Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 04 tháng 09 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Hàng trăm héc ta đất nông, lâm trường tại Hà Nội (tập trung chủ yếu tại huyện Ba Vì) đã bị chuyển nhượng, mua bán trái pháp luật. Mục đích sử dụng đất bị biến dạng phức tạp trong khi vai trò quản lý của chính quyền hết sức mờ nhạt...
Đi sâu vào các thôn của xã Tản Lĩnh, Vân Hoà, Yên Bài... thuộc huyện Ba Vì, gặp gỡ với nhiều cò đất người địa phương, chúng tôi không khỏi giật mình vì tại đây từ khi nào đã hình thành cả một thị trường mua bán đất nông, lâm trường khá nhộn nhịp.
Thậm chí chỉ cần đi chiếc xe hơi hào nhoáng một chút là khách có thể được các cò đất chăm sóc nhiệt tình. Anh Hiểu vừa là chủ một nhà hàng tại xã Vân Hoà vừa làm “cò tay trái” cho biết, giá đất nông, lâm trường tại đây chịu ảnh hưởng chung của thị trường bất động sản nên giảm nhiều trong 1-2 năm qua.
So với thời kỳ cao điểm, tức là giữa năm 2010, nay giá chỉ còn từ 50-70%. Với đất nhận khoán của nông, lâm trường thuận tiện đường giao thông không có sổ đỏ giá bán chỉ còn chừng 1,5 triệu đồng/m2.
Theo một cò đất khác tên Thanh tại Vân Hoà, mặc dù đất chỉ có hợp đồng nhận khoán nhưng khi sốt giá, nhiều người mua không quan tâm giấy tờ, chỉ cần bản viết tay là xong.
“Khi nông, lâm trường chưa giải thể, một số trường hợp xin được cả dấu giáp lai, xác nhận của nông trường” - anh Thanh quả quyết.
Và để xin được những con dấu xác nhận này, đương nhiên phải có phí bôi trơn cho các sếp. Ngồi chuyện trò một lát với chúng tôi, để chứng minh khả năng của mình, anh cò đất lôi ra một tập giấy tờ, hợp đồng đã chuyển nhượng của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì.
Về hình thức đây là các bản “Hợp đồng thử nghiệm nuôi bò sữa và trồng cây ăn quả” thực hiện theo Nghị định 01 của Chính phủ ngày 4-1-1995 nhưng bản chất là để che đậy việc chuyển nhượng trái phép.
Sau khi “tiếp tục nhận khoán” nhiều khu đất qua các bản hợp đồng nêu trên, những lô đất đó thực chất đã bị bán lại cho các đại gia làm nhà vườn, biệt thự nghỉ dưỡng.
“Nhiều người mua rồi, anh cứ yên tâm. Chi phí thủ tục nhẹ nhàng thôi, chỉ mười lăm triệu đồng là xong, khi nào xây nhà thêm vài ba chục triệu nữa bồi dưỡng” - một cò đất khẳng định.
UBND huyện Ba Vì cho biết, trên địa bàn huyện hiện có tới 10.809 ha đất nông, lâm trường trước đây giao cho 12 đơn vị. Tuy nhiên, do buông lỏng quản lý thời gian dài nên tình trạng chuyển nhượng, cho thuê trái phép, biến đất đồi rừng thành biệt thự, nhà nghỉ diễn ra phổ biến.
Trong số 655,5 ha của Trung tâm Nghiên cứu bò và Đồng cỏ Ba Vì, nhiều diện tích đã bị chuyển nhượng rồi xây nhà cao tầng trái phép trên đó, thậm chí chủ các hợp đồng chuyển nhượng liên kết với tổ chức kinh tế khác xây nhà nghỉ, làm du lịch.
Trung tâm này đã cho 720 hộ dân “mượn” hơn 20 ha đất. Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Môn-ca-đa cũng tự giao đất làm nhà ở và vườn cho 209 hộ dân với diện tích hơn 20,4 ha.
Trạm thực nghiệm giống cây trồng Ba Vì tự ý cắt ra 4,47 ha đất để làm nhà ở. Vườn Quốc gia Ba Vì thì tự ý giao gần 1 ha đất cho cán bộ nhân viên làm nhà ở, làm vườn.
Trạm thuỷ sản Suối Hai mặc dù mang đất cho các doanh nghiệp thuê lại nhưng lại chưa làm thủ tục thuê đất với nhà nước...
Cũng theo UBND huyện Ba Vì, tình trạng vi phạm trong quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường đã ở mức báo động.
Công ty CP Giống gia cầm Ba Vì mặc dù trước đây đã giao khoán 45,4 ha đất theo Nghị định 01 cho các hộ dân nhưng thả nổi quản lý, không theo dõi, giám sát việc sử dụng đất.
Ngoài ra, công ty này còn giao khoán đất với chi nhánh Công ty Công nghệ Việt Mỹ và cho Trung tâm nghiên cứu cà phê Ba Vì thuê đất thời hạn 30 năm; tự ý giao trái quy định hơn 20 ha đất cho các hộ làm vườn và nhà ở.
Tại Nông trường Việt Mông trước đây, việc quản lý sử dụng đất xảy ra nhiều sai phạm nghiêm trọng. Nhiều diện tích lớn đất của nông trường đã bị phân thành lô thửa, chuyển nhượng trái phép, xây nhà cao tầng, biệt thự, nhà nghỉ.
Trung tâm dịch vụ và chuyển giao kỹ thuật lâm nông nghiệp Ba Vì có nhiều hộ dân sử dụng đất của trung tâm nhưng không có hồ sơ giao khoán, không có danh sách người sử dụng đất; tự ý chuyển đổi gần 10 ha từ đất nông nghiệp thành đất thổ cư! Xí nghiệp Nông lâm nghiệp Sông Đà đã tự ý chuyển đổi đất nông nghiệp sang thổ cư cho 326 hộ dân với diện tích 12,4 ha... (Tiền Phong 3/9)đầu trang(
Tin từ website Bộ TN&MT, UBND tỉnh Đắk Nông đã ra quyết định thu hồi chín dự án đầu tư phát triển sản xuất nông lâm nghiệp với tổng diện tích 5.864 ha.
Đây là những dự án được cấp giấy phép trồng rừng nguyên liệu, trồng cây công nghiệp lâu năm và khoanh nuôi bảo vệ rừng từ năm 2004 đến 2009 tại các huyện Tuy Đức, Đắk Glong, Đắk Song và Krông Nô.
Trong số các dự án trên, có năm dự án thuộc các công ty TNHH Tiến Phú, Mai Hưng Việt Trung, Luân Thịnh, CP Tư vấn Đầu tư Hồng Gia Phát bị thu hồi toàn bộ diện tích do bỏ đất trống không đầu tư, đầu tư sai mục đích, không hiệu quả và để mất rừng. Các dự án khác bị thu hồi do triển khai chậm, sai kế hoạch, vi phạm cam kết, nhà đầu tư không đủ năng lực thực hiện dự án. Có dự án sau khi nhận được đất, nhà đầu tư không làm gì, chỉ chờ bán sang tay. (Pháp Luật TPHCM 1/9)đầu trang(
Sau trả lời của PGS.TS Nguyễn Văn Phước, viện trưởng viện Môi trường và tài nguyên (đại học Quốc gia TP.HCM) về thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A, được đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 29.8, đã có rất nhiều ý kiến cho rằng: cần khoa học hơn trong việc đánh giá tác động môi trường hai thuỷ điện này. Nhiều ý kiến cũng cho rằng, không nên xây dựng thuỷ điện trên lưu vực sông Đồng Nai.
TS Vũ Ngọc Long, viện phó viện Sinh học nhiệt đới, nhấn mạnh: khái niệm về đa dạng sinh học và rừng nghèo mà bản báo cáo đánh giá tác động môi trường đã đề cập là không đủ cơ sở. Bất kỳ loại rừng nào cũng có tính đa dạng sinh học của nó, đặc biệt là rừng tre nứa, có độ đa dạng sinh học rất cao. Chưa kể, việc bản báo cáo đánh giá tác động môi trường thống kê có chín loài thực vật có giá trị bảo tồn tại khu vực dự kiến làm thuỷ điện so với tổng số 80 loài thực vật bảo tồn của cả vườn Quốc gia Cát Tiên là con số không nhỏ (10%).
Theo TS Long, trong thảm mặt đất ở khu vực dự kiến làm thuỷ điện 6 và 6A còn có một loài cây thảo Hùng Lan Việt (Orchidantha Vietnammica, họ Lowiaceae) nằm trong Sách đỏ, vô cùng quý hiếm. Cùng với việc loài hoa mới Camellia longii vừa được công bố trên thế giới, cho thấy khu vực làm thuỷ điện còn rất nhiều điều tiềm ẩn.
Ngoài ra, sẽ là một đánh giá vô cùng sai lệch khi tách sự liên hệ mật thiết lẫn nhau giữa một khu vực rừng trong một thể thống nhất rừng. Bản đánh giá đã không nhìn ra một điều: trong khu vực rừng tre nứa ở đây luôn có những vũng lầy với hàm lượng muối cao, là nơi các loài thú đến uống nước và ăn muối. Thú rừng có thể chọn khu vực này làm nơi kiếm ăn, hoặc di chuyển, cư trú, hoặc ẩn nấp…
Một lập luận khác cho rằng khu vực dự kiến làm thuỷ điện chỉ là nơi các loài như chà vá chân đen, vượn đen má vàng… di chuyển qua chứ không sống ở khu vực này là sai. Thực tế, với tập tính phân chia lãnh thổ với nhóm khác, bảo vệ tổ, và chỉ cư trú ở đó thôi, thì đã khẳng định rằng: nơi các loài này đi qua thì đó chính là nơi cư trú của nó. Chưa kể, công tác bảo tồn không phải là gom vượn má vàng, chà vá chân đen hay voọc vào một khu vực đơn thuần là xong vì đặc tính cư trú của các loài này bị thay đổi sẽ làm xáo trộn chu kỳ sinh sản, thậm chí tuyệt diệt.
Ông Nguyễn Phúc Thọ, đại diện vụ Bảo tồn thuộc tổng cục Lâm nghiệp nêu ý kiến: “Cần đánh giá lại hiện trạng, ảnh hưởng của 137ha sử dụng cho dự án và bổ sung diện tích đường dây tải điện chiếm dụng. Đồng thời phải làm rõ dự án có ảnh hưởng đến công nhận di sản thế giới của Vườn quốc gia hay không?”
Ông Huỳnh Văn Chín, giám đốc sở Tài nguyên và môi trường Lâm Đồng cũng đặt vấn đề về giải pháp cắt lũ hạ lưu chưa rõ; các vấn đề về việc ảnh hưởng đến Bàu Sấu (khu Ramsar), đường đi kiếm ăn và sinh sản của thú rừng, phương án thi công và các vấn đề liên quan như đường sá, lượng công nhân thi công…
Còn ông Tạ Minh Đức, đại diện vụ Thuỷ điện thuộc tổng cục Năng lượng lưu ý một chi tiết rất quan trọng: “Hiện trạng rừng không giống với báo cáo đưa ra, cần phản ảnh trung thực hiện trạng của rừng”.
Một nhà khoa học khác cũng cảnh báo về nguồn vốn đầu tư cho công trình thuỷ điện tại vườn Quốc gia Cát Tiên lên tới gần 5.000 tỉ đồng, trong đó kinh phí hỗ trợ, bồi thường thiệt hại và hoạt động bảo vệ môi trường chỉ mấy chục tỉ đồng là “điều hết sức vô lý”.
Ngay sau khi tiếp cận đầy đủ bản đánh giá tác động môi trường về hai thuỷ điện 6 và 6A, một chuyên gia đã nói với phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị rằng: “Rất muốn có cơ hội được đối chất với đại diện viện Môi trường và tài nguyên về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề kỹ thuật”. Theo vị chuyên gia này, các số liệu tính toán thuỷ văn, dòng chảy, diện tích ngập, thông số thiết kế dự án… đều do chủ đầu tư – tập đoàn Đức Long Gia Lai cung cấp. Theo nguyên tắc làm đánh giá tác động môi trường, những số liệu này cần được kiểm chứng lại. Bên cạnh đó, các công thức tính toán trong báo cáo là của Nga, vậy viện đã dựa vào những cơ sở nào để biết rằng những hệ số này là phù hợp với điều kiện của Việt Nam, để cho ra những tính toán chính xác?
Trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị, nhiều chuyên gia cho rằng, trong việc đánh giá tác động môi trường dự án, rất cần phải là một đơn vị độc lập, khách quan. Đó phải là một nhóm tập hợp những nhà khoa học có kinh nghiệm chuyên môn, trung thực và đã có những công trình nghiên cứu được cộng đồng công nhận, và nhất là không bị ràng buộc mặt tài chính từ chủ đầu tư.
Cũng theo ý kiến của nhiều chuyên gia, không nên xây dựng thuỷ điện trên lưu vực sông Đồng Nai nữa, bởi Việt Nam đã và đang phải gánh chịu rất nhiều hậu quả mà thuỷ điện gây ra. (Sài Gòn Tiếp Thị 31/8)đầu trang(
Đó là tính khả thi của việc điều tiết nước về phía hạ lưu, các thông tin chi tiết về hiện trạng rừng và mức độ đa dạng sinh học, văn hóa bản địa tại khu vực dự án… trong đánh giá tác động môi trường 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A
Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A của Viện Môi trường và Tài nguyên thuộc ĐH Quốc gia TPHCM (đơn vị được chủ đầu tư là Tập đoàn Đức Long Gia Lai thuê thực hiện) vừa trình Bộ Tài nguyên - Môi trường tốt hơn so với báo cáo lần trước.
Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều vấn đề cần làm rõ về phương pháp luận ĐTM, tính khả thi của việc điều tiết nước về phía hạ lưu, các thông tin chi tiết về hiện trạng rừng và mức độ đa dạng sinh học, văn hóa bản địa tại khu vực dự án…
Đối với tác động môi trường của 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, cần xem xét và đánh giá cẩn trọng các vấn đề về mất vĩnh viễn diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, rủi ro và sự cố môi trường.
Dự án thủy điện Đồng Nai 6A lựa chọn phương án mực nước dâng 175 m và đánh giá là giảm diện tích rừng bị mất vĩnh viễn so với phương án dâng 177 m là khoảng 15 ha, trong đó chỉ có 2 ha thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia (VQG) Nam Cát Tiên. Như vậy với phương án này, diện tích khu bảo vệ nghiêm ngặt bị ngập là 25 ha trên tổng số 107 ha đất rừng bị ngập.
Đối với dự án thủy điện Đồng Nai 6, lựa chọn phương án mực nước dâng 224 m thì diện tích chiếm đất vĩnh viễn là 171,36 ha (155,35 ha diện tích lòng hồ và 16,01 ha diện tích công trình chính), trong đó có 77,36 ha thuộc VQG Nam Cát Tiên.
Tuy nhiên, trong báo cáo chưa tính đến diện tích đất dùng cho tuyến truyền tải điện, bao gồm cả hành lang an toàn. Các phương án truyền tải chưa được nêu ra, mặc dù hành lang an toàn theo quy định là không lớn nhưng lại kéo dài và như vậy diện tích đất và rừng bị mất là con số không nhỏ.
Nếu đứng trên quan điểm của các nhà bảo tồn đa dạng sinh học, căn cứ theo luật đa dạng sinh học thì rõ ràng cả 2 dự án đều vi phạm vào khu bảo tồn thuộc VQG Nam Cát Tiên. Toàn bộ quá trình từ giai đoạn chuẩn bị, xây dựng và vận hành đều gây tác động vĩnh viễn đến việc mất tổng số gần 300 ha đất rừng, trong đó 25 ha thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt và 77 ha rừng phòng hộ.
Cũng theo đánh giá của báo cáo ĐTM VQG Nam Cát Tiên là một trong những khu vực hiếm hoi ở Đông Nam Bộ có tính đa dạng sinh học cao, tồn tại nhiều loại động thực vật có tính bản địa, có giá trị kinh tế và cần được bảo tồn vì có nguy cơ tuyệt chủng, thuộc những loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam.
Theo các chuyên gia đa dạng sinh học nhiều năm gắn bó với rừng Cát Tiên, hiện trạng rừng Cát Tiên ngoài rừng nghèo kiệt và tre nứa thuần loại còn có các hệ sinh thái như rừng hỗn giao cây gỗ và tre nứa, rừng ngập nước ven suối và sông...
Nhiều loại thực vật quý hiếm và đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng được tìm thấy như cẩm lai, gỗ đỏ, gỗ mật, trắc và động vật như chà vá chân đen, vượn đen má vàng, culi nhỏ, sóc đen lớn… Để cập nhật các số liệu xác thực, rất cần nhóm chuyên gia độc lập tiến hành khảo sát thực địa để minh chứng, cung cấp cho Bộ Tài nguyên - Môi trường và Hội đồng Thẩm định đánh giá tác động môi trường của 2 dự án thủy điện này.
Rừng là bộ phận kết cấu hạ tầng sinh thái của đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nhận xét: Không có thủy điện vẫn có giải pháp khác thay thế, còn khi mất rừng là mất tất cả! Giữa tháng 9 này, đoàn chuyên gia của thế giới sẽ bắt đầu đến Việt Nam xem xét, đánh giá hồ sơ di sản thế giới của VQG Nam Cát Tiên. Bởi vậy, báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cần được tiếp tục bổ sung làm rõ các vấn đề tồn tại.
Hội đồng Thẩm định đánh giá tác động môi trường bao gồm nhiều nhà quản lý và khoa học của các ngành ở Trung ương và địa phương. Do tính chất nhạy cảm và phức tạp của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nên thực hiện theo cơ chế “thẩm định mở”, có nghĩa là mời cả đại diện của các tổ chức phản biện không tán thành hoặc có ý kiến băn khoăn về dự án như Mạng lưới Sông ngòi, nhóm yêu quý bảo vệ rừng Cát Tiên... cùng tham dự. (Người Lao Động 4/9)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Những năm gần đây, nước ta đã bị mất khá lớn diện tích rừng ngập mặn. Thực trạng này đang cảnh báo cần có giải pháp hiệu quả về công tác bảo vệ và phát triển bền vững cho những khu rừng ngập mặn hiện nay.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng hiện nay là những địa phương có diện tích rừng ngập mặn (RNM) bị mất nhiều nhất. Chỉ tính riêng từ năm 1960 đến 1995, Quảng Ninh, Hải Phòng đã có hơn 40 nghìn ha RNM bị mất. Hiện hai địa phương này chỉ còn hơn 15 nghìn ha RNM. Ước tính thiệt hại do việc không thể thu lợi được từ diện tích RNM bị mất (thủy sản, lâm nghiệp, đầu tư chống xói lở...) từ 10 đến 32 triệu USD mỗi năm.
Với diện tích hiện có khoảng 347 nghìn ha rừng các loại, trong đó rừng tự nhiên là 54 nghìn ha, rừng trồng gần 300 nghìn ha, khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái rừng tự nhiên rất phong phú.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, RNM tập trung ở các tỉnh Cà Mau (58 nghìn ha), Bạc Liêu (bốn nghìn ha), Sóc Trăng (ba nghìn ha), Trà Vinh (tám nghìn ha), Bến Tre (bảy nghìn ha), Kiên Giang (322 ha), Long An (400 ha)... Những năm qua, RNM ven biển bị tác động làm suy giảm nhiều do nạn phá rừng và sự xâm nhập của nước biển.
Trước đây, theo thống kê, bình quân hằng năm RNM bị mất khoảng hơn bốn nghìn ha với tốc độ 5%/năm. Gần đây, công tác bảo vệ và phát triển hệ sinh thái RNM ven biển được các địa phương quan tâm thực hiện, nhất là dự án trồng năm triệu ha rừng của quốc gia và các dự án hợp tác phát triển rừng tại các vùng đất ngập nước ven biển các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh; Dự án Khu dự trữ quốc gia U Minh Thượng đã góp phần bảo vệ và phát triển RNM tốt hơn.
Tuy vậy, tại một số địa phương có RNM hiện nay vẫn xảy ra tình trạng phá rừng để khai thác gỗ và lấy đầm nuôi trồng thủy sản, đang cảnh báo về nguy cơ cạn kiệt đối với những cánh rừng. Tại tỉnh Cà Mau, mặc dù hằng năm, Hạt Kiểm lâm thuộc Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau tổ chức hàng chục nghìn lượt tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng; phát hiện và ngăn chặn nhiều vụ chặt phá cây rừng trái phép, song, do RNM của tỉnh có rất nhiều cửa rừng thông ra biển, cộng với thủ đoạn chặt phá và vận chuyển cây rừng ngày một tinh vi, cho nên lực lượng kiểm lâm khó tuần tra, kiểm soát.
Tình trạng phá RNM không chỉ xảy ra ở các tỉnh phía nam, nạn phá rừng phòng hộ ven biển tại một số địa phương của miền trung cũng diễn ra từ nhiều năm nay nhưng hiện vẫn chưa được ngăn chặn triệt để. Tại tỉnh Phú Yên, qua kiểm tra tại xã An Ninh Ðông đã phát hiện 48 trường hợp lấn chiếm đất rừng phòng hộ với diện tích hơn 41 nghìn m2. Hàng nghìn cây phi lao có đường kính từ 10 đến 20 cm bị chặt phá để làm cọc be bờ hồ tôm.
Tỉnh Khánh Hòa, RNM tại nhiều địa phương cũng đang bị tàn phá nghiêm trọng. Nhận thức được vấn đề này, từ năm 2012 tỉnh đã triển khai các mô hình phục hồi, quản lý rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm Thủy Triều (thuộc địa bàn huyện Cam Lâm và thành phố Cam Ranh). Vườn quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Ðịnh là Khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Ðông - Nam Á và đại diện cho Việt Nam tham gia công ước Ramsar. Nơi đây có rất nhiều tiềm năng như bảo tồn đa dạng sinh học của mẫu chuẩn điển hình hệ sinh thái đất ngập nước ở vùng cửa sông ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng; là hiện trường nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế; là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn và đặc biệt còn là nơi cung cấp nguồn lợi thủy sản phong phú.
Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy Nguyễn Viết Cách cho biết, để chống xâm ngập mặn bằng việc phát triển RNM, địa phương đang tập trung phát triển vốn rừng mới trên các vùng thích hợp ở vùng đệm, trồng rừng hỗn giao nhằm tôn tạo đa dạng sinh học, xây dựng rừng tiếp cận với hệ sinh thái tự nhiên, dần hoàn thiện hệ sinh thái RNM ở khu vực đạt được các chức năng tối ưu. Bên cạnh đó, tập trung phục hồi RNM trên các đầm tôm. Cùng với việc phục hồi lại rừng, địa phương cũng xác lập phương thức canh tác quảng canh phù hợp nhằm duy trì mô hình lâm ngư kết hợp có thu nhập ổn định và lâu bền.
Việc nuôi trồng thủy sản trong rừng ngập mặn đang ảnh hưởng đến công tác quản lý quy hoạch và khai thác bền vững nguồn tài nguyên rừng. Nuôi trồng thủy sản đem lại lợi ích kinh tế nhanh, nhưng hậu quả là làm suy giảm RNM, làm biến đổi môi trường đất, môi trường nước và hệ sinh thái. Bên cạnh đó, quá trình mặn xâm nhập gia tăng đã tác động các hệ sinh thái nông nghiệp truyền thống, trong khi khả năng thực thi các quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong khu vực chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Các dự án thủy lợi trong vùng mặn hóa, vùng luân canh lúa-tôm, vùng ngăn mặn xổ phèn... chưa phát huy tác dụng trong thực tiễn, đang trở thành nỗi trăn trở của các cấp chính quyền, các ngành quản lý và người dân. Chất thải nuôi trồng thủy sản ven biển, nhất là chất thải nuôi tôm ngày càng nhiều làm gia tăng áp lực tới môi trường và độ bền vững của hệ thống canh tác thủy sản với bảo vệ hệ sinh thái RNM. Ðiều này nhận thấy rõ nhất tại các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Vấn đề đặt ra là hiện nay làm thế nào để bảo vệ, khôi phục và trồng lại những khu RNM đã bị tàn phá, tiếp tục mở rộng diện tích trồng rừng mới vẫn đang là bài toán khó. Vì lợi ích kinh tế, vì kế sinh nhai, rừng vẫn có thể bị chặt phá nếu không được trông coi, giám sát chặt chẽ. Mới đây huyện đảo Lý Sơn đã khẩn trương rà soát diện tích có khả năng phục hồi và phát triển rừng ngập mặn hiện có để lập dự án triển khai thực hiện, với diện tích ít nhất từ 500 - 600 ha. Các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Ðịnh, Thái Bình, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên... cũng đang có nhiều biện pháp tích cực một mặt bảo vệ tốt rừng hiện có, mặt khác trồng gây RNM mới phù hợp thổ nhưỡng từng vùng để bảo vệ đời sống và sản xuất của nhân dân.
Ðề án "Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển, giai đoạn 2008 - 2015" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu thiết lập hệ thống rừng ngập mặn để phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường một cách ổn định. Trong giai đoạn đầu, sẽ trồng và nâng cao chất lượng rừng với diện tích gần 40 nghìn ha, trồng thêm hơn 97 nghìn ha, nâng tổng diện tích rừng ngập mặn cả nước lên gần 31 nghìn ha vào năm 2015.
Tại Hội nghị quốc gia "Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn Việt Nam nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu" tổ chức mới đây, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, với bờ biển và những đồng bằng dài có nhiều sông ngòi, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Hơn một phần ba dân số và khoảng 16% diện tích đất sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển dâng cao.
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định về việc ban hành Quy chế quản lý rừng trong đó quy định rõ trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn, tạo điều kiện bảo tồn và phát huy hệ sinh thái bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Cùng sự chỉ đạo của Nhà nước, đầu tư cho các hệ sinh thái vùng bờ biển thông qua công tác bảo vệ và phát triển RNM được xem là giải pháp hữu hiệu và lâu dài. Ðây cũng chính là đầu tư cho hạ tầng cơ sở và cho tương lai ngành nông nghiệp ven biển nói riêng và cuộc sống của người dân nói chung, trong nỗ lực chung chống lại biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức lớn đối với chúng ta. (Nhân Dân 2/9)đầu trang(
Vườn Quốc gia Vũ Quang (trước đây là Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang) thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích hơn 56.000ha với ba loại rừng gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất.
Vườn nằm ở vị trí quan trọng trong dãy Trường Sơn, xen giữa Vườn quốc gia Pù Mát ở phía Bắ́c và Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng ở phía Nam, cũng là nơi hai loài thú lớn được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới là sao la và mang lớn.
Theo kết quả điều tra của các chuyên gia trong nước và quốc tế, Vườn Quốc gia Vũ Quang có tới 76% diện tích rừng tự nhiên với 5 kiểu chính được phân chia theo các đai cao khác nhau: rừng kín thường xanh trên đất thấp phân bố ở độ cao 100-300m; rừng thường xanh trên núi thấp phân bố trong khoảng độ cao từ 300-1.000m; rừng thường xanh trung bình ở độ cao từ 1.000-1.400m gồm chủ yếu các loài cây lá rộng; rừng thường xanh trên núi cao phân bố ở độ cao 1.400-1.900m; rừng phân bố trên độ cao lớn hơn 1.900m.
Vườn quốc gia Vũ Quang là nơi sinh trưởng của nhiều cây gỗ quý như cẩm lai, lát hoa, lim, dổi, trầm hương... và nhiều cây dược liệu quý.
Hệ động vật vườn cũng rất phong phú với 94 loài thú thuộc 26 họ, 315 loài chim, 65 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 88 loài cá; trong đó có 26 loài thú, hơn 10 loài chim, 16 loài bò sát quý hiếm cần được bảo vệ. Ngoài ra, Vườn Quốc gia Vũ Quang còn có 36 loài phụ thú đặc hữu của khu rừng Trường Sơn Bắc như voọc vá chân nâu, voọc Hà Tĩnh, vượn má vàng...
Bởi tính đa dạng sinh học cao và với việc phát hiện hai loài thú mới là sao la và mang lớn, Vườn Quốc gia Vũ Quang đã trở thành một địa chỉ du lịch sinh thái đầy tiềm năng. Tại đây, du khách có thể thực hiện những chuyến du lịch mạo hiểm, khám phá những bí ẩn bất ngờ của rừng; hay tham gia tour du lịch thể thao đến thác Vũ Môn theo huyền thoại cá chép hóa rồng...
Vũ Quang còn là khu di tích lịch sử ghi dấu những sự kiện lịch sử oai hùng của cuộc khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp của Phan Đình Phùng cuối thế kỷ 19.
Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang, ông Đào Huy Phiên cho biết vườn quốc gia nằm trên địa bàn 8 xã với 7.588 hộ dân, đặc biệt, có hai xã nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia là Hương Điền và Hương Quang. Người dân đã sinh sống tại đây từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, và đến năm 1993, Nhà nước mới đóng cửa rừng chuyển thành Khu bảo tồn. Chính vì tình trạng dân có trước, quy hoạch sau nên đến nay vẫn còn hơn 700 hộ dân đang nằm ngay trong khu vực vùng lõi của vườn.
Đời sống cư dân ở vùng đệm và các xã lân cận với Vườn quốc gia cũng rất khó khăn. Do vậy một số người dân đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi khai thác trộm tài nguyên rừng, săn bắt động vật hoang dã. Trong vòng 10 năm, trên địa bàn Vườn quốc gia Vũ Quang đã xảy ra 8 vụ các đối tượng chống người thi hành công vụ, gây thương tích cho cán bộ viên chức, lực lượng kiểm lâm.
Ông Đào Huy Phiên cho biết hiện nay, mỗi nhân viên kiểm lâm chịu trách nhiệm quản lý hơn 1.000ha rừng, do vậy, khó bảo đảm việc bảo vệ rừng tận gốc và bảo vệ động vật hoang dã một cách chặt chẽ.
Trong những năm gần đây, Vườn quốc gia Vũ Quang tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn đa dạng sinh học tại đây như tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, chống săn bắt các loài động vật hoang dã. Ngoài ra, Phòng nghiên cứu khoa học của Vườn quốc gia Vũ Quang đã phối hợp với các tổ chức, các viện nghiên cứu nhằm triển khai một số hoạt động điều tra, khảo sát các loài như ong, nhện, dơi, vượn..., lập ô tiêu chuẩn theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.
Ngoài ra, Vườn cũng đang xây dựng kế hoạch liên kết với các tổ chức quốc tế và phía Khu bảo tồn Nakai Nam Theun của Lào nhằm trao đổi thông tin, thực hiện tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học liên biên giới và phát triển, mở rộng vùng phụ cận. (VietnamPlus.vn 1/9)đầu trang(
31-8, nhiều hộ dân tổ 16 phường An Cựu (TP Huế) nhốn nháo vì rừng thông 30 năm tuổi nằm gần kề nhà dân tại núi Tam Thai lại phát hỏa.
Theo dân địa phương, ngọn lửa xuất phát từ khu vực có nhiều mồ mả, gặp gió giật mạnh trước một cơn giông lớn nên lan rất nhanh ra diện rộng.
Để khống chế đám cháy tránh lan sang nhà cửa, hàng trăm người dân kêu gọi nhau cùng tạo đường ranh ngăn lửa và tìm mọi cách dập tắt. Sau gần nửa giờ, nhờ có mưa lớn trút xuống, đám cháy mới được khống chế hoàn toàn. (Tiền Phong 1/9; Thanh Niên 1/9; Tuổi Trẻ 1/9)đầu trang(
30/8, đồng chí Nguyễn Quân Chính, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị đã kiểm tra công tác bảo vệ rừng ở xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh. Cùng đi có đại diện lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, lãnh đạo huyện Vĩnh Linh và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải.
Những năm qua Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tích cực tham mưu UBND tỉnh các phương án PCCCR và tăng cường công tác bảo vệ rừng (BVR). Có kế hoạch cụ thể, phân chia mức độ cháy để huy động lực lượng PCCCR phù hợp. Tại các địa phương, Chi cục đã phối hợp bố trí lực lượng tại các chốt, các điểm để BVR, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động giúp người dân nâng cao nhận thức về công tác BVR…
Nhờ vậy, số vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại giảm dần qua các năm. Đối với xã Vĩnh Hà, công tác BVR được đặc biệt chú trọng. Địa phương đã chủ động thực hiện khá tốt công tác kiểm tra, BVR, xây dựng các phương án và tổ đội BVR. Nhờ vậy, từ đầu năm đến nay địa bàn chưa có cháy rừng xảy ra.
Về vấn đề thu hồi diện tích đất rừng, đồng chí Võ Văn Sanh, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà cho biết, tổng diện tích đất rừng trên địa bàn xã khoảng 2.200 ha thuộc các tiểu khu 558, 559, 560, 561, 574 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải quản lý và đã giao khoán cho công nhân trồng và bảo vệ.
Sau khi xã Vĩnh Hà có văn bản xin thu hồi diện tích đất tại các tiểu khu trên, tiếp nhận toàn bộ các hạng mục của Dự án 661 từ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã đầu tư và các hộ gia đình được Công ty giao khoán đất theo Nghị định 01/CP, xã tiếp tục quản lý, bảo vệ rừng theo chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Để đấu tranh, ngăn chặn tình trạng xâm hại rừng, chính quyền xã Vĩnh Hà cùng các tổ chức, đoàn thể và nhân dân đã có cam kết không vận chuyển lâm sản, chặt phá rừng. Lập các đội chốt chặn để BVR, tổ chức cho các chủ xe tự chế, xe công nông, xe cơ giới trên địa bàn ký cam kết không xâm hại, vận chuyển gỗ rừng…
Sau khi tiến hành kiểm tra thực địa và nghe báo cáo về công tác bảo vệ rừng ở Vĩnh Hà, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Quân Chính đã đánh giá cao việc thực hiện công tác trồng rừng, BVR của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải, UBND xã Vĩnh Hà và Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh. Đặc biệt, biểu dương phương pháp quản lý xe tự chế, xe công nông mà xã Vĩnh Hà và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã thực hiện.
Bên cạnh đó, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo ngành Kiểm lâm cần nắm bắt tình hình, tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý lâm sản nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản trái phép. Có kế hoạch luân chuyển cán bộ dài hạn và tổ chức quán triệt các quy định của Chính phủ, của ngành để tích cực phòng chống tiêu cực.
Trong quá trình trồng, chăm sóc và BVR, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải cần sử dụng đất có hiệu quả và tập trung công tác BVR. Về diện tích đất chưa bàn giao thực địa cho xã Vĩnh Hà, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải và UBND huyện Vĩnh Linh cần thực hiện các thủ tục còn lại để sớm bàn giao cho địa phương. Trong quá trình cấp đất, địa phương không nên chia đất bình quân cho các hộ dân, nhất là các hộ đã có đất sản xuất, nên ưu tiên giao đất cho người nghèo đang thiếu hoặc chưa có đất sản xuất… (Báo Quảng Trị 1/9)đầu trang(
Trong năm 2011 và những tháng đầu năm 2012 vừa qua, ngành kiểm lâm Thanh Hóa đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng trên địa bàn, đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận.
PV Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cuộc trao đổi với đồng chí Lê Thế Long - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa về công tác bảo vệ rừng của địa phương.
Ông Long cho hay: Phải quản lý một diện tích rừng lớn, lại phân bố trên một địa bàn rộng, với địa hình rất phức tạp, nhưng hiện tại, lực lượng kiểm lâm của tỉnh trong biên chế là rất thấp, lực lượng khá mỏng. Thậm chí có một số kiểm lâm viên phải phụ trách từ 3 đến 5 xã, rất khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Trong khi đó, năng lực tham mưu cho chính quyền cấp xã trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng của một số kiểm lâm viên còn nhiều hạn chế, lúng túng trong phương pháp làm việc; có nơi kiểm lâm viên còn chưa sát dân, bám rừng.
Bên cạnh đó, chính quyền một số địa phương thiếu quan tâm đến công tác lâm nghiệp, có lúc, có nơi còn buông lỏng trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Tại một số đơn vị cơ sở còn xem nhẹ công tác phòng cháy chữa cháy rừng, chưa tổ chức trực cháy thường xuyên, thiếu kiểm tra, giám sát. Tình trạng săn bắt, buôn bán, vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái phép vẫn còn diễn ra.
Đặc biệt, công tác phối hợp quản lý vẫn bộc lộ một số bất cập về năng lực thực thi pháp luật; trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện trang bị cho lực lượng đấu tranh chống buôn lậu lâm sản, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã vẫn còn hạn chế. Tình trạng khai thác gỗ và phá rừng trái phép vẫn xảy ra, nhưng chính quyền địa phương và kiểm lâm sở tại chậm phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Tình trạng chống người thi hành công vụ vẫn diễn biến phức tạp...
Mặc dù còn một số khó khăn như trên, nhưng được sự chỉ đạo của tỉnh, sự phối hợp và hỗ trợ tích cực của các ngành, các cấp, thời gian qua, ngành kiểm lâm Thanh Hóa đã phấn đấu nỗ lực vươn lên, đạt được một số thành tích đáng ghi nhận.
Ông Long cho biết một số kết quả chính của công tác bảo vệ rừng Thanh Hóa trong năm 2011 và những tháng đầu năm 2012: Năm 2011, Chi cục tiếp tục thực hiện các chương trình phối hợp với Ban Tuyên giáo, Văn phòng Tỉnh ủy, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, lực lượng công an, quân sự, biên phòng, dân quân tự vệ, các cơ quan thông tin đại chúng, Cục Kiểm lâm, Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn (Lào) về tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, xây dựng lực lượng bảo vệ rừng từ cơ sở.
Đến nay, Chi cục đã tổ chức trên 4.000 cuộc họp thôn, bản với gần 200.000 lượt người tham gia; phối hợp với cơ quan quân sự kiện toàn 310 trung đội dân quân tự vệ với 7.907 người; rà soát, sửa đổi, bổ sung 1.699 bản quy ước bảo vệ rừng, đưa nội dung quản lý các loại cưa xăng, súng săn vào quy ước để tăng cường sự giám sát của cộng đồng; phối hợp với chính quyền địa phương, công an, bộ đội biên phòng vận động nhân dân giao nộp hàng ngàn khẩu súng săn các loại...
Tham mưu kiện toàn 27 Ban chỉ đạo cấp huyện, 393 ban chỉ đạo cấp xã, 14 ban chỉ đạo chủ rừng nhà nước với 3.080 thanh viên; kiện toàn 1.146 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng với 16.968 người tham gia; duy trì chế độ thường trực 24/24 giờ ở cấp tỉnh, huyện và xã; chủ động làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa nắng nóng, khô hanh; đã xây dựng kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng với 47.979 người tham gia, 405 xe ôtô các loại, 6.414 xe máy, 1.139 máy móc thiết bị và 53.050 dụng cụ, công cụ khác.
Ngành đã tổ chức điều tra, khảo sát, xác định vùng trọng điểm cháy rừng toàn tỉnh; đã xác định được 138 xã trọng điểm cháy rừng, diện tích 55.672 ha tại 6 trọng điểm: TP Thanh Hoá, các huyện Tĩnh Gia, Hà Trung, Hoằng Hoá, Như Thanh, Thạch Thành; triển khai thực hiện tốt phương án phát dọn đường băng cản lửa dài 40,330 km, với diện tích làm giảm vật liệu cháy gồm 196,87 ha.
Do triển khai, thực hiện đồng bộ các giải pháp, nên trong năm 2011, trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra 5 vụ cháy rừng và thực bì (năm 2010 có 44 vụ) gây thiệt hại không đáng kể, so với năm 2010, diện tích thiệt hại về rừng giảm 259,22 ha; thiệt hại về thảm thực bì giảm 65,881 ha.
Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2012, nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, góp phần nâng cao nhận thức của chính quyền cơ sở và cộng đồng dân cư; đồng thời do triển khai, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng, nên trên địa bàn tỉnh không xảy ra một vụ cháy rừng nào. Đây là kết quả tốt nhất trong hoạt động lâm nghiệp nói chung, công tác bảo vệ rừng nói riêng của tỉnh từ trước tới nay.
Về công tác trồng rừng mới của tỉnh cũng như phương hướng công tác trong thời gian tới, ông Long cho hay: Thực hiện Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 25/4/2011 của UBND tỉnh về giao kế hoạch lâm sinh năm 2011 và năm 2012, đến nay 15 đơn vị trực thuộc Chi cục kiểm lâm được giao kế hoạch trồng rừng đã trồng được 7.746,49 ha rừng mới; đồng thời tích cực chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng trồng các năm trước đây.
Tại các vườn ươm giống cây lâm nghiệp của tỉnh, đã gieo ươm và cung cấp được 38.010.000 cây giống, cơ bản đáp ứng nhu cầu trồng rừng theo kế hoạch của UBND tỉnh giao. Bên cạnh đó, ngành cố gắng thực hiện tốt công tác cập nhật diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, công tác quản lý, giám sát khai thác lâm sản, công tác bảo tồn thiên nhiên; tập trung chỉ đạo Vườn Quốc gia Bến En và 3 khu bảo tồn thiên nhiên tổ chức ngăn chặn, giải quyết cơ bản tình trạng xâm canh rừng đặc dụng...
Trong thời gian tới, ngành tiếp tục chỉ đạo bảo vệ an toàn diện tích rừng đặc dụng; tổ chức triển khai thực hiện đúng tiến độ, hiệu quả các đề tài, dự án đã được phê duyệt; tổ chức kiểm tra toàn diện để đánh giá thực chất các chương trình phối hợp giữa kiểm lâm với các ngành, các cơ quan có liên quan, từ đó xây dựng kế hoạch tiếp tục triển khai theo hướng thiết thực, nâng cao chất lượng, khắc phục tình trạng dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm;
Tăng cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra an ninh rừng ở địa bàn trọng điểm, ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ, lâm sản, động vật hoang dã, dược liệu quý; kiên quyết không để xảy ra điểm nóng trong khai thác, phá rừng, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép; triển khai phương án đấu tranh triệt phá tình trạng buôn bán động vật rừng từ biên giới Việt – Lào, các huyện phía tây về Thành phố Thanh Hóa và các huyện đồng bằng ven biển; đổi mới, nâng cao chất lượng trong hoạt động nghiệp vụ; kiểm tra, rà soát quản lý chặt chẽ các cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản, cơ sở gây nuôi động vật hoang dã; chỉ đạo hoàn thành kế hoạch trồng rừng;
Tổ chức kiểm tra, thanh tra công tác khai thác lâm sản tận thu, tận dụng, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su và trồng rừng 147; động viên cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn lực lượng khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2012, chuẩn bị thật tốt các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch năm 2013 với tinh thần chủ động, sáng tạo, hiệu quả. (Đảng Cộng Sản VN 31/8)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Kể từ khi rừng Bạch Mã trở thành VQG (1991), một chiến lược cho sự phát triển bền vững được xác lập. Tiềm năng du lịch sinh thái được đưa vào khai thác, đã đặt mục tiêu sản xuất sau mục tiêu bảo tồn.
Cũng từ đây vấn đề sinh kế của người dân vùng đệm cũng được thực hiện theo chiều hướng mới, nhu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực được tiến hành đồng thời, phù hợp với vấn đề bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.
Hiện vùng đệm của VQG Bạch Mã gồm 12 xã, thị trấn. Anh Nguyễn Chử - người dân vùng đệm thuộc xã Lộc Tỳ, huyện Phú Lộc cho hay: “Với dân giờ làm ăn kinh tế không còn vin vào rừng nữa mà có ý thức kiếm công ăn việc làm. Thực tế sống với rừng, ngày xưa đi khai thác trong rừng, sáng đi tối về thì đồng tiền ăn tiêu cũng thế, mà không bền vững, nên giờ mình kết hợp trồng rừng nông nghiệp với rừng kinh tế thì đời sống cũng ổn định”.
Còn ông Nguyễn Thẩm – Trưởng thôn Khe Su, Lộc Tỳ, Phú Lộc khẳng định: “Người dân bây giờ vẫn vào rừng, nhưng không phải chặt phá, săn bắn như trước nữa mà chỉ khai thác những thứ được phép như lâm sản ngoài gỗ”.
Trước thực tế đó, vừa qua Chính phủ đã chọn VQG Bạch Mã làm điểm cho một chương trình lớn là “thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng”. Ông Huỳnh Văn Kéo – Giám đốc VQG Bạch Mã cho biết: “Mục đích của việc thí điểm là tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chia sẻ lợi ích, quyền và nghĩa vụ của Ban quản lý các khu rừng đặc dụng với cộng đồng địa phương theo nguyên tắc đồng quản lý”.
Thực hiện chương trình thí điểm, VQG Bạch Mã đã lập danh sách số hộ dân và hội đồng quản lý tham gia chương trình thí điểm. Việc chia sẻ lợi ích phải đảm bảo sự thỏa thuận trực tiếp và tự nguyện giữa Ban quản lý khu rừng đặc dụng với cộng đồng dân cư thôn thông qua đại diện hợp pháp là Hội đồng quản lý; công khai, minh bạch trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện.
Theo ông Kéo, để người dân có trách nhiệm với rừng, họ cần được chia sẻ lợi ích và chỉ khi đó vấn đề lương thực mới được đảm bảo.
Vấn đề chia sẻ lợi ích với cư dân vùng đệm tại VQG Bạch Mã đã được thực hiện từ lâu. Nhưng việc thực hiện thành công mô hình thí điểm sẽ là cơ sở để gắn quyền lợi và trách nhiệm của người dân với rừng một cách hợp pháp. (Nông Thôn Ngày Nay 4/9)đầu trang(
Một thời rừng U Minh giàu có, mật ong rừng U Minh nuôi sống những con người đi mở cõi sinh cơ. Để chống chọi lại với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên và thú dữ, họ tập hợp lại thành từng nhóm người gọi là phong ngạn.
Từ xưa, dân phong ngạn đã quen với cuộc sống giữa bốn bề mật ngọt rừng tràm. Họ xem rừng như là sự sống không thể tách rời, và rồi họ nghĩ đến chuyện bảo vệ rừng, bảo vệ những đàn ong cũng chính là bảo vệ “nồi cơm” của họ. Những điều luật bất thành văn trong việc khai thác mật ong được dân phong ngạn lập ra và đã tồn tại hàng trăm năm qua.
Ông Lý Văn Nhạn, Phó ban Thường trực Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, cho biết: Từ khi rừng tràm ở U Minh Hạ được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, hàng trăm hộ dân sống trong vùng đệm Khu dự trữ sinh quyển rất phấn khởi vì họ biết cơ hội để họ làm giàu và trả nợ rừng xanh đã đến. Những “tập đoàn” phong ngạn từ đó cũng dần được phục hồi trở lại, họ luôn nêu cao ý thức vừa làm giàu vừa bảo vệ “lá phổi xanh” thế giới.
Ông Dương Trí Phước, ở Lâm ngư trường Sông Trẹm (huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) có mấy chục năm kinh nghiệm trong giới phong ngạn. Hỏi về lịch sử nghề “ăn ong”, ông Phước lắc đầu: “Hổng biết nữa à! Nghe các cụ nói cái nghề cha truyền con nối này hình thành hàng trăm năm nay rồi”.
Sinh ra và lớn lên ở đại ngàn U Minh, từ năm 13 tuổi, ông Phước đã vào rừng “ăn ong”, đến nay không còn đủ sức để tận hưởng cái thú vui hoang dã chốn rừng sâu nữa. Cũng như cha, chú của mình, ông Phước truyền lại kinh nghiệm đi rừng cho thế hệ sau và dặn dò con cháu phải biết yêu quý và bảo vệ rừng như chính mạng sống của mình vậy.
Hồi tưởng về cái thời “oanh liệt” giữa đại ngàn U Minh, ông Phước kể: “Hồi ấy, ở rừng U Minh, cây cổ thụ và các loài thú dữ nhiều vô kể. Người dân về đây khai hoang, lập nghiệp phải cất nhà sàn cao đến vài mét để tránh cọp vồ. Lúc đó có những tổ ong mật to như bộ ván. Mật ong khi đó chủ yếu được chế biến thành đường để ăn. Việc “ăn ong” của người dân chỉ là lấy sáp ong bán cho các thương lái đến từ Cần Thơ hay Long Xuyên. Họ mua sáp ong về để làm đèn cầy”.
Còn ông Hai Rớt (Nguyễn Văn Rớt, tập đoàn trưởng tập đoàn phong ngạn 2, xã Khánh Hòa, huyện U Minh) cho chúng tôi biết về bí quyết gác kèo ong mà ông đã tích lũy mấy chục năm qua. Theo lời ông Rớt, mùa vụ gác kèo ong phụ thuộc vào mùa hoa tràm. Hoa tràm hầu như trổ bông quanh năm nhưng bắt đầu nở rộ vào vào tháng 11 và tháng 12. Người đi “ăn ong” chỉ hoạt động thật sự từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, và chia làm ba vụ: vụ ong hạn từ tháng 1-3, vụ ong nước từ tháng 4-5 và vụ ong lỡ từ tháng 11-12 hằng năm.
Tảng sáng, lúc mặt trời con chưa ló rạng, sau khi đã chuẩn bị hết đồ nghề, nào là bình phun khói, lưới che mặt, bao tay, dao cắt, thùng chứa…, chúng tôi cùng ông Rớt và nhiều người dân phong ngạn khác bắt đầu tiến vào mé rừng, theo hướng của đàn ong. Ông Rớt khẳng định: Một tay “ăn ong” giỏi chỉ cần liếc mắt nhìn đàn ong bay qua là có thể biết tổ ong đó lớn đến cỡ nào, vì ong đi theo hướng gió. Chính vì vậy mà dân “ăn ong” cũng nhắm theo hướng gió mà đi.
Cuốc bộ giữa rừng tràm U Minh Hạ cùng ông Rớt gần 2 giờ đồng hồ, đến lúc đôi chân chúng tôi như rời ra thì ông Rớt bảo chúng tôi ngồi xuống cách tổ ong to đùng độ chừng 10m để quan sát ông tiến hành “ăn ong”.
Nhìn kỹ các công đoạn “ăn ong” của ông Rớt mới thấy hết kỹ thuật của người phong ngạn. Đầu tiên, ông Rớt thổi khói để khói bao phủ cả tổ ong, rồi sau đó dùng dao chặn giữa phần mật và phần tàng ong. Sau đó ông đưa dao cắt đường thứ nhất từ đầu kèo đi xuống và trước ra sau để tách rời phần tàng ong và khúc mật. Đường dao thứ hai cắt khúc mật ra khỏi tổ ong, đường cắt thứ ba cắt dọc theo thân kèo (nơi phần tổ ong gắn liền với kèo để tách hẳn phần mật ong ra khỏi thân kèo).
Rồi đến các công đoạn kiểm tra khác được ông Rớt thực hiện nhanh chóng trong khoảng thời gian chưa đầy 3 phút.
Thấy ông Rớt xách bình khói và chiến lợi phẩm vừa lấy được đi ra từ tàng ong, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Đưa tay đang cầm bình khói hiện đại, ông Rớt cười nói: “Đây là “vũ khí” hiện đại mà dân phong ngạn chúng tôi vừa được Nhà nước hỗ trợ. Có cái bình khói này thì không phải lo đến chuyện cháy rừng trong lúc “ăn ong” bằng khói rơm, xơ dừa hay cỏ khô như trước nữa”.
Trao đổi về cách thức để bảo vệ rừng trong Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, ông Lý Văn Nhạn cho biết: Thời gian gần đây, 37 hộ dân sống ở Tổ hợp tác sản xuất ấp Vồ Dơi (huyện Trần Văn Thời) và tập đoàn 19/5 (hay còn gọi là tập đoàn phong ngạn ở xã Nguyễn Phích thuộc huyện U Minh) đã nhận được sự hỗ trợ thiết thực từ nguồn vốn gần 400 triệu đồng do Văn phòng UNESCO tài trợ. Mỗi hộ được tài trợ 1 bộ kèo, 1 bộ đồ bảo hộ lao động, một bình phun khói…tương đương số tiền là 6 triệu đồng/hộ.
Đồng thời, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau cũng đứng ra tổ chức tập huấn cho các hộ dân về kỹ thuật gác kèo ong, cách “ăn ong” vừa bảo vệ được rừng vừa làm giàu cho gia đình. Để từng bước gắn kết nghề gác kèo ong với phát triển du lịch sinh thái. Ban quản lý tổ chức cho các đoàn khách tham quan đến với người dân để dã ngoại và thực nghiệm nghề “ăn ong”. Người dân sẽ hướng dẫn cho du khách cách “ăn ong”, sau đó, số mật ong thu được, du khách sẽ thu mua tại chỗ với giá cao.
Ông Lý Văn Nhạn khẳng định: “Với cách làm này vừa quảng bá cho du khách trong ngoài nước biết đến Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau vừa giới thiệu được nguồn mật ong thiên nhiên của rừng U Minh. Từ đó từng bước nâng cao đời sống cho người dân sống dưới tán rừng, nâng cao ý thức quản lý và bảo vệ rừng”.
Thực tiễn cho thấy, với cách làm này của ngành chức năng tỉnh Cà Mau đã mang lại một hiệu quả thiết thực trong công tác phòng chống cháy rừng. Nơi nào có tập đoàn phong ngạn hoạt động là nơi đó công tác quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện rất tốt. Vì nếu như họ không bảo vệ tốt rừng thì đồng nghĩa với việc mất mát tài sản và nguồn thu nhập quan trọng của họ. Minh chứng cụ thể cho cách làm này là việc tập đoàn phong ngạn 19/5 được thành lập từ năm 1984 đến nay nhưng chưa để xảy ra một vụ cháy rừng gây thiệt hại nào.
Ông Dư Văn Kiến, tập đoàn phó tập đoàn 19/5, cho biết: “Người dân ở đây sinh sống chủ yếu dựa vào tài nguyên dưới tán rừng nên từ lâu họ nặng nợ với rừng, việc bảo vệ rừng được mọi người ý thức rất cao, xem đó như là một việc làm để trả nợ rừng đã cưu mang và nuôi dưỡng mình”. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/9)đầu trang(
Ban Quản lý rừng đặc dụng cảnh quan (BQLRĐDCQ) Đray Sáp được giao quản lý hơn 1.688 ha đất rừng, trong đó có 1.212 ha có rừng còn lại là đất lâm nghiệp. Để phủ xanh diện tích đất trống này, năm 2010 từ nguồn kinh phí của Chương trình 661, đơn vị đã tiến hành trồng được 110 ha và giao khoán cho 50 hộ dân quản lý, nâng độ che phủ của rừng lên 80%.
Đến nay, diện tích rừng đã trồng năm 2010 này đang phát triển xanh tốt. Sau khi Chương trình 661 chấm dứt, với quyết tâm phủ xanh diện tích rừng còn lại tạo cảnh quan cho Khu du lịch Đray Sáp-Gia Long, năm 2011, BQLRĐDCQ Đray Sáp đã được phê duyệt dự án trồng thêm 60 ha tập trung ở địa bàn xã Nam Đà và Đắk Sôr (Krông Nô). Theo đó, 51 hộ dân ở xã Nam Tân và Chi đoàn Chi cục Kiểm lâm tỉnh nhận trồng diện tích này.
Bước vào mùa trồng rừng năm 2012, BQLRĐDCQ Đray Sáp lập kế hoạch trồng thêm 30 ha rừng theo hợp đồng đã ký kết với các hộ dân. Tuy nhiên, do kinh phí trồng và chăm sóc rừng trồng năm thứ nhất gần 1,1 tỷ đồng theo quy định là bao gồm 2 nguồn vốn, Trung ương 50%, ngân sách tỉnh hỗ trợ 50%.
Sau khi tiến hành trồng xong, 56,85/60 ha đã được nghiệm thu và đơn vị đã được cấp toàn bộ nguồn vốn đầu tư của Trung ương. Riêng số tiền mà địa phương hỗ trợ thì cho đến nay vẫn chưa được bổ sung.
Do chưa bố trí được nguồn vốn này nên chủ rừng không có tiền để thanh toán bổ sung tiền trồng và chăm sóc năm thứ nhất cho các hộ dân theo hợp đồng đã ký kết, nên các hộ tham gia trồng rừng đã không ký kết hợp đồng chăm sóc năm thứ 2 và các năm tiếp theo. Việc này khiến cho chủ rừng gặp khó trong nhiệm vụ trồng rừng năm 2012.
Đáng lo ngại là trong tháng 7 vừa qua, nhiều hộ dân nhận trồng rừng ở thôn Nam Tân, xã Nam Đà (Krông Nô) còn gây ra những hành động làm ảnh hưởng tới chất lượng cây trồng như phun thuốc cỏ làm cây chết, nhổ cây.
Đặc biệt, hộ gia đình ông Nguyễn Ban đã thuê người dùng máy cắt cỏ cắt sạch trên 1,8 ha rừng đã nhận trước đó, với tổng số cây bị phá trắng là 1.763 cây (bao gồm các loại dầu rái, sao đen và keo lá tràm).
Sau khi xảy ra sự việc trên, BQLRĐDCQ Đray Sáp đã tiến hành lập biên bản, đề nghị xử lý người vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, sau đó ông Ban đã thú nhận là người làm thuê đã “sơ ý” làm chết cây nên đã cam kết với chủ rừng mua cây giống mới tiến hành trồng lại toàn bộ diện tích trên ngay trong tháng 8.
Đối với các hộ dân ở thôn Nam Tân thì ngay khi bước vào vụ trồng rừng năm 2012, ngày 6/6 vừa qua, BQLRĐDCQ Đray Sáp đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành họp dân nhằm giải thích nguyên nhân chậm bố trí nguồn vốn để nhân dân yên tâm chăm sóc rừng năm thứ 2.
Các hộ dân đã nhất trí việc trồng rừng và chăm sóc năm thứ 2, với điều kiện chủ rừng phải hoàn tất việc thanh toán và thanh lý hợp đồng trồng và chăm sóc rừng trồng năm thứ nhất, nếu không sẽ không chịu trách nhiệm về chất lượng cây đã trồng. Đề nghị của các hộ dân là chính đáng nên BQLRĐDCQ Đray Sáp đã nhiều lần gửi văn bản về Chi cục Kiểm lâm tỉnh “hối thúc” UBND tỉnh bố trí bổ sung nguồn vốn trên.
Tuy nhiên cho đến đầu tháng 8, khi mùa trồng rừng năm 2012 sắp hết thời gian, chủ rừng vẫn không có tiền để thanh toán cho dân. Trước sự việc trên, đầu tháng 8, lãnh đạo Sở Nông nghiệp &PTNT và Chi Cục Kiểm lâm tỉnh cùng BQLRĐDCQ Đray Sáp phối hợp với chính quyền địa phương đã tổ chức gặp dân một lần nữa để giải trình về sự chậm trễ đã nêu. Sau cuộc họp dân này, Sở Nông nghiệp &PTNT đã đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo việc bố trí nguồn kinh phí.
Theo đó, ngày 8/8, UBND tỉnh đã có Công văn hỏa tốc số 3270 chỉ đạo Sở Tài chính, Sở Kế hoạch-Đầu tư bổ sung kinh phí nêu trên cho BQLRĐDCQ Đray Sáp để thanh toán dứt điểm tiền công trồng và chăm sóc rừng trồng năm thứ nhất cho các hộ dân ở thôn Nam Tân, xã Nam Đà, và bổ sung kinh phí trồng rừng năm 2012 cho đơn vị để trồng rừng cho kịp thời vụ.
Theo ông Võ Văn Tâm, Giám đốc BQLRĐDCQ Đray Sáp thì nếu được bố trí kinh phí kịp thời ngay trong tháng 8 này, đơn vị cũng khó có thể đảm bảo kế hoạch trồng rừng năm 2012, vì mùa trồng rừng đã hết hạn. Đơn vị chỉ mong sao có kinh phí để thanh toán tiền trồng và chăm sóc năm thứ nhất 56,85 ha đã trồng năm 2011, để các hộ dân yên tâm chăm sóc tốt diện tích rừng hiện đang phát triển tốt. (Báo Đăk Nông 3/9)đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa có công văn gửi UBND tỉnh Đắk Lắk và vườn quốc gia Yok Đôn yêu cầu bảo quản xương của hai con voi chết trong vườn quốc gia Yok Đôn làm tiêu bản tại Bảo tàng Tài nguyên rừng VN.
Đồng thời đề nghị tỉnh tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ loài voi, bảo vệ rừng ở địa phương, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành chức năng điều tra, xác minh đối tượng giết hại hai con voi tại vườn quốc gia Yok Đôn để răn đe và ngăn chặn tình trạng giết hại voi tại địa phương, báo cáo bộ trước ngày 30-9. UBND tỉnh Đắk Lắk phải sớm hoàn thành rà soát, bổ sung dự án bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 để trình Thủ tướng Chính phủ thẩm định, phê duyệt trước ngày 15-9.
Ông Hoàng Văn Xuân - phó giám đốc vườn quốc gia Yok Đôn - cho biết trước đề nghị này, vườn đã cử lực lượng kiểm lâm tiếp cận xác hai con voi để bảo vệ hiện trường, bảo vệ bộ xương hai con voi giữ làm tiêu bản. (Tuổi Trẻ 4/9)đầu trang(
3/9, UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, vừa nhận được công văn số của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) đề nghị làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan đến cái chết của cặp voi tại Vườn Quốc gia Yok Đôn và báo cáo trước ngày 30/9.
Theo đó, Bộ NN và PTNT đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo các cơ quan, ban ngành chức năng tiến hành điều tra, xác minh làm rõ người giết hại 2 cá thể voi tại Vườn Quốc gia Yok Đôn để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật nhằm ngăn chặn, răn đe tình trạng giết hại voi tại địa phương. Ngoài ra, Bộ cũng yêu cầu UBND tỉnh Đắk Lắk sớm hoàn thành rà soát, bổ sung "Dự án bảo tồn voi" tại Đắk Lắk đến năm 2020 để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước ngày 15/9.
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN và PTNT) cũng có Công văn chỉ đạo Vườn Quốc gia Yok Đôn phối hợp với các cơ quan chức năng bảo quản xương của 2 cá thể voi để Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam lấy mẫu làm tiêu bản phục vụ trưng bày.
Trước đó, ngày 26/8, xác 2 con voi rừng bị giết hại đã được phát hiện trong vùng lõi của vườn quốc gia Yok Đôn. Theo ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc vườn quốc gia này, những dấu hiệu trên con voi đực cho thấy đây là một vụ săn bắn voi rừng để lấy ngà. Những con vật bị sát hại nghi thuộc đàn voi gần 30 con thường xuyên xuất hiện tại vườn quốc gia này thời gian gần đây. (Vnexpress.net 3/9)đầu trang(
Khi vụ kiện Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình nhằm "cởi trói" cho ba ba kéo dài, thông tin râm ran trên báo chí, nhiều người ủng hộ anh. Nhưng cũng có người bảo anh là gàn, tốn tiền, hao của vào việc không đâu.
Chỉ một thời gian không lâu nữa, con ba ba sẽ được chính thức được “cởi trói”; từ động vật rừng bị kiểm soát, ba ba sẽ được nuôi và buôn bán dễ dàng như con gà, con lợn; tạo điều kiện cho hàng vạn hộ nông dân vươn lên làm giàu chính đáng nhờ nuôi ba ba...
Để có được điều đó, không thể không nhắc đến “nhân vật chính” trong vụ kiện Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình là anh Trần Đình Quyết - Giám đốc Công ty TNHH Tiền Hậu (TP.HCM); người đầu tiên nổ phát súng cho “cuộc chiến” pháp lý về con ba ba.
Sinh năm 1975, ngày nhỏ còn ở quận Kiến An - Hải Phòng, cậu bé Trần Đình Quyết với đám bạn cùng trang lứa thường ra các ao đầm để sục sạo, tìm cái ăn cho gia đình. Một bận may mắn vớ được ba ba về ăn, cái vị ngọt ngọt, dai dai, ngậy ngậy của nó cứ đeo đuổi, ám ảnh anh mãi đến sau này. Năm 14 tuổi, cả gia đình Quyết chuyển vào Đồng Tháp- vùng đất lầy lội, nhiều ao hồ này lại càng làm cho chàng trai lọ mọ này thích thú. Học thì cứ học, nhưng “sểnh” ra là anh chàng lại ra hồ, ra đầm mò mẫm tìm ba ba. Không những bắt ba ba để ăn, Quyết còn bắt về bỏ vào bể nuôi như cá cảnh.
Nghĩ nuôi chơi thế, mà ba ba lại sống khỏe, đẻ con đàng hoàng, Quyết cứ tưởng đó là sự lạ, nhưng hóa ra, vào thời điểm đó (khoảng những năm 1990), ở Đồng Tháp, nhiều hộ dân nuôi được ba ba sinh sản. Thế là từ đó, Quyết “bập” luôn vào nghề nuôi ba ba. Quyết học cách làm chuồng trại, cách chăm sóc, cách làm cho ba ba sinh nở, thậm chí, học được cả “mẹo” tách ba ba đực và ba ba cái ra để chúng không cắn lẫn nhau...
Được một thời gian, cả gia đình lại chuyển lên huyện Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh) sinh sống, nhưng Quyết vẫn không quên mang theo cái mộng thành chủ trại ba ba. Ngay cả khi tốt nghiệp Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh, chuyên ngành xây dựng, có một công việc tương đối ổn định, Quyết cũng không quên con ba ba. Quyết rủ người em gái ruột tên Thu cùng đào ao, lập trại nuôi ba ba và dần dà, anh bỏ hẳn cả công việc kỹ sư xây dựng.
Đã xác định là kế sinh nhai, tất nhiên việc nuôi ba ba không còn là việc đưa ba ba vào tủ kính để ngắm. Quyết và cô em gái nuôi thật và con ba ba cũng không phụ lòng người. Ba ba sinh sôi, lớn lên nhanh chóng, nhưng cái khó muôn đời của nông dân chính là tìm đầu ra cho sản phẩm - không loại trừ anh em Quyết. Ngay tại TP. Hồ Chí Minh lúc đó, ba ba vẫn là đặc sản đắt tiền, đến cả triệu đồng/kg, ít ai dám ăn. Hai anh và em chở nhau bằng xe máy đi khắp các nhà hàng ở TP.Hồ Chí Minh mời mọc và đa phần chỉ nhận được những cái lắc đầu từ chối.
Nhưng trời không phụ người. Lần đầu tiên, hai anh em chở theo số ba ba nuôi và đã bán được 3 con cho một nhà hàng gần sân bay Tân Sơn Nhất. Mưa dầm thấm lâu, khách hàng ở TP. Hồ Chí Minh quen dần với việc tiêu thụ ba ba. Rồi hai anh em Quyết mở rộng mô hình chăn nuôi để bán; thậm chí còn làm đầu mối tiêu thụ ba ba cho các nông dân ở Đồng Tháp, Long An…
Nhưng rồi thị trường nhà hàng cũng không kham nổi tốc độ nuôi trồng của nông dân, nhiều lứa ba ba của chị em Quyết nằm im dưới ao hàng năm trời. Và thế là, Quyết và cô em gái quyết tâm “đánh” vào thị trường siêu thị. Hai anh em tìm đến siêu thị Metro và rất may người quản lý siêu thị này lại rất thích sản phẩm nông nghiệp và muốn có một mặt hàng độc đáo như ba ba trên kệ hàng. Đó là vào năm 2001, anh em Quyết ký được hợp đồng bán ba ba sống cho hệ thống siêu thị lớn này.
Đến năm 2006, khi việc kinh doanh thuận lợi, hai anh em Quyết lập Công ty Tiền Hậu và kéo thêm nhiều người trong gia đình tham gia. Hiện nay, Tiền Hậu có diện tích nuôi ba ba rộng đến 10ha ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp. Ba ba của công ty được bán khắp từ Nam chí Bắc. Ngoài siêu thị Metro, Tiền Hậu còn đưa ba ba vào các siêu thị lớn khác như Big C, Lotte…
Không chỉ tiêu thụ ba ba của gia đình mình, anh Quyết còn bao tiêu cho khoảng 500 hộ nuôi ba ba trơn nằm rải rác ở các tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu… Từ việc bán ba ba sống, công ty bắt đầu lấn sang lĩnh vực chế biến ba ba với các sản phẩm ba ba ướp gừng đóng gói để bán vào siêu thị.
Anh Quyết nói, công ty đang chuẩn bị cho ra đời như ba ba hầm thuốc bắc đóng hộp, thậm chí đang nghiên cứu để làm rượu tiết ba ba. “Ba ba là món ăn bổ dưỡng rất dễ nuôi. Tôi muốn ba ba trở thành món ăn phổ biến, dân dã như thịt lợn, thịt bò chứ không phải là một thứ đặc sản đắt tiền như hiện nay” - anh Quyết tâm sự.
Đầu năm 2011, anh Quyết đón một đoàn khách đặc biệt từ Nhật Bản muốn đến thăm công ty. Đó là những cán bộ thuộc Công ty Thực phẩm Kituku nổi tiếng của Nhật. Sau khi thăm quan mô hình nuôi ba ba, công ty này đã ký hợp đồng mua ba ba của Tiền Hậu và anh đã xuất những lô hàng đầu tiên sang Nhật. Ngoài ra, anh cũng bán được ba ba sang Mỹ thông qua một công ty xuất nhập khẩu thực phẩm trong nước, trở thành một trong những người đầu tiên đưa ba ba Việt Nam ra thế giới.
Lô ba ba chuyển ra Hà Nội (hiện anh có hơn 10 đầu mối tiêu thụ ba ba tại đây) vào tháng 9.2011, có lẽ là phi vụ làm ăn gian nan nhất của anh Quyết. Lô hàng 608 con bị đã ách lại ở Quảng Bình, kéo anh vào vòng lao lý. Mất cả lô hàng, mất 250 triệu đồng tiền phạt nhưng điều anh thấy khổ sở nhất phía sau vụ kiện này là khi anh muốn mở chuồng chăm sóc ba ba nhưng Kiểm lâm Quảng Bình không chấp nhận. Nghe luật sư kể lại, ba ba chết quá nửa, bán thanh lý được hơn 20 triệu đồng, ruột anh đau như cắt.
Khi vụ kiện kéo dài, thông tin râm ran trên báo chí, nhiều người ủng hộ anh. Nhưng cũng có người bảo anh là gàn, tốn tiền, hao của vào việc không đâu. Cơn cớ của vụ kiện cũng chỉ vì anh không có cái giấy xác nhận của kiểm lâm. Có người hỏi, sao anh không lên báo cho kiểm lâm, rồi kiểm lâm xuống kiểm tra, xác nhận cho lô hàng, cầm giấy để đi đường là xong. Sao lại bày ra cái chuyện chống đối rồi mua chuyện vào người...
Tuy nhiên, cách tính toán chi li của anh Quyết có lẽ khiến chúng ta phải suy nghĩ thêm. Anh lấy ví dụ, để xin giấy xác nhận của kiểm lâm cho một lô ba ba sẽ hết khoảng 250.000 đồng, nhân với hàng nghìn, hàng vạn lô hàng của nông dân được vận chuyển đi một năm, số tiền lãng phí sẽ lớn đến mức khó có thể tượng tượng được. Điều quan trọng hơn cả là, từ năm 2008 con ba ba đã được Bộ NNPTNT cho phép sản xuất, kinh doanh thương mại, thì việc gì cần phải xin giấy của kiểm lâm! (Nông Thôn Ngày Nay 1/9)đầu trang(
Ngày 21.8, Mạng lưới Giám sát buôn bán động thực vật hoang dã (Traffic) công bố báo cáo dài 176 trang có tựa đề “Mối liên hệ buôn bán sừng tê giác giữa Nam Phi – Việt Nam: Sự kết hợp nguy hiểm của thể chế lỏng lẻo, hành vi sai trái của những người công tác trong ngành động vật hoang dã và các tổ chức tội phạm Châu Á”.
Theo báo cáo của Traffic, Nam Phi đã sớm ban hành hàng loạt quy định nhằm ngăn chặn nạn săn bắn tê giác. Năm 2009, chính phủ Nam Phi đã ra lệnh tạm ngừng bán sừng tê giác trên toàn quốc để ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép sừng tê giác không được đăng ký ở trong kho. Những người săn bắn, buôn bán sừng tê giác bị kết tội và phạt tù nặng. Mặc dù vậy, nạn săn bắn trộm tê giác ở Nam Phi vẫn tăng chóng mặt, từ 13 con năm 2007 lên 83 con (năm 2008); 122 con (năm 2009); 333 con (năm 2010) và đạt kỷ lục 448 con năm 2011.
Đầu năm 2012, cứ mỗi ngày có gần hai con tê giác bị săn bắn trộm. Tính từ đầu năm nay đến ngày 17.7 đã có 281 con tê giác bị săn bắn trộm. Nếu nạn săn bắn trộm tiếp diễn với tốc độ này, dự kiến số tê giác bị săn bắn trộm trong cả năm nay sẽ là 515 con.
Cũng theo Traffic, tính đến nay, tại Nam Phi đã có 176 vụ bắt giữ liên quan đến tội phạm về tê giác, lớn hơn tổng số vụ bắt giữ của cả năm 2010 (165 vụ). Trong số 43 vụ bắt giữ người Châu Á có liên quan tới các tội phạm về tê giác ở Nam Phi, 24 vụ là người Việt Nam (chiếm 56%), 13 vụ là người Trung Quốc (28%), số còn lại là người Thái Lan và người Malaysia. Ngoài ra, có ít nhất 3 nhân viên đóng tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pretoria từng bị ghi nhận có tham gia buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác, mặc dù vụ gần đây nhất xảy ra vào cuối năm 2008.
Bản báo cáo cũng xác định Việt Nam là thị trường chính, nơi nhu cầu về sừng tê giác tiếp tục gia tăng và những chiếc đĩa dùng để mài sừng tê giác được bày bán rộng rãi. Báo cáo của Traffic nêu rõ 4 nhóm người tiêu dùng chính sừng tê giác tại Việt Nam. Trong đó nhóm quan trọng nhất là những người giàu có tin tưởng vào đặc tính giải độc của sừng tê giác, thường mài sừng tê giác trộn với nước hoặc rượu làm thuốc bổ hoặc thuốc giải rượu. Những bệnh nhân ung thư cũng dùng sừng tê giác như một phương thuốc chữa bệnh.
Ông Tom Milliken - chuyên gia về tê giác của Traffic, đồng tác giả của báo cáo - cho rằng, “nhu cầu sừng tê giác tại Việt Nam tăng cao không liên quan đến việc đáp ứng đòi hỏi chữa bệnh của đông y, mà nhằm thỏa mãn thú tiêu khiển của những người giàu có chuyên tiệc tùng hoặc để lừa tiền những bệnh nhân ung thư sắp chết về tác dụng chữa trị thần kì của sừng tê giác, điều không bao giờ xảy ra”.
Tiến sĩ Jo Shaw - đồng tác giả báo cáo - kết luận, “nhu cầu gia tăng từ Châu Á, việc người ta sẵn sàng trả giá cao để có được sừng tê giác, và những kẻ buôn lậu sừng liều mình có lẽ đã khiến ‘mặt hàng’ này thu hút sự chú ý từ phía những băng nhóm tội phạm, tạo ra một “cơn bão hoàn hảo” cho nạn săn bắn trộm tê giác và buôn bán sừng tê giác”.
Báo cáo của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên WWF cũng cáo buộc rằng, VIệt Nam là điểm đến chính của sừng tê Nam Phi. Việt Nam đã bắt giữ vài chục vụ buôn lậu sừng tê bất hợp pháp trong giai đoạn 2004 – 2008, nhưng từ năm 2008 đến nay không bắt được vụ nào.
Lỗ hổng pháp lý hiện nay là một nguyên nhân dẫn tới nạn buôn bán và tiêu thụ sừng tê gia tăng. Báo cáo cho rằng việc xem xét lại chính sách quốc gia và luật pháp của Việt Nam, trong đó tập trung cụ thể vào nạn buôn bán sừng tê, là điều cần thiết để xác định và khép lại lỗ hổng pháp lý đó, trong đó nên lưu ý, cần có hình phạt pháp lý thích hợp để ngăn chặn buôn bán và sở hữu sừng tê, các biện pháp pháp lý đầy đủ để cắt giảm buôn bán bất hợp pháp trên Internet.
Báo cáo cũng cho rằng, một số kiều dân Việt Nam bị bắt giữ hoặc dính vào các vụ buôn bán sừng tê bất hợp pháp ở Nam Phi, song có ít bằng chứng về việc Việt Nam xử lý các thông tin do nhà chức trách Nam Phi cung cấp thế nào. (Lao Động 1/9) đầu trang(
3/9, phát hiện 2 người đàn ông đi trên xe máy dừng đỗ tại khu vực trước cửa Nhà hát Lớn Hà Nội (phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm), biển hiện nghi vấn, tổ công tác Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Đội Cảnh sát môi trường) - CAQ Hoàn Kiếm, Hà Nội đã tiến hành kiểm tra.
Kiểm tra chiếc bao tải và 2 túi giấy mà người đàn ông ngồi phía sau xe đang ôm, tổ công tác phát hiện bên trong có 1 con cu li (nhóm IB - nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) và 2 con chim chích chòe lửa (nhóm IIB - hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại). Tổ công tác đã mời Hoàng Đức Cường hiện tạm trú tại huyện Thanh Trì, Hà Nội (người điều khiển xe máy) và Nguyễn Huy Hà có HKTT ở Cẩm Khê, Phú Thọ; hiện tạm trú tại xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội về trụ sở CAP Tràng Tiền làm rõ.
Bước đầu, Nguyễn Huy Hà khai mua con cu li với giá 1 triệu đồng và 2 con chim chích chòe lửa giá 500.000 đồng của người không quen biết tại huyện Đan Phượng, để bán cho khách có nhu cầu. Khi mang số cá thể động vật trên về tới khu vực Nhà hát Lớn Hà Nội thì bị cơ quan Công an phát hiện.
Hiện, Đội Cảnh sát môi trường CAQ Hoàn Kiếm đã lập biên bản, tạm giữ người liên quan về hành vi “vi phạm các qui định về bảo vệ động vật hoang dã quí hiếm” để tiếp tục làm rõ. Cơ quan công an cũng hoàn chỉnh hồ sơ để bàn giao các cá thể động vật quí hiếm trên cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã nuôi nhốt theo quy định. (An Ninh Thủ Đô 3/9)đầu trang(
31-8, Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết đã phối hợp các ngành chức năng giải cứu thành công một con vượn đen má hung quý hiếm tại một quán cà phê trên đường Huỳnh Thúc Kháng, P.Quang Trung, TP Kon Tum.
Sau khi vận động, thuyết phục chủ quán đã tự nguyện giao nộp con vượn cho các ngành chức năng để vận chuyển về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi, TP.HCM chăm sóc.
Vượn đen má hung được phát hiện và công bố vào năm 2010, sinh sống chủ yếu tại các vùng rừng thuộc khu vực các nước Đông Dương và phía nam của Trung Quốc. Loài vượn này được xếp vào danh sách các loài nguy cấp, quý hiếm và nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. (Tuổi Trẻ 1/9)đầu trang(
Sáng 31-8, ngựa vằn và linh dương sừng xoắn nhập khẩu từ Châu Phi, nuôi trong môi trường bán hoang dã ở vườn thú của Khu du lịch Đại Nam đã sinh sản lứa đầu tiên, đây là tin vui cho những người yêu quý động vật.
Theo ông Dương Thành Phi, Giám đốc vườn thú Đại Nam, hai cặp ngựa vằn được nhập về từ châu Phi cách đây khoảng ba năm (khi đó khoảng hai năm tuổi) và sau tám tháng mang thai, ngựa vằn đã tự sinh sản mà không cần đến sự can thiệp của thú y. Vài giờ sau khi sinh, chú ngựa vằn được xác định giới tính là con đực đã chạy nhảy và tự tìm bú sữa mẹ. Cùng thời gian trên, một con linh dương sừng xoắn cũng đã sinh được một con đực.
Ông Dương Thành Phi cho biết thêm, tính đến thời điểm hiện tại đã có 10 loài thú quý hiếm, nhập khẩu từ các nước về nuôi dưỡng và nhân giống thành công tại vườn thú Đại Nam. Cụ thể như: hà mã, vọc bạc, hổ, khỉ sóc... trong đó, hà mã là loài thú quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới và đang có nguy cơ duyệt chủng cần bảo tồn. Hiện tại, cặp hổ trắng, sư tử trắng cũng đang chuẩn bị cho sinh sản lứa đầu tiên.
Được xây dựng từ tháng 6 năm 2006 và chính thức đưa vào hoạt động từ tháng 10-2008, Vườn bách thú Đại Nam là vườn thú mở đầu tiên tại Việt Nam. Nơi đây đang nuôi dưỡng và bảo tồn hàng trăm loài thú quý hiếm được thả tự do trong không gian hoang dã và được cách ly với bên ngoài bằng những rừng cây, con suối tạo nên không gian gần gũi với thiên nhiên.
Đến nay, Vườn bách thú Đại Nam có 73 loài động vật quý hiếm, với trên 500 cá thể gồm: tê giác Nam Phi, sư tử trắng, ngựa vằn, gấu, hổ, Gấu, Hà mã cùng nhiều loài chim…Trong số đó đã có một số loài được thuần dưỡng và nhân giống thành công như: hổ, linh dương sừng xoắn, gấu, đà điểu, hà mã, khỉ sóc và khỉ đuôi lợn.
Nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm đã sinh sản tốt, trong môi trường bán hoang dã tại vườn Bách thú Đại Nam, cho thấy chúng đã hoàn toàn thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng và môi trường tại Bình Dương. (Nhân Dân 1/9)đầu trang(
Tại 96 doanh nghiệp hội viên của Hawa, doanh số thị trường nội địa của các doanh nghiệp này trong năm 2011 lên đến 101,6 triệu USD.
Thông tin trên được trích từ kết quả khảo sát từ tháng 4 - 8/2012 của Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa).
Phó Chủ tịch Hawa Huỳnh Văn Hạnh cho biết, đây là kết quả điều tra mới nhất của Hawa về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp hội viên ở thị trường nội địa.
“Mức doanh số của các doanh nghiệp ở thị trường nội địa đã cho thấy nhiều năm qua chúng ta không khai thác tốt thị trường trong nước. Nếu chịu đầu tư cho thị trường nội địa, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể tăng doanh số ở thị trường này trong những năm tới”, ông nói.
Cũng theo kết quả điều tra này, tổng kim ngạch xuất khẩu của 96 doanh nghiệp doanh nghiệp hội viên Hawa trong năm 2011 đã đạt được 497 triệu USD.
Tỷ lệ dùng gỗ rừng trồng của các doanh nghiệp cũng đạt được kết quả khá khả quan trong cuộc khảo sát lần này. Trong kết quả khảo sát của 47 doanh nghiệp trả lời về vấn đề này, mức nhập khẩu gỗ của doanh nghiệp trong năm 2011 chỉ ở mức 35,7 triệu USD trong khi đó trị giá gỗ rừng trồng mà các doanh nghiệp dùng trong chế biến xuất khẩu đã lên đến 71,3 triệu USD. (Theo Gafin 1/9)đầu trang(
Bắc Yên là huyện có diện tích cây sơn tra lớn nhất tỉnh; quả sơn tra Bắc Yên màu vàng tươi mang hương vị chua, hơi chát, ngọt nhẹ và hương thơm đặc biệt.
Mùa này, vùng cao Bắc Yên đang vào vụ thu hoạch sơn tra. Đi dọc các xã vùng cao Tà Xùa, Làng Chếu, Xím Vàng... dưới những rừng sơn tra lá trắng bạc nặng trĩu quả, những chàng trai, cô gái Mông khoác “lu cở” đầy ắp táo.
Tại bản Cáo A, nơi nhiều táo sơn tra nhất của xã Làng Chếu, ông Sồng A Mang, Trưởng bản khoe: Được sự hỗ trợ của Dự án 661, từ 2006 đến nay, bản trồng mới hơn 60 ha cây sơn tra, nâng diện tích rừng khoanh nuôi, bảo vệ của bản lên hơn 300 ha. Bây giờ, sơn tra là cây chủ lực với 50 ha cho thu hoạch, chia đều cho 57 hộ quản lý, bảo vệ và thu hái. Vụ táo năm 2011, cả bản thu gần 100 tấn quả bán được 400 triệu đồng, cũng nhờ rừng và cây táo giúp bà con có thêm thu nhập, cải thiện đời sống.
Vụ trồng rừng năm nay, xã Xím Vàng đã trồng 95 ha, nâng diện tích cây sơn tra từ năm 2006 đến nay lên hơn 250 ha. Trồng rừng vừa được Nhà nước hỗ trợ, lại giữ được nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt, làm ruộng bậc thang, bảo vệ tốt thì vài năm sau còn được thu hoạch sơn tra để bán, bà con ai cũng nhiệt tình tham gia, mong muốn Nhà nước tiếp tục hỗ trợ để người dân trồng rừng.
Sơn tra là cây có tác dụng kép, vừa cho giá trị kinh tế, vừa có tác dụng lớn trong bảo vệ môi trường. Do có khả năng phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, hiệu quả và tích cực trong bảo vệ môi trường, cây sơn tra được huyện Bắc Yên chú trọng phát triển và mở rộng diện tích ở các xã vùng cao. Theo số liệu thống kê, diện tích rừng có cây sơn tra mọc tự nhiên và đang cho sản phẩm trên địa bàn huyện hơn 1.000 ha, với mật độ từ 100 - 200 cây/ha, năng suất 10 - 30 kg quả/cây, sản lượng hàng năm từ diện tích sơn tra mọc tự nhiên khoảng 1.000 tấn. Từ năm 2006 đến nay, qua các chương trình dự án, 661, KFW7, 30a... Bắc Yên đã trồng 1.045 ha sơn tra. Hiện tại, đã có nhiều diện tích cho quả bói năm đầu như ở bản Háng C, Cáo A, Cáo B xã Làng Chếu... với sản lượng gần 150 tấn/năm.
Ông Sùng A Giao, Chủ tịch UBND huyện cho biết: Để mở rộng diện tích cây sơn tra Bắc Yên đã vận dụng các chủ trương chính sách của Đảng thuộc các chương trình dự án như Chương trình 30a, 135, KFW7, Giảm nghèo giai đoạn II để hỗ trợ dân trồng rừng. Ngoài ra, thông qua việc khoán chăm sóc bảo vệ rừng phòng hộ, các hộ dân cũng có nguồn kinh phí để chăm sóc cây sơn tra mọc tự nhiên trong diện tích rừng phòng hộ, phấn đấu đến năm 2015, trên địa bàn các xã vùng cao có 3.150 ha rừng sơn tra...
Tuy nhiên, cái khó trong phát triển cây sơn tra ở Bắc Yên là tìm đầu ra cho quả sơn tra. Trên địa bàn huyện có rất nhiều địa điểm thu mua táo, nhưng thu mua với số lượng lớn hơn cả là Công ty TNHH Bắc Sơn, rất cần hình thành liên kết 4 “nhà” để cây sơn tra thực sự trở thành cây xoá đói giảm nghèo của đồng bào dân tộc vùng cao Bắc Yên. (Báo Sơn La 1/9)đầu trang(
Huyện Lương Sơn vừa hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2012 với tổng diện tích rừng trồng mới là 734 ha, vượt 22,3% kế hoạch năm, vượt 12% so với cùng kỳ năm 2011.
Trong đó, diện tích dân tự trồng là 472 ha, vượt 17,9% kế hoạch; rừng nguyên liệu là 162 ha, vượt 62% kế hoạch; dự án 661 hỗ trợ trồng rừng sản xuất 100 ha, đạt 100% kế hoạch. Đây là huyện đầu tiên của tỉnh hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2012.
Ngoài ra, từ đầu năm đến nay, diện tích khai thác rừng trồng trên địa bàn huyện Lương Sơn đạt khoảng 626 ha, khối lượng gỗ khai thác khoảng 23.000 m3. Thời gian tới, huyện tiếp tục chỉ đạo các xã, thị trấn kiểm tra và trồng dặm diện tích rừng trồng mới, tập trung thực hiện các biện pháp chăm sóc và bảo vệ rừng. (Báo Hòa Bình 31/8) đầu trang(
UBND huyện Đô Lương và Ban quán lý dự án phát triển lâm nghiệp WB3 vừa tổ chức đánh giá kết quả thực hiện công tác trồng rừng 9 tháng đấu năm và triển khai kế hoạch nhiệm vụ quý 4/2012.
Để thực hiện tốt dự án phát triển lâm nghiệp WB3, UBND huyện Đô Lương đã thành lập BQL dự án cấp huyện, thành lập tổ công tác tại 7 xã tham gia dự án và triển khai KH trồng rừng từ đầu vụ Xuân năm 2012. BQL dự án huyện phối hợp với ban quán lý tỉnh tổ chức thông qua dự án đến tận nhân dân 7 xã trong dự án. Đồng thời cử cán bộ tham gia các buổi tập huấn, hội thảo chuyên môn nghiệp vụ do ban quán lý tổ chức.
Kết quả, đã có 3/7 xã tham gia trồng rừng vụ xuân với diện tích là 92 ha. Công ty lâm nghiệp Đô lương, đã cung ứng giống phục vụ cho dự án đã chuẩn bị tốt 95 vạn cấy giống đạt tiêu chuẩn. Trong đó, đã phục vụ xuân là 56 vạn cấy. Đến nay, tổng diện tích đất qua rà soát đủ điều kiện tham gia dự án là trên 1.470 ha. Tuy nhiên, phần lớn đất chưa được cấp giấy công nhận quyền sử dụng đất đã gây ảnh hưởng tới việc triển khai dự án.
Nhiệm vụ trọng tâm trong quý 4 là tập trung giải quyết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ tham gia dự án và triển khai trồng rừng vụ thu theo đúng KH đề ra. Trong đó, trông rừng vụ thu theo đăng ký: 347 ha. Giao cho Cty lâm nghiệp cung ứng đủ 63 van cây giống. Phân công cán bộ dự án huyện phối hợp với NH CSXH hướng dẫn hộ trồng rừng lập hồ sơ vay vốn theo quy định của dự án. (Theo Đài PT – TH Nghệ An 3/9) đầu trang(
1/9, Ban quản lý dự án xây dựng trường học và trồng rừng giao lưu tổ chức tập huấn cho các tình nguyện viên TT Huế tham gia trồng rừng tại thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.
Tham gia tập huấn có 250 tình nguyện viên là sinh viên, học sinh của các trường Đại học ngoại ngữ, Cao Đẳng sư phạm, THPT Quốc Học, THPT Nguyễn Huệ, các trường THCS Nguyễn Tri Phương, Chu Văn An và Phan Sào Nam. Các tình nguyện viên được tập huấn về kỹ thuật trồng cây, trồng rừng và các kỹ năng văn hóa văn nghệ để trao đổi giao lưu với các tình nguyện viên đến từ Nhật Bản. Sau đợt tập huấn này vào ngày 16.9 tới, các tình nguyện viên sẽ có đợt giao lưu và trồng rừng tại thị trấn Lăng Cô Phú Lộc.
Chương trình trồng rừng và giao lưu văn hóa lần này nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa UBND tỉnh TT Huế với tập đoàn Aeon của Nhật Bản. Tập đoàn này đã hỗ trợ kinh phí 3 triệu đô la Mỹ để giúp tỉnh TT Huế xây dựng 30 trường học trên địa bàn và hỗ trợ trồng rừng để bảo vệ môi trường. (Theo Đài PT – TH TT - Huế 3/9)đầu trang(
31-8, đoàn công tác liên ngành của huyện Sông Hinh (Phú Yên) đã truy quét hoạt động đào đãi vàng trái phép tại xã Sông Hinh. Nơi đây đã có hàng chục hecta rừng bị đào phá tan tành.
Tại khu vực suối Tre thuộc xã Sông Hinh giáp ranh với xã Ea Trol, mỗi ngày có hàng chục người đào đãi vàng trái phép bằng máy móc. Lợi dụng nguồn nước suối, “vàng tặc” dùng máy nổ có gắn đầu bơm hút cát sâu vào những đồi núi rồi cho lên băng chuyền để đãi vàng. Máy hút cát đi đến đâu thì cây rừng bị đốn ngã đến đó và tạo thành những hố sâu.
Suối Tre có đoạn gần như bị bồi lấp hoàn toàn bởi lượng cát khổng lồ từ những băng chuyền đãi vàng này đổ xuống. Ông Đinh Công Mai, đào đãi vàng trái phép ở đây, cho biết: “Gia đình tôi có bảy người, từ huyện Kim Sơn (Ninh Bình) vào đây đã vài tháng nay. Cả gia đình vào khu rừng này xây dựng lán trại và khai thác vàng để kiếm sống...”.
Gia đình ông Mai dùng sáu máy nổ các loại để hút cát, sau đó đưa cát lên hai băng chuyền để đãi vàng. Những “công trường” khai thác vàng ở đây cũng như cơ sở của ông Mai đều cắt cử người cảnh giới ở bìa rừng, khi thấy người lạ xuất hiện thì gọi điện thoại báo để những người đang đào đãi vàng tháo dỡ máy móc, dụng cụ và rút vào rừng sâu lẩn tránh.
Tại khu vực suối Ma Đói, chúng tôi cùng đoàn công tác liên ngành đi bộ từ bìa rừng vào rừng hơn ba cây số, đến nơi đào đãi vàng trái phép thì những người đãi vàng ở đây đã tẩu tán các dụng cụ, máy móc vào rừng sâu. Còn lại hiện trường hơn 5ha đất hầm hố và những giàn gỗ dùng để đỡ băng chuyền đãi vàng.
Đi sâu vào rừng, đoàn gặp một khu nhà sàn được xây dựng kiên cố, có nhiều máy móc, dụng cụ dùng để đào đãi vàng. Ông Nguyễn Huy Chương, chủ khu nhà này, cho biết khu đất bằng phẳng rộng hơn 5ha ở đây do ông mua lại của ông Ma Nga (xã Ea Trol) khai phá trước đó với giá 500 triệu đồng, đã trả trước 150 triệu đồng, số tiền còn lại thì đãi đất lấy vàng trả dần.
Trong đợt truy quét này, các đối tượng khai thác vàng trái phép đã bỏ trốn, chưa kịp tẩu tán sáu máy nổ có gắn đầu bơm hút cát loại D22, ba can dầu diesel loại 30 lít và ba lán trại. Khi đoàn công tác thu giữ tang vật và yêu cầu UBND xã Sông Hinh xử lý, xã không huy động được phương tiện vận chuyển nên đã lập biên bản và tiêu hủy toàn bộ.
Trả lời về sự xuất hiện khu nhà sàn giữa rừng, ông Bá Minh Hiếu - phó chủ tịch UBND xã Sông Hinh - nói: “Địa phương có biết việc xây dựng khu nhà sàn của ông Nguyễn Huy Chương, mục đích là để chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, việc xây dựng khu nhà này là vi phạm pháp luật vì không được phép của chính quyền địa phương”.
Ông Hiếu cho biết thêm hiện trên địa bàn xã Sông Hinh có nhiều bãi vàng sa khoáng lộ thiên như suối Pháp, suối Giếng, suối Giang, suối Tre, suối Hên, suối Ma Đói và dọc bờ hồ thủy điện Sông Hinh. Chính vì vậy, tình hình khai thác vàng trái phép ở đây rất phức tạp, xã không đủ lực lượng để kiểm tra.
Ông Đinh Ngọc Dạn, phó chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, cho rằng các đối tượng khai thác vàng trái phép đa số ở các tỉnh khác vào khai thác ở giữa rừng, trên địa bàn rộng, trong khi lực lượng của xã còn thiếu và yếu nên công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Nhưng cũng có dư luận cho rằng có cán bộ địa phương thông đồng với lực lượng khai thác vàng trái phép.
“UBND huyện sẽ cho kiểm tra và xử lý nghiêm nếu có cán bộ quan hệ với các chủ trại đào đãi vàng trái phép và tiết lộ thông tin trước khi tổ chức lực lượng truy quét. UBND huyện sẽ chỉ đạo tăng cường tuần tra, kiểm soát, truy quét và trục xuất các đối tượng vi phạm” - ông Dạn khẳng định. (Tuổi Trẻ 1/9)đầu trang(
Câu hỏi nhói lòng này một lần nữa được bạn đọc Tuổi Trẻ phản ảnh như gióng thêm một hồi chuông báo động về nạn sát hại động vật hoang dã ở VN hiện nay. Đây cũng là một trong những đề tài được bạn đọc quan tâm nhiều trên Tuổi Trẻ tuần qua.
Cách nay hơn một tháng, trên các diễn đàn mạng xuất hiện hình ảnh một thanh niên cùng nhóm bạn (khoác quân phục) giết voọc dã man, rất nhiều cư dân mạng đã bày tỏ bất bình, phẫn nộ trước hành vi phản cảm này. Ngay sau đó, công an vào cuộc tìm ra thủ phạm và các cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý.
Vụ việc trên chưa ráo mực thì mới đây tại một ngôi nhà ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa (Quảng Bình) thú rừng lại bị xẻ thịt với số lượng lớn để bán cho các quán nhậu. Điều đáng nói là địa điểm xẻ thịt thú rừng chỉ cách hai trạm kiểm lâm Thượng Hóa khoảng 500m!
Sau khi phóng viên Tuổi Trẻ đưa hình ảnh và đoạn clip ghi lại đầy đủ quy trình xẻ thịt những con khỉ, chồn hương, sơn dương, heo rừng... trong tin “Thú rừng lại bị xẻ thịt tàn nhẫn”, dư luận lại nóng lên và đề nghị truy cứu xem ai đứng đằng sau những vụ sát hại động vật hoang dã đó.
Không chỉ lên án cái ác và những kẻ tiếp tay cho các ác, sau khi nhìn thấy những hình ảnh thật sự lạnh người và tàn nhẫn này, nhiều bạn đọc còn tự nhủ từ nay về sau sẽ không ăn thịt động vật hoang dã. Bạn đọc Công Thương kêu gọi: “Đừng tiếp tay cho những kẻ dã man kia. Các ngành chức năng cần mạnh tay hơn để bảo vệ hệ sinh thái và đừng để thiên nhiên nổi giận”.
Tình trạng giết hại thú rừng đến nay vẫn chưa có chiều hướng giảm, mà ngược lại còn gia tăng ở một số nơi. Vì sao vậy? Do biện pháp xử phạt chưa đủ sức răn đe, do kiểm soát chưa kỹ... Còn một nguyên nhân nữa là từ ý thức của nhiều người về bảo vệ động vật hoang dã còn quá kém. Bạn đọc Hồ Đức Thậm đề xuất: “Tôi đề nghị tập trung vào công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho xã hội, nhất là trong học đường và hệ thống tổ chức chính trị xã hội, xem đây là một tiêu chuẩn để xét về đạo đức”.
Đồng tình với nhận định trên, bạn đọc có bút danh Anh Vu viết: “Tôi nghĩ chính quyền địa phương (nhất là các tỉnh miền núi) nên đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục”. (Tuổi Trẻ 1/9)đầu trang(
Mặc dù không được UBND tỉnh phê duyệt phương án thí điểm giao khoán rừng theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thế nhưng, Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Ayun Pa vẫn cố tình ký hồ sơ giao khoán 718ha rừng trái quy định cho nhiều hộ dân thuộc 4 tiểu khu ở xã Pờ Tó, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai để người dân biến rừng thành nương rẫy và sang nhượng trái phép.
Thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg (gọi tắt là QĐ 178), ngày 11-1-2001 của Thủ tướng Chính phủ, năm 2003, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Gia Lai đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng phương án thí điểm giao khoán rừng có hưởng lợi trên địa bàn tỉnh trình Bộ NN&PTNT thẩm định với quy mô 5.500ha.
Sau khi được Bộ NN&PTNT thẩm định, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành quy định tạm thời về giao khoán rừng có hưởng lợi theo QĐ 178 trên địa bàn, đồng thời, giao các đơn vị chủ rừng căn cứ vào các quy định này để xây dựng phương án thí điểm của đơn vị mình báo cáo các sở, ngành chức năng thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt. Trên cơ sở đó, năm 2004, UBND tỉnh đã phê duyệt 5 phương án cho 4 lâm trường: Ka Năk, Kông Chiêng, Ia Pa, Kông Hdé và BQL rừng phòng hộ Chư Sê với tổng diện tích 5.500ha.
Ngày 25-3-2004, BQL rừng phòng hộ Ayun Pa có tờ trình xin chủ trương giao khoán đất rừng sản xuất trong lâm phần quản lý cho nhân dân địa phương và được Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai trình UBND tỉnh theo hướng cho lập phương án giao khoán đất trống và rừng nghèo kiệt cho một số hộ để tổ chức sản xuất nông lâm kết hợp với quy mô 1.000ha, đồng thời lập phương án giao khoán rừng có hưởng lợi đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc tại chỗ với quy mô 500ha.
Ngày 6-7-2005, BQL rừng phòng hộ Ayun Pa tiếp tục có tờ trình xin phê duyệt phương án giao khoán rừng phòng hộ có hưởng lợi theo QĐ 178, nhưng phương án đã không được UBND tỉnh phê duyệt. Thế nhưng, BQL rừng phòng hộ Ayun Pa vẫn tự ý ký hợp đồng với Công ty Tư vấn xây dựng nông lâm nghiệp Gia Lai để điều tra, thiết kế, lập hồ sơ giao khoán bảo vệ rừng và sau đó ký tất cả hồ sơ giao khoán rừng cho từng hộ gia đình.
Theo Báo cáo số 590/SNN-LN, ngày 25-7-2012 của Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai về việc kiểm tra giao, khoán rừng theo QĐ 178 không đúng quy định tại BQL rừng phòng hộ Ayun Pa, xã Pờ Tó, huyện Ia Pa: Tổng diện tích rừng đã được BQL rừng phòng hộ Ayun Pa hợp đồng với đơn vị tư vấn lập hồ sơ giao khoán rừng có hưởng lợi theo QĐ 178 năm 2004 là 1.500ha, bao gồm 51 lô nằm trên 7 tiểu khu, thuộc xã Pờ Tó, huyện Ia Pa.
Năm 2008, UBND tỉnh giao cho Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai thuê đất để trồng cao su là 772,4ha, gồm 27 lô nằm ở 3 tiểu khu. Diện tích còn lại 718ha, bao gồm 24 lô nằm ở 4 tiểu khu, trong đó, có 3 lô không có hồ sơ giao khoán; 2 lô hồ sơ chưa ghi ngày tháng; 19 lô hồ sơ đã ghi ngày tháng cụ thể. Điều đáng quan tâm là trên diện tích 718ha này, hiện tại, người dân đang canh tác cây nông nghiệp như: Mía, mì, bắp và cao su...
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết: Toàn bộ diện tích trước khi BQL rừng phòng hộ Ayun Pa giao khoán trái phép thuộc đối tượng rừng sản xuất với thảm thực vật rừng là các loài cây như: Dầu, cà chít, căm xe... trữ lượng gỗ bình quân hàng trăm m3/ha. Tuy không được UBND tỉnh phê duyệt, nhưng theo phương án giao khoán cho các hộ dân nhận chăm sóc bảo vệ rừng mà BQL rừng phòng hộ Ayun Pa lập ra là giao rừng để trồng xen các loại cây như xoan, điều, cây lấy gỗ, măng tre... và thu hoạch lâm sản dưới tán rừng.
Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, hiện nay, số diện tích 718ha đất rừng được giao cho 24 hộ dân cơ bản đã được người dân phân lô trồng các loại cây như mía, mì, bắp, bạch đàn... Chỉ có một ít lô của gia đình ông Đinh Uýt, lô số 2, tiểu khu 1151 lác đác bên bờ lô còn một số cây rừng như: Cà chít, dầu, bằng lăng có độ cao từ 5-10m. Điều đáng ngạc nhiên là người dân nhận rừng không thực hiện theo cam kết bảo vệ và phát triển rừng mà đã phá sạch rừng, biến rừng thành rẫy của tư nhân. Thậm chí, có hộ dân đã ngang nhiên sang nhượng đất trái phép mà không bị pháp luật xử lý.
Được biết, trước thực trạng số diện tích rừng được giao trái quy định dẫn đến bị tàn phá nặng nề để làm nương rẫy quá lớn, thậm chí còn có cả việc sang nhượng trái phép, UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh; Công an các cấp điều tra, và có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật. (Biên Phòng 1/9)đầu trang(
30-8, ông Trần Minh Đức, Quyền Trưởng phòng Quản lý đô thị TP Mỹ Tho (Tiền Giang), cho biết đang phối hợp với Công an TP Mỹ Tho xác minh vụ đốn bốn cây xà cừ hơn 30 năm tuổi ở xã Mỹ Phong.
Bước đầu, Phòng Quản lý đô thị TP Mỹ Tho đã xác định ông Lê Văn Bộ, Bí thư Chi bộ ấp Mỹ Hòa, đốn một cây để làm trụ sở ấp văn hóa. Cơ quan này cũng đang xác minh thông tin ông Võ Tấn Thêm, Trưởng ấp Mỹ Lợi, đốn ba cây làm trụ sở ấp. “Sau khi có kết quả điều tra chúng tôi sẽ đề nghị UBND và Công an TP Mỹ Tho xử lý nghiêm vụ việc” - ông Đức nói.
Ông Dương Văn Bon, Bí thư Đảng ủy xã Mỹ Phong, cho biết: Đang yêu cầu chủ tịch, công an xã xác minh, làm rõ để báo cáo. Ai tự ý đốn cây thì cá nhân đó phải chịu trách nhiệm.
Như đã thông tin, trong hai ngày 15 và 16-8 người dân thấy nhiều người mang cưa máy đến hạ bốn cây xà cừ mang đi khi cây đang xanh tốt. (Pháp Luật TPHCM 31/8)đầu trang(
29-8, UBND TP Mỹ Tho (Tiền Giang) đã chỉ đạo Công an TP tiến hành điều tra, xử lý vụ bốn cây xà cừ cổ thụ hơn 30 năm tuổi bị đốn hạ giữa ban ngày tại ấp Mỹ Hòa và Mỹ Lợi, xã Mỹ Phong, TP Mỹ Tho.
Theo Phòng quản lý đô thị TP Mỹ Tho, bốn cây xà cừ này có giá trị rất lớn, chu vi phần gốc từ 1,9-2,8m, được trồng trên tuyến đường Lộ Đình thuộc xã Mỹ Phong.
Ngày 29-8, phóng viên Tuổi Trẻ đã phát hiện đống cây xà cừ khá to trong trại cưa xẻ gỗ Biển trên quốc lộ 50, TP Mỹ Tho. Qua tìm hiểu, phóng viên xác định một trong những người trực tiếp tham gia chỉ đạo đốn cây giữa ban ngày là ông Võ Tấn Thêm (trưởng ấp Mỹ Lợi). Ông Thêm thừa nhận đã mướn người đốn ba trong số bốn cây nói trên, cây còn lại ông không biết.
Ông Thêm giải thích lý do đốn cây là vì một cây đã bị chết, một cây sắp chết, cây còn lại đang sống bình thường. Số cây này có tán khá lớn và do hiện là mùa dông gió nên gây nguy hiểm cho người đi đường và nhà dân ở gần đó. Ông Thêm nói các cán bộ ấp thống nhất đốn cây vừa để bảo vệ người dân vừa lấy gỗ làm nhà văn hóa ấp đã bị xuống cấp.
“Tui không biết việc đốn cây là sai nên không xin ý kiến cấp trên” - ông Thêm nói. (Tuổi Trẻ 31/8)đầu trang(
Chương trình trồng rừng 661 đã kết thúc vào năm 2010 còn dự án phát triển rừng bền vững của Jai-ca thì vẫn đang trong quá trình chờ đợi. 2 năm nay phong trào trồng rừng ở Hà Tĩnh đã bị chững lại, trong khi công tác bảo vệ chăm sóc lại gặp nhiều khó khăn khi mà chủ rừng không hoàn thành đúng định mức với hộ nhận khoán theo quy định. Đã có không ít phức tạp nảy sinh trong bối cảnh thiếu hụt nguồn vốn chăm sóc bảo vệ và trồng rừng.
Tỉnh nợ chủ rừng, chủ rừng nợ hộ dân, hộ dân nợ các tổ chức tín dụng. Một vòng xoáy nợ nần mang tính đồng lần đang diễn ra trong quá trình đầu tư chăm sóc bảo vệ và trồng rừng. Suốt 2 năm nay, việc trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng ở Hà Tĩnh đang gặp khá nhiều khó khăn khi không có bất cứ một chương trình dự án nào kích thích hỗ trợ.
Ông Nguyễn Hữu An – Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Phố huyện Hương Sơn cho biết: đơn vị của ông hiện vẫn còn khoảng 1500 ha diện tích đất trống đồi núi trọc. Thế nhưng việc phủ xanh gần như là nhiệm vụ bất khả thi bởi các chương trình trồng rừng của nhà nước đã dừng lại, trong khi khả năng huy động nguồn vốn từ cộng đồng lại phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất và hiệu quả kinh tế trên từng địa bàn cụ thể.
Theo ông An người dân thường chỉ mạnh dạn bỏ vốn trồng mới sau khi đã thu hoạch cây rừng nguyên liệu. Trong khi một chu kỳ thu hoạch rừng ít nhất cũng phải kéo dài từ 7 đến 10 măm hoặc lâu hơn nữa. Thêm vào đó tại các địa bàn có điều kiện khắc nghiệt, tính chất rừng cực đoan như đất rừng cằn cỗi, xa nguồn nước, xa trục đường giao thông thì hầu như không thể kêu gọi được nguồn lực đầu tư từ xã hội.
Năm 2012 kinh phí từ chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ phát triển rừng bền vững giành cho Hà Tĩnh chỉ được duyệt 25 tỉ đồng, bằng 25% kế hoạch, trong đó Chi cục lâm nghiệp phải trả nợ năm trước 8 tỉ, phân bổ cho đơn vị quản lý rừng đặc dụng là Vườn quốc gia Vũ Quang 10 tỉ. 7 tỉ còn lại chỉ mới đáp ứng được một nửa nhu cầu chăm sóc bảo vệ của 11 đơn vị chứ đừng nói đến việc trồng mới. Trong bối cảnh đó, các chủ rừng phải nợ hộ dân, hộ dân thì hoặc là lấy công làm lãi hoặc là tự vay mượn để bảo vệ chăm sóc phần rừng chuyển tiếp theo hợp đồng là điều hiển nhiên.
Ông Nguyễn Kim Hùng – Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu huyện Hương Khê dẫn chứng: định mức bảo vệ rừng theo quy định của nhà nước là 200.000 đồng/1ha thế nhưng kinh phí cấp về hiện nay chỉ là 80.000 đồng/1ha, sau khi đơn vị cân đối các khoản chi phí, tiền trực tiếp đến tay hộ nhận khoán chỉ là 57000 đồng/1ha. Không bảo vệ thì không hoàn thành nhiệm vụ mà bảo vệ thì người trực tiếp bảo vệ rừng phải ‘ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng’. Cũng theo ông Hùng định mức bảo vệ 200.000 đồng/1 ha mỗi năm đã là không phù hợp với chi phí thực tế, thế mà nay lại phải cắt giảm xuống còn 57000 đồng thì …không còn gì để nói.
Chi cục trưởng chi cục lâm nghiệp Hán Duy Anh khẳng định: hiện tại Hà Tĩnh vẫn còn khoảng 35000 ha đất rừng cần được trồng mới, hàng ngàn ha rừng phòng hộ có nhu cầu cải tạo và nâng cấp. Thế nhưng tiến độ trồng rừng lại đang diễn ra chậm chạp vì hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn xã hội. Nếu như những năm trước đây nhà nước bỏ ra một đồng từ vốn 661 có thể kích thích nguồn lực xã hội đầu tư lên đến 10 đồng. Còn hiện tại không có bất cứ sự kích thích nào từ nhà nước, lại gặp thời điểm kinh tế khó khăn nên cái gọi là ‘lâm nghiệp cộng đồng’ đang có nguy cơ chững xuống.
Thiếu kinh phí đầu tư chăm sóc bảo vệ và trồng rừng kéo theo hàng loạt khó khăn cho các chủ rừng và các hộ dân nhận giao khoán. Một số biểu hiện phức tạp nảy sinh gần đây như việc hình thành các đường dây chạy vốn trồng rừng, thế chấp sổ đỏ vay vốn cho một số tổ chức cá nhân không minh bạch…được nhìn nhận là ít nhiều có liên quan đến những khó khăn về chăm sóc bảo vệ và trồng mới rừng. (Báo Hòa Bình 1/9)đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT, tính đến nay diện tích rừng đã trồng mới trên địa bàn tỉnh 442,5ha, gồm rừng trồng trong quy hoạch 400,5ha – đạt 36,4% kế hoạch; rừng trồng ngoài quy hoạch (BCH Quân sự tỉnh) là 42ha.
Hiện các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng đang tổ chức thực hiện công tác chăm sóc rừng trồng lần 1, đã chăm sóc được 2.181/2.796ha – đạt 78% so với kế hoạch.
Trong tháng 8.2012, tuy không xảy ra cháy rừng nhưng ngành Kiểm lâm và các lực lượng bảo vệ rừng đã phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính 61 vụ vi phạm (trong đó đã xử lý 21 vụ) – tăng 40 vụ so với cùng kỳ. Cụ thể, có 35 vụ phá rừng trái phép với diện tích 29,28ha (chặt cành nhánh, xịt thuốc cỏ ảnh hưởng đến sinh trưởng cây rừng trồng); 01 vụ vi phạm quy định khai thác gỗ và lâm sản; 13 vụ vi phạm quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã; 10 vụ mua bán vận chuyển lâm sản trái phép; 02 vụ vi phạm khác. Lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ rừng cũng đã tịch thu 3,64m3 gỗ.
Công tác giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích đang được ngành NN&PTNT tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên, công tác này hiện cũng đang gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các trường hợp có giấy CNQSD đất cấp trùng trên đất lâm nghiệp, có hợp đồng, có xác nhận của các BQL rừng trước đây cho trồng cây sai quy hoạch, cần có thời gian giải quyết nên ảnh hưởng đến tiến độ, khả năng sẽ khó hoàn thành kế hoạch trồng rừng mới năm 2012.
Trong tháng 9 tới đây, ngành NN&PTNT đề ra phương hướng, nhấn mạnh đến việc đôn đốc các chủ rừng bố trí lực lượng, phối hợp với các đơn vị trú đóng trên địa bàn thường xuyên tuần tra dọc theo biên giới Việt Nam – Campuchia nhằm ngăn chặn tình trạng trộm lậu lâm sản, săn bắt động vật hoang dã.
Tiếp tục thực hiện công tác giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích, giải phóng mặt bằng tạo điều kiện cho các dự án hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2012. Tổ chức kiểm tra ngoại nghiệp, thẩm định và phê duyệt hồ sơ thiết kế tỉa thưa lần 2 cho BQL khu rừng VH-LS Chàng Riệc.
Đốc thúc các đơn vị đẩy nhanh tiến độ trồng mới, lập báo cáo kinh tế kỹ thuật; tổ chức thẩm định báo cáo kỹ thuật công trình lâm sinh còn lại của năm 2012. Tiếp tục xử lý nghiêm các hành vi chặt, phá rừng trồng làm hạn chế sinh trưởng dẫn đến chết cây rừng để sản xuất nông nghiệp tại các BQL rừng, nhất là Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng. (Báo Tây Ninh 1/9)đầu trang(
3/9, ông Cao Minh Hòa, Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cho biết mặc dù các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nhưng tình trạng phá rừng làm rẫy, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép vẫn không giảm.
UBND huyện đang tiếp tục chỉ đạo lực lượng kiểm lâm tăng cường tuần tra, kiểm tra các điểm nóng về phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép, kể cả ngày thứ 7 và chủ nhật.
Chỉ trong tháng 8 vừa qua, trên địa bàn huyện đã phát hiện và tịch thu hơn 26 mét khối gỗ các loại; gần bằng số lượng gỗ tịch thu trong 6 tháng đầu năm 2012.
Mới đây nhất vào ngày 31/8, Hạt kiểm lâm huyện Sơn Hòa đã phát hiện xe ô tô tải mang biển số 78C-00002 đang lưu hành trên quốc lộ 25; trên xe hơn 400 cây gỗ dài từ 3 đến 4 mét, tương đương khoảng 15 ster dùng làm đòn tay hoặc cây chống trong xây dựng cơ bản mà không có giấy tờ hợp pháp.
Theo người dân, chủ số gỗ này là một tư nhân ở thành phố Tuy Hòa trước đây thường chở gỗ không rõ nguồn gốc trên các chuyến xe khách, nhưng nay đã chuyển sang chở gỗ trên xe tải. Trước đó, một vụ vận chuyển gỗ không rõ nguồn gốc với khối lượng khoảng 1,5 mét khối cũng bị phát hiện khi ông Nguyễn Hồng Minh trú ở buôn Ma Gú, xã Sơn Phước chở về nhà vào tối 30/8...
Ngoài ra, tình trạng phá rừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra. Trong tháng 8 vừa qua, Hạt kiểm lâm Sơn Hòa phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức cưỡng chế, phá hủy hoa màu ở 28 lô đất rừng và đất lâm nghiệp bị người dân lén lút khai phá để trồng sắn, mía, chuối với diện tích gần 10 hecta tại địa bàn các xã Sơn Hội, Sơn Xuân và Sơn Long. (Đảng Cộng Sản VN 3/9)đầu trang(
Ông Nguyễn Đức Hiệp, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa cho biết, từ đầu năm đến nay đơn vị đã tăng cường lực lượng tiến hành tuần tra, kiểm soát, chống buôn lậu lâm sản, xử lí vi phạm, ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Qua kiểm tra, đơn vị đã phát hiện, xử lí 25 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lí rừng, bảo vệ rừng và quản lí lâm sản. Tang vật và phương tiện đơn vị tịch thu được gồm: 61,894m3 gỗ tròn, 18,722m3 gỗ xẻ, 35kg thịt lợn rừng, 11kg rùa đá; tiền thu nộp ngân sách Nhà nước 150.120.000 đồng.
Bên cạnh đó, đơn vị đã chỉ đạo các Trạm Kiểm lâm trực thuộc, kiểm lâm viên địa bàn phối hợp với Tổ Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng kiểm tra hồ sơ về quản lí các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản, động vật hoang dã trên địa bàn; thường xuyên tổ chức kiểm tra tình hình an ninh rừng tại các khu vực có nguy cơ bị xâm hại cao như: Vùng giáp ranh, các khu rừng còn giàu tài nguyên …
Nhờ tăng cường kiểm soát nên tình trạng khai thác thác lâm sản trái phép được ngăn chặn, nhiều năm Hạt Kiểm lâm Quan Sơn không để xảy ra cháy rừng, việc hình thành các tụ điểm kinh doanh, chế biến lâm sản trái phép không còn, an ninh rừng cơ bản ổn định. (Thanh Tra 3/9)đầu trang(
8 tháng đầu năm 2012, sản lượng gỗ khai thác trên địa bàn đạt gần 95.500m3, tăng 4,8 % so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng trong tháng 8 lượng gỗ khai thác đạt 9.754m3.
Để bảo vệ tài nguyên rừng một cách hiệu quả, hiện lực lượng kiểm lâm đang tăng cường chế độ kiểm tra, kiểm soát các vùng rừng trọng điểm; Thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra, túc trực trên các tuyến đường sông, đượng bộ từ đó đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ vận chuyển, buôn bán trái phép lâm sản trái phép. Chỉ tính riêng trong tháng 8, lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ và xứ lý 108 vụ vi phạm luật bảo vệ rừng và buôn lậu lâm sản.
Như vậy trong 8 tháng qua, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 954 vụ vi phạm luật bảo vệ rừng, các lực lượng chức năng đã xử lý thu phạt nộp vào ngân sách nhà nước 20,3 tỷ đồng. (Theo Đài PT – TH Nghệ An 31/8)đầu trang(
Vụ chặt phá rừng phòng hộ (RPH) đầu nguồn ở Quế Phong, Quế Sơn xảy ra gần nửa tháng, nhưng lãnh đạo địa phương vẫn "chưa nhận được thông tin", còn ngành chức năng đang "từ từ” xem xét vụ việc vì cho rằng “chưa đến mức nghiêm trọng”... Vậy nên, những kẻ phá rừng vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, còn người dân thì gửi đơn tố cáo khẩn cấp đi các nơi.
Ông Nguyễn Như Hoa, cán bộ Công an huyện Hiệp Đức đã nghỉ hưu về sinh sống tại quê Gia Cát Tây, bức xúc: "Khu RPH này tiếp giáp về hướng Bắc là huyện Nông Sơn, về hướng Tây là Hiệp Đức đã tồn tại từ ngàn đời nay. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khu rừng còn tồn tại được là nhờ sự gìn giữ bảo vệ của người dân trong thôn, xã vì nó nằm đầu nguồn suối Tánh, cung cấp nước sinh hoạt cho toàn thôn Gia Cát Tây với 215 hộ dân và tưới tiêu cho hàng trăm ha ruộng, hoa màu. Thế mà bây giờ lại bị chặt phá không thương tiếc...".
Người dân còn cho biết, những kẻ cầm đầu ở ngay tại Quế Phong, đã thuê hơn 50 nhân công từ nhiều địa phương khác đến chặt phá rừng trong thời gian vừa qua. Ngay khi phát hiện vụ việc, nhân dân trong thôn đã gửi đơn tố cáo lên UBND xã cũng như kiểm lâm huyện. Tuy nhiên, đã hơn nửa tháng qua vẫn không thấy ai xem xét xử lý?
Để tìm hiểu ngọn nguồn vụ phá rừng, chúng tôi đến UBND huyện Quế Sơn, được ông Doãn Hào, Chánh Văn phòng UBND huyện cho biết: “Chưa nhận được thông tin nào về vụ việc này”.
Tuy nhiên, sau khi điện thoại về Quế Phong, ông Hào mới phân trần: "Ông Lê Quang Hòa, Bí thư Đảng ủy xã Quế Phong có báo cáo bằng miệng vụ việc với Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế UBND huyện, nhưng chẳng hiểu sao không thấy trao đổi gì... Không biết Chủ tịch UBND huyện có biết vụ việc này không, chứ chúng tôi thì hoàn toàn không có thông tin gì...".
Ông Nguyễn Ngọc Nguyên, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Ngày 14/8/2012, Hạt nhận được thông tin từ đơn tố cáo của nhân dân thôn Gia Cát Tây, xã Quế Phong về vụ việc phá RPH, Hạt đã có buổi làm việc với Đảng ủy và UBND xã Quế Phong. Đến ngày 15/8, Hạt thành lập tổ công tác gồm cán bộ kiểm lâm và UBND xã Quế Phong lên hiện trường rừng bị tàn phá. Tuy nhiên, hồ sơ vụ việc phá rừng vẫn chưa thể hiện thông tin đầy đủ, mà bước đầu xác định diện tích rừng bị chặt phá là 9,3ha tại 3 khu vực. Toàn bộ cây gỗ rừng bị chặt còn nguyên tại hiện trường, Hạt Kiểm lâm đang chuẩn bị tiến hành xác định trực lượng, khối lượng gỗ.
Vẫn theo ông Nguyên, rừng Hòn Ngang, Quế Phong thuộc danh mục C, là loại đất rừng lâm nghiệp, có chức năng phòng hộ, không được phép khai thác. Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho rằng, đây là loại rừng nghèo, không có giá trị cao.
Khi PV đưa ra bằng chứng là hình ảnh cây rừng bị chặt nằm ngổn ngang..., ông Nguyên vẫn xác định, đây là RPH, nhưng cho rằng “đối tượng chặt phá rừng mới chỉ vi phạm Điều 17 Nghị định 99/CP của Chính phủ” và vụ việc này "chưa có gì nghiêm trọng"!
Trả lời về mục đích phá RPH, ông Nguyên cười: "Các đối tượng đã chặt phá RPH để... trồng mới lại rừng". Vậy, họ có được cấp phép không? Ông Nguyên nói nước đôi: Để còn xác minh xem UBND xã có đề nghị chuyển đổi mục đích sử dụng rừng hay không?
Được biết, ngày 21/8, Hạt Kiểm lâm huyện làm việc với UBND xã Quế Phong và đề nghị Công an huyện phối hợp điều tra xác định các đối tượng và hệ quả tàn phá rừng.
Tại Thông tư Liên tịch số 19/2007, ngày 8/3/2007 của liên ngành: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Viện KSND Tối cao - TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã quy định: Hành vi giao rừng, thu hồi rừng trái pháp luật, đối với RPH có diện tích từ 15.000 - 20.000m2 đất; hành vi chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật, đối với RPH từ 7.500 - 10.000m2 đất, sẽ bị truy tố theo quy định tại Điều 176 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, UBND và ngành chức năng huyện Quế Sơn cần nhanh chóng điều tra, xác minh vụ chặt phá RPH ở xã Quế Phong, để sớm xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật, dù bất cứ họ là ai! (Thanh Tra 1/9)đầu trang(
30/8, Hạt Kiểm huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị phát hiện và bắt giữ 2 vụ khai thác trái phép gần 8m3 gỗ trên địa bàn xã Hướng Linh và xã Hướng Phùng. Toàn bộ số gỗ trên được xác định thuộc nhóm V và nhóm VII.
Ông Lê Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa cho biết: Theo điều tra ban đầu, số gỗ trên do các đối tượng trên địa bàn khai thác để bán. Tuy nhiên, khi cơ quan chức chức năng vào làm việc, người dân lại cho rằng khai thác để làm nhà.
Đáng nói là, trong khi lực lượng kiểm lâm đang vận chuyển gỗ ra khỏi cửa rừng thì bị các đối tượng quá khích ngăn cản, phá đường gây khó khăn cho lực lượng chức năng. Thậm chí, một số đối tượng còn dùng đinh rải dọc tuyến đường nơi đoàn xe đi.
Trước đó, tại khu vực xã Hướng Phùng, Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa phối hợp với công an địa phương đã phát hiện vụ khai thác trái phép trên 3m3 gỗ. Hiện vụ việc đang được Kiểm lâm huyện Hướng Hóa tiếp tục điều tra làm rõ.
Được biết, từ đầu năm 2012 đến nay trên địa bàn huyện Hướng Hóa đã xảy ra gần 50 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, thu giữ trên 70m3 gỗ các loại. (Thanh Tra 1/9)đầu trang(
2/9, Hạt Kiểm lâm huyện Tánh Linh (Bình Thuận) cho biết đã phát hiện thêm hai hầm chôn giấu gỗ tại khu vực đất nhà ông Hồ Chinh (ngụ xã La Ngâu, huyện Tánh Linh).
Hai hầm gỗ trên có khối lượng 0,52 m3 gỗ căm xe thuộc nhóm II, phù hợp với loại gỗ mà lâm tặc đã triệt hạ trước đó tại tiểu khu 336A, 336B thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà. Trước đó, Hạt Kiểm lâm Tánh Linh cũng phát hiện tại khu vực đất nhà người thân của ông Hồ Chinh có hơn 4 m3 gỗ nhóm II. Được biết các hầm giấu gỗ này chỉ cách Trạm bảo vệ rừng La Ngâu, Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà khoảng 500 m.
Như đã đưa tin, liên quan đến các vụ phá rừng tại khu vực này, ngày 10-8, Công an huyện Tánh Linh đã khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt giam ông Phan Hữu Phước, trưởng Trạm bảo vệ rừng La Ngâu, về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Nguyên do, ông Phước đã để mất 25 cây gỗ quý với khối lượng hơn 35 m3 tại hai tiểu khu 336A và 336B rừng phòng hộ La Ngà mà không báo cáo và có dấu hiệu bao che cho lâm tặc. Đáng chú ý là sau vụ phá rừng, Công an và Hạt Kiểm lâm huyện Tánh Linh đã phát hiện hơn 3,3 m3 gỗ căm xe giấu trong nhà ông Phước. (Pháp Luật TPHCM 3/9)đầu trang(
3/9, trên cung đường Tân Ấp – Kim Lũ thuộc địa phận huyện Tuyên Hóa, Công an Quảng Bình đã phát hiện xe ô tô mang BKS: 77K – 8171 do Mai Hải Vũ (sinh năm 1974, trú tại phường Bắc Lý, TP Đồng Hới, Quảng Bình) điều khiển chở trên xe 11 m3 gỗ táu không rõ nguồn gốc.
Thời gian vừa qua, với sự thắt chặt tuần tra kiểm soát, lực lượng kiểm lâm, công an tỉnh Quảng Bình đã phát hiện hàng chục vụ vận chuyển gỗ trái phép, thu giữ một số lượng lớn gỗ lậu, phương tiện vận chuyển.
Tuy nhiên, lâm tặc đã dùng nhiều thủ đoạn hòng qua mặt lực lượng chức năng để khai thác gỗ lậu. Mới đây, 5 người thuộc trạm bảo vệ rừng thuộc huyện Bố Trạch đã bị lâm tặc tấn công.
Nhằm hạn chế việc lâm tặc khai thác gỗ trái phép, cuối tháng 8/2012, Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã tổ chức đợt truy quét lâm tặc giữa rừng và kết quả thu lại hơn 60 m3 gỗ lậu.
Thực tế cho thấy, nếu tạo được công ăn việc làm cho lực lượng lao động nhàn rỗi ở những khu vực sống ven rừng sẽ hạn chế được việc tổ chức khai thác gỗ. Khi đó người dân có được cuộc sống ổn định ắt hẳn sẽ không còn tiếp tay cho lâm tặc. (Gia đình&Xã hội 3/9)đầu trang(
31/8, ông Nguyễn Văn Hùng - Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim (huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) cho biết, các ngành chức năng huyện Tam Nông đang thực hiện các thủ tục đề nghị truy tố đối với Võ Văn Mức (42 tuổi, ngụ xã Phú Đức, huyện Tam Nông) về tội chống người thi hành công vụ.
Trước đó, ông Mức cùng với khoảng 20 người khác “bịt kín mặt” xâm nhập vào khu A2, thuộc Vườn Quốc gia Tràm Chim để bắt cá bằng điện, dù đây là nơi nghiêm cấm không cho khai thác. Trong lúc ông Mức và cả nhóm đang xiệt cá thì bị nhân viên bảo vệ Vườn quốc gia Tràm Chim cùng lực lượng chức năng phát hiện, vây bắt.
Ông Mức cùng những người trong nhóm chống trả, dùng xiệt điện chích vào hai nhân viên bảo vệ Vườn quốc gia Tràm Chim là Nguyễn Văn Tuyền và Nguyễn Thái Hiệp làm cho hai nhân viên này bị điện giật phải đưa đi cấp cứu.
Theo ông Hùng, tình trạng xâm hại Vườn quốc gia Tràm Chim đang hết sức phức tạp, người dân tự ý vào vườn khai thác ở những khu vực nghiêm cấm ngày càng gia tăng; trong khi lực lượng bảo vệ vườn mỏng, nên khó kiểm soát. Vườn quốc gia Tràm Chim vừa được công nhận là khu Ramsar của thế giới, cần được bảo vệ nghiệm ngặt; song sự xâm hại hiện nay là đáng lo ngại.(Nông Thôn Ngày Nay 1/9; Công An Nhân Dân 1/9)đầu trang(
1/9, theo nguồn tin của Thanh Niên, UBND tỉnh Cà Mau vừa công văn bản đề nghị Trại giam Cái Tàu (xã Khánh An, H.U Minh) khẩn trương trồng lại rừng sau khai thác.
Đối với phần đất rừng sau khai thác được đơn vị này kê liếp trồng mía, UBND tỉnh cũng đề nghị Trại giam Cái Tàu trồng rừng theo qui định, không được tự ý chuyển mục đích sử dụng đất khi chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền.
Trước đó, vào ngày 28.6, lực lượng kiểm lâm phát hiện Trại giam Cái Tàu đang dọn đất, kê liếp trồng mía trên phần đất rừng sau khai thác năm 2011 và đã trồng 15 ha tại khoảnh 3, tiểu khu 057.
Lực lượng kiểm lâm sau đó đã tiến hành lập biên bản. Trong buổi làm việc này, Trại giam Cái Tàu không đưa ra được văn bản đồng ý của cơ quan chức năng cho phép chuyển đổi mục đích từ đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp.
Được biết, qua kiểm tra, Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau còn phát hiện từ năm 2008 - 2011, Trại giam Cái Tàu không thực hiện khôi phục rừng sau khai thác theo qui định là 169,7 ha.
Cơ quan chức năng nhiều lần vận động, nhắc nhở nhưng đơn vị này vẫn cố tình trì hoãn, kéo dài không chịu trồng rừng. (Thanh Niên 2/9)đầu trang(
Người dân thị trấn Phan Rí Cửa và xã Hàm Minh (H.Tuy Phong, Bình Thuận) đang bức xúc phản đối việc phá rừng phi lao, phòng hộ ven biển để làm du lịch.
Tháng 11.2009, UBND tỉnh Bình Thuận đã giao gần 15 ha đất cho Công ty TNHH đầu tư TM-DV địa ốc Vạn Phúc Thịnh (gọi tắt là Vạn Phúc Thịnh) làm khu du lịch. Đầu năm 2012, Vạn Phúc Thịnh có công văn xin chặt 200 cây phi lao, trong diện tích được giao để xây dựng công trình hạ tầng. Ngày 25.7, ông Mai Kiều, Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bình Thuận (kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh) đã có công văn đồng ý cho chặt hạ 100 cây phi lao (khoảng 54 m3 gỗ). Tuy nhiên, khi đốn hạ được 24 cây phi lao thì gặp phải sự phản đối quyết liệt của người dân.
"Việc Sở NN-PTNT tỉnh cho chặt hạ 100 cây phi lao vài chục năm tuổi, có chức năng như “lá phổi” là không nên. Tôi đã trao đổi với Chủ tịch UBND tỉnh, nếu được thì nên thu hồi lại dự án này. Nếu cho triển khai thì tuyệt đối không được can thiệp vào phía mặt biển” - ông Hồ Trung Phước, Bí thư Huyện ủy H.Tuy Phong (Bình Thuận) nói.
Ông Bảy Hòa, người dân sống từ trước ngày giải phóng tại Phan Rí Cửa, nói: “Rừng phi lao này có từ mấy chục năm nay (có cây đường kính lên đến 40 cm). Nó chính là lá phổi xanh cho Phan Rí Cửa. Cho dù tỉnh đã đưa ra ngoài 3 loại rừng thì chức năng của nó vẫn không thay đổi (tức là phòng hộ ven biển - PV). Việc tỉnh cho triệt hạ 100 cây như thế chúng tôi không ủng hộ”. Còn bà Nguyễn Thị Tâm (ngụ xã Hòa Minh) bức xúc: “Tôi không rõ đây là dự án gì. Nhưng nếu chặt cây dương (tức phi lao) trong rừng này chẳng khác nào chặt vào tay chúng tôi. Biết bao giờ để trồng lại được một rừng dương cao lớn như thế”.
Ông Lê Ngọc Sanh, Phó chủ tịch UBND H.Tuy Phong cho biết, trước sự phản đối của người dân, UBND huyện đã chủ động ngưng không cho công ty chặt cây tiếp. Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Bình Thuận Huỳnh Thanh Cảnh cũng cho biết Sở đã có công văn yêu cầu Vạn Phúc Thịnh tạm ngưng, không tác động đến những cây phi lao đã được Sở cấp phép đốn hạ. (Thanh Niên 4/9)đầu trang(
TS Nguyễn Huỳnh Thuật, chuyên gia về bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, vừa có thư gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang xung quanh việc xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Báo Người Lao Động trích đăng nội dung bức thư này
Vì tình trạng cấp bách, nay tôi xin viết thư này đến Chủ tịch nước để mong được ngài dành chút ít thời gian quý báu của mình lắng nghe tiếng lòng của những người đang sống với rừng và những người mong cứu rừng đặc dụng Cát Tiên thân yêu.
Khó lắm, nỗ lực lắm chúng ta mới bảo vệ được khu rừng rộng lớn nhất miền Đông Nam Bộ và được thế giới công nhận, tặng cho nhiều danh hiệu cao quý (Khu dự trữ sinh quyển; Ramsar; Không gian Văn hóa cồng chiêng). Ngày 17-9 này, đoàn chuyên gia thế giới cũng sẽ bắt đầu chuyến thẩm định cho hồ sơ Di sản Thế giới tại VQG Cát Tiên.
Việc quy hoạch và đang chuẩn bị thẩm định dự án lấn chiếm hàng trăm ha rừng đặc dụng cho thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ngay trong vòng lõi và điểm yếu huyệt - điểm trung chuyển giữa vùng cao nguyên và đồng bằng của khu rừng đặc dụng Cát Tiên - là rất nguy hại cho nhiều mặt chưa thể ước tính hay lường trước như trong hồ sơ đánh giá tác động môi trường đang trình duyệt.
Điểm yếu huyệt này được ví như điểm rốn của một cơ thể, tụ điểm của nhiều luồng giao thoa văn hóa và đa đạng sinh học. Nơi đây đã, đang là ngôi nhà cho nhiều loài quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất như tê giác Việt Nam hay nhiều loài khác đã có nghiên cứu và báo cáo.
Nhờ có hơn 2 năm học tập, nghiên cứu ở Tokyo nên tôi có nhiều dịp khám phá và học hỏi. Lúc leo núi Fuji (Phú Sĩ) hùng vĩ của Nhật Bản, tôi nghe có tiếng ầm đằng rất xa và cô Ayumi Kinezuka đi cùng giải thích rằng đó là tiếng súng tập của lực lượng phòng vệ. Chính vì thế mà thế giới đã khước từ công nhận núi Fuji là di sản thế giới.
Rừng quốc gia là tài sản quốc gia, là di sản thế giới, là mạch máu, là lá phổi xanh, là nguồn sống, là nguồn hạnh phúc cho hàng triệu người trong khu vực và hàng tỉ người trên thế giới, không thể bị xâm phạm vì các mục tiêu kinh tế.
Việc bảo vệ toàn vẹn và nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng, các cảnh quan văn hóa và thiên nhiên và những gì quý giá còn sót lại sau chiến tranh cũng như sự tàn phá của con người là điều đang được Nhà nước ta cũng như nhiều người quan tâm, ủng hộ.
Vấn đề cần thiết phải bảo vệ nguyên vẹn những gì của tự nhiên - thiên nhiên này đã được tôi báo cáo tại Hội thảo quốc tế UNESCO về quản lý bền vững các khu dự trữ sinh quyển khu vực Đông Nam Á vào năm 2007, được thế giới quan tâm, hoan nghênh, khích lệ và chia sẻ sâu sắc (Báo cáo tại http://unesdoc.unesco.org/images/0018/001829/182996e.pdf,trang 131).
Tôi xin nhấn mạnh lại rằng ở những vị trí, địa điểm thuận lợi thì trong tương lai nước ta có thể xây được những công trình vĩ đại như tòa tháp đôi World Trade Center của Mỹ hay Petronas của Malaysia. Còn với những nơi linh thiêng, nhạy cảm về dân tộc, văn hóa và giá trị tâm linh - vô hình - phi vật thể như phức hợp ở VQG Nam Cát Tiên thì một khi bị mất đi sẽ không bao giờ có thể lấy lại được. (Người Lao Động 4/9)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hòa (Phú Yên) vừa cho biết, đã thả 12 con rắn ráo trâu, 2 con kỳ đà vân và 1 con chồn hương về rừng đèo Cả thuộc địa bàn xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa.
Hơn một tháng qua, rắn nhiều lần xuất hiện tại hẻm 250 Bà Triệu thuộc khu phố Trường Chinh, phường 7, TP Tuy Hòa và bò vào nhà các hộ dân gây hoang mang lo sợ. Đến ngày 30-8, các ngành chức năng mới xác định được chủ nhân của số rắn trên là của bà Lê Thị Kim Đính (trú SN 72 Lương Tấn Thịnh, phường 7, TP Tuy Hòa).
Qua đó lập biên bản tạm giữ 12 con rắn ráo trâu (hơn 9kg) và 5 con cùng loại được đông lạnh (6kg); 2 con kỳ đà (3kg); 1 con chồn hương (2kg). Tất cả đều không có nguồn gốc hợp pháp, thuộc danh mục động vật hoang dã nhóm II B. Theo bà Đính, số động vật hoang dã trên được mua lại của người dân.
Ngay sau đó, Hạt kiểm lâm TP Tuy Hòa đã mang số động vật trên thả về rừng. (An Ninh Thủ Đô 3/9)đầu trang(
Cán bộ kiểm lâm khẳng định chỉ phát quang lau lách, cỏ hoang, trong khi người dân quả quyết “đội quân” được cán bộ cử đến đã thẳng tay chặt hạ cả những cây gỗ lớn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang).
Hàng chục hộ dân ở xã Sơn Phú, H.Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đang bức xúc về tình trạng đất đang canh tác bị thu hồi để giao cho duy nhất một hộ. Ông Chúc Thồng Sênh (thôn Nà Lạ) tố: “Chúng tôi sống ở đây mấy chục năm nay rồi, nương ngô của chúng tôi đều nằm ở Khuổi Hoi, giờ họ bắt chúng tôi phá hết nương đi để họ trồng rừng thì chúng tôi biết làm ăn ở đâu?”.
Nhưng theo ông Chúc Thồng Sênh: “Nếu là thu lại đất để trồng thêm rừng thì chúng tôi đã không phải phản ứng như thế này. Họ nói là phát quang lau sậy, nhưng thực chất lại chặt cả những cây gỗ lớn. Cả một khoảng rừng lớn bị san phẳng. Đấy không thể gọi là phát quang để trồng rừng mà là phá rừng”.
Từ đầu khu rừng Khuổi Hoi đi sâu vào trong là cả một quãng đường dài đến gần 2 cây số, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy tất cả đều gần như trơ trụi, tan hoang. Cả một khoảng rừng lớn đã bị dọn sạch gần như không còn một bóng cây. Nhiều chỗ còn bị đốt nham nhở. Trên đường đi, chúng tôi gặp hàng chục cây gỗ quý như muồng, hương, cẩm lai… bị đốn hạ, nằm chênh vênh trên các sườn đồi. Nhiều cây to có đường kính vài người ôm cũng bị cưa đổ.
Tại thời điểm chúng tôi có mặt ở Khuổi Hoi cũng có một đoàn người đang phát rừng trên một ngọn núi cao, tiếng cưa máy, tiếng dao chặt chan chát vang lên giữa rừng xanh. Một nam thanh niên trong đoàn người này cho biết đoàn người tham gia phát rừng ở Khuổi Hoi có 19 người, họ bắt đầu làm việc từ ngày 31.7 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của… kiểm lâm. “Kiểm lâm chỉ đến đâu thì mình phát đến đó, họ còn bảo sau khi dân thu hoạch ngô thì phát nốt chỗ đó. Chắc cũng chỉ vài hôm nữa là xong thôi”, anh thanh niên này nói.
Chúng tôi đem bức xúc của người dân thôn Nà Lạ đến gặp ông Hà Thế Kỷ, cán bộ địa chính xã Sơn Phú, thì được biết việc phát rừng do lực lượng kiểm lâm thực hiện, chính quyền xã không biết và cũng không có quyền can thiệp.
Cũng theo ông Kỷ, khu đất ở Khuổi Hoi đã được người dân thôn Nà Lạ sử dụng từ lâu, sau khi khu vực này được quy hoạch nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Tuy nhiên, do nhu cầu cuộc sống của người dân nên xã vẫn để họ canh tác ngô tại những khoảng đất trống trong rừng. “Nhu cầu về đất của bà con là có thật, nhưng đây là đất rừng do nhà nước quản lý, không thuộc quyền sở hữu cá nhân”, ông Kỷ cho hay.
Trong khi đó, ông Khổng Văn Quang, Hạt phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang, cho biết việc phát quang để trồng rừng ở Khuổi Hoi nằm trong Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng của UBND tỉnh Tuyên Quang. Theo đó, tỉnh giao chỉ tiêu cho 3 ban Quản lý cấp cơ sở là Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang, Hạt Kiểm lâm Na Hang, Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Hang kiêm nhiệm thực hiện mảng phát triển rừng.
Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang đã phân bổ xuống 4 xã (Sơn Phú, Khâu Tinh, Thanh Tương, Côn Lôn) để thực hiện, loại cây chủ yếu được trồng là cây gỗ lát và cây gỗ keo. Ông Quang khẳng định việc trồng rừng ở Khuổi Hoi được thực hiện theo nguyên tắc chỗ nào đất trống thì tổ chức trồng cây mới, chứ không phải phát rừng đi để trồng rừng. “Khu vực Khuổi Hoi thuộc vùng lõi rừng đặc dụng Na Hang. Đây là khu vực có nhiều đất trống và lau lách nên chúng tôi mới phát đi để trồng cây rừng”, ông Quang cho hay.
Tuy nhiên, khi được hỏi về trường hợp những cây gỗ lớn bị đốn hạ ở Khuổi Hoi mà PV Thanh Niên ghi nhận được thì ông Quang tỏ ra lúng túng: “Cái này chúng tôi phải cho anh em đi kiểm tra lại”.
Theo vị Hạt phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang này thì trước khi thực hiện việc “phát quang” ở Khuổi Hoi, lực lượng kiểm lâm đã giao cho chính quyền cơ sở kiểm kê, đánh giá và báo cáo đặc điểm rừng ở khu vực này rồi mới lập kế hoạch, phương án thực hiện. Theo đó không có những cây gỗ lớn, gỗ quý. “Có thể ở dưới họ chỉ sai địa điểm cũng nên. Nếu đúng là có việc chặt cây gỗ lớn, chúng tôi sẽ xử lý”, ông Quang nói. (Thanh Niên 3/9)đầu trang(
Rừng thông tại tiểu khu 297, thuộc thị trấn Đăk Tô, H.Đăk Tô (Kon Tum) hơn 30 năm tuổi đang bị triệt hạ không thương tiếc.
Hơn 50 hộ dân ở thị trấn hằng ngày đến đây đẽo từng lớp vỏ cây, chờ cây chết rồi đốn hạ. Theo chính quyền địa phương, đến nay đã có hơn 65 ha rừng thông bị đốn để trồng cao su, cà phê. (Thanh Niên 3/9)đầu trang(
Đã có một thời gian dài, cây sâm Ngọc Linh bị săn lùng ráo riết đến mức cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng. May sao, trong khi đó lại có những con người tâm huyết ngày đêm âm thầm mày mò ươm mầm, cấy giống tìm cách phục hồi trở lại loài cây quý. Một tương lai đã mở ra với nguồn thu về tính bằng tỉ đôla từ loài sâm này là điều có thật.
Sâm Ngọc Linh mọc tự nhiên chỉ có ở 9 xã của hai huyện Đăkglei, Tumơrông tỉnh Kon Tum và huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam. Theo tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt, Phó viện trưởng Viện Dược liệu Việt Nam, các nghiên cứu phân tích đến thời điểm này đã xác định được trong sâm Ngọc Linh có 52 chất saponin, 17 axít amin, 20 chất khoáng vi lượng. Saponin chính là thành phần quý nhất của loài sâm.
Điều độc đáo là, 26 chất saponin trong các loại sâm Mỹ, Nhật và đặc biệt là sâm Triều Tiên đều có trong sâm Ngọc Linh, nhưng trong sâm Ngọc Linh có 26 chất saponin khác mà tất cả các loài sâm khác không có được.
Từ rất xa xưa sâm Ngọc Linh đã được các dân tộc thiểu số xung quanh vùng sử dụng như một loại thuốc trong những bài thuốc cổ truyền dùng để cầm máu, lành vết thương, làm thuốc bổ, chống sốt rét, đau bụng, phù thũng. Theo tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt, những kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm sâm Ngọc Linh đã chứng minh tác dụng chống stress vật lý, stress tâm lý và trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống ôxy hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan.
Nghiên cứu dược lý lâm sàng của sâm Ngọc Linh cũng cho kết quả tốt: bệnh nhân ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp.
Theo dược sĩ Đào Kim Long, sâm Ngọc Linh còn có những tính năng khác như tăng lực, phục hồi sự suy giảm chức năng; kháng các độc tố gây hại tế bào, giúp kéo dài sự sống của tế bào và tăng các tế bào mới. Và điều đặc biệt đáng quý là sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên không có là tính kháng khuẩn, chống trầm cảm, giảm lo âu, chống ôxy hóa và hiệp lực tốt với thuốc kháng sinh, thuốc trị bệnh tiểu đường. Chính vì thế, các nhà khoa học, y học đã khẳng định, sâm Ngọc Linh quý hơn cả sâm Triều Tiên. Hiện tại trên thị trường, giá sâm Ngọc Linh luôn cao gấp đôi nhân sâm Triều Tiên tự nhiên cùng năm tuổi.
Chính vì những công dụng quý giá trên đây mà từ xưa đến nay, người dân vùng Kon Tum, Quảng Nam quanh chân núi Ngọc Linh vẫn gọi cây này là cây thần dược. Nhưng cũng chính vì giá trị đó mà cây sâm bị săn lùng ráo riết, có lúc tưởng đã sắp bị tuyệt diệt.
Tin ông A Jung ở làng Ngọc La, xã Măng Ri, huyện Tumơrông trúng được củ sâm nửa ký bán được 15 triệu đồng khiến buôn làng xôn xao. Người ta lại tiếp tục đổ xô ra rừng đào bới tìm sâm.
Thực ra thì trước A Jung, từ cách đây vài chục năm, người dân các buôn làng xung quanh chân núi Ngọc Linh đã biết đào củ sâm. Tuy nhiên, đồng bào Xê Đăng rất quý rừng. Họ luôn luôn có ý thức giữ gìn để rừng không bị mất. Đồng bào chỉ lấy những cây sâm có củ 7-10 sẹo trở lên, tức sâm khoảng 7-10 tuổi. Những thân củ chỉ 3-4 tuổi được giữ lại. Nhờ đó mà bao nhiêu năm qua dù khai thác, cây sâm Ngọc Linh vẫn luôn luôn sinh trưởng, rừng sâm phát triển tốt tươi.
Hồi ấy người đồng bào dân tộc đào sâm chỉ để dùng khi trong làng có người già, trẻ em ốm yếu, suy nhược. Thỉnh thoảng, nếu quá thiếu thốn, thì đem ra các vùng người Kinh đổi lấy muối, kim chỉ và các vật dụng khác chứ không đào đem bán. Người Tây Nguyên không bán rừng của mình.
Nhưng từ những năm 1990 về sau này có nhiều người tìm mua sâm Ngọc Linh với giá rất cao. Tiền bán một ký sâm mua được cả con trâu. Từ xưa đến giờ phát cái nương, làm cái rẫy chỉ đủ ăn, giờ tự nhiên có tiền nhiều, người đồng bào thích lắm. Vậy là người làng đổ vào rừng đào sâm. Ban đầu là sâm nhiều tuổi bán giá cao, sau đó sâm ít tuổi hơn cũng bán được. Lúc này thì người ta không còn giữ gìn bảo vệ cây sâm nữa. Họ đào tất những cây sâm lớn nhỏ, cây lâu năm hay mới mọc vài năm.
Giám đốc một công ty chuyên nghề rừng tại Kon Tum kể, những năm đó việc đi đào sâm diễn ra cứ như người ta đi thu hoạch vụ mùa. Từ lưng chừng núi lên đến tận đỉnh Ngọc Linh cao vời vợi, bất cứ nơi đâu cũng có dấu chân người. Sâm Ngọc Linh bị dồn vào đường cùng. Suýt nữa loài sâm tốt nhất thế giới này bị tiêu diệt bởi bàn tay con người.
Trong khi vẫn có rất nhiều người làng ngày ngày vào rừng đào củ khiến cho loài sâm ngày càng cạn kiệt, thì năm 2006, ông A Nô ở làng Măng Rương, xã Ngọc Lây (huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum) đã bán 2 con trâu để mua 2.000 cây sâm con về trồng trong rừng. Bắt chước A Nô, nhiều người khác cũng bán trâu, gom tiềm mua sâm giống về trồng. Từ đó đến nay, nhiều người đồng bào dân tộc sống quanh đỉnh núi Ngọc Linh ở hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đã biết mua sâm về trồng và nhiều nhà đã khá lên nhờ bán củ sâm. Ở Kon Tum, người làng Lộc Bông trồng sâm sớm nhất và nhiều nhất. A Thi, người làng Lộc Bông đã có thu nhập vài chục triệu mỗi năm từ việc bán củ sâm trồng.
Nhưng nơi đầu tiên trồng sâm thì phải nói đến xã Trà Linh, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1993, người dân ở làng Măng Lùng đã có được củ sâm trồng 7 tuổi. Quảng Nam là nơi xây dựng được trại dược liệu Trà Linh từ rất sớm, đã ươm và trồng được sâm giống và cung cấp cho dân quanh vùng. Điều đáng quý mà Quảng Nam đã làm được là hỗ trợ cây giống cho người dân, nên việc trồng sâm của người dân địa phương rất thuận lợi.
Thành công của Quảng Nam đã khuyến khích phía Kon Tum bắt tay vào việc nhân giống, ươm trồng loài cây quý này. Từ năm 1995 đến 1997, Kon Tum đã lập dự án "Xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển cây sâm Khu 5, kết hợp với sản xuất nông lâm nghiệp và nâng cao đời sống đồng bào thuộc xã Măng Xăng, huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum", trồng thành công 5.000m2 cây sâm giống. Vườn sâm này hiện do Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô (Công ty Đắk Tô) quản lý và tiếp tục công việc phát triển.
Theo Giám đốc Công ty Đắk Tô Nguyễn Thành Chung, việc trồng cây sâm không quá khó, vì sâm được trồng chính tại quê hương nơi nó đã từng sinh trưởng nên tỷ lệ sống rất cao. Khó nhất là nguồn giống ban đầu. Giám đốc Chung kể những ngày đầu tiên góp nhặt từng cây giống vô cùng gian nan. Ông và các cộng sự phải vào tận làng bản, đặt mua từng hạt. "Dăm bảy hạt cũng mua, có hạt nào mua hạt nấy" - Giám đốc Công ty Đắk Tô nhớ lại. Nhưng khi cây sâm bị tận diệt thì hạt đâu có nhiều mà mua, nên công ty mua củ, cắt ra để ươm mầm. Tiền không có nhiều, chỉ dám mua những loại củ nhỏ. Đến nay vườn sâm của công ty sau hơn chục năm, giờ đã lên đến 8ha.
Ở độ cao gần 2.000m so với mặt nước biển, tuy núp dưới tán cây rừng cổ thụ dày đặc, nhưng vườn sâm 160ha của Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh Kon Tum (Công ty Ngọc Linh) vẫn trải dài ngút tầm mắt. Cách đây 12 năm, Giám đốc Công ty khi ấy là Trần Hoàn, lúc đó mới 24 tuổi, đã táo bạo quyết định trồng sâm. Ông Lê Ngọc Thảo, Giám đốc Công ty Duy Tân và là thành viên góp vốn vào Công ty Sâm Ngọc Linh, cũng nói rằng, thời kỳ ban đầu vô cùng gian nan về giống. Giải được bài toán này là thành công.
Trại Dược liệu Trà Linh của Quảng Nam tuy thành công nhưng không thể nào cung cấp đủ nguồn giống, nhất là với một nơi "ngốn" giống cực kỳ lớn như Công ty Ngọc Linh. Nên ngoài việc mua giống từ trại Trà Linh, Công ty Ngọc Linh đã cho người mang tiền vào tận các làng, buôn thuộc 3 huyện Tumơrông, Đắkglei và Trà My của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, đặt cọc trước, mua cả hạt lẫn củ. Mỗi lần như vậy phải mang đi cả tỉ đồng. "Có lúc giá củ sâm đến 50 triệu đồng/kg, vẫn phải cắn răng mà mua", ông Thảo kể.
Tuy nhiên, mua sâm củ tuy tốn nhiều tiền nhưng được cái là cây sâm ươm giống từ đây mọc lên cho thu quả sớm hơn là sâm mọc từ hạt, có khi chỉ ngay năm đầu tiên cây đã cho hạt. Nhờ đó mà chỉ trong vòng 12 năm, vườn sâm của Công ty Ngọc Linh đã đạt diện tích 160ha. "Quả thật là con số ngoài mong đợi", ông Thảo nói trong niềm phấn khởi.
Còn hiện tại, tuy đã có sâm trồng đến 12 năm, nhưng công ty chưa khai thác mà vẫn tiếp tục giữ để lấy hạt làm giống. Khi đã có vườn cây rộng lớn, nguồn giống thuận lợi hơn nhờ thu hạt. Từ đầu năm đến nay, công ty thu được 1 tạ hạt giống, trồng được trên dưới 10ha. Tuy vậy, với quy mô mở rộng vườn cây, đến thời điểm này công ty vẫn phải mua giống từ bên ngoài.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu để nhanh chóng có nguồn giống. Viện sinh học Tây Nguyên (tỉnh Lâm Đồng) và Phòng Nghiên cứu triển khai thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum đang nghiên cứu nhân giống sâm vô tính bằng phương pháp cấy mô và hiện đã đưa ra trồng thử nghiệm. Nếu phương pháp này đạt hiệu quả thì đây sẽ là tin vui lớn, vì sẽ không còn lo lắng gì về nguồn giống nữa.
Các cán bộ lãnh đạo, các nhà khoa học, doanh nghiệp trồng sâm ở hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum giờ có thể khẳng định rằng, việc phục hồi nguồn gien quý đã thực sự thành công. Có nghĩa là đã đến lúc tìm giải pháp để trồng cây sâm đại trà, để cây sâm thành cây hàng hóa. Tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đều đưa vào nghị quyết phát triển cây này thành sản phẩm chủ lực trong việc xóa đói giảm nghèo cho người dân bản địa và xuất khẩu, làm giàu cho tỉnh nhà trong tương lai.
Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum vừa qua đã xây dựng "Phương án tổng quan quy hoạch vùng có khả năng trồng sâm". Theo kết quả khảo sát, vùng phân bố của cây sâm có diện tích khoảng 38.000ha. Phương án này quy hoạch vùng có khả năng phù hợp để trồng sâm là 24.000ha..
Hiện Công ty Đắk Tô đang đề xuất tỉnh Kon Tum giao 100ha rừng để vừa mở rộng vườn cây giống, vừa bắt đầu trồng sâm cho củ. Công ty Sâm Ngọc Linh cũng đã lập dự án diện tích hơn 5.000ha, và đã được UBND tỉnh phê duyệt. Trong số này, diện tích thực trồng xác định khoảng 1.700ha. Sẽ có 2.000 người dân địa phương được giải quyết việc làm. Đó là chưa kể, công ty mở ra cơ hội để người dân cùng với công ty hợp tác trồng sâm theo phương thức ăn chia. Tuy nhiên hiện nay đang có vướng mắc là mặc dù đã được UBND tỉnh đồng ý chủ trương và giao cho các ngành liên quan thực hiện, nhưng đến nay việc giao đất vẫn không tiến hành được vì Sở Tài chính Kon Tum định giá thu tiền quá cao.
Theo phép tính toán của Sở Tài chính Kon Tum thì rừng chuyển đổi mục đích thu tiền với mức 16 triệu đồng/ha. Đó là một khó khăn lớn khi một lúc công ty phải nộp vài chục tỉ đồng, trong khi việc trồng sâm dưới tán rừng lại chính là giữ gìn, quản lý bảo vệ rừng, vì không khai thác, không tác động làm thay đổi trạng thái rừng, tức không thuộc diện rừng chuyển đổi mục đích. Tỉnh Kon Tum đã có chủ trương phát triển cây sâm nhưng nếu thu tiền theo mức này thì sẽ rất khó kêu gọi đầu tư vào dự án trồng sâm.
Một tầm nhìn xa khác, hiện nay tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đang lập dự án xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sâm Ngọc Linh. Đây là điều cần thiết phải làm vì theo dự báo, việc sản xuất sản phẩm hàng hóa sẽ phát triển trong một tương lai không xa. Theo tính toán của dự án của Công ty Sâm Ngọc Linh, thu hoạch 400kg/ha sẽ bán được 12 tỉ đồng. "Thành công là chắc chắn. Tới năm 2025 thì xuất khẩu sâm sẽ tính tỉ đô chứ không phải là triệu đô nữa"- Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô quả quyết. (Công An Nhân Dân 4/9)đầu trang(
Giữa tháng 8 vừa qua, Công an tỉnh Bình Phước đã khởi tố, bắt giam 5 đối tượng là cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh và Hạt Kiểm lâm huyện Lộc Ninh do liên quan đến việc phá hoại 52 hécta đất rừng thuộc rừng phòng hộ Lộc Ninh.
Đây cũng chỉ là một trong số nhiều vụ án phá rừng có sự tiếp tay của cán bộ - công chức Nhà nước xảy ra trên địa bàn tỉnh này trong những năm qua…
Nhiều năm trước, đối tượng phá rừng bị xử lý ở tỉnh này chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ và số di dân tự do lấn chiếm đất lâm nghiệp để ở và canh tác. Nhưng những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ trái phép có tổ chức, có quy mô lớn cho thấy tính chất phá rừng ở Bình Phước đang hết sức phức tạp.
Rừng giá tỵ tại xã Lộc Hiệp, huyện Bù Đốp, thuộc Công ty cao su Sông Bé do Nông - lâm trường Bù Đốp quản lý hiện có trên 154 hécta. Tiền thân khu rừng này là Lâm trường Thanh niên xung phong 30, Lâm trường Lộc Quang hình thành từ 1984 đến 1995.
Nhiều năm qua, khu rừng này bị chặt hạ cây giá tỵ lấy gỗ giữa ban ngày, thách thức và xem thường các cơ quan bảo vệ rừng và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Các đối tượng phá rừng đã lợi dụng địa bàn rộng, đường sá đi lại thuận tiện nằm xen lẫn trong khu dân cư, tổ chức cưa hạ cây rồi dùng xe gắn máy vận chuyển gỗ ra ngoài để tiêu thụ.
Khi bị người dân phát hiện, bọn phá rừng đe dọa, còn gặp quản lý rừng thì bỏ lại gỗ và chạy trốn. Trong vòng 5 năm trở lại đây, Nông - lâm trường Bù Đốp đã lập biên bản 131 vụ việc vi phạm khai thác rừng giá tỵ, thiệt hại 752 cây có đường kính từ 20 - 25 cm, tang vật thu hồi được 461 lóng cây, ước khối lượng khoảng 30m3.
Ở khu vực Nông - lâm trường Đăk Mai (huyện Bù Gia Mập), Nông lâm trường Nghĩa Trung (huyện Bù Đăng) và một số cánh rừng nằm trên địa bàn huyện Lộc Ninh, tình trạng cất giấu, tàng trữ và vận chuyển lâm sản trái phép thường xuyên xảy ra. Hàng chục ngàn mét khối gỗ của lâm tặc đã được thu giữ, nhiều lâm tặc đã bị khởi tố nhưng tình trạng chảy máu rừng vẫn chưa thuyên giảm do vị trí địa lý phức tạp của Bình Phước, một khu vực giáp ranh Lâm Đồng, Đồng Nai và biên giới Campuchia.
Năm ngoái, ngành kiểm lâm Bình Phước phải vất vả đối mặt với tình trạng một số người dân thuộc xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, phần lớn là đồng bào dân tộc M’Nông, S’Tiêng - xâm nhập vào các khu vực Vườn quốc gia Bù Gia Mập, thuộc các tiểu khu giáp ranh với lâm phần quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Thác Mơ, thuộc địa phận huyện Tuy Đức để khai thác, lấy cắp gỗ quý hiếm. Thủ đoạn của các đối tượng nói trên là thường tập trung từ 50 đến 70 người vào rừng cưa hạ các loại gỗ, như: gõ đỏ, cẩm lai… xẻ nhỏ rồi vận chuyển bằng xe gắn máy, xe tự chế theo các ngõ ngách trong rừng đưa về tỉnh Đắk Nông tiêu thụ.
Một số người dân nhập cư trái phép cũng lao vào rừng sâu, rừng phòng hộ đầu nguồn để phá rừng nhằm mục đích chiếm đất và đòi hỏi đền bù. Đa phần họ là những người nghèo bị các đối tượng lâm tặc xúi giục.
Nhiều vụ phá rừng đã xảy ra ở các khu vực đã có chủ trương chuyển đổi rừng nghèo kiệt để trồng cây lâm nghiệp, cây cao su với diện tích hàng mấy trăm hécta. Tại Nông - lâm trường Nghĩa Trung thuộc Công ty cao su Sông Bé và Nông - lâm trường Đăk Mai, Nông - lâm trường Đăk Ơ thuộc Công ty cao su Phước Long, tình trạng phá rừng phòng hộ đầu nguồn với mục đích lấn chiếm đất và khai thác gỗ đã xảy ra làm thiệt hại 88 hécta rừng.
Trong số 5 đối tượng bị khởi tố, bắt giam tại Lộc Ninh liên quan đến việc phá hoại rừng có ông Nguyễn Văn Phong, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ và ông Lâm Văn Thạnh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Lộc Ninh.
Vào tháng 5-2010, UBND tỉnh Bình Phước chấp thuận cho HTX. Phương Thảo và Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh liên doanh trồng cao su trên diện tích 150 hécta đất rừng nghèo. Trong quá trình thực hiện, HTX đã đề nghị khai thác 52 hécta đất rừng nằm trong diện “cần khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt, cấm hủy hoại” để trồng cao su. Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh chấp thuận và đề xuất kiến nghị đến Hạt Kiểm lâm huyện Lộc Ninh. Hạt Kiểm lâm huyện Lộc Ninh lại tham mưu cho ông Trương Văn Phúc - nguyên Chủ tịch UBND huyện Lộc Ninh có văn bản về việc chấp thuận chủ trương cho HTX Phương Thảo phá rừng để trồng cao su.
Nhiều vụ phá rừng quy mô lớn trong thời gian qua ở Bình Phước đều có liên quan đến trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp đến cán bộ địa phương. Bởi lẽ, việc lâm tặc ngang nhiên chặt hạ cây rừng không thể không có sự bao che, dung túng của một bộ phận cán bộ quản lý rừng. (Báo Đồng Nai 3/9)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn vừa có công văn gửi UBND tỉnh Đắk Lắk và vườn quốc gia Yok Đôn yêu cầu bảo quản xương của hai con voi chết trong vườn quốc gia Yok Đôn để làm tiêu bản tại Bảo tàng Tài nguyên rừng VN. Theo thống kê của Trung tâm bảo tồn voi, từ năm 2009 đến nay đã có 19 con voi bị sát hại, riêng tám tháng đầu năm 2012 đã có 5 con voi rừng bị giết.
Nếu giữ xương voi lại làm tiêu bản, ít nhất - đến thời điểm này - bảo tàng có 19 tiêu bản voi. Số lượng tiêu bản ấy sẽ làm du khách giật mình khi đến tham quan bởi tốc độ sát hại voi quá khủng khiếp.
Tiêu bản xương là thế, còn “tiêu bản sống” thì sao? Những người có trách nhiệm đã lên tiếng sau vụ sát hại hai con voi, lần này là lên tiếng không phải vì phẫn uất mà lên tiếng lo lắng cho số phận của đàn voi. Khi mà con voi bị giết là voi đực trưởng thành duy nhất trong đàn voi 29 con thường xuyên cư trú tại vườn quốc gia Yok Đôn, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự sinh sôi nảy nở của đàn voi sau này. Thậm chí có tờ báo khi viết về vụ việc này đã đặt ngay tiêu đề “Đau đớn cho đàn voi góa bụa”.
Voi rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng, nhưng dự án bảo tồn voi đến nay vẫn chậm trễ. Lạ lùng thay khi voi chết đều đều hằng năm vậy mà trung tâm bảo tồn voi vẫn chưa có đất để xây dựng những hạng mục quan trọng như bệnh viện cho voi, khu sinh sản cho voi. Khi trung tâm này xin cắt 200ha vườn quốc gia Yok Đôn để quy hoạch làm trung tâm bảo tồn voi thì Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng nhiệm vụ của vườn trong việc bảo tồn voi là đương nhiên nên không đồng ý cắt đất.
Không xin được đất vườn, trung tâm chuyển qua xin đất của rừng phòng hộ Buôn Đôn để xây dựng các hạng mục công trình cũng như khu vực khoanh nuôi thì UBND tỉnh Đắk Lắk đồng ý về chủ trương, nhưng đến nay vẫn chưa có quyết định cắt đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất... Quan trọng hơn nữa là vốn từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa bố trí nên không thể triển khai thêm hạng mục nào của dự án.
Năm 2006 Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi tại ba khu vực trọng điểm là Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai. Đến năm 2010, UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt dự án bảo tồn voi giai đoạn 2010-2015 với tổng kinh phí 61 tỉ đồng. Mới nhất, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn yêu cầu UBND tỉnh Đắk Lắk phải sớm hoàn thành rà soát, bổ sung dự án bảo tồn voi đến năm 2020 để trình Thủ tướng Chính phủ thẩm định, phê duyệt trước ngày 15-9. Trong khi dự án bảo tồn voi tiếp tục được rà soát thì số lượng voi chết bởi nạn săn bắn cũng được bổ sung đều đặn hằng năm.
Giữ gìn tiêu bản xương là cần thiết, nó sẽ là bài học, là hồi chuông báo động để mọi người quan tâm hơn nữa đến số phận đàn voi rừng. Thế nhưng liệu tiêu bản xương kia có “hoàn thành trách nhiệm” cảnh báo hãy bảo vệ voi rừng hay không, khi mà “tiêu bản sống” đang đối diện với nguy hiểm hằng ngày hằng giờ, trong khi đang chờ dự án bảo tồn sớm đi vào hoạt động? (Tuổi Trẻ 4/9)đầu trang(
Sau con voi ở rạp xiếc, là những con voi rừng – cũng mang tiếng được bảo vệ - đã chết dần. 8 tháng qua, 5 con voi bị chết ở tỉnh Đắk Lắk.
Muốn triệt hạ một một thân cây to, lâm tặc mất khá nhiều thời gian, ban đầu là thám thính, lần thứ hai là cưa đánh dấu, lần thứ ba là chọn thời điểm phù hợp để cưa chặt xẻ, cuối cùng là chuyển ra khỏi rừng sao cho êm thấm. Triệt hạ một con voi trưởng thành, mất thời gian và nguy hiểm hơn nhiều.
Vườn quốc gia và những người có trách nhiệm - bằng trách nhiệm được giao và những dự án bảo tồn được triển khai – hẳn là biết rõ đối tượng đáng ngờ nào ra vào rừng, biết voi thường di chuyển những nơi nào. Thế mà hai con voi bị phân hủy rồi mới được phát hiện là… đã chết.
Khổ thân voi. To như vậy mà không ai biết mày sống – chết ra sao. Những thân phận nhỏ bé hơn thì sẽ thế nào trong khu rừng ngày càng ít bình yên?
Cách đây không lâu, nhóm làm phim của Kênh National Geographic phát hiện cả loạt chuồng sắt nuôi nhốt gấu ngay trên Quốc lộ 18. Sau phóng sự của đài này, cơ quan chức năng vào cuộc. Nhưng đồng thời người ta đổ xô đến địa bàn gần đó để mua mật gấu.
Voi cũng vậy. Dự án bảo tồn voi chỗ này chỗ kia chẳng khác nào mách nước cho bọn buôn lông đuôi và ngà voi rằng ở chỗ đó có voi xịn. Muốn lông đuôi và ngà xịn thì đến đó săn. Làm không nghiêm, không chặt chẽ, không đồng bộ thì bỗng nhiên một dự án quốc tế nhiều tiền dễ thành trò cười.
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói, không giữ được voi thì chúng ta phải hổ thẹn với tổ tiên và hổ thẹn với bạn bè láng giềng lắm.
Một đất nước có Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân cưỡi voi ra trận, một đất nước mà voi được thờ ở đình, đền, miếu. Thế nhưng voi được dự đoán sẽ biến mất ở Việt Nam trong vòng 8 năm nữa. Tin được không?
Nhà nghiên cứu Linh Nga Niêk Đam khẩn khoản nói trong tọa đàm vừa diễn ra tại Hà Nội: “Xin các cán bộ quản lý văn hóa đừng trổ tài đạo diễn để “sân khấu hóa” văn hóa Tây Nguyên”.
Nhưng có lẽ cũng phải nói lại rằng, voi, sử thi, cồng chiêng, nhà rông của Tây Nguyên gắn với rừng. Rừng bị tàn phá, voi bị giết, người ta tách cồng chiêng và sử thi đưa lên sân khấu cũng là một kiểu nệ thực đấy chứ? (Tiền Phong 2/9)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ít nhất 1 người chết và hàng nghìn người phải sơ tán khi 1 đám cháy ở miền nam Tây Ban Nha mất kiểm soát và lan gần đến khu nghỉ dưỡng gần đó.
Ngọn lửa bùng phát gần thành phố cảng Malaga hôm 30/8 vừa qua và nhanh chóng lan về phía Tây do gió mạnh và nhiệt độ cao. Đám cháy đã bén vào một tòa nhà ở phía Bắc của khu nghỉ dưỡng Marbella khiến 2 người bị bỏng nhẹ và hàng nghìn người ở khu vực quanh đó phải sơ tán đến một trung tâm thể thao.
“Tình hình hết sức nguy hiểm. Lính cứu hỏa đã phải liều mình xông vào đám cháy trong khi gió thổi mạnh và khói mù mịt. Chỉ trong sáng nay đã có 50 máy bay cứu hỏa đến đây”, một người dân cho biết.
Hồi tháng trước, một đám cháy cũng bùng phát trên một khu nghỉ dưỡng khác của Tây Ban Nha là đảo Canary, làm 4 người chết. Các đám cháy này được cho là hậu của của thời tiết khô hạn bất thường và nhiệt độ cao kỷ lục tại một số khu vực ở Tây Ban Nha. (Vov.vn 1/9)đầu trang(
Một con đười ươi mù tại Indonesia nhìn thấy hai đứa con lần đầu tiên sau khi các bác sĩ phẫu thuật mắt cho nó.
Gober, tên của con đười ươi Sumatra 40 tuổi, từng sống trong môi trường hoang dã ở tỉnh Bắc Sumatra. Nó mất khả năng nhìn vào cuối năm 2008 do chứng đục nhân mắt. Vì thế các nhà bảo tồn quyết định bắt nó về nuôi để đảm bảo an toàn tính mạng cho nó. Nhờ nỗ lực phối giống của các chuyên gia, Gober sinh hai con vào năm 2011.
Các bác sĩ của Chương trình Bảo tồn Đười ươi Sumatra tại thành phố Medan, trung tâm hành chính của tỉnh Bắc Sumatra, đã thực hiện ca phẫu thuật mắt cho Gober. Họ thông báo ca phẫu thuật thành công vào tối 29/8, AP đưa tin.
Đây là lần đầu tiên các bác sĩ phẫu thuật mắt cho đười ươi tại Indonesia. Ca phẫu thuật mắt đười ươi đầu tiên trên thế giới diễn ra tại Malaysia vào năm 2007.
Đười ươi Sumatra là một trong những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Giới bảo tồn cho rằng chỉ còn khoảng 6.600 con đười ươi Sumatra tồn tại trong môi trường hoang dã. (Vnexpress.net 1/9) đầu trang(
Đối diện với biến đổi khí hậu, rất nhiều loài phải tự thích ứng hoặc sẽ bị diệt vong. Các nhà sinh thái học đã nghiên cứu và dự đoán rằng những loài động vật máu lạnh vùng nhiệt đới không dễ bị tuyệt chủng như người ta vẫn nghĩ.
Nghiên cứu trên do các nhà sinh thái học thuộc Đại học Zurich (Thụy Sĩ) thực hiện, tập trung vào khả năng phát triển và tiến hóa của các loài động vật ở điều kiện nhiệt độ tăng.
Theo trưởng nhóm nghiên cứu, việc dự báo số phận của bất kỳ loài nào là điều khó khăn nhưng lại cần thiết để bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Trong các mô hình cũ dự báo nguy cơ tuyệt chủng, người ta chưa xem xét đến khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của loài và do đó kết quả của nghiên cứu này giúp nhen nhóm khả năng xây dựng một mô hình dự báo tiến hóa.
Những loài động vật máu lạnh không giống như những loài động vật nhiệt đới khác vốn có biên độ thân nhiệt thấp dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cao khi nhiệt độ tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu. (Thiên Nhiên 3/9)đầu trang(
Theo báo cáo mới nhất của Sách Đỏ IUCN, có 20% trong số 12621 loài không xương sống được thống kê đang trên bờ vực tuyệt chủng.
Tuy không được chú ý nhiều về mặt bảo tồn như các loài động vật lớn như voi, hổ, tê giác… song tầm quan trọng về mặt sinh thái của các loài không xương sống là không thể chối cãi được. Vì các loài không xương sống chiếm tới 80% số loài trên Trái Đất, báo cáo cũng đưa ra cảnh báo mới về sự sụt giảm đa dạng sinh học toàn cầu.
Theo Jonathan Baillie, Giám đốc Bảo tồn Hiệp hộp Vườn thú London (ZSL), sự tồn tại của con người phụ thuộc nhiều vào sự tồn tại của các loài không xương sống. Vậy nên, công tác bảo tồn những loài này không thể bị coi nhẹ.
Các loài không xương sống chiếm tới 97% giới động vật, gồm côn trùng, động vật thân mềm, mực và san hô. Chúng đóng vai trò quan trọng trong nhiều mặt của đời sống: thụ phấn cho hoa màu, làm sạch môi trường và là nguồn thực phẩm của con người.
Theo báo cáo, các loài không xương sống trong môi trường nước ngọt đang chịu sự đe dọa nguy hiểm nhất, trên cả động vật không xương sống trên cạn và ở môi trường biển. Cụ thể, có tới 1/3 số loài thân mềm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, tương tự như tình trạng xảy ra với loài lưỡng cư.
Báo cáo cũng cho biết, các loài côn trùng có cánh như chuồn chuồn, bướm có xu hướng tới gần mức đe dọa ở loài chim, tức là cứ 10 loài thì có 1 loài bị đe dọa tuyệt chủng.
Con số trên 12000 loài không xương sống được đánh giá chỉ là đại diện cho chưa tới 1% số loài không xương sống có thể tồn tại trên Trái Đất. Các đánh giá về sinh vật không xương sống còn rất ít so với các đánh giá dành cho động vật có xương sống. Nguyên nhân của hiện trạng này là do sự thiếu thông tin, đặc biệt là về các loài sống dưới biển sâu hoặc có kích thước vi mô. (Thiên Nhiên 3/9)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa