lậu tham gia các hội chợ mà Hội tổ chức. Các doanh nghiệp sẽ phải giải trình nguồn gốc gỗ sản xuất sản phẩm phục vụ ngay thị trường nội địa, chứ không chỉ là hàng xuất khẩu.
Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Vũ Quốc Vương, Chủ tịch Hội Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ cho biết: “Việc loại bỏ gỗ bất hợp pháp theo tuyên bố chung đồng nghĩa với việc chúng tôi sẽ không được sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm gỗ liên quan tới gỗ quý hiếm trên thị trường. Trong khi đó, phần lớn thị phần xuất khẩu gỗ quý hiếm đang được xuất khẩu sang Trung Quốc. Bài toán lợi nhuận đang tạo ra rào cản lớn cho việc chuyển đổi”.
Theo ông Vương, các doanh nghiệp tại Đồng Kỵ đang lên kế hoạch thành lập cụm công nghiệp mới trên diện tích 50 ha quy tụ những doanh nghiệp có cam kết sử dụng gỗ hợp pháp. Những thị trường mới được thay thế đang được tìm hiểu gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và Đức. “Khó khăn lớn nhất của chúng tôi là chuyển đổi mô hình từ kinh doanh hộ gia đình sang doanh nghiệp, bởi nếu vẫn sản xuất theo mô hình hộ gia đình, thì việc sử dụng gỗ trôi nổi là điều không thể tránh khỏi”, ông Vương nói.
Trên thực tế, việc giải bài toán về gỗ hợp pháp tại các làng nghề không phải là chưa có trên thực tế. Một ví dụ điển hình được ông Quyền nhắc tới là mô hình liên kết giữa Công ty Tavico (Đồng Nai) và một số hộ gia đình thuộc làng nghề gỗ tại Hố Nai. Theo đó, Tavico chịu trách nhiệm đào tạo, nâng cao tay nghề cho các hộ; phối hợp với các hộ nâng cao chất lượng sản phẩm; cung cấp nơi trưng bày sản phẩm; phát triển kênh phân phối sản phẩm… Đổi lại, Tavico được cung ứng gỗ nguyên liệu sạch đầu vào cho các hộ làng nghề.
Mặc dù vậy, ông Quyền cho rằng, giải pháp cho việc “nói không với gỗ bất hợp pháp” không chỉ đến từ các doanh nghiệp sản xuất, mà phải đến từ cả doanh nghiệp thương mại, xuất khẩu và các doanh nghiệp trồng rừng. Cùng với đó, các bộ, ngành liên quan phải có thông tư thống nhất về gỗ hợp pháp, xây dựng quy trình thu mua nguyên liệu cụ thể, đánh giá đối tác thu mua nguyên liệu, tránh việc trộn lẫn gỗ bất hợp pháp và hợp pháp. (Đầu Tư 4/6) đầu trang(
Đến nay, sau 2 năm thực hiện chương trình Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam, đã có 9 tổ hợp tác, hợp tác xã với 159 thành viên được hưởng lợi với 5 chuỗi sản phẩm gồm: Gỗ keo, gỗ mỡ, quế, hồi và chè được hình thành. Thu nhập bình quân của các Tổ hợp tác tăng từ 3 – 12%.
Đó là chia sẻ của ông Nguyễn Xuân Định (ảnh) – Trưởng ban Hợp tác quốc tế Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (NDVN), Giám đốc chương trình FFF Việt Nam - với Báo NTNN.
Ông Nguyễn Xuân Định cho biết, chương trình FFF do Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) tài trợ, hướng tới cải thiện sinh kế cũng như giúp những nông dân sản xuất nhỏ, cộng đồng, phụ nữ, các tổ chức bản địa có tiếng nói, tham gia quyết định đối với quang cảnh rừng và trang trại. Tại Việt Nam, FFF chọn Hội NDVN là đối tác phối hợp thực hiện ở 2 tỉnh Yên Bái và Bắc Kạn.
