|
Ngày 04 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trên cơ sở giữ nguyên quan điểm là “kiểm tra rồi nhưng hoàn toàn không thấy rừng bị phá”, ngày 29.6, Hạt kiểm lâm thị xã Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra lại thực tế có hay không rừng Hòn Hèo bị lâm tặc “xẻ thịt” mà báo Lao Động phản ánh.
Điều khó hiểu là kết thúc kiểm tra, PV nhiều lần liên hệ với ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa - hỏi kết quả nhưng ông Đỏ “im lặng” (!).
Sau khi nhận được thư cảm ơn, ghi nhận phản ánh của Báo Lao Động là đúng của Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Khánh Hòa (bài “Rừng phòng hộ Hòn Hèo bị tàn sát” đăng tải trên báo Lao Động thứ 7, số ra ngày 18.6), ngày 27.6, PV Lao Động đã có buổi làm việc với ông Nguyễn Khương - Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, ông Trần Minh Thu - Phó Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh và ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa.
Tại buổi làm việc, PV trưng ra bản đồ rừng Hòn Hèo và chỉ vị trí rừng bị lâm tặc “xẻ thịt” nhưng ông Đỏ - cho biết: “Chúng tôi kiểm tra khu vực đó hết rồi mà hoàn toàn không thấy” (!). Ông Khương xin ghi nhận phản ánh của PV và đề nghị ông Đỏ lên lịch vào vị trí rừng PV đề cập để kiểm tra lại lần nữa.
Ông Khương khẳng định: “Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa phải chịu trách nhiệm trước Chi cục Kiểm lâm nếu có việc phá rừng ở Hòn Hèo. Có thể rừng quá rộng, đoàn kiểm tra không kiểm tra hết. Với tinh thần cầu thị, tôi muốn mọi thứ phải rõ ràng để quản lý rừng tốt hơn chứ không đối chọi với công luận.
Quan điểm của ông Khương là ai sai phải chịu hình thức xử lý. Dù là rừng giao khoán thì trách nhiệm giám sát thực hiện hợp đồng khoán rừng giữa thị xã Ninh Hòa và Bộ đội biên phòng tỉnh vẫn có.
Theo ông Khương, UBND tỉnh vừa có chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm rõ có hay không rừng Hòn Hèo bị phá như báo chí phản ánh.
Thực hiện chỉ đạo của ông Khương, ngày 29.6, Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) tiếp tục phối hợp với đơn vị có liên quan kiểm tra lại thực tế có hay không rừng Hòn Hèo bị lâm tặc “xẻ thịt” mà Lao Động đã phản ánh. Điều khó hiểu là kết thúc kiểm tra, PV nhiều lần liên hệ với ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa - hỏi kết quả nhưng ông Đỏ “im lặng” (!).
Với mức giao khoán 200.000 đồng/ha rừng (thời hạn 2016 - 2020 theo hợp đồng giao khoán đã ký ngày 6.5.2016), mỗi năm thị xã Ninh Hòa phải chi hơn 600 triệu đồng cho Bộ đội biên phòng tỉnh Khánh Hòa “bảo toàn” vốn rừng và phát triển bền vững rừng Hòn Hèo.
Tuy nhiên, bên giao khoán (thị xã Ninh Hòa) cũng không “buồn” giám sát việc thực hiện hợp đồng giao khoán rừng. Minh chứng là Trưởng phòng Kinh tế (thị xã Ninh Hòa) Đặng Cửu không hề hay biết có hay không việc phá rừng khi PV đến gặp và nêu thực trạng. Hậu quả là rừng phòng hộ vẫn cứ “chảy máu” nhưng tiền vẫn chứ “đổ” cho công tác bảo vệ.
Dù sau buổi gặp vào chiều 21.6, ông Cửu nói sẽ trao đổi lại với PV sau khi có báo cáo kiểm tra rừng Hòn Hèo từ kiểm lâm, tuy nhiên, PV nhiều lần liên lạc hẹn gặp, ông Cửu vẫn không nghe máy và “nín bặt”.
Ông Nguyễn Vĩnh Thạnh - Phó Chủ tịch thị xã Ninh Hòa - nói: “Tôi đọc mấy bài phản ánh về rừng Hòn Hèo trên báo Lao Động rồi. Tôi sẽ trao đổi vấn đề đó với anh Bình (ông Bùi Thanh Bình - Phó Chủ tịch thị xã) trên cơ sở tham mưu Phòng Kinh tế và Hạt kiểm lâm thị xã”.
Sau khi nghe PV đề cập việc ông Cửu “né” trao đổi với PV về thực trạng rừng Hòn Hèo bị đốn hạ, ông Thạnh phản ứng: “Mắc chi né hè, trao đổi 15 - 20 phút thôi mà, để tôi chỉ đạo anh Cửu xắp xếp thời gian làm việc với anh”.
Theo ông Thạnh, UBND thị xã Ninh Hòa đang chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét, đánh giá lại mức độ rừng Hòn Hèo bị xâm hại, thiệt hại để làm việc với Bộ đội biên phòng tỉnh đề nghị bồi thường theo hợp đồng đã ký giao khoán rừng giữa hai bên theo đúng quy định của pháp luật. “Hạt kiểm lâm thị xã phải chịu trách nhiệm trực quản lý về công tác bảo vệ rừng, còn về mặt quản lý nhà nước, Phòng kinh tế thị xã phải chịu trách nhiệm trước thị xã” - ông Thạnh nói.
Chiều 1.7, đại tá Vũ Thanh Sơn - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa - cho biết: “Uỷ ban Kiểm tra bộ chỉ huy đang tiến hành làm rõ trách nhiệm của Đồn trưởng Đồn biên phòng 368 (đơn vị trực tiếp bảo vệ rừng Hòn Hèo đã nhận khoán trên địa bàn xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa - P.V). Và tuần tới, Bộ chỉ huy sẽ họp bàn hướng xử lý”. (Lao Động 2/7) đầu trang(
Làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum về tình hình kinh tế - xã hội nửa đầu năm 2016 và cùng các bộ, ngành lắng nghe, phối hợp, tháo gỡ khó khăn để hỗ trợ Kon Tum hoàn thành cao nhất kế hoạch, nhiệm vụ năm 2016, 3/7, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Kon Tum phải đi đầu trong bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên.
Biểu dương thành tích phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Kon Tum trong bối cảnh khó khăn chung của tình hình đất nước, Thủ tướng cũng đánh giá cao kết quả trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của Kon Tum và thành tựu nuôi trồng thành công một số cây dược liệu quý, cây công nghiệp có năng suất, hiệu quả kinh tế cao, thực hiện tốt chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo và làm tốt công tác đối ngoại.
Nêu hàng loạt đề bài đối với sự phát triển của Kon Tum, Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm hành vi phá rừng tự nhiên hay chuyển rừng nghèo sang trồng cây công nghiệp. Kon Tum phải đi đầu về phòng chống phá rừng tự nhiên.
Thủ tướng yêu cầu tiếp tục tái cơ cấu nông lâm trường quốc doanh, trong đó lưu ý rà soát lại quỹ đất đai của 7 nông lâm trường trên địa bàn để giao đất, giao rừng cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc. Bởi, theo Thủ tướng, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng phá rừng thời gian qua chính là tình trạng đất rừng không có chủ, “cha chung không ai khóc”.
Thủ tướng cũng đề nghị tỉnh gắn cơ chế phát triển rừng với giảm nghèo bền vững với tinh thần người dân phải có đất sản xuất, có kế sinh nhai, gắn bó với rừng. Thực hiện tốt chính sách bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống người dân. Nếu để người dân thiếu đói thì người đứng đầu địa bàn đó phải chịu trách nhiệm. (Pháp Luật Việt Nam 4/7; Sài Gòn Giải Phóng 4/7) đầu trang(
Ngày 25/6/2016, báo Điện tử Tầm Nhìn đăng bài "Sau chỉ đạo của thủ tướng rừng Ea H’leo vẫn bị hút máu”, phản ánh tình trạng ngay sau khi có chỉ đạo đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng nhưng rừng tại huyện Ea H’leo vẫn bị tàn phá nghiêm trọng. Sau khi báo đăng chính quyền sở tại, đã ráo riết chỉ đạo các cơ quan liên quan nhanh chóng làm rõ vấn đề trên.
Cụ thể, sau khi tiếp nhận thông tin trên báo Tầm Nhìn,ngày 30/6/2016, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Phạm Ngọc Nghị đã chỉ đạo giao Công an tỉnh và UBND huyện Ea H’leo vào cuộc điều tra, xử lý nhanh chóng báo cáo kết quả về UBND tỉnh.
Về phía UBND Huyện Ea H’leo, sau khi báo Tầm Nhìn phản ánh về tình trạng xe gỗ ngang nhiên hút máu rừng trên lâm phần của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Chư Phả, sáng ngày 1/7/2016 trao đổi vớ PV qua điện thoại, ông Nguyễn Huy Tuấn, Chánh văn phòng UBND huyện Ea H’Leo cho biết: Sau khi báo đăng ngày 29/6/2016, Chủ tịch UBND huyện Ea H’leo đã nhanh chóng có công văn chỉ đạo các cơ quan liên quan gồm Hạt trưởng HKL, Trưởng công an huyện, Chỉ huy trưởng huyện đội, và các Cty Lâm nghiệp đóng trên địa bàn nhanh chóng vào cuộc điều tra làm rõ vụ việc báo nên.
Cụ thể, trong công văn số 2092 UBND-VP do ông Lê Thăng Long, Chủ tịch UBND huyện ký ngày 29/6/2016 V/v tình hình vi phạm luật QLBVR theo phản ánh của báo Tamnhin.net nêu rõ; Chỉ đạo đoàn kiểm tra 2473- được thành lập theo Quyết định số 2473QD- UBND, ngày 16/9/2015 (đoàn liên ngành), kiểm tra, truy quét, xử lí các hành vi liên quan đến lĩnhvực QLBVR tại khu vực suối đá EaH’leo (Do hạt kiểm lâm EaH’leo làm trưởng đoàn).
Báo cáo tình hình, kiểm tra các hành vi vi phạm liên quan đến lĩnh vực QLBVR; tình hình hoạt động từ ngày thành lập đến nay.
Đặc biệt trong báo cáo còn nhấn mạnh, làm rõ trách nhiệm các cá nhân trong ca trực chốt liên nghành ngày 22/6/2016 như Báo Tamnhin.net đã đưa tin. Thời gian báo cáo về UBND huyện trước ngày 15/7/2016.
Trướcđó, ngày 20/6, tại TP. Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát đã chủ trì hội nghị; các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016- 2020.
Tại hội nghị Thủ tướng chỉ đạo đóng tất cả cửa rừng tự nhiên; Yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, kiểm soát, công an, tòa án... nâng cao trách nhiệm được giao ngăn chặn tình trạng tàn phá rừng đang xảy ra; Làm rõ trách nhiệm từng diện tích, từng địa bàn rừng bị mất.
Sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng, ngày 22/6, PV đã có cuộc phục kích vào tiểu khu 29 thuộc lâm phần quản lí của Cty TNHH MTV Chư Phả và phát hiện tình trạng rừng nơi đây đang bị “chảy máu” một cách khủng khiếp.
Tại thời điểm trên PV đã ghi nhận được nhiều xe máy và xe công nông độ chế ung dung vận chuyển gỗ trên đường độc đạo đi ra từ cửa rừng. Trong khoảng thời gian trên có một đoàn liên ngành đóng chân trên tuyến đường này, tuy nhiên họ không hề hay biết. Và chỉ đến khi PV phản ánh sự việc lại thì đoàn liên ngành mới đi xác minh.... (Tầm Nhìn 2/7) đầu trang(
6 tháng đầu năm, tình hình rừng và đất rừng trên địa bàn toàn tỉnh được kiểm soát tương đối tốt, không có điểm nóng phá rừng xảy ra, chỉ phát hiện và xử lý 126 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 65 vụ so với cùng kỳ năm 2015.
Đó là một trong những nội dung nổi bật được nêu ra tại hội nghị sơ kết 6 tháng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh diễn ra vào chiều 30/6.
Cũng trong 6 tháng qua, mặc dù phải đối mặt với khô hạn gay gắt, rừng tràm luôn đặt trong tình thế cực kỳ nguy hiểm nhưng nhờ chủ động kịp thời theo phương châm “bốn tại chỗ” nên đã kiểm soát được lửa rừng không để xảy ra cháy lớn.
Mùa khô vừa qua trên khu vực rừng tràm đã xảy ra 5 vụ cháy rừng tràm và keo lai với diện tích thiệt hại không lớn hơn 17ha. Đến ngày 30/6 cơ bản mùa khô đã kết thúc, lực lượng canh giữ rừng và phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng đã được rút về. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 1/7) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm, các đơn vị kiểm lâm trên địa bàn tỉnh đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan và chính quyền địa phương, tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét tại các vùng giáp ranh và khu vực trọng điểm phá rừng, qua đó đã phát hiện 594 vụ việc vi phạm về lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, tăng 29,7% so với với cùng kỳ năm trước.
Các lực lượng chức năng đã xử lý 501 vụ; tịch thu trên 202m³ gỗ các loại; thu giữ 90 xe máy độ chế và nhiều phương tiện, tang vật khác; thu nộp ngân sách trên 1,7 tỷ đồng. (Báo Ninh Thuận 1/7) đầu trang(
Huyện Mường Nhé (Điện Biên) được thành lập năm 2002, nổi tiếng hoang sơ, với những tán rừng nguyên sinh bạt ngàn. Vậy mà hiện nay, hai bên đường vào trung tâm huyện rừng đã xơ xác, cây rừng bị chặt phá ngổn ngang… Nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời, rừng ở Mường Nhé sẽ bị xóa sổ.
Ngày 16-6 vừa qua, tại buổi làm việc với đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đi kiểm tra thực trạng rừng bị phá tại huyện Mường Nhé, Chủ tịch UBND huyện Lù Văn Thanh cho biết: Từ năm 2015 đến ngày 10-6-2016, trên địa bàn huyện Mường Nhé phát hiện 313 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích trên 296 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ.
Trong khi đó, cũng tại cuộc làm việc này, Bí thư Huyện ủy Nguyễn Quang Sáng lại khẳng định rằng, số rừng bị mất từ trước đến nay trên địa bàn huyện đã lên tới 80 nghìn ha, trên tổng số hơn 157 nghìn ha diện tích tự nhiên toàn huyện.
Khác xa với con số vài trăm ha rừng bị phá từ các năm qua nêu trên, qua trích lục biểu đồ tổng hợp độ che phủ rừng của huyện Mường Nhé năm 2010, chúng tôi thấy, năm 2010 huyện có tới gần 88.000 ha có rừng, đến hết tháng 12-2014 thì tổng diện tích rừng tự nhiên và rừng sản xuất của huyện chỉ còn trên 72.000 ha. Có nghĩa là trong 5 năm qua, Mường Nhé đã mất tới gần 16.000 ha rừng.
Tìm hiểu cụ thể tại khe Chí Xé, thuộc bản Phứ Ma, xã Lenh Su Sìn (Mường Nhé, Điện Biên), chúng tôi thấy có những triền núi, cánh rừng bị đốt ngay khi cây vẫn sống, thân cây cháy trụi cành vẫn còn đứng sừng sững.
Theo trích lục Biểu tổng hợp che phủ rừng năm 2010, xã Lenh Su Sìn có hơn 11.000 ha rừng tự nhiên, đến 2015 chỉ còn chưa đầy 8.000 ha, nghĩa là trong 5 năm, đã có trên 3.000 ha rừng bị mất. Trong khi đó, theo báo cáo nhiệm kỳ 5 năm của Đảng ủy xã thì Lenh Su Sìn chỉ mất 285 héc-ta! Ông Sừng Go Lồng, Trưởng bản bản Phứ Ma cho biết, bản có 49 hộ người dân tộc Hà Nhì.
Từ năm 2011, xuất hiện 36 hộ dân di cư tự do đến lập bản Cà Là Pá gần đó. Đến nay số hộ di cư tự do ở bản đã lên tới 350 hộ, họ phá hết rừng trong khu vực để làm nương. Từ 1.000 ha rừng mà bản Phứ Ma được giao quản lý, giờ chỉ còn 350 ha. Trước họ còn chặt trộm cây rừng, giờ thì công khai giữa ban ngày.
Tại cánh rừng ở khe Huổi Háng, Huổi Phi Nhặc trước mặt thị trấn huyện Mường Nhé, đã có tới 147 héc-ta bị phá, chủ yếu trong một năm (từ 2014 đến 2015). Ông Ma Công Sít, người bản Phiêng Kham, xã Mường Nhé kể lại: Đây là diện tích rừng phòng hộ đã giao cho bản chúng tôi quản lý.
Ban đầu chỉ một vài hộ dân di cư tự do vào rừng dựng lán, lên báo chính quyền xã thì chẳng thấy ai giải quyết. Mấy hôm sau họ bắt đầu phá rừng làm nương, dân bản đến ngăn cản thì họ bỏ đi. Khi dân bản quay về, hàng chục người lại lao vào chặt phá. Ở đây, họ làm kiểu đổi công, hàng chục hộ hôm nay tập trung phá rừng cho nhà này làm nương, mai đến lượt nhà khác. Nếu chính quyền kiên quyết yêu cầu họ ra khỏi rừng ngay từ đầu thì đã không có chuyện gì. Nay, cả cánh rừng này không còn gì nữa…
Như vậy, có thể thấy báo cáo của UBND huyện Mường Nhé, kể cả là bản báo cáo gần đây nhất về diện tích rừng bị tàn phá trên địa bàn huyện Mường Nhé là chưa đúng, chưa sát với thực tế. Phải chăng là do sự thiếu bao quát tình hình địa bàn mình quản lý, không dám chịu trách nhiệm, chưa mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật.
Nguyên nhân chính của tình trạng phá rừng ở Mường Nhé, được chính quyền địa phương giải thích là do số lượng người di cư tự do tràn vào địa phương quá lớn. Trong tổng số hơn 7.800 hộ dân toàn huyện, có tới trên 60% là người dân tộc Mông, di cư tự do vào địa bàn từ năm 2005 đến nay.
Để có lương thực tồn tại, họ đã phá rừng trái phép để làm nương, mỗi hộ phá ít nhất 3 ha mới đủ đất để canh tác lương thực. Sau hai năm, khi đất bạc màu, lại phá tiếp 3 ha nữa để làm nương luân canh. Hành vi phá rừng của các đối tượng là người di cư tự do ngày càng "chuyên nghiệp".
Tuy nhiên, trong số 313 vụ phá rừng, chính quyền mới chỉ xử lý được 20 vụ là người địa phương. Các vụ việc do người di cư tự do gây ra chưa xử lý được vụ nào, kể cả hành vi chống người thi hành công vụ. Trong khi đó, tình trạng chống người thi hành công vụ khi triển khai công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Cán bộ kiểm lâm và người dân sở tại, trong khi đi tuần tra bảo vệ rừng tiếp tục bị đánh, bị kề dao vào cổ, bị “bắt làm con tin”…
Gần đây nhất, ngày 3-3 vừa qua, tại khe suối Huổi Sủng (xã Mường Nhé) ngay phía sau UBND huyện, sau khi hành vi phá rừng trái phép bị phát hiện, nhiều người phá rừng đã dùng gậy gỗ, dao phát tiến công đoàn cán bộ kiểm lâm, cán bộ xã và nhân dân địa phương đi kiểm tra rừng, làm sáu người bị thương. Nhóm người này còn bắt giữ các cán bộ kiểm lâm để yêu sách đòi được làm nương trên diện tích rừng do họ phá trái phép. Tuy nhiên, khi lực lượng chức năng đến giải quyết, không rõ vì lý do gì, lãnh đạo chính quyền huyện Mường Nhé lại không xử lý những đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ.
Thiết nghĩ, để ngăn chặn tình trạng phá rừng ở tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Mường Nhé nói riêng, cần sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền trong bảo vệ rừng; các biện pháp cần được tiến hành đồng bộ, kiên quyết hơn; thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng. Một trong những giải pháp quan trọng bậc nhất, để giữ rừng được hay không, trước hết phải do chính quyền các cấp. Nếu nơi nào để xảy ra phá rừng nghiêm trọng thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm, chỉ có như vậy việc phá rừng mới được kiểm soát. (Nhân Dân 1/7) đầu trang(
Trong những thập niên gần đây, tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép trên địa bàn tỉnh Điện Biên đang rơi vào "báo động đỏ"; tỷ lệ che phủ rừng 38,5%, thấp nhất vùng Tây Bắc.
Điện Biên có trên 80% diện tích đồi núi, làm nổi bật vị trí quan trọng của rừng trong phát triển kinh tế của địa phương này. Năm 2008, tỷ lệ che phủ rừng tỉnh Điện Biên đạt 46%, nhưng chủ yếu là rừng nghèo, rừng đang được bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và rừng trồng chưa khép tán.
Tuy nhiên, đến tại thời điểm này, tỷ lệ che phủ rừng Điện Biên giảm xuống thấp nhất khu vực, theo kết quả kiểm kê rừng của BCĐ điều tra kiểm kê rừng tỉnh Điện Biên (giai đoạn 2014 – 2016). Hiện nay, tỷ lệ che phủ rừng của toàn tỉnh Điện Biên chỉ đạt 38,5%. Trong khi đó, toàn tỉnh có khoảng 814.000ha rừng; bao gồm cả diện tích đất có rừng là 367.496,51ha và diện tích đất chưa có rừng là 446.267,75ha.
Cũng tại buổi làm việc giữa UBND tỉnh Điện Biên với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 18/6/2016, ông Lò Văn Tiến, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo kiểm kê rừng Điện Biên, thẳng thắn thừa nhận: “Tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Điện Biên thấp nhất so với các tỉnh Tây Bắc...
Đặc biệt là huyện Điện Biên Đông, tỷ lệ che phủ rừng thấp nhất tỉnh, đạt 27,5%. Điều đó phản ánh, công tác quản lý, bảo vệ rừng tỉnh Điện Biên còn rất lúng túng và bất cập; càng bảo vệ rừng thì rừng càng mất, càng nhiều dự án trồng rừng thì rừng càng không trồng được...”
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ che phủ rừng của Điện Biên thấp là do người dân phá rừng làm nương. Cao điểm là mùa phát rẫy. Tình trạng chặt phá rừng trái phép diễn ra trên hầu hết tất cả các huyện trên địa bàn toàn tỉnh. Đặc biệt là huyện Mường Nhé, nạn di cư tự do tràn vào địa phương này hầu như không giảm. Nhiều cánh rừng ở địa phương này đã “bị trảm” không thương tiếc.
Năm 2012, dân số Mường Nhé có 33.000 nhân khẩu, đến năm 2015 đã tăng lên trên 38.000 người, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông ở một số tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và một số tỉnh Tây Nguyên đã di dịch tự do ồ ạt vào Mường Nhé; do không có đất sản xuất, cái đói buộc họ phải phá rừng để sinh tồn.
Theo biểu đồ thể hiện tỷ lệ che phủ rừng của Mường Nhé thì năm 2010 Mường Nhé có diện tích rừng khoảng 88.000ha. Nhưng đến tháng 12/2014 tổng diện tích rừng của huyện Mường Nhé chỉ còn khoảng 72.000ha (giảm 16.000ha chỉ trong 3 năm). Tính riêng xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, năm 2014 diện tích rừng hơn 11.000ha.
Nhưng đến năm 2015, tỷ lệ che phủ rừng của xã này đã giảm đi hơn 3.000ha, diện tích rừng còn lại chưa đầy 8.000ha. Đó mới chỉ là con số thống kê trên báo cáo của một xã. Còn diện tích rừng có thật của toàn huyện Mường Nhé là bao nhiêu và diện tích rừng đã mất là bao nhiêu thì chỉ có chính quyền sở tại và cán bộ kiểm lâm trên địa bàn huyện mới thực sự biết rõ.
So với các địa phương khác trong tỉnh, huyện Điện Biên Đông cũng là huyện có diện tích rừng tương đối rộng. Tuy nhiên, với phương thức canh tác chủ yếu là “cạo trọc” để gieo giống, cùng với nạn khai thác gỗ trái phép. Hiện nay, tỷ lệ che phủ rừng của huyện Điện Biên Đông đạt 27,5%. Một con số báo động về nguy cơ “sa mạc” hóa đất đồi.
Nguyên nhân của việc mất rừng không chỉ là do tình trạng dân di cư tự do hay phương thức canh tác của người dân không đúng với quy định mà còn do tình trạng khai thác gỗ trái phép; chặt phá rừng làm thủy điện, đường giao thông... khiến tỉnh Điện Biên bị mất rừng, nguy cơ “sa mạc” hóa đất đồi ngày càng cao.
Theo Báo cáo công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn tỉnh và tình hình giải quyết vấn đề dân di cư tự do tại huyện Mường Nhé của UBND tỉnh Điện Biên thì năm 2015, trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xảy ra 493 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (tăng 135 vụ so với cùng kỳ năm 2014), Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2016, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại Điện Biên không có dấu hiệu giảm; (tăng 61 vụ so với cùng kỳ năm 2015).
