Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 03 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Trên cơ sở đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng phê duyệt danh mục dự án "Phát triển hệ thống quản lý thông tin ngành lâm nghiệp giai đoạn II" do Chính phủ Phần Lan tài trợ.
Bộ NN&PTNT thẩm định và phê duyệt nội dung văn kiện dự án và tổ chức thực hiện dự án theo các quy định hiện hành về quản lý và sử dụng ODA.
Được biết, trước đó, Bộ NN&PTNT đã tổ chức hội thảo tổng kết Dự án Phát triển hệ thống quản lý thông tin ngành lâm nghiệp (Formis) giai đoạn 1. Dự án này được bắt đầu thực hiện từ tháng 5/2009 và kết thúc vào 31/12/2012.
Dự án được thực hiện tại Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh Hóa và Thừa Thiên Huế. Tổng thể mục tiêu của dự án là xây dựng hệ thống thông tin hiện đại cho ngành lâm nghiệp thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm cung cấp thông tin chính xác cho quá trình ra quyết định tại các cơ quan lâm nghiệp các cấp.
Trong thời gian thực hiện dự án, có 5 kết quả đã đạt được là: Quy trình, thủ tục và cơ chế trao đổi thông tin giữa các cơ quan lâm nghiệp được đưa vào sử dụng; hệ thống báo cáo cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác; tăng cường năng lực thu thập và quản lý thông tin; hạ tầng công nghệ thông tin được nâng cấp và thiết lập mới; tăng cường năng lực cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giám sát thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam.
Đánh giá kết quả dự án, Bộ NN&PTNT cho biết, dự án đã thành công trong việc xây dựng nền tảng kỹ thuật của một hệ thống thông tin hiện đại có thể giúp đạt được mục tiêu tổng thể khi hệ thống được triển khai trên toàn quốc, kiến trúc hệ thống thông tin và phương pháp xây dựng hệ thống thông tin là phù hợp, hiệu quả và hiệu suất phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. (Chinhphu.vn 4/3)đầu trang(
Từ ngày 3.3, Quy chế 995/2010 của Liên minh châu Âu về Kế hoạch hành động thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (gọi tắt là FLEGT) chính thức có hiệu lực.
Trong đó có quy định cấm nhập khẩu gỗ, các sản phẩm gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp vào thị trường EU và yêu cầu các nhà kinh doanh cung cấp gỗ lần đầu tiên vào thị trường này phải thực hiện trách nhiệm giải trình.
Theo Bộ NNPTNT, Việt Nam và EU đang tiến hành đàm phán Hiệp định đối tác tự nguyện nhằm cấp phép cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam vào EU. (Nông Thôn Ngày Nay 4/3)đầu trang(
UBND tỉnh Nghệ An vừa có buổi làm việc với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Sau hơn một năm đi vào hoạt động, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Nghệ An đã ổn định tổ chức và ban hành quy chế hoạt động của Hội đồng quản lý quỹ. Quỹ đã tổ chức được 10 lớp tuyên truyền về quỹ bảo vệ và phát triển rừng ở tỉnh, huyện. Tổ chức rà soát và lập danh sách các đơn vị có sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh. Ký hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng với 3 cơ sở sản xuất thủy điện đã đi vào hoạt động trên địa bàn tỉnh. Đã thu được tiền ủy thác về tài khoản Quỹ năm 2012 gần 21 tỷ đồng.
Quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp xây dựng hướng dẫn tạm thời việc rà soát ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng, giao khoán rừng để thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đến nay đã có 4 cơ sở gửi đăng ký kê khai nộp tiền về quỹ năm 2013 hơn 28 tỷ đồng.
Tuy nhiên, tiền thu được từ hợp đồng ủy thác của các cơ sở sản xuất thủy điện đến nay vẫn chưa chi trả đến các chủ rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng vì đang chờ kết quả thẩm định của cấp có thẩm quyền phê duyệt về ranh giới, diện tích rừng trong lưu vực, ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng, của từng chủ rừng trong lưu vực của nhà máy thủy điện.
Năm 2013, dự kiến thu theo kế hoạch đăng ký từ các cơ sở sản xuất thủy điện là hơn 28 tỷ đồng từ 4 cơ sở sản xuất thủy điện; đẩy nhanh việc chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2012 kịp thời, đúng tiến độ. (Báo Nghệ An 4/3)đầu trang(
Thường trực HĐND thành phố đã làm việc với Sở NN&PTNT về công tác chuẩn bị Đề án Quy hoạch, bảo vệ và phát triển rừng thành phố Hải Phòng đến năm 2020.
Kết quả cho thấy, đơn vị đã phối hợp với các ngành, địa phương liên quan xây dựng Đề án trên cơ sở bám sát đánh giá hiện trạng sử dụng quỹ đất lâm nghiệp trong kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng: phòng hộ, đặc dụng và sản xuất.
Theo đó, tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn thành phố là 22.800,5 ha, trong đó đất có rừng là 17.989,2 ha, chiếm 79%, độ che phủ của rừng đạt 11,8%. Phấn đấu đến năm 2015, nâng tổng diện tích đất có rừng lên 21.072,3 ha, độ che phủ của rừng đạt 13,7%; năm 2020 nâng tổng diện tích đất có rừng lên 24.238,1 ha, độ che phủ của rừng đạt 15,6%...
Để thực hiện được mục tiêu trên, dự kiến cần tổng số vốn đầu tư 478,1851 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Trung ương chiếm 29,9%, ngân sách địa phương 15,2%, vốn sự nghiệp kinh tế 10,8%, còn lại các các nguồn vốn huy động khác... Thường trực HĐND thành phố ghi nhận đơn vị đã nỗ lực, nghiêm túc chuẩn bị Đề án khá chi tiết, cụ thể.
Tuy nhiên, dự thảo Đề án còn quá dài nên cần chỉnh sửa gọn lại theo hướng rõ các chỉ tiêu, mục tiêu, thời gian hoàn thành; nhấn mạnh các mục tiêu mang đặc thù của Hải Phòng (kết hợp bảo vệ rừng với phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu hình thành rừng cây phượng vỹ) ... (Đại Biểu Nhân Dân 4/3)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Trước thời tiết nắng nóng diễn ra gay gắt, hàng chục ngàn hécta rừng trên địa bàn huyện Xuân Lộc đang nằm trong tình trạng báo động cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm, nguy cơ cháy rừng xảy ra bất cứ lúc nào.
Trước tình hình thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao, nên các phương án PCCR được BQLRPH Xuân Lộc triển khai khá sớm, thông qua công tác tuyên truyền 100% các chủ rừng; hộ nhận giao khoán đất trồng rừng ký cam kết tự nguyện và tích cực thực hiện các phương án PCCR.
Theo đó, các khu rừng keo lai có lượng thực bì cao đều được các hộ dân tiến hành phát quang, cày xới để dập thực bì, làm đường băng cản lửa; đồng thời xây dựng lịch phân công nhau thường xuyên đi tuần tra vào các giờ cao điểm có nguy cơ cháy cao, nhằm phát hiện và ứng phó kịp thời khi có tình huống cháy xảy ra theo phương châm “Phòng cháy hơn chữa cháy”.
Thực hiện phương án PCCR theo phương châm 4 tại chỗ, BQLRPH Xuân Lộc đã chủ động thực hiện hàng trăm cây số đường băng cản lửa để dập thực bì và chia nhỏ những lô rừng, nhằm tạo thuận lợi cho công tác tuần tra, vừa có thể cơ động đưa phương tiện máy móc, cơ giới ứng phó kịp thời nếu xảy ra cháy.
Đặc biệt, 6/6 phân khu trong lâm phận do đơn vị quản lý, gồm các phân trường: Đầm Voi, Núi Le, Gia Huynh, Gia Phu, Láng Cát và Trảng Táo đã thành lập được 29 tổ lâm nghiệp cộng đồng, 7 tổ chữa cháy túc trực 24/24 giờ, đồng thời tuần tra kiểm soát và thay phiên trực gác trên các chòi canh.
Cùng với việc thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”, trong những năm qua, BQLRPH huyện Xuân Lộc đã tạo điều kiện và khuyến khích các chủ rừng chuyển đổi dần việc trồng duy nhất loại cây keo gai, sang mô hình trồng rừng hỗn giao giữa cây keo lai xen canh với cây dầu. Sau khoảng 5 năm, người trồng có thể khai thác keo gai theo kỹ thuật rong hàng. Cách làm này vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có khả năng phòng, chống cháy rất tốt, được nhiều hộ dân và chủ rừng ở đây áp dụng. (Báo Đồng Nai 4/3)đầu trang(
Trước diễn biến phức tạp của thời tiết năm nay, ngay từ đầu năm, các địa phương, đơn vị chủ rừng đã chủ động công tác PCCR.
Hạt Kiểm lâm các địa phương như: Ninh Hòa, Khánh Vĩnh, Vạn Ninh đã chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp cấp bách PCCR như: kiện toàn Ban chỉ đạo PCCR các cấp; thành lập các tổ, đội xung kích tham gia bảo vệ rừng, PCCR.
Bên cạnh đó, thường xuyên tuần tra, kiểm tra, kiểm soát các khu vực rừng có nguy cơ xảy ra cháy; tiến hành làm mới, phát dọn thực bì, duy tu đường băng cản lửa; thông tin kịp thời, chính xác nhằm cảnh báo, dự báo đến các địa phương có rừng, đơn vị chủ rừng những khu vực có nguy cơ cháy cao; chuẩn bị lực lượng xung kích tại chỗ, phương tiện, hậu cần để sẵn sàng ứng cứu nếu có sự cố xảy ra. (Báo Khánh Hòa 4/3)đầu trang(
4-3 trên đường Lý Tự Trọng (P.1, TP Đà Lạt) thiêu rụi nhiều cây thông 3 lá mới trồng khoảng 3-4 tuổi và làm nhiều hộ dân hoảng hốt.
