|
Ngày 04 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Loại tam thất hoang (tam thất rừng) với trọng lượng 3kg/củ có giá lên tới 35 triệu đồng/kg được rất nhiều người săn mua làm quà biếu.
Trên thị trường, tam thất trồng hiện có hai loại: củ tươi và củ khô, giá dao động từ 2-3 triệu đồng/kg tùy kích cỡ. Loại dược liệu này rất được ưa chuộng, dùng để ngâm rượu, trộn mật ong, pha nước uống hàng ngày. Theo dân gian, ngoài công dụng giảm stress, tốt cho sức khỏe thì với phụ nữ, tam thất còn làm đẹp da, đen tóc,...
Anh Trần Thế Cường, chủ một cửa hàng tam thất ở Nam Trung Yên (Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết, hiện đang là mùa của tam thất tươi ở vùng Hà Giang và Si Ma Cai (Lào Cai). Dùng tam thất tươi sẽ tốt hơn tam thất khô.
Tuy nhiên, anh Cường tiết lộ còn có một loại tam thất khác nữa gọi là tam thất hoang (tam thất rừng) được khai thác hoàn toàn tự nhiên, giá bán cao gấp đôi giá tam thất trồng nhưng vẫn được rất nhiều người đặt mua.
Cụ thể, tam thất hoang loại 25-30 củ/kg, giá 4-5 triệu đồng/kg; loại có lá mới khai thác được ở trên rừng còn tươi nguyên giá 6 triệu đồng/kg. Riêng với loại củ to từ 0,5-1 kg/củ, giá khoảng 16-18 triệu đồng.
Đặc biệt, loại khủng với trọng lượng khoảng 3kg/củ có giá trên thị trường lên đến 35 triệu đồng/kg. Đã có lần, anh bán củ tam thất cho người mua làm quà tăng nặng gần 3 kg, Tính ra, để mua được 'thần dược' này phải tốn cả trăm triệu
Anh Cường cho hay, mặc dù tam thất hoang củ lớn là hàng cực hiếm, phải đặt trước khoảng 15 ngày cho tới 1 tháng mới có, song, khách săn tìm rất nhiều. Mỗi khách thường đặt mua khoảng 2-3 kg một lúc chứ không phải ít.
Theo anh Cường, tam thất hoang được chia làm 3 loại: trong ruột màu trắng, ruột màu hơi vàng và ruột màu hơi tím giống khoai môn. Nó có hình dáng dài, giống hệt với sâm Ngọc Linh. Thế nhưng, tam thất rừng một năm ra 3 lá nên mắt xấu hơn sâm Ngọc Linh 1 năm ra một lá. Đặc biệt, ăn thử tam thất hoang còn có cảm giác hơi ngứa trong cổ họng. Đây cũng là kinh nghiệm để có thể phân biệt được đâu là tam thất hoang, đâu là sâm Ngọc Linh.
Anh Nguyễn Tấn Tài ở Nguyễn Khang (Cầu Giấy) chia sẻ, để mua được loại tam thất vip, loại 0,5 kg/củ anh phải đặt từ đầu tháng 9, tới cuối tháng 10 mới có hàng. Thậm chí, anh còn phải chấp nhập mua qua tay thương lái với giá 24 triệu đồng/kg.
Anh Cường cũng cho hay, ngoài các loại tam thất trồng ở Hà Giang, Lào Cai,... ở chợ còn bán tam thất của Trung Quốc được trộn với bột chì cực kỳ độc hại.
Thông thường, nếu so sánh tam thất Việt Nam với tam thất Trung Quốc thì rõ ràng, hàng của Trung Quốc có giá trị cao hơn về tính dược liệu. Tuy nhiên, nguồn hàng về Việt Nam chủ yếu là hàng trôi nổi, tam thất chưa đủ tuổi, kém chất lượng, và đặc biệt, để tăng lợi nhuận dân buôn còn lấy bột chì trộn vào, thậm chí còn ngâm trong dung dịch nước có pha chì để ngấm được nhiều chì hơn vào trong củ.
“Mua phải loại tam thất này về ăn thì cực kỳ độc hại, bởi có rửa sạch cũng không thể hết được lượng chì đã ngấm vào trong tam thất”, anh Cường nói. Ngoài trộn chì, người dân còn quay với than củi. Họ cho củ tam thất vào trong than quay cùng khiến than bám vào củ để gian dối về trọng lượng.
Để nhận biết tam thất chuẩn, chỉ cần nhìn bằng mắt thường. Đơn cử, tam thất chuẩn được sấy khô thì bên ngoài có một lớp biểu bì màu hơi đỏ cam, cạo hết lớp đó đi sẽ để lộ phần vỏ hơi đen bên trong màu ti tan chứ không phải màu đen kịt. Còn nếu vỏ đen bóng loáng thì đích thị là tam thất trộn chì và than củi.
Ngoài ra, theo anh Cường, nhiều người còn lấy các loại củ rừng khác giả tam thất tươi. Người mua có thể bẻ củ đó ra, nếu thấy một lớp vỏ bên ngoài, bên trong là lõi thì là tam thất; hoặc đem ra rửa sạch, thấy nhựa chảy ra có màu trắng giống hệt như sữa thì mới là chuẩn tam thất.
“Bây giờ thương lái làm giả tam thất nhiều lắm. Thậm chí, một số đầu nậu trong Kon Tum còn gọi điện cho tôi đặt mua tam thất hoang với số lượng lớn để về bán, lừa người tiêu là sâm Ngọc Linh. Nhưng tôi đều từ chối, chỉ bán cho khách mua ít dưới 3 kg”, anh Cường nói. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 3/11) đầu trang(
Từ cuối tháng 8 đến nay, dịch sâu róm hoành hành và khiến hơn 20 ha thông thuộc rừng phòng hộ huyện Hướng Hóa (Đăkrông, Quảng Trị) bị khô cành, bong tróc vỏ và có dấu hiệu mục nát, gãy đổ.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Trần Văn Tý, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa (thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Trị) cho biết: Sâu róm bắt đầu xuất hiện nhiều từ năm ngoái. Đợt này có khoảng 150 ha thông bị sâu róm tấn công. Chúng tôi đã thực hiện nhiều biện pháp ngăn chặn nên cũng cứu được một số diện tích. Hiện có khoảng 20 ha ở tiểu khu 761L (thuộc xã Tân Liên) và tiểu khu 761S (thuộc TT.Khe Sanh) đã chết đứng...
Ông cho biết, hiện nay ở Quảng Trị cũng như trong cả nước vẫn chưa tìm ra một biện pháp gì thực sự hữu hiệu để diệt sâu róm trên cây thông, cũng không có loại thuốc nào để phun xịt mà chủ yếu thực hiện việc “bẫy đèn, bắt bướm” vào ban đêm. Đây thực ra là công việc... rất thủ công nên phải huy động rất nhiều nhân công để làm. Địa hình rừng phòng hộ lại dốc nên cũng rất vất vả. Tuy nhiên, hằng đêm anh em bắt được cả trăm cả ngàn con bướm, hạn chế sâu róm phát triển.
Ban Quản lý đã làm hồ sơ thanh lý và đã trình UBND tỉnh quyết định. Nếu được, sẽ cho trồng lại rừng phòng hộ trên diện tích đó nhưng sẽ không trồng thông mà trồng loại cây khác. Dịch sâu róm hiện nay không chỉ xảy ra ở rừng phòng hộ Hướng Hóa mà còn xảy ra ở Lâm trường Đường 9, Lâm trường Bến Hải và nhiều rừng thông ở khu vực bắc miền Trung. (Thanh Niên 3/11) đầu trang(
Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho hay sẽ đề nghị giải quyết quyền lợi chính đáng cho doanh nghiệp.
Ngày 1-11, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM sau chuyến đi Lào để thỏa thuận giải quyết công nợ, ông Quách Phi Long - Phó Giám đốc Công ty Bảo Ngọc Bình Phước (gọi tắt là Công ty Bảo Ngọc) cho biết ông bị cấm xuất cảnh từ tháng 6-2014.
“Ngay khi được phép xuất cảnh trở lại, tôi lập tức qua Lào để giải quyết nợ nần với đối tác. Từ ngày 20-11-2013 cho đến nay, công ty và bản thân tôi đã chịu nhiều áp lực sau khi bị Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan (gọi là Cục Điều tra) khởi tố vì buôn lậu. Lúc đó sự việc chưa được điều tra rõ thì họ cung cấp thông tin cho báo chí, đài truyền hình đưa tin xấu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của công ty chúng tôi” - ông Long bức xúc.
Theo ông Long, số hàng hóa vẫn chưa được thông quan nên các thiệt hại của công ty chưa thể thống kê hết. “Chỉ tính tiền lưu container, kho bãi trong thời gian qua đã phải trả đến 5 tỉ đồng” - ông Long nói.
Ông Long cho biết gỗ bị tạm giữ, không thông quan bán thu tiền về được nên không có nguồn tiền trả nợ cho đối tác. “Công ty Bảo Ngọc ký hợp đồng mua gỗ của Công ty LoKo (Lào) vào cuối tháng 6-2011 để xuất bán cho doanh nghiệp (DN) ở nước thứ ba. Công ty LoKo đã khởi kiện công ty chúng tôi và TAND tỉnh Champasak (Lào) buộc Công ty Bảo Ngọc trả tiền mua gỗ theo hợp đồng mua bán. Tháng 6-2014, lãnh sự quán nước Lào đã thông báo đề nghị Công ty Bảo Ngọc phải trả hơn 770.400 USD tiền mua gỗ cho Công ty LoKo. Ngoài ra, Công ty Bảo Ngọc còn bị phạt vi phạm hợp đồng (do chậm thanh toán) với số tiền hơn 231.100 USD và hơn 20.000 USD tiền án phí” - ông Long liệt kê.
Trước đó, Công ty Bảo Ngọc đã được chính phủ Lào giao 10.000 ha đất trồng lúa để chuyển giao kỹ thuật trồng lúa nước cho người dân tỉnh Champasak. Tuy nhiên, theo ông Long, trước các khoản nợ “ngập đầu” trên, Công ty Bảo Ngọc phải bán đổ, bán tháo lúa giống để xử lý nợ. “Để trả tiền theo phán quyết của tòa, công ty phải bán 500 tấn lúa giống với giá thấp. Ngoài việc DN chúng tôi cũng mất đi tất cả cơ hội kinh doanh khác thì việc gỗ xuống cấp bị hạ giá bán cũng gây ra các thiệt hại lớn. Đó là chưa kể các chi phí phát sinh ngoài kiểm soát ước hơn 10 tỉ đồng” - ông Long rầu rĩ.
Như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh, Cơ quan CSĐT Bộ Công an, Công an tỉnh Bình Phước đã đình chỉ hai vụ án “buôn lậu gỗ” của Công ty Bảo Ngọc. Ông Long nói: “Riêng vụ việc xảy ra ở cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (tỉnh Bình Phước), sau khi CSĐT tỉnh Bình Phước đình chỉ điều tra (giữa tháng 9-2015) thì hải quan cửa khẩu quốc tế Hoa Lư ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền phạt 2 triệu đồng do khai sai số lượng gỗ (hành vi này không bị áp dụng biện pháp bổ sung - NV)”.
“Việc khai sai số lượng là do đơn vị vận chuyển chở nhầm về cửa khẩu khác chứ tổng lượng gỗ nhập về ở cửa khẩu Hoa Lư và Dinh Bà (Đồng Tháp) là đúng với lượng gỗ đặt mua. Vi phạm này chỉ đến mức bị xử phạt hành chính chứ không phải buôn lậu như cáo buộc của Cục Điều tra. Vậy nhưng không hiểu sao họ không phạt mà lại ra quyết định khởi tố oan khiến DN chúng tôi chịu nhiều thiệt hại?” - ông Long ấm ức.
Ông Long tâm sự từ ngày DN bị khởi tố, Công ty Bảo Ngọc và bản thân ông Long còn chịu nhiều áp lực vì những lời xì xầm “làm ăn bậy bạ, buôn gỗ lậu”.
“Chúng tôi ăn ngủ không yên, ra đường thì bị mặc cảm trầm trọng nên Công ty Bảo Ngọc cầu cứu các cơ quan địa phương, trung ương. Công ty Bảo Ngọc mong các cơ quan liên quan khẩn trương trả lại hàng hóa và cho phép thông quan lô hàng trên để Công ty Bảo Ngọc nhanh chóng giải quyết những khó khăn phát sinh trong hơn 22 tháng qua. Nếu chậm trễ, quyền lợi chính đáng của công ty sẽ tiếp tục bị thiệt hại vì đối tác nước ngoài phạt vi phạm hợp đồng, do giao nhận hàng không đúng thời gian, thanh toán tiền trễ hạn hợp đồng” - ông Long đề nghị. (Pháp Luật TP.HCM 2/11) đầu trang(
Từ tin báo của người dân, các cơ quan chức năng đã tóm gọn 2 xe chở gỗ lậu từ Lào về với số lượng khủng.
Ngày 3-11, UBND tỉnh Kon Tum cho biết đã có văn bản giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng làm rõ vụ vận chuyển gần 38m3 gỗ trái phép trên tuyến đường biên giới giáp với Lào vào ngày 2-11.
Rạng sáng ngày 2-11, từ tin báo của quần chúng, đoàn kiểm tra liên ngành gồm Kiểm lâm, Công an huyện Ngọc Hồi cùng Đồn Biên phòng cửa khẩu Bờ Y đã phát hiện tại khoảnh 9, tiểu khu 161, thuộc Lâm trường Dục Nông có 2 ô tô chở gần 38m3 gỗ nhập lậu từ Lào về và một máy cẩu.
Thời điểm kiểm tra không phát hiện chủ 2 xe gỗ trên nên đoàn liên ngành đã đưa toàn bộ tang vật về Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi chờ xử lý.
Ông Võ Thanh Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Ngọc Hồi cho biết đây là vụ bắt gỗ lậu qua đường biên giới lớn nhất từ trước đến nay.Trong tháng 10 vừa qua, hạt này cũng đã bắt nhiều vụ khai thác gỗ trái phép trên địa bàn với tổng số 58m3 gỗ. (Người Lao Động 3/11; An Ninh Thủ Đô 4/11) đầu trang(
Mua lại khu đất đã được người dân bản địa sử dụng qua nhiều thế hệ khác nhau, khi tiến hành sử dụng để trồng keo, ông Đoàn Thế Lợi ở thôn Đồng Vào, xã Ba Bích (Ba Tơ, Quảng Ngãi) bị xử lý về tội “Hủy hoại rừng”...
Theo hồ sơ vụ án: Vào khoảng tháng 10/2011, anh Phạm Văn Xoi ở thôn Nước Đang, xã Ba Bích (Ba Tơ, Quảng Ngãi) vì cần số tiền để làm nhà riêng nên đã đặt vấn đề với ông Đoàn Thế Lợi (người cùng xã) về việc mua bán đất (diện tích khoảng 3-4 sào do bố mẹ anh Xoi để lại) để trồng keo với giá tiền 2.000.000 đồng và 20 tấm lợp tôn.
Đến cuối tháng 2, đầu tháng 3/2012, ông Đoàn Thế Lợi đã thuê một số người dân lên khu vực đất đã mua từ anh Xoi thuộc vị trí lô 1, khoảnh 1, tiểu khu 425 xã Ba Bích để tiến hành phát luỗng dây leo, bụi lùm và trồng được khoảng 10 ngàn cây keo lá tràm.
Khi cây đang phát triển xanh tốt, đến ngày 19/6/2012, cơ quan CSĐT huyện Ba Tơ phối hợp với các cơ quan chức năng tại địa phương đã tổ chức khám nghiệm hiện trường vụ phá rừng trái phép đối với ông Đoàn Thế Lợi trên diện tích đo được là 28.380 m2.
Ngày 10/7/2012, cơ quan CSĐT ra Quyết định số 17/CSĐT trưng cầu giám định về rừng bị thiệt hại, đến ngày 21/3/2013, cơ quan CSĐT ra quyết định khởi tố ông Lợi về tội “Hủy hoại rừng”.
Ngày 11/7/2014, tại Bản án sơ thẩm số 10/2014/HSST, TAND huyện Ba Tơ đã tuyên bị cáo Đoàn Thế Lợi phạm tội “Hủy hoại rừng” với mức án 07 năm tù và phải nộp sung quỹ nhà nước với số tiền 17.891.100 đồng.
Không đồng tình với quyết định tại Bản án sơ thẩm số 10/2014/HSST ngày 11/7/2014 củạ TAND huyện Ba Tơ, ông Đoàn Thế Lợi đã có nhiều đơn kêu cứu. Trong đơn kêu cứu, ông Lợi cho rằng, ngày 28/7/2010, ông đã thuê khoảng 3-4 sào đất rẫy của anh Phạm Văn Xoi để tiến hành trồng keo với mục đích phát triển kinh tế trồng rừng với thời gian là một vụ trồng cây. Và được hai bên thỏa thuận với số tiền là 2 triệu đồng cùng 20 tấm tôn lợp nhà.