Ngay sau khi được FFF lựa chọn là đối tác chính thực hiện chương trình FFF tại Việt Nam, Hội NDVN đã có cuộc khảo sát, điều tra thực tế của các hộ sản xuất rừng và trang trại tại 2 tỉnh Yên Bái, Bắc Kạn vào tháng 3.2015. Qua khảo sát, chúng tôi thấy, hầu hết các tổ chức sản xuất rừng và trang trại (người dân, tổ hợp tác - THT, hợp tác xã - HTX) đều ở giai đoạn sơ khai về tổ chức. Tức là, họ chủ yếu hoạt động thông qua hình thức đổi công, chưa cùng nhau kinh doanh và trình độ, kỹ năng quản lý nhóm còn hạn chế. Sản xuất và bán sản phẩm đơn lẻ, không có kế hoạch sản xuất cũng như thông tin thị trường…
Từ thực trạng trên, Ban Quản lý FFF tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện chương trình FFF Việt Nam với 3 hợp phần: Nâng cao năng lực cho các tổ chức sản xuất rừng và trang trại; tổ chức các diễn đàn với chính quyền và các bên liên quan để giải quyết những khó khăn; đưa tiếng nói của người sản xuất nhỏ tới các diễn đàn quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Có thể thấy, đối tượng chính của chương trình FFF là những người nông dân sản xuất rừng và trang trại. Chương trình FFF được thực hiện tại Việt Nam nhằm giúp hộ gia đình sản xuất rừng và trang trại, đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện sinh kế và thu nhập; phát triển trang trại và quản lý rừng bền vững. Ban Quản lý Chương trình FFF Việt Nam đã hỗ trợ các hộ tham gia các lớp tập huấn nâng cao năng lực phân tích thị trường; phát triển tổ nhóm; kỹ năng kinh doanh, quản lý tài chính, kỹ năng vận động chính sách và tổ chức các chuyến tham quan học tập kinh nghiệm.
Bên cạnh đó, Ban Quản lý còn phối hợp các chuyên gia, nhà khoa học tổ chức tập huấn phổ biến kinh nghiệm về sản xuất, chế biến và kết nối với các doanh nghiệp hỗ trợ các THT, HTX tiêu thụ các sản phẩm từ rừng và trang trại.
Sau 2 năm thực hiện, từ các hộ nông dân sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, những hộ sản xuất rừng và trang trại đã liên kết sản xuất nông, lâm nghiệp theo chuỗi, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ.
Đến nay, chương trình FFF Việt Nam đã thành lập được 9 THT, HTX tham gia vào 5 chuỗi sản phầm gồm gỗ keo, gỗ mỡ, quế, hồi và chè. Các THT nhờ được nâng cao năng lực đã biết đàm phán, ký hợp đồng và bán trực tiếp sản phẩm với các công ty lớn. Nhờ liên kết sản xuất theo chuỗi, doanh thu của các THT tăng từ 3 – 12% so với trước. Đồng thời, trong khuôn khổ chương trình đã có 4,5km đường lâm nghiệp được sửa chữa và làm mới, giúp các tổ, nhóm ND giảm 30% chi phí vận chuyển , khai thác rừng và trang trại.
Có thể khẳng định, từ kết quả của chương trình, người ND tổ chức sản xuất rừng và trang trại đã hiểu được lợi ích làm việc theo nhóm. Các thành viên cùng nhau góp vốn đầu tư kinh doanh, chế biến tăng giá trị sản phẩm, nâng cao thu nhập. Họ hiểu và thực hiện quản lý rừng bền vững, có nhóm hộ đã có chứng chỉ quốc tế về trồng rừng như hiệp hội các hộ trồng rừng ở Yên Bình (Yên Bái), xây dựng chuỗi quế hữu cơ làm tăng giá trị của rừng lên 30 – 40%.
Hội NDVN là tổ chức chính trị-xã hội, đại diện cho giai cấp nông dân Việt Nam trong các lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, doanh nghiệp nhỏ, dịch vụ nông thôn và các lĩnh vực khác ở nông thôn. Đáng chú ý, tại hội nghị BCH T.Ư Hội NDVN lần thứ 10 (khóa VI) đã phát động phong trào thi đua năm 2017 trong toàn hệ thống Hội NDVN với 5 nội dung, trong đó trọng tâm là 3 nhiệm vụ cốt lõi, xuyên suốt là: Bảo vệ nông dân, thực hiện tốt dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân và xây dựng các mô hình kinh tế theo chuỗi giá trị…
Thời gian tới, bên cạnh hỗ trợ THT mở rộng diện tích trồng rừng, chương trình FFF Việt Nam còn đa dạng hóa các sản phẩm lâm nghiệp và chú trọng đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị kinh tế cho các sản phẩm theo chuỗi giá trị của THT.