Mặc dù lực lượng kiểm lâm TP Đà Lạt cùng cán bộ chính quyền và người dân trong khu phố tham gia dập lửa, không cho ngọn lửa lan sang nhà dân bên cạnh… nhưng phải đến 30 phút sau, khi lực lượng chữa cháy Công an Lâm Đồng điều 3 xe chữa cháy đến hiện trường ngọn lửa mới được khống chế, dập tắt.
Theo người dân, nguyên nhân xảy ra cháy là do một người lượm ve chai đốt dây điện để lấy ruột đồng trên đường Lý Tự Trọng, khiến ngọn lửa bén vào lá khô gây ra đám cháy. Tuy không gây thiệt hại về người nhưng ngọn lửa đã thiêu rụi nhiều cây thông 3 lá 3-4 tuổi, cùng thảm thực bì rộng gần 3.000m2. (Tuổi Trẻ 4/3; Tiền Phong 5/3)đầu trang(
Vườn quốc gia Bái Tử Long (Quảng Ninh) bao gồm 40 hòn đảo lớn nhỏ và núi đất xen kẽ các đảo núi đá, với tổng diện tích 15.783 ha, chứa đựng những giá trị thiên nhiên rất phong phú, nhiều loài động, thực vật quý hiếm, thực sự là “kho báu” vô giá của quốc gia hiện nay.
Theo đánh giá của PGS.TS Bùi Tất Thắng, Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Bái Tử Long hội tụ đủ 3 hệ sinh thái cơ bản, đó là rừng trên cạn, đất ngập nước và biển với diện tích đủ lớn cho các khu, hệ động thực vật rừng-biển sinh sôi và phát triển.
Tổng số loài quý hiếm nơi đây lên tới 102 loài, trong đó có 72 loài động vật và 30 loài thực vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Tiêu biểu về thực vật có lát hoa, gội nếp, trai lý, lá khôi; về động vật có bồ câu nâu, khỉ vàng, báo lửa, nai, rái cá, rùa hộp ba gạch, tắc kè, kỳ đà hoa, trăn đất, rắn hổ mang, rắn hổ mang chúa. Động vật biển có cá heo trắng Trung Hoa, cá Ông Chuông, tu hài, trai ngọc, bào ngư, sá sùng và đặc biệt là 2 loài rùa biển (vích và đồi mồi).
Vườn quốc gia Bái Tử Long chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4/2002, đây không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên biển đảo mà còn có giá trị về khảo cổ học như hang Soi Nhụ, nơi phát hiện sự tồn tại của người Việt cổ cách đây khoảng 14.000 năm.
Bên cạnh tài nguyên rừng, Vườn quốc gia Bái Tử Long còn có hệ sinh thái đất ngập nước với diện tích 1.000 ha, bao gồm rừng ngập mặn, bãi triều cát, bãi triều đá và thảm cỏ biển là nguồn cung cấp thức ăn cho nhiều loài hải sản, đồng thời là nơi cư trú, bãi đẻ của các loài tôm cá...và cũng là nơi kiếm ăn của nhiều loại động vật, kể cả các loài chim di cư và nhiều loài côn trùng khác.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn nơi đây với cảnh quan hấp dẫn, đặc sắc, đa dạng sinh học cao đã và đang thu hút hoạt động du lịch sinh thái, giáo dục môi trường và nghiên cứu khoa học. Tiêu biểu như vụng Cái Quýt, vụng Lỗ Hố, vụng Soi Nhụ, vụng Ổ Lợn, thung áng Cái Đé, thung áng Cái Lim.
Riêng thảm cỏ biển phân bố trên diện tích 10 ha rải rác tại các khu vực có đáy dạng bùn cát như Chương Di, sông Mang, vụng Lỗ Hố, vụng Cái Đé, vụng Trà Thần. Hệ sinh thái bãi triều cát và bãi triều đá là nơi sinh sống của các loài sinh vật biển, mà nổi bật nhất là ngành nhuyễn thể, tạo cho vùng đất Vân Đồn rất nhiều sản vật đặc trưng hấp dẫn du khách.
Cho dù san hô ở Bái Tử Long chỉ chiếm diện tích nhỏ, là những rạn diềm chân đảo song vẫn giữ nguyên vai trò một hệ sinh thái chủ đạo, có vai trò rất quan trọng đối với các nguồn lợi thủy sản nói chung. Vì đây chính là nơi cư trú, đẻ trứng, ẩn náu, kiếm mồi cho nhiều loài hải sản.
Hệ sinh thái rạn san hô còn có năng suất sinh học cao, là nguồn sản sinh ra các chất hữu cơ, cung cấp thức ăn không chỉ cho chính nó, cho các sinh vật sống trong rạn mà còn có ý nghĩa cho toàn vùng biển này, bởi là nơi lưu trữ nguồn gen cho rất nhiều loài hải sản. Vì vậy, Vườn quốc gia Bái Tử Long cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển một cách bền vững. (Tin Tức 5/3)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Qua khảo sát thực tế và làm việc với lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng đoàn công tác Chính phủ đã ghi nhận những kết quả cũng như vướng mắc, tồn tại trong sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Lắk, trước khi sắp xếp, toàn tỉnh có 28 nông, lâm trường quốc doanh. Tỉnh đã chuyển đổi 15 lâm trường thành 15 công ty lâm nghiệp, 1 lâm trường thành Ban Quản lý rừng phòng hộ, chuyển công ty Cao su Đăk Lăk thành công ty Mẹ, con, từ đó cổ phần hóa các thành viên của công ty mẹ. Đối với những đơn vị hoạt động không hiệu quả thì cho phá sản, giải thể. Sau sắp xếp, số lượng công ty nông - lâm nghiệp do tỉnh quản lý còn 24 đầu mối.
Sau 9 năm (2003 - 2012) thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh, Đắk Lắk đã đạt được những kết quả nhất định như bước đầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, sử dụng bền vững tài nguyên đất, tài nguyên rừng, từng bước hình thành các vùng sản xuất nông lâm nghiệp, sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh quy mô lớn gắn với chế biến và thị trường...
Hiện nay, hầu hết các nông lâm trường được sắp xếp lại đã có những chuyển biến tích cực, có đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Một số công ty đã chủ động tinh giản bộ máy điều hành, đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, văn hóa; mở rộng quy mô sản xuất đa ngành nghề, thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu, vùng xa và các thôn buôn trên địa bàn.
Các doanh nghiệp cũng hoàn thành việc rà soát, quy hoạch đất đai, sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh, chủ động trả lại cho địa phương những diện tích đất bị lấn chiếm, sản xuất không hiệu quả. Diện tích đất còn lại được quản lý chặt chẽ, một số nông, lâm trường đã xây dựng được các phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, mạnh dạn đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, tạo vùng nguyên liệu tập trung có chất lượng cao, đẩy mạnh đầu tư vào chế biến.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, trong đó có nhiều vướng mắc chưa có phương án tháo gỡ hiệu quả.
Việc tách bạch giữa nhiệm vụ kinh doanh và công ích với loại hình doanh nghiệp nông - lâm nghiệp chưa thực sự rõ nét, một số công ty nông - lâm nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người phải đảm nhiệm thêm nhiều nhiệm vụ liên quan đến dân sinh, an sinh xã hội, quốc phòng, bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn, dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp, không theo kịp cơ chế thị trường.
Việc đổi mới mô hình tổ chức sản xuất và cơ chế hoạt động, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Các công ty nông - lâm nghiệp thiếu vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là vốn để đầu tư các dự án có chu kỳ sản phẩm dài ngày như trồng rừng, trồng mới cao su, ca cao, trồng và cải tạo vườn cà phê già cỗi, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt; hoạt động đầu tư chế biến sản phẩm tinh chế để xuất khẩu còn hạn chế, chưa khai thác được thế mạnh riêng có của vùng.
Nhiều doanh nghiệp nông - lâm nghiệp yếu kém về năng lực tài chính, quản trị, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao nên khó thực hiện liên doanh, liên kết, hợp tác kêu gọi đầu tư, thu hút nguồn vốn để sản xuất kinh doanh.
Tình trạng người dân lấn chiếm, tranh chấp đất đai, chặt phá rừng làm rẫy, sang nhượng đất rừng trái phép vẫn còn diễn ra làm ảnh hưởng đến việc quản lý bảo vệ rừng của các công ty lâm nghiệp. Đối với các công ty cà phê, tình trạng hộ nhận khoán không giao nộp sản phẩm, khiếu nại về hợp đồng khoán hiện có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.
Lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk kiến nghị với Phó Thủ tướng và đoàn công tác Chính phủ cần có sự quan tâm hơn nữa đối với những người trực tiếp bảo vệ, chăm sóc rừng; vận động bà con vào làm việc tại nông trường, gắn với quyền lợi và trách nhiệm cụ thể; kiểm soát tốt việc di dân tự do…
Nhấn mạnh tính chất của chuyến khảo sát là để nắm bắt tình hình thực tế, từ đó nghiên cứu để sớm đề ra được mô hình quản lý mới để phát huy hiệu quả của các nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đề nghị các Bộ, ngành tiếp thu những kiến nghị của địa phương để có hướng xử lý phù hợp.
Trong thời gian tới, Ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 28-NQ/TW về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh sẽ sớm hoàn thành báo cáo tổng thể trình Bộ Chính trị, từ đó sẽ có những điều chỉnh về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới, nâng cao hiệu quả của các nông, lâm trường quốc doanh trên cả nước, phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của từng địa phương.(Chinhphu.vn 5/3)đầu trang(
“TS rùa” Hà Đình Đức đề nghị Hà Nội làm hồ sơ cho rùa hồ Gươm trở thành bảo vật quốc gia. Còn theo luật Di sản văn hóa, khả năng này khó thành sự thật.
Hành lang rộng của giảng đường Trường ĐH Khoa học tự nhiên (thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội) tại Lê Thánh Tông (Hà Nội) không chỉ sừng sững một bộ xương voi khổng lồ mà tầng hai của nó còn có một “đại bản doanh” bí mật của rùa. Ở đó, dưới đôi tay của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Thành, nhiều tiêu bản rùa đã được thực hiện. Đúng dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long, ở đây cũng có một tiêu bản rùa được làm.
Một tiêu bản đặc biệt, vì nó làm từ một xác rùa khổng lồ ở hồ Gươm. “Tôi đã phải bê xác rùa về hồi tháng 4.2010 để làm tiêu bản. Rùa nặng 52 cân, dài chừng 1,2 m. Đó là một con ba ba Nam bộ, và đương nhiên không thuộc loại rùa Hoàn Kiếm”, ông Thành cho biết.
Tuy không thuộc loại rùa Hoàn Kiếm, việc có một con rùa khổng lồ ở hồ này chết vẫn được giữ kín để tránh những đồn đại không hay. Điều đó cho thấy rùa hồ Gươm phần nào đã trở thành một biểu tượng. Đến mức, mới đây, một trong những người “sùng bái” biểu tượng rùa hồ Gươm nhất - PGS-TS Hà Đình Đức đã đề nghị “phải làm hồ sơ để rùa hồ Gươm trở thành bảo vật quốc gia”. Rùa hồ Gươm, theo giải thích của ông Đức, gồm cả “cụ” rùa sống ở dưới nước vừa mới được trị bệnh và cả tiêu bản rùa hiện đang ở đền Ngọc Sơn.
Muốn vậy, một hồ sơ về rùa hồ Gươm sẽ phải được thực hiện. Trong đó, phải có căn cứ khoa học chứng minh rùa có đủ 3 điều kiện cần có của một bảo vật quốc gia, quy định trong luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Di sản năm 2009. Thứ nhất, rùa hồ Gươm phải là hiện vật gốc độc bản. Thứ hai, rùa hồ Gươm là hiện vật có hình thức độc đáo.
Thứ ba, rùa phải là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên.
Tuy nhiên, rùa hồ Gươm có vẻ không đáp ứng đủ được những điều kiện trên. Có thể tạm coi tiêu bản rùa tại đền Ngọc Sơn là hiện vật độc bản, nhưng rùa đang sống trong hồ lại là thực thể sống. Rùa hồ Gươm cũng không phải hiện vật có hình thức độc đáo. Trong khi đó sự độc đáo này lại thể hiện rất rõ trong các cổ vật vừa được công nhận bảo vật quốc gia đợt 1 như chiếc lọ gốm hình thiên nga, cửu đỉnh Huế... Cuối cùng, hiện cũng chưa có cơ sở khoa học gì để chứng tỏ rùa hồ Gươm là hiện vật đặc biệt có liên quan đến một sự kiện quan trọng, anh hùng dân tộc như quy định.
Trong khi đó, một PGS-TS đã từng là thành viên Hội đồng Khoa học xét duyệt bảo vật quốc gia đợt 1 cho rằng: “Để được công nhận là bảo vật quốc gia thì phải có hồ sơ kèm theo, cho dù rùa là sinh vật đáng quý, đáng trân trọng. Việc xem xét hồ sơ phải căn cứ vào luật”.
Về “độ vênh” này, PGS Hà Đình Đức nói: “Rùa hồ Gươm phải nói là quá xứng đáng chứ có gì đâu. Trong luật Di sản quy định tiêu chí, mình chọn các cái này ra thì xem nó chạm vào cái nào. Nó là hiện vật gốc độc bản. Nó liên quan đến truyền thuyết “Hoàn Kiếm” của vua Lê sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập cho cho giang sơn Đại Việt vào thế kỷ 15. Nó là truyền thuyết nhưng nó lại mang tính chất văn hóa tâm linh. Cái này phải nói là quá độc đáo, chứ không phải độc đáo. Không thể quá cứng nhắc”.
Cũng theo ông Đức, tiêu chí hình thức độc đáo mà luật quy định không thể hiểu độc đáo là nó vuông hay nó tròn nó méo mà phải hiểu rộng ra. “Hình thức độc đáo của rùa hồ Gươm là liên quan đến vấn đề lịch sử dân tộc. Mà không phải liên quan đến anh hùng dân tộc là cứ phải anh hùng A, anh hùng B”, ông phân tích.
Tuy nhiên, khi được hỏi chi tiết để chứng minh rùa hồ Gươm là bảo vật quốc gia, ông Đức nói: “Tôi đề xuất như thế nhưng phải có người đầu tư nghiên cứu mới được. Thực ra, tôi thấy người ta đưa ra một số tiêu chí công nhận báu vật quốc gia tôi thấy rùa hồ Gươm quá xứng đáng. Bây giờ muốn làm thì phải có đầu tư nghiên cứu. Các nhà khoa học, các nhà di sản văn hóa phân tích một cách thận trọng và đưa ra kết luận khoa học thuyết phục chứ không phải đối chiếu một cách cơ học máy móc”. (Thanh Niên 4/3)đầu trang(
Năm 2013, thị trường xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam được dự báo sẽ đối mặt với những thách thức, nhất là từ thị trường EU. Vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành nỗ lực để tăng trưởng mạnh hơn năm 2012.
Theo Hiệp hội Gỗ và Mỹ nghệ TP HCM (Hawa), kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam năm 2012 đạt 4,67 tỉ USD, tăng hơn 19% so với năm 2011. Trong đó, thị trường Mỹ tăng 24,4%, Trung Quốc 14,3%, Nhật Bản 12,5%.
Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới, thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Về thị trường, Mỹ, Nhật Bản,và Liên minh châu Âu (EU) là 3 thị trường dẫn đầu về tiêu thụ sản phẩm gỗ Việt Nam, chiếm gần 80% xuất khẩu cả nước. Trong đó, thị trường Mỹ chiếm hơn 40%, EU chiếm 28%, Nhật Bản chiếm khoảng 10%.
Dự báo trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ sẽ tăng 18%, Nhật Bản 11-12%, Trung Quốc 15% và EU 8-10% so với năm 2012.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hawa đánh giá thị trường Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của đồ gỗ Việt Nam. Hiện một số doanh nghiệp đã nhận được đơn hàng đến giữa năm từ các đối tác Mỹ.
Tuy nhiên thị trường truyền thống EU sẽ suy giảm, thậm chí có thể tăng trưởng âm. Nguyên nhân là kể từ tháng 3/2013, EU áp dụng “quy định về trách nhiệm giải trình” đối với đồ gỗ nhập khẩu vào thị trường này. Theo đó, các doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ. Bất kỳ lô hàng gỗ/sản phẩm gỗ nào mà doanh nghiệp nhập khẩu mua phải được sản xuất theo quy định hiện hành của luật pháp tại quốc gia khai thác gỗ và theo quy chế của EU về gỗ.
Thách thức tiếp theo là năng lực của doanh nghiệp. Theo Hiệp hội Công nghiệp đồ gỗ ASEAN, mặc dù Việt Nam đang dẫn đầu về xuất khẩu đồ gỗ ở Đông Nam Á nhưng phần lớn tập trung sản xuất theo các đơn đặt hàng từ nước ngoài, thiết kế sản phẩm và phân phối đều phụ thuộc khách hàng. Điều này khiến sức cạnh tranh của doanh nghiệp không cao. (Chinhphu.vn 4/3)đầu trang(
Từ ngày 3/3, Quy chế 995/2010 của Liên minh Châu Âu (EU) có hiệu lực ở toàn bộ 27 quốc gia thuộc liên minh này. Theo Quy chế, gỗ và sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp mới được phép nhập khẩu vào EU. Việc thực hiện quy chế này sẽ ảnh hưởng thế nào tới xuất khẩu (XK) gỗ của Việt Nam sang EU?
Đến ngày Quy chế 995/2010 có hiệu lực, nhiều doanh nghiệp (DN) XK gỗ sang EU đã tỏ ra lo lắng do họ vẫn còn khá mù mờ về cách chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ. Trước tình hình đó, vào ngày 16/1 vừa rồi, Tổng cục Lâm nghiệp đã có công văn gửi Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản tỉnh Bình Định, Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương, về việc quy định gỗ hợp pháp của EU có hiệu lực từ 3/3/2013.
Theo đó, hiện nay Việt Nam và EU vẫn đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Tự nguyện (gọi tắt là VPA/FLEGT), nhằm xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp và cấp giấy phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào EU.
Tuy nhiên, quá trình đàm phán chưa kết thúc, do vậy các DN XK gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam vào EU phải thực hiện trách nhiệm giải trình theo quy của Quy chế 995/2010. Các DN có chứng chỉ COC hoặc sử dụng gỗ có nguồn gốc hợp pháp và có chứng chỉ như FSC, PEFC … hoàn toàn yên tâm là sẽ đáp ứng được quy định giải trình.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM (HAWA) cho hay, mọi thông tin về việc giải trình theo quy chế 995/2010 đều đã được phổ biến tới các DN thành viên. Hiện các DN XK gỗ sang EU đã sẵn sàng giải trình khi nhà nhập khẩu có yêu cầu. Tuy nhiên, chắc chắn sau ngày 3/3, XK gỗ và sản phẩm gỗ sang EU vẫn có thể bị ảnh hưởng ở một số DN, một số trường hợp nào đó, mà ít nhất phải đến cuối tháng 3, mới có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng là bao nhiêu.