Vì biết đây là diện tích đã được ông bà, cha mẹ để lại cho anh Xoi, tuy không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã được sử dụng qua nhiều vụ khác nhau vì phong tục của đồng bào là sống du canh, du cư nên việc ông phát rẫy trồng keo là hoàn toàn chính đáng. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông lại bị kết tội “Hủy hoại rừng”?.
Bên cạnh đó, qua 3 lần điều tra bổ sung, cơ quan CSĐT huyện Ba Tơ vẫn chưa chứng minh cụ thể đê xác định diện tích trên là đất rừng hay là rừng. Vì theo Điều 3, Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định rõ: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật, đất rừng vả các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa, hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Liên quan đến vụ án này, Luật sư Hà Vĩnh Phúc (nguyên Phó Chánh án TAND tỉnh Quảng Ngãi) thuộc đoàn Luật sư Quảng Ngãi, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lợi cho rằng: Trong giấy chuyển nhượng giữa ông Xoi và ông Lợi, tuy diện tích không chính xác nhưng đã xác định được ranh giới đất ông Lợi giáp đất của anh Sỏi, anh Lập, anh Xia và giáp đất còn lại của anh Xoi. Do đó, việc trồng keo nằm ở vị trí chính giữa nên không có việc ông Lọi lợi dụng để mở rộng hủy hoại với diện tích 28.210m2 được.
Bên cạnh đó, xung quanh khu đất ông Lợi được chuyển nhượng đã được người dân bản địa trồng cây keo, lúa nên ông Lợi cũng phát rẫy trồng keo và hiện nay phát triển rất đều, độ cao trung bình của cây trên 5m đã khép kín tán rừng, phủ kín toàn bộ mặt đất. Xét về mặt kinh tế, môi trường, sinh thái thì hiện nay diện tích ông Lợi trồng keo có giá trị cao gấp nhiều lần so với trước kia bỏ hoang. Hơn nữa, về quy hoạch bên giấy tờ, đây là khu vực rừng phòng hộ nhưng bên thực tế không có địa chỉ giới, mốc giới, biển báo của rừng phòng hộ.
Ông Phạm Văn Chiêng - Chủ tịch UBND xã Ba Bích khẳng định: Toàn bộ diện tích rừng ở tiểu khu 425 không có hồ sơ gốc về rừng mà chỉ có quyết định và biên bản bàn giao rừng của UBND huyện Ba Tơ cho UBND xã Ba Bích quản lý. Vi vậy, ông Chiêng cho rằng, với những chứng cứ cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án, việc kết tội ông Đoàn Thế Lợi “Hủy hoại rừng” của Cơ quan CSĐT là chưa đủ căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 29/9/2014, anh Phạm Văn Xoi luôn khẳng định đây là đất của cha mẹ ông để lại và được canh tác nhiều vụ nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên đành bán cho ông Lợi để lấy tiền làm nhà. Còn ông Phạm Văn Giẻo (cha của anh Xoi) cho rằng gia đình ông có 04 sào đất trước đây trồng lúa và cho lại Phạm Văn Xoi sử dụng, dù canh tác rất lâu cũng không thấy chính quyền địa phương có ý kiến nên không biết là đất rừng phòng hộ.
Luật sư Phúc cũng cho rằng, việc quy kết ông Đoàn Thế Lợi hủy hoại 59.637m3 gỗ và quy thành tiền là 17.891.000 đồng là không có cơ sở. Vì Cơ quan CSĐT không hề có vật chứng mà chỉ dựa vào số liệu trong quy hoạch tổng thể rừng phòng hộ, đồng thời do cây, bụi bị chặt để quy ra nhóm gỗ để đưa vào biên bản định giá gỗ.
Mặc dù diện tích bên hiện nay đã được phủ xanh toàn bộ nhưng cơ quan tố tụng lại buộc ông Đoàn Thế Lợi trồng lại diện tích rừng phòng hộ theo thiết kế trong khi phía UBND xã Ba Bích không có hồ sơ gốc về rừng đối với toàn bộ diện tích rừng tại tiểu khu 425 và kế hoạch phát triển rừng phòng hộ khu vực này nhu thế nào.
Sau khi xem xét, HĐXX TAND tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên án phúc thẩm, tuyên hủy toàn bộ nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2014/HSST ngảy 11/7/2014 của TAND huyện Ba Tơ, yêu cầu điều tra làm rõ các tình tiết theo thủ tục chung. (Bảo Vệ Pháp Luật 3/11) đầu trang(
Xác định rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, đảm bảo nguồn nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của người dân, những năm qua các ngành chức năng của tỉnh đã tập trung nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển vốn rừng, trong đó đặc biệt chú trọng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ rừng.
Ngược dòng sông Đà đến huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, chúng tôi được chiêm ngưỡng màu xanh ngút ngàn những cánh rừng nguyên sinh, rừng tái sinh trải dài trên những triền đồi. Được biết, huyện Mường Tè có gần 163.000 ha đất rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên 162.000 ha, rừng trồng tập trung trên 37 ha.
Để giữ được “màu xanh” ấy, huyện Mường Tè đã quan tâm, chỉ đạo lực lượng kiểm lâm huyện bố trí cán bộ thường xuyên xuống xã, bản tổ chức tuần tra, canh gác, tuyên truyền, hướng dẫn bà con cách phát dọn, đốt nương theo đúng qui trình kỹ thuật. Tăng cường bám địa bàn trong thời gian cao điểm dễ xảy ra cháy rừng, phân công trực PCCCR 24/24 giờ.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phổ biến các văn bản liên quan đến công tác quản lý bảo vệ và PCCCR với nhiều thứ tiếng dân tộc, tổ chức cho người dân ký cam kết PCCCR…
Ông Khoàng Văn Chiến – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Tè chia sẻ: “Xác định bảo vệ rừng là nhiệm vụ của cả cộng Hạt Kiểm lâm đồng, huyện Mường Tè đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền các xã chỉ đạo đưa việc bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR vào quy ước, hương ước của các thôn, bản và coi đây là một trong những tiêu chí để xây dựng gia đình, bản văn hóa…
Đồng thời, huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể và người dân thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” gồm phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ trong PCCCR; cập nhật dự báo cháy rừng, theo dõi diễn biến tình hình thời tiết để thông báo kịp thời và chính xác về nguy cơ cháy rừng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra”.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, để nâng cao nhận thức cho người dân trong việc chung tay bảo vệ rừng, PCCCR, công tác tuyên truyền được tỉnh xác định là giải pháp đột phá.
Từ năm 2011 đến nay các địa phương trong tỉnh đã tổ chức tuyên truyền được 8.546 cuộc họp trong cộng đồng dân cư, tuyên truyền cho 367.794.000 lượt người; 123 lượt trường học với 38.845.000 lượt học sinh tham dự về PCCCR; ký cam kết bảo vệ rừng cho 74.232 lượt hộ gia đình sống trong rừng và ven rừng; cấp phát 39.400 tờ rơi, xây dựng 24 bản tin, 30 biển cấp dự báo cháy rừng, 800 biển báo, biển cấm lửa, cấm chặt phá. Ngoài ra, còn tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, PCCCR và quản lý lâm sản. Vận động quần chúng Nhân dân nâng cao ý thức, trách nhiệm tham gia PCCCR.
Ban Chỉ đạo PCCCR tỉnh đã chỉ đạo huyện Tam Đường, Tân Uyên thành lập 23 chốt gác tại các cửa rừng, bố trí lực lượng canh gác 24/24 giờ để ngăn chặn người ra vào trong thời gian cao điểm; xây dựng 2 chòi canh lửa rừng ở huyện Tam Đường và huyện Sìn Hồ. Làm mới và duy trì 370 km đường băng trắng cản lửa (huyện Tam Đường, Tân Uyên, Than Uyên, Sìn Hồ, Phong Thổ); tổ chức diễn tập 1 cuộc PCCCR cấp tỉnh, 6 cuộc PCCCR cấp huyện, 27 cuộc PCCCR cấp xã.
Đồng thời, chỉ đạo lực lượng kiểm lâm rà soát, kiểm kê các trang thiết bị và dụng cụ PCCCR để bảo dưỡng và sẵn sàng, chủ động triển khai khi có cháy rừng. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo, tham mưu cho Ban Chỉ đạo PCCCR cơ sở tổ chức chữa cháy theo phương châm “bốn tại chỗ”. Kiện toàn, củng cố và duy trì hoạt động của 108 Ban Chỉ đạo cấp xã, 1.144 tổ chuyên trách quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng thôn, bản gắn với việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng…
Từ năm 2011 đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 86 vụ cháy rừng diện tích rừng bị thiệt hại trên 300ha (trong đó, 80% số vụ cháy do người dân đốt nương làm rẫy gây ra). Các vụ cháy rừng thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Đây là thời điểm Nhân dân sống trong rừng và ven rừng đốt nương làm rẫy; trong quá trình sử dụng lửa do bất cẩn hoặc do đốt nương không làm đường băng ngăn lửa và đốt không theo quy định nên lửa đã cháy lan vào rừng. Sau mỗi vụ cháy, Ban Chỉ huy chữa cháy rừng các cấp đều tổ chức rút kinh nghiệm và chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành xác minh nguyên nhân gây cháy rừng và mức độ thiệt hại, điều tra truy tìm đối tượng gây cháy để xử lý theo quy định của pháp luật.
Với phương châm “Phòng là chính, cứu chữa kịp thời”, thời gian tới, ngành kiểm lâm tiếp tục kiện toàn và tăng cường hoạt động của Ban Chỉ đạo PCCCR các cấp; chủ động kiểm tra sát sao công tác phòng cháy chữa cháy; lập kế hoạch phòng, chống cháy rừng cụ thể ở từng khu vực, địa phương, đơn vị để chủ động ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra. Kiện toàn, thiết lập hệ thống PCCCR; xây dựng hệ thống cảnh báo, đường ranh, đường băng cản lửa ở những nơi có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao…
Tuy nhiên với một tỉnh miền núi địa bàn rộng, dân cư sinh sống rải rác trên các sườn đồi, ý thức của một bộ phận người dân về PCCCR chưa cao, còn tình trạng cố tình lén lút đốt rừng làm nương rẫy nên nguy cơ cháy rừng vẫn tiềm ẩn… tỉnh Lai Châu cũng mong muốn Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương tiếp tục đầu tư kinh phí thực hiện Dự án Nâng cao năng lực PCCCR tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 – 2020.
Đặc biệt, Chương trình bảo tồn rừng thực hiện từ năm 2012 – 2014 do Chính phủ Nhật Bản tài trợ không hoàn lại đã kết thúc, trang thiết bị Dự án bố trí để thực hiện công tác PCCCR đã phát huy được hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính giao số tài sản, trang thiết bị này cho tỉnh để tỉnh tiếp tục sử dụng phục vụ công tác PCCCR trên địa bàn. Góp phần hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 tỷ lệ che phủ đạt trên 50%.
Từ năm 2011 đến tháng 9 năm 2015 toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 1.268 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó, vi phạm các quy định về PCCCR 179 vụ; phá rừng trái pháp luật 94 vụ diện tích thiệt hại 11,4 ha; khai thác rừng trái phép 83 vụ; mua bán, vận chuyển, cất giấu, chế biến, kinh doanh lâm sản trái phép 888 vụ; vi phạm khác 24 vụ.
Đã xử lý: 1.116 vụ (trong đó: khởi tố hình sự 18 vụ; xử phạt vi phạm hành chính 1.098 vụ). thu nộp ngân sách: 10.878 triệu đồng (trong đó, xử phạt vi phạm hành chính 4.486,7 triệu đồng; bán lâm sản 6.348,18 triệu đồng; thu khác 43,1 triệu đồng). (Môi Trường Và Đời Sống 3/11) đầu trang(
Bước vào mùa khô, ngay từ những ngày đầu tháng 10, UBND xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của Ban Quản lý Rừng phòng hộ, Hạt Kiểm lâm huyện về tăng cường kiểm tra, giám sát bảo vệ, ngăn chặn tình trạng cháy rừng, đốt phá rừng có thể xảy ra trên địa bàn.
Anh Hà Minh Đồng – Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cho biết: Toàn xã có 6.754,06 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ 6.294,06 ha; diện tích rừng trồng 460 ha, tỷ lệ che phủ rừng của xã đến nay đạt 50,17%.
Xác định công tác tuyên truyền giáo dục Nhân dân là vấn đề cốt lõi trong công tác bảo vệ rừng, cán bộ xã thành lập Ban Chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng thường xuyên xuống các thôn, bản, lồng ghép vào các cuộc họp tuyên truyền cho người dân hiểu được các chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, cách phòng cháy chữa cháy rừng và các chính sách về lâm nghiệp. Qua đó, vận động Nhân dân tham gia bảo vệ tài nguyên rừng.
Ngoài ra, còn dán panô, áp phích tại trụ sở UBND, nhà văn hóa thôn bản, tuyên truyền trên loa phát thanh của xã, bản với phương châm “mưa dầm thấm lâu” để dần dần suy nghĩ đó ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân: “rừng là cuộc sống”.
Một biện pháp được cho là hiệu quả nữa là xã tăng cường phối hợp với các đơn vị liên quan trên địa bàn, các chủ rừng, lực lượng bảo vệ rừng thường xuyên tuần tra, phát hiện xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm đến tài nguyên rừng như: đốt rừng, chặt phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép.
Nghiêm cấm Nhân dân trên địa bàn không mang lửa, các chất gây cháy vào rừng đặc biệt là vào mùa hanh khô. Nhờ đẩy mạnh việc tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng nên những năm gần đây tình trạng đốt rừng làm nương rẫy, chặt phá rừng lấy củi hay khai thác rừng trái phép không còn xảy ra.
Song song với công tác tuyên truyền, UBND xã phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện khoanh vùng và giao khoán cho từng hộ, thôn bản nhận trách nhiệm bảo vệ và trồng rừng thông qua chương trình Chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mỗi bản thành lập 1 tổ chuyên trách (mỗi hộ từ 1 – 2 thành viên), xây dựng kế hoạch cụ thể, có nhiệm vụ tuần tra, giám sát đặc biệt là vào mùa khô để không xảy ra tình trạng cháy rừng. Nhờ đó người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm và có động lực bảo vệ rừng.
Được chứng kiến buổi phát đường băn cản lửa và tuần tra rừng của người dân bản Huổi Hán, chúng tôi hiểu rõ hơn nỗi vất vả và tình yêu rừng của bà khi phải băng qua đoạn suối sâu ngang vai, nước chảy xiết để sang được cánh rừng do dân bản bảo vệ và khoanh nuôi. Chỉ cần sơ sẩy thì có thể cả đoàn gần 30 con người sẽ bị cuốn trôi theo dòng suối.
Sau những phút vất vả với đoạn suối nguy hiểm, chúng tôi cũng đến được cánh rừng. Cảnh tượng đầu tiên trước mắt chúng tôi là cánh rừng xanh bát ngát, những mầm xanh mơn mởn đang vươn mình sinh sôi tạo ra một khung cảnh yên bình. Để có được điều đó, người dân nơi đây đã phải mất bao nhiêu công sức, mồ hôi để trồng, bảo vệ để những cánh rừng lên xanh tốt.
Trò chuyện với chúng tôi, chị Lý Thị Tám – bản Huổi Hán (xã Nậm Xe) tâm sự: “Trước đây mình cứ nghĩ rừng là của chung, không phải của riêng ai nên vẫn đốt rừng làm nương rẫy, lấy củi. Từ khi được cán bộ xã xuống tuyên truyền và giải thích, mình đã hiểu ra giá trị của rừng đối với con người. Gia đình mình nhận chăm sóc và bảo vệ gần 1ha rừng. Từ chương trình Chi trả dịch vụ môi trường rừng, năm 2015 gia đình mình nhận được 2 triệu đồng, số tiền đó, mình đã mua gà giống về nuôi để nó sinh sản”.
Chia tay những người dân bản Huổi Hán và Nhân dân xã Nậm Xe, chúng tôi thực sự trân trọng sự gắn bó, trách nhiệm của người dân nơi đây đối với rừng. (Môi Trường Và Đời Sống 3/11) đầu trang(
Từ năm 2010 đến nay, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng loạt vụ buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã xuyên biên giới, qua đó bắt giữ trên 30 tấn ngà voi và hàng ngàn kilôgam sừng tê giác, vẩy tê tê từ các nước Châu Phi về Việt Nam thông qua đường hàng không và đường biển.
Trong thời gian này, tình trạng buôn lậu, vận chuyển trái phép động vật hoang dã xuyên biên giới diễn biến rất phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi. Trong đó, thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh là những địa bàn phát hiện nhiều nhất.
Thông tin trên vừa được đại diện Cơ quan Quản lý CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) Việt Nam thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) công bố tại cuộc “Đối thoại đa phương về hợp tác phòng chống tội phạm động vật hoang dã xuyên biên giới” giữa Việt Nam, Kenya, Mozambique và Tanzania, do Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam tổ chức ngày 3/11, tại Hà Nội.