Đồng thời, từ những kết quả tích cực đã đạt được trong 2 năm qua, Ban Quản lý FFF cũng đề nghị FAO/FFF nhân rộng các mô hình thành công ra các tỉnh lân cận như Thái Nguyên và Phú Thọ. (Dân Việt 5/6) đầu trang(
Từ ngày 3-6, tại Phú Yên diễn ra chương trình tập huấn Quản lý rừng bền vững (SFM) và Chứng chỉ rừng FSC (Hội đồng quản trị rừng Thế giới) cho 14 Ban quản lý rừng, doanh nghiệp trong lĩnh vực lâm nghiệp và chính quyền địa phương. Chương trình do doanh nghiệp tư nhân Bảo Châu phối hợp tổ chức, lần đầu tiên được triển khai ở Phú Yên.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thiện Đức, điều phối viên Chương trình rừng WWS (Tổ chức Phi Chính phủ về Bảo vệ rừng toàn cầu), thực tế cho thấy nhiều năm qua, bằng các biện pháp như luật pháp, ký kết công ước... thì khó bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên còn lại của nhân loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm là cùng với những giải pháp truyền thống, cần thiết lập phương pháp Quản lý rừng bền vững (QLRBV) và cấp Chứng chỉ rừng (CCR). Tại Việt Nam hiện nay, một số tổ chức trong nước đã từng bước tiếp cận và thực hiện quản lý, bảo vệ rừng với phương pháp QLRBV và CCR rất hiệu quả.
Chương trình Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng FSC nhằm đào tạo và huấn luyện cách tiếp cận với phương pháp quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng bền vững cho doanh nghiệp, các tổ chức quản lý, bảo vệ rừng và chính quyền địa phương, từng bước nâng cao năng lực quản lý rừng cũng như hiệu quả kinh tế trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh trước mắt và định hướng phát triển lâu dài.
“Đây là việc chính quyền địa phương phải làm, nhưng doanh nghiệp đã tiên phong triển khai là điều rất đáng mừng và ghi nhận. Điều này thể hiện sự chung tay của cộng đồng, cùng với chính quyền thực hiện tốt việc xã hội hóa trong bảo vệ, phát triển rừng”, ông Trần Hữu Thế, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên nói.
Phú Yên có ba kiểu rừng chính là rừng kín lá rộng thường xanh, chiếm tỷ lệ 96,5% diện tích rừng tự nhiên; rừng rụng lá (khộp), chiếm 3,5% diện tích rừng tự nhiên; rừng trồng có 20.963ha và khoảng 8,4 triệu cây phân tán (tương đương 4.200 ha). Rừng trồng chủ yếu là các loại cây như keo tai tượng, xà cừ, phi lao, điều, dầu rái, sao đen, gõ đỏ, muồng đen, giáng hương.
Những năm gần đây, trung bình mỗi năm tỉnh trồng được hơn 4.000 ha rừng, nâng độ che phủ đến nay lên 39,4%. Thu nhập từ rừng trồng góp phần đáng kể trong giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm và đến năm 2016 còn 10,32%, giảm 2,3% so với năm 2015.
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gỗ rừng trồng ngày càng cao, giảm chi phí vận chuyển cho người trồng rừng trong và ngoài tỉnh, tỉnh Phú Yên đã tạo điều kiện cho hai doanh nghiệp xây dựng nhà máy chế biến gỗ. Một nhà máy do doanh nghiệp tư nhân Bảo Châu tại Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu (giáp ranh với tỉnh Bình Định) có công suất 50.000 tấn/năm. Dự án Khu liên hợp chế biến lâm sản Bình Nam do Công ty TNHH Bình Nam có công suất 200.000 tấn/năm đặt tại xã Xuân Lãnh, huyện miền núi Đồng Xuân (giáp ranh với tỉnh Bình Định và Gia Lai). (Nhân Dân 3/6) đầu trang(
Hưởng ứng ngày Môi trường thế giới 5-6, Trường ĐH Hoa Sen đã tổ chức trồng rừng với hơn 100 sinh viên tham gia vào ngày 4-6.
Sinh viên đã góp tiền mua hơn 1.000 cây con các loại như xoài rừng, giáng hương, sao đen, sấu… để trồng tại Khu Dự trữ sinh quyển tỉnh Đồng Nai, đồng thời thả khoảng 4.000 con cá mè, trắm vào hồ Trị An.
Bà Phan Thị Nhi Hiếu, Chủ tịch Công đoàn Trường ĐH Hoa Sen, cho biết đợt đầu tiên chỉ có hơn 100 sinh viên tham gia, chiến dịch trồng rừng sẽ tiếp tục vào các ngày 18 và 25-6 với 500 sinh viên hưởng ứng. Đây là hoạt động nhằm góp phần khôi phục hệ sinh thái rừng, qua đó giáo dục sinh viên ý thức gìn giữ và bảo vệ môi trường. (Người Lao Động 4/6) đầu trang(
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã và đang chứng kiến một cuộc đua quyết liệt trong lĩnh vực trồng rừng giữa các công ty và hộ gia đình.
Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có khoảng 8 triệu ha rừng trồng. Đã có thời điểm, xuất khẩu gỗ và nguyên liệu từ gỗ của Việt Nam dẫn đầu thế giới. Tuy nhiên, thị trường không ổn định dẫn đến tình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng, có lúc lại khủng hoảng thừa. Đây cũng là thực trạng của ngành xuất khẩu gỗ ở nước ta.
Trong 10 năm qua, ngành đồ gỗ nội thất, ngành dăm gỗ và nguyên liệu giấy đều phát triển. Thành quả này đã góp phần kích thích kinh tế lâm nghiệp của Việt Nam phát triển. Việc mở rộng diện tích rừng trồng đã góp phần phát triển kinh tế, đồng thời giúp nâng độ che phủ rừng, giải quyết bài toán môi trường.
Tuy nhiên, gỗ từ rừng trồng của Việt Nam có chất lượng không đồng đều, chủ yếu là gỗ có đường kính nhỏ làm dăm gỗ hay nguyên liệu giấy và ván ép. Hiện thị trường đồ gỗ châu Âu bị chững lại do những biến động về địa chính trị. Do đó, để gỗ rừng trồng tiếp tục có hướng phát triển bền vững, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ cần khai phá những thị trường tiềm năng khác như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ…, đồng thời tạo dựng mối liên kết tốt giữa vùng trồng rừng nguyên liệu với cơ sở chế biến. (VTV 3/6) đầu trang(
Mặc dù Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) cùng các doanh nghiệp thành viên rất tích cực mở rộng thị trường, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại nhưng ngành gỗ của Bình Dương vẫn đang gặp không ít khó khăn. Điển hình là nguồn nguyên liệu và nhân lực.
Trong 5 tháng đầu năm 2017, BIFA đã có nhiều hoạt động quan trọng như tham dự cuộc họp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho ý kiến về Dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19- 12-2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Bên cạnh đó, BIFA đã tổ chức được 3 lớp đào tạo thuộc Dự án Score, gồm 1 lớp về chuyên đề hợp tác tại nơi làm việc và 2 lớp về chuyên đề an toàn vệ sinh lao động cho hơn 60 cán bộ, nhân viên của 13 DN gỗ trên địa bàn tỉnh...
Về xúc tiến thương mại, từ đầu năm đến nay BIFA đã tham gia nhiều hoạt động lớn, như tham gia hội chợ VIFA Home, hội chợ VIFA EXPO, hội thảo Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam - Nam Phi tổ chức tại Bình Dương… Đối với các hội viên của hiệp hội cũng có nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, điển hình như tham dự chương trình gặp mặt Egilat 11 tại Đà Nẵng, gặp gỡ đoàn thương mại Canada tại TP.Hồ Chí Minh… để tìm kiếm các cơ hội giao thương cho ngành gỗ.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch BIFA cho biết, Bình Dương là địa phương có ngành gỗ phát triển mạnh, đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam. Ngành gỗ cả nước nói chung và Bình Dương nói riêng còn rất nhiều cơ hội để tăng giá trị xuất khẩu, khi uy tín và chất lượng gỗ của các DN tỉnh nhà ngày càng tăng trên thị trường trong và ngoài nước.
Ông Lương Ngọc Kim, Giám đốc Công ty Gỗ Kim Thành A (TX.Thuận An) cho biết, từ quý 4-2016 đến nay nguồn nguyên liệu gỗ cho DN sản xuất rất khó khăn. Hiện nay, thương lái Trung Quốc đang tăng cường gom mua gỗ cao su ở nước ta, trong khi gỗ từ tập đoàn cao su thanh lý phải qua giá bán có thuế VAT và thực hiện theo cơ chế đấu thầu, cùng với đó thuế suất hiện tại của xuất khẩu gỗ cao su không đồng đều, tạo kẽ hở gian lận thương mại đã đẩy giá cao su từ 200 USD tăng lên 350 USD/ m3. Trong thời gian tới, việc khan hiếm gỗ nguyên liệu nếu không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy, đó là tình trạng thất nghiệp sẽ xảy ra trên diện rộng và kéo dài; các ngành công nghiệp phụ trợ, bảo hiểm xã hội... sẽ gặp khó khăn.