Bởi theo ông Hạnh, trách nhiệm giải trình là trách nhiệm vô hạn. Tùy theo từng nhà nhập khẩu ở từng nước EU mà những yêu cầu giải trình đối với các nhà XK từ Việt Nam có thể khác nhau. Và việc giải trình có nhanh gọn hay không, dễ dàng hay khó khăn, phức tạp, còn tùy thuộc vào nguồn gốc nguyên liệu gỗ mà nhà sản xuất Việt Nam sử dụng.
Chẳng hạn, nếu gỗ nguyên liệu NK từ Mỹ hay một nước EU nào đó, chắc chắn sẽ nhận được sự tin tưởng ngay của nhà nhập khẩu về nguồn gốc hợp pháp của gỗ nguyên liệu. Còn nếu là gỗ nhập khẩu từ Indonesia, Myanmar …, thì mức độ tin cậy sẽ kém hơn, nên phải đòi hỏi nhiều hơn về việc giải trình về nguồn gốc gỗ.
Trao đổi với NNVN, ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho hay, do quá trình đàm phán với EU sẽ còn kéo dài đến hết năm 2013, thậm chí có thể sang năm 2014, vì thế phía Việt Nam đã bàn thảo với EU về việc tạo điều kiện cho các DN Việt Nam được XK gỗ một cách bình thường như trước đây, cho đến khi 2 bên đã cùng thống nhất và ký kết Hiệp định Đối tác Tự nguyện.
Ông Quyền khẳng định, từ ngày 3/3, việc XK gỗ và đồ gỗ Việt Nam sang EU vẫn có thể sẽ tiếp tục được tiến hành bình thường. Cũng theo ông Nguyễn Tôn Quyền, XK gỗ trong những tháng đầu năm nay đang tiếp tục thuận lợi. Số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy trong tháng 1, kim ngạch XK gỗ đạt trên 488 triệu USD, tăng tới 74,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong nửa đầu tháng 2, dù bị ảnh hưởng bởi thời gian nghỉ tết, nhưng các DN vẫn thực hiện XK được trên 109 triệu USD sản phẩm gỗ.
Đến thời điểm này, nhiều DN gỗ đã có được hợp đồng XK sang Mỹ tới giữa năm nay. Theo dự báo của HAWA, XK nhóm hàng đồ gỗ nội thất dùng cho văn phòng năm nay có thể đạt mức tăng trưởng 25-30% so với năm ngoái. HAWA cũng dự báo XK gỗ nói chung sang các thị trường chính đều sẽ tăng trưởng: Thị trường Mỹ tăng khoảng 18%, Trung Quốc tăng 15%, Nhật Bản tăng 11-12%, EU tăng 8-10%… (Nông Nghiệp VN 4/3)đầu trang(
4-3, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) thông báo Hội chợ quốc tế hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, quà tặng và hàng gia dụng Việt Nam lần thứ 4 sẽ diễn ra từ ngày 18 đến 21-4-2013, tại Trung tâm triển lãm Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.
Hội chợ sẽ thu hút khoảng 850 gian hàng của 400 doanh nghiệp Việt Nam và các nước trong khu vực, chủ yếu là sản phẩm thuộc 8 nhóm hàng, gồm: đồ trang trí trong gia đình, thủ công mỹ nghệ, nội ngoại thất, gia dụng, dệt, quà tặng, phụ kiện cá nhân và đồ chơi. Dự kiến, sẽ có 2 ngàn nhà nhập khẩu đến tham quan, ký kết hợp đồng tại Hội chợ.
Được biết, hiện giá trị xuất khẩu của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, quà tặng Việt Nam chiếm 1,5% thị trường quốc tế. (Hà Nội Mới 5/3)đầu trang(
UBND tỉnh Bình Phước vừa giao Thanh tra tỉnh chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị và địa phương liên quan để tham mưu thành lập đoàn thanh tra liên ngành thanh tra toàn diện dự án của Công ty TNHH Vina Phygen (100% vốn đầu tư Hàn Quốc), đồng thời đề xuất, tham mưu UBND tỉnh giải quyết dứt điểm các vấn đề liên quan dự án này trước ngày 30-4-2013.
Tháng 2-2012, Tỉnh ủy Bình Phước chỉ đạo UBND tỉnh thu hồi toàn bộ 671ha đất thuộc dự án của Công ty Vina Phygen, giao doanh nghiệp nhà nước quản lý do thực hiện sai chủ trương, mục tiêu ban đầu, nhiều hạng mục đầu tư “có vấn đề”, nhưng UBND tỉnh không thực hiện thu hồi.
Do “trên bảo dưới không nghe” nên tháng 6-2012, Tỉnh ủy Bình Phước tiếp tục giao Công an tỉnh báo cáo Bộ Công an, Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng xin ý kiến chỉ đạo để xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, đến nay dự án vẫn chưa được giải quyết dứt điểm bởi UBND tỉnh Bình Phước cho rằng diện tích đất cho thuê lớn, hiện có một số vướng mắc, UBND tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng lập đoàn thanh tra khẩn trương kiểm tra, rà soát, xem xét lại toàn bộ quy trình đầu tư của dự án để báo cáo Tỉnh ủy.
Năm 2008, Công ty TNHH Vina Phygen (doanh nghiệp nước ngoài) được UBND tỉnh Bình Phước cho thuê đất lâm nghiệp tại huyện Bù Đăng trồng cây xoan chịu hạn để chiết xuất tinh dầu phục vụ sản xuất thuốc trừ sâu. Sau ba năm trồng, cây xoan chịu hạn không phù hợp điều kiện đất đai nên Công ty Vina Phygen xin chuyển sang trồng rừng keo lai, cao su và được UBND tỉnh Bình Phước chấp thuận bằng văn bản (8-6-2011).
Công ty Vina Phygen đã trồng được hơn 450ha keo lai từ 2-4 năm tuổi, đang triển khai trồng khoảng 180ha cao su, diện tích còn lại là đồi dốc, khe suối, đường sá và bị các hộ dân tái lấn chiếm. Do việc đầu tư không mang lại hiệu quả, khó khăn về tài chính, không còn khả năng đầu tư nên tháng 11-2011 Công ty Vina Phygen đã tự ý ký hợp đồng mua bán tài sản trên đất cho Công ty TNHH xây dựng Đồng Phú.
Đến ngày 8-11-2011, Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Bình Phước có văn bản gửi UBND tỉnh đề nghị xem xét, chấp thuận cho Công ty Vina Phygen được chuyển nhượng thành quả lao động trên đất cho Công ty TNHH xây dựng Đồng Phú tiếp tục thuê đất theo đúng mục đích đã cho thuê. Tuy nhiên, khi UBND tỉnh “tuýt còi” do việc đầu tư “có vấn đề”, Công ty Vina Phygen và Công ty TNHH xây dựng Đồng Phú đã tự hủy hợp đồng mua bán tài sản trên đất giữa hai bên. (Tuổi Trẻ 4/3)đầu trang(
Tại buổi làm việc với tỉnh Tuyên Quang hôm 4/3, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đánh giá, công tác trồng rừng thực hiện rất tốt.
Chỉ tính riêng năm 2012, toàn tỉnh đã trồng được 15.000 ha rừng, trong đó rừng sản xuất là 14.000 ha, còn lại là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, nâng độ che phủ đạt trên 64%, đưa Tuyên Quang trở thành một trong những tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất nước; giúp chủ động phòng chống thiên tai và đối phó với biến đổi khí hậu. (Tin Tức 5/3)đầu trang(
UBND tỉnh vừa tổ chức hội nghị sơ kết thực hiện Quyết định số 785 của UBND tỉnh về giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích, và sơ kết công tác đánh giá tình hình thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2012.
Báo cáo của Ban Chỉ đạo 1070 cho biết, tính từ khi triển khai thực hiện Quyết định 785 đến nay toàn tỉnh đã xử lý, thu hồi được 3.890 ha- đạt 94,49% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp bị bao chiếm, sử dụng không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh.
Trong đó, số diện tích mà ngành chức năng đã vận động và người dân tự nguyện chấp hành chặt bỏ, chuyển đổi cây trồng không đúng mục đích là 3.879 ha- chiếm tỷ lệ 99,71% so với diện tích xử lý, thu hồi. Chỉ có 3 trường hợp phải tổ chức cưỡng chế với diện tích 11 ha. Nếu không tính các trường hợp có hợp đồng, có giấy xác nhận cho trồng cây không đúng mục đích và các trường hợp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp trùng lên đất quy hoạch lâm nghiệp, thì hiện nay chỉ còn 14,8 ha phải tiếp tục giải quyết thu hồi. (Quân Đội Nhân Dân 4/3; Báo Tây Ninh 3/3)đầu trang(
Theo kế hoạch của UBND tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2013 - 2015, các tỉnh sẽ trồng 26.070 ha rừng.
Trong đó, trồng rừng trên diện tích cải tạo rừng nghèo kiệt chiếm lớn nhất với 17.892 ha, còn lại trồng trên diện tích khai thác trắng rừng trồng (3.976 ha); trồng trên diện tích khai thác rừng thông từ nhiên (2.418 ha) và trồng rừng trên diện tích đất trống (2.184ha).
Tỉnh Lâm Đồng cũng dự kiến sẽ xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh trước qúy II/2013; đình chỉ hoạt động và yêu cầu di chuyển khỏi vùng quy hoạch trước ngày 30/6/2013 đối với tất cả các cơ sở chế biến gỗ không đáp ứng yêu cầu về tinh chế và koong nằm trong quy hoạch… (Nông Thôn Ngày Nay 2/3)đầu trang(
4.3, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức họp công bố và triển khai thực hiện Đề án quản lý, sử dụng và phát triển bền vững rừng sản xuất thông 3 lá đến năm 2020.
Theo đề án này, từ nay đến năm 2020 sẽ khai thác 6.720 ha rừng thông 3 lá (bình quân mỗi năm khai thác 840 ha) thuộc đối tượng rừng thông rải rác, rừng thông thành thục được quy hoạch là rừng sản xuất ở 6 huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh, Đam Rông và Bảo Lâm.
Song song đó, sẽ trồng lại trên diện tích đã khai thác bằng chính loài thông 3 lá và trồng theo hình thức cuốn chiếu, khai thác năm trước trồng lại năm sau.
Tổng nguồn thu (theo đề án) đạt gần 3.031 tỉ đồng và tổng chi phí tái đầu tư trực tiếp hơn 2.483 tỉ đồng. Sau khi trừ chi phí tái đầu tư, số tiền còn lại sẽ được dùng cho các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong giai đoạn 2013 - 2020.
Ông Phạm S, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, chỉ đạo các địa phương và các đơn vi liên quan phải thực hiện đề án này một cách đồng bộ giữa khai thác, chế biến tinh và trồng rừng thâm canh. “Việc trồng lại rừng là rất quan trọng, nếu việc này không thành công thì coi như đề án thất bại”, ông Phạm S lưu ý. (Thanh Niên 4/3)đầu trang(
Pác Nặm được đánh giá là địa phương có tiềm năng về phát triển kinh tế rừng. Tuy nhiên, vụ trồng rừng năm 2013 người dân lại đăng ký trồng rừng đạt thấp so với kế hoạch được giao.
Năm 2013, huyện Pác Nặm có kế hoạch trồng mới 1.500 ha rừng, trong đó cây mỡ 1.350 ha, keo 100 ha, cây phân tán là 50 ha. Tính đến thời điểm này, người dân mới chỉ đăng ký trồng rừng đạt khoảng trên 600 ha. Như vậy vụ trồng rừng năm 2013, huyện Pác Nặm khó có thể đạt được các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra.
Ông Tô Văn Thức - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Phó Ban Thường trực Ban Quản lý Dự án 147 huyện Pác Nặm cho biết: Khó khăn nhất trong triển khai công tác trồng rừng trên địa bàn huyện chính là do nhận thức của nhân dân về trồng rừng còn rất hạn chế, chính quyền một số xã chưa thực sự vào cuộc.
Mặc dù nguồn cây giống phục vụ cho trồng rừng luôn được đảm bảo cung ứng đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều diện tích đã được thiết kế và xử lý thực bì nhưng người dân vẫn không trồng. Số diện tích này chủ yếu thiết kế cho trồng cây keo, lý do trong năm vừa qua trên địa bàn huyện xảy ra tình trạng cây keo giống, cây mới trồng bị chết dẫn tới gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người trồng rừng. (Đài PT - TH Bắc Kan 3/3)đầu trang(
Trong những năm trở lại đây, phong trào trồng rừng ở Yên Bái đã diễn ra mạnh mẽ, bình quân mỗi năm trồng mới hàng chục nghìn ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và rừng kinh tế, đưa độ che phủ rừng đạt gần 60%, trở thành địa phương có độ che phủ rừng lớn nhất cả nước. Kinh tế lâm nghiệp trở thành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt trên 500 tỷ đồng, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động nông thôn.
Trong năm 2012, mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, đặc biệt việc huy động vốn và vay vốn trồng rừng sản xuất của các doanh nghiệp gặp khó khăn nhưng với nỗ lực của bà con nông dân và các thành phần kinh tế, toàn tỉnh đã trồng mới được 15.017ha rừng các loại, trong đó trồng rừng tập trung được 14.198ha, cây phân tán được trên 818ha.
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng hàng năm, ngay từ cuối năm trước, ngành nông nghiệp đã chỉ đạo các địa phương chuẩn bị đất, cây giống để cứ mỗi dịp tết đến xuân về là ra quân trồng rừng. Nhiều địa phương đã lấy phong trào Tết trồng cây sau Tết Nguyên đán là bước khởi đầu cho việc trồng cây phân tán và trồng rừng trong năm. (Báo Yên Bái 3/3)đầu trang(
Ngày 3/3, Công ty TNHH Canon Việt Nam đã kết hợp với tỉnh Đoàn Bắc Ninh tổ chức lễ ra quân trồng cây hưởng ứng phong trào Hành trình xanh.
Hưởng ứng phong trào, công ty Canon Việt Nam đã tài trợ 5.000 cây xanh gồm keo, bạch đàn, xà cừ, trị giá 100 triệu đồng cho tỉnh Đoàn Bắc Ninh. Sau buổi lễ, đông đảo đoàn viên, thanh niên, tình nguyện viên Canon đã tham gia trồng cây xanh tại khu vực khuôn viên bệnh viên huyện Tiên Du và 3km tỉnh lộ 278 của tỉnh.
Phong trào Hành trình xanh là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt thiết thực thể hiện vai trò xung kích, hình ảnh của thanh niên tình nguyện và tuổi trẻ trong công tác bảo vệ môi trường, tạo nhiều không gian xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. (Đại Biểu Nhân Dân 5/3)đầu trang(
Sau hơn sáu năm hoạt động, các Ban quản lý rừng phòng hộ ở tỉnh Quảng Bình đã nỗ lực vượt qua khó khăn, quản lý và bảo vệ tốt vốn rừng, góp phần đưa Quảng Bình trở thành địa phương có độ che phủ rừng đứng đầu cả nước (70%).
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được đã bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sớm tháo gỡ để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng phòng hộ và đời sống người giữ rừng tại địa phương này.
Thực hiện Quyết định số 342/QÐ-TTg ngày 26-12-2005 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch ba loại rừng đã được phê duyệt, tỉnh Quảng Bình thành lập tám Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH), trực thuộc UBND các huyện, thành phố. Trước đây, rừng phòng hộ do các lâm trường quản lý, thiếu sự phối hợp của chính quyền địa phương nên để xảy ra nhiều vụ phá rừng, khai thác rừng phòng hộ trái phép, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự.
Từ khi chuyển mô hình quản lý, việc quản lý bảo vệ rừng phòng hộ với sự tham gia của cả hệ thống chính trị mà trong đó nòng cốt là BQLRPH nên công tác bảo vệ rừng ngày càng được củng cố, tăng cường theo hướng bảo vệ rừng tại gốc. Theo đánh giá của Sở NN&PTNT Quảng Bình, tuy còn thiếu về lực lượng, cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động song các BQLRPH đã hoạt động có hiệu quả, tổ chức quản lý, bảo vệ khá tốt vốn rừng, góp phần nâng độ che phủ rừng trên địa bàn đạt 70%.
Theo quy định, đối với rừng phòng hộ thì cứ 1.000 ha rừng có một nhân viên bảo vệ, quản lý; ngoài ra bộ máy của BQLRPH có từ bảy đến chín người nữa. Nhưng thực tế, biên chế lực lượng của các BQLRPH tại tỉnh Quảng Bình đều thiếu so với quy định của Nhà nước.
Theo Giám đốc BQLRPH Ðộng Châu Phạm Văn Hóa, đơn vị hiện có 22 biên chế, trừ số cán bộ thuộc bộ máy quản lý, còn thiếu sáu viên chức để bảo đảm định mức. Thiếu người nên đơn vị phải hợp đồng thêm 23 hợp đồng ngắn hạn bảo vệ rừng. Nếu viên chức bảo vệ rừng phòng hộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo ngạch bậc thì số nhân viên hợp đồng ngắn hạn bảo vệ rừng hưởng lương từ nguồn kinh phí của dự án bảo vệ và phát triển rừng bền vững (trước là dự án 661) đầu tư cho hạng mục hợp đồng bảo vệ rừng vừa thấp, lại cấp chậm.
Theo kết quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình năm 2012, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ và kinh phí ngân sách T.Ư cấp còn quá hạn hẹp và giảm dần qua các năm. Ðiều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác bảo vệ rừng và đời sống người nhận khoán bảo vệ rừng. Mặt khác, định mức khoán bảo vệ đối với một ha rừng quá thấp (trước 2007 là 50.000 đồng/ha/năm, từ 2007 đến nay 100.000 đồng/ha/năm) không bảo đảm mức sống tối thiểu cho người nhận khoán bảo vệ rừng.
Tại BQLRPH Long Ðại, dù đã đầu tháng 3, nhưng lương hai tháng đầu năm 2013 của 10 nhân viên hợp đồng bảo vệ rừng vẫn chưa có. Nguyên nhân là kinh phí khoán bảo vệ rừng của dự án "rót" chậm. Có người vì quá túng thiếu nên tìm giám đốc Ban quản lý để... vay tiền.
Giám đốc BQLRPH Long Ðại Nguyễn Văn Trị cho biết, không chỉ nợ lương mà đơn vị còn nợ bảo hiểm xã hội đối với số lao động hợp đồng này. Bảo hiểm xã hội huyện Quảng Ninh đã nhiều lần nhắc nhở bằng văn bản nhưng đơn vị đành phải nợ, đợi đến cuối quý I-2013 mới có tiền để nộp và chấp nhận trả lãi.
Theo Sở NN&PTNT Quảng Bình, trung bình một năm, mỗi BQLRPH được cấp khoảng một tỷ đồng để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở một số hạng mục như hợp đồng bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ và khoanh nuôi phục hồi rừng.