Mới đây nhất, ngày 6/3/2016, các cơ quan chức năng tỉnh Điện Biên đã phát hiện 2 nhóm thợ gồm 17 người dân tổ chức khai thác gỗ trái phép tại Tiểu khu 799 và 804, khu vực suối Nậm Lúa, bản Pha Lay, xã Mường Nhà, huyện Điện Biên. Bắt giữ đối tượng Vì Văn Đông, Chủ tịch UBND xã Mường Nhà, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản và vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; bắt quả tang và thu giữ 8 cưa máy và 100m3 gỗ. Đây chỉ là ví dụ điển hình mới nhất mà sai phạm thuộc về người quản lý tại địa phương. Còn những vụ chưa phát hiện ra và không ai biết thì thật khó có thể thống kê.
Một nguyên nhân sâu xa nữa khiến những cánh rừng Điện Biên không phát triển. Đó là rào cản trong thủ tục hành chính để các tổ chức, cá nhân khai thác và tận thu lâm sản, trồng bù rừng. Điển hình như Dự án trồng rừng 327, Dự án 661; công tác quyết toán dự án 23 năm chưa hoàn thành thủ tục khiến người dân không mặn mà với việc trồng rừng.
Điều này cho thấy: “trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tỉnh Điện Biên còn rất lúng túng, gặp nhiều khó khăn, càng bảo vệ rừng thì rừng càng mất, càng nhiều dự án trồng rừng thì rừng càng không trồng được...” – Trích lời ông Lò Văn Tiến, Phó chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên.
Đã hơn 1 lần, tại các kỳ họp HĐND tỉnh Điện Biên năm 2015, một số đại biểu đã nhận định diện tích rừng Điện Biên đang bị thu hẹp và nếu cứ đà này thì Điện Biên sẽ chẳng có rừng. Song vấn đề này lại ít được các đại biểu đưa ra giải pháp mà tập trung chủ yếu vào các dự án và siêu dự án đầu tư xây dựng hạ tầng, vĩ mô to lớn... Rồi kỳ họp cũng qua đi và kết thúc, dựa trên báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tỷ lệ che phủ rừng luôn vượt con số 40%.
Chỉ khi BCĐ điều tra kiểm kê rừng Điện Biên (giai đoạn 2014 -2016) thực hiện rà soát, kiểm đếm lại toàn bộ diện tích rừng người ta mới không khỏi giật mình bởi diện tích rừng đã mất, tỷ lệ che phủ rừng chỉ còn 38,5%. Đó là chưa kể đến diện tích cây cao su phủ trống nhiều diện tích đồi trọc.
Việc để diện tích rừng bị thu hẹp, độ che phủ rừng bị giảm mạnh không thể đổ hết lỗi cho người dân hay nhận thức của người dân. Rõ ràng các cán bộ quản lý rừng các cấp tỉnh Điện Biên không tránh khỏi trách nhiệm.
Rừng Điện Biên của nhiều thập kỷ trước xanh ngút ngàn, mặt trời đứng bóng mà rừng xanh vẫn ẩm lạnh. Các thác nước dội ào ào gây sức vóc tự nhiên, hoang sơ, kỳ vĩ... giờ chỉ còn lại trong ký ức. Người ta đã tính toán mở các tuyến đường xuyên qua núi, hạ máy “trảm” rừng làm thủy điện... để rồi một ngày phải trả giá; các con suối cạn khô, đất trồng hoang hóa. Nguy cơ "sa mạc" hóa ngày càng cao. Rồi một loạt các dự án gieo bay, bay gieo... ngốn nhiều tỷ đồng của Nhà nước cuối cùng cũng không mang lại cánh rừng nào, đồi vẫn trọc.
Bất luận thế nào thì việc giữ được rừng hay không trước hết phải do chính quyền các cấp. Điều này đã được Thủ tướng quy định tại Quyết định 245/QĐ-TTg về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp; Quyết định 07/2012/QĐ-TTg, ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng. Nếu nơi nào xảy ra phá rừng nghiêm trọng thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. Chỉ khi nào thực hiện đúng Quyết định số 07 của Thủ tướng thì nạn phá rừng mới được kiểm soát.
Đã đến lúc những cán bộ có trách nhiệm của tỉnh Điện Biên thoát ly báo cáo, nhìn vào con số thực để biết rừng của mình còn hay mất. Từ đó mới có cách để phát triển rừng, trả lại màu xanh cho đất. (Tài Nguyên Và Môi Trường 3/7) đầu trang(
Sau khi phản ánh về tình trạng chặt phá rừng, khai thác gỗ để đốt làm than tại các xã Châu Hội, Châu Nga (Quỳ Châu, Nghệ An), UBND huyện Quỳ Châu vừa có Văn bản số 304 gửi Báo Nhân Dân, nội dung chính như sau: Tất cả các điểm phá rừng mà đoàn liên ngành huyện phát hiện đều thuộc đối tượng rừng tự nhiên sản xuất.
Thời gian xảy ra tình trạng chặt phá rừng khoảng đầu tháng 3-2016. Đoàn kiểm tra liên ngành huyện đã lập biên bản, đình chỉ và hoàn thiện các thủ tục xử lý hành vi phá rừng chuyển đổi trái pháp luật đối với các hộ vi phạm theo quy định của pháp luật; kiểm tra rừng và phát hiện tại lô 1, khoảnh 4, tiểu khu 176 thuộc rừng sản xuất trong lâm phần của Lâm trường Quỳ Châu quản lý.
Trong quá trình khai thác, người dân đã tận dụng cành, nhánh, gốc, rễ cây keo và một số củi có nguồn gốc tự nhiên để đốt làm than, ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống. Đoàn kiểm tra liên ngành huyện đã tiến hành kiểm tra, buộc tháo dỡ toàn bộ số lò đốt than xây dựng trái phép. (Nhân Dân 4/7) đầu trang(
Chủ tịch UBND huyện Sơn Động Nguyễn Quang Ngạn đã ban hành bản kết luận số 460/KL-UBND về nội dung tố cáo đối với ông Phạm Văn Thắng, Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động – Bắc Giang) phá 26.056m2 rừng tự nhiên của gia đình và hàng xóm.
Theo đó, hàng loạt cá nhân, tổ chức trên địa bàn huyện này liên quan tới vụ việc đã bị điểm mặt, chỉ tên và yêu cầu làm rõ trách nhiệm.
Sau khi Báo TN&MT đăng tải 7 bài báo liên quan tới vụ việc cha con ông Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn Phạm Văn Thắng cố ý phá 26.056m2 rừng tự nhiên trái phép tại xã Tuấn Mậu. Ngày 27/6/2016, Chủ tịch UBND huyện Sơn Động đã ban hành bản kết luận yêu cầu xử lý nghiêm vụ việc.
Theo đó, việc công dân tố cáo hộ gia đình ông Phạm Văn Thắng (Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn) tự ý phá 26.056m2 rừng tự nhiên tại khu vực Khe Lê, thôn Tân Thanh, xã Tuấn Mậu, thị trấn Thanh Sơn khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất là đúng. Hành vi này vi phạm khoản 1, Điều 12 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định về những hành vi bị nghiêm cấm: “Chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép”.
Không những vậy, việc phá rừng của hộ gia đình ông Phạm Văn Thắng vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính, do đó không được xử phạt mà phải xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 7, Nghị định 157/2013-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Về việc này, Chủ tịch UBND huyện Sơn Động giao cho Công an huyện Sơn Động điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định.
Đối với việc tiếp tay làm giả Giấy ủy quyền ghi ngày 24/2/2014 cho cha con ông Phạm Văn Thắng của PCT xã Tuấn Mậu Hoàng Văn Tuệ. Vào thời điểm đó, ông Tuệ mới chỉ làm Trưởng Công an xã, phải đến tháng 11/2014, ông Tuệ mới chính thức là PCT xã sau khi nhận Quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử PCT UBND xã Tuấn Mậu, nhiệm kỳ 2011 - 2016 của Chủ tịch UBND huyện Sơn Động Nguyễn Quang Ngạn.
Chính vì vậy, việc ký xác nhận vào Giấy ủy quyền của ông Hoàng Văn Tuệ, PCT UBND xã Tuấn Mậu cho ông Phạm Văn Thắng và ông Phạm Văn Cương (con trai ông Thắng – Cán bộ Tư pháp thị trấn Thanh Sơn) là trái thẩm quyền, do đó Giấy ủy quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn Thắng cho con trai Phạm Văn Cương là không có giá trị pháp lý.
Đồng quan điểm về việc này, luật sư Nguyễn Văn Kiệm (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho biết: Việc PCT UBND xã Tuấn Mậu làm giả Giấy ủy quyền cho cha con ông Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng bởi việc làm giả này có thể nhằm mục đích “đổ tội” phá rừng của ông Chủ tịch cho con trai. Cơ quan CSĐT có thể vào cuộc xem xét, cần thiết phải khởi tố vụ án để làm rõ mục đích của việc này.
Về trách nhiệm của địa phương trong vụ việc này là UBND xã Tuấn Mậu: Do không phát hiện và có biện pháp ngăn chặn hành vi phá rừng của cha con ông Thắng nên vi phạm vào khoản 3, Điều 38, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Vì vậy, giao cho Phòng Nội vụ thành lập Hội đồng kỷ luật đối với cá nhân Chủ tịch UBND xã Tuấn Mậu trong việc thiếu kiểm tra, giám sát, chỉ đạo cán bộ chuyên môn và công tác phối hợp với lực lượng Kiểm lâm để có biện pháp ngăn chặn xử lý kịp thời những vi phạm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Bản kết luận cũng yêu cầu làm rõ trách nhiệm đối với lãnh đạo và nhân viên Hạt Kiểm lâm Sơn Động vì đã để xảy ra việc phá rừng diễn ra trong một khoảng thời gian dài nhưng không phát hiện và ngăn chặn kịp thời là vi phạm Điều 81, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm lâm.
Không những vậy, việc phá rừng xảy ra từ tháng 3/2014 nhưng tới tháng 11/2015, ông Trần Ngọc Sơn - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Tuấn Đạo mới làm báo cáo cho Hạt Kiểm lâm Sơn Động về việc gia đình ông Phạm Văn Thắng chỉ phát dọn có 3000m2 rừng là không có cơ sở.
Đồng thời, Chủ tịch UBND huyện Sơn Động đề nghị Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang xem xét trách nhiệm và có biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động Nguyễn Văn Hiệu và cán bộ chuyên môn liên quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao đối trong vụ việc phá rừng tự nhiên nghiêm trọng này.
Trước đó, như chúng tôi đã đưa tin, ông Phạm Văn Thắng được nhà nước giao cho 14,5ha rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp tại lô A1, khoảnh 3 tại xã Thanh Sơn (nay thuộc thôn Tân Thanh, xã Tuấn Mậu). Sau đó, vào năm 1999, toàn bộ diện tích này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30/01/1999 để bảo vệ và chăm sóc.
Từ năm 2010 cho đến tháng 3/2014, ông Thắng được phép cải tạo 4,9 ha rừng tự nhiên nghèo kiệt trên diện tích rừng được nhà nước giao bảo vệ chăm sóc để trồng rừng. Sau đó, do thấy gia đình ông Thắng ngang nhiên phá thêm diện tích rừng tự nhiên nhưng không bị xử lý nên ông này bị người dân tố cáo.
Ngày 13/5/2016, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động Nguyễn Văn Hiệu đã có bản kết luận nội dung tố cáo đối với ông Phạm Văn Thắng. Trong đó nêu rõ việc người dân tố cáo ông Thắng phá rừng tự nhiên trái pháp luật là có cơ sở. Tuy nhiên, thủ phạm chính trong việc tổ chức phá rừng lại là con trai ông Thắng, tức Phạm Văn Cương(?!). Tổng diện tích rừng bị phá là 26.056m2, xảy ra từ tháng 4/2014.
Liên quan tới việc phá rừng tự nhiên trái phép tại huyện Sơn Động, ngày 16/7/2015, TAND huyện Sơn Động đã đưa vụ án phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại xã An Lạc ra xét xử. Hai bị cáo trong vụ án này là Châu Văn Định (SN 1971), Châu Văn Chung (SN 1974) hộ khẩu thường trú tại thôn Biểng, xã An Lạc, huyện Sơn Động bị truy tố với tội danh hủy hoại rừng theo Điều 189 Bộ Luật hình sự.
Nguyên nhân là bởi vào khoảng tháng 3/2014, với lý do thiếu đất canh tác, các bị cáo đã tự ý chặt phá 4 ha rừng tự nhiên đã được Nhà nước giao để bảo vệ. Sau khi phát hiện vụ việc, Hạt Kiểm lâm Sơn Động đã hoàn thiện hồ sơ, chuyển Cơ quan CSĐT huyện Sơn Động đề nghị xử lý.
TAND huyện Sơn Động đã tuyên phạt Châu Văn Chung 3 năm 3 tháng tù giam và 5 triệu đồng; Châu Văn Định 3 năm tù cho hưởng án treo và 5 triệu đồng. Cũng với tội danh phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại xã An Lạc ngày 13 - 5 - 2015, TAND huyện Sơn Động đã xử phạt Lê Văn Vinh (SN 1981) thường trú tại thôn Đồng Bây xã An Lạc huyện Sơn Động 3 năm tù giam. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/7) đầu trang(
Các đối tượng đã điều chỉnh hướng camera lên phía trên để tạo điều kiện cho 5 xe vận chuyển lâm sản đi qua đoạn đường có hệ thống camera giám sát.
Vừa qua, UBND huyện Cư M’Gar (Đắk Lắk) có công văn gửi Hạt kiểm lâm huyện yêu cầu làm rõ việc lâm tặc ngang nhiên vận chuyển lâm sản và điều chỉnh hệ thống camera giám sát của huyện.
Tương tự, Huyện ủy Cư M’Gar (Đắk Lắk) cũng đã có văn bản gửi UBND, Công an, Hạt kiểm lâm huyện này và UBND xã Ea Kiết (huyện Cư M’Gar) yêu cầu kiểm tra xác minh đối tượng điều chỉnh camera giám sát của huyện.
Theo báo cáo, vào khoảng 20h - 20h30 phút ngày 21/6, tại điểm lắp đặt camera xã Ea Kiết (đoạn Ea Súp Thượng đi qua xã Ea Kiết) phát hiện một đối tượng có hành vi che chắn camera.
Đối tượng đã điều chỉnh hướng camera lên phía trên để tạo điều kiện cho 5 xe vận chuyển lâm sản trái phép đi qua đoạn đường có hệ thống camera giám sát.
Đến ngày 22/6, đối tượng tiếp tục đến nơi gắn camera của xã Ea Kiết điều chỉnh vị trí các camera trở lại như ban đầu.
Trả lời PV, ông Nguyễn Thượng Hải - Bí thư huyện Cư M’Gar cho biết, trước mắt chưa xác định được các xe này có vận chuyển gỗ lậu hay không, song chắc chắn là có “vấn đề”.
“Bởi nếu không làm điều gì khuất tất thì đối tượng không cần thiết phải điều chỉnh camera. Đơn vị sẽ tiến hành điều tra và cương quyết xử lý nghiêm vấn đề này, đồng thời xử lý rõ trách nhiệm các đơn vị liên quan”, ông Hải nói.
Được biết, việc lắp đặt camera là chủ trương của huyện Cư M’Gar nhằm tăng cường việc giám sát để kịp thời xử lý những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự trên địa bàn.
Hệ thống camera này được đặt tại 20 điểm trọng yếu của huyện và vừa được đưa vào vận hành thử ngày 15/6 vừa qua. (VTC News 1/7) đầu trang(
Trong thời gian qua, hàng chục ngàn hécta rừng Tây Nguyên đã bị tàn phá, xâm chiếm và chuyển đổi mục đích sử dụng.
Vì thế, hạn hán và lũ lụt đang chực chờ gây hại cho cuộc sống người dân nơi đây. Nếu không sớm đóng cửa rừng Tây Nguyên, những hệ quả đó sẽ xảy đến trong một ngày không xa.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, những năm qua, diện tích và chất lượng rừng Tây Nguyên tiếp tục suy giảm nghiêm trọng. Tính đến ngày 31-12-2014, Tây Nguyên còn hơn 2,25 triệu ha rừng tự nhiên, giảm 273.000ha so với năm 2010.
Trong đó: Diện tích rừng giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng 110.000ha (để trồng cao su, cây công nghiệp, cây ăn quả…); do quy hoạch địa phương là 37.800ha (xây dựng thủy điện, công trình giao thông, công trình công cộng…), do phá rừng và lấn chiếm đất rừng là 122.900ha (chiếm 45%)… Trong vòng 5 năm (từ 2010-2014), trữ lượng rừng Tây Nguyên cũng giảm hơn 57 triệu m3 (giảm từ 327 triệu m3 năm 2010 xuống 270 triệu m3 năm 2015).
Còn ông Ngô Đông Hải, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương, cho biết: Rừng Tây Nguyên đang bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng, chất lượng và đa dạng sinh học rừng. Tỷ lệ rừng gỗ loại giàu chỉ còn 10,4%, loại trung bình 22,7%, còn lại gần 67% thuộc loại nghèo kiệt.
Trong khi đó, việc chặt phá rừng trái phép vẫn tiếp diễn nhiều năm và có xu hướng phức tạp hơn. Việc mất rừng do chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng 72.000ha cao su, chuyển đổi 8.000ha xây dựng khoảng 50 công trình thủy điện đã làm cho hàng chục ngàn hécta rừng bị ngập trong lòng hồ, hàng chục ngàn hécta bị triệt phá.
Theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn, việc chuyển đổi rừng ồ ạt đã làm giảm sút nghiêm trọng diện tích và chất lượng rừng Tây Nguyên. Do nôn nóng trong việc phát triển kinh tế - xã hội địa phương, việc thực hiện các dự án chuyển đổi rừng, nhất là các dự án chuyển đổi rừng trồng cao su, đã triển khai ồ ạt và không tuân thủ các quy định của Nhà nước.
Trách nhiệm thuộc về chính quyền địa phương khi tổ chức triển khai nhiều dự án chưa đúng với quy định của Nhà nước về vấn đề quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, tổ chức tận thu gỗ.
“Ở một số địa phương còn có hiện tượng “lách luật” trong việc giao dự án khi chia nhỏ dự án dưới 1.000ha, cho dù trong vùng cùng chuyển đổi có quy mô hàng ngàn hécta, hoặc giao cho doanh nghiệp tự khảo sát và lập dự án. Trong khi đó, một số địa phương buông lỏng quản lý và không kiểm tra năng lực tài chính của các doanh nghiệp được giao rừng. Một số chủ dự án thiếu năng lực tài chính, thiếu nhân lực lao động tham gia thực hiện dự án. Nhiều chủ dự án để cán bộ làm ngơ, tiếp tay cho hành vi phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho hay.
Tại hội nghị về “Các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu” được tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột vào ngày 20-6 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Chính phủ tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên Tây Nguyên và không chuyển đổi hơn 2,25 triệu ha rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác, trừ các dự án quan trọng liên quan an ninh.
Không có chủ trương chuyển rừng nghèo, rừng cạn kiệt sang trồng cây công nghiệp. Yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, công an, kiểm sát, tòa án, quân đội… vào cuộc đấu tranh nâng cao trách nhiệm được giao ngăn chặn tàn phá rừng đã và đang xảy ra, làm rõ trách nhiệm từng diện tích, từng địa bàn rừng bị mất.
Rà soát lại giấy phép các cơ sở chế biến gỗ tự nhiên, qua đó phát hiện những sai phạm để xử lý. Ngừng cấp phép cho các thủy điện liên quan đến chiếm đất rừng và rừng, yêu cầu các dự án thủy điện thực hiện nghiêm trồng rừng thay thế. Kiên quyết thu hồi giấy phép đối với những dự án không chấp hành trồng rừng thay thế.
Ông Ngô Đông Hải cũng cho rằng việc Chính phủ ra lệnh đóng của rừng Tây Nguyên là rất cần thiết. “Tây Nguyên được coi là nóc nhà của Đông Dương, việc bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên là vấn đề đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Vì rừng không những bảo vệ cho Tây Nguyên mà còn chi phối lớn đến nguồn nước, môi trường sinh thái và sự phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh ven biển Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Đông Bắc Campuchia và Nam Lào. Đặc biệt, rừng ở đây còn gắn với không gian văn hóa cồng chiêng, tín ngưỡng, không gian sinh tồn của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên”, ông Hải chia sẻ.
Còn ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn - Đắk Lắk, cho hay: “Chủ trương đóng cửa rừng Tây Nguyên đã có từ năm 2014, khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Tăng cường công tác quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2014-2020. Đây là nỗ lực rất lớn của Chính phủ và Bộ NN-PTNT trong công tác bảo tồn rừng Tây Nguyên. Không chỉ có cá nhân tôi, các tổ chức quốc tế, các đơn vị quản lý rừng đều tán thành và rất đồng tình với chỉ đạo đóng tất cả cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ”. (Sài Gòn Giải Phóng 1/7) đầu trang(
Để bảo vệ rừng, Chủ tịch UBND các xã 1 tuần phải đi kiểm tra rừng 1 lần, còn Chủ tịch UBND huyện 1 tháng phải đi kiểm tra rừng 2 lần. Lãnh đạo tỉnh thì phải đi xử lý ngay các điểm nóng và đẩy mạnh giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 6.2016 diễn ra từ ngày 30-6 đến 1.7, Thủ tướng đã yêu cầu lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng, đại diện cho 5 địa phương ở Tây Nguyên phải trả lời dứt điểm câu hỏi: “Tây Nguyên có kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên hay không?”
Trả lời câu hỏi của Thủ tướng, ông Đoàn Văn Việt – Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, so với năm 1999, sau 15 năm, diện tích rừng của tỉnh đã giảm 11%- tương đương 106.176 ha.
Cụ thể, diện tích rừng hiện còn lại là trên 500.000 ha, độ che phủ còn 52,5%. Việc giảm diện tích rừng những năm qua là do việc chuyển đổi đất rừng, trong đó có việc làm thủy điện, do tình trạng phá rừng…
Theo ông Việt, tiêu chí xây dựng Đà Lạt là thành phố trong rừng, rừng trong thành phố nhưng tỷ lệ che phủ rừng cũng chỉ 49% dù hiện tại Lâm Đồng vẫn là tỉnh đứng thứ 2 ở Tây Nguyên về việc giữ, bảo vệ rừng (chỉ sau Kon Tum).
“Vì vậy, Lâm Đồng quán triệt chỉ đạo của Thủ tướng trong cuộc làm việc mới đây là đóng cửa rừng tự nhiên, lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng cam kết” – ông Việt cam kết.
Đại diện tỉnh Tây Nguyên này khẳng định Lâm Đồng đã chỉ đạo các Chủ tịch UBND xã là 1 tuần phải đi kiểm tra rừng 1 lần, còn Chủ tịch UBND huyện 1 tháng phải đi kiểm tra rừng 2 lần. Lãnh đạo tỉnh thì phải đi xử lý ngay các điểm nóng. Tỉnh cũng đẩy mạnh giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo ông Việt, thực tế, từ tháng 3.2011, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo dừng tất cả các dự án có vốn ngoài ngân sách đầu tư vào rừng, chỉ xem xét 2 loại dự án là dự án thủy điện và nuôi cá nước lạnh.
“Với các giải pháp đã triển khai, lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng tin tưởng là rừng Tây Nguyên sẽ vẫn giữ được diện tích như yêu cầu của Chính phủ” – ông Việt khẳng định.
Đánh giá Lâm Đồng có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện về kinh tế-xã hội thời gian qua, Thủ tướng cho rằng Lâm Đồng còn một số điểm bất cập, trong đó có tình trạng phá rừng, mặc dù không nghiêm trọng như ở các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông.
Thủ tướng hoan nghênh quyết tâm cao của Lâm Đồng trong việc thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên và không mở rộng diện tích cây công nghiệp ở địa phương.
Thủ tướng yêu cầu các tỉnh Tây Nguyên phải đi đầu trong việc đóng cửa rừng tự nhiên, có bộ máy, chế tài và quản lý tốt để thực hiện nghiêm chỉ đạo này. Chính phủ coi đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế-xã hội của Tây Nguyên.
“Nhân dân cả nước rất quan tâm đến việc đóng cửa rừng ở Tây Nguyên vì đây là nóc nhà Đông Dương, mất rừng Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng nhiều mặt đến các tỉnh miền Trung và Nam Bộ” - Thủ tướng nhấn mạnh.
Phát biểu tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên vào ngày 20.6, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, diện tích rừng Tây Nguyên tiếp tục suy giảm nghiêm trọng, liên tục những năm gần đây cả về diện tích, trữ lượng, độ che phủ rừng với 41% diện tích rừng đã bị mất, chất lượng rừng còn lại rất kém là vấn đề hết sức đáng lo ngại.
“Tình trạng này gây nên mất đa dạng sinh học, đe dọa trực tiếp đến biến đổi khí hậu vùng Tây Nguyên. Nếu không chấn chỉnh, rừng Tây Nguyên sẽ kiệt quệ, hậu quả khôn lường là điều tất yếu sẽ xảy ra” – Thủ tướng nói.
Do đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, Chính phủ tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển 2,25 triệu ha rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác kể cả các dự án được phê duyệt, trừ các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh. Không có chủ trương chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp. (Một Thế Giới 1/7) đầu trang(
Những bất cập trong quản lý, bảo vệ rừng và công tác chuyển đổi đất rừng, cũng như tình trạng di cư tự do là những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng tài nguyên rừng ở Tây Nguyên bị suy giảm nghiêm trọng.
Trong những năm qua các tỉnh Tây Nguyên đã đầu tư phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ đến phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, trong khi thực hiện chủ trương, chính sách và phát triển vùng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nảy sinh, bao gồm cả những bất cập trong việc quản lý, bảo vệ rừng, phát triển ngành lâm nghiệp. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), nguồn tài nguyên rừng Tây Nguyên đang bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đa dạng sinh học rừng cũng bị suy giảm.
Tỷ lệ rừng gỗ loại giàu chỉ còn 10,4%, loại trung bình là 22,7%, còn lại gần 67% thuộc loại rừng nghèo kiệt, các loại gỗ quý có giá trị cao còn rất hiếm, chỉ có ở các vùng xa xôi, hiểm trở, các loại thảo dược quý hiếm cũng bị khai thác cạn kiệt, số lượng động vật rừng giảm mạnh… làm cho môi trường sinh thái rừng Tây Nguyên trở nên đơn điệu, nghèo nàn. Khai thác, chặt phá rừng trái phép vẫn tiếp diễn trong nhiều năm và có xu hướng ngày càng phức tạp hơn. Cháy rừng, đốt rừng do các hoạt động cá nhân thường xuyên xảy ra.
Cũng theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, việc mất rừng còn do chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su với hơn 72.000 ha, chuyển hơn 8.000 ha đất rừng để xây dựng khoảng 50 công trình thủy điện; đồng thời, làm cho hàng ngàn héc ta rừng bị ngập trong lòng hồ, hàng chục ngàn héc ta rừng bị triệt phá…
Công tác quản lý, khôi phục rừng cũng còn nhiều bất cập. Cụ thể, 55 công ty lâm nghiệp chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp nhưng vẫn hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước, với nguồn nhân lực mỏng, năng lực và trách nhiệm có hạn, cơ chế quản lý bất cập… dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, buông lỏng quản lý rừng để mặc cho “lâm tặc” phá rừng, nhiều diện tích rừng trở nên vô chủ.
Bên cạnh đó, các tỉnh Tây Nguyên đã hình thành hàng loạt cơ sở chế biến gỗ không theo quy hoạch (hiện có 2.062 cơ sở); không gắn với vùng nguyên liệu dẫn đến tình trạng tiêu thụ gỗ bất hợp pháp, làm gia tăng tình trạng khai thác gỗ trái phép, thậm chí, tạo thành đường dây khai thác, tiêu thụ gỗ trái phép có hệ thống.
Cơ chế giao đất rừng sản xuất còn nhiều bất cập, thiếu minh bạch, chủ rừng không có phương án sản xuất phù hợp dưới tán rừng, thiếu vốn sản xuất. Tình trạng tăng dân số cơ học, chủ yếu dân di cư đến ngoài kế hoạch… cũng là những nguyên nhân dẫn đến đến tình trạng diện tích rừng ở Tây Nguyên ngày càng thu hẹp…
Khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên là nhiệm vụ thiết thực, cấp bách, góp phần quan trọng ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu không chỉ cho vùng Tây Nguyên mà còn cho cả vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước.
Ngày 20/6, tại thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp chủ trì hội nghị quy mô lớn với nội dung bàn về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, Chính phủ tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển trên 2,253 triệu ha rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác kể cả các dự án được phê duyệt, trừ các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Không có chủ trương chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng các loại cây công nghiệp. Bên cạnh việc tiến hành sắp xếp lại các nông, lâm trường để đảm bảo rừng, đất rừng có chủ, Thủ tướng Chính phủ cũng ra lệnh ngừng cấp phép các công trình thủy điện liên quan đến chính sách rừng, đất rừng, dừng hoạt động đối với các chủ dự án không chấp hành việc trồng rừng thay thế hoặc không chi trả chi phí bồi thường đất rừng, rừng…
Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ NN&PTNT sớm phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên hoàn thành việc rà soát, lập quy hoạch bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng khu vực Tây Nguyên vào năm 2017.
Thực hiện điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng bảo vệ chặt chẽ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên là rừng sản xuất, xem xét chuyển diện tích đất chưa có rừng quy hoạch phát triển rừng phòng hộ ở những khu vực thực sự không xung yếu hiện có sang rừng sản xuất để có quỹ đất giao cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ gắn với trách nhiệm khôi phục, phát triển rừng của chính quyền cơ sở.
Các tỉnh Tây Nguyên cũng rà soát, đánh giá cụ thể bố trí cây trồng nông nghiệp đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý. Chủ tịch UBND các tỉnh Tây Nguyên chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng. Cụ thể: Kiểm kê rừng, giao trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng đến Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã và chủ rừng.
Huy động các lực lượng đấu tranh, ngăn chặn tình trạng phá rừng lấy gỗ, lâm sản và đất sản xuất trái pháp luật, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, chống người thi hành công vụ. Rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng, mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp từ năm 2006 đến nay.
Kiên quyết thu hồi diện tích rừng, đất lâm nghiệp thuộc các dự án vi phạm pháp luật, xử lý dứt điểm, thu hồi 282.896 ha đất lâm nghiệp tranh chấp lấn chiếm để trồng lại rừng. Ngay tại Đắk Lắk, UBND tỉnh triển khai nhiều giải pháp tích cực để thu hồi gần 51.000 ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép để trồng lại rừng.
Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên cũng kiên quyết xử lý nghiêm, đúng pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương cải tạo, chuyển đổi rừng nghèo kiệt để trục lợi, đồng thời, giám sát, giải quyết kịp thời tình trạng di dân đến ngoài kế hoạch ngay trước khi người dân phá rừng lấy đất sản xuất…
Quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên đột xuất các cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm, đúng pháp luật, kiên quyết đình chỉ hoạt động các cơ sở chế biến gỗ vi phạm các quy định của Nhà nước. Tổ chức sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghệp theo đúng phương án tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt. (Tin Tức 2/7) đầu trang(
TS ELISABETH SIMELTON (người Thụy Điển, chuyên gia về biến đổi khí hậu ở Việt Nam) chia sẻ: Tôi rất hoan nghênh việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ra lệnh đóng cửa tất cả rừng tự nhiên để ngăn chặn đà suy giảm rừng ở Việt Nam.
Là người sinh sống và làm việc về mảng môi trường trong nhiều năm ở Việt Nam, tôi xin đóng góp một số giải pháp để giữ và bảo vệ rừng một cách hiệu quả hơn.
Việt Nam có diện tích rừng tự nhiên lớn, nên việc huy động nhân lực đủ để bảo vệ rừng khỏi bị xâm hại bởi những kẻ buôn lậu gỗ và lâm tặc thật sự là thách thức lớn.
Tôi cho rằng cần huy động người dân, đặc biệt là nông dân, vào việc giữ rừng bằng các cơ chế, chính sách khuyến khích.
Trên thực tế, những người bảo tồn, gìn giữ và phát triển các dịch vụ môi trường chưa được hưởng những lợi ích xứng đáng mà xã hội phải trả cho những nỗ lực của họ.
Cụ thể, tại Việt Nam dịch vụ môi trường rừng chi trả từ 200.000 - 362.000 đồng/ha rừng (số liệu cập nhật của cơ quan chức năng năm 2014) theo tôi là quá thấp.
Để tạo động lực cho người dân giữ rừng, cách tốt nhất chính là tăng mức chi trả cho họ. Theo tôi được biết, Chính phủ Việt Nam đang áp dụng mô hình “Chi trả dịch vụ hệ sinh thái/môi trường (PES)” - một công cụ kinh tế để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Bốn loại dịch vụ hệ sinh thái đang được trả phí là: Bảo vệ rừng đầu nguồn (cung cấp dịch vụ chất lượng nước, điều tiết nước, bảo vệ nơi cư trú dưới nước và kiểm soát ô nhiễm đất...); Bảo tồn đa dạng sinh học (phòng trừ dịch bệnh, giá trị hệ sinh thái...); Du lịch sinh thái; Hấp thụ cacbon (rừng hấp thụ cacbon làm giảm khí nhà kính, chống biến đổi khí hậu).
Do vậy, theo tôi, giải pháp là tăng phí dịch vụ hệ sinh thái/môi trường và qua đó tăng mức chi trả cho nông dân, bảo đảm họ được trả công xứng đáng.
Tôi nghe có một số ý kiến cho rằng trên thực tế nhiều người dân vì quá nghèo mà phá rừng, phát nương làm rẫy. Có giải pháp nào cho vấn nạn này không?
Tôi nghĩ là có và giải pháp cốt yếu chính là nâng cao nhận thức của người dân thông qua các khóa đào tạo, huấn luyện, các chiến dịch tuyên truyền về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học cũng như cảnh báo họ về các hậu quả của việc phá rừng.
Tôi lớn lên ở khu vực nông thôn Thụy Điển. Ngày còn nhỏ, tôi chứng kiến nhiều người vứt rác và những phế phẩm điện tử xuống các mương nước, gây ô nhiễm nguồn nước. Sau đó, chính phủ phát động các chiến dịch làm sạch Thụy Điển, huy động nhiều người tham gia.
Nhờ đó, Thụy Điển đã trở thành một trong những nước có môi trường sạch trên thế giới như hiện nay. Dĩ nhiên, việc nâng cao nhận thức cho người dân Việt Nam không chỉ là ngày một ngày hai mà cần cả một quá trình lâu dài.
Philippines là quốc gia có nhiều tương đồng với Việt Nam, chẳng hạn như cùng có hệ thống rừng nhiệt đới và phong phú về đa dạng sinh học.
Ở Philippines, người dân trở thành đối tác, người quản lý và người chủ của các tài nguyên rừng. Người dân bảo vệ rừng ở Philippines được trao quyền bán các sản phẩm rừng không phải là gỗ (NTFPs) ở cộng đồng của họ.
NTFPs bao gồm trái cây, hạt, rau quả, các loại thảo dược, chiết xuất thực vật... Việc được trao quyền này đã khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng bởi họ thấy được các nguồn lợi kinh tế từ việc bảo vệ rừng giúp ích trực tiếp cho cuộc sống của họ.
Để ứng phó với độ che phủ rừng giảm, dân số tăng, tình trạng đói nghèo ở vùng cao, nhu cầu gỗ và thức ăn tăng, các biện pháp xử lý tình trạng cho thuê rừng thất bại, năm 1995 Chính phủ Philippines ban hành pháp lệnh số 263 lấy quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) làm chiến lược quốc gia để phát triển bền vững đất rừng và các tài nguyên đất rừng.
Các chương trình hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng được thành lập nhằm trao cho cộng đồng quyền, trách nhiệm quản lý trực tiếp và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên rừng. Vì khi các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong việc tiếp cận tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ và quản lý rừng.
Theo tôi, nhờ các chính sách đúng đắn nói trên mà Philippines có chất lượng rừng và độ đa dạng sinh học tốt hơn so với Việt Nam.
Nhân tiện, tôi muốn đề xuất Chính phủ Việt Nam không chỉ nên tập trung đưa ra các giải pháp bảo vệ các khu vực rừng ở Tây nguyên mà còn cho tất cả các khu vực rừng trên khắp nước. Bởi nếu chúng ta tập trung nguồn lực đẩy lâm tặc và những kẻ buôn lậu gỗ ra khỏi một cánh rừng thì họ sẽ đi tìm cánh rừng khác. Ngoài ra, theo tôi, lực lượng kiểm lâm nên kết hợp với nông dân được giao giữ rừng để bảo vệ rừng một cách tốt hơn. (Tuổi Trẻ 3/7) đầu trang(
Công tác bảo vệ rừng trong 6 tháng đầu năm 2016 chưa bền vững, tình trạng chống người thi hành công vụ tại một số địa phương có chiều hướng tăng.
Đây là nhận xét của ông Nguyễn Quốc Trị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).
Báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp cho thấy, trong 6 tháng đầu năm, cả nước đã xảy ra 9.270 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng và quản lý lâm sản (giảm 338 vụ so với cùng kỳ), trong đó có 1.033 vụ phá rừng trái pháp luật, 3.799 vụ vi phạm vận chuyển, buôn bán lâm sản trái pháp luật.
Lực lượng chức năng đã xử lý 6.798 vụ, tịch thu hơn 10.086 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách hơn 96,5 tỷ đồng.
Cũng trong 6 tháng đầu năm, cả nước đã xảy ra 296 vụ cháy rừng, thiệt hại 2.713 ha, tăng 32 vụ cháy và 2.051 ha diện tích rừng bị cháy so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, tình trạng phá rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra nghiêm trọng tại một số vùng trọng điểm nhưng chưa được giải quyết dứt điểm tại huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên); tại các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp khu vực Tây Nguyên và tại một số Ban quản lý rừng phòng hộ trên cả nước.
Theo ông Nguyễn Quốc Trị, nguyên nhân của tình trạng trên là do một số cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đến công tác bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm tại một số địa phương chưa đổi mới tư duy, nhận thức, buông lỏng quản lý; sự phối hợp của các cơ quan tư pháp chưa quyết liệt...
Để giải quyết triệt để tình trạng này, ông Trị cho rằng, cần phải quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, cần có chế tài xử lý nghiêm các chủ rừng để xảy ra tình trạng mất rừng, cháy rừng...; có chính sách dân sinh giúp người dân sinh sống trong rừng, gần rừng có thu nhập từ rừng...
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã đề nghị các địa phương triển khai hàng loạt các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng.
Theo đó, các địa phương rà soát, kiện toàn Ban chỉ đạo về bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh đến cấp huyện, xây dựng quy chế hoạt động, giao nhiệm vụ cho các thành viên Ban chỉ đạo.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra truy quét các "đầu nậu", xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và những cơ quan, chủ rừng, đặc biệt là người có thẩm quyền nhưng thiếu trách nhiệm, có tiêu cực, để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm, tái lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác trái pháp luật, chống người thi hành công vụ.
Bên cạnh đó, kiểm tra, rà soát các cơ sở chế biến gỗ; quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm và kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các xưởng chế biến gỗ sử dụng gỗ bất hợp pháp hoặc cố tình không chấp hành quy định về quản lý.
Tiến hành kiểm tra, rà soát, toàn bộ diện tích đất rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm sử dụng sai mục đích tại các công ty, doanh nghiệp... kiên quyết xử lý vi phạm, thu hồi theo quy định của pháp luật các tổ chức, cá nhân vi phạm.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với cấp uỷ, chính quyền cơ sở đôn đốc các chủ rừng triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên diện tích được giao. Nếu chủ rừng thiếu trách nhiệm để rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm... kiên quyết xử lý trách nhiệm của chủ rừng theo quy định của pháp luật. (TTXVN/ Bnews 2/7) đầu trang(
Liên quan đến vụ rừng đặc dụng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông bị khai thác trái phép, qua kiểm tra của ngành chức năng, tình hình an ninh rừng trong khu vực này còn mất ổn định. Đã có hàng chục cây gỗ bị đốn hạ, con số vượt xa so với báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Bá Thước về công tác chỉ đạo, điều hành và an ninh rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông thì Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là đơn vị trực thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Thanh Hóa. Đơn vị này được giao quản lý diện tích rừng và đất lâm nghiệp gần 17.000 ha diện tích rừng, nằm trên địa bàn 4 xã: Thành Lâm, Thành Sơn, Cổ Lũng và Lũng Cao, của huyện Bá Thước.
Nhà nước đã ban hành khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng các quy định, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, cháy rừng và chống người thi hành công vụ; có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng thể; các dự án đầu tư cho công tác bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng đang triển khai thực hiện có hiệu quả…
Tuy nhiên, qua kết quả kiểm tra an ninh rừng của chủ rừng nhà nước Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông từ ngày 5 - 12/6 trên 8 tuyến cho thấy tình hình an ninh rừng tại Khu bảo tồn này "có vấn đề".
Ông Võ Minh Khoa - Phó Chủ tịch UBND huyện Bá Thước cũng cho biết, trong 8 tuyến mà lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra thì 7 tuyến có vấn đề.
Trước đó, sau khi báo Dân trí thông tin, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Bá Thước tham mưu cho UBND huyện thành lập đoàn kiểm tra. Sau đó, đơn vị này đã có báo cáo gửi các cơ quan báo chí và báo cáo Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa cũng như Chủ tịch UBND tỉnh. Báo cáo nêu có tổng cộng 11 cây gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 7 bị đổ gãy, lốc gốc, khai thác. Trong đó chỉ có 4 cây bị khai thác trái phép từ năm 2014 đến đầu năm 2016 với khối lượng 6m3 gỗ tròn. Báo cáo còn cho biết, tình trạng khai thác là nhỏ lẻ (!?).
Trong đợt kiểm tra này, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra 8 tuyến rừng của chủ rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Kết quả tổng số gỗ bị khai thác trái phép tại đây lên đến gần 65m3.
Kết luận của đoàn kiểm tra chỉ rõ, việc kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc ở cơ sở của lãnh đạo được phụ trách tuyến chưa được thường xuyên, công tác kiểm tra không thể hiện bằng văn bản. Công tác chỉ đạo điều hành của đơn vị còn chưa quyết liệt, sâu sát, việc nắm bắt thông tin cơ sở còn hạn chế nên dẫn đến an ninh rừng ở các tuyến phụ trách vẫn còn mất ổn định. Tình trạng khai thác gỗ trái phép vẫn còn xảy ra nhưng không kịp thời phát hiện hoặc có phát hiện nhưng còn chậm…
Về an ninh rừng trên diện tích được giao đang còn mất ổn định, tình trạng khai thác lâm sản vẫn còn xảy ra cụ thể tại các Tiểu khu nên trên nhưng kiểm lâm tiểu khu còn chậm phát hiện; không đưa ra được các giải pháp ngăn chặn kịp thời, chưa phối hợp kịp thời với chính quyền sở tại, thôn bản để tổ chức họp dân phát giác, tố giác đối tượng vi phạm.
Tại buổi làm việc với phóng viên Dân trí, ông Lê Thế Sự - Giám đốc kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông khẳng định, ngoài tuyến số 1, tại các tuyến khác không có hiện tượng khai thác rừng trái phép (?).
Ông Sự biện minh, quá trình bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông còn gặp nhiều khó khăn khi diện tích quản lý rộng, dân cư sống trong vùng lõi đông với 9 thôn và khoảng 2.000 nhân khẩu/500 hộ. Trong khi cả đơn vị chỉ có 33 biên chế nên không thể quán xuyến hết được. (Dân Trí 1/7) đầu trang(
Trên đường Hoàng Thị Loan thành phố Kon Tum, hàng chục cây xanh đang bị “bức tử”, thân cây bị lột vỏ đến tận gốc, nhiều cây đã chết khô, những cây khác đang héo lá rũ rượi. Các loại cây được trồng ở đây đường kính đã lớn khoảng 30-40cm.
Ông Trương Cảnh Vinh, Trưởng phòng Kế hoạch và Kinh doanh, Công ty CP Môi trường đô thị tỉnh Kon Tum cho biết: “Trên đường Hoàng Thị Loan có 219 cây, được trồng vào năm 2007- 2008, gồm nhiều giống như: bằng lăng, sao đen, xà cừ, viết, bàng, ngọc lan, si… trị giá mỗi cây khoảng 700.000 đồng. Dày công lắm mới trồng được một cây xanh tươi tốt như vậy, thế nhưng nhiều người vô ý thức lại ngang nhiên phá hoại, ảnh hưởng xấu đến mỹ quan đường phố”.
Ông Nguyễn Đình Chương, Giám đốc Cty Môi trường đô thị tỉnh Kon Tum băn khoăn: “Thủ đoạn nạo vỏ đóng đinh, đổ nhớt cho cây chết hiện rất nhiều, đối tượng càng ngày càng tinh vi. Mỗi khi phát hiện vụ việc chúng tôi đều báo với phường, đơn vị quản lý đô thị để phối hợp cùng giải quyết, nhưng việc xử lý thường rất khó khăn vì thiếu chứng cứ”. (Tiền Phong 1/7) đầu trang(
Tỉnh Bắc Cạn vừa quyết định dừng tổ chức bán đấu giá gỗ quý hiếm nhóm IIa là tang vật tịch thu từ các vụ khai thác, vận chuyển trái phép nhằm không để xảy ra tình trạng lợi dụng việc thanh lý, đấu giá lâm sản để hợp thức hồ sơ, thủ tục vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép.
Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn liên tục xảy ra các vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép với quy mô khá lớn; nhiều vụ ban đầu người vận chuyển và chủ gỗ không xuất trình được hồ sơ hợp pháp, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn lại trình ra được các loại hồ sơ, giấy tờ được coi là hợp pháp.
Một số “đầu nậu” thu mua gỗ quý hiếm khai thác trái phép, sau đó dùng bộ hồ sơ đấu giá lâm sản trước đó để hợp thức hồ sơ cho gỗ khai thác, thu mua trái phép nhằm che mắt cơ quan chức năng, làm cho tình hình vận chuyển, buôn bán lâm sản diễn biến phức tạp thời gian qua.
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Bắc Cạn chỉ đạo dừng đấu giá gỗ quý hiếm là tang vật trong những vụ khai thác, buôn bán, vận chuyển trái phép, UBND tỉnh yêu cầu Trung tâm bán đấu giá tài sản, Chi cục Kiểm lâm từ cuối tháng 5-2016 không bán đấu giá gỗ quý hiếm nhóm IIa. Chủ tịch UBND huyện Chợ Đồn Hà Sĩ Huân, Quyền Giám đốc Vương quốc gia Ba Bể Bùi Văn Quang đang quản lý địa bàn còn nhiều gỗ quý hiếm đồng tình với quyết định này.
Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Nguyễn Hữu Thắng nhận định, cùng với quyết định dừng bán đấu giá gỗ quý hiếm, tăng cường kiểm tra giám sát, chấn chỉnh lực lượng kiểm lâm trên địa bàn, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nếu kiểm lâm vi phạm, tiếp tay cho lâm tặc thì tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản quý hiếm trên địa bàn thời gian tới sẽ giảm. (Nhân Dân 1/7) đầu trang(
Theo Công an huyện Cam Lộ ngày 1/7, đối tượng Nguyễn Thanh Sơn đã bị bắt giữ về hành vi phá rừng phòng hộ đầu nguồn vào chiều 30/6.
Trước đó, ngày 16-17/5, Nguyễn Thanh Sơn (SN 1969, trú xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ) đã thuê Mai Xuân Cảnh (SN 1971) và Nguyễn Cao Lãm (SN 1978) cùng ở huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) san ủi lấn chiếm đất rừng tự nhiên với diện tích là 1,2 ha.
Hành vi của Sơn đã vi phạm vào tội hủy hoại rừng, được quy định tại khoản 3, điều 189 Bộ luật Hình sự. Công an huyện Cam Lộ đã tiến hành bắt giữ đối tượng Sơn để điều tra làm rõ vụ việc.
Được biết, Thủ tướng Chính phủ vừa ra quyết định đóng cửa rừng tự nhiên nhằm ngăn chặn việc khai thác rừng bừa bãi gây ảnh hưởng nghiêm trọng về môi trường sinh thái và tài nguyên rừng. (Tiền Phong 1/7) đầu trang(
Thời gian qua, đội ngũ nhân viên tuần rừng dưới sự quản lý, chỉ đạo, điều hành và giám sát của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang đã góp phần tích cực vào việc phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Từ năm 2011 đến năm 2015, đội ngũ tuần rừng của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang đã tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng được gần 4.000 lượt; tham gia cùng cán bộ kiểm lâm kiểm tra, phát hiện hàng trăm vụ vi phạm. Trong năm 2015 đã có 19 vụ do nhân viên tuần rừng chủ động, trực tiếp kiểm tra, phát hiện.
Chốt kiểm lâm Pắc Vãng thuộc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang đảm nhiệm quản lý có 28 khoảnh rừng, mỗi khoảnh rộng tới hàng trăm ha. Cứ 2 ngày, kiểm lâm cùng với tuần rừng ở chốt phải đi kiểm tra rừng một lần.
Mỗi lần đi như vậy từ sáng đến chiều tối mới về được đến chốt là hết một khoảnh rừng. Anh Dương Văn Thụ là nhân viên tuần rừng tại Chốt này hơn 4 năm nay. Trung bình mỗi ngày anh đi tuần hàng chục km đường rừng, trong 28 khoảnh rừng chỗ nào anh cũng thông thuộc, bất cứ chỗ nào có dấu hiệu xâm phạm đều có thể phát hiện và sẵn sàng kịp thời ngăn chặn ngay.
Anh Lê Hải Hiện, nhân viên tuần rừng Trạm Kiểm lâm xã Thanh Tương tại Chốt Bản Bung cho biết, gia đình anh có truyền thống về ngành lâm nghiệp, anh đã có được ý thức từ nhỏ về lợi ích của rừng mang lại. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp anh Hiện được nhận vào làm nhân viên tuần rừng của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang.
Anh thường xuyên nắm bắt từng khu vực trọng điểm trên địa bàn mình quản lý, ngoài ra anh thường xuyên tuyên truyền những lợi ích về rừng cho người dân trong thôn. Anh Hiện là một trong những nhân viên tuần rừng xuất sắc đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng Giấy khen.
Năm 2014, mô hình lựa chọn nhân viên tuần rừng là người địa phương đã phát huy hiệu quả tốt trong việc tuyên truyền, giáo dục, phòng ngừa và phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm. Ông Khổng Văn Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang cho biết, với sự tương đồng về ngôn ngữ, về phong tục tập quán và hiểu biết của mình, nhân viên tuần rừng có thể xâm nhập và nắm bắt sớm các nguồn tin và tình hình công tác bảo vệ rừng trên địa bàn.
Từ thông tin nắm được, nhân viên tuần rừng có thể trực tiếp tuyên truyền, vận động để ngăn ngừa vi phạm hoặc cung cấp thông tin cho UBND xã, cơ quan kiểm lâm để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm từ khi phát sinh.
Ông Đặng Văn Khuân, Trưởng thôn, kiêm nhân viên tuần rừng thôn Nà Cọn, xã Sơn Phú (Nà Hang) cho biết, nhân viên tuần rừng được bố trí tại các chốt bảo vệ rừng, án ngữ ở những vị trí quan trọng trong vùng lõi của rừng đặc dụng. Khi tiếp nhận nhiệm vụ, với cương vị vừa là trưởng thôn vừa là nhân viên tuần rừng, ông tính rằng, muốn bà con mình không phá rừng làm rẫy thì phải đảm bảo ổn định sản xuất cho bà con. Do vậy, ông đã huy động bà con trong thôn góp công, góp tiền làm được hàng chục km đường từ thôn ra các cánh đồng.
Không những thế, ông vận động bà con thực hiện cải tạo được cánh đồng hơn 3 ha, dẫn nước bằng đường ống từ mỏ nước vào. Có được mặt bằng sản xuất và có nước vào ruộng, ổn định lương thực, không bị thiếu gạo ăn bà con không phát rừng làm nương. Thêm vào đó những diện tích rừng mà trước đây bị xâm hại, ông Khuân đã vận động bà con đẩy mạnh trồng mới lại rừng, đến nay toàn bộ cánh rừng trên địa bàn thôn đều đã được phủ xanh.
Tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh còn rất phong phú. Nhiệm vụ bảo vệ rừng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, phải đối mặt với nhiều thách thức nguy hiểm. Trong khi lực lượng Kiểm lâm còn mỏng thì lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng là một bộ phận không thể thiếu trong trước mắt cũng như về lâu dài. (Báo Tuyên Quang 2/7) đầu trang(
Lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh Cao Bằng xác nhận, xe biển xanh gây ra tai nạn khiến cháu bé 4 tuổi gãy chân là của Chi cục Kiểm Lâm Cao Bằng.
Liên quan đến vụ tài xế xe biển xanh mang BKS 11B - 0457 có biểu hiện say rượu, gây tai nạn tại TP Cao Bằng vào tối 30/6, trao đổi với PVPhapluatplus.vn, ông Thang Trọng Dũng, Chánh Văn Phòng UBND tỉnh Cao Bằng xác nhận sự việc trên.
Theo ông Dũng, chiếc xe biển xanh trên đăng ký chủ sở hữu là Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng, người điều khiến gây ra vụ tai nạn là lái xe Bế Anh Khôi (SN 1970), lái xe của Chi cục Kiểm lâm.
Trước đó, như Phapluatplus.vn đã thông tin, vào tối 30/6, tại khu vực Km2, phường Sông Hiến, TP Cao Bằng đã xảy ra một vụ tai nạn, chiếc xe biển xanh gây tai nạn đâm gãy chân một cháu bé 4 tuổi.
Theo ông Dũng, sau khi xảy ra tai nạn, người nhà đã được nạn nhân đi điều trị tại Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội. Sau khi băng bó xong vết thương cho nạn nhân, sức khỏe hồi phục, gia đình đã đưa cháu bé đã trở về nhà điều trị.
Tuy nhiên, khi liên lạc với ông Đặng Thái Hạ, Trưởng Công an TP Cao Bằng tỏ ra ngạc nhiên: “Ai bảo cháu bé 4 tuổi gãy chân?” “Không có cái gì đâu! Bình thường ấy mà!”, “Cháu đi Việt Đức ở đâu thế thôi!”
Khi hỏi về vụ việc, ông Hạ cho rằng: “Anh ở dưới quê chứ có ở trên này đâu mà anh biết được”.
Theo nguồn tin của PV Phapluatplus.vn, sau khi xảy ra tai nạn, nhiều người dân phát hiện lái xe tình trạng nồng nặc mùi rượu, phải rất khó khăn mới bước ra được khỏi xe. Pháp Luật + 2/7) đầu trang(
Theo các nhà khoa học, phải mất ít nhất 50 năm hệ sinh thái biển của Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế mới có thể phục hồi như trước.
Theo khảo sát của các nhà khoa học trong Hội đồng Khoa học và Công nghệ nghiên cứu phân tích, đánh giá nguyên nhân hiện tượng hải sản chết bất thường tại một số tỉnh ven biển miền trung, sự cố xả thải của Formosa đã gây nên hậu quả nghiêm trọng đối với hệ sinh thái.
Hội đồng khoa học đã khảo sát tại các điểm Mũi Ròn Mạ và Hòn Sơn Dương (Hà Tĩnh), cảng Hòn La và đảo Hòn Nồm (đảo Yến) – Vũng Chùa (Quảng Bình), Cửa Tùng và Cồn Cỏ (Quảng Trị), Hòn Sơn Chà và điểm rạn Bãi Chuối, Bắc Hải Vân (Thừa Thiên – Huế).
Theo đánh giá, khoảng 50% diện tích san hô khu vực biển bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế đã bị phá hủy (trên tổng số gần 800 ha). Tại điểm khảo sát ở Cồn Cỏ (Quảng Trị) không thấy hiện tượng chết bất thường của san hô, cá và các sinh vật sống trên rạn, cũng như tìm thấy nhiều loài cá có giá trị kinh tế.
Trong khi đó, các điểm khảo sát còn lại đều cho thấy hệ sinh vật khá nghèo nàn và không tìm thấy các loài cá có giá trị kinh tế, chỉ bắt gặp một số cá thể thuộc họ cá Thia (Pomacentridae) ít có giá trị kinh tế.
Tại Cửa Tùng, các nhà khoa học không phát hiện thấy ấu trùng tôm hùm con ở các hốc đá, mặc dù theo ngư dân thì đây là thời điểm khai thác tôm hùm con tốt nhất trong năm.
Đặc biệt, hiện tượng cá chết hàng loạt xảy ra ở khu vực Thừa Thiên - Huế, ngoài các vấn đề có liên quan đến suy giảm đa dạng sinh học, phá hủy các sinh cảnh ngầm cho các loài thủy sản cư ngụ thì vấn đề đáng lo ngại hơn là làm mất đi các bãi đẻ truyền thống của các loài cá có giá trị kinh tế cao, dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái trong hệ do làm suy giảm khả năng bổ sung các cá thể tham gia vào quần đàn cá bố mẹ.
Ở khu vực điểm rạn san hô Bãi Chuối do rong tảo sẽ có cơ hội phát triển và che phủ hoàn toàn trên nền đáy là các tập đoàn san hô bị chết, dẫn tới làm mất các giá thể cho các ấu trùng san hô bám trong giai đoạn đầu.
Điều này có nghĩa là cần rất nhiều thời gian để có sự phục hồi cho các tập đoàn san hô tạo rạn cho khu vực ven bờ, kể cả trong trường hợp chất lượng môi trường ổn định trở lại. “Phải mất ít nhất 50 năm sau, hệ sinh thái biển ở bốn tỉnh này mới phục hồi lại như hiện trạng ban đầu”, TS Vũ Đức Lợi nhận định.
Đánh giá về mức độ nhiễm độc tại biển bốn tỉnh miền trung hiện nay, TS Vũ Đức Lợi, Phó Viện trưởng Viện Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Công nghệ nghiên cứu phân tích, đánh giá nguyên nhân hiện tượng hải sản chết bất thường tại một số tỉnh ven biển miền trung cho biết, về lý thuyết sau ba tháng 80% hàm lượng phenol và xyanua sẽ tự phân hủy.
Thời điểm này, các nhà khoa học đang làm đánh giá khảo sát tại 13 mặt cắt từ Vũng Áng (Hà Tĩnh) đến Thừa Thiên – Huế, phân tích các dạng trầm tích và xác định hàm lượng phenol và xyanua còn lại. “Là nhà khoa học, chúng tôi chưa thể có khuyến cáo gì cho người dân cho đến khi có các số liệu khoa học cụ thể”, TS Vũ Đức Lợi nhấn mạnh.
Bàn về các giải pháp “làm sạch” môi trường biển bị ô nhiễm, PGS, TS Trịnh Văn Tuyên - Viện trưởng Viện Công nghệ Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng: “Biển có khả năng tự làm sạch. Chúng tự hấp phụ và tự động nhả hấp phụ, nồng độ chỗ nào cao thì tự chuyển sang nơi có nồng độ thấp. Độc tố sẽ hòa tan dần dần và giảm đi theo thời gian.
Trong môi trường nước, kể cả trong nước biển, vi sinh tự phân hủy được. Tuy nhiên đó là giả định sẽ không có thêm chất thải gì tiếp thải ra nước biển, còn nếu vẫn còn chất thải thải ra biển thì chất thải sẽ cộng hưởng thêm”.
PGS, TS Trịnh Văn Tuyên cũng cho biết, môi trường biển gồm nước biển, trầm tích biển và san hô. Về nước biển, các nhà khoa học cùng các cơ quan liên quan đã lấy mẫu phân tích rất cẩn thận, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển rất thấp, chỉ duy nhất hàm lượng sắt đo được ở trạm Sơn Dương là hơi cao hơn so với tiêu chuẩn.
Còn lại trầm tích, các nhà khoa học phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường đang khảo sát, đo đạc tại 13 mặt cắt vào những thời điểm khác nhau để xem sự giải hấp, biến thiên của độc tố như thế nào, trong quá trình giải hấp, nồng độ độc tố giảm dần hay vẫn giữ nguyên. Kết quả này sẽ là cơ sở để đưa ra phương án xử lý ô nhiễm môi trường biển khu vực bốn tỉnh miền trung.
TS Vũ Đức Lợi cho rằng, nếu hàm lượng phenol, xyanua còn lại ở trong nước biển vẫn cao, đồng thời có kim loại nặng thì bắt buộc phải hút trầm tích vì kim loại nặng không tự phân hủy.
Nếu dùng phương án này thì sẽ phải huy động các tàu hút để thực hiện. Sau đó chúng ta sẽ phải tạo ra các hố rất to và sâu để chứa trầm tích, đồng thời sẽ tiến hành các công đoạn xử lý, chôn lấp an toàn.
Là chuyên gia trực tiếp kiểm tra, đánh giá công đoạn xả thải của Formosa, PGS, TS Trịnh Văn Tuyên đánh giá, phần lớn các hạng mục công nghệ sản xuất thép của Formosa tốt, tuy nhiên công nghệ xử lý nước thải cần có cải tiến và phải được kiểm soát chặt chẽ hơn nữa.
Một trong những nguồn gây ô nhiễm chính là do quy trình luyện cốc của Formosa, để khắc phục tình trạng này Formosa cần phải thay công nghệ dập cốc ướt thành dập cốc khô.
Đoàn các nhà khoa học đã cùng với các cán bộ quản lý nhà nước về môi trường yêu cầu Công ty Formosa cải tiến và hoàn thiện công nghệ xử lý và giám sát chất lượng môi trường. “Ngoài vấn đề yêu cầu Formosa xả thải phải đạt tiêu chuẩn và phải hành động điều chỉnh tiêu chuẩn xả thải, các cơ quan chức năng Việt Nam cần phải giám sát chặt chẽ hơn nữa việc xả thải.
Tuy nhiên, cũng cần phải xây dựng các bể kiểm tra thử độc tính sinh học của động thực vật đối với nước thải sau xử lý để bảo đảm chất lượng nước xả thải. Có như vậy, môi trường, hệ sinh thái biển mới có thể nhanh chóng phục hồi”, PGS, TS Trịnh Văn Tuyên lưu ý. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 4/7) đầu trang(
Bốn năm nay, một cựu binh “gọi” được 86 con voọc về sinh sống trên 174 hecta lèn đá thuộc hai xã Thạch Hóa và Đồng Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình). Đây là sự kiện lạ vì vùng lèn đá vôi ở sát khu dân cư thuộc diện 135 trở thành một “thế giới” yên bình của loài voọc.
Người cựu binh là trung tá Nguyễn Thanh Tú, 54 tuổi, nguyên Phó Đồn trưởng Đồn biên phòng Cà Roòng (đồn 593). Sau khi nghỉ hưu ở xã Thạch Hóa, với kỳ tích phát hiện và bảo vệ cho đàn voọc sinh trưởng, người dân địa phương “tặng” cho ông: Tú “voọc”.
Ông kể: “Đầu năm 2013 tui vô eo lèn Hung Sú phát cây tạp trồng cây sưa. Đang làm thì nghe tiếng sột soạt trên lèn cao. Nhìn lên thấy mấy cục màu đen di chuyển trong lùm cây. Hoảng quá vì chưa biết vật màu đen là gì thì thấy những cái đuôi cũng màu đen dài ngoẵng phía sau. Tui sực nhớ khóa tập huấn “tăng cường năng lực nhận dạng loài, quản lý bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học” do cơ quan Cites VN tổ chức năm 1999 tại Nghệ An cho cán bộ kiểm lâm, biên phòng nên đoán đó là loài voọc. Về tra Google, biết voọc đen đuôi dài, má, gáy viền lông trắng là voọc Hà Tĩnh. Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thì voọc Hà Tĩnh thuộc nhóm động vật hoang dã quý hiếm đang nguy cấp, cần được bảo vệ”.
Hôm sau, ông Tú vào lèn để ý là gặp voọc. Ông luồn lách cây lá tìm cách tiếp cận đàn voọc. Có lần ông bò cách đàn voọc khoảng 50 mét, mở nhạc từ điện thoại cốt để cho voọc nghe. Nghe quen rồi voọc không bỏ chạy như trước. Cuối năm 2013, ông mừng rơn khi tivi thông báo: Ai phát hiện cá nhân, tổ chức buôn bán động vật hoang dã thì báo về đường dây nóng 18001522.
“Nghĩ một mình không dễ bảo vệ đàn voọc nên tui gọi đường dây nóng báo tin. Một cô gái cầm máy nghe rồi xin số điện thoại, địa chỉ của tui và dặn: “Ông cứ yên tâm, cháu báo cáo lãnh đạo rồi sẽ trả lời”. Nhưng chờ mãi không thấy hồi âm, tui nghĩ mình phải tự bảo vệ thôi. Mình phải siêng vô lèn hơn để theo dõi sát sao và bảo vệ đàn voọc” - ông Tú nói.
Nhưng sự đời không như ông nghĩ. Năm 2015, anh Nam (người cùng xã) đi rẫy về báo cho ông có hai con voọc bị bắn chết dưới Khe Đá. Ông vù xe máy vô ngay nhưng đến nơi chỉ còn vết máu loang. Hôm sau, ông nhận tiếp tin -một con voọc bị bắn đang nằm ở cửa eo lèn Tang Bồng. Ông vô nhưng không còn con voọc xấu số. Ông giật mình vì nạn săn bắn voọc nên gọi điện gấp cho Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nhờ họ báo ngay với tổ chức cứu hộ động vật để có biện pháp bảo vệ đàn voọc.
Hai ngày sau, Chi cục kiểm lâm Quảng Bình, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, huyện Tuyên Hóa và một số nhà khoa học về kiểm tra thông tin. Sau một tuần họ kiểm đếm được 86 con voọc trong đó có 17 con voọc non. Dự đoán bầy voọc có khoảng 115 con. Đó là dịp hình ảnh đàn voọc Hà Tĩnh trên lèn đá vôi thuộc hai xã này được chụp, đưa lên truyền hình.
Tiếp đó, Hội thảo khoa học về voọc Hà Tĩnh được tổ chức ở TP. Đồng Hới (Quảng Bình). Ông Tú cũng được mời đi hội thảo. Ông tâm sự: “Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở các trường đại học và lãnh đạo tỉnh bàn thảo hiện chỉ còn không quá 800 con voọc Hà Tĩnh ở vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng. Rất có thể đàn voọc này từ trong đó di chuyển ra. Tui vừa mừng vừa lo. Mừng vì đã có người quan tâm. Lo vì thợ săn rình rập, hàng quán quảng cáo thịt thú rừng bắt đầu mọc lên”.
Ông Tú mang ba lô, đeo ống nhòm, máy ảnh dẫn tôi vào eo lèn Cây Gạo. Vừa lúc lùm cây trên lèn chuyển động, ông đưa ống nhòm lên nhìn, chỉ cho tôi thấy đàn voọc đang đu xuống thấp tìm chồi lá non hoặc quả cây rừng.
Lần đầu tiên tôi được ngắm đàn voọc bồng con thì ông kể chuyện trèo lèn gian nan gùi nước lên chống khát cho voọc: “Mùa hè, lèn đá vôi nắng nóng gay gắt. Biết voọc sẽ khát nên sáng tinh mơ tôi dậy lấy khoảng 5 lít nước vào bịch nilon gùi lên lèn, đổ vào âu đá lõm xuống như cái chậu. Sợ thiếu, lần sau cố gùi 10 lít. Nhiều lần phải dừng bên dốc lèn dựng đứng để nghỉ lấy sức vì “đọa” (mệt) vô kể. Cực hơn là mùa đông, đêm đêm phải đi tuần hội săn trộm. Bọn này thường vào buổi chiều để rình voọc ngủ hang nào, tối là chúng mò lên vây lưới bịt cửa hang bắt cả bầy”.
Đêm đi tuần, 21 giờ ông mới về. Có đêm trời mưa gió nhưng nghe tin thợ đơm (bẫy) đã “lót ổ” nên ông phải trèo lên lèn để tháo bẫy. Trời tối, ông đi lò dò nhưng không dám bật đèn pin, đoạn nào khó quá thì dùng điện thoại soi đường. “Sợ nhất là rắn rừng. Khổ nhất là đêm tối mịt, leo trầy trật trên vách đá tai mèo. Nhưng nghĩ mình không đi để voọc dính bẫy là mang tội nên cực mấy vẫn cố đi" - ông Tú nói.
Nỗi lo của ông Tú “voọc” tăng dần theo tin báo về những tay săn voọc khét tiếng khiến ông không thể yên lòng với việc vô lèn đá làm rẫy như lâu nay. Ông quyết định dừng việc trồng cây sưa để đi săn thợ săn bằng cách vào vai chủ nhà hàng thịt thú rừng đi tìm mua voọc. Ông giấu máy ghi âm, tiếp cận một thợ đơm voọc tên P. ở sát chân lèn xã Đồng Hóa.
Nghe ông Tú hỏi mua voọc, P. mau miệng khoe: “Tui chuẩn bị đi đơm voọc đây”. P. kể một loạt “thành tích”: “Có buổi sớm tui đơm được năm con. Do con voọc có tình cảm như con người nên một con dính bẫy là cả bầy quây quần, bỏ ăn bỏ uống rồi mắc bẫy hết. Tất cả các con voọc đều trói cặp cánh (trói quặt bốn chân ra phía sau) trước khi đem nhập, giá 80.000 đồng/kg”.
Hôm khác, ông Tú tiếp cận thợ săn M., người xã Châu Hóa. Đây là thợ chuyên nghề bắn đón nẻo. Ông giải thích kiểu bắn đón nẻo như sau: Biết quy luật của loài voọc cứ sau 2 - 3 ngày di chuyển lại quay về vị trí cũ nên khi trời chưa sáng M. đã rúc vô lèn nằm phục bên tảng đá. Khẩu súng săn để sẵn hướng nhằm vị trí con voọc đầu đàn thường ngồi. Khi voọc quay về thì con đầu đàn ngồi gác cho cả bầy ăn. Lúc đó M. chỉ việc bóp cò. Con voọc rơi “kịch” xuống đất. Một lần ở miếu Tam Quan, M. không chọn bắn con đầu đàn mà “bắn ngang”, nghĩa là gặp con nào bắn con đó, không kể voọc to, voọc nhỏ vì đang khát “hàng”.
Quay về xã Thạch Hóa, ông thuyết phục một nữ giáo viên có chồng là cán bộ nhà nước nhưng thứ 7, chủ nhật về nhà là xách súng đi bắn voọc. “Tui nói nhưng họ cãi. Tui hỏi, voọc là động vật hoang dã, quý hiếm nếu nó bị bắn chết chị có xót, có thương không. Họ im lặng. Đến khi tui nêu tình huống - nếu cơ quan chức năng bắt được chồng chị bắn chết voọc, họ xử lý hình sự đấy. Lúc đó, chị ta mới xuống giọng: Thế thì cho nhà em đi bảo vệ với ông Tú “voọc” luôn”.
Đó là dịp Chi cục kiểm lâm Quảng Bình nhờ ông Tú chọn cho một tổ bảo vệ đàn voọc. Ông Tú “đánh bài ngửa” với hội thợ săn đã gặp để thu phục họ quay về làm bảo vệ với mình. Nghe chuyện, bốn thợ đơm, thợ săn chuyên nghiệp nể trọng ông nên đồng ý và xin làm bảo vệ đàn voọc.
Ông nói thật: “Đây là tổ bảo vệ tự nguyện, không có phụ cấp chi mô. Bốn anh hiểu rõ địa bàn, làm vệ tinh cho tui. Hễ nghi người lạ vô lèn săn, đơm voọc chỉ cần nháy điện thoại để tui gọi lại cho đỡ tốn tiền”. Tôi hỏi ông Tú: “Thế anh ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, chị vợ không kêu ca chi à”.
“Tui có lương hưu. Vợ con, bố mẹ tui ai cũng ủng hộ khi biết tui vác tù và hàng tổng vì sinh mạng của bầy voọc. Thêm nữa, hai xã này bảo vệ được voọc có nghĩa bảo vệ luôn quần thể dãy lèn đá vôi. Không như một số địa phương khác bán tuốt lèn cho nhà máy xi măng. Họ đã đến đây mua mấy dãy lèn này với giá 60 triệu đồng/sào nhưng không ai bán vì bán lèn thì voọc ở mô” - ông Tú nói rõ to. (Lao Động 2/7) đầu trang(
Suốt ngày “làm bạn” với những con vật hoang dã, cứu chữa, chăm sóc chúng và chờ ngày thả về với rừng xanh là công việc của các nhân viên Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã thuộc Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát.
Đây thực sự là một nghề nguy hiểm, nguy cơ tai nạn và thương tích rất cao nhưng vượt lên tất cả, tình thương đối với loài vật, tình yêu với rừng đã giúp họ gắn bó, say mê cùng công việc.
Giữa mùa hè, đất trời Con Cuông nóng bức như rang, dòng sông Lam nhiều đoạn trơ đáy, muông thú đều tìm cho mình chỗ trú ẩn để tránh cái nắng chói chang. Mặt trời đứng bóng, sau bữa cơm trưa, anh Phan Hữu Huấn tranh thủ ra tắm cho 2 chú lợn rừng nhốt trong chuồng. Hai chú lợn đang nằm thở phì phò, như bừng tỉnh đứng dậy đón luồng nước mát lạnh, rồi nhanh nhẹn lượn vòng quanh chuồng…
Tạm ngừng công việc, anh Huấn chia sẻ: “Lợn là loài vật có khả năng chịu nóng kém, nên ngoài việc tăng cường nguồn thức ăn, đảm bảo dinh dưỡng, phải thường xuyên tắm cho chúng, đề phòng thiếu nước dẫn đến kiệt sức”. Tắm xong cho lợn rừng, anh Huấn lần lượt qua chuồng khỉ, chuồng gấu và điểm nhốt ba ba để kiểm tra. Xong chừng ấy việc, anh Huấn mới yên tâm nghỉ trưa...
Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã của VQG Pù Mát là nơi “tạm trú” của các loài động vật tịch thu được từ hoạt động săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trên địa bàn toàn tỉnh để cứu chữa, chăm sóc trước khi được đem thả vào rừng tự nhiên.
Trung tâm đang sở hữu 1,5 ha diện tích rừng và hệ thống chuồng trại gồm 5 chuồng lớn đảm bảo cứu hộ tạm thời cho các loài: thú ăn thịt, linh trưởng, nhím, tê tê...; 1 chuồng cứu hộ các loài thú móng guốc; 2 khu cứu hộ rùa cạn và rùa nước; 6 chuồng sắt cứu hộ các loài mèo, cầy...
Đồng thời, đảm bảo các điều kiện tối thiểu về trang thiết bị để thực hiện tốt các nhiệm vụ cứu hộ như đồ nghề thú y, các loại dụng cụ cho ăn, chăm sóc thú, tủ lạnh bảo quản thuốc và có hồ sơ quản lý theo dõi công tác cứu hộ hàng ngày.
Anh Huấn dẫn chúng tôi đi một vòng quanh các chuồng trại để tham quan, ngoài 4 cá thể lợn rừng vừa tắm, còn có thêm 6 cá thể khỉ, 2 cá thể gấu ngựa, 5 cá thể kỳ đà, 11 cá thể rùa, 1 cá thể vượn đen má trắng. Số động vật hoang dã này đều do các lực lượng chức năng tịch thu và bàn giao cho Trung tâm trong thời gian gần đây.
Sau tiếp nhận, các cá thể động vật này được đưa về nuôi nhốt, và được các nhân viên Trung tâm chăm sóc, chữa trị các vết thương, từng bước thuần dưỡng, đến thời điểm phục hồi sức khỏe, đủ khả năng sinh sống ngoài môi trường sẽ được thả vào vùng lõi VQG Pù Mát.
Nhân viên Trung tâm cứu hộ gồm 3 người, ngoài anh Phan Hữu Huấn còn có anh Nguyễn Tất Hà và Thái Văn Trung. Cả 3 anh em đều ở miền xuôi, vài ba tuần hoặc 1 tháng mới có điều kiện sắp xếp về thăm gia đình. Tốt nghiệp ngành thú y, 3 người lên đây liên hệ công việc và được phân công nhiệm vụ cứu chữa, chăm sóc những cá thể động vật hoang dã tịch thu được trong các vụ săn bắt và buôn bán.
Công việc hàng ngày của các anh là chuẩn bị thức ăn, chăm sóc, chữa trị vết thương (nếu có) cho các cá thể động vật và tổ chức vệ sinh, xử lý chuồng trại. Nghe qua, tưởng chừng không quá nặng nề, nhưng khi bắt tay vào việc mới thấy thực sự không hề đơn giản.
Bởi lẽ, thức ăn của các loài vật hoang dã thường khác nhau, có loài ăn tạp, nhưng cũng có loài khá kén thức ăn, mỗi ngày việc tìm và đặt mua thức ăn cho các loài vật đang được nuôi nhốt tại trung tâm không hề dễ dàng. Đã thế, mỗi cá thể lại có sở thích ăn uống riêng, buộc các nhân viên phải nắm rõ về thói quen ăn uống.
Chẳng hạn, cũng là lợn rừng nhưng cặp ở chuồng bên phải thích ăn các loại củ quả như bầu, bí, khoai, sắn và chuối; còn cặp ở chuồng bên trái lại thích ăn các loài rau như rau khoai, rau muống và bắp ngô. Thành ra, cùng một loài nhưng việc chăm sóc và tìm kiếm nguồn thức ăn cũng khác nhau, đòi hỏi người chăm phải kỳ công hơn. Hay với 5 chú kỳ đà đang được chăm sóc, anh Huấn có thể nắm rõ đặc tính từng con về món ăn ưa thích cũng như địa điểm trú ẩn.
Việc tìm kiếm nguồn thức ăn cũng không quá khó khăn, chỉ cần bỏ thêm thời gian và công sức, điều đáng nói hơn là những rủi ro và hiểm nguy có thể gặp phải khi tiếp xúc với các loài thú hoang dã. Với bản năng sinh tồn, chúng sẵn sàng tấn công tất cả những đối tượng chúng cho là gây ra mối nguy hiểm.
Đặc biệt, những loài vật hoang dã bị con người bắt giữ và gây tổn thương trên cơ thể thường trở nên hết sức hung dữ, khi thấy bóng dáng con người xuất hiện, chúng luôn cảnh giác và sẵn sàng lao vào tấn công. Ngay cặp lợn rừng những ngày mới đưa về nhốt, mỗi lần anh Phan Hữu Huấn mang thức ăn ra chúng đều “gằm ghè” như muốn nhảy đến để cắn xé.
Có lần, anh đang dọn dẹp, tẩy rửa chuồng, một chú lợn lấy hết tốc lực lao tới chân, rất may anh kịp thời phán đoán được tình huống và nhảy lên bám lấy tấm lưới dùng để phân cách các ngăn. Nếu không nhanh, hôm ấy chắc chắn bắp chân hoặc đầu gối của anh đã “dính” hàm răng của lợn rừng.
Hay lần khác, anh Nguyễn Tất Hà tiếp cận một chú khỉ vừa bị người dân bản địa đánh bẫy làm đứt một chân, thấy người bước vào chú khỉ này liền xông tới cào xé vào tay, vào mặt để giải tỏa nỗi đau đớn và tức giận. Với các loài thú hung dữ khác như hổ, gấu, cá sấu..., các nhân viên phải luôn cảnh giác, đề phòng và giữ đúng khoảng cách, nếu không rất dễ gặp “tai nạn nghề nghiệp”.
Những con thú bị sập bẫy hầu hết đều bị thương ở mức độ khác nhau, anh Huấn và các đồng nghiệp tìm giải pháp cứu chữa, chăm sóc. Với vết thương ở mức bình thường thì không quá khó khăn, nhưng với vết thương nặng, các anh phải tiến hành gây mê để phẫu thuật.
Khó nhất là khi tiếp cận để khống chế và gây mê, chúng đau đớn, vật vã thảm thiết. Khi tỉnh lại, bị kiệt sức, những con thú đáng thương ấy được các nhân viên cứu hộ “dỗ” từng bữa ăn để nhanh chóng hồi phục. Dần dần, nhận thấy được sự chăm sóc và quan tâm, chúng bắt đầu nhìn các anh bằng ánh mắt thân thiện, có vẻ như cũng cảm nhận được đó là những ân nhân, kể cả loài nhát như là kỳ đà.
“Vài ba tuần tôi mới được về nhà với con, vừa về đến nơi phải tranh thủ giúp vợ một vài công việc lại đã phải tính chuyện trở lại cơ quan”- anh Nguyễn Tất Hà tâm sự. Mấy năm làm nhân viên cứu hộ, anh Hà nhận ra một điều rằng, các loài thú hoang dã có thể cảm nhận được quan tâm, chăm sóc ân cần của mình và đáp lại bằng sự thân thiện, bản năng hung dữ giảm đi phần nào.
Dần dà, anh có việc đi đâu vài ngày, lúc trở về liền chạy vội ra các chuồng xem xét, những con vật cũng nhảy lên và cất tiếng kêu, biểu lộ mừng rỡ. Anh nhớ mãi chú khỉ bị sập bẫy đứt lìa chân lần ấy, bị nó cào xé khắp người nhưng anh vẫn kiên trì thuần hóa. Qua mấy tháng, anh và chú khỉ gần như thành đôi bạn, có những lúc khuya vắng, anh ra đứng cạnh chuồng khỉ như để chuyện trò cho vơi nỗi nhớ gia đình. Rồi cũng đến ngày chú khỉ phục hồi sức khỏe, lãnh đạo VQG Pù Mát quyết định thả nó về với rừng xanh.
Anh Hà cùng mấy người nữa đưa nó vào vùng lõi, lúc bước ra cửa lồng, chú khỉ đứng nhìn anh trân trân. Mọi người quay về, nó đi theo một đoạn xa, rồi trèo lên một cây cao dõi theo và hú lên những tiếng như là lời cảm ơn và chào tạm biệt. Trở về, mất mấy tuần liền anh Hà không tránh được nỗi buồn mỗi khi qua cái chuồng trống trải nơi từng nhốt chú khỉ cụt chân ấy...
Chứng kiến công việc hàng ngày của nhân viên cứu hộ động vật hoang dã, không khỏi khâm phục công việc âm thầm, lặng lẽ nhưng hết sức hữu ích của các anh. Nhờ các anh, nhiều cá thể động vật hoang dã bị săn bắt và buôn bán được chăm sóc và trở về với môi trường tự nhiên, góp phần làm cân bằng môi trường sinh thái... (Báo Nghệ An 3/7) đầu trang(
Hạt trưởng hạt kiểm lâm số 1 cho hay, hiện tại, đơn vị đang phối hợp với cơ quan chức năng tìm ra nguồn gốc cá sấu nặng 70kg người dân bắt được ở đầm Vân Trì ngày 29/6.
Rạng sáng 29/6, ông Lê Văn Bình, 55 tuổi, ở xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội đi đánh cá trên đầm Vân Trì đã bất ngờ bắt được cá sấu nặng 73kg, dài gần 3m. Đến 10h cùng ngày, ông Bình đã bán cá sấu cho một người dân ở địa bàn với giá 8 triệu đồng.
Sau đó, nhiều người dân sống ở quanh khu vực hoang mang và đặt ra câu hỏi con cá sấu này từ đâu mà có. Liệu trên đầm Vân Trì có còn con cá sấu tương tự như vậy?
Ngày 30/6, phóng viên về khu đầm Vân Trì tìm gặp người đàn ông bắt được cá sấu. Lúc này ông Bình đang ở trong căn nhà nhỏ ở ven đê. Khuôn mặt đen sạm, ánh mắt lo lắng, ông Bình nói: “Đến bây giờ tôi vẫn chưa hết sợ. Nếu biết trước là con cá sấu ở trong đầm thì không bao giờ dám bắt, nhìn thấy cá sấu nặng hơn 70kg ai cũng phát khiếp”, ông Bình nói.
Ông Bình kể, sau khi bắt được cá sấu, khoảng 7h ngày 30/6, có một người đàn ông khoảng 50 tuổi đến đầm Vân Trì tự giới thiệu là nhân viên của Khu du lịch sinh thái Cọ Xanh (xã Nam Hồng, huyện Đông Anh). Người đàn ông nói con cá sấu vừa bắt được bị sổng chuồng từ nơi họ làm việc (khu Cọ Xanh) ra ngoài đầm.
“Tại đây, họ trả tôi hơn 7 triệu đồng để mua lại con cá sấu. Tôi có nói rằng nếu muốn mua với giá đó thì phải mang tiền mặt ra thì tôi mới bán. Tuy nhiên, tôi chờ đến 10h sáng cùng ngày, vẫn không thấy người đàn ông quay lại mua cá sấu”, ông Bình nói.
Theo người dân ở gần khu vực, sau khi bắt được cá sấu, nhiều người dân lo sợ ở khu vực đầm Vân Trì vẫn còn cá sấu. “Một số người dân ở gần khu đầm Vân Trì đã cấm không cho trẻ nhỏ ra gần khu vực đầm chơi. Hiện nay, chỉ có ít số hộ dân làm nghề chài lưới vẫn tiếp tục đánh bắt cá ở trên đầm”, một hộ dân làm nghề chài lưới ở gần khu vực thông tin.
Ông Nguyễn Tôn Tính – Phó chủ tịch UBND xã Vân Nội cho biết, đầm Vân Trì hay có tên gọi là sông Thiếp, có diện tích rất lớn, bắt nguồn từ huyện Mê Linh chảy qua huyện Đông Anh và đổ về hạ nguồn ở tỉnh Bắc Ninh. Chính vì vậy, hiện nay, rất khó xác định được con cá sấu mà ông Bình bắt được là từ đâu ra.
“Khi chúng tôi nghe tin xuống khu đầm thì người mua cá sấu đã đi rồi nên hiện nay chưa thể xác minh được ai mua cá sấu, đến từ đâu. Ở địa bàn xã cũng không có hộ gia đình, hay tập thể nào nuôi cá sấu và từ trước đến nay cũng chưa có người dân nào bắt được cá sấu trên đầm Vân Trì”, ông Tính nói.
Ông Vũ Đình Quân, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm số 1 (Chi Cục kiểm lâm Hà Nội) cho hay, khi nghe thông tin, đơn vị có cử cán bộ xuống khu đầm nhưng không gặp được người mua cá sấu. Hiện tại, trên địa bàn huyện Đông Anh có 2 hộ dân đang nuôi cá sấu.
“Hiện tại chúng tôi đang xác minh xem nguồn gốc con cá sấu từ đâu ra. Phía công an huyện cũng điều tra độc lập về nguồn gốc con cá sấu. Hiện nay, chưa thể xác định được cá sấu là do sổng chuồng hay từ nơi khác đến”, ông Quân nói.
Hạt trưởng Hạt kiểm lâm số 1 cho biết, để đảm bảo an toàn, sáng 30/6, các đơn vị chức năng của huyện Đông Anh phối hợp cùng với UBND xã Vân Nội về khu vực nhà ông Bình để tuyên truyền, phổ biến cho bà con nhân dân. Hạt kiểm lâm số 1 cũng kêu gọi người dân nếu phát hiện động vật hoang dã và cá sấu thì phải báo ngay cho các cơ quan chức năng địa phương.
Ông Quân thông tin thêm, vấn đề nuôi nhốt cá sấu trên bịa bàn huyện là do đơn vị quản lý, cấp phép. Người dân muốn nuôi cá sấu thì phải chứng minh được nguồn gốc cá sấu (có dấu kiểm định kiểm lâm địa phương mua). Sau đó, người dân làm đơn xin cấp phép số lượng cá thể nuôi. Cán bộ sẽ đi kiểm tra về chuồng trại, khu nuôi nhốt thấy an toàn sẽ cấp phép cho người dân nuôi.
Trong trường hợp, hộ nuôi cá sấu để suồng chuồng ra ngoài gây thương tích cho người khác thì thì hộ nuôi đó phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật.
Liên quan đến việc người dân cho rằng con cá sấu mà ông Lê Văn Bình bắt được là sổng từ khu nuôi của khu sinh thái Cọ Xanh. Ông Phạm Tiến Hoàng – Phó chủ tịch UBND xã Nam Hồng nói: “Cách đây vài năm tôi có nghe nói khu này có nuôi cá sấu, tuy nhiên, hiện nay có nuôi hay không thì tôi chưa nắm được. Chúng tôi sẽ cử cán bộ xác minh thông tin. Hiện công Đồn Công an Nam Hồng đang phối hợp với công an huyện điều tra, làm rõ nguồn con cá sấu”. (Dân Việt 1/7) đầu trang(
Chợ nông lâm sản Thạnh Hóa (khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa, tỉnh Long An) được biết đến như địa chỉ chuyên cung cấp các loại chim trời.
Nơi đây có hàng chục gian hàng thường xuyên bày bán công khai nhiều loài chim từ hoang dã, như: cu đất, cò, cúm núm,....cho đến cả những loài nằm trong sách đỏ, như: điêng điểng... nên còn có thêm tên “chợ chim trời”.
Tất cả đều được người dân săn bắt trong tự nhiên, và nhiều khả năng số chim này sinh sống tại khu Ramsar Láng Sen (huyện Tân Hưng, Long An). Nhiều người xem đây địa ngục chim trời. Bởi tại đây người ta không chỉ bán chim để nuôi dưỡng, mà còn đáp ứng mọi nhu cầu giết thịt bằng nhiều hình thức dã man, như: đập đầu, nhổ lông tại chỗ....
Thậm chí để đa dạng hóa sản phẩm và tiện lợi cho việc mua – bán mau lẹ, nhiều chủ gian hàng còn dùng dây cột chân hàng chục con chim thành chùm, thậm chí nhổ trụi lông rồi treo ngược lên trước điểm bán để phục vụ nhu cầu của khách qua đường.
Nhìn cảnh tượng hàng trăm con chim, cò bị nhốt, bị vặt lông, treo lủng lẳng... nhiều người không khỏi rùng mình, xót xa và lo lắng cho sự phát triển bền vững của khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng thế giới), thế nhưng không hiểu sao, chợ chim Thạnh Hóa vẫn tồn tại ngay quốc lộ 62, như trêu ngươi dư luận? (Lao Động 1/7) đầu trang(
Đến Thái Lan, ấn tượng nhất là được xem các tiết mục trình diễn của những con voi làng Noong Noch. Tuy nhiên, xem voi xứ người rồi nghĩ tới voi xứ mình ở Buôn Đôn mà thấy buồn cho cách làm của du lịch Việt.
Từ những năm 80 của thế kỷ trước, trẻ em và cả người lớn rất thích bài hát Chú voi con ở Bản Đôn của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Được biết, ngày ấy nhạc sĩ Phạm Tuyên đến Buôn Đôn, xúc động trước hình ảnh chú voi con chưa đầy một tuổi được chăm sóc trong vòng tay của người dân buôn làng ở đây, ông đã sáng tác ca khúc này. Sau bao nhiêu năm, âm điệu vui tươi của bài hát ấy vẫn vang vọng giữa Tây Nguyên đại ngàn.
Tuy nhiên, giờ đến Buôn Đôn du khách không thấy một con voi con nào. Chỉ thấy làng du lịch Buôn Đôn có ba con voi già nua, ốm yếu chở khách du lịch qua sông chơi. Khách du lịch muốn cưỡi lên con voi già ấy dạo quanh sông Sêrêpốk trong khoảng 15 phút phải mua vé… 300 nghìn đồng.
Theo chia sẻ của cô hướng dẫn viên, phần lớn voi còn lại ở Buôn Đôn hiện nay đều ở độ tuổi khá già. Con voi “non nhất” đã 30 tuổi trong khi tuổi thọ trung bình của voi chỉ xấp xỉ 42. Như vậy, khoảng 10 đến 20 năm nữa, Bản Đôn sẽ không còn voi?
Một cán bộ quản lý Khu du lịch sinh thái Bản Đôn cho biết: Số lượng voi giảm dần do sự tác động của nhiều nguyên nhân và biến đổi về môi trường sống là một trong số đó. Nạn chặt phá, đốt rừng gia tăng khiến cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp.
Ngày trước chỉ cần đi 1 - 2km là đến rừng, bây giờ phải đi khoảng 10 - 15km mới thấy rừng, việc cho voi vào rừng ăn cây cỏ trở nên khó hơn nhiều. Bên cạnh đó, khí hậu nóng lên cũng tác động xấu đến sức khoẻ của voi. Thời tiết hơn 300C ở Buôn Đôn lúc này không phải nhiệt độ thích hợp cho voi sinh sống, do đó voi dễ mắc bệnh hơn và không ít voi đã chết vì những bệnh vặt như cảm cúm, tiêu chảy.
Trong chuyến du lịch từ Pattaya tới Bangkok, mới đây chúng tôi ghé thăm làng Noong Noch. Cô hướng dẫn viên nói rằng, làng Noong Noch do một người phụ nữ gốc Hoa xây dựng nên. Trong khi tham quan, chúng tôi được tham dự một tiếp mục trình diễn của voi. Có đến 20 con voi, với đủ mọi lứa tuổi và những tiết mục phong phú, điêu luyện: Voi khiêu vũ, voi lắc vòng, voi phi tiêu, voi chơi bóng rổ, đến voi massage…
Và đặc biệt, voi vẽ tranh rất đẹp. Khi những loạt pháo tay của du khách tán dương nổi lên, những chú voi tiến đến khán đài, quỳ gối trước cúi đầu chào khán giả. Ai đưa tiền, voi lấy đầu vòi kẹp lại đưa cho chủ. Tuy nhiên, khi nhiều khán giả cho tiền, voi không lấy nữa, mà kẹp tiền đưa cho một người bán chuối. Hiểu ý voi, người bán chuối lấy tiền, sau đó đưa chuối cho du khách, để du khách thưởng chuối cho voi ăn.
Lúc này, chúng tôi mới để ý, voi ở đây rất béo tròn, lông mượt, kể cả lông đuôi voi mượt và dài, chứ không giống như những chú voi già Buôn Đôn chẳng còn chiếc lông đuôi nào vì người ta đã vặt sạch để bán. Hỏi thăm một người quản voi ở đây, chúng tôi được biết, những con voi lớn ở làng Noong Noch đã được thuần phục từvoi hoang dã cách đây hàng chục năm. Nhưng cách chăm sóc voi của họ cực kỳ chuyên nghiệp.
Đất nước Thái Lan rất sùng bái voi và luôn thờ thần voi, vì vậy người Thái coi voi như là vật báu. Họ chăm sóc voi, như người ta chăm sóc thú cưng trong nhà. Trong quá trình chăm sóc đàn voi, thấy đôi voi nào mến nhau, họ cho gần gũi và kết thành đôi vợ chồng voi. Rồi họ thả voi vào rừng chuối, và chúng lần lượt sinh voi con. Những chú voi con được bàn tay con người chăm sóc từ nhỏ, nên rất dễ dạy các động tác nghệ thuật phục vụ du khách.
Người Thái sùng bái voi, nên cũng rất thích lông đuôi voi để làm nhẫn đeo cầu may mắn, cũng như thích mua sắm vật dụng được làm bằng da voi để sử dụng. Tuy nhiên, không giống Việt Nam, người Thái chỉ lấy lông đuôi voi khi nó tự rụng và lấy da voi khi voi già đã chết. Khi voi chết, người ta tế thần voi, cầu xin linh hồn voi mang lại may mắn cho người dân, cho những người sử dụng da voi vì quan niệm sẽ mang lại may mắn an lành.
Năm 2005, chính quyền phát lệnh cấm săn bắt voi, cũng từ đó số lượng voi ở Buôn Đôn đã giảm rất nhanh. Bởi người ta không có kế hoạch cụ thể để voi được sinh sản, mà chỉ dùng voi để khai thác, voi già chết đi, không có voi non kế cận để làm du lịch. “Đã nhiều năm voi cứ chết dần, du khách không còn hứng thú khi đến đây.
Công ty lâm vào cảnh khốn đốn, chỉ hoạt động cầm chừng; Chuyển sang làm du lịch văn hóa tín ngưỡng, làm nhà mồ để dân đến viếng voi, nhưng cũng chẳng khấm khá hơn”, Nguyễn Lê Thanh Thảo - Quản lý Khu du lịch sinh thái Bản Đôn chia sẻ.
Để có voi con, con người cần tạo điều kiện cho voi trưởng thành sống trong môi trường tự nhiên một thời gian dài như người Thái Lan làm. Điều đó đồng nghĩa với việc trong từng ấy thời gian voi vào rừng thụ thai, sinh nở, con người sẽ không thể khai thác sức lao động của voi và chấp nhận mất nguồn thu nhập.
Cho nên, chẳng ai chấp nhận cả. Đồng thời, tình trạng voi chết vì bệnh một phần cũng chịu ảnh hưởng bởi tình cảnh “năm cha ba mẹ” của khu du lịch Buôn Đôn. Không thuộc quyền sở hữu của xã, huyện hay tỉnh, Buôn Đôn được nhiều công ty du lịch thuê từ người dân bản địa rồi “chia năm xẻ bảy” để quản lý. Vì thế, việc chăm sóc voi cũng không được cẩn thận, chu đáo.
Nhà nước cũng đã có chính sách khen thưởng cho gia đình có voi sinh được voi con, nhưng cũng không một hộ gia đình nào tại Buôn Đôn thực hiện. Anh Khăm ĐRi, gia đình sở hữu voi cho biết: “Ai cũng muốn voi đẻ nhưng ở đây không ai dám thả voi về rừng lâu đâu. Chưa biết thả rồi nó có quay về không, rồi trong mấy năm voi ở rừng lấy gì làm kế sinh nhai?”.
Người dân Buôn Đôn cũng có tình cảm đặc biệt với voi, cũng đau đáu nỗi lo về tương nhưng chỉ biết thở dài. “Muốn chứ, muốn nhiều nhưng đâu có được, tiếng nói của mình nhỏ bé quá nên đâu làm được gì. Sau này, không còn voi, không biết Buôn Đôn sẽ ra sao?”. (Giao Thông 2/7) đầu trang(
Công viên động vật hoang dã quốc gia tại Ninh Bình là dự án bảo tồn, cứu hộ, phát triển các loài động vật hoang dã đầu tiên tại Việt Nam. Dự án được xây dựng, phát triển, hoạt động theo tiêu chuẩn Quốc tế được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 154/QĐ-TTg.
Dự án được xây dựng tại xã Kỳ Phú và Phú Long, huyện Nho Quan, với tổng diện tích quy hoạch 1.155,43 ha. Mục tiêu của dự án là bảo tồn, cứu hộ, phát triển và lưu trữ nguồn gen các loài động vật hoang dã, ưu tiên các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm; phục vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo, giáo dục môi trường kết hợp với du lịch sinh thái; tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo bền vững cho người dân địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Theo ông Phạm Văn Thành, Phó Giám đốc Ban quản lý dự án Công viên động vật hoang dã Quốc gia: Dự án sẽ bảo tồn, cứu hộ, phát triển khoảng 3.000 cá thể thuộc 250 loài động vật; tổ chức gây nuôi các loài động vật trong môi trường bán tự nhiên; tạo hiện trường và cơ sở phục vụ nghiên cứu khoa học; đào tạo học sinh, sinh viên trong nước và quốc tế về bảo tồn và phát triển các loài động vật hoang dã; phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, giáo dục môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Dự kiến, khi hoàn thành công viên sẽ thu hút khoảng 5 triệu lượt khách/năm, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Dự án Công viên động vật hoang dã quốc gia tại Ninh Bình bao gồm 6 phân khu được phân chia trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ của các khu bảo tồn.
Theo đó, phân khu động vật hoang dã, phân khu này có vị trí tại phía Tây khu công viên, tiếp giáp với Vườn quốc gia Cúc Phương. Các hoạt động tại đây có tính chất gần gũi với thiên nhiên, gồm các công trình: Nhà điều hành, quản lý, nghiên cứu khoa học; công trình phục vụ chăm sóc, triển lãm động vật hoang dã, các công trình dịch vụ phục vụ khách tham quan…
Phân khu vui chơi giải trí theo chủ đề, vị trí tại phía Đông khu công viên, cách xa Phân khu động vật hoang dã, gồm các cụm công trình TDTT (trường đua ngựa, nhà luyện tập, thi đấu TDTT); các cụm công trình giải trí (thế giới nước, trò chơi cảm giác mạnh, biểu diễn nghệ thuật, khu mô hình các công trình nổi tiếng thế giới, mê cung cây xanh, phim trường...) và các dịch vụ hỗ trợ.