Đối với các DN sản xuất viên nén gỗ, hiện cũng đang gặp không ít khó khăn. Trước hết đến từ việc sức cạnh tranh không kiểm soát từ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ làm viên nén gỗ, vì các hộ này không có đăng ký kinh doanh, không có nghĩa vụ đối với thuế… nên vô hình chung đã đẩy giá thành của sản phẩm này xuống thấp. Bên cạnh đó, việc khan hiếm nguyên liệu của ngành gỗ cũng dẫn đến việc khan hiếm nguyên liệu sản suất viên nén gỗ. Tuy giá trị viên nén gỗ không cao nhưng nó đóng vai trò quan trọng cho các doanh nghiệp khác trong việc sử dụng nguồn viên nén này để sấy, đốt lò gỗ.
Lãnh đạo một DN gỗ ở TX.Tân Uyên chia sẻ, sau Tết Nguyên đán 2017, lực lượng lao động sớm trở lại làm việc ổn định, tuy nhiên vấn đề đáng lo hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực ngành gỗ hiện chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Hiện nay, hầu hết lao động trong ngành gỗ vẫn tự học nghề là chính, chưa có nhiều lớp hỗ trợ đào tạo nghề từ phía ngành chức năng để nâng cao được tay nghề cho người lao động. Vị này đề xuất, đối với tỉnh Bình Dương, cần thành lập một trường chuyên đào tạo về kỹ năng chế biến gỗ nhằm phục vụ nhu cầu cho các DN gỗ hiện nay.
Vừa qua, đại diện BIFA đã tham dự cuộc họp bàn về thương mại gỗ và sản phẩm gỗ theo đề nghị của các hiệp hội gỗ trong cả nước được tổ chức tại Hà Nội. Tại cuộc họp, đại biểu của các hiệp hội gỗ đã thống nhất kiến nghị cần tăng thuế xuất khẩu gỗ xẻ từ 10% hiện nay lên 20% đối với tất cả các quy cách gỗ, hoặc cấm xuất khẩu gỗ thô để giữ nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước.
Ông Huỳnh Quang Thanh cho rằng, Chính phủ cần đóng vai trò trung tâm cho việc lưu trữ nguồn nguyên liệu gỗ để cung cấp cho doanh nghiệp, thông qua nguồn nguyên liệu gỗ cao su thanh lý từ các tập đoàn cao su, công ty cao su; cùng với đó cần có những chính sách hỗ trợ để có thể liên kết được với các hộ trồng rừng với các nhà máy chế biến gỗ. Ông cũng đề nghị cơ quan chức năng cần làm chặt chẽ hơn trong việc chấp thuận cho những đơn vị nào có đủ tính chất để xuất khẩu gỗ, tránh việc xuất khẩu gỗ tràn lan, mất kiểm soát.
BIFA đã đề xuất Chính phủ cần có chủ trương hình thành các khu công nghiệp tập trung theo chuyên ngành nhằm giúp DN có điều kiện liên kết hỗ trợ nhau nhiều hơn để bảo đảm sự phát triển bền vững. Hiện BIFA đang triển khai dự án thành lập khu công nghiệp tập trung chuyên ngành cho ngành chế biến gỗ và các ngành công nghiệp phụ trợ. BIFA mong rằng, Bình Dương sẽ có những chính sách hỗ trợ cụ thể về tín dụng, về cơ chế nhằm tạo điều kiện thu hút các DN dịch chuyển vào khu công nghiệp chế biến gỗ của BIFA.
Cũng theo lãnh đạo BIFA, đối với vốn vay, hiện nay ngân hàng định giá giá trị nhà xưởng của DN khá thấp, hao hụt hơn 70% so với giá trị đầu tư ban đầu của DN, điều này tạo điều kiện không tốt nếu DN muốn mở rộng sản xuất, đầu tư mới. Chính phủ cần can thiệp chính sách này và nới rộng hơn các điều khoản để DN có thể được vay vốn nhiều hơn cho đầu tư mở rộng sản xuất. (Báo Bình Dương 3/6)đầu trang(./.
|
|||