Theo ông Nguyễn Hùng Anh, Phó Cục trưởng Cục Điều tra chống Buôn lậu (Tổng cục Hải quan), chỉ tính riêng năm 2014, cơ quan này đã phát hiện và bắt giữ 53 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép động vật hoang dã xuyên biên giới, với trọng lượng 8.976,2kg.
Trong đó, Cục Điều tra chống Buôn lậu đã bắt giữ 36 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép 178,155kg sừng tê giác; 117 vòng mỹ nghệ làm từ ngà voi; bắt giữ 5 vụ vận chuyển trái phép tê tê, qua đó thu giữ 1.579 tấn vẩy tê tê, 158 cá thể tê tê sống….”
Kể ra một số vụ điển hình, ông Nguyễn Hùng Anh cho biết, hôm 14/8/2015, Cục Điều tra chống Buôn lậu phối hợp với một số phòng của Bộ Công an đã phát hiện, tịch thu 593 kg ngà voi và 142 kg sừng tê giác tại cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) do Công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn An nhập lậu.
Cũng trong ngày 14/8, tại cảng Tiên Sa, lực lượng hải quan tiếp tục phát hiện 2.181kg ngà voi do Công ty trách nhiệm hữu hạn Hùng Huy Bảo nhập lậu. Ngoài ngà voi và sừng tê giác, vào ngày 25/8 và 13/9/2015, lực lượng hải quan còn phát hiện và tịch thu hơn 4.000kg vẩy tê tê có nguồn gốc từ Nigeria (châu Phi) và Malaysia về Đà Nẵng, do Công ty trách nhiệm hữu hạn Hùng Huy Bảo nhập lậu...
Trong khi đó, ông Nguyễn Duy Giảng, Vụ trưởng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) cũng khẳng định, tình trạng vận chuyển trái phép động vật hoang dã thời gian qua diễn ra rất tinh vi, trong khi phần lớn chủ hàng đều ở nước ngoài, nên có nhiều vụ phát hiện nhưng không tìm được chủ.
Theo thống kê của ông Giảng, ngoài các vụ vận chuyển trái phép động vật hoang dã bị bắt giữ không rõ chủ, từ năm 2010 đến nay, cơ quan chức năng đã phát hiện, khởi tố, điều tra 36 vụ án hình sự đối với 26 bị can. Trong đó, số vụ bị bắt giữ nhiều nhất là ở cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước thực tế nêu trên, ông Giảng kiến nghị Việt Nam và một số nước châu Phi cần sớm ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp; tăng cường cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin để có cơ sở xác minh và xử lý “đúng người, đúng tội” đối với các đối tượng buôn bán động vật hoang dã xuyên biên giới.
Vụ trưởng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế cũng khuyến nghị mở rộng phạm vi bảo vệ của Bộ Luật Hình sự đối với nhóm IB (động vật nguy cấp, quý, hiếm) và Phụ lục I Công ước CITES, cụ thể hóa về định lượng ngà voi, sừng tê giác để thống nhất mức án, thuận tiện cho việc xử lý. Bởi, hiện nay mức xử lý hình sự còn thấp, cũng như chưa thống nhất được án phạt.
Đồng tình với các ý kiến trên, bà Hà Thị Tuyết Nga, Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam cho rằng, trong 5 năm tới, Việt Nam vẫn tiếp tục là điểm nóng về buôn bán trái phép động vật hoang dã. Vì vậy, việc sửa đổi văn bản pháp lý nhằm tăng cường xử lý hình sự tội phạm buôn bán trái phép động vật hoang dã là cấp thiết trong việc thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES). (Việt Nam + 3/11) đầu trang(
TAND huyện đã hai lần trả lại hồ sơ với lý do VKS truy tố không đúng tội danh. Sau đó bị can được miễn trách nhiệm hình sự vì hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Hồ sơ ghi nhận khoảng 17 giờ 30 ngày 22-7-2013, Nguyễn Văn Hào nhận được tin báo có xe máy kéo vận chuyển gỗ ở khu vực thôn 9, xã EaWer, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk). Lúc đó, Hào đã báo cáo với đội trưởng Đội cơ động số 2, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn và được phân công cùng ba nhân viên khác đi làm nhiệm vụ. Theo đó, Hào làm tổ trưởng và được cấp một khẩu súng AK.
Đến khoảng 19 giờ 30 khi đang làm nhiệm vụ tuần tra, Hào cùng tổ công tác phát hiện Y Jẽ Hra chạy xe máy kéo chở Y Koãi Hra, Y Bai Hra, Y Khóc Hra đang vận chuyển một lóng gỗ đến đoạn đường liên thôn thuộc buôn Tul B. Hào liền dùng súng AK bắn chỉ thiên hai phát nhưng Y Jẽ Hra không dừng lại mà tiếp tục cho xe chạy.
Lúc này Hào cùng tổ công tác dùng xe mô tô đuổi theo và dùng súng bắn chỉ thiên nhiều phát. Thấy vậy, Y Koãi Hra, Y Bai Hra, Y Khóc Hra đã hất lóng gỗ xuống đường. Sau đó, cả bốn người đã quay lại hiện trường xin lại lóng gỗ nhưng các nhân viên kiểm lâm không cho.
Bấy giờ có nhiều người dân kéo đến hiện trường để xem. Y Koãi Hra đến gần chỗ Hào xin lại lóng gỗ nhưng Hào và tổ công tác không cho với lý do đây là gỗ tươi, mới khai thác. Thế nhưng Y Koãi lại cho rằng đó là gỗ khô và để chứng minh điều này, anh dùng dao chặt vào lóng gỗ một phát. Lúc đó, Hào đã dùng súng bắn liên tục ba phát, trong đó có một phát trúng ngón chân trái của anh Y Kút Ayun gây thương tích 15%.
Cho rằng bốn người trên đã có hành vi vận chuyển 0,378 m3 gỗ căm xe, CQĐT đã đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.
Riêng Hào bị bắt và bị truy tố về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 104 BLHS. Cáo trạng ngày 23-1-2014 và cáo trạng ngày 24-10-2014 đều nhận định: “Do coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác nên vào khoảng 19 giờ 30 ngày 22-7-2013, trong lúc thi hành công vụ Hào đã sử dụng vũ khí quân dụng, súng AK trong trường hợp không được pháp luật cho phép, bắn trúng chân trái và chân phải của anh Y Kút Ayun gây thương tích 15%...”.
Tuy nhiên, hai lần VKSND huyện Buôn Đôn chuyển hồ sơ qua tòa thì đều bị TAND huyện này trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Mục đích là để VKSND huyện này xem xét truy tố về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ.
Hơn hai năm sau, tháng 8-2015, VKSND huyện này đã ra quyết định đình chỉ vụ án. Lý do: Hiện trường nơi xảy ra vụ án được xác định thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Yok Đôn, nằm ngoài diện tích vườn quản lý. Hào đã bồi thường hơn 35 triệu đồng cho người bị hại. Sau khi gây thương tích, Hào đã khai báo thành khẩn, tự nguyện khắc phục hậu quả.
Hiện sức khỏe của anh Y Kút đã bình phục, hành vi của Hào không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Mặt khác theo báo cáo của Vườn quốc gia Yok Đôn, trong thời gian được bảo lãnh, Hào đã chấp hành tốt nội quy của cơ quan, không có hành vi vi phạm nào khác. Từ đó VKSND miễn trách nhiệm hình sự cho bị can theo Điều 25 BLHS.
Lý giải với PV vì sao lại bắn súng xuống đất, anh Hào nói: “Lúc ấy rất nhiều người dân đến vây quanh, áp sát tổ công tác, buộc tôi phải giữ chắc khẩu súng chĩa xuống đất theo chiều hướng vuông góc đề phòng cướp cò gây nguy hiểm cho nhiều người. Chân tôi vẫn đè lên lóng gỗ, yêu cầu mọi người lùi ra xa tổ tuần tra nhưng họ vẫn không lùi và có người còn dùng dao chặt vào lóng gỗ gần bàn chân tôi. Họ áp quá sát người tôi mà khẩu súng AK lại dài, không thể chĩa súng lên trời để bắn chỉ thiên vì như thế súng sẽ trúng người dân, dễ bị cướp cò, rất nguy hiểm. Trước tình thế cấp bách, tôi buộc phải nổ súng ở dưới đất để tránh nguy hiểm tới nhiều người và để cảnh cáo, răn đe, bảo vệ hiện trường”.
Anh Hào cho biết đây là tai nạn nghề nghiệp: “Giờ họ đình chỉ như thế thì lý lịch tôi bị xấu, con tôi mai mốt có lớn lên đi thi vào ngành công an cũng không được. Họ bắt giam tôi gần ba tháng trời rồi ngâm hồ sơ đến hai năm vẫn không đưa vụ án ra xét xử. Cha mẹ, vợ con tôi ở bên ngoài lao đao khổ sở, vợ tôi bị rối loạn tiền đình xỉu lên xỉu xuống, từ một người gần 50 kg xuống còn 33 kg, tinh thần hoảng loạn, nhiều lúc tưởng như chết. Giờ tôi chỉ cần họ đến gia đình xin lỗi tôi trước mặt cha mẹ và cơ quan tôi cho hợp lẽ”.
Đại diện TAND huyện Buôn Đôn (xin không nêu tên) cho biết: “Vụ án này tòa đã hai lần trả hồ sơ, còn nếu như VKSND vẫn tiếp tục giữ nguyên quan điểm truy tố tội cố ý gây thương tích thì chúng tôi sẽ tuyên bị cáo không phạm tội. Anh Hào có giấy phép sử dụng súng, kể cả ngoài giờ hành chính. Do anh đang đi thi hành công vụ nên đây phải là tội gây thương tích khi thi hành công vụ mà tội này tỉ lệ thương tật phải từ 31% trở lên. Vì thế tôi trả hồ sơ không đồng ý tội cố ý gây thương tích, còn vấn đề đủ phần trăm hay không là do cơ quan giám định. Trước đó chúng tôi đã mang hồ sơ lên tỉnh tham khảo ý kiến, 100% thành viên hội đồng thẩm phán cho rằng bị cáo không phạm tội cố ý gây thương tích. Nay VKSND đình chỉ theo Điều 25 BLHS, chúng tôi không có quyền can thiệp. Tuy nhiên, VKSND đình chỉ như vậy là sai, việc miễn trách nhiệm hình sự như thế có vẻ như là ban ơn cho anh Hào, tức là anh Hào vẫn có hành vi phạm tội. Đáng lẽ phải đình chỉ theo hướng không phạm tội”.
Về phía VKSND huyện Buôn Đôn, Viện trưởng Hoàng Ngọc Long nói: “Khi chưa có chỉ đạo nào của VKSND tỉnh, chúng tôi không thể phát ngôn bất cứ điều gì”. Ngoài ra, ông Long còn nói vụ án này VKSND huyện đã từng xin ý kiến chỉ đạo của tỉnh.
Tuy nhiên, khi PV liên hệ với VKSND tỉnh Đắk Lắk thì ông Đinh Quang Cử, Chánh văn phòng, lại nói: “Vụ này của huyện Buôn Đôn, chị cứ xuống đó hỏi”. Khi PV nói VKSND huyện không thể trả lời nếu tỉnh không chỉ đạo, ông Cử cho biết: “Đó là quy chế của ngành tôi. Viện phó tỉnh là ông Lê Quang Tiến mới là người phát ngôn nhưng hiện giờ Viện phó Tiến đi công tác. Còn viện trưởng đi họp Quốc hội chưa về”.
Luật sư Nguyễn Đức Chánh (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết: “Nội dung trong hai cáo trạng đều cho thấy anh Hào đang thi hành công vụ và như vậy hành vi của anh Hào có dấu hiệu của tội gây thương tích trong khi thi hành công vụ theo Điều 107 BLHS. Thế nhưng cáo trạng lại truy tố anh Hào về tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS - tức là kết luận một đằng, truy tố một nẻo.
Tội gây thương tích trong khi thi hành công vụ theo Điều 107 BLHS phải có yếu tố là gây thương tích với tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên. Còn trong vụ án này thì tỉ lệ thương tật của anh Y Kút Ayun là 15%. Xem ra không đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Hào về tội gây thương tích trong khi thi hành công vụ.”
“Theo tôi, lý do đình chỉ vụ án của VKSND huyện Buôn Đôn không đúng quy định của pháp luật. Trường hợp này phải đình chỉ vụ án với lý do “hành vi không cấu thành tội phạm” theo khoản 2 Điều 107 BLTTHS mới đúng. Bởi lẽ việc anh Hào thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS. Còn việc sức khỏe của người bị hại Y Kút Ayun đã bình phục cũng không phải là căn cứ để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần lưu ý thêm: Vì cáo trạng truy tố anh Hào theo khoản 2 Điều 104 BLHS với khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm. Đây là loại tội phạm nghiêm trọng cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Và không có chuyển biến tình hình nào để cho thấy hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.”, ông nói thêm.
Ông Nguyễn Hữu Tạo, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) cho biết: “Hôm đó tôi là người trực tiếp tới hiện trường đưa nạn nhân đi cấp cứu. Các đối tượng lấy gỗ đã hất gỗ xuống đường, trong khi đó anh em kiểm lâm đang chạy phía sau là rất nguy hiểm. Họ đã bỏ về, thoát khỏi thì thôi đằng này họ lại quay trở lại đòi gỗ. Kiểm lâm lúc đó chỉ có bốn người mà người dân lại đông, tôi nghĩ rất khó để anh Hào có thể xử lý khéo léo hơn. Nếu anh Hào không bắn súng thì chỉ có cách buông để cho những người đó lấy gỗ đem về. Song làm như thế là không hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi anh Hào bị bắt, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ. Nhiều đối tượng vận chuyển gỗ trái phép đã tỏ ra hung hăng, cởi áo thách thức: “Mày bắn đi, mày còn nhớ vụ thằng Hào không?”. Điều này ảnh hưởng rất nhiều tới tâm lý của kiểm lâm trong việc bảo vệ rừng.” (Pháp Luật TP.HCM 14/11) đầu trang(
Thông tin từ Đội CSGT đường mòn Hồ Chí Minh (HCM), thuộc Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Nghệ An cho biết, đơn vị vừa bắt giữ 1 chiếc xe chở 31 khúc gỗ tròn không rõ nguồn gốc và giấy tờ hợp pháp.
Theo đó, vào chiều ngày 1/11, trong lúc tuần tra, kiểm soát giao thông trên đường mòn HCM thuộc địa phận huyện Thanh Chương (Nghệ An), tổ công tác Đội CSGT đường mòn HCM phát hiện chiếc xe tải mang BKS: 37C - 024.46 do tài xế Lê Danh Hậu (33 tuổi), trú tại huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) điều khiển có biểu hiện nghi vấn. Sau khi ra hiệu lệnh dừng xe, tổ công tác phát hiện trên xe chở một lượng lớn gỗ tròn (khoảng 31 khúc), thuộc nhóm VIII.
Tại thời điểm kiểm tra, tài xế Hậu không cung cấp được giấy tờ hợp pháp chứng minh nguồn gốc số gỗ trên. Ngay sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tại chỗ và bàn giao tang vật cho Hạt kiểm lâm huyện Thanh Chương (Nghệ An) xử lý theo quy định pháp luật.
Hiện, lực lượng chức năng đang mở rộng điều tra và xử lý vụ việc theo quy định pháp luật. Trước đó, vào ngày 20/10, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng số 3 (phụ trách tuyến đường 48 và 7 huyện vùng tây bắc Nghệ An) phối hợp với kiểm lâm và Công an huyện Quỳ Châu cũng đã mật phục, bắt quả tang vụ chở gỗ lậu của hai đối tượng.
Vụ vây bắt diễn ra tại địa bàn xã Diễn Lãm, huyện Quỳ Châu khi chiếc xe ben mang BKS: 37N - 8661 vận chuyển 2,8m3 gỗ de, gỗ táu không có giấy tờ hợp pháp. Chủ gỗ là Lương Văn Thuận (20 tuổi), trú tại bản Xốp Hốc, xã Diễn Lãm khai nhận mua số gỗ này về làm nhà nhưng không rõ nguồn gốc. (Đời Sống Và Pháp Luật 4/11) đầu trang(
Thời gian qua, mặc dù ngành chuyên môn đã sâu sát trong việc kiểm soát hoạt động chăn nuôi, mua bán động vật hoang dã, tuy nhiên tình trạng gây nuôi, kê khai chưa đúng quy định pháp luật vẫn còn diễn ra, gây khó khăn cho cơ quan chức năng lẫn người nuôi.
Thống kê từ Chi cục Kiểm lâm Hậu Giang, trên địa bàn tỉnh có gần 600 hộ chăn nuôi động vật hoang dã. Nhiều nhất là trăn đất với hơn 41.500 cá thể; kế đó là các loài ba ba, cua đinh, rắn ri voi, rắn ráo trâu, cá sấu… Song, trên thực tế vẫn còn khoảng 10-15% trường hợp chưa đăng ký về cơ quan chức năng. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do một bộ phận nhỏ người dân không hiểu rõ về quy định chăn nuôi và xuất bán các loài hoang dã.
Ban đầu, bà Phạm Thị Em, ở ấp 3, xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, chỉ nuôi một vài con trăn đất để làm thú vui, nhưng thời gian sau gia đình bà có ý định sẽ chuyển sang nuôi với mục đích kinh doanh. Nhưng khi được hỏi về quy trình thủ tục, bà Phạm Thị Em ngạc nhiên trả lời: “Tôi đâu nghĩ phải đăng ký gì đâu, cứ tưởng mua về là mình nuôi thôi chứ. Hoàn toàn không biết mình phải đăng ký hay khai báo...”.
Lời bộc bạch chân thành của những nông dân như bà Phạm Thị Em không chỉ cho thấy sự thiếu kiến thức về quy định chăn nuôi động vật hoang dã mà còn lý giải nguyên nhân dẫn đến khâu xuất bán sau này gặp nhiều trở ngại. Ông Trần Thanh Phong, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phụng Hiệp phân tích, khó khăn nhất là việc chủ nuôi khai báo sai thông tin khi tăng đàn, tỷ lệ cá thể chênh lệch quá nhiều so với thực tế và tính toán của ngành chức năng. Tình trạng này chủ yếu rơi vào các hộ mới nuôi. Khi phát hiện những trường hợp như thế, địa phương sẽ cử cán bộ kiểm lâm đến hướng dẫn quy trình thủ tục cho bà con.
Ông Phong dẫn chứng: “Khi nuôi loài trăn đất, ban đầu là chúng tôi sẽ hướng dẫn bà con phải chứng minh được nguồn gốc vật nuôi, có xác nhận ở nơi cung cấp con giống và ngành chức năng sở tại; sau đó đem về địa phương mới được xem là hợp pháp. Tiếp đến, trách nhiệm của hạt kiểm lâm chúng tôi là sẽ xác nhận và cấp sổ theo dõi cho bà con. Trong quá trình nuôi, nếu người dân có tăng đàn thì chỉ cần đến Chi cục Kiểm lâm, hoặc Hạt Kiểm lâm sở tại xác nhận kịp thời nhằm tránh tình trạng xuất bán không được do chưa đảm bảo về mặt thủ tục quy định”.
Theo ông Nguyễn Đức Vinh, ở ấp Mỹ Lợi B, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, việc khai báo và đăng ký giúp thuận lợi hơn trong khâu xuất bán. Một lợi thế khác là sản phẩm đã chứng minh rõ nguồn gốc giúp ông tránh được tình trạng thương lái ép giá. Nhờ thế ông Vinh từ một người nông dân chân chất tập tành nuôi cá sấu, giờ đây có thể hướng dẫn rành rọt thủ tục cho những người mới bước vào nghề.
“Cá sấu là loài đòi hỏi quy trình thủ tục thả nuôi nghiêm ngặt. Tôi phải đăng ký cả về tiêu chuẩn chuồng trại nữa chứ đâu có đơn giản là chứng minh nguồn gốc con giống. Thủ tục thì lên Hạt Kiểm lâm đăng ký là xong, chỉ mất khoảng một tiếng đồng hồ là có thôi. Lúc mới nuôi, tôi không biết gì về giấy tờ hết nên rối lắm. Chứ bây giờ được mấy chú kiểm lâm hướng dẫn cặn kẽ riết rồi thuộc lòng. Phải nói là thương lái thấy sản phẩm của mình có nguồn gốc, xác nhận đầy đủ của cơ quan chức năng nên khoái lắm”, ông Vinh tâm đắc.
Ông Trần Thanh Phong cho biết thêm, trong suốt thời gian nuôi, kiểm lâm viên sẽ kiểm tra nghiêm ngặt từ khâu đăng ký đến khi xuất bán bằng cách kiểm đếm, thống kê cá thể đàn vật nuôi, khấu hao số lượng tăng giảm và có xác nhận vào sổ theo dõi hàng tháng. Còn ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, cho rằng đối với trường hợp khai báo sai thông tin khi tăng đàn, ngành kiểm lâm sẽ tiến hành tính toán, phân loại, rồi kiểm đếm thực tế số lượng cá thể trong đàn một cách chính xác, sau đó mới có xác nhận vào sổ theo dõi. Ngoài ra, còn thực hiện công tác tuyên truyền nhắc nhở hộ dân, tránh tái phạm trong những lần sau.
“Nhìn nhận ở góc độ quản lý, chúng tôi rất ủng hộ người dân trong khâu chăn nuôi động vật hoang dã, bởi điều này sẽ góp phần làm giảm thiểu lượng săn bắt trái phép ngoài tự nhiên, vì trên thực tế nhiều loài đang dần trở nên khan hiếm, cạn kiệt. Nhưng việc chăn nuôi tuyệt đối phải làm đúng quy định. Bởi nếu bà con không đăng ký mà xuất bán như các loại vật nuôi thông thường mà không có giấy tờ, khi phát hiện, cơ quan kiểm lâm cũng sẽ tiến hành tịch thu sản phẩm không rõ nguồn gốc và lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính theo luật định”, ông Phúc nhấn mạnh. (Báo Hậu giang 4/11) đầu trang(
Chọn đúng ngày chủ nhật 8-11, lễ hội chiếu phim và ca nhạc ngoài trời về động vật hoang dã (Wildlife film and music festival - WildFest) đầu tiên của Việt Nam sẽ diễn ra tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội.
“Niềm tin vào phép mầu của những phương thuốc được cho là thần dược với người Việt đã có từ lâu đời nên chẳng dễ để lay chuyển suy nghĩ đó với những người lớn tuổi. Tuy nhiên, tôi tin rằng thế hệ trẻ có cách nghĩ khác và họ chính là những người tạo được sự ảnh hưởng lâu dài” - đạo diễn Charlie Nguyễn, thành viên ban giám khảo WildFest, nói.
WildFest đã được khởi động từ tháng 6 và nhận được sự hưởng ứng không chỉ đối với các nhà làm phim Việt Nam mà còn có cả các nhà làm phim Nam Phi, Thái Lan, Malaysia và Úc. Ban tổ chức đã tuyển chọn được 17 phim ngắn (dài từ 3 - 7 phút) cho ba hạng mục phim tranh giải (11 phim), phim được lựa chọn nhưng không tranh giải (ba phim) và phim khách mời (ba phim).
Những bộ phim này đa dạng về thể loại: phim hài, phim hành động, phim kinh dị, phim truyện ngắn, phim tài liệu ngắn, phim hoạt hình ngắn... và phản ánh nhiều góc độ của vấn nạn tiêu thụ động vật hoang dã ở Việt Nam.
11 phim tranh giải, có phim là câu chuyện mang tính cá nhân như một phụ nữ Việt đang sống ở nước ngoài nhìn khung cảnh tự nhiên và nhớ về tuổi thơ (Khi khu vườn im lặng - Nguyễn Mỹ Dung), một cô gái trẻ nhớ về một nơi chốn đặc biệt gây ấn tượng (Gửi B. - Phạm Thu Thủy).
Có những phim lại là góc nhìn từ loài vật: của một chiếc sừng tê cuối cùng còn lại trên thế giới (Chuyện chiếc sừng tê giác - Hoan Nguyễn); của ba bạn Gấu, Voi và Tê giác nhớ về cuộc sống những ngày còn ở bên cha mẹ (Một cuộc phỏng vấn - Nguyễn Minh Huy); là tâm sự một ngày trong sở thú của một tê giác cùng nhiều loài vật khác (Nhật ký trong chuồng - Lê Bình Giang).
Bên cạnh đó, Điệp vụ tê giác (Dương Minh Lộc), Di sản (Huỳnh Nguyễn Đăng Khoa) và Không tên (Phạm Hoàng Phúc) lại là những cảm giác hồi hộp, gay cấn khi đề cập trực tiếp tới việc giết hại tê giác lấy sừng và việc hoán đổi vai trò người - tê giác.
Đề tài gia đình và việc giáo dục ý thức bảo vệ động vật hoang dã cũng được phản ánh một cách trực diện (Chú bé 8 tuổi - Anh Poly) hay gián tiếp (Những con thú đi đâu rồi ba? - Mai Đình Khôi).
Riêng phim của Katrina Kaufman Người bảo vệ tê tê thì mang đến một ví dụ về cố gắng của con người tại Việt Nam sửa chữa lỗi lầm của đồng loại với động vật hoang dã.
“WildFest làm tôi rất ngạc nhiên về chất lượng phim. Vì chính tôi cũng tham gia làm một phim chỉ để trình chiếu, nên tôi nghĩ chắc chắn các nhà làm phim sẽ rất khó để thể hiện được ý tưởng của mình sao cho hấp dẫn với một đề tài khó nhằn như WildFest đưa ra.
Nhưng khi xem các phim vào vòng tranh giải, tôi à lên thích thú vì những bộ phim này đều cho phép người xem tiếp cận với những thế giới sống động, những ưu tư, trăn trở của người làm phim...
Tất cả hiện ra chân thành và cảm xúc... chứ không phải dạng tuyên truyền khẩu hiệu như tôi đã từng lo lúc đầu. Chứng tỏ, với các nhà làm phim, đề tài về động vật hoang dã, về thiên nhiên cũng là một dạng đề tài cuốn hút” - đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp, thành viên ban giám khảo WildFest, đánh giá.
WildFest là một phần của chương trình Cùng hành động tạo sự thay đổi (OGC), được Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng Chính phủ Việt Nam và Tổ chức Freeland phối hợp tổ chức.
Để nhanh chóng “loan báo” sự kiện “nóng” này đến với công chúng, nhất là tới các bạn trẻ, trước đó mười ngày ban tổ chức đã giới thiệu trailer của ba phim khách mời và 11 phim tranh giải
trên YouTube.
Cùng với đó, thông tin về lễ hội, việc nhận vé miễn phí tham gia sự kiện đã được thông báo qua truyền thông và trang web wildfest.org hoặc facebook.com/OperationGameChange. Và đúng tinh thần của lễ hội, ban tổ chức không ngại ngần gì đề xuất việc khán giả hãy dẫn theo bạn bè, gia đình, mang theo chiếu, ghế gấp và tận hưởng một đêm lễ hội phim ngắn cùng ca nhạc miễn phí.
Bà Lisa Bess Wishman - đại diện của Đại sứ quán Mỹ - nhấn mạnh: “Chúng tôi mong muốn WildFest có thể khuyến khích các cách tiếp cận sáng tạo hơn trong việc đối phó với nạn buôn bán động vật hoang dã, và chúng tôi ủng hộ tất cả những ai mong muốn sử dụng phim ảnh để tạo ra sự thay đổi với cuộc thi này”.
Có phim tranh giải tại WildFest này, Anh Poly rất hào hứng nói: “Nhóm làm phim mà tôi hướng dẫn đều là học sinh THPT. Và chỉ trong vài tuần làm việc với nhau, các bạn ấy đã có nhiều thay đổi về nhận thức đối với việc bảo vệ động vật hoang dã. Tôi nghĩ, từ các bạn ấy thông điệp của WildFest sẽ tiếp tục lan tỏa...”.
WildFest được bắt đầu lúc 17g30 ngày 8-11 tại Hoàng thành Thăng Long. Cùng với việc chiếu phim, WildFest còn có chương trình ca nhạc với sự tham gia của các nghệ sĩ biểu diễn như Suboi, PB Nation, Đinh Mạnh Ninh, Tô Minh Đức, Phạm Tiến Mạnh và Kyo York - Uyên Nhi và những trò chuyện, giao lưu với các nhà làm phim.
Riêng hai nghệ sĩ Suboi và Hà Lê lần đầu tiên sáng tác ca khúc về đề tài động vật hoang dã để trình diễn trong dịp này.
Theo ban tổ chức, ngay sau khi được lựa chọn để công chiếu tại WildFest cùng ba phim khách mời (Ác mộng của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, Ai còn sống, giơ tay lên! của đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp và Người tê giác của đạo diễn Bảo Nguyễn), 11 phim này sẽ được công chiếu đến khán giả toàn cầu trên website wildfest.org. (Tuổi Trẻ 4/11) đầu trang(
Chương trình Bảo tồn thú ăn thịt nhỏ và tê tê được Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật, Vườn quốc gia Cúc Phương và Trung tâm Cứu hộ và Bảo tồn động vật hoang dã (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) triển khai thực hiện từ năm 1999.
Đến nay, Chương trình đã phối hợp với các ngành hữu quan cứu chữa, nuôi dưỡng và tái thả lại tự nhiên hàng trăm cá thể tê tê thu giữ từ hoạt động săn bắt, vận chuyển trái phép.Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, Chương trình gặp không ít những khó khăn, trong đó cơ bản nhất là kinh phí nuôi dưỡng tê tê, đợt cao điểm Chương trình nuôi nhốt trên 100 cá thể tê tê với kinh phí trên 90 triệu đồng/tháng.
Tại khu nuôi dưỡng, chăm sóc tê tê và thú ăn thị nhỏ, Vườn quốc gia Cúc Phương hiện có hơn 50 cá thể tê tê được nhân viên của Chương trình chăm sóc. Lượng cá thể tê tê này chủ yếu được thu gom từ các vụ săn bắt, vận chuyển, buôn bán trái phép tê tê do lực lượng chức năng bắt giữ.
Đợt cao điểm nhất, trong tháng 8-9/2015, Chương trình tiếp nhận 75 cá thể tê tê, nâng tổng số tê tê được nuôi nhốt trong chuồng lên 128 cá thể, lớn nhất từ trước tới nay. Đến nay, đã có 30 cá thể được tái thả lại môi trường tự nhiên, một số cá thể bị chết, số còn lại trên 50 cá thể đang được chăm sóc tại khu nuôi nhốt.
Các cá thể tê tê hiện đang nuôi nhốt đều đủ sức khỏe để tái thả lại tự nhiên. Tuy nhiên, do đây là tang vật của các vụ vận chuyển trái phép tê tê, các vụ án hình sự nên Chương trình không thể tái thả tê tê lại tự nhiên khi chưa có quyết định xử lý. Đây cũng là vướng mắc lớn nhất đối với cán bộ, nhân viên của Chương trình trong việc nuôi dưỡng tê tê. Bởi ngoài lượng thức ăn phải cung cấp thường xuyên cho tê tê lên đến hơn 1 triệu đồng/ngày, các nhân viên tại khu nuôi dưỡng hết sức lo ngại về khả năng tái hòa nhập với môi trường tự nhiên của tê tê sau một thời gian nuôi dưỡng tại chuồng.
Ông Trần Quang Phương - Quản lý Chương trình Bảo tồn thú ăn thịt nhỏ và tê tê, cho biết quá trình thực hiện, Chương trình gặp không ít khó khăn về nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí... Hiện chương trình có năm cán bộ, nhân viên thực hiện tiếp nhận và nuôi dưỡng thú ăn thịt nhỏ và tê tê; cơ sở vật chất cũng gặp nhiều khó khăn với 20 chuồng kiểm dịch, tám chuồng nuôi lớn sức chứa khoảng 70 cá thể tê tê.
Bên cạnh đó, chi phí thức ăn cho mỗi cá thể tê tê khoảng 40.000 đồng/ngày/cá thể và 50 cá thể đang được nuôi dưỡng thì số tiền thức ăn lên đến 2 triệu đồng/ngày. Ngoài ra, số tê tê trên chủ yếu là vật chứng của các vụ án hình sự, buộc phải lưu giữ và chờ quyết định xử lý...
Ông Phương lo ngại nếu nuôi nhốt tê tê quá lâu trong môi trường nhân tạo sẽ dần làm mất đi tập tính tự nhiên của tê tê, dẫn đến việc tê tê hòa nhập môi trường sống tự nhiên rất khó khăn. Cụ thể, theo ông Phương, tê tê thường ăn trứng kiến, kiến và côn trùng nhỏ. Tuy nhiên, việc bắt kiến và lấy trứng kiến từ tự nhiên tại Cúc Phương gần như là điều không thể. Do vậy, Chương trình phải nhập kiến và trứng kiến đông lạnh từ miền Nam, kết hợp với pha trộn nhộng tằm đông lạnh được mua từ một số tỉnh phía Bắc để làm thức ăn cho tê tê.
Quá trình huấn luyện cho tê tê ăn thức ăn nhân tạo này cũng hết sức phức tạp, cần có thời gian nhất định tê tê mới chấp nhận loại thức ăn này. Trước khi tái thả tê tê trở lại với môi trường tự nhiên cũng phải cho tê tê ăn kiến sống khoảng 2 tuần để làm quen trở lại với tập tính loài.
Ông Lê Phương Triều - Giám đốc Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật, Vườn quốc gia Cúc Phương - nhấn mạnh trước thực tế khó khăn về kinh phí cũng như việc khó hòa nhập môi trường tự nhiên của tê tê, Trung tâm đã đề nghị các ngành hữu quan cần quan tâm đầu tư kinh phí dài hạn cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc tê tê; có cơ chế, quy định linh động về tang vật đặc thù này thay vì nuôi nhốt các cá thể tê tê lâu dài...