Giai đoạn từ năm 2011 đến nay, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn, vốn đầu tư cho bảo vệ rừng bị cắt giảm. Ngân sách địa phương chủ yếu chi cho các hoạt động trả lương cán bộ viên chức, xây dựng cơ bản và tài sản cố định. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và địa phương mới chỉ đáp ứng 25% diện tích rừng phòng hộ được giao bảo vệ. Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, ảnh hưởng đến đời sống của người giữ rừng.
Thực tế cho thấy, do nguồn kinh phí trả lương eo hẹp, lại chậm khiến 87 lao động hợp đồng bảo vệ rừng tại các BQLRPH trong tỉnh Quảng Bình chưa yên tâm với công việc. Lao động nghề rừng làm việc ở vùng sâu, di chuyển nhiều, trong điều kiện không thuận lợi về địa hình, thời tiết, độ rủi ro cao, trong khi đó lương thấp, trả chậm là một nghịch lý mà các BQLRPH đã kiến nghị lên cấp trên nhiều lần song chưa được giải quyết.
Theo Giám đốc Nguyễn Văn Trị, bảo vệ rừng phòng hộ là công việc đặc thù, định mức mỗi người bảo vệ 1.000 ha nhưng thực tế là không thể đi trong rừng sâu chỉ một người được mà phải hợp thành tổ, nhóm để tuần tra, bảo vệ rừng. Vì vậy, đơn vị phải tổ chức thành các trạm, chốt bảo vệ rừng, luân phiên nhau để mọi người nghỉ một ngày trong tuần. Do trong rừng sâu không có sóng điện thoại di động nên việc cập nhật tình hình, giải quyết các điểm nóng phá rừng... gặp nhiều khó khăn.
Rõ ràng, để có được kết quả là địa phương có độ che phủ rừng đứng đầu cả nước thì đóng góp của những người giữ rừng tại các BQLRPH ở tỉnh Quảng Bình rất đáng ghi nhận. Nổi bật là việc chống chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Thế nhưng, do kinh phí đầu tư cho các hoạt động của lực lượng bảo vệ rừng còn ít, công cụ hỗ trợ, phương tiện phục vụ tuần tra, kiểm soát lâm sản còn quá thiếu đã ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ rừng.
Do vậy, tỉnh Quảng Bình kiến nghị Chính phủ cần quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách thuộc các BQLRPH thực hiện thống nhất trên toàn quốc nhằm bảo đảm quyền năng pháp lý đủ mạnh để lực lượng này thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nâng mức khoán bảo vệ rừng để phù hợp với tình hình hiện nay, đồng thời bảo đảm đời sống tối thiểu cho người giữ rừng; đồng thời rà soát, đánh giá hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn chương trình bảo vệ và phát triển rừng nhằm có hướng thay đổi phù hợp, đặc biệt trong thực hiện khoán bảo vệ rừng và hợp đồng lao động ngắn hạn. (Nhân Dân 5/3)đầu trang(
Ông Đoàn Thế Nam - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bình Phước, đã viết bản kiểm điểm gửi UBND tỉnh này kiến nghị được miễn trồng khôi phục lại 10ha rừng đã khai phá trái phép do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng trồng lại rừng.
Ngày 2/3, liên quan đến vụ tự ý ký thỏa thuận với doanh nghiệp phá hơn 10ha rừng tràm có chức năng phòng hộ, chống xói mòn tại lòng hồ Thủy điện Thác Mơ (thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước), ông Đoàn Thế Nam - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, nguyên Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bình Phước đã viết bản kiểm điểm gửi UBND tỉnh này kiến nghị được miễn trồng khôi phục lại diện tích rừng (10ha) đã khai phá trái phép do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng trồng lại rừng.
Ngoài ra ông Nam đề nghị cơ quan cho phép giao lại phần đất trên cho một đơn vị kinh tế để trồng và kinh doanh vì mục đích trồng lại cũng là nhằm tạo cảnh quan môi trường và khai thác sản phẩm hoặc trả lại cho Thủy điện Thác Mơ và địa phương quản lý sử dụng. Trong bản kiểm điểm ông Nam thừa nhận việc làm của mình là sai lầm, làm ảnh hưởng đến cơ quan và làm phiền đến các cấp lãnh đạo.
Trước đó, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bình Phước đã yêu ông Nam có trách nhiệm hoàn trả 100 triệu đồng tiền thất thoát ngân sách Nhà nước trong việc bán rừng tràm và trồng khôi phục 10ha diện tích rừng tràm đã bị phá trái phép do sai phạm nghiêm trọng trong việc tự ý ký thỏa thuận với Công ty TNHH Đạt Lâm phá diện tích rừng nêu trên.
Liên quan vấn đề này, tại cuộc họp kiểm điểm công chức lãnh đạo (về mặt chính quyền, ngày 28/1/2013), ông Phạm Văn Tòng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, chủ trì cuộc họp đã yêu cầu ông Nam viết lại bản tự kiểm điểm theo tinh thần thành khẩn, khiêm tốn và tiếp thu những ý kiến góp ý của các cán bộ dự họp. Bên cạnh đó nộp đủ một lần số tiền 100 triệu đồng vào ngân sách Nhà nước theo qui định. Kết quả bỏ phiếu kiến nghị hình thức kỷ luật đối với ông Nam tại cuộc họp này có 2/15 phiếu kiến nghị cảnh cáo, 1/15 phiếu kiến nghị cách chức, 12/15 phiếu kiến nghị khiển trách.
Trước đó ngày 30/10/2012, Đảng ủy khối cơ quan dân chính đảng tỉnh Bình Phước đã ký quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Đoàn Thế Nam về mặt Đảng. (Công An Nhân Dân 4/3)đầu trang(
Dip cuối năm 2012 đầu năm 2013, rộ lên tình trạng nhiều người dân trên địa bàn các xã Ba Lế, Ba Bích, (huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi) vào rừng tìm đào gốc cây xá xị để bán.
Các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cần có biện pháp kiểm soát kịp thời, nếu không, loài cây này sẽ bị tận diệt.​
Chính quyền và các cơ quan chức năng của huyện Ba Tơ và các xã đã biết tình trạng hàng trăm người dân vào rừng tìm kiếm, đào gốc cây xá xị về bán nhưng vẫn chưa có biện pháp nào ngăn chặn việc chặt phá, đào gốc cây xá xị không có kiểm soát tại địa phương. (VietnamPlus.vn 3/3; Tin Tức 4/3) đầu trang(
Liên quan đến vụ thu gom lá giá tỵ bán cho thương lái, ông Lê Việt Dũng - phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai khẳng định: “Trạm giống lâm nghiệp La Ngà được giao quản lý rừng nhưng để người dân ồ ạt tác động vào rừng giá tỵ, đi gom lá khô mang bán mà không có ý kiến của cơ quan chuyên môn là sai nên các cơ quan chức năng đã yêu cầu đình chỉ việc thu mua lá giá tỵ”.
Hiện Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã yêu cầu Trạm giống lâm nghiệp La Ngà khi thu gom lá giá tỵ khô phải thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định và chờ ý kiến chính thức của cơ quan chức năng. Cũng theo kiểm lâm, “việc tạm ngưng thu gom lá giá tỵ khô không ảnh hưởng gì đến quy trình thực hiện công tác phòng chống cháy rừng” ở trạm.
Trước đó, ông Đỗ Hữu Đức, trạm trưởng Trạm giống lâm nghiệp La Ngà thuộc Công ty cổ phần Giống lâm nghiệp vùng Nam bộ, giải thích việc thu gom lá giá tỵ khô được thực hiện theo chủ trương của ban giám đốc công ty. Chủ trương thu gom lá giá tỵ khô nằm trong phương án... phòng chống cháy rừng. Sau đó, công ty giao cho ông Lê Văn Thịnh (xã Suối Cát, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa) tổ chức thu gom lá nhưng hoàn toàn không có hợp đồng.
Theo ông Đức, khi có sự đồng ý của công ty, ông Thịnh đã thuê người dân vào khu rừng giá tỵ có diện tích gần 150ha để thu gom lá rồi tổ chức băm nhỏ, ép thành bánh (20kg/bánh) đưa đi tiêu thụ. Trạm chỉ kiểm tra, giám sát dân ra vào rừng thu gom lá theo ý kiến chỉ đạo của ban giám đốc công ty.
Về việc một người bên ngoài không có hợp đồng vẫn có thể tổ chức cho dân vào rừng giá tỵ (do Nhà nước quản lý) để gom lá rừng mua bán liệu có bất thường? Ông Phạm Minh Đạo, giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Nai, cho biết: “Việc tổ chức gom lá rừng giá tỵ chưa được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương. Do đó sở đã yêu cầu kiểm lâm làm việc với Công ty cổ phần lâm nghiệp vùng Nam bộ đình chỉ ngay việc thu gom lá cây giá tỵ.
Sở cũng yêu cầu kiểm lâm làm rõ mục đích của việc thu gom lá giá tỵ và tác động của việc thu gom lá ảnh hưởng ra sao đến sinh trưởng, phát triển của rừng giá tỵ - ông Đạo cho hay. (Tuổi Trẻ 3/3)đầu trang(
4-3, qua kiểm tra, Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) phát hiện một khối lượng gỗ lớn tập kết tại bìa rừng thôn Hole, xã Húc, huyện Hướng Hóa.
Gần 7,3 m3 gỗ quy tròn gồm trường (nhóm 3) và sú (nhóm 5) được cưa thành từng phách, gỗ còn rất tươi chứng tỏ mới bị đốn hạ. Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa đã huy động lực lượng chốt giữ, bảo vệ số gỗ khai thác trái phép trên. Khi xe tải điều đến chở gỗ về trụ sở thì xe bị dính đinh do lâm tặc rải trên đường, thủng lốp. Phải mất nhiều tiếng đồng hồ xe mới đưa gỗ về Hạt Kiểm lâm để xử lý.