Phân khu trung tâm - dịch vụ có vị trí tại trung tâm khu công viên, là trục chuyển tiếp, kết nối giữa hoạt động thiên nhiên (Công viên động vật hoang dã) và hoạt động con người (các khu dịch vụ, vui chơi giải trí). Có các công trình dịch vụ văn phòng, dịch vụ thương mại, khu dịch vụ ăn uống và dịch vụ nghỉ dưỡng.
Phân khu tái định cư và nhà công vụ, cung cấp quỹ đất cho nhà ở kiểu biệt thự; chung cư và các công trình công cộng như trạm y tế, siêu thị, trường học… cho công tác tái định cư và cán bộ, nhân viên làm việc lâu dài của Dự án.
Phân khu cây xanh sinh thái, là trục cảnh quan rừng của Dự án, tiếp nối với Vườn quốc gia Cúc Phương. Một số khu vực phù hợp sẽ được trồng mới rừng tự nhiên theo dạng ngẫu nhiên tạo nên cảnh quan rừng tương tự các khu rừng nguyên sinh và theo các chủ đề nhất định.
Khu vực này có thể bố trí các mô hình nghỉ dưỡng để thu hút đầu tư. Các vị trí có địa hình thuận lợi bố trí các khu trang trại nông lâm, các khu nghỉ dưỡng sinh thái Bungalow. Khu này như vùng đệm có chức năng cách ly khu động vật hoang dã với các hoạt động bên ngoài công viên.
Phân khu chăm sóc - nghiên cứu phát triển, phục vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và cứu hộ động vật trong công viên có nhiệm vụ nghiên cứu nhân giống các loài động vật hoang dã, cung cấp thú cho các vườn thú, cung cấp giống cho các trang trại chăn nuôi động vật hoang dã.
Phân khu này bố trí góc Tây Bắc khu công viên, tiếp giáp với tỉnh lộ 479D, liên kết với phân khu động vật hoang dã bằng tuyến đường nội bộ phục vụ cho công tác chăm sóc – nghiên cứu phát triển.
Tại đây xây dựng các công trình chức năng như nhà làm việc, nhà xưởng chế biến thức ăn, nhà cứu hộ, trung tâm nghiên cứu khoa học và khu cách ly động vật, khu nuôi thả động vật phục vụ nghiên cứu bảo tồn….
Ông Phạm Văn Thành cũng cho biết: Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 7.368 tỷ đồng, trong đó: Vốn xã hội hóa khoảng 5.247 tỷ đồng (71,2%) đầu tư cho các hạng mục: Xây dựng hạ tầng các phân khu và các dự án, công trình dịch vụ, du lịch trong phạm vi công viên.
Ngân sách nhà nước khoảng 2.121 tỷ đồng (28,8%) đầu tư cho các hạng mục: Giải phóng mặt bằng; các trục đường trong công viên; các trạm cấp nước, cấp điện, xử lý nước thải, rác thải; cơ sở hạ tầng Phân khu động vật hoang dã, Phân khu chăm sóc - nghiên cứu phát triển động vật hoang dã.
Để đẩy nhanh tiến độ dự án, tỉnh Ninh Bình đang kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào từng phân khu hoặc các hạng mục công viên động vật hoang dã. (Báo Ninh Bình 1/7) đầu trang(
Chưa bao giờ từng chú voi con lạc bầy lại được con người chăm sóc công phu, tốn kém và... ngọt ngào đến vậy!
Tại Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc ở xã Krông Na (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đác Lắc), nơi “giấc mơ voi” đang dần trở thành hiện thực, các chuyên gia với nhiều quốc tịch đã lần lượt đến chữa lành thương tích cho những voi con được âu yếm đặt tên là Cu Sứt, rồi voi June, voi Gold...
Suốt hai thập kỷ theo dõi, viết bài về đề tài bảo tồn voi, tôi đoán chắc xưa nay chưa từng có chú voi rừng dính bẫy nào ở nước ta được cứu hộ và chăm sóc kỹ lưỡng, công phu như June - voi con 6 tuổi nay đã nặng gần một tấn.
Trong những chuyến đi rừng theo dấu voi hoang dã, ngày 19-2-2015, nhân viên Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc phát hiện một chú voi đực lạc đàn bị thương rất nặng. Các móng chân trước bên trái của nó bị bong mất, bàn chân sưng tấy, vòi thủng một lỗ, cặp ngà tý teo như đôi que mới nhú cũng xước sâu, phải bó lại đề phòng nguy cơ bị gãy.
Sau nhiều bước chuẩn bị, ngày 26-2-2015, Trung tâm phối hợp với Vườn quốc gia Yok Đôn và các chuyên gia Tổ chức động vật châu Á tiến hành bắn thuốc gây mê, đưa June - tên đặt cho chú voi đó về rửa vết thương, điều trị.
Đến thăm chú voi thương tật, tôi nhận ra các vết thương đau đớn trên thân thể nó rất giống tình trạng voi Cu Sứt nặng hơn tám tạ, cỡ 5 tuổi mà Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc từng cứu hộ, theo kiểu bị sập vào cùng một loại bẫy thép. Do Cu Sứt chỉ mất một móng chân, thủng vòi, cho nên sau gần chục ngày được chăm nom, chữa trị đã phục hồi sức khỏe và một trưa hè tháng 5-2013, Trung tâm tổ chức trả nó lại cho rừng.
Ngày ấy, tôi đã có dịp chứng kiến chàng nài voi Y Mức dũng cảm cưỡi lên lưng Cu Sứt, cắt đứt các múi dây trói trên gáy nó dưới sự bảo vệ khôn ngoan của con voi cái già Bun Khăm. Cán bộ Trung tâm theo dõi, yên tâm thấy Cu Sứt đã hòa nhập được vào một đàn voi rừng sống giữa đại ngàn Yok Đôn. Nhớ nơi cứu hộ, thỉnh thoảng Cu Sứt lại tách đàn, tha thẩn về thăm chốn cũ.
Đi cùng tôi ra rừng thăm June, thạc sĩ thú y Phạm Văn Thịnh tiết lộ, hơn chục cán bộ nhân viên Trung tâm phải xoay vòng thay nhau chăm sóc June. Một con voi cái to lớn, khôn ngoan khoảng 60 tuổi tên Y Khun được điều tới làm bảo mẫu, sừng sộ răn đe khi June ngang ngược phá phách, âu yếm vỗ về khi June nhớ mẹ, đau đớn, ủ rũ bỏ ăn.
Hai cán bộ Trung tâm là anh Hồng và anh Phú hằng ngày phải chạy xe máy vào làng mua các thức ăn voi khoái khẩu như chuối, dứa, ngô tươi, rồi lội xuống sông cắt cho đầy hai bao cỏ dại non tơ chở về cho June, chứ loại cỏ nông dân trồng nuôi bò sữa June chẳng chịu ăn.
Tham gia cứu chữa thương tích cho June còn có sự hỗ trợ miễn phí của các chuyên gia nước ngoài đến từ Hiệp hội voi nước Mỹ, các Tổ chức động vật hoang dã châu Á, châu Âu, Trung tâm Bảo tồn voi Thái Lan...
Tới tháng 9-2015, thấy chân voi June vẫn còn đau, Trung tâm phải nhờ chuyên gia người Thụy Điển đang rà phá bom mìn ở Quảng Bình đưa máy dò tìm kim loại đến rà chân voi June, nhưng không thấy có gì lạ. Tháng 5-2016, kỹ thuật viên của Trung tâm chẩn đoán Hòa Hảo đem máy chụp X-quang di động từ TP Hồ Chí Minh lên Đác Lắc soi chụp, mới phát hiện một đoạn dây kim loại dài khoảng 20 cm còn cắm sâu trong chân nó.
Một bác sĩ thú y, chuyên gia tư vấn chăm sóc voi châu Âu đã gây mê, mổ gắp bỏ đoạn dây. Cuối tháng 6-2016, một ổ áp xe lớn phía dưới mông trái và bàn chân mất móng vẫn còn đau của June lại được nhóm chuyên gia của Tổ chức Bảo tồn voi châu Á và hai nữ bác sĩ thú y người Mỹ trực tiếp phẫu thuật, điều trị tỉ mỉ.
Cùng phận thương tật bởi sự độc ác của đám “voi tặc”, nhưng June thật may mắn nếu so với Khăm Bun - chú voi bị săn bắt giữa Vườn quốc gia Yok Đôn đã chết hồi tháng 8-2010 trong nhà lồng của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, vì bàn chân từng dính bẫy không chữa lành được, đã bị hoại tử.
Có một điểm chung giữa các chú voi con lạc đàn: tất cả đều là voi đực, có lẽ do chúng hiếu động, tinh nghịch quá. Đàn em của June tại Trung tâm bây giờ còn có Gold, nay mới được 6 tháng tuổi, nặng khoảng 120 kg, ngày 28-3-2016 được phát hiện bị lạc đàn, nằm ngập trong sình lầy dưới một hố nước sâu giữa rừng thẳm. Khi được cứu về, nó yếu lả vì đói lạnh, kiệt sức, Trung tâm phải cho ủ ấm, truyền hết 10 chai dịch. Mấy ngày sau thấy Gold đã khỏe, cán bộ Trung tâm cho uống no sữa rồi chở ra rừng thả đi, nhưng vừa quay đi nó đã lẽo đẽo chạy theo.
Đến nay, cả bốn lần Trung tâm trả lại rừng sâu, Gold đều tìm được lối trở về với người. Nếu Gold gặp lại voi mẹ, thì hơn ba tháng xa con hẳn mẹ nó cũng không còn sữa, trong khi Gold mới nhú ra chiếc răng non thứ nhất, chưa ăn được. Riêng chuyện xoay tiền mua sữa bột pha cho voi Gold uống mỗi ngày không có trong khoản dự trù nào, cũng khiến Trung tâm lo đến... vàng mắt!
Phó Giám đốc Nguyễn Công Chung, thạc sĩ thú y duy nhất của Trung tâm đồng thời là Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh sản trên đàn voi nhà” cho biết: Đề tài đã trình qua Sở Khoa học và Công nghệ, chờ tỉnh duyệt.
Nếu được cấp kinh phí, trong năm 2016 Trung tâm sẽ tiến hành lấy mẫu máu, huyết thanh của 16 voi cái tuổi dưới 40 đi xét nghiệm để xác định chu kỳ động dục, khả năng sinh sản của voi. Mấy tháng trước, Trung tâm phối hợp với ông Đàng Năng Long (là người đang sở hữu nhiều voi nhất tỉnh Đác Lắc) tổ chức se duyên cho hai cặp voi. Chúng chịu giao phối rồi, nhưng đậu thai chưa, hiện chỉ có... voi mới biết!
Sáng mùa xuân, các nài voi giỏi nghề ở xứ voi Buôn Đôn dậy sớm, đến Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc gần sông Sê-rê-pốc để thuần dưỡng lũ voi con thông minh khỏe mạnh. Cạnh đó, đàn voi già được chăm sóc chu đáo trong bệnh viện. Giữa đại ngàn Vườn quốc gia Yok Đôn, những con voi trưởng thành thong thả dạo chơi, yêu đương, sinh nở… Đó là giấc mơ có khả năng trở thành hiện thực, mà Dự án bảo tồn voi (BTV) Đác Lắc đang từng bước triển khai.
Ngược dòng thời gian, tròn hai thập niên trước, năm 1996, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất Chính phủ ban hành Chỉ thị số 359 về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã, trong đó đặc biệt chú ý đến loài voi. Nhiều giải pháp được triển khai, như rà soát lại hệ thống rừng đặc dụng, xây dựng mới các khu bảo tồn thiên nhiên, tăng cường đầu tư, trợ giúp kỹ thuật để bảo đảm an toàn cho nơi sống của voi; bổ sung những quy định pháp luật nhằm ngăn chặn việc săn bắt, mua bán động vật hoang dã và các sản phẩm liên quan; tuyên truyền về BTV trên các phương tiện thông tin đại chúng…
Tuy nhiên, thực tế không như mong đợi. Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 359, tháng 5-2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 733 phê duyệt kế hoạch “Hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi ở Việt Nam”, giao nhiệm vụ cho ba tỉnh Nghệ An, Đồng Nai, Đác Lắc xây dựng dự án BTV bằng nguồn ngân sách. Song bộ khung nhân lực ít ỏi mới hình thành ở những nơi này chỉ đủ để tự nghiên cứu, tuyên truyền, tập huấn. Trong khi chờ các tỉnh nghiên cứu, bọn “voi tặc” vẫn lộng hành với hàng loạt vụ voi rừng, voi nhà bị bắn, chém, giết, cắt ngà, chặt đuôi, nhổ lông… hết sức tàn bạo.
Khi đó, Dự án BTV Nghệ An thống kê chỉ còn 17 con voi hoang dã qua ảnh chụp vùng rừng phía tây, đề xuất các giải pháp bảo tồn giám sát, tuyên truyền quảng bá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục hồi sinh cảnh voi rừng, chống xung đột giữa người và voi. Dự án BTV Đồng Nai chú trọng xây dựng các đội phản ứng nhanh, lập hàng rào điện tử ở vùng dân cư hay bị voi kéo về tìm thức ăn, dù vào thời điểm đó, trong hơn 100 nghìn ha rừng ở tỉnh này chỉ còn dấu vết để lại của từ 11 đến 14 con voi hung dữ.
Dự án BTV Đác Lắc xác định trên địa bàn tỉnh Đác Lắc còn khoảng 83 đến 110 con voi hoang dã, và 61 voi nhà, đề xuất cho xây hai trạm BTV ở nơi voi thường xung đột với người, gửi cán bộ đi đào tạo, học tập kinh nghiệm chăm voi ở Thái-lan, Ấn Độ, Xri-lan-ca.
Một Trung tâm BTV hiện đại được khoanh vùng với 100 ha rừng khộp để chăn thả và tạo môi trường tự nhiên kín đáo cho voi giao phối, 100 ha còn lại có bệnh viện voi, nhà chăm sóc voi, không gian ươm trồng nhân giống khoảng bảy mươi loài cây làm thức ăn khoái khẩu cho voi...
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lại nhận ra nếu chỉ phân công cho ba tỉnh Đác Lắc, Đồng Nai và Nghệ An thực hiện việc bảo tồn voi, thì mục tiêu cũng không đạt, vì khó ghép đàn cho voi sinh sản; bên cạnh đó, cần tạo lập các môi trường sống đủ lớn cho voi trên địa giới hành chính nhiều tỉnh, phối hợp với các nước Lào, Cam-pu-chia để bảo tồn đàn voi hoang dã.
Về voi nhà, phải có giải pháp ngăn chặn việc khai thác sức lao động quá mức của voi vào các hoạt động du lịch và vận chuyển; mở rộng bãi chăn thả, khắc phục tình trạng thiếu thức ăn, thiếu vệ sinh, nguồn nước hạn chế mùa khô; ngăn chặn các thủ đoạn mua bán voi…
Tháng 5-2013, “Kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn voi đến năm 2020” với đề án tổng thể do Trung ương quản lý được Thủ tướng phê duyệt, mức đầu tư khoảng 278 tỷ đồng từ nguồn ngân sách và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ.
Cuối tháng 6-2016, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc Huỳnh Trung Luân cho tôi biết Dự án BTV Đác Lắc giai đoạn 2013-2020 được duyệt 85 tỷ đồng. Hiện Trung tâm đang chuẩn bị động thổ xây trụ sở làm việc gần hồ Đức Minh cách Buôn Ma Thuột hơn 45 km, mua sắm trang thiết bị, quy hoạch khu nghiên cứu...
Góp phần quảng bá cho việc bảo vệ những con voi quý giá cuối cùng của buôn làng, người đang sở hữu nhiều voi nhất tỉnh Đác Lắc là ông Đàng Năng Long đã có sáng kiến tổ chức đưa dâu cho hai cô con gái rời nhà cha mẹ theo chồng trên lưng voi. Đoàn rước dâu độc đáo với 20 thớt voi đồ sộ chở cô dâu chú rể với quan viên hai họ rạng rỡ, hạnh phúc trong trang phục thổ cẩm diễu qua phố phường huyện Lắc thật ấn tượng và ý nghĩa.
Tiếp đó, ông Long còn nỗ lực xây dựng thương hiệu... cà-phê voi, bằng cách cho voi ăn cà-phê chín để... bài tiết ra loại cà-phê hiếm có, khiến những du khách mê trải nghiệm được chứng kiến, thử nếm vô cùng thích thú!
Mới đây, đối tác của một vườn thú lớn đang xây dựng trên hòn đảo phía nam đất nước hỏi tôi liệu có cách nào thuyết phục được các chủ voi Đác Lắc bán cho họ vài con voi bản địa? Tôi trả lời tuyệt đối không! Vì trên Tây Nguyên, “giấc mơ voi” đang có khả năng trở thành hiện thực. Không chỉ voi nhà được tạo điều kiện giao phối, ghép duyên, mà lũ voi rừng cũng đang sinh sôi thêm những chú voi con nhiều thế hệ, bảo đảm cơ cấu bầy đàn giữa đại ngàn mênh mông, từ 115.000 ha rừng Vườn quốc gia Yok Đôn nối liền với 39.000 ha rừng khộp huyện Ea Súp...
Số liệu từ Đác Lắc, nơi nhiều voi nhất Việt Nam cho thấy, năm 1980 tỉnh này có 502 con voi nhà. Đến cuối tháng 6-2016, danh sách voi nhà được Trung tâm bảo tồn voi Đác Lắc liệt kê tỉ mỉ chỉ còn có 43 con. Còn đàn voi rừng, năm 2009 ước có khoảng 165 con, nhưng gần đây Tổng cục Lâm nghiệp xác định chỉ còn khoảng trên dưới 100 con qua lại trong các mảng rừng nội địa dọc biên giới phía tây. (Nhân Dân 1/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2011, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum được thành lập. Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã góp phần làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng. Tuy nhiên, sau 5 năm triển khai, việc chi trả DVMTR vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết.
Đã hơn 5 năm triển khai chi trả DVMTR nhưng đến nay tình trạng chây ì, trì hoãn kê khai, chậm nộp tiền của một số đơn vị sử dụng dịch vụ (chủ yếu là các nhà máy thủy điện) đã dẫn đến việc nợ đọng tiền DVMTR kéo dài.
Đến tháng 12/2015, một số đơn vị sản xuất thủy điện nhỏ, không thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam chưa nộp đủ tiền DVMTR cả năm với tổng số tiền hơn 9 tỷ đồng, chưa kể lãi chậm nộp và còn 6 dự án của 5 đơn vị khi nợ tiền trồng rừng thay thế hơn 11,2 tỷ đồng. Việc chậm trễ khiến các doanh nghiệp không có tiền DVMTR từ tháng 1 - 4/2011 và lãi chậm nộp để có nguồn kinh phí chi trả.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plông cho biết: Đã 6 tháng đầu năm 2016 nhưng vấn đề tài chính của năm cũ vẫn chưa xác định xong. Cụ thể số tiền năm 2011 - 2012 vẫn chưa chốt. Hiện tiền vẫn cấp bổ sung nên việc chi trả của doanh nghiệp vẫn chưa dứt điểm. Đơn giá chung đối với lưu vực vẫn chưa xác định cụ thể vì còn phụ thuộc tổng thu của Quỹ (do các nhà máy thủy điện nộp), dù đơn giá tối thiểu đã có.
Trên địa bàn tỉnh Kon Tum, UBND các xã, thị trấn là đối tượng có diện tích rừng cung ứng DVMTR tương đối nhiều. Tuy nhiên năng lực về công tác quản lý, bảo vệ rừng, lập kế hoạch, kiểm tra, nghiệm thu còn hạn chế, làm ảnh hưởng chung đến công tác chi trả DVMTR.
Một số doanh nghiệp chi trả tiền qua cộng đồng còn nhiều bất cập. Theo ông Nguyễn Thanh Bình hiện tại đơn vị đang giao khoán quản lý, bảo vệ 8.000 ha cho 12 cộng đồng trên địa bàn ở các xã Hiếu, Măng Cành... Tuy nhiên cộng đồng không có tư cách pháp nhân nên khi có vụ việc doanh nghiệp khó xử lý.
“Nếu có những hộ vi phạm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng nhưng doanh nghiệp không thể đưa cả cộng đồng ra giải quyết”, ông Nguyễn Thanh Bình chia sẻ.
Ở một số địa phương trong tỉnh, cùng là rừng nhưng không phải tất cả đều được hưởng. Giá trị giao nhận khoán ở mỗi lưu vực cũng khác nhau. Tại các huyện Sa Thầy, Ia Hdrai…, nhiều diện tích rừng không được hưởng tiền DVMTR vì không thuộc lưu vực được hưởng (toàn tỉnh có khoảng 60% diện tích rừng được hưởng), trong khi ở huyện Kon Plông thì rừng ở các xã Đăk Tăng, Măng Bút, Măng Cành được hưởng tiền khoán cao hơn các xã còn lại.
Diện tích rừng ở sông Sê San được hưởng tiền DVMTR cao hơn các nhánh sông khác trên địa bàn tỉnh Kon Tum (phụ thuộc số lượng nhà máy thủy điện nhiều hay ít). “Dân đã hiểu lầm mà chúng tôi rất khó giải thích. Chúng tôi chỉ biết phối hợp với chính quyền, thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động để người dân hiểu”, ông Nguyễn Thanh Bình thừa nhận.
Lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cho biết: Theo quy định số 40/2015/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ thì việc xác định mốc thời gian để xử phạt vi phạm hành chính về chi trả DVMTR có hiệu lực từ ngày 20/6/2015 nên các đơn vị thủy điện nợ tiền chi trả DVMTR từ năm 2011 trở về trước sẽ không thể áp dụng xử phạt vi phạm chi trả DVMTR nên rất khó trong công tác đòi nợ và xử lý vi phạm.
Qua 5 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, tỉnh Kon Tum đã có những đánh giá tích cực từ dịch vụ này. Từ trước năm 2010, nguồn vốn ngân sách đầu tư cho công tác bảo vệ rừng còn hạn chế, các hoạt động bảo vệ rừng của các chủ rừng chưa được đầu tư tương xứng, đời sống của người tham gia quản lý bảo vệ rừng hết sức khó khăn, nhận thức của người dân vào công tác quản lý bảo vệ rừng chưa cao; chưa huy động được nguồn lực xã hội đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Do vậy, việc chi trả DVMTR đã mang lại những kết quả tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tạo nguồn lực tài chính bền vững để đầu tư cho công tác quản lý và bảo vệ rừng. Đời sống của người làm nghề rừng được cải thiện, tạo được sự đồng thuận trong dân, nhất là cộng đồng dân cư, người dân sống trong rừng, gần rừng, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Nhờ có chính sách chi trả DVMTR mà tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm nương rẫy và các vi phạm khác về rừng đã giảm qua từng năm. Cụ thể năm 2011 toàn tỉnh Kon Tum có 528 vụ, đến 2015 còn 33 vụ; diện tích rừng bị phá từ hơn 84 ha xuống còn 8,8 ha.
Diện tích rừng bị cháy giảm từ 321 ha xuống còn 34 ha… Theo ông Nguyễn Thanh Bình, nguồn tiền trên đã giúp công ty ổn định về tài chính, tạo điều kiện hộ gia đình, cộng đồng ký hợp đồng với doanh nghiệp, tạo thu nhập cho dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Đến nay tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR là trên 360.000 ha, đạt khoảng 60% tổng diện tích rừng toàn tỉnh. Tổng số tiền giải ngân trong 5 năm là hơn 548 tỷ đồng. (Tin Tức 2/7) đầu trang(
Một trong những mục tiêu của Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt (Quyết định 1565/2013) là góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để cơ hội thành hiện thực cần giải quyết những vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp hiện nay.
Xuân Trạch là xã miền núi đặc biệt khó khăn ở tỉnh Quảng Bình với trên 95% số hộ sản xuất nông nghiệp. Lợi thế duy nhất của địa phương là có diện tích đất tự nhiên lớn, trong đó diện tích đất rừng chiếm trên 80%. Trong chiến lược phát triển KT-XH của địa phương, lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng và cũng là yếu tố để Xuân Trạch từng bước giảm nghèo bền vững.
Sống gần rừng, đời sống của nhân dân gắn bó với rừng, song thực tế số hộ dân được giao đất lâm nghiệp ở đây lại chiếm tỷ lệ khá thấp, chỉ 362/1.398 hộ có đất lâm nghiệp (bình quân 3,77ha/hộ).
Thực hiện chủ trương về việc rà soát nhu cầu sử dụng đất của các hộ dân sống gần rừng và thực hiện các quyết định của UBND tỉnh về việc trả lời đơn khiếu nại đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân tại xã Xuân Trạch trước đây thực hiện Dự án 326, từ năm 2009 đến nay, UBND tỉnh đã thực hiện các thủ tục thu hồi đất của Công ty TNHH MTV Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình đang sử dụng tại xã Xuân Trạch để giao cho UBND xã tiếp nhận, quản lý và xây dựng phương án, thủ tục đề nghị UBND huyện Bố Trạch quy hoạch khu tái định cư, giao đất cho các hộ dân ổn định đời sống, phát triển sản xuất. Theo đó, tổng diện tích được thu hồi giao cho xã quản lý theo các quyết định là 1.014,8ha.
Tuy nhiên, trên thực tế, diện tích được giao cho UBND xã quản lý để giao cho người dân lại không phù hợp để sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Trong số 1.014,8ha đất được giao, có trên 50ha đất lâm nghiệp có độ dốc lớn, xa khu dân cư, đầu nguồn nước... chỉ có thể khoanh nuôi tái sinh chứ không thể trồng rừng sản xuất.
Mặt khác, diện tích đất lâm nghiệp còn lại đang trong giai đoạn xây dựng phương án giao đất thì xảy ra tình trạng một số hộ dân tự ý lấn chiếm. Như vậy, xã hiện có trên 15.502ha đất lâm nghiệp thì có đến 13.654ha thuộc quyền sử dụng của Chi nhánh lâm trường Bố Trạch và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Thực tế, nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp của người dân địa phương rất lớn, hiện nay trên địa bàn xã vẫn còn 1.036 hộ chưa có đất lâm nghiệp để sản xuất.
Thực tế người dân miền núi đa phần có đời sống kinh tế rất thấp, nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì người dân không có kinh phí làm thủ tục cấp quyền sử dụng rừng. Đồng thời họ cũng không có kinh phí để chi trả cho thanh lý tài sản trên đất nếu như tài sản này hình thành từ các tổ chức nhà nước để giao lại cho họ. Đối với chủ trương cấm khai thác rừng tự nhiên như hiện nay thì người dân có nhận rừng tự nhiên cũng không được hưởng lợi từ việc quản lý, bảo vệ rừng.
Trong định hướng phát triển của Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, có đề cập đến cơ cấu lại diện tích quản lý các loại rừng. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đất đai 2014, hộ gia đình và cá nhân không được giao đất có rừng tự nhiên.
Do vậy, đất rừng phòng hộ và rừng sản xuất, các tổ chức nhà nước nếu không nắm giữ thì người dân khó có cơ hội được giao quyền sử dụng đất rừng. Đồng thời, cơ hội để người dân được giao khoán cũng rất thấp nếu như không xác định được chủ thể vùng đất các tổ chức nhà nước không nắm giữ.
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến thức Bản địa và Phát triển Ngô Văn Hồng cho biết: Một trong những định hướng cơ bản trong Đề án là cơ cấu lại các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp. Theo đó, trong báo cáo sơ bộ kết quả thực hiện Nghị định 118 đến tháng 6.2016 đã có 27/28 tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp đổi mới công ty nông lâm nghiệp.
Đồng thời, 11/28 tỉnh phê duyệt đề án sắp xếp đổi mới cho 51 công ty lâm nghiệp (đạt gần 40%). Việc sắp xếp đổi mới gắn liền với việc chuyển giao về địa phương một diện tích lớn đất đai. Nhưng hoạt động này làm rất chậm bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, làm giảm cơ hội tiếp cận đất đai của người dân.
Cũng theo ông Hồng, diện tích dự kiến chuyển giao cho địa phương theo Nghị định 118 là 335.718ha từ các công ty nông lâm nghiệp. Nhưng cơ hội để người dân chưa có đất tiếp cận quỹ đất này rất mong manh.
Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp nêu rõ “Tập trung phát triển kinh tế theo vùng sinh thái”, nhưng báo cáo mới nhất tại Hội nghị quản lý rừng bền vững Tây Nguyên diễn ra mới đây lại chỉ rõ, diễn biến công tác quản lý bảo vệ rừng tại Tây Nguyên hết sức phức tạp, đến hết năm 2014, diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch cho Tây Nguyên là hơn 3,3 triệu hécta.
Cụ thể, đất có rừng hiện nay là hơn 2,5 triệu hécta, giảm 180.000ha rừng so với năm 2010; rừng giao cho dân chỉ chiếm 4% còn lại 96% giao cho các tổ chức, doanh nghiệp… Điều này cũng đồng nghĩa với việc, người dân sẽ không có cơ hội để tiếp cận đất đai một cách công bằng khi những thách thức này chưa được giải quyết một cách triệt để. (Đại Biểu Nhân Dân 3/7) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đồng ý bàn giao nguyên trạng (gồm vốn, đất đai, tài sản, lao động,…) 2 Công ty lâm nghiệp Cẩm Ngọc và Lang Chánh thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam về UBND tỉnh Thanh Hóa quản lý.
Phó Thủ tướng yêu cầu Tổng công ty Giấy Việt Nam báo cáo Bộ Công Thương điều chỉnh giá trị doanh nghiệp sau khi bàn giao theo quy định hiện hành. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn Tổng công ty Giấy Việt Nam, UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
UBND tỉnh Thanh Hóa có trách nhiệm sắp xếp hai Công ty lâm nghiệp Cẩm Ngọc và Lang Chánh theo đúng quy định của Nghị định số118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. (Chính Phủ 1/7) đầu trang(
Chỉ với một cuộc họp và thông báo mồm, Trưởng ban GPMB huyện đã có thể giải tỏa, kiểm đếm cả trăm ha rừng mà không cần bất kỳ văn bản nào.
Không một dòng thông báo cũng như quyết định thu hồi, giải phóng mặt bằng (GPMB), nhưng ông Trần Văn Hà, Trưởng ban GPMB huyện Thanh Liêm (Hà Nam) vẫn về họp dân kiểm đếm cả trăm ha rừng, "hô biến" nơi đây chỉ là bãi chứa nguyên liệu cho một Cty xi măng…
Theo đơn kêu cứu của ông Nguyễn Thế Viện, sinh năm 1940, thôn Đình Hậu, xã Thanh Thủy (huyện Thanh Liêm) gửi đến Báo NNVN, hiện gia đình ông đang bị giải tỏa, kiếm đếm gần 80ha đất rừng mà không hề có thông báo hay quyết định thu hồi.
Ông Viện là thương binh hạng 4/4, xuất ngũ năm 1983. Con trai cả của ông là anh Nguyễn Khánh Hồng, GĐ một Cty xuất nhập khẩu gỗ, tại tỉnh Bình Định. Năm 2009, biết trên địa bàn xã Thanh Thủy còn nhiều diện tích đất đồi rừng chưa sử dụng, ông Viện gọi con trai về xin được thầu khoán.
Ngày 25/9/2010, UBND xã Thanh Thủy ban hành hợp đồng kinh tế số 02, đồng ý cho gia đình ông Viện thầu khoán diện tích đất màu đồi, khu vực thung Dược để trồng cây lấy gỗ. Thời hạn hợp đồng 5 năm (hết 31/12/2015). Đơn giá khoán thầu là 40 triệu đồng/năm.
Do đi làm ăn xa, ngày 1/11/2011, anh Hồng đã viết giấy ủy quyền, giao toàn bộ việc trồng, chăm sóc, khai thác rừng lại cho ông Viện. Ngày 28/12/2015, do hợp đồng thầu khoán chuẩn bị hết, ông Viện cùng UBND xã Thanh Thủy tiếp tục thống nhất gia hạn hợp đồng cho tới khi có kế hoạch GPMB.
Ngày 5/2/2016, ông Viện cùng 9 hộ dân khác được mời về trụ sở xã Thanh Thủy nghe thông báo thu hồi khu thung Dược. Theo ông Viện, ông Trần Văn Hà, Trưởng ban GPMB huyện Thanh Liêm thông báo và nói đây là một dự án lớn, cấp Chính phủ.
Ông Viện hỏi về thông báo, quyết định thu hồi đất, ông Hà trả lời: “Chưa có”. Ông Viện hỏi tiếp: “Chưa có quyết định sao đã tiến hành giải tỏa kiểm đếm”. “Bây giờ làm theo kiểu mới rồi, kiểm đếm xong mới có quyết định thu hồi”, ông Hà trả lời tại cuộc họp.
Ngay trong buổi chiều, Ban GPMB huyện Thanh Liêm phối hợp cùng UBND xã Thanh Thủy tiến hành kiểm đếm diện tích đất của một số hộ gia đình. Hai tuần sau (ngày 19/2), đoàn tiếp tục kiểm đếm phần đất nhà ông Viện.
Trong quá trình kiểm đếm, nảy sinh mâu thuẫn, công việc này hiện bị dừng lại từ đầu tháng 6/2016. Nguyên nhân là do, nhiều diện tích nhãn ông Viện trồng trên 3 năm, nhưng đơn vị kiểm đếm cho rằng chỉ đạt từ 1 – 3 năm. Ông Viện cũng phát hiện 653 cây na sắp thu hoạch bị “lọt” danh sách kiểm đếm.
Đầu tháng 6/2016, anh Nguyễn Khánh Hồng trở về quê, trực tiếp làm việc với các lãnh đạo UBND huyện Thanh Liêm. Tại đây, anh Hồng được cung cấp hai văn bản quan trọng.
Một là Thông báo 75 ngày 11/4/2016 về việc thu hồi đất, GPMB thực hiện dự án đầu tư xây dựng bãi chứa, bãi chế biến nguyên liệu, thành phẩm của Cty CP Xi măng Thành Thắng, do ông Nguyễn Văn Điểu, Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Liêm ký. Hai là Quyết định 782 ngày 1/6/2016 cũng về việc thu hồi, GPMB dự án kể trên, do ông Trương Minh Hiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam ký.
Đến lúc này, cả ông Viện, anh Hồng cùng rất nhiều người dân ngỡ ngàng vì biết được sự thật về một “Dự án lớn cấp Chính phủ” như ông Hà thông báo. Và chỉ với một cuộc họp và thông báo mồm, Trưởng ban GPMB huyện đã có thể giải tỏa, kiểm đếm cả trăm ha rừng mà không cần bất kỳ văn bản nào.
Chúng tôi đã tìm gặp ông Trần Văn Hà để tìm hiểu rõ sự việc thì ông Hà tuyên bố: “Trước hết các anh phải xác minh tư cách của ông Viện. Ông ấy có quyền gì mà phán xét công việc của Nhà nước. Ông là ai, ông lấy tư cách gì. Nói thẳng luôn, ông Viện không đủ tư cách làm đơn gửi lên các cơ quan công quyền và báo chí”.
Về những khúc mắc trong quá trình kiểm đếm, ông Hà cho rằng, theo hợp đồng, gia đình ông Viện chỉ được trồng cây lấy gỗ. Do đó, những diện tích cây trồng sai hợp đồng sẽ bị loại. Thậm chí, vị Trưởng ban GPMB huyện Thanh Liêm còn to tiếng: “Tốt nhất là ông ấy nên rút đơn và xem lại tư cách của mình”.
Ông Hà thẳng thừng: “Nhất quyết không làm việc với những người không đủ tư cách. Ông Viện có 1 lá đơn, 2 lá đơn hay 10 lá đơn cũng không có giá trị gì”. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/7) đầu trang(
Theo thông tin từ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Khương, đến nay đã có gần 500 nghìn cây giống các loại được gieo ươm phục vụ công tác trồng rừng năm 2016.
Trong đó, có 70 nghìn cây giống mỡ, 2 nghìn cây hồi, gần 300 nghìn cây sa mộc và 150 nghìn cây xoan. Đơn vị cũng chuẩn bị hơn 7.200 kg hạt trẩu và 138kg hạt xoan ta.
Theo đánh giá của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện, cây giống hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt. Để đảm bảo chất lượng khi xuất vườn, cây sẽ được kiểm tra chặt chẽ về chiều cao, kích thước, tuổi...
Trong 6 tháng đầu năm, huyện Mường Khương đã trồng được 40ha rừng phòng hộ, đạt 20% so với kế hoạch. Đến nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ đang chuẩn bị các điều kiện như thiết kế, lập hồ sơ cho các hoạt động lâm sinh để phục vụ cho công tác trồng rừng tập trung bắt đầu từ tháng 8/2016.
Theo kế hoạch, năm 2016, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Khương trồng 200ha rừng phòng hộ và 110 ha rừng sản xuất. (Báo Lào Cai 1/7) đầu trang(
Đến nay, người dân huyện Pác Nặm đã xử lý thực bì được hơn 264ha rừng, đạt 98,8% kế hoạch.
Cơ quan chuyên môn phối hợp với các đơn vị cung ứng giống tiến hành thẩm định, cấp 35 vạn cây giống cho nhân dân để trồng rừng. Hiện diện tích rừng đã trồng đạt 106ha, bằng 40,7% kế hoạch tỉnh giao.
Huyện Pác Nặm đang tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc trồng rừng ở các địa phương để đảm bảo đúng tiến độ và đạt chất lượng tốt nhất. Huyện phấn đấu trồng hết diện tích rừng còn lại xong trước ngày 10/7, đồng thời tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân chăm sóc và bảo vệ rừng sau khi trồng.
Bên cạnh trồng rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được huyện chú trọng thực hiện. Từ đầu năm đến nay, Pác Nặm đã xử lý hành chính 12 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Tịch thu hơn 6m3 gỗ các loại, 25kg động vật nhóm IIA. Hiện Công an huyện đang tiếp tục củng cố hồ sơ vụ chặt hạ 41 cây gỗ từ nhóm IV đến nhóm VII ở rừng sản xuất thôn Nặm Khiếu và rừng phòng hộ thôn Slam Vè, xã Nhạn Môn. (Báo Bắc Kạn 1/7) đầu trang(
Công ty cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị là đơn vị đầu tiên được cấp chứng chỉ CoC (chuỗi hành trình sản phẩm) của Hiệp Hội quản lý rừng quốc tế (FSC) ban hành, nên được thu mua tất cả diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC trên địa bàn tỉnh.
Đây là doanh nghiệp tiên phong trong việc hợp tác cùng nông dân hướng đến sản xuất rừng trồng gỗ lớn, một xu hướng mới để phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ rừng trồng trở thành ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn của tỉnh.
Hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 80.000 ha rừng trồng sản xuất, loài cây trồng chủ yếu là keo lai, keo tai tượng và một số ít keo lá tràm. Trung bình mỗi năm Quảng Trị khai thác từ 450.000 – 500.000 m3 gỗ rừng trồng. Gỗ nguyên liệu từ rừng trồng chủ yếu bán cho các nhà gỗ để sản xuất mặt hàng chính là gỗ dăm giấy xuất khẩu, gỗ ghép thanh và gỗ củi phục vụ cho sinh hoạt, còn gỗ rừng trồng theo chứng chỉ FSC vẫn còn khá khiêm tốn.
Quảng Trị hiện có trên 20.900 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ nhưng chủ yếu là của các công ty lâm nghiệp với 19.598 ha, còn lại chỉ có 517 hộ dân trồng 1.390 ha rừng theo chứng chỉ nhưng diện tích gỗ có chứng chỉ rừng FSC được khai thác mới chỉ trên 60 ha với 23 hộ gia đình tham gia.
Mặc dù so với giá bán gỗ thương mại thông thường, gỗ có chứng chỉ FSC có giá bán cao hơn từ 30-35% nhưng do trồng rừng theo chứng chỉ này người dân phải thực hiện nghiêm ngặt 10 nguyên tắc, trong đó có 54 tiêu chí do các tổ chức quốc tế về cấp chứng chỉ rừng FSC qui định khiến người dân chưa mạnh dạn chuyển đổi.
Theo đó, đất trồng rừng phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích phải từ 1 ha trở lên, rừng được hình thành trên đất trống, kế hoạch trồng rừng phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Cây giống phải có nguồn gốc xuất xứ, trong quá trình trồng và chăm sóc không sử dụng phân bón và chất hóa học nằm trong danh mục cấm, không được săn bắt, khai thác động vật, thực vật trái phép, không cho khai thác trắng vùng đệm dọc theo nguồn nước…
Chế độ nhân công và điều lệ an toàn lao động cũng được quy định chặt chẽ, đặc biệt không sử dụng lao động là trẻ em. Bên cạnh đó, thời gian trồng rừng FSC dài hơn 1,5 lần so với rừng gỗ dăm (chu kỳ khai thác phải từ 8 năm trở lên).
Theo ông Trần Đình Hiếu, Phó Giám đốc Thường trực Nhà máy viên nén năng lượng Cam Lộ, đơn vị trực tiếp chế biến gỗ rừng trồng FSC của công ty thì trồng rừng lấy gỗ dăm chỉ trong một thời gian ngắn là đã có sản phẩm thu hoạch trong khi không ít người trồng rừng còn khá mơ hồ về FSC/CoC, do đó chưa tích cực tham gia trồng rừng có chứng chỉ vì chưa thấy được lợi ích thực tế về nguồn thu nhập.
Bên cạnh lợi ích kinh tế, trồng rừng theo chứng chỉ FSC còn là cách bảo vệ môi trường hữu hiệu nhờ đa dạng sinh học tại các khu vực rừng trồng được bảo vệ nhằm giảm tác động xấu đến môi trường và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh của cây rừng. Vì vậy, để thay đổi hình thức, tập quán sản xuất rừng trồng của người dân, thời gian qua, công ty đã tổ chức các lớp tập huấn về tận địa bàn dân cư truyền đạt cho người trồng rừng các kiến thức như: Tổng quan về lâm nghiệp tỉnh và lợi ích tham gia trồng rừng có chứng chỉ FSC.
Điều kiện và nguyên tắc tham gia Hội chứng chỉ rừng tỉnh. Kỹ thuật chuyển hóa rừng trồng gỗ dăm sang rừng trồng gỗ lớn. Kỹ thuật trồng rừng keo lai, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và giải đáp các câu hỏi của người dân về những vấn đề liên quan đến trồng rừng nhằm vận động người dân trồng rừng theo chứng chỉ FSC…Từ năm 2014 đến nay, doanh nghiệp đã thu mua trên 1.500 tấn gỗ rừng trồng theo chứng chỉ FSC cho hộ trồng rừng trong tỉnh và sản xuất 432 m3 gỗ xuất khẩu theo chứng chỉ quốc tế.
Bên cạnh việc tuyên truyền kiến thức, kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn nhằm phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ cho nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu, Công ty cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị đã hỗ trợ kinh phí thuê tư vấn đánh giá chu kỳ 5 năm và cho các nhóm hộ tham gia trồng rừng cấp chứng chỉ FSC trên địa bàn tỉnh.
Tổng diện tích được đánh giá là 1.368 ha rừng thuộc sở hữu của 517 hộ trồng rừng cấp chứng chỉ thuộc các huyện Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ và thành phố Đông Hà.
Cũng theo cam kết trong chương trình thỏa thuận hợp tác giữa hai bên, Công ty cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị thu mua toàn bộ gỗ có chứng chỉ FSC của hộ gia đình với giá cao hơn gỗ không có FSC là 15-20% theo giá thị trường; hỗ trợ 2% lãi suất ngân hàng cho người trồng rừng vay vốn ngân hàng để thực hiện việc chuyển đổi rừng gỗ dăm thành rừng gỗ lớn; hỗ trợ chi phí thuê tư vấn nước ngoài khảo sát, đánh giá và cấp chứng chỉ FSC cho 500 ha rừng trồng mà người dân cam kết phát triển mới cùng doanh nghiệp trong năm 2016.
Theo công suất thiết kế, nhà máy chế biến gỗ rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC của Công ty cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị cần vùng nguyên liệu khoảng 10.000 ha rừng có chứng chỉ ở các hộ dân trong tỉnh nên người dân có thể yên tâm sản xuất vì đầu ra sản phẩm luôn được đảm bảo.
Mô hình hợp tác hỗ trợ người trồng rừng của Công ty cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị mở ra hướng phát triển bền vững cho cả doanh nghiệp và người trồng rừng; phù hợp xu thế tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. (Báo Quảng Trị 3/7) đầu trang(
Theo Quyết định 1658/QĐ-UBND ngày 29-6-2016 của Chủ tịch UBND tỉnh, năm 2016, tỉnh ta đầu tư bổ sung hơn 16,8 tỷ đồng để trồng mới, phục hồi và kết hợp quản lý, bảo vệ rừng chống xâm thực bờ biển thuộc địa bàn các huyện Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Nam.
Đây là chương trình nằm trong Dự án trồng mới, phục hồi và kết hợp quản lý, bảo vệ rừng chống xâm thực bờ biển thuộc địa bàn các huyện Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Nam của tỉnh giai đoạn 2015-2020.
Mục tiêu của dự án nhằm tăng độ tán che phủ, đảm bảo chức năng phòng hộ, chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng biển, điều hòa khí hậu, lưu giữ nguồn nước ngọt ngầm quý hiếm, góp phần phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. (Báo Ninh Thuận 3/7) đầu trang(
UBND tỉnh giao kế hoạch trồng rừng năm 2016 là 3.663 ha, trong đó trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 150 ha, trồng rừng sản xuất 3.513 ha; trồng cây phân tán 554.000 cây.
Đến nay, các đơn vị mới đăng ký trồng 2.359 ha, trong đó 2.309 ha rừng sản xuất bằng nguồn vốn của doanh nghiệp và 50 ha rừng đặc dụng nguồn vốn ngân sách. Thời vụ trồng rừng tại tỉnh bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 8 đối với các huyện Ea Súp, Krông Ana, Lắk, Krông Bông, Krông Pắc, Ea H’leo, Cư M’gar, Krông Na…, riêng các huyện Ea Kar, M’Đrắk, thời vụ trồng rừng bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc tháng 11 do mùa mưa đến muộn.
Một số đơn vị đã đăng ký kế hoạch trồng rừngnhư Công ty TNHH MTV LN Krông Bông, Phước An, Ea Kar, Ea Wy… đang xử lý thực bì, đào hố, chuẩn bị cây giống để tiến hành trồng khi thời tiết thuận lợi. (Báo Đắk Lắk 2/7) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT, trong vụ trồng rừng Thu Đông năm nay, toàn tỉnh sẽ tiến hành trồng 8.500 ha rừng; trong đó, trồng rừng phòng hộ, môi trường cảnh quan 459 ha; trồng rừng sản xuất 8.041 ha.
Hiện nay, các đơn vị trồng rừng, các Ban quản lý các dự án, Ban quản lý rừng phòng hộ các địa phương trong tỉnh đang tiến hành rà soát quỹ đất và thiết kế trồng rừng. Đến thời điểm này, các đơn vị, địa phương đã thiết kế được 253 ha đất trồng rừng; tiến hành trồng lại rừng sau khai thác gần 26 ha.
Đồng thời, các đơn vị ươm giống cây lâm nghiệp đã sản xuất được trên 73,26 triệu cây giống lâm nghiệp các loại, nhằm phục vụ cho công tác trồng rừng khi mùa mưa đến. (Báo Bình Định 2/7) đầu trang(
Các vị chuyên gia khẳng định việc trồng phượng giữa dải phân cách 2 làn đường là chưa phù hợp với thực tế vì nhiều yếu tố bất lợi.
Liên quan đến việc Hà Nội trồng cây phượng vỹ tại dải phân cách giữa 2 làn đường trên nhiều tuyến đường như: Láng Hạ, Hoàng Cầu, Xã Đàn, Đại Cồ Việt, Ô Chợ Dừa... trao đổi với Đất Việt nhiều chuyên gia khẳng định chưa phù hợp và cần phải xem xét lại.
Theo GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Phó Chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam,phượng là một loại cây lâu niên và đã được trồng ở nhiều phố ở Đồng bằng Bắc bộ. Đặc biệt ở Hải Phòng được trồng rất nhiều, cho nên việc Hà Nội lựa chọn trồng phượng cũng không có gì lạ.
Tuy nhiên xét trên nhiều góc độ, vị chuyên gia cho rằng, việc trồng loại cây này ở dải phân cách thì chưa phù hợp vì nhiều yếu tố bất lợi.
“Cây phượng có bộ rễ rất lớn, nó cần có một không gian đất rộng, trong khi đó vùng dải phân cách có những biến động theo thời gian, có thể là mở rộng đường hoặc là làm đường điện trên cao, dưới đất,... Đó là nơi chưa ổn định lâu dài cho nên việc trồng cây to, lâu năm tôi nghĩ không phù hợp, trừ trường hợp dải phân cách đó khẳng định được là lâu dài.
Khi nào nhà quy hoạch khẳng định rằng không có chuyện gì làm thay đổi dải phân cách đó thì mới có thể trồng được, nhưng ít khi quy hoạch mà có thể khẳng định được”, GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng đặt câu hỏi.
Theo vị chuyên gia, tại nhiều thành phố khác ở nước ta cũng như các nước khác trong khu vực như Thái Lan, tại vị trí giữa dải phân cách 2 làn đường, người ta trồng các lùm cây hoặc hoa ở tầm thấp chứ không lựa chọn những cây lâu năm, cần nhiều không gian.
“Tại Thái Lan người ta trồng cây hoa giấy rất đẹp. Tại nhiều thành phố lớn ở nước ta như Nha Trang, họ trồng rất nhiều cây si cắt tỉa thành hình dáng rất đẹp ở cái dải phân cách. Tôi nghĩ Hà Nội cũng nên tham khảo chứ không nên lựa chọn phượng”, GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng nhấn mạnh.
Cùng chia sẻ quan điểm về vấn đề trên, GS.TS Lê Đình Khả, Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam cho rằng Hà Nội cần xem xét lại việc trồng phượng vỹ giữa 2 dải phân cách làn đường.
“Trồng hoa phượng thì cũng được nhưng tôi cho rằng trồng ở giữa dải phân cách thì thì không nên. Ở vị trí này, tôi nghĩ rằng nên chọn những cây tán gọn thì hợp lý hơn. Cây phượng tán thưa lại, xòe rộng, không cao cho nên rất khó phù hợp. Theo tôi phượng dù đẹp nhưng nên thay thế bằng cây muồng, hoàng yến thì sẽ tạo nên điểm nhấn. Hoa của những loại cây trên rất là đẹp mà lại ở giữa tán nên cũng rất hay”, GS.TS Lê Đình Khả nhấn mạnh.
Nhìn nhận ở gó độ khác, vị chuyên gia cho rằng, khi trồng phượng vỹ tại các dải phân cách giữa 2 làn đường cũng cần phải chú ý đến việc cắt tỉa cành lá thường xuyên, tránh để xòa xuống đường gây mất an toàn cho người tham gia giao thông. Bên cạnh đó, việc đảm bảo vệ sinh, quét dọn thường xuyên cũng cần phải được đảm bảo.
Về giải pháp lâu dài, GS.TS Lê Đình Khả cho rằng, Hà Nội cần xem xét thật nghiêm túc vấn đề trồng cây để mục tiêu trồng thêm 1 triệu cây xanh trên địa bàn thành phố đạt được kêt quả cao, tránh lãng phí nguồn ngân sách.
“Ở các tuyến phố trồng rồi thì cũng phải chịu, cần chú ý đến việc dọn dẹp, cắt tỉa. Còn nhưng tuyến phố chưa trồng thì Hà Nội nên lựa chọn cây khác cho phù hợp. Thứ hai là ở Hà Nội đã trồng cái gì là trồng một loạt, nó hơi đơn điệu quá. Vì thế tôi cho rằng, cần phải đa dạng các loại cây trồng, đảm bảo phù hợp với quy hoạch đô thị cũng như tạo thêm nhiều không gian cây xanh cho Hà Nội”, GS.TS Khả nêu quan điểm. (Đất Việt 2/7) đầu trang(
Nhiệm vụ trọng tâm của ngành lâm nghiệp trong những tháng cuối năm 2016 là duy trì tốc độ tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng lâm nghiệp đạt 6,5% là nội dung quan trọng trong mục tiêu phát triển lâm nghiệp được nhấn mạnh tại Hội nghị sơ kết công tác chỉ đạo 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm của Tổng Cục Nông nghiệp. Tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
Hiện nay, Tổng diện tích rừng trồng gỗ lớn của cả nước là 127.747 ha trong tổng số hơn 3,5 triệu ha rừng trồng, chiếm 3,7% diện tích rừng cả nước. Trong 6 tháng đầu năm, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tập trung ước đạt 8,3 triệu m3.
Tính đến 20/6, cả nước trồng được 23.622 ha, đạt 35% tổng diện tích rừng trồng thay thế; trong đó các dự án thuỷ điện trồng được 11.338 ha, các dự án khác 12.285 ha.
Cả nước có 132 công ty lâm nghiệp. Vai trò của các công ty này trong việc sắp xếp diện tích rừng đang bị chồng lấn, lấn chiếm trái pháp luật ở nhiều khu vực là rất cần thiết.
Thời gian qua, việc mất rừng ở một số vùng rừng trọng điểm như Tây Nguyên và một số tỉnh Tây Bắc trở nên phổ biến dẫn đến nhiều hệ lụy cho kinh tế vùng, đời sống người dân và vấn đề môi trường. Do đó, Hội nghị yêu cầu cần chấn chỉnh lại lực lượng bảo vệ rừng, tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng của chính quyền địa phương.
Cần tập trung, rà soát các cơ chế, chính sách trên địa bàn các khu vực rừng trọng điểm cả nước, hạn chế tình trạng du canh, du cư, khai thác rừng bừa bãi, có chính sách thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống người dân. (Thời Báo Chứng Khoán Việt Nam 1/7) đầu trang(
Từ đầu tháng 4 đến nay, gỗ rừng ở Bình Định liên tục tuột giá, hiện gỗ keo chỉ còn hơn 1 triệu đồng/tấn và gỗ bạch đàn chỉ còn hơn 900.000đ/tấn.
Mới đầu năm nay, giá gỗ rừng trồng trên địa bàn Bình Định còn đứng ở mức cao, gỗ keo bán tại nhà máy được 1.350.000đ/tấn và gỗ bạch đàn 1,1 triệu đồng/tấn. Thế nhưng từ đầu tháng 4 đến nay, gỗ rừng ở Bình Định liên tục tuột giá, hiện gỗ keo chỉ còn hơn 1 triệu đồng/tấn và gỗ bạch đàn chỉ còn hơn 900.000đ/tấn.
Giá gỗ rừng trồng tuột thấp đúng vào thời điểm thu hoạch rộ đang khiến người trồng rừng SX ở Bình Định lâm cảnh khốn đốn.
Ông Văn Thành Công ở thôn Thuận Ninh, xã Bình Tân (huyện Tây Sơn), người đang sở hữu 10 ha rừng trồng, cho biết: Từ đầu năm đến cuối tháng 3/2016, giá gỗ rừng trồng ở Bình Định vẫn ổn định, gỗ keo bán tại nhà máy được từ 1.300.000đ-1.350.000đ/tấn và gỗ bạch đàn bán được 1,1 triệu đồng/tấn. Thế nhưng từ đầu tháng 4 đến nay, giá gỗ rừng trồng liên tục giảm sâu.
“Trong tháng 5 vừa qua tui khai thác được 3 ha rừng keo, chỉ bán được 1.180.000đ/tấn. Đó là còn may, nếu khai thác vào thời điểm hiện tại thì còn mất tiền nhiều hơn, vì hiện gỗ keo chỉ còn bán được 1.080.000đ/tấn, gỗ bạch đàn hạ xuống dưới 1 triệu đồng/tấn.
Giá hạ đã đành, bây giờ ai khai thác rừng cũng không biết bán gỗ cho ai, bởi hầu hết các nhà máy chế biến dăm gỗ trên địa bàn tỉnh gần như đã dừng thu mua nguyên liệu. Trồng rừng 5-7 năm mới khai thác mà gặp cảnh này các chủ rừng đều chới với”, ông Công than vãn.
Theo anh Hồ Đức Lâm, thôn Thuận Hòa, xã Bình Tân, người chuyên đi thu mua gỗ rừng trồng cung cấp cho các nhà máy chế biến dăm gỗ XK trên địa bàn tỉnh: Từ đầu tháng 4 đến nay giá gỗ rừng trồng giảm nhiều đợt và tốc độ giảm rất nhanh, khiến những người đi thu mua trở tay không kịp, phải liên tục chịu lỗ.
Anh Lâm cho biết: “Mua lô gỗ giá 1.350.000đ/tấn, chưa kịp đưa đến nhà máy tiêu thụ thì giá đã hạ chỉ còn hơn 1,2 triệu đồng/tấn, đành phải bán lỗ. Giá gỗ cứ giảm liên tục như thế suốt 3 tháng nay khiến chuyện làm ăn của tui chẳng ra sao, bị thâm vốn hoài”.
Bình Định đang có diện tích rừng trồng nhiều nhất miền Trung với hơn 111.000 ha. Theo ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tại tỉnh này tăng lên từng năm. Từ năm 2014 đến nay, sản lượng khai thác luôn đạt trên 600.000 tấn/năm.
“Trong 111.000 ha rừng trồng của tỉnh, có đến hơn 55.000 ha do hộ nông dân tự đầu tư trồng. Giá gỗ rừng trồng giảm sâu thế này người trồng hầu như mất đứt đồng lãi. Bởi trồng rừng bây giờ không còn theo kiểu cắm cây giống xuống rồi phó mặc cho trời như trước đây, mà đầu tư bón phân, chăm sóc rất bài bản”, ông Dũng nói.
Ông Võ Vạn Toàn, Phó GĐ Cty TNHH Sông Kôn, doanh nghiệp chuyên băm dăm gỗ xuất khẩu đóng tại Khu công nghiệp Phú Tài (TP Quy Nhơn) cho biết: Nếu vào đầu năm 2016, giá dăm xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc còn đứng ở mức 132 USD/BMT (tấn dăm khô) thì hiện nay chỉ còn 123 USD/BMT. Giá bán giảm sâu, đầu ra gần như cũng bị tắc vì thị trường chuyên nhập khẩu dăm gỗ là Trung Quốc đang ngừng thu mua mặt hàng này.
“Trong 3 tháng đầu năm 2016, công ty chúng tôi xuất khẩu sang Trung Quốc được gần 10.000 tấn dăm khô. Từ đó đến nay là tắc tị, không xuất thêm được lô hàng nào. Cty đã dừng thu mua nguyên liệu, chỉ mua cầm chừng của những bạn hàng thân thiết để giữ mối hàng, vậy mà hiện công ty chúng tôi vẫn tồn kho hàng chục ngàn tấn dăm khô”, ông Toàn cho hay.
Trên địa bàn Bình Định hiện đang có gần 20 nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, tổng công suất khoảng 1,2 triệu tấn/năm. Trước đây, khi thị trường xuất khẩu còn ăn mạnh, tất cả các nhà máy chế biến hoạt động hết công suất thì sản lượng khai thác rừng trồng hàng năm trên địa bàn tỉnh không thể đủ đáp ứng nguyên liệu. Bây giờ thì hầu hết nhà máy chế biến dăm gỗ dừng sản xuất, chỉ một số hoạt động cầm chừng.
“Đầu ra của mặt hàng dăm gỗ xuất khẩu hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc. Do vậy, khi Trung Quốc dừng thu mua là các nhà máy chế biến dăm gỗ đều “chết đứng”, chẳng còn biết bán cho ai”, ông Võ Vạn Toàn nói.
Trước đây, khi thị trường Trung Quốc còn ăn mạnh gỗ dăm, có 1 doanh nghiệp của Trung Quốc đóng chân trên địa bàn xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, mua đón đầu gỗ rừng trồng với giá cao để tranh mua nguyên liệu với các nhà máy chế biến dăm trong tỉnh.
Bây giờ, dù doanh nghiệp này chủ động từ khâu chế biến, phương tiện vận chuyển dăm xuống cảng và chở về nước bằng tàu của họ nên giá thành được giảm nhiều, nhưng vì giá bán tại Trung Quốc quá thấp nên doanh nghiệp cũng đang hoạt động cầm chừng.
“Từ đầu năm đến tháng 9 hàng năm là thời điểm rừng trồng ở Bình Định được thu hoạch, rộ nhất từ tháng 6 đến tháng 9 để chuẩn bị đất trồng lại rừng. Giá gỗ rừng trồng giảm mạnh ngay trong thời điểm thu hoạch rộ, khiến những hộ trồng rừng lâm cảnh khốn đốn vì thu không đủ bù chi”, ông Văn Thành Công, một chủ rừng ở xã Bình Tân (huyện Tây Sơn), bộc bạch. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/7) đầu trang(
Gỗ và các sản phẩm gỗ là một trong những mặt hàng có giao dịch lớn nhất trong nông nghiệp được xuất khẩu sang Anh. Tuy nhiên, các chuyên gia trong lĩnh vực này cho rằng, xuất khẩu gỗ sang Anh sẽ chưa chịu tác động nhiều vì Brexit trong 2 năm tới.
Trao đổi với TBKTSG Online qua email, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia đang nghiên cứu về gỗ và sắp có báo cáo về tác động của ngành gỗ Việt Nam hậu Brexit, thành viên của Tổ chức Forest Trends, cho hay trong khoảng thời gian 2 năm tới, ngành xuất khẩu gỗ của Việt Nam vẫn chưa bị ảnh hưởng nhiều khi Anh rời EU.
Thực tế, thời gian nước Anh rút khỏi EU là trong vòng 2 năm. Trong vòng 2 năm này, tất cả các luật của EU vẫn được áp dụng tại Anh, và nước Anh vẫn tham gia vào EU như bình thường. Để Anh rời EU cần phải có Quốc hội nước Anh phê chuẩn, và điều này vẫn chưa diễn ra. Chỉ khi nào Quốc hội Anh phê chuẩn thì quá trình đàm phán 2 năm với EU mới chính thức được bắt đầu.
Khi Anh rút ra khỏi EU thì có hai kịch bản diễn ra. Kịch bản thứ nhất: Nước Anh sẽ độc lập hoàn toàn khỏi EU, có thể là sẽ theo mô hình của Thụy Sĩ, hoặc Canada trong mối quan hệ với EU. Với mô hình này, để được hưởng các ưu đãi bao gồm cả về mặt thuế quan về xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ với các nước trong EU, Anh sẽ phải tuân thủ các yêu cầu/quy định của EU.
Với kịch bản 2, nước Anh trở thành thành viên trong khối Kinh tế Châu Âu (Membership of European Economic Area). Với kịch bản này, mối quan hệ giữa Anh và EU giống hệt như mối quan hệ giữa Na Uy và EU hiện nay. Có nghĩa rằng Anh sẽ được hưởng toàn bộ những ưu đãi về mặt thị trường với toàn khối EU (trong thương mại và dịch vụ). Đổi lại, Anh phải tuân thủ (nội địa hóa) các chính sách của khối EU, và phải đóng góp ngân sách cho EU.
“Tác động của từng kịch bản đối ngành gỗ Việt Nam sẽ khác nhau. Tuy nhiên, kết quả của đàm phán là kịch bản nào thì cho đến giờ này không ai biết”, ông Phúc nói
Hiện nay, theo số liệu của Forest Trends, trong EU, Anh là thị trường lớn thứ nhất cho các sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm khoảng 35-40% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang EU hàng năm. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang EU đạt 270 triệu đô la Mỹ, tăng nhanh từ mức 180 triệu đô la Mỹ năm 2012.
Hiển nhiên, Brexit gây mất giá đồng bảng Anh và suy thoái kinh tế, và điều này chắc chắn tác động đến ngành gỗ Việt Nam. Suy thoái kinh tế tại Anh làm giảm cầu tiêu thụ hàng hóa tại UK, bao gồm cả các sản phẩm gỗ nhập khẩu từ Việt Nam.
“Các doanh nghiệp đang xuất khẩu vào Anh hoàn toàn yên tâm là trong thời gian 2 năm tới sẽ không có bất cứ thay đổi gì có liên quan đến chính sách nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ vào Anh so với hiện nay, bao gồm cả sản phẩm gỗ của Việt Nam”, ông Phúc nói và cho biết thêm: Sau 2 năm đó, liệu có gì thay đổi đối với sản phẩm gỗ nhập khẩu của Việt Nam vào thị trường này hoàn toàn phụ thuộc vào các kịch bản (1 hoặc 2) của quá trình đàm phán giữa Anh và EU.
Tuy nhiên, từ giờ tới lúc đó, các doanh nghiệp cần cập nhật thông tin, và có những giải pháp ứng phó với các kịch bản thị trường khác nhau, bởi trong tương lai có thể sẽ có những thay đổi về thuế, những biến động về tỉ giá, thay đổi về thủ tục và phí hải quan, cũng như các thay đổi quy định về các tiêu chuẩn hiện được được EU áp dụng.
Cũng về vấn đề trên, ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cho hay, Brexit sẽ gây bất lợi cho các danh nghiệp xuất khẩu gỗ liên quan tới vấn đề tỷ giá bởi đồng bảng Anh và đồng Euro đều giảm. Do đó, giá xuất khẩu gỗ sang EU cũng sẽ bị giảm. “Giá đồ gỗ xuất sang EU sẽ mất khoảng từ 5-7% so với hiện tại”, ông Quyền dự đoán.
Hiện nay, tùy từng mặt hàng, giá gỗ và các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang EU dao động từ 1.200 – 1.800 đô la Mỹ/container (tương đương 28-30 m3/container).
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong 6 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 3,17 tỉ đô la Mỹ, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc vẫn là ba thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 68% tổng giá trị xuất khẩu. EU là thị trường lớn thứ tư của Việt Nam trong tiêu thụ các mặt hàng gỗ.
Các thị trường cho thấy mức tăng trưởng xuất khẩu là Hoa Kỳ (7,66%), Nhật Bản (1,33%) Hàn Quốc (17,7%) và Anh là gần 10%. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 2/7) đầu trang(
Nhằm thúc đẩy cao hơn giá trị sử dụng của gỗ keo và bạch đàn ở Việt Nam bằng cách tối ưu hóa SX ván mỏng từ nguồn tài nguyên này, Dự án FST 2008/039 đã ra đời.
Hiện gỗ rừng trồng tại nước ta chủ yếu để SX bột làm giấy có giá trị thấp hoặc hoặc chế biến dăm gỗ xuất khẩu với giá trị không cao. Trong khi đó, keo và bạch đàn từ rừng tự nhiên ở Úc từ lâu đã được sử dụng để SX ván mỏng đặc biệt.
Nhằm thúc đẩy cao hơn giá trị sử dụng của gỗ keo và bạch đàn ở Việt Nam bằng cách tối ưu hóa SX ván mỏng từ nguồn tài nguyên này, Dự án FST 2008/039 đã ra đời.
Phát biểu tại hội thảo tổng kết Dự án FST 2008/039 tăng cường SX ván mỏng từ gỗ keo và bạch đàn rừng trồng tại Úc và Việt Nam, GS.TS Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp VN nhấn mạnh, VN sở hữu nền công nghiệp SX và xuất khẩu nội thất rất lớn, các vùng trồng keo và bạch đàn lên tới hàng trăm nghìn ha.
Vì vậy, mục tiêu của Dự án FST 2008/039 nhằm phân phân tích nguồn lực sẵn có, chuỗi cung ứng, phương pháp chế biến gỗ và để hỗ trợ thị trường tập trung vào sản phẩm ván mỏng và các sản phẩm làm từ ván mỏng. Bên cạnh đó, thử nghiệm các kỹ thuật, phương pháp xử lí mới các sản phẩm từ ván mỏng để tăng sự phục hồi và chất lượng cũng như cải thiện giá trị gia tăng của sản phẩm làm từ gỗ keo và bạch đàn.
Theo điều tra của Viện Khoa học Lâm nghiệp VN, trong số diện tích rừng trồng thuộc khu vực Đông Bắc bộ và Bắc Trung bộ thuộc sở hữu của các hộ dân là chủ yếu, chiếm tới 47%. Chu kì kinh doanh rừng đối với keo tai tượng (5 - 7 năm), bạch đàn urô (7 - 8 năm) nên rất thích hợp với SX ván bóc trên máy bóc lồng.
Ở VN, gỗ keo và bạch đàn rừng trồng được sử dụng chủ yếu làm dăm gỗ chiếm khoảng 70%, gỗ xẻ 15%, ván bóc 10% và 5% còn lại cho các mục đích sử dụng gỗ tròn khác như cọc xây dựng.
Thông kê năm 2015 cho thấy, VN xuất khẩu ròng giá trị rất lớn đồ nội thất 6,3 tỷ USD, dăm gỗ 1,4 tỷ USD, ván dán, ván phủ vơ nia 100 triệu USD và ván mỏng 70 triệu USD. Trong khi đó, VN nhập khẩu ròng gỗ xẻ 230 triệu USD, gỗ tròn 90 triệu USD, ván MDF 100 triệu USD và ván dăm 20 triệu USD.
Theo tính toán, nếu đầu tư thêm nguồn lực, cứ mỗi 1 m3 gỗ đủ tiêu chuẩn làm ván dán, VN sẽ tạo ra và giữ lại gấp 4 lần giá trị gia tăng so với làm ván dăm. Bên cạnh đó, phân bổ giá trị gia tăng trong chuỗi ván dán cũng tốt hơn so với dăm gỗ rất nhiều.
Có 3 vấn đề mà doanh nghiệp nên ưu tiên khi đầu tư vào SX gỗ ván. Một là cải thiện quản lý SX, hai là đầu tư công nghệ SX các sản phẩm từ ván mỏng và ba là phải đảm bảo tiếp cận với gỗ nguyên liệu phù hợp.
Theo quan điểm của các chuyên gia, nhà khoa học tại hội thảo, có hai vấn đề cần ưu tiên nhất nên làm là phân loại gỗ nguyên liệu và kiến thức các thông số kỹ thuật. Bởi thách thức lớn nhất của các doanh nghiệp là đảm bảo nguồn cung gỗ nguyên liệu phù hợp cho nhu cầu SX của mình. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các mục đích sử dụng gỗ (dăm gỗ để làm giấy/xuất khẩu cạnh tranh với ván bóc/lạng và gỗ xẻ).
Tuy nhiên, đảm bảo nguồn cung gỗ nguyên liệu phù hợp đòi hỏi không chỉ nỗ lực của doanh nghiệp mà còn cả sự phối hợp của hộ trồng rừng, cơ sở thu mua gỗ. Hộ trồng rừng quy mô nhỏ đóng vai trò thiết yếu để cải thiện chất lượng gỗ rừng trồng vì các hộ này chiếm đến 47% diện tích rừng trồng SX. Để tạo thêm giá trị, hộ trồng rừng nên cung ứng gỗ nguyên liệu có chất lượng phù hợp cho bóc/lạng.
Qua đó, cần phải thực hiện đồng bộ rất nhiều giải pháp như: Thực hiện chu kỳ trồng rừng dài hơn; Cải thiện năng suất; Cải thiện kiến thức kỹ thuật. Điều tra của dự án cho thấy, phần lớn hộ trồng rừng có tài sản hạn chế, chịu sức ép thanh khoản ngắn hạn (các hộ đều trả lời họ cần phải khai thác sớm để có tiền mặt cho nhu cầu chi tiêu gia đình). Điều này dẫn tới chu kỳ trồng rừng ngắn phù hợp với làm gỗ dăm hơn làm gỗ bóc/lạng.
Nhà nước, doanh nghiệp, hộ trồng rừng cần ngồi lại với nhau để bàn kế hoạch cho những bước đi tiếp theo. Nỗ lực cải thiện hiệu quả của chuỗi giá trị ván mỏng đòi hỏi sự phối hợp của tất cả các bên trong chuỗi.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy một số loại gỗ/ô tiêu chuẩn cung cấp chất lượng gỗ khúc, chất lượng ván bóc tốt hơn so với loại gỗ/ô tiêu chuẩn khác. Gỗ keo tai tượng phù hợp để SX ván lớp mặt do có tỷ lệ gỗ lõi cao, số lượng, kích thước mắt nhỏ hơn gỗ keo lai. Gỗ keo lai, số lượng, kích thước mắt lớn hơn, phù hợp sử dụng làm ván lớp trong của sản phẩm ván ép nhiều lớp. Bạch đàn urophylla phù hợp để SX các sản phẩm dùng cho các kết cấu có yêu cầu chịu lực như ván LVL, ván dán dùng trong xây dựng,… (Nông Nghiệp Việt Nam 4/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một máy bay cứu hộ IL-76 của Nga chở 10 người mất tích khi đang tham gia chữa cháy rừng ở khu vực Irkutsk sáng nay.
Theo TASS, máy bay cứu hộ thuộc Bộ Tình trạng Khẩn cấp mất tín hiệu khi di chuyển ở độ cao 3.000 m, tại Kachug thuộc khu vực Irkutsk, nơi đám khói bốc lên dày đặc. Thời điểm phi cơ ngừng phát tín hiệu với mặt đất là khoảng 6h30 giờ Moscow (3h30 giờ GMT).
10 người có mặt trên khoang khi phi cơ dừng tín hiệu liên lạc. Phi hành đoàn gồm những người có kinh nghiệm trong chữa cháy, cứu trợ nhân đạo cũng như hoạt động cứu hộ.
Bộ Tình trạng Khẩn cấp Nga đã điều một trực thăng cứu hộ để tìm kiếm máy bay mất tích. Ngoài ra, cơ quan này cũng bổ sung lực lượng cứu hộ nhằm tìm kiếm phi cơ tại các khu vực có địa hình khó.
Theo chính quyền địa phương, quá trình tìm kiếm được triển khai bằng máy bay vì khu vực phi cơ mất tích quá rộng và không thể tiếp cận bằng đường bộ cũng như nơi đây không có hệ thống giao thông.
8 máy bay tham gia hoạt động cứu hộ, trong đó có 6 chiếc của Bộ Tình trạng Khẩn cấp Nga, chở theo 30 người phụ trách cứu hộ và 6 chuyên gia tâm lý.
IL-76, biệt danh là "quả bom nước", là phi cơ chữa cháy lớn nhất thế giới. Nó có khả năng thả 42 tấn nước cùng lúc. (Zing News 1/7) đầu trang(
Chính phủ Lào sẽ không cho phép khai thác gỗ và không cấp quota khai thác gỗ hàng năm nữa. Lào đồng thời nghiêm cấp xuất khẩu các loại gỗ khi chưa phải là sản phẩm bằng gỗ.
Tại cuộc họp giữa Chính phủ, Đô trưởng và Tỉnh trưởng các tỉnh của Lào vừa qua, các bên đã thống nhất nhiều vấn đề quan trọng của Lào, đặc biệt là vấn đề chấm dứt việc xuất khẩu gỗ khi chưa phải là sản phẩm bằng gỗ; chấm dứt ngay việc khai thác gỗ và sẽ không cấp quota gỗ nữa.
Chính phủ Lào sẽ giao các cơ quan liên quan nghiên cứu các văn bản pháp lý, chính sách chế tài nhằm thúc đẩy khuyến khích việc trồng rừng, kinh doanh sản xuất gỗ trong nước theo đúng quy định pháp luật.
Theo đó, các cơ quan từ trung ương đến địa phương sẽ tập trung cao độ thực hiện Chỉ thị 15/TTG của Thủ tướng Chính phủ Lào theo đúng quy định pháp luật. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 1/7) đầu trang(./.
|
|||