Ngoài ra, nếu các cơ quan chức năng gửi vật chứng, tang chứng vụ án hình sự là các cá thể tê tê cần cấp kinh phí duy trì hoạt động nuôi dưỡng tê tê trong môi trường nhân tạo. Tuy nhiên, những đề nghị của Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật vẫn chưa có hồi âm. (Vietnam + 4/11) đầu trang(
Thế mạnh về kinh tế đồi rừng được khai thác và phát huy hiệu quả làm cho mỗi người dân trồng rừng ở huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) trở thành những nhân tố quan trọng, cốt yếu trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Minh Hiệu là tổ trưởng quần chúng bảo vệ rừng của xóm Thái Hưng, xã Văn Hán.
Ông Hiệu kể, ông là người Thái Bình lên định cư tại đây. Những năm đầu mới đến, rừng núi còn nguyên sinh, hoang dã. Từng bầy hươu nai, khỉ, nhắng còn chạy ra ven rừng xem con người SX.
Nguồn lợi từ tự nhiên sẵn có là điều kiện tức thì để những người mới đến tổ chức định cư. Gỗ rừng được chặt về dựng lán, làm nhà. Đất đai được khai khẩn để cấy lúa, trồng chè. Chim thú là nguồn thực phẩm sẵn có mà không phải chăn thả.
Bẵng đi gần 3 thập kỷ, khi những người định cư thành dân bản địa gốc thì hoang thú lại bỏ đi vì không còn nơi tồn tại ở Văn Hán nữa. Rừng xanh bạt ngàn trước kia chỉ còn trơ trọi những những đồi trọc, núi trắng. Nhớ rừng, cảm giác thèm muốn tìm lại không gian xưa khó tả, khó nói trong mỗi người dân nơi này.
Cuối những năm 90, công tác phát triển rừng được đẩy mạnh trên địa bàn. Qua một chu kỳ, nhiều vạt rừng lại phủ mướt trên những đồi hoang, đất trống trước đó. Những hộ dân tham gia trồng rừng đã thu được những món tiền lớn. Kinh tế rừng đã phát huy hiệu quả.
Một thập kỷ trở lại đây, kinh tế đồi rừng được coi là thế mạnh của xã Văn Hán. Những tổ đội quần chúng bảo vệ rừng như tổ của ông Hiệu là những người tự giác, xung phong tuần tra canh gác giữ rừng. Chuyện lâm tặc phá rừng ở đây giờ chỉ còn trong dĩ vãng...
Ông Ngô Thạch Tú, cán bộ kiểm lâm phụ trách xã Văn Hán cho biết, xã có gần 4.000 ha đất rừng trồng đều được phủ kín với 17 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng. Đó là những cán bộ cơ sở nòng cốt trong việc tuyên truyền cho nhân dân về công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Lương Văn Minh, Tổ trưởng quần chúng bảo vệ rừng xóm La Nưa (xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ) cho biết, xóm có 182 hộ dân là đồng bào dân tộc Cao Lan, Sán Chí.
Trong xóm, nhiều hộ dân có diện tích rừng trên 5 ha. Hầu hết những hộ dân nói trên đều đã có thu nhập khấm khá từ rừng và đã thoát nghèo, có hộ vươn lên khá, giàu.
Điển hình như hộ gia đình ông Trần Văn Tăng. Với diện tích rừng 18 ha, qua chu kỳ 2 lần đã được khai thác, ông Tăng đã xây dựng được nhà cửa khang trang, mua sắm được ô tô, máy cày, máy xay xát thóc gạo…
Hoặc hộ ông Lương Văn Thắng có diện tích rừng 12 ha, ông Trần Công Sự 10 ha… đều đã có kinh tế khá giả, có của ăn của để.
Ông Trần Văn Ngọc, Phó Chủ tịch UBND xã Khe Mo cho biết, Khe Mo là một trong những địa phương có thế mạnh trong phát triển kinh tế đồi rừng của huyện Đồng Hỷ.
Những năm gần đây, khi kinh tế đồi rừng phát huy hiệu quả thì công tác phát triển, quản lý và bảo vệ rừng của địa phương ngày càng được tăng cường, ổn định. Tính riêng việc trồng rừng mới, qua các năm diện tích trồng mới đều vượt chỉ tiêu kế hoạch. Năm 2014 đạt 155% kế hoạch, năm 2015 đạt 139% kế hoạch…
Góp phần vào việc hoàn thành thắng lợi những chỉ tiêu nói trên thì 15 tổ quần chúng bảo vệ rừng của địa phương có vai trò rất quan trọng. Không chỉ là cơ quan thường trực ở cơ sở, gần gũi, vận động nhân dân mà trong nhiệm vụ chuyên môn từ việc cấp phát vật tư trồng rừng, chỉ đạo chăm sóc cho đến quản lý, bảo vệ và xây dựng hồ sơ thủ tục khai thác đều có sự góp mặt, vào cuộc của những tổ đội nói trên.
Ông Phạm Cao Hách, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ cho biết, huyện có gần 30.000 ha đất lâm nghiệp. Năm 2011, diện tích đất trống, đồi núi trọc còn chiếm tới gần 5.000 ha nhưng đến nay hầu hết các diện tích nói trên đã được phủ xanh bằng rừng SX. Qua các năm, diện tích đăng ký trồng rừng đều vượt so với chỉ tiêu.
"Huyện Đồng Hỷ có 201 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng. Nằm trong công tác chuyên môn, hàng năm, Hạt Kiểm lâm huyện đều tổ chức tập huấn, phối hợp với các tổ đội thực hiện tuần tra, phòng cháy, chữa cháy rừng và ngăn chặn kịp thời các hành vi làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng", ông Hách nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/11) đầu trang(
Sáng ngày 03/11, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh đã có buổi làm việc với các sở, ngành để nghe báo cáo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020.
Mục tiêu lớn nhất mà kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016-2020 đặt ra là quản lí, bảo vệ và sử dụng hiệu quả diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện có. Duy trì độ che phủ 29,76%, góp phần đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu.
Theo kế hoạch, trong 5 năm tới, bình quân mỗi năm tỉnh Đồng Nai sẽ tiến hành khoán bảo vệ rừng 14,5 ngàn ha, nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng kinh doanh gỗ bình quân 25 đến 30 m3/ha/năm và trồng mới trên 1 ngàn 300 ha diện tích rừng. Tổng nhu cầu vốn của kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng là trên 750 tỷ đồng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Võ Văn Chánh cho rằng, với diện tích trên 185 ngàn ha, rừng Đồng Nai đang đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Do vậy, việc ban hành kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Lãnh đạo tỉnh cơ bản đồng ý với những nội dung của kế hoạch, song cũng yêu cầu các sở, ngành liên quan cần đưa ra những giải pháp cụ thể hơn trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Hiện, Đồng Nai có gần 14 ngàn người dân sinh sống bằng nghề rừng. Bên cạnh việc bảo vệ, phát triển rừng, việc làm sao để những hộ dân này phát triển kinh tế bền vững với nghề, cũng là vấn đề mà lãnh đạo tỉnh đặt ra.
Dự kiến, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng sẽ được trình lên Hội đồng nhân dân tỉnh trong kỳ họp tới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Nai 3/11) đầu trang(
Ngày 3/11, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Long đã ký Công điện số 23/CĐ-UBND tỉnh về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô hanh và hiện tượng El Nino năm 2016.
Công điện nêu rõ: Mùa khô hanh năm 2014-2015, các ngành, các cấp, các địa phương trong tỉnh và các chủ rừng đã chú trọng quan tâm và tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), đồng thời đã thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp về quản lý bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR, nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã hạn chế tối đa việc xảy ra cháy rừng, số vụ cháy đều được kịp thời phát hiện, dập tắt nhanh không để lan rộng, thiệt hại cây rừng không nhiều.
Tuy nhiên, mới vào đầu mùa khô 2015 – 2016 trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện một số vụ cháy rừng xảy ra và theo dự báo thời tiết khô hanh sẽ diễn biến rất phức tạp, khó lường có khả năng xảy ra hanh khô nhiều hơn do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino.
Thực hiện Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng và Chỉ thị số 8718/CT-BNN-TCLN ngày 23/10/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán năm 2016, đối phó với ảnh hưởng của hiện tượng El Nino; Để chủ động trong công tác PCCCR mùa hanh khô 2015 - 2016, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại đến mức thấp nhất do cháy rừng gây ra, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh và các chủ rừng triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp sau:
Tổ chức các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các quy định của Nhà nước về công tác PCCCR đến từng cơ quan, đơn vị, trường học, tổ dân, khu phố, thôn, bản, chủ rừng và người dân sống, hoạt động canh tác trong và gần rừng, nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các tổ chức và mọi người dân về công tác bảo vệ rừng và PCCCR.
Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chặt chẽ với Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh - Truyền hình Tỉnh, Báo Quảng Ninh và Cổng thông tin điện tử của Tỉnh đăng tải các bản tin cảnh báo cháy rừng hàng ngày liên tục trong 5 tháng (từ tháng 11/2015 đến tháng 3/2016) của mùa hanh khô; phối hợp cùng các ngành và địa phương thống nhất nội dung, hình thức và chương trình tuyên truyền đảm bảo thiết thực, hiệu quả và phù hợp với các đối tượng.
Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Quảng Ninh, Cổng thông tin điện tử tăng cường thời lượng đưa tin, bài cảnh báo, phản ánh, dự báo nguy cơ cháy rừng và các biện pháp chủ động PCCCR hiệu quả nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn dân và các cấp ủy, chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sở về công tác PCCCR; tuyên truyền sâu rộng tới các ngành, các cơ quan, đơn vị, trường học, tổ dân, khu phố, thôn, bản nhằm nâng cao nhận thức và ý thức của mỗi người về công tác bảo vệ rừng và PCCCR.
Rà soát, kiện toàn, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo các vấn đề cấp bách các cấp trong bảo vệ rừng, PCCCR; phân công rõ trách nhiệm và địa bàn cụ thể để các thành viên Ban Chỉ đạo chủ động kiểm tra các địa bàn trọng điểm, xác định rõ người, rõ việc, rõ địa bàn và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu của mỗi địa phương, đơn vị trong công tác PCCCR; chủ động xây dựng và thực hiện các phương án PCCCR, tổ chức lực lượng thường trực và thường xuyên kiểm tra công tác PCCCR trên địa bàn do địa phương, đơn vị quản lý; thực hiện nghiêm túc các biện pháp PCCC và bảo vệ rừng theo nội dung Quy chế làm việc tại Quyết định số 45/QĐ-BCĐ ngày 23/7/2012 của Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2020.
Thực hiện nghiêm túc Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ Quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng; Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Chỉ thị số 25/CT-BNN-TCLN ngày 06/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và PCCCR mùa khô; Chỉ thị số 8718/CT-BNN-TCLN ngày 23/10/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán năm 2016, đối phó với ảnh hưởng của hiện tượng El Nino; chủ động thực hiện tốt công tác cảnh báo, dự báo và kiểm tra lửa rừng.
Tại các vùng rừng trọng điểm (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng cảnh quan môi trường) và một số khu rừng trồng thông tập trung có thảm thực vật lớn có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao phải tổ chức lực lượng thường trực canh gác bảo vệ rừng 24/24h; thường xuyên tuần tra, kiểm soát phát hiện kịp thời để huy động lực lượng cứu chữa cháy rừng xảy ra, kiên quyết không để lây lan trên diện rộng.
Các địa phương, chủ rừng, các hộ nhận khoán bảo vệ rừng và lực lượng hợp đồng xã bảo vệ rừng trong mùa hanh khô phải thực hiện nghiêm, đúng quy trình, quy phạm trong công tác PCCCR; thực hiện triệt để phương châm 4 tại chỗ: "Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ" để chủ động và sẵn sàng ứng cứu, kịp thời khống chế, tổ chức chữa cháy rừng khi xảy ra và nhanh chóng khắc phục hậu quả do cháy rừng gây ra.
Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, Thủ trưởng các ngành có liên quan và các Chủ rừng chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về công tác PCCCR trên địa bàn quản lý.
Các lực lượng: Kiểm lâm, Công an, Quân đội cần phối hợp chặt chẽ trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp số 01/LN-KL-CA-QĐ ngày 03/4/2003 giữa Kiểm lâm, Công an, Quân đội và Bộ đội Biên phòng, phối hợp rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời các phương án trong kế hoạch thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR; chủ động bố trí các lực lượng, phương tiện, hậu cần sẵn sàng cho công tác cứu chữa cháy rừng khi xảy ra trên địa bàn; đồng thời làm tốt công tác điều tra, xác định nguyên nhân và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật các đối tượng và chủ rừng để xảy ra cháy rừng.
Các Sở: Giáo dục và Đào tạo; Văn hóa Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các quy định về sử dụng lửa an toàn cho học sinh, cho khách du lịch và cộng đồng dân cư tại các khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh có rừng, khu vực lễ hội gần rừng.
Các Ban quản lý khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các đơn vị tổ chức lễ hội trong rừng và gần rừng phải xây dựng phương án PCCCR và bảo vệ rừng, chủ động và kịp thời tham gia chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra.
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan và các thành viên trong Ban Chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, PCCCR của tỉnh tăng cường kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR tại các Ban chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố và các chủ rừng trong việc triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng và PCCCR; kiểm tra việc sử dụng kinh doanh rừng và việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR của các chủ rừng trên địa bàn tỉnh; xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm quy định về bảo vệ rừng và PCCCR, theo đúng chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 6560/UBND-NLN2 ngày 30/10/2015 và Quyết định số 3335/QĐ-UBND ngày 30/10/2015.
Đề nghị Mặt trận tổ quốc Tỉnh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức đoàn thể chính trị, các tổ chức chính trị- xã hội phối hợp chặt chẽ với cơ quan Kiểm lâm, chính quyền địa phương tuyên truyền công tác PCCCR và bảo vệ rừng để mọi người hiểu rõ, tự giác chấp hành và tham gia tích cực trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR; kịp thời biểu dương khen thưởng “Người tốt, việc tốt” và thực hiện xã hội hóa trong công tác PCCCR và bảo vệ rừng.
Các Sở: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư theo chức năng, nhiệm vụ được giao đề xuất bố trí nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước theo quy định để thực hiện hiệu quả công tác PCCCR và bảo vệ rừng.
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực theo dõi tình hình quản lý bảo vệ rừng và PCCCR, chủ động kiểm tra, đôn đốc các địa phương, các chủ rừng trong công tác PCCCR; tổng hợp trong quá trình thực hiện Công điện; đồng thời báo cáo, đề xuất biểu dương, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc trong công tác PCCCR; kiên quyết đề xuất xử lý nghiêm đúng pháp luật các trường hợp vi phạm trong công tác PCCCR; tổng hợp, thường xuyên báo cáo kết quả công tác PCCCR về Ủy ban nhân dân tỉnh và Cục Kiểm lâm - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo quy định và yêu cầu đột xuất.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các chủ rừng nghiêm túc triển khai thực hiện nội dung Công điện này. (Báo Quảng Ninh 3/11) đầu trang(
Một thực tế ở nhiều địa phương miền núi, khi hệ thống đường giao thông phát triển thì rừng ngày càng bị tàn phá mạnh hơn bởi có đường vận chuyển.
Song, điều đó đã trở thành ngoại lệ ở xã Cẩm Tú (Cẩm Thủy) khi địa phương này nằm cạnh đường Hồ Chí Minh và con đường liên huyện từ Cẩm Thủy đi Bá Thước nhưng rừng lim nguyên sinh ở đây vẫn được bảo vệ nghiêm ngặt.
“Chìa khóa” cho sự thành công này chính là việc người dân bản địa cùng vào cuộc, coi việc bảo vệ rừng là nghĩa vụ của mình. Việc bảo vệ rừng lim nguyên sinh này cũng được các thôn, làng địa phương đưa vào hương ước chung.
Được biết, khu rừng lim nguyên sinh ở xã Cẩm Tú hiện vẫn còn khá nguyên vẹn với tổng diện tích khoảng 30 ha. “Lá phổi xanh” này thuộc đất rừng của 2 thôn Thái Sơn, Thái Học. Thống kê từ UBND xã Cẩm Tú khu rừng này hiện có 1.233 cây lim, trong đó 216 cây có đường kính dưới 0,5m, 427 cây có đường kính từ 0,5 m đến 1m và 590 cây có đường kính từ 1 đến 2m.
Từng cây lim trong rừng được đánh dấu, đánh số để dễ kiểm soát, bảo vệ. Từ hàng chục năm trước, trước “cơn lốc” khai thác lim xanh trên địa bàn tỉnh, chính quyền địa phương cùng nhân dân ở đây đã tự đứng ra bảo vệ rừng lim, ai ai cũng coi đây là báu vật của rừng, tự khuyên nhủ nhau phải có trách nhiệm chống lại lâm tặc.
Người dân được chính quyền địa phương và ngành kiểm lâm tuyên truyền, nhận thấy vai trò to lớn của khu rừng nguyên sinh này nên ra sức chăm sóc, bảo vệ. Cứ một vài tuần, các chủ rừng lại lên rừng kiểm tra lại số cây, phát cây dại quanh gốc lim, bóc các loại thực vật ký sinh trên thân cây...
Phó Chủ tịch UBND xã Cẩm Tú – ông Nguyễn Văn Thê chia sẻ: Vận dụng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về khoanh nuôi và bảo vệ rừng, chính quyền xã cùng Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Thủy đã giao việc bảo vệ từng khoảnh rừng cụ thể cho từng gia đình chăm sóc. Tuy chỉ có 60.000 đồng hỗ trợ cho việc khoanh nuôi, gìn giữ mỗi héc – ta rừng, song các hộ dân vẫn thể hiện trách nhiệm cao. Cả chục năm trở lại đây, không phát hiện cây lim nào bị mất.
Theo chân một cán bộ kiểm lâm của Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Thủy cùng một số người dân địa phương, chúng tôi được đưa đi “trải nghiệm” trên rừng lim được coi là lớn nhất Thanh Hóa hiện nay. Những tán lim xanh ngát, um tùm vẫn sum suê tỏa bóng mát rượi. Dưới tán lim, nhiều loài thực vật khác cũng phát triển thành quần thể rừng rậm rạp, có vai trò phòng hộ, giữ nguồn nước ngầm cho cả khu vực rộng lớn của huyện Cẩm Thủy.
Ông Cao Văn Đường, sinh năm 1952, trú thôn Thái Học, tâm sự: “Tôi năm nay đã ở tuổi lục tuần nhưng cứ ít ngày lại lên thăm rừng. Con cháu cũng khuyên hạn chế lên rừng nhưng bản thân tôi thấy nhớ rừng, nhớ những cây lim mình bao năm bảo vệ mà đôi chân cứ muốn bước”.
Đứng trước cây lim có đường kính khoảng 2m, ông Bùi Xuân Cường, cùng thôn Thái Học, cho biết, từ năm 1996, gia đình ông được giao bảo vệ gần 2,5 ha rừng với 168 cây lim nguyên sinh. Ông cùng con cháu đều thấy vui khi nhiều năm qua, rừng lim gia đình bảo vệ không mất cây nào, cũng không cây nào bị chết.
Nói về “báu vật rừng già” này, phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Cẩm Thủy Hà Văn Khuyên, khẳng định: Rừng lim ở xã Cẩm Tú hiện nay là một trong số ít rừng lim nguyên sinh còn sót lại ở Việt Nam. Ngành kiểm lâm đã có đề án bảo vệ khu rừng này để bảo tồn nguồn giống. Bà con tham gia giữ rừng nhiều lần kiến nghị được Nhà nước hoặc các ngành chức năng hỗ trợ thêm kinh phí bảo vệ rừng bởi mức hiện nay là quá thấp. (Báo Thanh Hóa 4/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Điện Biên Đông đã xảy ra 11 vụ cháy rừng, làm thiệt hại gần 13ha. Trong đó có gần 11ha rừng trạng thái Ic và IIa.
Mặc dù đã được tuyên truyền các chính sách liên quan đến bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, tuy nhiên từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Điện Biên Đông vẫn xảy ra 11 vụ cháy rừng. Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết hanh khô, tình trạng khai thác rừng, khai thác lâm sản trái phép và đốt rừng làm nương rẫy.
Để chủ động bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, UBND huyện đã ban hành Chỉ thị về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng mùa hanh khô; Chỉ đạo Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với cấp uỷ chính quyền các địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân trong tập quán sản xuất trên nương rẫy và nâng cao ý thức bảo vệ rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Điện Biên 3/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hương Nguyên, một xã thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế có tiềm năng về đất lâm nghiệp và kinh tế rừng, nhưng nghịch lý là trên mảnh đất nghèo này rừng vẫn chưa thật sự đến với dân, nên đồng bào vẫn chưa sống được bằng nghề rừng.
Toàn xã hiện có 398 hộ, đa số là đồng bào dân tộc thiểu số. Qua kết quả điều tra theo chuẩn mới, số hộ nghèo và cận nghèo của xã trên 150 hộ.
Trong tổng số 32.719 ha đất tự nhiên, xã Hương Nguyên có đến 29.589 ha đất lâm nghiệp, gần 2.000 ha đất trống quy hoạch lâm nghiệp và gần 1.000 ha rừng trồng. Tuy nhiên, phần lớn diện tích này đang thuộc sự quản lý của các đơn vị. Cụ thể, Công ty TNHH Nhà nước MTV Lâm nghiệp Nam Hòa quản lý 13.711 ha, BQL Khu bảo tồn Sao La quản lý 9.830 ha, BQL Rừng phòng hộ A Lưới quản lý 2.692 ha… và diện tích còn lại người dân trong xã trồng cao su là 426 ha, trồng keo 207 ha.
Bí thư Đảng uỷ xã Hương Nguyên Hồ Xuân Phong cho biết: “Đối với xã nghèo miền núi này, chí ít phải cấp đất sản xuất 1.000 m2/khẩu mới mong rằng ổn định an ninh lương thực. Và, ít nhất mỗi hộ phải có từ 1,5 – 2 ha rừng trồng mới nói đến chuyện năm bảy năm sau may ra có điều kiện thoát nghèo. Định hướng kinh tế của xã lấy nông – lâm nghiệp làm trọng, nhưng với diện tích đất sản xuất như hiện nay, xã đã trăn trở, loay hoay chỉ đạo mãi nhưng vẫn lực bất tòng tâm”.
Theo chân Phó Bí thư Đảng ủy xã Hương Nguyên Nguyễn Sỹ, chúng tôi men theo đường bê tông ngoằn ngoèo đến thăm thôn Mu Nú, nơi có số hộ thiếu đất sản xuất chiếm tỷ lệ khá lớn. Hộ chị Nguyễn Thị Mai là nơi chúng tôi dừng chân đầu tiên. Chị Mai lập gia đình từ năm 2005, đến nay đã có 2 con, vẫn ở nhờ đất cha mẹ trong căn nhà tạm bợ, phên tre dột nát, trong nhà chẳng có vật dụng gì đáng giá.
Không có đất sản xuất, hai vợ chồng anh chị đi làm thuê để kiếm sống. Chị Mai bộc bạch: “Hằng này, hai vợ chồng đi làm công khai thác keo, tràm cho các chủ rừng, đến mùa thu hoạch sắn thì đi nhổ sắn thuê, không có đất sản xuất thì biết làm răng chừ..”.
Hộ anh Nguyễn Trung Thành ở cách đó không xa cũng có hoàn cảnh tương tự. 3 miệng ăn trong gia đình anh chỉ trông vào hơn 1 sào ruộng. Chỉ tay về phía khu rừng keo phía trước mặt, anh Thành ngậm ngùi: “Toàn bộ diện tích rừng kinh tế này đều do các đơn vị như Công ty Nam Hòa, BQL Rừng phòng hộ A Lưới… quản lý hết. Nếu được chuyển giao một phần cho bà con sản xuất thì nhiều hộ dân chúng tôi sẽ thoát khỏi cái nghèo đeo bám…”.
Tìm hiểu một vòng quanh thôn, chúng tôi không khỏi ái ngại khi thường nhật người dân nơi đây chỉ còn trông vào mấy ha sắn và hoa màu. Ông Trần Văn Trai, Bí thư Chi bộ thôn Mu Nú trăn trở: “Thôn có 40 hộ thì có đến nửa số hộ không có hoặc thiếu đất sản xuất, do đó bà con phải đi làm thuê, làm mướn tích góp từng đồng lo trang trải cuộc sống hằng ngày, nói chi đến chuyện thoát nghèo…”.
Trên đường trở lại UBND xã, Chúng tôi cứ băn khoăn mãi một nghịch lý trên vùng đất nghèo này, khi người dân gắn bó với rừng thì diện tích rừng không còn là bao. Tình cảnh ở thôn Mu Nú cũng là khó khăn chung của các thôn trên địa bàn xã. Bí thư Đảng ủy xã Hồ Xuân Phong nói gọn với tôi một câu: “Nếu như không chuyển giao đất rừng cho người dân sản xuất, thì chúng tôi không biết cùng dân xoay xở bằng cách nào?”.
Theo hướng tay Bí thư Phong chỉ, nhiều diện tích đất rừng thuộc các đơn vị quản lý nói trên nằm ngay trung tâm xã và gần khu dân cư. Số diện tích khá lớn ở đây nếu được chuyển giao cho người dân chuyển đổi trồng cao su tiểu điền, cây công nghiệp hay lập vườn cây ăn quả sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống đáng kể cho đồng bào nghèo của địa phương.
Đáng nói hơn, cơ cấu kinh tế của xã miền núi đặc biệt khó khăn này theo hướng nông – lâm nghiệp làm trọng (chiếm 82%). Trong khi đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, ruộng vườn manh mún, với 28 ha lúa nước, hơn 50 ha sắn, 7 ha ngô và 5 ha rau màu; còn dịch vụ du lịch cũng chỉ đang ở trong khuôn khổ hai chữ: tiềm năng.
Việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của xã nghèo này là bài toán nan giải, nhưng không phải không có lời giải. Tiềm năng phát triển kinh tế từ rừng thì đã rõ, và sẽ thiếu sót nếu không nói đến việc huyện A Lưới đang xúc tiến đầu tư nhà máy chế biến nguyên liệu gỗ nhằm góp phần đảm bảo bình ổn giá thu mua gỗ nguyên liệu, vì thế nghề trồng rừng phải mang lại nguồn thu nhập cao cho đồng bào nghèo trên vùng đất này.
Qua trao đổi, ông Hồ Văn Ngưm, Phó Chủ tịch UBND huyện A Lưới cho biết: Sau khi rà soát tình hình thực tế trên địa bàn xã Hương Nguyên, UBND huyện đã lập tờ trình đề nghị UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho chủ trương thanh lý, khai thác diện tích 342 ha rừng trồng của Ban Quản lý rừng phòng hộ A Lưới quản lý, để chuyển giao đất cho địa phương sản xuất.
Huyện cũng đang tiếp tục rà soát lại toàn bộ quỹ đất lâm nghiệp, đất rừng từ các đơn vị quản lý để đề xuất giải pháp, từng bước thực hiện theo đúng các chủ trương, chính sách về giao đất giao rừng nhằm tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế, góp phần khai thác tốt tiềm năng thế mạnh của địa phương, phục vụ công tác giảm nghèo…
Chia tay Hương Nguyên, chúng tôi cứ nhớ mãi câu nói của Bí thư Chi bộ thôn Mu Nú Trần Văn Trai: “Nếu mỗi gia đình ở đây được nhận khoảng 2 ha đất rừng, thì sau 5 – 7 năm mỗi hộ sẽ có khoản lãi gần 50 triệu đồng từ trồng rừng kinh tế. Đây sẽ là động lực giúp người dân từng bước thoát nghèo bền vững trên chính mảnh đất 20 năm thực hiện chủ trương di dời đến xây dựng quê hương mới…”. (Môi Trường Và Đời Sống 3/11) đầu trang(
Theo dự báo, năm nay kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sẽ đạt con số 7 tỉ đô la Mỹ và dự kiến chạm mốc 10 tỉ đô la Mỹ vào năm 2020. Song hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ phụ thuộc nhiều vào nguồn gỗ nhập khẩu do gỗ trồng trong nước chỉ làm được những sản phẩm cấp thấp, tiêu thụ nội địa và làm gỗ dăm.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), tính đến năm 2013, cả nước có 3,2 triệu héc ta rừng trồng và mỗi năm sẽ đưa vào khai thác 250.000 héc ta, thu được 22 triệu mét khối gỗ.
Nhưng do chất lượng gỗ trồng chưa cao nên chủ yếu dùng làm nguyên liệu sản xuất những sản phẩm tiêu thụ trong nước, chiếm 90%, còn lại là dùng để sản xuất làm dăm gỗ để xuất khẩu cho các nhà máy làm giấy.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VIFORES, mỗi năm Việt Nam sản xuất 3,5 triệu mét khối dăm gỗ, tương đương 7 triệu mét khổi gỗ nguyên liệu, và nguồn nguyên liệu này là từ 100% gỗ rừng trồng trong nước.
Gỗ dăm chủ yếu để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Do phụ thuộc vào thị trường này, nên cũng có thời gian, thị trường này đột ngột ngưng mua khiến giá gỗ dăm giảm mạnh trong thời gian ngắn.
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam luôn tăng trưởng hai con số. Cụ thể, trong giai đoạn từ 2001 -2010, tăng trường kim ngạch xuất khẩu bình quân của ngành gỗ là hơn 27%/năm. Và với tốc độ tăng trưởng như vậy, để có đủ nguồn nguyên liệu trong điều kiện rừng trồng trong nước không đáp ứng được yêu cầu, doanh nghiệp phải nhập gỗ từ các nước trên thế giới. Hiện tại Việt Nam nhập khẩu gỗ từ 63 quốc gia khác nhau.
Theo Bộ NN&PTNT, trong 10 tháng của năm nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam đạt 5,47 tỉ đô la Mỹ, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, những thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ lớn của Việt Nam là Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 3/11) đầu trang(
872 triệu USD là giá trị xuất khẩu gỗ năm 2014 sang Trung Quốc được công bố tại hội thảo “Thương mại gỗ Việt nam- Trung Quốc 2012- 2014 thực trạng và xu hướng”. Nhưng theo ông nguyễn tôn Quyền, tổng thư ký hiệp hội gỗ và lâm sản Việt nam (Vifores), thương mại các mặt hàng gỗ giữa hai quốc gia có những đặc điểm thể hiện tính rủi ro lớn nếu không có biện pháp điều chỉnh từ phía nhà nước.
Trong 3 năm từ 2012-2014, giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ của Việt nam vào Trung Quốc chỉ sau Hoa Kỳvà Nhật Bản. kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt nam sang Trung Quốc năm 2014 vẫn chiếm 6% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu (14,9 tỉ USD) của Việt nam sang Trung Quốc trong cùng năm.
Nhưng theo các chuyên gia tại hội thảo, những sản phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là các sản phẩm thô hoặc bán thành phẩm. Ví dụ như năm vừa qua, xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc đạt gần 850 triệu đô la Mỹ, thì có tới trên 700 triệu là sản phẩm thô như dăm mảnh, gỗ tròn, độ tinh chế rất ít.
Bên cạnh mặt hàng gỗ dăm thì Trung Quốc lại có nhu cầu rất lớn đối với các loại gỗ quý hiếm và không yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp, chứng chỉ rừng như những nước tiên tiến khác, trong khi gỗ quý hiếm là loại mặt hàng mà Việt nam không khuyến khích khai thác và xuất khẩu. hơn nữa, yêu cầu về mẫu mã, chứng chỉ rừng, chất lượng gỗ xuất sang Trung Quốc nhìn chung là rất dễ dãi. Điều này đã gây thiệt hại lớn cho ngành gỗ Việt nam nói riêng và cho cả lợi ích chung của Việt nam, cả ở khía cạnh bảo vệ tài nguyên rừng cũng như kinh tế.
Mặt khác lợi ích thu được xuất khẩu các sản phẩm gỗ sang Trung Quốc chủ yếu dựa trên nguyên tắc sử dụng lao động tay nghề thấp, giá rẻ và công nghệ chế biến lạc hậu. Điều này phản ánh các khía cạnh thiếu bền vững của ngành chế biến và thương mại gỗ của Việt nam.
Đáng lo ngại hơn, thị trường Trung Quốc thiếu tính ổn định, bền vững và họ chủ yếu thu gom nguyên liệu về Trung Quốc chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm và làm giàu cho nước này. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với ngành gỗ trong nước là làm thế nào để không rơi vào trạng thái bị động và làm thiệt hại chính mình.
Chia sẻ về viễn cảnh nhu cầu thị trường gỗ Trung Quốc đến năm 2020, Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh cho biết, nhu cầu gỗ của Trung Quốc là 470 triệu m3, nhưng họ chỉ mới đáp ứng được 300 triệu m3, trong khi độ che phủ rừng của Trung Quốc có 24%, cho nên Trung Quốc đã xác định chiến lược an toàn ngành gỗ trong nước bằng cách tăng cường nhập khẩu gỗ các nước trong khu vực.
Điều này dẫn tới hai vấn đề, một là nhu cầu gỗ Trung Quốc rất lớn, mở ra tiềm năng xuất khẩu của gỗ Việt nam sang Trung Quốc. nhưng mặt khác, chúng ta cần tránh lệ thuộc vào thị trường có tính bất ổn này.
Để xuất khẩu bền vững không chỉ cần sự quản lý của các cơ quan nhà nước, mà các doanh nghiệp cũng cần nâng cao giá trị của từng sản phẩm để xuất khẩu tạo ra giá trị gia tăng cao sang Trung Quốc.
Bên cạnh đó, thương mại các sản phẩm gỗ giữa Việt nam và Trung Quốc sẽ chịu tác động lớn từ các quy định của các Hiệp định thương mại tự do, trong đó có Hiệp định hàng hóa ASEAN Trung Quốc. Hiệp định này qui định chính phủ các nước ASEAN và Trung Quốc sẽ áp dụng mức thuế bằng 0 cho nhiều mặt hàng trong nhóm gỗ và sản phẩm gỗ thuộc nhóm gỗ nguyên liệu và đồ gỗ.
Các hàng rào kỹ thuật sẽ được bỏ, đảm bảo cho việc lưu thông hàng hóa giữa khối ASEAN và Trung Quốc được thuận lợi. Những yếu tố này sẽ tạo cơ hội cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm gỗ của Việt nam tại Trung Quốc và ngược lại.
Theo đó, trước hết các doanh nghiệp của Việt nam cần phải đưa ra những bằng chứng xác đáng về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu. Cũng như cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có liên quan đến chuỗi cung ứng, sắp xếp và tổ chức lại hình thức sản xuất kinh doanh của ngành gỗ.
Nhưng trên hết, chính phủ cần có các cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp có chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn, bền vững. Mặt khác, việc sắp xếp và tổ chức lại hình thức sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc siết chặt quản lý và loại bỏ dần các doanh nghiệp kinh doanh dựa trên những lợi ích ngắn hạn, khai thác tận kiệt tài nguyên, tranh thủ lao động giá rẻ và công nghệ chế biến lạc hậu. (Gỗ Việt 3/11) đầu trang(
Ngày 3-11, Trung tâm khuyến nông tỉnh Thanh Hóa phối hợp UBND huyện Cẩm Thủy tổ chức diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng rừng sản xuất”.
Diễn đàn nhằm mục đích đánh giá thực trạng và hiệu quả sản xuất của các mô hình lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh; đồng thời tạo cầu nối chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuỗi sản xuất khép kín giữa nhà sản xuất với các doanh nghiệp, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã trồng được 174.763 ha rừng sản xuất, trong đó có 17.139 ha rừng luồng; 13.088 ha rừng cây đặc sản (thông, quế, cọ phèn..) và 89.530 ha rừng trồng nguyên liệu gỗ, tập trung chủ yếu ở 11 huyện miền núi và các huyện Tĩnh Gia, Triệu Sơn, Hà Trung, Yên Định, Vĩnh Lộc… Tuy nhiên, diện tích trồng rừng sản xuất ở tỉnh ta chủ yếu là kinh doanh gỗ nhỏ, hầu hết chưa áp dụng các biện pháp thâm canh, năng suất chất lượng thấp, hiệu quả và độ bền vững của rừng chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế.
Tại diễn đàn, các đại biểu được tìm hiểu những kết quả bước đầu của các mô hình trồng thâm canh rừng keo tai tượng, keo lai mô, rừng hỗn giao bền vững, rừng luồng, rừng sản xuất tại các huyện Cẩm Thủy, Lang Cháng, Thường Xuân, Như Xuân; công tác quản lý, bảo vệ rừng Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 2015… thông qua các hình ảnh trình chiếu và các bài tham luận trình bày tại diễn đàn.
Cũng tại diễn đàn các đại biểu tập trung thảo luận các vấn đề, như: trồng và chăm sóc; cách phòng ngừa sâu bệnh; chính sách đối với trồng rừng sản xuất; tiêu thụ sản phẩm… (Báo Thanh Hóa 3/11) đầu trang(
Những năm vừa qua kim ngạch xuất khẩu dăm gỗ luôn chiếm từ 13 - 16% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ.
Theo số liệu báo cáo của hiệp hội gỗ và lâm sản Việt nam, năm 2013 mặt hàng này xuất khẩu trên 7 triệu tấn dăm khô đạt 983 triệu USD trên 5,4 tỉ usd (chiếm 18,2%), năm 2014 là 6,9 triệu tấn dăm khô đạt 958 triệu usd trên 6,23 tỉ usd (chiếm 15,4%).
Nhưng với công văn số 12084/BTC- CST Biểu thuế XXNK của Bộ tài chính lấy ý kiến về việc nâng mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng dăm gỗ từ 0% lên 5%, một lần nữa câu chuyện về tình trạng vừa làm vừa lo lại đặt các doanh nghiệp xuất khẩu dăm gỗ về vấn đề cũ.
Dự thảo của Bộ tài chính trong đó có đề nghị áp dụng mức thuế xuất khẩu đối với dăm gỗ là 5% đã gây ra tâm lý lo ngại cho các doanh nghiệp xuất khẩu dăm. Ông Nguyễn Nị - Chủ tịch hội dăm gỗ Quảng Ngãii cho rằng: Với sản lượng xuất khẩu như trên đã giải quyết hàng triệu việc làm nông nhàn, và tạo việc làm cho lực lượng vận tải. Nhờ đó đã góp phần xóa đóa giảm nghèo và thực hiện mục tiêu, chính sách của nhà nước về nông thôn mới.
Từ năm 2003 cho tới nay, việc gắn kết tốt chế biến với trồng rừng trong khắp cả nước các tổ chức, người dân đều tham gia trồng rừng mạnh nhất là các tỉnh miền trung và Đông Bắc Bộ, đến nay đầu ra cho gỗ rừng trồng cho người trồng rừng khá ổn định. Hơn thế nữa thực trạng việc sử dụng gỗ rừng trồng những năm gần đây đã đạt được tỷ lệ tận dụng nguyên liệu cao.
Ông Nị đưa ra dẫn chứng: nếu như năm 2005, giá gỗ tròn để xẻ tinh chế là 700.000 đồng/tấn, năm 2010: 950.000 đồng/tấn và 2015 là 1.450.000 đồng/tấn trong khi giá gỗ nhỏ và bìa sau tinh chế làm gỗ dăm tương ứng là: 2005: 550.000 đồng/tấn, 2010: 750.000 đồng/tấn và 2015 là 1.250.000 đồng/tấn.
Có thể thấy rằng giá gỗ lớn chỉ tăng hơn gỗ nhỏ khoảng từ 15 đến 20% giá trị, nhưng gỗ nhỏ và bìa sau cưa xẻ cho gỗ dăm là tận thu nên có giá trị gia tăng lớn và trước đây những loại phế liệu này chỉ làm củi đốt và chất đốt cho các lò gạch thì nay đã được sử dụng để băm dăm.
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt nam đã có kiến nghị về vấn đề này. Nếu muốn người dân trồng rừng gỗ lớn thì cần có chính sách về vốn vay dài hạn, thành lập tổ hoặc hợp tác xã trồng rừng liên khoảnh, liên vùng tránh phát sinh người chặt bán, người để lại dễ gây cháy rừng và chặt chộm. Nếu có các khu rừng liền vùng, liền khoảnh sẽ thuận lợi cho việc làm chứng chỉ rừng bền vững, tăng giá trị.
Thực tại nếu gỗ 5 - 7 năm chặt đốn chỉ đạt 120 tấn/1 ha; nếu để 10 năm sẽ sinh khối lượng đạt trên 300 tấn/ 1 ha. Để đạt được năng xuất đó nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, hỗ trợ để người dân thực hiện.
Hiện nay gỗ rừng trồng dân tự phát triển từ các loại giống không đồng đều, chưa có chứng chỉ rừng bền vững. Gỗ chủ yếu có đường kính nhỏ. Vì vậy các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu thiếu gỗ trong nước phải nhập gỗ rừng trồng ở nước ngoài có chứng chỉ FSC với khối lượng gỗ lớn để chế biến đồ gỗ xuất khẩu. Gỗ nhỏ ở trong nước chủ yếu để sản xuất các loại ván nhân tạo, dăm gỗ và bột giấy.
Ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt nam chia sẻ: gỗ có đường kính 15 cm trở lên được sử dụng để sản xuất bàn ghế ngoài trời xuất khẩu, gỗ xây dựng, gỗ bóc, ván ép.
Hiện nay dăm mảnh xuất khẩu chỉ sử dụng các cây gỗ có đường kính từ 5cm trở lên, gỗ cành ngọn và phế liệu trong quá trình chế biến đồ mộc được băm thành gỗ dăm mà trước đây loại phế liệu này chỉ dùng làm củi đốt và làm chất đốt cho các lò gạch và thủ công mỹ nghệ. Khi có các khu rừng gỗ lớn thì những chủ rừng sẽ không đốn gỗ để sản xuất dăm mảnh nữa mà họ chỉ sử dụng phế liệu của gỗ lớn để sản xuất dăm mảnh.
Câu chuyện về dự kiến áp thuế xuất khẩu 5% đối với dăm gỗ luôn làm cho nhiều doanh nghiệp “đau đầu” - Ông Lê Công Cẩn- Giám đốc công ty TNHH Cát Phú Vũng Tàu - bức xúc, nhiều người đang gán cho ngành dăm gỗ một thứ tội là xuất khẩu nguyên liệu thô, làm cạn kiệt tài nguyên, nguồn lợi quốc gia.
Đồng quan điểm đó Ông Trần Thế Chung - Giám đốc công ty dăm gỗ Vinachip Quảng ninh - Việc nói rằng xuất khẩu dăm gỗ là xuất khẩu thô điều này chưa chắc đã đúng? Xuất khẩu thô hay tinh hãy để Quy luật cạnh tranh mua bán diễn ra tự nhiên trong thực tế khẳng định. Không thể dùng xe công nông cải tiến để cạnh tranh với xe container, hoặc lấy nhiều xe công nông để cạnh tranh với xe container.
Áp dụng 5% thuế xuất khẩu đối với dăm gỗ sẽ tác động đến hộ gia đình trồng rừng, họ đều sinh sống ở miền núi, vùng sâu vùng xa, cuộc sống của họ còn khó khăn và thuộc diện giảm nghèo. Xem xét chưa nên áp dụng thuế xuất khẩu đối với dăm gỗ xuất khẩu với mức 5% vào thời điểm hiện tại. Vì dăm gỗ xuất khẩu chủ yếu là: gỗ tận thu từ cành ngọn, gỗ nhỏ và các loại phế liệu từ sản xuất sản phẩm gỗ. (Gỗ Việt 3/11) đầu trang(
Để đáp ứng kịp thời giống cây chất lượng cao phục vụ trồng rừng, Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành đầu tư xây dựng 3 vươn ươm tại xã Xuân Thành, Tiến Thành và văn phòng Ban quản lý với diện tích 2,5 ha.
Với sự đầu tư đồng bộ, vườn ươm mỗi năm cung cấp 1,5 triệu giống cây (keo, sao đen, xà cừ, lát hoa...) Trong 10 tháng đầu năm 2015, đơn vị đã cung ứng 1,3 triệu giống cây phục vụ cho các dự án lâm nghiệp và trồng rừng của người dân huyện Yên Thành, Đô Lương, Diễn Châu...
Tại vườn ươm, cùng với việc đầu tư hệ thống điện, nước tưới, nhà lưới, các thiết bị máy móc làm tơi đất, Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành còn giao cho cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm quản lý vươn ươm và giải quyết việc làm cho 10 công nhân thời vụ. (Báo Nghệ An 4/11) đầu trang(
Tính đến nay, tổng diện tích rừng phải trồng thay thế do chuyển đổi mục đích sử dụng trong cả nước khoảng 68 nghìn ha, trong đó có hơn 17 nghìn ha chuyển sang xây dựng các công trình thủy điện, còn lại là phục vụ mục đích khác.
Riêng năm 2015, tổng diện tích trồng rừng thay thế là 22.300 ha, trong đó các dự án thủy điện là 8.800 ha, các dự án khác 13.500 ha. Hiện đã có 23/50 địa phương trồng rừng thay thế được 8.089 ha, đạt 36% kế hoạch năm, trong đó diện tích trồng rừng thay thế các dự án thủy điện là 5.709 ha, đạt 65% kế hoạch năm; diện tích trồng thay thế diện tích rừng đã chuyển sang mục đích khác là 2.380 ha, đạt 18% kế hoạch năm.
Bên cạnh những địa phương triển khai tốt như Thanh Hóa, Kon Tum, Tuyên Quang, vẫn có một số địa phương phải trồng rừng thay thế với diện tích lớn, nhưng kết quả đạt được còn thấp gồm: Yên Bái, Đác Nông, Phú Thọ, Bình Thuận, Hà Nam, Hà Tĩnh, TP Đà Nẵng, Trà Vinh, Quảng Bình, Bình Định, Bình Phước.
Nguyên nhân của việc chậm trễ trong triển khai trồng rừng thay thế là do công tác chỉ đạo ở một số địa phương chưa thật sự quyết liệt, nhiều địa phương chưa bố trí được ngân sách, một số chủ dự án không chủ động thực hiện, trong đó có những dự án đã chuyển đổi mục đích sử dụng rừng hàng chục năm nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ trồng rừng thay thế…
Trước thực tế trên, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 đối với diện tích trồng rừng thay thế các dự án thủy điện đã đưa vào vận hành theo quy định; đẩy mạnh thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế đối với các dự án khác, bảo đảm đúng tiến độ được duyệt; các địa phương có kế hoạch trồng rừng thay thế trong năm nay phải tập trung triển khai ngay công tác chuẩn bị để trồng vào vụ thu - đông năm 2015.
Mới đây, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Bộ Công thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam rà soát tình hình thực hiện trồng rừng thay thế của các đơn vị trực thuộc, kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những dự án không chấp hành trồng rừng thay thế; đối với các dự án đã hoàn thành có diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng nhưng chưa trồng rừng thay thế, phải xây dựng phương án bổ sung, thực hiện có lộ trình và sử dụng nguồn vốn từ sản xuất để trồng rừng thay thế.
Đối với các công trình thủy điện, cần hoàn thành công tác trồng rừng thay thế trong năm 2015. Với các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, cần rà soát bổ sung các nhà máy mới để tổ chức thực hiện và hoàn thành trong năm 2016.
Đối với các dự án đã nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh, cần khẩn trương chỉ đạo, giải quyết vướng mắc để trồng rừng ngay, không để tồn quỹ. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những dự án không chấp hành.
Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, việc triển khai tích cực của các bộ, ngành, địa phương, việc chấp hành nghiêm của các chủ dự án và đối tượng có liên quan, hy vọng kế hoạch trồng rừng thay thế trong năm nay sẽ đạt được kế hoạch đặt ra, góp phần bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả. (Nhân Dân 4/11) đầu trang(
Đối tượng rừng khoán bảo vệ được hỗ trợ là diện tích rừng Nhà nước giao cho ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ.
Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Nghị định số 75/2015 ngày 9/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào DTTS giai đoạn 2015-2010 quy định về hỗ trợ khoán bảo vệ rừng như sau:
Đối tượng rừng khoán bảo vệ được hỗ trợ là diện tích rừng Nhà nước giao cho ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ. Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ là rừng tự nhiên Nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp quản lý.
Diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê do UBND xã, phường, thị trấn quản lý. Đối tượng và hạn mức nhận khoán bảo vệ rừng được hỗ trợ là: Hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn. Hạn mức diện tích rừng nhận khoán được hỗ trợ theo quy định tối đa là 30 ha một hộ gia đình.
Quyền lợi và trách nhiệm của người nhận khoán: Được hỗ trợ tiền khoán bảo vệ rừng là 400.000đ/ha/năm. Được hưởng lợi từ rừng và thực hiện trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước.
Trách nhiệm, quyền hạn của người giao khoán: Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, công ty lâm nghiệp, UBND cấp xã quản lý đối tượng rừng theo quy định và thực hiện trách nhiệm và quyền hạn của chủ rừng theo quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; lập dự toán, tổ chức kiểm tra, giám sát và thanh toán kịp thời tiền hỗ trợ theo quy định cho đối tượng nhận khoán.
Đối với hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng thì được trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15 kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức và thời gian trợ cấp, nhưng tối đa không quá 7 năm.
Về chính sách tín dụng: Căn cứ thiết kế - dự toán trồng rừng, ngoài số tiền được hỗ trợ quy định nêu trên để trồng rừng sản xuất phát triển lâm sản ngoài gỗ, hộ gia đình được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng NN-PTNT cho vay không có tài sản bảo đảm phần giá trị đầu tư còn lại như sau: Hạn mức vay: Tối đa là 15.000.000đ/ha, thời hạn cho vay: Từ khi trồng đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm.
Mức vay và thời gian vay cụ thể do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận phù hợp với quy định tại Nghị định này. Thời hạn trả gốc và lãi một lần khi khai thác chính. Trên đây là một số chính sách mới hộ gia đình được Nhà nước giao khoán trồng rừng. Bà con nghiên cứu vận dụng. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/11) đầu trang(
Sáng 3-11, tại TPHCM, Tổng hội Nông nghiệp Việt Nam (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức Hội thảo “Phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới”.
Hội thảo nhằm tập hợp ý kiến của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các chuyên gia để đề xuất với Chính phủ đưa ra những giải pháp khả thi, nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của ngành lâm nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Hiện nay, tổng diện tích rừng của nước ta hơn 13 triệu ha. Trong đó, rừng tự nhiên còn hơn 10 triệu ha. Theo Đề án Cơ cấu lại ngành lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến 2020, nước ta sẽ có từ 16,2 triệu đến 16,5 triệu ha rừng. Trong đó, rừng sản xuất chiếm hơn 8 triệu ha, rừng phòng hộ gần 6 triệu ha và rừng đặc dụng chiếm khoảng 2,3 triệu ha.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung phân tích những khó khăn, hạn chế trong phát triển rừng và ngành chế biến gỗ của nước ta hiện nay. Trong giai đoạn 2004 – 2014, hiệu quả kinh tế từ ngành trồng rừng, khai thác, chế biến gỗ và các loại lâm sản của nước ta rất thấp.
Tổng số tiền nộp ngân sách Nhà nước của các nông, lâm trường chỉ được 1.809 tỷ đồng, với 642 nông, lâm trường được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chiếm 90% tổng diện tích đất đang sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế các nông, lâm trường này không phát huy được hiệu quả trong phát triển kinh tế rừng.
Trong khi đó, ngành gỗ được xác định là một trong những ngành chủ lực của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu ngành chế biến gỗ dự kiến sẽ đạt 7 tỷ USD vào cuối năm 2015 và 10 tỷ USD vào năm 2020.
Ông Phạm Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Nông nghiệp cho biết, hiện nay, người dân sản xuất trên rừng vàng của nước ta còn nghèo, kinh tế hộ trong lâm nghiệp đang bộc lộ nhiều hạn chế, manh mún và chia lẻ, trong khi liên kết sản xuất thì rất kém. Công ty lâm nghiệp thì chưa giữ được vai trò làm nòng cốt. Cơ chế chính sách của chúng ta về phát triển kinh tế rừng còn thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, việc quy hoạch rừng của nhiều địa phương thì luôn bị phá vỡ. Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng cho những mục đích khác đang chịu sức ép rất mạnh.
Các đại biểu cho rằng, để phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với xây dựng nông thôn mới, yêu cầu bức thiết được đặt ra hiện nay là chúng ta phải tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Việc tái cơ cấu cần đáp ứng được yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo cho người dân ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhà nước cần có chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, hộ gia đình liên kết với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất lâm nghiệp quy mô lớn.
Đối với các Công ty lâm nghiệp được hình thành từ lâm trường quốc doanh, cần nhanh chóng chuyển đổi sang các hình thức khác như cổ phần hóa, chuyển đổi sang Ban quản lý rừng hoặc giải thể các đơn vị hoạt động không hiệu quả. (Sài Gòn Giải Phóng 4/11; Đại Đoàn Kết 4/11) đầu trang(
Đến hết tháng 10/2015, huyện Nguyên Bình phối hợp với các sở, ngành của tỉnh thực hiện thiết kế trồng rừng được 87 ha, đạt 124,3% so với kế hoạch, trong đó, rừng sản xuất 69,2 ha; rừng phòng hộ 17,8 ha; trồng 19.000 cây phân tán.
Ban Quản lý Rừng đặc dụng phối hợp chăm sóc 121 ha rừng trồng; trồng mới 105,6 ha, đạt 81,2% kế hoạch giao. Vận động nhân dân trên địa bàn huyện trồng 29.106 cây các loại (trong đó, 25.519 cây lâm nghiệp, 3.587 cây phân tán). Triển khai trồng 144,08/150 ha trúc sào, đạt 96% kế hoạch; nghiệm thu 161 ha trúc sào tại 15/15 xã, thị trấn.
Trong năm xảy ra 9 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ, tịch thu 32,78 m3 gỗ các loại, tổng số tiền bán tang vật sung công quỹ nhà nước 172,686 triệu đồng. Thẩm định 1 hồ sơ khai thác tỉa thưa tận thu sản phẩm gỗ củi, nhựa thông rừng trồng thuộc dự án PAM 5322; cấp phát 45.000 giống cây sa mộc, xoan hôi cho nhân dân 8 xã, thị trấn trồng. (Báo Cao Bằng 3/11) đầu trang(
Lâm sản có nguồn gốc từ rừng trồng, nhưng khi người dân tổ chức khai thác, tiêu thụ lại bị các cơ quan chức năng huyện Hoài Ân và UBND tỉnh Bình Định xử lý về hành vỉ khai thác trái phép “rừng phòng hộ”. Hậu quả, không chỉ làm vụ việc trở nên phức tạp, mà còn đẩy các hộ dân trồng rừng, nguời tiêu thụ, vận chuyển lâm sản trở nên khốn khó.
Điều tra theo đơn thư phản ánh của công dân cho thấy: Ngày 20-9-2007, hộ bà Phương Thị Lắm và hộ ông Nguyễn Văn Đông, cùng trú tại thôn Bình Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân được UBND huyện Hoài Ân giao quyền sử dụng tổng cộng 30 ha đất (mỗi hộ 15 ha) thuộc Lô 19, Khoảnh 6, Tiểu khu 157, thôn Bình Sơn để trồng rừng sản xuất. Cả 2 hộ dân được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thời hạn 50 năm (từ tháng 9-2007 đến tháng 9-2057).
Sau khi được giao đất, các hộ dân đã khai khoang, đầu tư trồng keo lai. Đến ngày 6-5-2009, với lý do “đất giao không đúng mục đích sử dụng”, UBND huyện Hoài Ân ban hành quyết định thu hồi 30 ha đất trồng rừng sản xuất của hộ ông Đông và hộ bà Lắm. Và đến ngày 5-2-2013 (tức 5 năm sau, kể từ ngày UBND huyện Hoài Ân ban hành quyết định thu hồi đất), UBND tỉnh Bình Định mới ban hành Quyết định số 396/QĐ-UBND, “về việc giao 30 ha đất cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Hoài Ân quản lý, sử dụng tại xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân”.
Tuy nhiên, trên thực tế, các quyết định thu hồi đất của UBND huyện Hoài Ân, cũng như Quyết định giao đất của UBND tỉnh Bình Định nêu trên đã không được thực thi. Từ năm 2007 đến nay, các hộ bà Lắm, ông Đông vẫn quản lý, sử dụng 30 ha đất. Cụ thể, 2 hộ dân tiếp tục đầu tư chăm sóc rừng, quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 12-12-2012, các hộ chủ rừng đã ký kết hợp đồng mua bán gỗ keo lai với ông Trần Thanh Tâm, trú tại thôn Thạch Long, xã Ân Tường Đông, huyện Hoài Ân, với tổng giá trị hợp đồng mua bán gỗ rừng trồng là 1 tỷ 320 triệu đồng.
Ngày 16-10-2014, ông Tâm tổ chức khai thác gần 6m3 gỗ tròn trên diện tích họp đồng mua bán lâm sản rừng keo lai và thuê ông Phạm Ngọc Độ, trú tại thôn Nghĩa Nhơn, xã Ản Nghĩa điều khiển xe tải BKS 77C-010.33 vận chuyển từ rừng ra thị trấn Bồng Sơn (Hoài Nhơn) với tiền công 1,3 triệu đồng. Trong quá trình ông Độ vận chuyển số gỗ trên, với lý do gỗ rừng ông Tâm hợp đồng mua của các hộ dàn là gỗ “rừng phòng hộ”, nên Hạt Kiểm lâm Hoài Ân lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ sổ gỗ keo lai và ô tô BKS 77C-010.33.
Dựa trên các văn bản vi phạm mà Hạt Kiểm lâm Hoài Ân xác lập, đồng thời căn cứ vào các quyết định thu hồi đất của UBND huyện Hoài Ân; quyết định giao đất của UBND tỉnh Bình Định, ngày 14-10-2015, UBND tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 3601/QĐ-XPVPHC, xử phạt ông Phạm Ngọc Độ 60 triệu đồng và tịch thu xe tải BKS 77C-010.33 vì có hành vi điều khiển ô tô vận chuyển trái pháp luật gần 6m3 gỗ keo lai; và Quyết định số 602/QĐ-XPVPHC, xử phạt ông Trần Thanh Tâm 167 triệu đồng, tịch thu gần 6m3 gỗ, vì khai thác rừng trái phép gỗ tròn chủng loại keo lai (!).
Ngày 28-10-2015, trong buổi làm việc với chúng tôi, ông Phạm Lộc, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Hoài Ân đã không giải thích được 6 m3 gỗ tròn chủng loại keo lai là của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Hoài Ân hay của các hộ ông Đông, bà Lắm. Ông Hạt trưởng còn khẳng định, chỉ căn cứ vào các quyết định thu hồi đất cùa UBND huyện và quyết định giao đất của UBND tỉnh để xử lý, mà không tìm hiểu thực tế việc quản lý, đầu tư, chăm sóc, khai thác 30 ha rừng nêu trên.
Trong khi đó, ông Lê Văn Bình, Phó Giám đốc phụ trách, Ban Quản lý rừng phòng hộ Hoài Ân cho rằng, việc xử phạt như thế là không thỏa đáng, vì thực tế rừng của dân trồng, dân đầu tư, chăm sóc. Bởi, “các quyết định thu hồi đất, giao 30 ha đất của huyện và tỉnh cho Ban Quản lý đến nay vẫn chưa thực thi. UBND huyện đã ban hành quyết định thu hồi đất, nhưng cho đến nay chưa xử lý tài sản trên đất theo quy định của pháp luật về thu hồi đất!”.
Ông Bình cũng nêu quan điểm: “Để giải quyết dứt điểm vụ việc, UBND huyện cần tạo điều kiện để hộ ông Đông, bà Lắm khai thác thành quả đầu tư, chăm sóc 30 ha rừng keo lai từ năm 2007 đến nay. Sau đó thu hồi, bàn giao đất trống cho Ban quản lý trồng lại rừng phòng hộ. Và đến khi đó, mới khẳng định được rừng là của Ban Quản lý rừng phòng hộ!”.
Là cơ quan tham mưu cho UBND huyện giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời cũng tham mưu thu hồi đất đã cấp cho dân, ông Lê Hồng Chiêm, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Ân cho biết: Đến nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân vẫn chưa được thu hồi, việc thực hiện đền bù tài sản trên đất và giá trị về đất cho dân chưa được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.
Ông Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Ân cũng nhận khuyết điểm: Lỗi việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng mục đích sử dụng, nên phải thu hồi là của cơ quan tham mưu và chính quyền. Vì vậy, nên tạo điều kiện cho các hộ dân khai thác 30 ha rừng keo lai đã đầu tư, sau đó thực hiện thu hồi đất theo đúng quy định của pháp luật.
Được biết, liên quan đến việc xác định quyền lợi của các hộ dân trồng 30 ha rừng, ngày 14-6-2012, UBND huyện Hoài Ân đã có Thông báo số: 33/TB-UBND, thông báo Kết luận của Phó Chủ tịch Thường trực Phan Thanh Liêm, nêu rõ: “Hộ bà Lắm, ông Đông có trách nhiệm quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích đã trồng; xây dựng phương án khai thác và hưởng lợi theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cho đến thời điểm hiện nay, các quyết định về thu hồi đất của hộ ông Đông, bà Lắm giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Hoài Ân mà UBND huyện Hoài Ân và UBND tỉnh Bình Định ban hành chưa được thực thi. Từ năm 2007 đến nay, hộ ông Đông, bà Lắm đã đầu tư nguồn vốn khá lớn vào việc trồng, chăm sóc, quản lý 30 ha rừng Keo lai. Vì vậy, các hộ dân hoàn toàn có quyền hưởng lợi từ diện tích rừng trồng này.
Mà cụ thể là có quyền được khai thác rừng, được bán lâm sản theo đúng quy trình khai thác rừng sản xuất (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp). Trong trường hợp UBND huyện Hoài Ân thu hồi đất giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ “trồng rừng phòng hộ” thì phải tiến hành đền bù tài sản trên đất, đền bù giá trị đất theo quy định của Luật Đất đai.
Từ thực tế trên, chúng tôi cho rằng, UBND tỉnh Bình Định cần xem xét lại các quyết định xử phạt hành chính đối với ông Phạm Ngọc Độ và ông Trần Thanh Tâm. Các cơ quan chức năng huyện Hoài Ân cần tạo điều kiện cho hộ ông Đông và hộ bà Lắm khai thác 30 ha keo lai theo đúng quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng. (Bảo Vệ Pháp Luật 3/11) đầu trang(
Nếu như thời gian trước, giá sưa giống ở Tây Nguyên đắt đỏ thì thời điểm hiện nay, giá loại cây này rẻ như cho.
Nguyên nhân do người dân không còn mặn mà với cây sưa nữa.
Qua khảo sát của chúng tôi được biết, cách đây hai năm giống cây sưa có giá 15-16 ngàn đồng/cây, thì giờ còn 500 -1.000đ/cây mà vẫn khó bán.
Tại cơ sở giống cây trồng của anh Bảy ở đường Nguyễn Lương Bằng, TP Buôn Ma Thuột, anh chia sẻ: "Những năm trước nông dân đổ xô tìm mua sưa về trồng, chúng tôi bán đắt như tôm tươi, nay giá chỉ bằng 1/10 mà vẫn không ai mua. May mà cơ sở chúng tôi chỉ ươm vài ngàn cây thôi, nếu không thì nguy".
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giống sưa ế ẩm là do những năm trước nghe tin đồn thổi, sưa là “cây hái ra tiền” nên bà con nông dân các tỉnh Tây Nguyên đổ xô mua cây giống về trồng.
Năm nay với sự tuyên truyền mạnh mẽ của các ngành chức năng, người dân đã hiểu là hiện chưa có một đơn vị Nhà nước nào đánh giá được giá trị thực của loại cây này.
Hơn nữa đây là loại cây phải trồng rất lâu năm mới cho thu hoạch và khi đó đầu ra của nó ra sao không ai biết. Do vậy người dân không ồ ạt mua cây giống về trồng theo phong trào nữa. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong khuôn khổ chuyến thăm Indonesia, Bộ trưởng Ngoại giao Phần Lan Timo Soini ngày 2/11 đã có cuộc gặp với người đồng cấp nước chủ nhà Retno Marsudi tại Jakarta, nhằm thúc đẩy hợp tác song phương.
Cùng đi với Bộ trưởng Ngoại giao Phần Lan còn có 11 công ty đại diện cho các lĩnh vực năng lượng sạch và hiệu quả, cơ sở hạ tầng, quản lý cảng, cũng như công nghệ thông tin và truyền thông.
Tại cuộc gặp, hai bên đã nhất trí xúc tiến hợp tác, trước mắt là trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và công nghệ thông tin, đặc biệt là việc quản lý và sử dụng hiệu quả các vùng đất than bùn của Indonesia.
Tại Phần Lan, các vùng đất than bùn chiếm khoảng một phần ba lãnh thổ, được nhà nước quản lý sử dụng hiệu quả như một nguồn năng lượng tái tạo thông qua áp dụng công nghệ.
Cũng giống như Phần Lan, Indonesia có nhiều vùng đất than bùn ở một số tỉnh. Do vậy, Indonesia mong muốn học tập kinh nghiệm, công nghệ và hợp tác với Phần Lan, nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này, vừa mang lại giá trị kinh tế, vừa hạn chế được nạn cháy đất, cháy rừng đã tồn tại nhiều năm qua, gây nhiều thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân quốc đảo.
Ngoài ra, hai bộ trưởng cũng thảo luận về chính sách miễn thị thực Schengen cho người Indonesia mang hộ chiếu công vụ và hộ chiếu ngoại giao. Phía Phần Lan cho biết sẽ hỗ trợ đề nghị này của Indonesia.
Quan hệ song phương Phần Lan-Indonesia đã có những bước tiến mới. Năm 2014, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt khoảng 780 triệu USD. Trong khi đó, giá trị các khoản đầu tư của Phần Lan tại Indonesia cũng tăng đáng kể, từ 800.000 USD trong năm 2013 lên 3,6 triệu USD năm ngoái. (Việt Nam + 3/11) đầu trang(
Công an tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) vừa triệt phá một đường dây buôn lậu tê tê và thu giữ 2.674 con tê tê đã bị làm thịt do giá trị dinh dưỡng và tác dụng làm thuốc của loài động vật này,
Đội cảnh sát tuần tra phòng chống buôn lậu đã phát hiện một tàu tình nghi trên sông Pearl River và tìm thấy 414 thùng đừng tê tê bên trên thuyền. Đây là vụ buôn lậu động vật hoang dã lớn nhất ở Trung Quốc trong những năm gần đây. Cảnh sát cũng bắt giữ 2 nghi can trên thuyền. Theo khai báo, 2 người này sẽ chuyển các thùng tê tê ra vùng biển quốc tế để nhận tiền công là 10.000 nhân dân tệ (1.580 USD) mỗi người nếu phi vụ thành công.
Ở Trung Quốc, tê tê được liệt vào danh sách động vật cần được bảo vệ loại 2. Mặc dù vậy, chúng vẫn bị buôn lậu bởi thịt tê tê có giá trị dinh dưỡng cao và lớp vỏ bên ngoài có tác dụng làm thuốc. (Vietnam + 4/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||