Theo một số người dân địa phương, sau khi khai thác trộm gỗ quý tại rừng, lâm tặc dùng trâu bò vận chuyển gỗ men theo suối tập kết về rừng thôn Hole, xã Húc để đem đi tiêu thụ. (Pháp Luật TPHCM 5/3; Lao Động 5/3)đầu trang(
Ngày 4/3, lực lượng Kiểm lâm huyện Hướng Hóa, Quảng Trị đã phát hiện một vụ khai thác gỗ trái phép, quy mô lớn tại thôn Hole, xã Húc.
Tại thời điểm phát hiện, khu vực khai thác vẫn còn gần 100 phách gỗ từ nhóm 3 đến nhóm 5, chưa được vận chuyển ra ngoài.
Ông Lê Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa cho biết, khi lực lượng Kiểm lâm vận chuyển số lượng gỗ thu giữ về đơn vị, vừa ra khỏi cửa rừng thì bị một số đối tượng rải đinh ngăn cản.
Đây không phải là lần đầu Kiểm lâm gặp phải sự chống trả của “lâm tặc”. Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiến hành điều tra, xử lý nghiêm theo pháp luật. (Công An Nhân Dân 5/3; VietnamPlus.vn 5/3)đầu trang(
23.2, tổ công tác cơ động của Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn (Ninh Thuận) phát hiện tại khu vực rừng Tà Nôi có nhóm lâm tặc đang dùng xe máy kéo vận chuyển số lượng lớn gỗ nhóm 1 từ rừng chuyển theo hướng Ma Nới về Ma Bó và đã bắt giữ 5 người cùng tang vật là 2 xe máy kéo hiệu Shibaura có gắn thêm giàn tời bằng cáp; 2 rờ moóc có gắn hộp số; 1 bộ đàm và gần 9 m3 gỗ.
Cùng ngày, tổ cơ động đưa nhóm người này cùng tang vật về trụ sở hạt để lấy lời khai, gồm: Đỗ Thị Lụa (35 tuổi), Làu Nhọc Minh (28 tuổi, cả hai cùng ngụ H.Đức Trọng, Lâm Đồng), Trần Văn Nhân (22 tuổi, ngụ H.Lâm Hà, Lâm Đồng), Bùi Văn Ngân (35 tuổi) và Bùi Văn Ngân (29 tuổi, cả hai cùng ngụ H.Lạc Sơn, Hòa Bình). Theo lời khai ban đầu, số gỗ trên Lụa mua lại của một số người khai thác tại cửa rừng, sau đó thuê người vận chuyển.
24/2, khi bảo vệ mở cửa cho đi vệ sinh cá nhân thì nhóm người bị tạm giữ đồng loạt bỏ trốn, do vậy những ngày vừa qua đã rộ lên tin đồn “kiểm lâm giải cứu lâm tặc”.
4/3, ông Nguyễn Hữu Hoán, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận, nói: “Tổ cơ động đã chụp hình, lấy lời khai đầy đủ rồi, trốn đi đâu mà sợ”. Còn việc kiểm lâm có nhận tiền “lót tay” để giải cứu các đối tượng lâm tặc hay không, hiện chi cục đang yêu cầu giải trình.
Cũng cần nhắc lại, tháng 10 năm ngoái Kiểm lâm Ninh Sơn đã từng bị phát hiện gửi gỗ nhóm 1 tại cửa rừng Ma Nới nhưng không lập biên bản. Thời điểm đó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh cho biết đã chỉ đạo chuyển công tác và kiểm điểm trách nhiệm 5 kiểm lâm viên của Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn, trong đó có một hạt phó trực tiếp tham gia vụ việc. Tuy nhiên, đến nay những người này vẫn tại vị. (Thanh Niên 5/3)đầu trang(
2/3, Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội phối hợp với Phòng An ninh kinh tế, CA TP Hà Nội tiến hành kiểm tra xe ô tải mang BKS 14C - 054.14.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã phát hiện trên xe vận chuyển 350 cá thể chim trĩ, cu gáy, gà lôi, vịt trời chim rừng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Nhằm qua mặt lực lượng chức năng, các đối tượng đã xếp hàng trăm lồng hàng trống phía ngoài thùng xe, che đậy các lồng chứa chim hoang dã bên trong.
Chủ hàng khai nhận, các loại động vật hoang dã này được vận chuyển từ Móng Cái về Hà Nội để tiêu thụ. Toàn bộ số động vật có tổng trị giá khoảng 100 triệu đồng này đã được bàn giao lại cho lực lượng kiểm lâm TP Hà Nội phân loại và xử lý theo thẩm quyền. (Kinh Tế&Đô Thị 4/3)đầu trang(
Gần đây một số báo đưa tin về việc vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ (VQGXT) tỉnh Nam Định bị "xẻ thịt" do UBND huyện Giao Thuỷ và Ban quản lý VQGXT cho phép nhiều hộ dân chuyển đổi các đầm nuôi tôm sang nuôi ngao.
Tuy nhiên, lãnh đạo UBND huyện Giao Thuỷ và Sở NN&PTNN tỉnh Nam Định khẳng định, đây là thông tin không chính xác, đồng thời nhấn mạnh chính quyền địa phương không có chủ trương cho các hộ dân đang thuê đất nuôi trồng thuỷ sản chuyển đổi từ nuôi tôm sang nuôi vạng (ngao).
Theo thông tin từ một số tờ báo thì, hàng chục tới trăm ha rừng thuộc vùng đệm VQGXT bị biến thành các đầm nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi ngao. Theo các báo này, sự việc diễn ra từ nhiều năm nay nhưng chính quyền địa phương không biết hoặc biết nhưng không xử lý.
Các báo còn nêu tình trạng không ít hộ dân nếu muốn chuyển đổi từ nuôi tôm sang nuôi ngao chỉ mất khoản "tiền quan hệ" từ 15 đến 25 triệu đồng là xong. Ngay sau khi các bài báo trên được đăng, UBND tỉnh Nam Định đã chỉ đạo UBND huyện Giao Thuỷ và Sở NN&PTNN phối hợp với các ngành chức năng tiến hành rà soát, kiểm tra, đánh giá tình hình.
Tại cuộc làm việc với phóng viên, ông Nguyễn Phùng Hoan, Phó Giám đốc Sở NN&PTNN tỉnh Nam Định và ông Phùng Văn Nhân, Phó Chủ tịch UBND huyện Giao Thuỷ đều khẳng định thông tin các báo đưa là không chính xác, UBND huyện Giao Thuỷ không có chủ trương cho phép chuyển đổi từ nuôi tôm sang nuôi ngao.
Song, ông Phùng Văn Nhân cũng thừa nhận thời gian qua, cụ thể là năm 2010 và 2011 đã có hiện tượng một số chủ đầm mua đi bán lại đầm nuôi trồng thuỷ sản (nằm trong vùng đệm VQGXT), tự ý cải tạo đầm nuôi tôm quảng canh sang nuôi ngao vì nuôi tôm không có lãi. Việc chuyển đổi đòi hỏi phải cải tạo lại đầm như hút bùn cát... trong quá trình cải tạo đã làm chết một số cây rừng.
Tuy nhiên, cơ quan chức năng đã kịp thời phát hiện, tiến hành phạt hành chính và yêu cầu khôi phục nguyên trạng. Chi Cục Kiểm lâm Nam Định cho biết, trong năm 2012 đơn vị này đã cử lực lượng kiểm tra, kiểm soát thường xuyên và đã phát hiện, xử phạt nghiêm 13 trường hợp phá rừng với tổng số tiền phạt 110 triệu đồng, diện tích bị phá chỉ hơn 6.000 m2 (không như số liệu mà các báo đã nêu). Trường hợp bị phạt nặng nhất là các hộ Lều Văn Kiệm (Khu 4B, thị trấn Ngô Đồng, huyện Giao Thuỷ) và Hà Khắc Tưởng (xã Giao Xuân, Giao Thuỷ) với số tiền phạt lên tới 15 triệu đồng/hộ. (Tin Tức 5/3)đầu trang(
4/3, Trung tá Nguyễn Phú Vân - Phó trưởng Công an huyện Tam Nông (Đồng Tháp) cho biết, cơ quan này đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Lê Trường An (37 tuổi), Đỗ Văn Công (42 tuổi) và Lê Thanh Sơn (36 tuổi), cùng ngụ xã Phú Đức, huyện Tam Nông để điều tra về hành vi chống người thi hành công vụ.
Kết quả điều tra ban đầu xác định, khoảng 16h ngày 18/2, An, Công, Sơn cùng 2 đối tượng khác trang bị dụng cụ, xung điện xâm nhập trái phép vào khu A1 (Vườn Quốc gia Tràm Chim) đánh bắt thủy sản.
Khi bị lực lượng bảo vệ phát hiện, đẩy đuổi và yêu cầu các đối tượng giao nộp dụng cụ đánh bắt cá thì các đối tượng không chấp hành mà quay sang tấn công lực lượng đang thi hành công vụ.
Trong lúc giằng co, Lê Trường An đã dùng xung điện chích, đâm vào người anh Nguyễn Trọng Hiếu và Huỳnh Văn Phượng (nhân viên bảo vệ) khiến cả hai bị thương, phải nhập viện cấp cứu. (Công An Nhân Dân 5/3)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Những ngày gần đây, các lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ hàng chục vụ vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã, trong đó có những vụ vận chuyển số lượng lớn, nhiều chủng loại động vật quý hiếm.
Ngay sau khi lực lượng kiểm lâm huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) bắt vụ vận chuyển gần 200 kg động vật hoang dã, Công an huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) bắt giữ một đối tượng vận chuyển 80 con kỳ đà và 68 con rùa có trọng lượng gần 710 kg, Công an TP Ðà Nẵng cũng đã phát hiện và bắt giữ 58 cá thể heo rừng, nai, nhím, khỉ mặt đỏ, khỉ lông vàng đã chết đựng trong tủ lạnh với số lượng hơn 500 kg.
Mới đây, ngày 27-2, Công an tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt giữ một xe ô-tô vận chuyển trái phép 18 con kỳ đà, 34 con rùa mầu vàng, năm con tê tê, một con trăn và ba con rắn đầu đỏ. Qua điều tra, bước đầu các đối tượng khai nhận, đã thu mua động vật hoang dã từ nhiều nguồn, sau đó vận chuyển để cung cấp cho các nhà hàng, quán nhậu trong dịp Tết.
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV), mỗi ngày có đến hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cá thể động vật hoang dã bị săn bắt để làm thực phẩm hoặc sử dụng làm thuốc. Ðây là con số gây sửng sốt cho những ai có ý thức bảo vệ thiên nhiên, môi trường, đồng thời gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự suy giảm nhanh chóng các loài động vật hoang dã.
Mặc dù, tội vi phạm về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự với các chế tài nghiêm khắc, song thực tế các hành vi xâm hại đến các loại động vật hoang dã vẫn diễn ra, một mặt là do công tác bảo vệ chưa nghiêm, mặt khác do ý thức của cộng đồng chưa tốt, do lợi nhuận mang lại rất cao từ các hoạt động phi pháp này.
Thực tế cho thấy, chỉ những người lắm tiền, nhiều của mới đủ điều kiện sử dụng các loại thực phẩm từ những động vật hoang dã, quý hiếm, trong số đó một bộ phận không nhỏ là các công chức, viên chức nhà nước.
Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản gửi các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cơ quan có liên quan về việc không tiêu thụ các sản phẩm động vật hoang dã nguy cấp, đặc biệt là trong dịp Tết để góp phần bảo tồn tài nguyên và đa dạng sinh học của đất nước.
Trong đó, yêu cầu chỉ đạo cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, đơn vị nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm; đặc biệt không mua, bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến bảo tồn các loài động vật hoang dã tới cộng đồng; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo tồn các loài động vật hoang dã, quý hiếm.
Việc săn bắt, tiêu thụ, buôn bán, là nguyên nhân chính đẩy các loài động vật hoang dã của Việt Nam tới tuyệt chủng. Do đó, cần nâng cao ý thức cộng đồng dân cư, có nhiều giải pháp quyết liệt để bảo vệ các loài động vật hoang dã. (Nhân Dân 4/3, tr1+7)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Trước sức ép từ phía cộng đồng quốc tế, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra cam kết “sửa luật Thái Lan với mục tiêu chấm dứt nạn buôn lậu ngà voi”.
Theo báo Bangkok Post, tại hội nghị Công ước quốc tế về buôn bán động, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) ở Bangkok ngày 3-3, Thủ tướng Yingluck nêu rõ “không ai quan tâm đến loài voi hơn người Thái. Nhưng đáng tiếc là rất nhiều kẻ đã biến Thái Lan thành quốc gia trung chuyển trong đường dây buôn lậu ngà voi quốc tế”.
Luật pháp Thái Lan cho phép buôn bán ngà voi châu Á được nuôi trong nước. Tuy nhiên, các tổ chức bảo tồn quốc tế khẳng định các băng đảng tội phạm đã lợi dụng luật này để tuồn ngà voi châu Phi vào Thái Lan, trộn lẫn với ngà voi Thái. Theo Quỹ Bảo vệ thiên nhiên thế giới, Thái Lan hiện là thị trường ngà voi lậu lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc.
Theo AFP, giám đốc Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) Achim Steiner khẳng định nhu cầu ngà từ thị trường Thái Lan và Trung Quốc đã dẫn tới nạn tàn sát voi ở châu Phi. Từ đầu năm 2012 đến nay đã có 32.000 con voi bị sát hại ở châu Phi. Một phần ngà voi từ số voi thiệt mạng này đổ vào Thái Lan, mà phần lớn đi đến Trung Quốc. Theo UNEP, tổng số voi châu Phi giảm 11% mỗi năm dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng.
Báo New York Times dẫn lời một số chuyên gia bảo tồn nhận định cam kết của Thái Lan sẽ tạo ra sức ép đối với Trung Quốc. Tại nước này, mỗi ký ngà voi có giá lên tới hơn 2.700 USD ở thị trường chợ đen. (Tuổi Trẻ 5/3)đầu trang(
Hiếm có ai đủ dũng cảm để cho đôi bàn tay trần của mình vào trong miệng hổ như các nhà sư ở chùa Hổ, Thái Lan.
Những “ông ba mươi” này được sinh ra tại chùa Hổ thuộc tỉnh Kanchanaburi cách thủ đô Bangkok khoảng 80km. Hầu hết các chú hổ đêu được sinh ra tại đây và được nhà sư, các du khách thăm quan chăm sóc từ bé nên chúng rất thân thiện với con người.
Chùa Hổ đón chú hổ đầu tiên về nuôi từ năm 1999 và số hổ được nuôi dưỡng tại đây tính đến nay là hơn 90 con. Chính những chú hổ thân thiện, dễ thương không chút dữ tợn này đã khiến chùa Hổ trở thành một điểm thăm quan du lịch hút khách nhất nhì tại Thái Lan.
Loài hổ nổi tiếng là hung dữ, nhưng những chú Hổ tại ngôi chùa Hổ lại hiền lành như những chú mèo con.
Với giá vé 1.000 bạt (khoảng 60.000VNĐ), du khách sẽ được tham quan chùa Hổ và Hẻm núi Hổ. Người thăm quan muốn chụp ảnh kỉ niệm với những “chú mèo to lớn” sẽ phải trả thêm phí.
Các nhà sư đã phủ nhận tin đồn cho tiêm thuốc an thần cho hổ và khẳng định những chú hổ này rất hiền lành là do chúng được con người nuôi dưỡng từ lúc mới sinh.
Tuy vậy, vấn đề nuôi nhốt hổ tại ngôi chùa này cũng như việc buôn bán các sản phẩm làm từ ngà voi tại Thái Lan sẽ được đưa vào bàn luận tại Hội nghị về bảo tồn động thực vật quí hiếm lần thứ 16, diễn ra từ 3-24/3 tại thủ đô Bangkok do Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế chủ trì. (Tin Tức 5/3)đầu trang(
Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) đã công bố một bộ số liệu thống kê về khí thải carbon từ việc chặt phá rừng, sản xuất nông nghiệp và các hình thức sử dụng đất khác trong giai đoạn 1990-2010.
Bộ số liệu là một phần của cơ sở dữ liệu thống kê của FAO được biết đến là FAOSTAT, dựa trên tính toán của FAO về sinh khối rừng, chặt phá rừng và che phủ rừng. Số liệu liệt kê theo quốc gia và khu vực.
Bộ số liệu cho thấy rằng, các nước có tỉ lệ chặt phá rừng cao có lượng khí thải cao nhất do diện tích rừng bị mất trong giai đoạn 20 năm qua. Chuyển đổi rừng ở Braxin giải phóng 25,8 tỉ mét khối tương đương carbon dioxite từ năm 1990 – 2010. In-đô-nê-xi-a (13,1 tỉ tấn), Ni-giê-ri-a (3,8 tỉ tấn), Cộng hòa Công-gô (3 tỉ tấn) và Vê-nê-zuê-la (2,6 tỉ tấn) nằm trong tốp 5 quốc gia phát thải carbon dioxite cao.
Ở một lĩnh vực khác, Trung Quốc, quốc gia có tỉ lệ trồng rừng, tái tạo rừng và che phủ rừng đạt 5,2 triệu hecta dẫn đến cô lập 5,7 tỉ tấn CO2. Mỹ (1,9 tỉ tấn) và Việt Nam (1,2 tỉ tấn) cũng có sự hồi phục đáng kể trữ lượng carbon rừng.
Cơ sở dữ liệu cũng ước tính lượng khí thải ròng từ mở rộng đất canh tác thành đất hữu cơ. In-đô-nê-xia dẫn đầu với 5,6 tỉ tấn khí thải CO2, tiếp theo là Mỹ (1,4 tỉ tấn), Pa-pua Niu Ghi-nê (816 triệu tấn), Ma-lay-xi-a (690 triệu tấn) và Băng-la-đét (612 triệu tấn). Khí thải ở In-đô-nê-xi-a, Pa-pua Niu Ghi-nê, và Ma-lay-xi-a đặc biệt cao do sự thoát nước và chuyển đổi vùng đầm lầy than bùn nhiều carbon.
Tổng thể, Braxin (25,8 tỉ tấn) và In-đô-nê-xia (18,7 tỉ tấn) là hai quốc gia đứng đầu về lượng khí thải từ sử dụng đất. Khí thải kết hợp trong giai đoạn 20 năm qua tương đương với 134% lượng khí thải CO2 hàng năm hiện tại từ nhiên liệu hóa thạch và gấp 4,5 lần lượng khí thải năm 2011 ở Trung Quốc.
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chặt phá rừng chiếm xấp xỉ 10% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ hoạt động của con người. Sản xuất nông nghiệp và xuống cấp các vùng đầm lầy đóng góp một phần ít hơn, nhưng gây tranh cãi nhiều hơn. (Agroviet 4/3) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa