Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 03 tháng 06 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thực hiện Nghị định số 05/2008 ề Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR), Nghị định 99 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), Yên Bái đã tiến hành triển khai các bước theo đúng quy trình và đến nay, người trồng rừng, bảo vệ rừng Yên Bái đã được hưởng lợi từ nguồn quỹ này.
Chính sách chi trả DVMTR là một chính sách mới, tiền phí thu được là để BV&PTR, chi trả trực tiếp cho các tập thể, tổ chức và người dân trực tiếp trồng, BV&PTR nằm trong lưu vực.
Với Yên Bái, bước đầu triển khai thực hiện chính sách này cũng gặp không ít khó khăn do đây là một chính sách mới từ người được hưởng lợi đến người phải đóng phí đều còn bỡ ngỡ song tổ giúp việc của Quỹ BV&PTR đã tiến hành rà soát đồng thời tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng phải chi trả DVMTR ký hợp đồng ủy thác thông qua Quỹ.
Đến hết năm 2012, trên địa bàn toàn tỉnh đã có 28 nhà máy thủy điện và 3 đơn vị kinh doanh nước sạch, những nhà máy, doanh nghiệp đã đi vào sản xuất đều đã chấp hành thực hiện nghiêm Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR. Duy nhất chỉ còn Nhà máy thủy điện Mường Kim đã phát điện từ năm 2010 nhưng không hiểu vì lý do gì mà đến nay đơn vị này vẫn chưa ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền phí DVMTR.
Việc các doanh nghiệp phải đóng phí DVMTR là để bảo vệ rừng. Rừng có được bảo vệ tốt mới tạo ra nguồn sinh thủy cho các nhà máy thủy điện hoạt động. Trong năm 2012, các nhà máy thủy điện hoạt động trên địa bàn và thuộc các lưu vực đã đóng góp và nộp trên 18 tỷ đồng tiền phí DVMTR. Toàn bộ số tiền này được Quỹ BV&PTR Yên Bái chi trả trực tiếp cho các tổ chức, doanh nghiệp, chủ rừng và các hộ dân trực tiếp trồng, quản lý, bảo vệ rừng trong các lưu vực.
Để việc chi trả được thuận lợi, đến đúng đối tượng, Quỹ đã thành lập 5 ban chi trả tại các địa phương và đã chi trả cho trên 23.959 hộ dân với số tiền trên 18 tỷ đồng. Trong đó huyện Trạm Tấu 4.700 hộ, Mù Cang Chải 8.278 hộ, Văn Chấn 3.275 hộ, Lục Yên 7.185 hộ và Trấn Yên 507 hộ. Do việc chi trả được tính theo từng lưu vực nên mỗi ha rừng được trả phí cao nhất là 318 ngàn đồng/năm, thấp nhất gần 34 ngàn đồng/năm.
Chính sách chi trả phí DVMTR được coi là bước đột phá trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về trách nhiệm BV&PTR. Nó không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị phòng hộ mà còn trực tiếp tạo thêm nguồn thu nhập cho người làm rừng.
“Xã Nậm Khắt, huyện Mù Cang Chải có 5.636 ha rừng trước đây bà con mỗi năm chỉ được nhận trên dưới 200 ngàn đồng tiền khoán bảo vệ rừng nhưng nay, vẫn diện tích này bà con trong xã được nhận thêm 1,135 tỷ đồng từ tiền phí DVMTR. Với nguồn kinh phí này người dân đã thực sự sống bằng nghề rừng, rừng chắc chắn sẽ được quản lý, bảo vệ tốt hơn”, ông Lý A Sử - Phó chủ tịch UBND xã Nậm Khắt khẳng định.
Gia đình Giàng A Hảng được giao quản lý, bảo vệ trên 5 ha rừng, như vậy, mỗi năm gia đình cũng có nguồn thu 2,5 triệu đồng từ tiền khoán, bảo vệ và phí DVMTR. Số tiền tuy không phải là quá lớn nhưng cũng đã góp phần nâng cao cuộc sống của người dân vùng cao nơi đây và sẽ là động lực để bà con yêu rừng hơn, giữ rừng tốt hơn. (Báo Yên Bái 31/5)đầu trang(
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đăk Nông, khi thực hiện chương trình về chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), mọi "chủ rừng" đều phải ký cam kết quản lý bảo vệ rừng, cung ứng DVMTR với Quỹ.
Theo đó, các thôn, bon, cộng đồng nhận quản lý, bảo vệ đất rừng có trách nhiệm bảo toàn và phát triển diện tích rừng được giao quản lý, không để xảy ra tình trạng phá rừng hoặc chuyển mục đích sử dụng rừng trái phép.
Khi có các hiện tượng mất rừng, biến động hiện trạng rừng, người dân các thôn, bon, cộng đồng phải báo ngay cho Sở NN&PTNT, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, chính quyền địa phương trong thời gian sớm nhất.
Đồng thời, các đơn vị, tổ chức nhận quản lý, bảo vệ rừng phải phân chia tiền DVMTR được hưởng cho các hộ trong cộng đồng tham gia giữ rừng theo hiệu quả công việc được giao một cách công bằng, đúng đối tượng, đúng mục đích. Sau khi chi trả tiền DVMTR cho người dân, hàng năm, Quỹ sẽ tiến hành nghiệm thu chất lượng rừng để lập biên bản đánh giá nhằm cân đối với số tiền đã chi trả theo quy định.
Chi trả DVMTR là sự kết nối giữa các nhà quản lý rừng ở địa phương với người sử dụng DVMTR thông qua chi trả trực tiếp. Những người sử dụng DVMTR rừng ở vùng hạ lưu trả tiền cho những người quản lý bảo vệ rừng đầu nguồn. Số tiền mà người dân nhận được từ phí DVMTR tuy không nhiều, nhưng qua đó, góp phần tạo thêm nguồn lực, nâng cao ý thức bảo về tài nguyên rừng, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc tái tạo rừng của cộng đồng dân cư ở các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Sau gần 2 năm thực hiện chương trình chi trả DVMTR, các cộng đồng, thôn, bon được giao khoán đất rừng trong lưu vực có hưởng lợi đã hết sức phấn khởi. Chương trình đã và đang là động lực để các địa phương tăng cường, củng cố lực lượng giữ rừng, mang lại những niềm vui cho những người giữ rừng và sống bằng nghề rừng. (Báo Đăk Nông 31/5)đầu trang(
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh thì thực hiện kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) năm 2013, đơn vị đang tiến hành chi tạm ứng cho 5 cộng đồng thôn, bon, 153 đơn vị “chủ rừng” khoảng trên 34,9 tỷ đồng/88,7 tỷ đồng dự kiến chi trong năm 2013. Tính đến cuối tháng 5, Quỹ đã giải ngân trên 9,5 tỷ đồng cho 1 cộng đồng và 12 doanh nghiệp.
Việc triển khai chi tạm ứng tiền DVMTR đã giúp các đơn vị có thêm kinh phí đầu tư mua sắm phương tiện chuyên dụng, ổn định đời sống cho người lao động. Hiện nay, riêng đối với 5 nhóm hộ, cộng đồng gồm: bon Bu Koh, bon Mera, bon Bu Nưng, xã Đắk R’tíh (Tuy Đức), bon Choi, xã Đức Xuyên, thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú (Krông Nô) đã nhận khoán quản lý, bảo vệ trên 2.595 ha rừng. Theo kế hoạch thì trong năm 2013, dự kiến các nhóm hộ, cộng đồng nói trên sẽ được chi tạm ứng trên 1,4 tỷ đồng, nên hiện Quỹ đang hướng dẫn các thôn, bon hoàn tất thủ tục để nhận tiền.
Điển hình như bon Choi (xã Đức Xuyên) nhận khoán quản lý, bảo vệ trên 387 ha rừng, qua khảo sát về hiện trạng rừng, bà con đã được tạm ứng trước hơn 29 triệu/76 triệu đồng dự kiến chi trong năm 2013. Ông Y Run, một người dân trong bon cho biết: “Nhóm hộ chúng tôi có 10 hộ, được phân công quản lý, bảo vệ khoảng 20 ha đất rừng. Đợt này được nhận tiền DVMTR, chúng tôi sẽ chia đều cho nhau để có thể mua xăng dầu, vật dụng phục vụ công tác giữ rừng. Có được khoản tiền của Nhà nước trả, mùa mưa này, nhóm hộ chúng tôi có nhiều thuận lợi để đi tuần tra rừng”.
Còn nhóm của ông Y Thanh có 7 hộ tham gia nhận bảo vệ 15 ha rừng cũng cho hay: “Được Nhà nước trả tiền như thế này, chúng tôi phải cố gắng bảo vệ rừng, không để xảy ra tình trạng chặt phá rừng, cháy rừng hay người dân từ nơi khác đến đốt rừng làm nương rẫy. Chúng tôi cũng sẽ sử dụng tiền được chi trả theo đúng mục đích để cải thiện đời sống và nâng cao chất lượng rừng”.
Là một xã vùng sâu, vùng xa, đồng bào chủ yếu sinh sống dựa vào nguồn thu từ nương rẫy nên thu nhập còn thấp. Vì thế, khi nhận thêm công việc quản lý, bảo vệ rừng đã phần nào giúp bà con có thêm điều kiện để cải thiện sinh kế từ các nguồn phụ thu lâm sản. Không những vậy, với khoản tiền nhận từ chính sách chi trả DVMTR, đồng bào có thêm niềm tin để quản lý, bảo vệ rừng, có điều kiện tái tạo lại rừng, nâng cao giá trị rừng, có thu nhập từ rừng cao hơn.
Theo UBND xã Đức Xuyên thì sau khi có phương án triển khai chính sách chi trả DVMTR, địa phương đã tham gia cùng với các cấp, ngành chuyên môn của tỉnh, huyện rà soát, thống kê lại hiện trạng rừng do cộng đồng thôn, bon nhận quản lý, bảo vệ. Nhờ hoàn thành kịp thời khâu đánh giá, thống kê trữ lượng rừng đã giúp người dân sớm được hưởng lợi từ nguồn kinh phí của chính sách chi trả DVMTR.
Tương tự, trên địa bàn xã Đắk R’tíh (Tuy Đức) có khoảng 1.200 ha rừng do cộng đồng 3 bon Bu Nưng, Bu Koh và Mera quản lý sẽ được chi trả trên 1,2 tỷ đồng từ phí DVMTR trong năm 2013 này. Khi nhận được thông tin bắt đầu từ cuối tháng 5 này sẽ được chi tạm ứng tiền DVMTR, bà con nơi đây rất vui mừng.
Ông Điểu Kran ở bon Bu Nưng cho biết: “Khi được nghe cán bộ của Quỹ phổ biến về DVMTR, bà con cảm thấy lạ và mới mẻ quá. Ngày trước, gia đình tôi cùng bà con trong bon tham gia nhận khoán bảo vệ rừng là để đảm bảo rừng của xã không bị chặt phá và hàng năm Nhà nước có chi trả các khoản trợ cấp, dù không nhiều nhưng cũng tạm được rồi. Bây giờ có thêm tiền chi trả DVMTR chắc chắn sẽ tạo thêm điều kiện cho đồng bào bảo đảm cuộc sống để giữ rừng”.
Còn theo ông Điểu Lanh, Trưởng Ban quản lý bảo vệ rừng cộng đồng bon Bu Nơr, xã Quảng Tâm (Tuy Đức) thì hiện nay, bà con cũng đang nhận quản lý, bảo vệ trên 1.100 ha đất rừng, trong đó có gần 900 ha rừng nguyên sinh. Trong thời gian tới, số tiền chi trả DVMTR được chuyển về cộng đồng, chắc chắn sẽ giúp bà con có thêm thu nhập cũng như có điều kiện sắm sửa dụng cụ, phương tiện phục vụ công tác tuần tra, phòng ngừa tình trạng phá rừng xảy ra ở địa phương.
Cùng với cộng đồng các bon, Quỹ Bảo vệ và Phảt triển rừng cũng đã chi tạm ứng tiền DVMTR cho các “chủ rừng” như Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa, Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Đức Lập, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên, Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Quảng Đức… Trong đó, có doanh nghiệp được chi tạm ứng với số tiền lên đến hàng tỷ đồng. Từ khoản tiền tạm ứng này, các đơn vị có thêm điều kiện, động lực để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của mình. (Báo Đăk Nông 31/5)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
31/5, UBND huyện Di Linh đã tổ chức giao ban công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) với các huyện có rừng giáp ranh: Hàm Thuận Bắc và Bắc Bình (Bình Thuận), Đắc Glong (Đắk Nông), Đức Trọng, Bảo Lâm và Lâm Hà. Đây là lần giao ban luân phiên giữa các huyện có rừng giáp ranh.
Tại buổi giao ban, đại diện Hạt Kiểm lâm 7 huyện, lãnh đạo các Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và Chi cục Kiểm lâm các tỉnh thông tin về tình hình QLBVR các huyện có rừng giáp ranh và trao đổi những kinh nghiệm, bàn biện pháp tăng cường quản lý có hiệu quả hơn nữa rừng ở vùng giáp ranh.
Đối với huyện Di Linh, diện tích rừng lớn; vùng rừng giáp ranh trải dài, tiếp giáp với 6 huyện; địa hình khó khăn và tình hình QLBVR rất phức tạp, có nhiều điểm “nóng”, nhất là rừng ở vùng giáp ranh với Đức Trọng, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Bảo Lâm…
Nhờ có quy chế phối hợp giữa các tỉnh, các huyện, các Hạt Kiểm lâm có rừng giáp ranh, nên công tác QLBVR đem lại hiệu quả thiết thực. Tuy vậy, do tính chất phức tạp của mỗi vùng, mỗi địa phương và sự phối kết hợp chưa thường xuyên, có những lúc chưa chặt chẽ, thiếu thông tin cho nhau và phối kết hợp chưa thật đồng bộ trong việc tổ chức truy quét lâm tặc… nên diễn biến trong việc phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp và mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, chưa được ngăn chặn triệt để.
Chỉ trong 4 tháng qua, ở rừng vùng giáp ranh, huyện Di Linh đã phát hiện 22 vụ vi phạm; huyện Hàm Thuận Bắc phát hiện 9 vụ; huyện Bắc Bình tổ chức 25 đợt truy quét, kiểm tra, phát hiện nhiều vụ và thu giữ 54 m3 gỗ các loại; huyện Đức Trọng phát hiện 27 vụ…
Kết thúc giao ban, các huyện có rừng giáp ranh đã thống nhất đề ra 11 giải pháp tăng cường QLBVR. Trong đó, giải pháp được quan tâm nhất là tăng cường việc thực hiện quy chế phối hợp, không chỉ cấp tỉnh, cấp huyện và các Hạt Kiểm lâm mà còn phải có sự liên kết, có quy chế phối hợp giữa các xã, các đơn vị chủ rừng có rừng giáp ranh. (Báo Lâm Đồng 2/6)đầu trang(
2-6, tại đền thờ Trần Khát Chân (thôn 8, làng Đốn Sơn, xã Vĩnh Thành, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) sẽ tổ chức lễ đón nhận Bằng công nhận cây di sản Việt Nam do Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam cấp.
Trước đó, ngày 21-12-2012, Hội đồng cây di sản Việt Nam đã họp, xét duyệt hồ sơ và kết luận toàn bộ quần thể 7 cây tại Đền Đốn Sơn (thờ danh tướng Trần Khát Chân), gồm: Cây trôi, cây trám đen, cây vải, cây trâm vối, cây muỗm, cây báng và cây thanh thất đã hội đủ các tiêu chí là cây di sản Việt Nam; 7 cây này đều có niên đại trên 600 năm tuổi. (Sài Gòn Giải Phóng 1/6)đầu trang(
Qua nghiệm thu bước đầu, ngày 14.5, VQG Bidoup Núi Bà và Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng thông báo việc nghiên cứu và trồng thử nghiệm loài cổ sinh vật “hóa thạch sống” thông hai lá dẹt trên đỉnh núi Bidoup (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) đã cho kết quả khả quan.
Thạc sỹ Lê Văn Hương – GĐ VQG Bidoup Núi Bà - cho biết: “Với độ cao từ 1.500 đến trên 2.000m, việc trồng thử nghiệm thành công giống thông cổ sinh vật này ở khu vực rừng Bidoup (giáp ranh giữa Lâm Đồng và Khánh Hòa) một lần nữa chứng minh rằng đây chính là “xứ sở” của loài hóa thạch sống thông hai lá dẹt”.
Tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng cho biết: Thông hai lá dẹt có tên khoa học là Ducampopinus kremfii, thuộc họ thông – pinaceae; với đặc trưng là có hai lá dẹt hình lưỡi kiếm. Đây là loài thông cổ được cho là sinh cùng thời với khủng long; hiện đã gần như bị tuyệt diệt trên thế giới, chỉ có độc nhất ở Việt Nam.
Thông hai lá dẹt ở Lâm Đồng được ví như “sứ giả thời tiền sử”, là một thực vật cổ “hóa thạch sống” hiếm hoi còn sót lại cho đến ngày nay (trên thế giới, ngoài Việt Nam, không còn nơi nào có loài cổ sinh vật này). Hiện tại, thông hai lá dẹt được xếp ở loài hiếm, mức độ đe dọa có thể bị tuyệt chủng (bậc R).
Lãnh đạo của Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng cho biết: “Đối với một số loài cổ sinh vật ở Lâm Đồng hiện nay, ngoài việc chú trọng bảo tồn insitu (bảo tồn tại chỗ) thì hình thức bảo tồn exsitu (bảo tồn ngoại vi) như thu thập hạt giống gây trồng ngoài vùng phân bố tự nhiên cũng được chú trọng một cách đặc biệt”.
Ở rừng Lâm Đồng có các quần thể thông hai lá dẹt phân bố tự nhiên, kết quả khảo sát của các nhà khoa học trong những năm gần đây cho thấy, khả năng tái sinh tự nhiên của loài cổ thực vật này là rất kém. Do vậy, khả năng thay thế những cánh rừng thông hai lá dẹt thuần thục một cách tự nhiên là rất hiếm có.
Chính vì thế mà các nhà khoa học của Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng đã “hướng” về phương pháp exsitu trong công tác bảo tồn và phát triển giống cây cổ sinh vật thời tiền sử thông hai lá dẹt. Theo nhóm nghiên cứu của Trung tâm, cái khó nhất trong việc nghiên cứu nhân giống thông hai lá dẹt là ở chỗ tạo được một môi trường phù hợp để chăm. Nếu trước đây, phương pháp ươm hạt tạo cây con còn khó khăn thì nay, khâu tạo giống đã có sự can thiệp của kỹ thuật in vitro (nhân giống vô tính) nên việc tạo cây con tương đối dễ dàng.
Vấn đề lúc này là nuôi cây con trong vườn ươm và đưa cây giống ra ngoài hiện trường để trồng. Từ 5 năm về trước, việc nhân giống loài thực vật cổ sinh này được thực hiện chủ yếu bằng cách ươm hạt nên số lượng cây giống không nhiều; với lại, tuy các nhà khoa học có mang loại cây giống này đi trồng một số nơi nhưng tỉ lệ cây sống đạt rất thấp. (Lao Động 31/5)đầu trang(
Theo ông Nguyễn Ngọc Xuân, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên, tuy đang quản lý hơn 12.000 ha rừng, phân bố từ cuối thị xã Gia Nghĩa, qua huyện Đắk R’lấp và kéo dài đến huyện Bù Đăng (Bình Phước), có địa hình chia cắt mạnh, nhưng trong 5 tháng qua, đơn vị mới để bị phá hơn 1 ha rừng. Rừng bị xâm chiếm ít, trước hết là do toàn đơn vị đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Theo đó, hàng tuần, việc phân công lịch trực, chốt chặn những điểm “nóng” phá rừng được giám sát chặt chẽ 24/24 giờ. Vì vậy, khi phát hiện có dấu hiệu phá rừng là đơn vị ngăn chặn kịp thời. Sau nữa, đơn vị còn phối hợp với chính quyền các xã giáp ranh tuyên truyền, tổ chức cho người dân ký cam kết không vào phá rừng. Mặt khác, đơn vị cũng tích cực chia sẻ thông tin, phối hợp với lực lượng kiểm lâm tuần tra và xử lý nghiêm những đối tượng phá rừng, nên có tác động lan tỏa cao, giúp ngăn chặn hiệu quả việc xâm hại rừng...
Ở góc độ là đơn vị giám sát công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, ông Mai Xuân Bảo, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk R’lấp nhận xét: “Từ số vụ, diện tích rừng bị xâm hại ở khu vực rừng phòng hộ Nam Cát Tiên thấp đã phản ánh một phần nỗ lực, cố gắng của “chủ rừng”.
Ngoài nhiệm vụ giám sát, phối hợp với “chủ rừng” quản lý rừng, Hạt Kiểm lâm huyện còn thường xuyên tăng cường lực lượng kiểm lâm địa bàn tuyên truyền phổ biến Luật Quản lý, bảo vệ rừng xuống tận cơ sở. Kiểm lâm huyện còn phối hợp với lực lượng chức năng, chính quyền cấp xã nhiều lần giải tỏa, cưỡng chế các điểm xâm lấn rừng, góp phần hạn chế khá hiệu quả tình trạng người dân vào chặt phá rừng làm nương rẫy”.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế cho thấy, công tác quản lý bảo vệ rừng ở rừng phòng hộ Nam Cát Tiên hiện vẫn còn không ít thách thức. Hiện tại, trong khu rừng này vẫn còn khoảng 300 hộ dân đang canh tác hơn 1.000 ha đất, xen lẫn rừng. Trong khi đó, lực lượng quản lý rừng của “chủ rừng” mới chỉ có 12 cán bộ, nhân viên. Đây được xem là một trở ngại không nhỏ đối với “chủ rừng” trong quá trình ngăn chặn dứt điểm nạn phá rừng.(Báo Đăk Nông 31/5) đầu trang(
Bộ Thông tin và Truyền thông vừa phát hành bộ tem bưu chính "Chim vườn quốc gia Xuân Thủy" giới thiệu 5 loài chim đặc trưng sống tại vườn quốc gia Xuân Thủy (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
Bộ tem do họa sỹ thuộc Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam thiết kế, gồm 4 mẫu và 1 blốc tem có tên gọi: Cò mỏ thìa, Choắt chân màng lớn, Vịt mỏ thìa, Te vàng và Bồ nông chân xám. Phát hành kèm theo các mẫu tem và blốc tem "Chim vườn quốc gia Xuân Thủy" còn có 2 phong bì ngày phát hành đầu tiên và 4 bưu thiếp cực đại. Tem có thời hạn lưu hành trên mạng bưu chính công cộng đến ngày 31-12-2014. (Hà Nội Mới 3/6)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
“Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) không chỉ gói gọn ở việc hoàn thiện các quy định của pháp luật mà phải đi đôi với vận động, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người dân thông qua các hoạt động nhân rộng nhiều mô hình, tuyên truyền và gửi thông điệp tới cộng đồng” – Đó là nhận định của nhiều chuyên gia tại buổi Tọa đàm về Các sáng kiến mới trong bảo tồn ĐDSH.
Không thể phủ nhận vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực thi pháp luật về bảo tồn ĐDSH cũng như trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học nhằm đưa ra những giải pháp, sáng kiến quan trọng song nếu thiếu đi vai trò của cộng đồng dân cư thì bảo tồn ĐDSH khó đạt hiệu quả.
Thực tế cho thấy, kiểm lâm gặp nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ rừng bởi lẽ rừng có nhiều cửa, không có rào chắn nên việc ngăn chặn hành vi vi phạm không hề dễ dàng. Mặt khác, theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tại các khu bảo tồn quốc gia, mỗi kiểm lâm sẽ có trách nhiệm bảo vệ tương đương với 500ha rừng. Rõ ràng, việc một cán bộ kiểm lâm quán xuyến hết một diện tích lớn như vậy thực sự là thách thức đối với họ.
Theo Ts Phạm Quốc Hùng - Vụ Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế - Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN và PTNT, hiện có khoảng 12 ngàn cán bộ kiểm lâm trong khi đó nước ta có tới 13,5 triệu hécta rừng. Nếu không có sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng thì với lực lượng như vậy sẽ không thể bảo vệ nổi rừng.
Hơn nữa, tất cả những khu vực có giá trị ĐDSH cao bao gồm các khu vực rừng nguyên sinh đều có dân cư sinh sống. “Người dân nhờ có ĐDSH mà tồn tại và phát triển, do đó việc cộng đồng dân cư tham gia trực tiếp vào quản lý, kiểm tra bảo vệ rừng sẽ góp phần quan trọng phát hiện những hành vi vi phạm như khai thác gỗ lậu hay buôn bán trái phép động vật hoang dã” - Phó giám đốc Trung tâm Thiên nhiên và Con người Nguyễn Việt Dũng nhấn mạnh.
Điều đó đòi hỏi phải gắn kết công tác bảo tồn với sinh kế của người dân để việc bảo tồn ĐDSH đạt hiệu quả và người dân vẫn duy trì được cuộc sống của mình. Trên thực tế, nỗ lực bảo tồn ĐDSH ở nước ta thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực với những sáng kiến, mô hình dựa vào cộng đồng.
Thậm chí có những mô hình được duy trì nhiều năm đơn cử như việc quản lý rừng thiêng của đồng bào dân tộc miền núi hay mô hình quản lý rừng ngập mặn của cộng đồng ven biển, sáng kiến xây dựng mô hình cộng đồng tham gia khu bảo tồn. Điều đáng nói là có những địa phương người dân tự đứng ra tổ chức mô hình thôn xóm bảo vệ rừng đơn cử như Khu bảo tồn ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bước đầu thuận lợi không có nghĩa là thiếu đi những khó khăn, thách thức trong công tác bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng. Cái khó nhất hiện nay là phải làm sao khuyến khích, huy động được người dân tham gia tích cực để họ thấy được những lợi ích thực sự từ hoạt động thiết thực đó. Một chuyên gia môi trường chia sẻ, Chính phủ mới bắt đầu đi vào thử nghiệm chia sẻ lợi ích trong hoạt động quản lý bền vững các khu đặc dụng, các khu bảo tồn do đó việc huy động và bảo đảm sự tham gia rộng rãi của cộng đồng là không hề dễ dàng.
Khi nghiên cứu về tình hình khai thác gỗ lậu ở địa phương nhiều chuyên gia cho biết, mặc dù nhiều nơi có thiết chế tương đồng nhau nhưng có địa phương bảo tồn rất tốt lại có nơi công tác này không đạt hiệu quả. Đâu là căn nguyên dẫn tới hiện tượng đó?
Theo chuyên gia phân tích chính sách quản lý tài nguyên Tô Xuân Phúc, lợi ích cộng đồng đã được hô hào từ rất lâu song nếu không chỉ ra được quyền lợi của họ thì việc huy động sức dân trong công tác bảo tồn thực sự là thách thức lớn. Điều đáng nói là cho tới nay vẫn còn nhiều người nhầm lẫn giữa trách nhiệm và quyền của người dân khi tham gia bảo vệ rừng cũng như bảo tồn ĐDSH. Vấn đề cốt lõi là những nhà quản lý cần có cách nhìn thoáng hơn, trao cho cộng đồng nhiều quyền hơn là quy trách nhiệm cần phải làm.
Bên cạnh đó, việc làm rõ khái niệm cộng đồng cũng rất cần thiết bởi tùy từng nơi, sự gắn kết cộng đồng lại khác nhau. Đơn cử như tại Tây Nguyên, chất gắn kết chặt chẽ trong họ dễ tạo ra tiếng nói chung cũng như sự đồng thuận trong mọi hoạt động. Khi đó, công tác bảo tồn ĐDSH sẽ dễ dàng hơn bởi nó bảo đảm được lợi ích công bằng của người dân nơi đây.
Trong khi đó, ở những nơi có sự di cư hay thay đổi nhân học lớn sẽ dẫn tới những pha tạp trong cách hiểu, cách sống của cộng đồng và lợi ích của họ cũng vì thế mà khác nhau. “Đó là cái khó mà những dự án bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng đang phải đối diện” – Ts Tô Xuân Phúc nhấn mạnh.
Rõ ràng, muốn quan tâm tới cộng đồng cũng như giáo dục được ý thức bảo tồn ĐDSH, cần phải xác định cụ thể và phân loại từng nhóm riêng biệt để từ đó đưa ra cơ chế chính sách huy động phù hợp bảo đảm cho công tác bảo tồn ĐDSH đạt hiệu quả cao. (Đại Biểu Nhân Dân 1/6)đầu trang(
Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 9/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đề ra mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo...
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km với vùng đặc quyền kinh tế gấp 3 lần diện tích đất liền (trên 1 triệu km²), có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa.
Bảo tồn biển nhằm bảo vệ các hệ sinh thái, các loài thủy sinh vật biển có giá trị và tầm quốc gia hoặc quốc tế về khoa học, giáo dục, du lịch, giải trí. Biển Việt Nam bao gồm hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Các hệ sinh thái này có giá trị dịch vụ sinh thái rất lớn, là nơi cư trú, bãi đẻ, ương nuôi của nhiều loài thủy sinh vật bản địa và di cư, có mức độ đa dạng sinh học cao với nhiều giống loài cá, giáp xác, nhuyễn thể... đặc trưng.
Rừng ngập mặn hiện nay còn lại khoảng 210.000 ha với khoảng 1.600 loài sinh vật, trong đó có nhiều thủy đặc sản chỉ sống gắn bó với rừng ngập mặn. Có 125 loài động vật đáy và 158 loài rong biển sống trong và dưới 5.583 ha thảm cỏ biển, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như ngó đen, ngó đỏ, hến, cua, tôm, hải sâm...
Đa dạng sinh học biển và các hệ sinh thái biển đã cung cấp nguồn lợi hải sản to lớn cho nền kinh tế với khoảng 5 triệu tấn cá biển (khả năng khai thác bền vững là 2,3 triệu tấn) và trữ lượng lớn tôm biển, mực và các loài sinh vật đáy trong vùng triều. Đa dạng sinh học của các hệ sinh thái biển là nền tảng cho việc phát triển bền vững một số ngành kinh tế biển dựa vào tài nguyên thiên nhiên như du lịch, thủy sản, y dược biển.
Bảo tồn biển là hoạt động quản lý các vùng biển xác định (kể cả đảo có trong vùng biển đó) hướng tới mục đích bảo vệ các loài động thực vật có giá trị. Bảo tồn biển sẽ bảo vệ các hệ sinh thái biển và duy trì sự đa dạng sinh học biển. Hệ quả là các loài động, thực vật ở vùng biển được bảo vệ, cảnh quan vùng biển được duy trì, là nền tảng tạo ra sự phong phú về sản vật, sản phẩm biển (thủy, hải sản, cảnh quan môi trường biển...) để các doanh nghiệp, các cộng đồng, các quốc gia phát triển thương hiệu biển, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Hiện nay, Việt Nam đã chú ý thực hiện các cam kết quốc tế và đẩy mạnh công tác bảo tồn biển. Ngày 26/5/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020. Theo đó, đến năm 2015, Việt Nam sẽ thiết lập và đưa vào hoạt động 16 khu bảo tồn biển trải dài từ bắc xuống nam. Giai đoạn 2016 đến 2020 sẽ nghiên cứu, đề xuất quy hoạch phát triển mở rộng hệ thống khu bảo tồn biển, thiết lập và đưa vào hoạt động một số khu bảo tồn biển mới.
Việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các bộ, ngành và các địa phương ven biển chủ động hơn trong kế hoạch hành động bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ cảnh quan môi trường biển, góp phần thúc đẩy phát triển thương hiệu biển Việt Nam cũng như phát triển kinh tế biển bền vững.(Công Thương 1/6)đầu trang(
Ông Nguyễn Công Vân, Giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình (Ninh Thuận), cho biết đơn vị đã thỏa thuận mua lại đàn bò tót lai (8 con) của người dân địa phương để thực hiện đề tài khoa học nghiên cứu giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò lai F1 giữa bò tót (Bos gaurus) và bò nhà (Bos taurus) tại vùng giáp ranh Ninh Thuận - Lâm Đồng.
Hiện nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành xác định AND của đàn bò tót lai, làm chuồng trại, theo dõi động dục... Khi trưởng thành, bò lai sẽ có trọng lượng lớn và cho khối lượng thịt hơn hẳn bò nhà.
Được biết, từ cuối năm 2008 đến nay, tại Vườn quốc gia Phước Bình xuất hiện một con bò tót đực nặng gần 1 tấn, thường xuyên về sống chung với đàn bò nhà của người dân xã Phước Bình, H.Bác Ái (Ninh Thuận) và cho ra đời hơn 10 bê lai có thể trọng cao to, khác hẳn bò nhà. (Thanh Niên 3/6)đầu trang(
"Chúng ta có cần hy sinh tài nguyên và tương lai của một vùng đất to lớn (lá phổi của quốc gia) để cho vài người thành tỷ phú? Hy sinh tài nguyên rừng để đổi lấy một chân cu li trong một cánh rừng cao su, với mức lương 300 - 400 USD?" - Đó là những câu hỏi mà TS. Alan Phan đặt ra về hiện trạng phá rừng đang ngày càng đe doạ đến cuộc sống của con người.
Xoay quanh những vấn đề liên quan đến việc tàn phá và bảo vệ rừng đang được dư luận quan tâm hiện nay, PV Báo Đất Việt đã có cuộc trao đổi với TS. Alan Phan về những vấn đề này.
Bài toán trồng cây công nghiệp ngắn ngày như cao su, cafe...nhân danh tạo ra công ăn việc làm cho người dân Tây Nguyên mà nhiều nhà khoa học cho rằng đó là tàn phá rừng, thiệt hại không chỉ môi trường sống của cư dân bản địa mà còn kéo theo nhiều hệ lụy khác nữa. Người Việt gọi là "bóc ngắn cắn dài", còn quan điểm của TS. về vấn đề này ra sao? TS. Alan Phan: - Vấn đề phá rừng để trồng cây cao su, cây cà phê, hoặc làm cái này, cái kia vì mục đích kinh tế thì cũng có những lợi ích là tạo ra việc làm. Nhưng việc làm đó với số tiền đó có đáng để trả lại những cái lỗ cho các nguồn tài nguyên? Cho môi trường bị huỷ hoại?
Rừng mà bị huỷ hoại thì coi như là phổi của con người cũng tiêu. Vậy tất cả những chi phí y tế, chi phí tái lập lại môi trường... cùng với việc tàn phá văn hoá của người bản địa, của những người quen sống trong một môi trường hàng trăm năm nay, thì dù mình có thích hay không thích thì đó cũng là môi trường hài hoà với lối sống, với suy nghĩ của người dân. Giờ chúng ta san bằng đi để cho những người dân ở đây một cái chân làm cu li trong một cánh rừng cao su, trả cho họ 300 - 400 USD/ 1 tháng, thì cái giá đấy có đáng không?
Đương nhiên những người phá rừng, những người đi trồng cao su thì họ quá lời, họ sẽ kiếm bạc tỷ. Nhưng vấn đề chính là tại sao mình lại đi tàn phá cái tài nguyên của mình để làm cho vài người trở nên giàu có? Trong khi đó cả trăm ngàn người khác lại lâm vào cảnh khổ? Đó là một cái giá không đáng chút nào.
TS. Alan Phan: Trên thế giới, có 2 vũ khí mạnh nhất để chống lâm tặc là sự tham gia của các tổ chức thiện nguyện phi chính phủ và sự tố cáo mạnh mẽ của mạng truyền thông khắp thế giới. Chúng ta đừng quá tin cậy vào các biện pháp hành chính.
Tôi nghĩ, sự tham gia của các nhóm môi trường và sự lên tiếng mạnh mẽ của truyền thông để tăng cường độ của các lời cáo buộc sẽ có tác dụng đối với các hành vi tàn phá môi trường. Nó sẽ khiến các cổ đông, các công ty hay các quỹ đầu tư từ đó mà e ngại rút vốn ra khỏi các dự án cao su, cà phê để tránh tai tiếng. Sự thiếu hụt nguồn vốn sẽ dẫn đến nhiều sức ép và bản thân nhà đầu tư sẽ phải thận trong hơn trong các hoạt động của mình.
Ngoài ra, những công ty, doanh nghiệp bị tố cáo tàn phá rừng có thể còn bị sức ép về giá cả và sự bài trừ sản phẩm từ phía người dân. Những đối tác của họ cũng từ đó mà sẽ cân nhắc trong việc hợp tác, sử dụng sản phẩm và tìm kiếm một nguồn cung cấp khác. Đó là sự rủi ro lớn nhất về lâu dài đối với nhà đầu tư .
Ở đất nước mà nạn phong bì, tham nhũng đã thành lệ, chỉ đứng sau luật...thì việc các nhóm lợi ích liên kết lại dùng lệ để lách luật là vô cùng khó điều tra cáo buộc trước công luận. Vậy theo TS, chúng ta cần phải làm gì để ngăn chặn nạn phá rừng tàn phá môi trường sống? TS. Alan Phan: - Đây là một vấn đề hết sức phức tạp vì nó liên quan đến việc tham nhũng, đến phong bì.
Muốn bảo vệ rừng thì không thể phụ thuộc vào những nhân viên kiểm lâm, vì họ ăn phong bì rất dễ, mà lợi nhuận từ gỗ rừng là rất cao. Cho nên vấn đề là phải làm sao để mở rộng ra, khi có ánh sáng, có sự minh bạch thì những con chuột, con gián sẽ bắt đầu chạy. Như Indonexia, Liberia, Myanmar... người ta bắt đầu bằng việc cho những nhóm thiện nguyện vào để quan sát, để theo dõi như các nhóm Global Witness hay các tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường.
Khi các nhóm vô vụ lợi vào cuộc, cộng với sự tự do ngôn luận sẽ là những rào cản hữu hiệu để những công ty, doanh nghiệp vì mục tiêu làm giàu mà tàn phá rừng sẽ phải có trách nhiệm với xã hội xung quanh hơn. Và sự ăn uống, sự chia chác phong bì, sự tàn phá rừng, đốn gỗ... sẽ bị quan sát và họ sẽ thấy sợ hơn.
TS. Alan Phan cho hay: Như tôi đã nói ở trên, sự vào cuộc của các nhóm thiện nguyện là cần thiết trong việc bảo vệ rừng. Họ là những tổ chức vô vụ lợi. Còn lòng tham của con người là vô hạn, nên chúng ta mới cần đến những công cụ như Global Witness, dựa trên những lý tưởng cao cả, những cảm xúc, nỗi đau của con người và thiên nhiên để đưa những vụ việc tàn phá rừng ra ánh sáng.
Và thứ hai là chúng ta có thể kêu gọi thế giới giúp đỡ. Có rất nhiều tổ chức trên thế giới họ tài trợ vấn đề trồng rừng, bảo vệ rừng. Ví dụ như một số vùng ở Amazon cũng bị tàn phá rất nhiều. Họ đã bắt đầu kêu gọi thế giới thì một số tổ chức bên Mỹ của các tỷ phú muốn bảo vệ môi trường đã đứng ra giúp đỡ họ. Thay vì để những người dân huỷ hoại rừng, họ làm ra những chương trình, trả tiền cho những người nông dân để người dân ở đây không phá rừng. Vẫn là đất của họ, mỗi một năm họ sẽ nhận được một khoản tiền nhất định để bù đắp cho nguồn thu nhập của họ để họ không phá rừng. Còn nếu họ vi phạm thì họ sẽ không được gì.
Đấy là sự giúp đỡ của thế giới và chúng ta cần phải nhờ đến họ. (Đất Việt 3/6)đầu trang(
Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đặt kì vọng kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD sau 2 năm tới và tăng lên 8 tỷ USD vào năm 2020 (bình quân 9%/năm). Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu không phải là chuyện dễ dàng.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.Hồ Chí Minh (HAWA) cho biết, Hội vừa gửi 7 kiến nghị lên Chính phủ và các cơ quan liên quan về chính sách phát triển ngành chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2020. Trong đó, đề xuất các giải pháp khác nhau về nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực, công nghệ sản xuất và chính sách cho công nghiệp phụ trợ,…nhằm đưa ngành chế biến gỗ thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Theo ông Thắng, dù hoạt động xuất khẩu của ngành chế biến gỗ vẫn giữ vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu qua các năm, nhưng không vì thế mà chủ quan vì các DN chế biến đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện mới dừng ở các dòng sản phẩm trung cấp trở xuống, thiếu các dòng sản phẩm lớn hơn để có thể thỏa mãn các đơn đặt hàng về lượng và chất. Đây cũng là điểm yếu của các DN trong nước so với nước láng giềng Trung Quốc. Ông Thắng cho biết, các DN chế biến gỗ Trung Quốc thể gia công các sản phẩm nội thất có giá thấp hơn đến 20% so với VN và nếu không tự đổi mới để đáp ứng nhu cầu thì DN Việt sẽ mất khách hàng và mất thị trường.
Còn theo ông Lê Văn Hồng - Tổng GĐ Bixico, hạn chế lớn nhất của các DN chế biến gỗ xuất khẩu trong nước hiện nay vẫn là việc đầu tư dàn trải, chưa tập trung vào chuyên sâu, trong khi không ít trường hợp cạnh tranh không lành mạnh.
Do tình hình kinh tế khó khăn, hiện ngành sản xuất đồ gỗ của VN có lượng tồn kho tăng 32,2%. Riêng về sản xuất giường, tủ, bàn, ghế có tỷ lệ tồn kho lên đến 100,3% (gồm đồ gỗ và các nguyên liệu khác). Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2013, ngành chế biến đồ gỗ nằm trong danh mục các sản phẩm hàng hóa có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm.
Tại buổi làm việc với HAWA mới đây, ông Lê Hoàng Quân, Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những nhiệm vụ hàng đầu hiện nay là phải tập trung tháo gỡ khó khăn cho các DN chế biến gỗ, đặc biệt là các chính sách về ưu đãi về lãi suất, quảng bá sản phẩm, đào tạo nhân lực để DN có cơ hội được tiếp cận vay vốn.
Theo ông Quân, hiện chỉ có khoảng 5-6 DN trong tổng số 160DN chế biến gỗ được giải quyết vay vốn là một con số quá ít, do đó Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cần phối hợp với HAWA để xem xét, tìm giải pháp hướng dẫn DN làm thủ tục vay với lãi suất ưu đãi (có thể là 0%).
Chỉ có như vậy, ngành gỗ mới hồi sức và có thể đạt tốc độ tăng trưởng ổn định khoảng 6%/năm trong giai đoạn đến năm 2030 (đạt 12,22 tỷ USD). (Đại Đoàn Kết 1/6)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm TP.HCM cho biết đầu năm 2013 đến nay TP đã xuất khẩu (XK) 3.985 con cá sấu với giá trị ước đạt 15 tỉ đồng, tăng gần gấp hai lần so với lượng cá sấu XK cả năm 2012 (2.066 con), trong đó cá sấu sống XK tăng xấp xỉ gấp bốn lần (từ 936 con cả năm 2012 lên 3.710 con).
Ngoài ra, mã số thẻ CITES (giấy phép buôn bán quốc tế động, thực vật hoang dã) được cấp từ đầu năm đến nay tăng 37,6 lần so với cùng kỳ năm 2012.
Theo ông Lâm Tùng Quế, phó giám đốc Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã (Chi cục Kiểm lâm TP), hiện tổng đàn cá sấu TP vào khoảng 176.000 con. (Tuổi Trẻ 3/6)đầu trang(
1/6, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho hay, Chủ tịch UBND TP Văn Hữu Chiến vừa chỉ thị UBND các quận, huyện có rừng tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, các chính sách về quản lý, bảo vệ, PCCC rừng và phát triển rừng trên địa bàn.
Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đặc biệt yêu cầu các địa phương giám sát, theo dõi chặt chẽ việc xử lý đốt thực bì trong những ngày nắng nóng, khô hạn; phối hợp với lực lượng kiểm lâm kiểm soát và hướng dẫn người dân thực hiện quá trình đốt thực bì vào mùa hè; xử lý thật nghiêm các trường hợp vi phạm gây nguy hại tài nguyên rừng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Đồng thời rà soát tình hình quản lý, sử dụng rừng của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư trên địa bàn; chủ động phối hợp với các chủ rừng trong việc quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng và xây dựng trái phép trên đất lâm nghiệp. Đối với diện tích đất lâm nghiệp chưa có chủ quản lý, Chủ tịch UBND các quận, huyện phải chỉ đạo UBND các phường, xã tổ chức quản lý, triển khai thực hiện các phương án bảo vệ, phát triển rừng.
Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cũng yêu cầu Sở NN-PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương các cấp tăng cường kiểm tra, kiểm soát tại các khu vực rừng trọng điểm về phá rừng để có biện pháp ngăn chặn; kiểm tra, xử lý các đơn vị, tổ chức, cá nhân đưa phương tiện, dụng cụ vào rừng không đúng quy định; xác định khu vực cấm, tiến hành lắp đặt các biển báo cấm để các tổ chức, cá nhân biết và chấp hành; và ra quyết định tạm dừng đốt thực bì trong những ngày nắng nóng, khô hạn.
Yêu cầu Sở VH-TT-DL phối hợp Sở NN&PTNT và cơ quan Kiểm lâm quản lý các đơn vị đang kinh doanh các hoạt động du lịch có sử dụng môi trường rừng và đất lâm nghiệp; yêu cầu các đơn vị phải có phương án quản lý bảo vệ rừng, PCCC cháy rừng được cơ quan thẩm quyền phê duyệt; khi triển khai các hoạt động du lịch trong rừng đặc dụng phải trưng cầu ý kiến tham vấn của Sở NN-PTNT, cơ quan Kiểm lâm và các đơn vị liên quan trước khi trình UBND TP Đà Nẵng xem xét, quyết định. (Theo Infonet 1/6)đầu trang(
1/6, Giám đốc Sở NN-PTNT Đà Nẵng Trần Đình Quỳnh cho biết vừa có văn bản đề nghị UBND TP Đà Nẵng chấm dứt hoạt động của tour du lịch bắn súng sơn hiện đang được tổ chức trên khu đất lâm nghiệp có tổng diện tích 33h tại khu vực rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 63 của khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Khu đất này được giao khoán cho ông Phạm Hùng Mạnh (trú phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) làm vườn, trồng rừng. Tuy nhiên ông Mạnh đã vi phạm hợp đồng giao khoán khi tự ý xây dựng nhà, đường nội bộ, hồ nước để kinh doanh dịch vụ du lịch. Thế nhưng Sở VH-TT-DL Đà Nẵng vẫn trình UBND TP Đà Nẵng cho phép Công ty Huy Khánh và Công ty MDQ đưa vào khai thác tour du lịch bắn súng sơn tại đây.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, hoạt động bắn súng sơn diễn ra tại khu vực rừng tự nhiên, là nơi sinh sống của các loài động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có loài voọc chà vá chân nâu và cu li. Dịch vụ bắn súng sơn còn sử dụng các phương tiện gây tiếng ồn, ô nhiễm môi trường, mang hóa chất độc hại gây tác động tiêu cực lên hệ sinh thái và vi phạm nghiêm trọng Luật bảo vệ và phát triển rừng. (Theo Infonet 1/6)đầu trang(
Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện, Đặng Ngọc Quyền cho biết: “Năm nay công tác chuẩn bị cho trồng rừng khẩn trương và chu đáo từ khâu chuẩn bị hiện trường, cây giống và phân bón được cung ứng kịp thời. Thời tiết trong tháng 3, tháng 4 có mưa nhỏ nên thuận lợi cho việc trồng rừng. Đến 30-4, huyện đã cơ bản hoàn thành trồng rừng vụ xuân. Cây đã trồng sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao”.
Việc trồng rừng hiện nay đã phát triển mạnh ở khắp địa bàn huyện chứ không chỉ ở Thạch Kiệt. Tân Sơn là huyện có diện tích đất rừng khá lớn, trong tổng số hơn 68 nghìn ha đất tự nhiên thì có tới ¾ là đất rừng. Vì vậy công tác trồng và bảo vệ rừng được huyện đặc biệt quan tâm. Hàng năm trên địa bàn huyện trồng mới hơn một nghìn ha rừng.
Riêng năm 2012, huyện trồng hơn 1.800ha, trong đó trồng rừng theo Dự án bảo vệ và phát triển rừng được hơn 600ha; 2 công ty lâm nghiệp trồng hơn 400ha; người dân tự trồng 717 ha; Ban quản lý dự án Vườn quốc gia Xuân Sơn trồng 120 ha. Năm 2013, toàn huyện phấn đấu trồng hơn 1.000ha, trong đó trồng rừng theo dự án là 500 ha, còn lại là các công ty lâm nghiệp và người dân tự trồng.
Để việc trồng rừng đúng tiến độ, đạt kết quả tốt, Hạt kiểm lâm đã tổ chức tập huấn cho các hộ dân trồng rừng trên địa bàn; triển khai nhận và cấp cây giống, phân bón cho các hộ sản xuất. Trồng rừng xong các cán bộ kiểm lâm còn hướng dẫn, đôn đốc các hộ chăm sóc và trồng dặm rừng, yêu cầu các hộ có chất lượng rừng kém ký cam kết chăm sóc, trồng dặm để rừng đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. (Báo Phú Thọ 1/6)đầu trang(
Thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, sáng 27/5/2013, UBND huyện Hòa Bình tổ chức họp triển khai kế hoạch trồng rừng phòng hộ và trồng cây phân tán năm 2013 và thành lập Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng.
Nội dung trọng tâm của buổi họp là phấn đấu trồng, bảo vệ và phát triển diện tích rừng phòng hộ 60ha ở 3 xã ven biển là Vĩnh Hậu A, Vĩnh Thịnh và Vĩnh Hậu (khu vực từ đê biển Đông đến kênh 130). Trước mắt, cho trồng thí điểm 5ha ở mỗi xã, số còn lại sẽ kết hợp với Chi cục Kiểm lâm Bạc Liêu rà soát và trồng sau.
Tổng số cây trồng lần này trên 54.000 cây, chủ yếu là các loại cây như: sao, xà cừ, phi lao. (Báo Bạc Liêu 2/6)đầu trang(
Để phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2013, huyện Chợ Đồn đang tập trung chỉ đạo các xã, thị trấn tích cực đôn đốc nhân dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, đảm bảo đúng thời vụ để cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Năm nay, huyện Chợ Đồn có kế hoạch trồng 2.000ha rừng theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó trồng rừng sản xuất 1.750ha, rừng phòng hộ, đặc dụng 210ha và trồng phân tán 40ha.
Theo ông Trương Quốc Tuân- Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết: Đến nay, toàn huyện đã thiết kế được 2.215ha/2.000ha kế hoạch, trong đó nhân dân đã xử lý thực bì được khoảng 71% diện tích. Về cây giống, huyện cũng đã thẩm định, xuất vườn đợt 1 được hơn 4 triệu cây mỡ, keo và đã cung ứng cho nhân dân gần 2 triệu cây giống.
Tính hết tháng 5, toàn huyện đã trồng được khoảng 400ha rừng. Hiện nay đang là thời vụ trồng rừng, để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, hiện chính quyền huyện cũng như các phòng, ban chức năng tập trung chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và bà con nhân dân đẩy mạnh việc dọn thực bì, cuốc hố… Tuy nhiên, công tác trồng rừng trên địa bàn huyện đang gặp phải những khó khăn nhất định, có thể ảnh hưởng đến kế hoạch đề ra.
Hiện nay, nhiều hộ dân đã tự ý bỏ, không trồng khoảng 260ha diện tích rừng đã thiết kế. Nguyên nhân bởi họ nghi ngại tình trạng sâu ong phá hoại, gia đình không có nhân lực hoặc một số diện tích trồng cây keo trước đây, nay chưa khai thác được nên không có diện tích trồng… Bên cạnh đó, ngay từ đầu vụ một số hộ dân đăng ký trồng mỡ nay chuyển đổi sang trồng keo nên cũng gây khó khăn cho công tác chuẩn bị cây con cung ứng cho nhân dân. (Báo Bắc Kạn 1/6)đầu trang(
Được hưởng lợi từ Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (dự án WB3), những năm qua, huyện Tuy Phước đã có nhiều cố gắng phủ xanh rừng trồng trên đất trống, đồi núi trọc, đất chuyển đổi từ rừng trồng kém chất lượng, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương.
Theo báo cáo của Ban thực hiện Dự án WB3 huyện Tuy Phước, 8 năm qua (2005-2012), toàn huyện trồng được hơn 1.026 ha/1.160 ha rừng đã thiết kế ở 2 xã Phước An và Phước Thành. Các hộ tham gia đều được dự án hỗ trợ tập huấn chuyển giao kỹ thuật xử lý thực bì, đào hố, bón phân, chọn mua cây giống có chất lượng tốt…
Sau mỗi công đoạn đều có Hội đồng nghiệm thu của huyện và tổ công tác xã tổ chức nghiệm thu đến từng lô rừng trồng. Nhờ vậy, chất lượng cây giống đều bảo đảm, việc chăm sóc rừng trồng được thực hiện đúng quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh, phòng trừ sâu bệnh theo chu kỳ phát triển của từng giống cây, nên tỉ lệ cây sống đạt trên 95%, sinh trưởng phát triển tốt.
Để tạo thuận lợi cho các hộ trồng rừng, UBND huyện Tuy Phước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 535 hộ với diện tích 1.026 ha. Qua đó, tạo điều kiện cho các hộ vay hơn 10,2 tỉ đồng từ nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng Thế giới, với mức vay từ 10 -15 triệu đồng/ha, phục vụ đầu tư thâm canh, chăm sóc rừng trồng có hiệu quả .
Sau 8 năm thực hiện trồng rừng theo Dự án WB3, diện tích đất lâm nghiệp, đất trống, đồi núi trọc, diện tích đất rừng kém hiệu quả của huyện dần được phủ xanh cây bạch đàn và keo lai, góp phần tăng độ che phủ rừng trên địa bàn. Đến nay, một số diện tích rừng trồng các năm đầu thực hiện dự án đã cho thu hoạch. (Báo Bình Định 31/5)đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 109 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng, thấp hơn 44 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó đã xử lý vi phạm hành chính 89 vụ, 17 vụ đang trong quá trình xem xét xử lý và 3 vụ vi phạm có tính chất nghiêm trọng đã được chuyển qua xử lý hình sự. Số vụ vi phạm về rừng giảm là nhờ công tác bảo vệ rừng, kiểm tra, kiểm soát lâm sản được tăng cường hơn. Bên cạnh đó, tình hình vi phạm về lấn chiếm đất đai, phá hoại rừng, săn bắt động vật hoang dã được kiểm tra ngăn chặn quyết liệt cũng đã giảm mạnh. (Báo Đà Nẵng 2/6)đầu trang(
Nhiều loài quý hiếm thuộc họ linh trưởng ở chốn rừng sâu bị săn lùng, rồi cầm tù, xiềng xích để mua vui. Số khác trở thành món khoái khẩu trên bàn nhậu và thần dược thỏa mãn thú ăn chơi của người có tiền.
Là một trong 5 người được nhận giải thưởng "Cống hiến bảo vệ động vật hoang dã" do các tổ chức bảo tồn và Đại sứ quán Mỹ trao tặng tháng trước, anh Trần Thanh Bình, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, kể rằng anh không nhớ nổi đã chỉ huy bao nhiêu vụ vây bắt các đối tượng tận diệt thú hoang. Tuy nhiên có một vụ đã xảy ra từ mấy năm trước nhưng khiến anh bị ám ảnh mãi. Đó là hình ảnh cả chục con voọc, mang (đỏ), chồn, nai, heo rừng bị chặt đầu, xẻ thịt, máu nhuộm đỏ cả thảm cỏ.
"Toàn bộ số thú với lượng thịt lên đến hơn 300 kg này đã bị toán thợ săn 13 người tàn sát chỉ trong một đêm ở vùng giáp ranh hai vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà thuộc tỉnh Lâm Đồng và Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk. Đó là chưa kể số thịt và lòng mà chúng vứt la liệt dưới sông, trên rừng", anh Bình nói.
Nhóm thợ săn đã sử dụng một súng carbine quân dụng và ba súng kalip với nòng được gắn đèn pha cực mạnh, và ống ngắm bắn tỉa thấu kính lớn nên ngay cả những con thú nhỏ cũng khó thoát thân.
"Đây là đường dây săn bắt thú hoang dã lớn nhất Nam Tây Nguyên với các kỷ lục về số thợ săn, số lượng súng đạn, số con thú bị giết trong một đêm", anh Bình nói.
Sau vụ việc này, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WCS) quyết định hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng triệt phá các băng nhóm săn bắt thú và các nhà hàng, quán ăn có các món đặc sản thú rừng.
Nhiều chuyên gia của WCS và cán bộ kiểm lâm bí mật trinh sát, nắm những "địa chỉ đen" làm tiền đề cho hàng loạt vụ truy quét gây chấn động tại các huyện, thành phố các tháng vừa qua, mà một số tờ báo nổi tiếng thế giới như New York Times, Discovery News đưa tin điển hình tốt trong bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam.
Hơn 100 cán bộ, kiểm lâm viên đồng loạt ra quân kiểm tra và chỉ trong một ngày đã phát hiện gần 10 nhà hàng ở Đà Lạt như Tư Loan, An Thủy, Cu Đức, Ma Anh, Nhật Ly, Tuyết Hòa tàng trữ, kinh doanh khoảng 20 loại thú rừng, với tổng trọng lượng lên tới 312 kg, gồm cu ly, voọc chà vá cực kỳ quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cùng với các loài gấu, báo gấm, mèo rừng, chồn hương, chồn vòi mốc. Trên gương mặt những con voọc (loài động vật giống con người nhất) bị cắt cổ, xẻ thịt còn in hằn sự bàng hoàng, đau đớn.
Những đợt truy quét tiếp theo tại 17 nhà hàng, quán nhậu ở thành phố Bảo Lộc và các huyện Lâm Hà, Đức Trọng, Di Linh đã phát hiện tịch thu gần 50 kg thịt động vật hoang dã như cheo, rắn, chồn, heo rừng, cùng nhiều con dúi và mèo rừng tại 9 quán nhậu.
Đáng báo động khi hơn 60% các quán bị kiểm tra có buôn bán, tàng trữ nhiều loại thú rừng trái phép. Nhiều nhà hàng công khai để thú rừng ở tủ cấp đông; số khác tinh vi hơn thì nuôi nhốt thú gần quán ăn hoặc gửi thú rừng ở một số nhà lân cận để đề phòng cơ quan chức năng kiểm tra; khi nào thực khách yêu cầu thì đi lấy về chế biến. Loài nào đang nằm trong diện sách đỏ chủ quán thoải mái hét giá trên trời.
Cán bộ các Vườn quốc gia Cát Tiên và Bidoup - Núi Bà cho biết voọc và vượn là hai loài thú bị săn lùng, giết hại bạo tàn nhất. Không biết tự bao giờ rộ lên lời đồn vô căn cứ rằng các loài thú này có tác dụng tuyệt vời để kích âm, cường dương và sức mạnh dược tính càng phát huy mạnh mẽ nếu mổ xẻ thú khi đang còn sống.
Từ đó các loài thú này bị giết hại rất dã man dưới các hình thức như trói nghiến tứ chi rồi vạt sọ lấy óc ăn như kiểu ăn óc khỉ để bổ não; kế đến cắt động mạch ở yết hầu cho máu phun xối xả vào bầu rượu trắng khiến rượu đổi sang màu hồng và gọi là rượu tăng lực.
Sau đó gã đồ tể lột da, mổ bụng thú để bào thai của con cái hoặc tinh hoàn của con đực ngâm rượu; moi trái tim còn đập thoi thóp và lóc thịt để chế biến món ăn đặc sản; bộ xương dùng ngâm rượu hoặc nấu cao. Nhiều người dân sống trong vùng đệm vườn quốc gia tiếc, trước kia, đàn vượn về rất gần buôn làng, mới sáng tinh mơ đã nghe tiếng vượn hót rất hay, còn bây giờ phải vào sâu trong rừng già mới hy vọng nhìn thấy vượn.
Sau khi sa bẫy, những con voọc, vượn có vẻ ngoài xinh xắn, ngộ nghĩnh, hót hay, lanh lợi thường bị cầm tù trong những chiếc lồng hoặc cũi chật hẹp một thời gian dài, nhiều trường hợp bị nhốt suốt hàng chục năm để mua vui.
Chủ nhân của những con thú này không chỉ là các cá nhân, hộ gia đình mà còn bao gồm các doanh nghiệp, cơ quan hành chính. Khi bị cơ quan chức năng phát hiện, đa số chủ sở hữu thú đều nói không hay biết đó là động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng mà nhà nước đã cấm săn bắt, nuôi nhốt, kinh doanh.
Ông Trần Quốc Việt, thôn Măng Bút, xã Măng Bút, huyện Kon Plong, Kon Tum đã giải cứu hai mẹ con chà vá chân nâu, tên khoa học Pygathrix nemaeus, chỉ tìm thấy ở Lào và Việt Nam một cách khá hy hữu, đó là cách đây hơn tháng rưỡi, một người lạ mặt tìm đến nhà chào bán hai mẹ con nhà voọc.
Sau khi xem xét kỹ lưỡng, nhận ra đây là chà vá chân nâu, loài voọc có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới, nhưng ông bảo với họ đó chỉ là những con khỉ bình thường, hơn thế khỉ mẹ lại bị thương ở tay do mắc bẫy và bị tiêu chảy. Ông gạ đổi lít dầu ăn và 10 gói mì tôm để lấy hai con voọc rồi giao cho Chi cục Kiểm lâm Kon Tum.
Trong khi đó chỉ với một con chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) còn non với cân nặng chưa tới 450 gram nhưng cô giáo Lan, ở huyện Di Linh, Lâm Đồng phải mua với giá 11 triệu đồng rồi tặng lại cho đảo Tiên, Vườn quốc gia Cát Tiên.
Anh Đỗ Ngọc Thắng, nhân viên của đảo kể, khi đi chợ, cô Lan gặp một thanh niên mang con voọc đi bán. Biết đó là thú nguy cấp, quý hiếm, cô chấp nhận mua giá cao rồi tặng lại cho đảo Tiên. Khi đơn vị đề nghị hoàn trả lại tiền, cô Lan không nhận. Cô nói nếu mình không mua thì người khác mua mất; đến lúc nào đó họ giết thịt để ăn và làm thuốc thì đời con đời cháu không được nhìn thấy loài thú hoang này nữa. (Tiền Phong 31/5)đầu trang(
Theo thống kê, hiện nay bà con nông dân trên địa bàn huyện Bạch Thông đã trồng rừng mới đạt khoảng 10% diện tích. Do những ngày này có nắng nóng nên công tác trồng rừng bị lùi lại để đảm bảo cây giống ra môi trường mới được phát triển tốt. Tuy nhiên theo phòng nông nghiệp huyện, công tác trồng rừng phấn đấu sẽ hoàn thành trong tháng 6.
Năm 2013 huyện Bạch Thông có kế hoạch trồng 1.600 ha rừng mới, trong đó trồng rừng sản xuất là 1.500ha còn lại 100ha là diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng. Để công tác trồng rừng trên địa bàn diễn ra đứng thời vụ, ngay từ cuối năm 2012, công tác đăng kí trồng rừng mới được các xã thực hiện sát sao. Theo đó việc tập huấn xủ lý thực bì cũng như trồng rừng được Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với các địa phương tổ chức thường xuyên. Nhờ đó mà hiện nay đa số bà con nông dân đều thực hiện trồng rừng tập trung. (Đài PT - TH Bắc Kạn 1/6)đầu trang(
Sau 8 năm triển khai thực hiện chương trình trồng cây theo dự án WB3, huyện Phù Cát đã trồng được 3.781 ha rừng, tại 11 xã trong huyện, đạt 92,2% so với thiết kế ban đầu, có 2.507 hộ tham gia trồng rừng dự án.
Dự án đã giải ngân gần 41,149 tỉ đồng cho các hộ trồng rừng vay. Huyện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2.294 hộ trồng rừng, với diện tích 3.394 ha. Nhờ đó đã có khoảng 700ha rừng trồng trong những năm đầu đã đi vào khai thác, bình quân thu nhập đạt 50 triệu đồng/ha.
Năm 2013, Phù Cát có kế hoạch trồng 315 ha, tại 5 xã là Cát Khánh, Cát Sơn, Cát Lâm, Cát Hiệp, và Cát Hanh. Ban Quản lý dự án phát triển ngành lâm nghiệp của huyện đã tiến hành các bước chuẩn bị như: tổ chức họp thôn tuyên truyền thông tin dự án, vận động người dân đăng ký để trồng rừng theo dự án WB3 trong năm nay. (Báo Bình Định 1/6)đầu trang(
Năm 2013, huyện Sơn Dương có kế hoạch trồng mới 1.950 ha rừng, trong đó 1.850 ha rừng sản xuất còn lại là rừng phân tán.
Theo UBND huyện Sơn Dương, đến giữa tháng 5-2013, toàn huyện đã trồng được trên 976 ha rừng tập trung, đạt 53% kế hoạch và 98 ha rừng phân tán, đạt 98% kế hoạch.
Hiện nay, huyện Sơn Dương đang nỗ lực thực hiện có hiệu quả chương trình phân 3 loại rừng. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp theo quy hoạch của huyện là trên 47.172 ha, trong đó đất rừng đặc dụng hơn 10.265 ha, gần 4.980 ha đất rừng phòng hộ và trên 31.929 ha đất rừng sản xuất.
Đến nay, toàn huyện đã chuẩn bị được 2,1 triệu cây giống, đạt 61% kế hoạch. Trong đó, Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Dương gieo ươm và hợp đồng mua được 700.000 cây keo, Hạt Kiểm lâm Tân Trào gieo ươm được 500.000 cây keo, 100.000 cây lát hoa, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương gieo ươm được 800.000 cây các loại. Toàn bộ số lượng cây giống này đều đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, sẵn sàng cho vụ trồng rừng 2013. (Báo Tuyên Quang 1/6)đầu trang(
UBND tỉnh Bắc Kạn vừa ra Quyết định thu hồi giấy chứng nhận đầu tư của 3 doanh nghiệp vì chậm triển khai dự án.
Ba công ty bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn Gốm xây dựng Bắc Kạn, Công ty Cổ phần Hoàng Long và Công ty trách nhiệm hữu hạn D&G Việt Nam.
Công ty cổ phần Hoàng Long và Công ty trách nhiệm hữu hạn D&G Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực trồng rừng, còn Công ty trách nhiệm hữu hạn Gốm xây dựng Bắc Kạn đầu tư vào sản xuất gạch công nghệ tuy-nen.
Công ty trách nhiệm hữu hạn D&G đã được cấp phép trồng rừng trên diện tích đất 4.970ha tại các xã Cao Tân, Nghiên Loan, An Thắng, Xuân La, huyện Pác Nặm (Bắc Kạn), với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 100 tỷ đồng.
Công ty cổ phần Hoàng Long được cấp phép trồng rừng trên diện tích 1.351ha tại các xã Tân Sơn, Hòa Mục, Cao Kỳ, huyện Chợ Mới (Bắc Kạn) với vốn đăng ký gần 200 tỷ đồng.
Cả hai công ty này được cấp phép từ năm 2007 nhưng trên thực tế, doanh nghiệp chỉ làm chiếu lệ, gần như không trồng rừng. Còn công ty trách nhiệm hữu hạn Gốm xây dựng Bắc Kạn được cấp 16ha đất để xây dựng dây chuyền sản xuất gạch công nghệ tuy-nen công suất 25 triệu viên/năm, tại thôn Khuổi Thiêu, xã Hà Vị, huyện Bạch Thông (Bắc Kạn).
Theo ông Dương Văn Thế, Trưởng Phòng Đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Kạn), việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư do các nhà đầu tư vi phạm tiến độ triển khai thực hiện dự án theo quy định, vi phạm Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Ông Thế nhấn mạnh Bắc Kạn khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào mọi lĩnh vực tiềm năng, nhà đầu tư nào có năng lực sẽ được tích cực hỗ trợ. Những nhà đầu tư không đủ năng lực, kéo dài dự án không triển khai theo đúng luật định, tỉnh sẽ mạnh dạn rút giấy chứng nhận đầu tư, để thu hút nhà đầu tư mới. (VietnamPlus.vn 31/5) đầu trang(
Vài năm trước, huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông) còn nhiều cánh rừng nguyên sinh, nhưng gần đây rừng bị mất, bị xâm chiếm từ mọi phía, nhường đất cho nhà, rẫy của mọi đối tượng thuộc diện… dân tự do.
Theo Trung tá Dương Danh Quế, tính từ đầu năm tới nay, Công an huyện Tuy Đức đã phối hợp với các ngành điều tra hàng chục vụ án chủ yếu xảy ra tại điểm “nóng” ở xã Đắk Ngo và Quảng Trực. Điển hình, Công an huyện đã khởi tố 9 đối tượng phá hơn 20ha rừng tại tiểu khu 1447, xã Quảng Trực để truy cứu trách nhiệm hình sự… (Công An Nhân Dân 31/5)đầu trang(
31/5, tại KM48 Quốc lộ 3 (thuộc xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên), Phòng CSGT Công an tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện và bắt giữ xe ôtô mang BKS 29A-740.06 vận chuyển động vật hoang dã trái phép.
Kiểm tra xe, lực lượng Công an phát hiện trong cốp xe có 23 cá thể têtê (thuộc danh mục động vật hoang dã nhóm 2B) có trọng lượng khoảng 58kg, không có thủ tục giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.
Đấu tranh bước đầu, 2 đối tượng Đào Duy Mạnh (trú tại tỉnh Thái Bình) và Nguyễn Thì Hợi (trú tại tỉnh Bắc Ninh) khai nhận, vận chuyển thuê cho một đối tượng ở Thái Bình, số têtê này được vận chuyển từ Hà Nội về Lạng Sơn tiêu thụ.
Theo một nguồn tin cung cấp, Mạnh và Hợi là 2 đối tượng buôn bán chuyên nghiệp, thường xuyên buôn bán các loại động vật quý hiếm qua biên giới – Trung tá Dương Văn Hòa, cán bộ Phòng CSGT Công an tỉnh Thái Nguyên, cho biết.
Để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, các đối tượng đã sử dụng loại xe đắt tiền, chạy với tốc độ cao trong đêm.
Hiện số động vật hoang dã, phương tiện, đối tượng đã được lực lượng Công an bàn giao cho lực lượng kiểm lâm xử lý theo thẩm quyền. (Công An Nhân Dân 1/6)đầu trang(
Tin từ Sở GTVT Bắc Kạn cho biết, ảnh hưởng của đợt mưa lớn diễn ra trên địa bàn tỉnh, nhiều tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ bị sạt lở, ngập nước nên giao thông đình trệ.
Trong đó, nghiêm trọng nhất là tình hình tại tỉnh lộ 258 từ Bạch Thông đi Ba Bể đã bị tê liệt hoàn toàn do đất lở và nước cuốn làm sụt, trôi trên 200m mặt đường. Ước tính, khối lượng đất đá sạt lở rất lớn, lên đến hàng chục nghìn mét khối, nên khó có thể san gạt để giải tỏa giao thông trong thời gian ngắn.
Đại diện Sở GTVT tỉnh này cho hay, để thông xe trên tuyến tỉnh lộ 258 chỉ còn cách bạt núi làm con đường tránh, nên phải mất khoảng 2 tháng sau mới có thể thông xe trên tuyến này. Đây là tuyến đường mới được nâng cấp từ đường cấp 6 miền núi lên đường cấp 4 miền núi, cũng là tuyến đường gần nhất lên Vườn Quốc gia Ba Bể, một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất của Bắc Kạn. (An Ninh Thủ Đô 1/6; VietnamPlus.vn 31/5)đầu trang(
Thời gian gần đây, dư luận khá quan tâm đến việc Việt phủ Thành Chương xây dựng và hoạt động vi phạm nhiều qui định của pháp luật. Chúng tôi xin trở lại với 1 kết luận của Thanh tra Chính phủ (TTCP) về việc quản lý đất rừng phòng hộ (RPH) tại Sóc Sơn, Hà Nội.
Năm 1998, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) có Quyết định 174/CT phê duyệt dự án tiền khả thi xây dựng hệ thống RPH môi trường TP Hà Nội, trong đó Sóc Sơn là một hạng mục của dự án.
Để thực hiện quy hoạch, UBND TP Hà Nội bước đầu xây dựng hệ thống bộ máy tổ chức, nhưng đến thời điểm kiểm tra các xã có rừng, lâm trường và các đơn vị thuộc huyện Sóc Sơn cũng không được bàn giao tài liệu và bản đồ quy hoạch RPH và đặc dụng. Thậm chí, cơ quan chuyên trách quản lý rừng là Hạt Kiểm lâm Sóc Sơn, đến tháng 8/2003, mới nhận được bản đồ quy hoạch và các tài liệu liên quan để thực hiện công tác quản lý.
Như vậy, sau quy hoạch RPH và đặc dụng, tổ chức bộ máy vẫn chưa đáp ứng theo quy chế quản lý RPH, đặc dụng. Trong quá trình triển khai thực hiện, UBND TP Hà Nội có Quyết định 6025/QĐ-UB về chính sách cho các hộ gia đình mượn đất trống đồi trọc để phát triển kinh tế đồi rừng quy định không được làm nhà. Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn của liên sở lại cho phép làm nhà tạm.
Điều đáng nói, tình trạng mua, bán chuyển nhượng, xây dựng trái phép trên đất rừng xảy ra nhiều sau thời kỳ quy hoạch RPH và đặc dụng năm 1998. Trên danh nghĩa là chuyển nhượng cây cối lâm lộc hay liên doanh liên kết đầu tư sản xuất, thực chất các cá nhân đã mua bán đất rừng. Người nhận chuyển nhượng sau đó phần lớn đã chuyển đổi mục đích thành vườn quả và xây dựng công trình, kết hợp xây thành khuôn viên bao quanh, làm nhà kiên cố, sàn nhà, trang trại, nhà hàng, nhà nghỉ cuối tuần...
Lâm trường giao khoán cho 212 hộ với tổng diện tích 2.082,7ha. Trong số 186 hộ nhận khoán có 47 hộ được cấp sổ đỏ trên diện tích vườn quả với diện tích đất ở tối thiểu là 600m2/hộ, vượt 200m2/hộ so với quy định, đặc biệt có hộ được cấp “sổ đỏ” đất ở với diện tích lớn. Tính đến nay, trong tổng số 4.130ha đất rừng do 9 xã quarnk lý thì đã có 33 hộ chuyển nhượng cho 37 hộ với diện là 15,07ha. Toàn bộ diện tích này các xã đã thực hiện giao đất, giao rừng cho dân theo quyết định của UBND TP Hà Nội.
Khi thực hiện cấp sổ đỏ thuộc khu vực lâm trường, cán bộ chuyên môn và chính quyền xã, huyện còn cấp cho một số trường hợp thuộc đất do Nhà nước giao cho lâm trường quản lý chưa được UBND TP phê duyệt đất ở. Việc làm này không đúng với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, quá trình triển khai quy hoạch chi tiết của TP Hà Nội về RPH, đặc dụng Sóc Sơn, chính quyền địa phương không chấp hành để quản lý theo hướng giữ nguyên hiện trạng mà tiếp tục cấp sổ đỏ đất ở và vườn liền kề, chính quyền xã vẫn xác nhận việc mua bán chuyển nhượng, đồng thời không có biện pháp ngăn chặn sớm việc xây dựng trái phép trên đất rừng đã quy hoạch.
Đến thời điểm thanh tra, có 659 hộ xây dựng công trình trên đất lâm nghiệp với diện tích là 11,22ha, trong đó có 26 trường hợp xây dựng theo mô hình trang trại.
Việt phủ Thành Chương có diện tích xây dựng khoảng 3.000 - 8.000m2. Nguồn gốc đất quy hoạch là đất rừng đặc dụng, trước đây hợp tác xã giao cho ông Lưu Văn Sỹ quản lý bằng sổ lâm bạ. Đến năm 2001, ông Lưu Văn Sỹ bán cho ông Nguyễn Thành Chương dưới dạng liên doanh liên kết (có giấy xác nhận của UBND xã). Sau khi mua, ông Chương đã xây dựng công trình kiên cố. Suốt quá trình xây dựng chỉ một lần chính quyền xã phạt 10 triệu đồng (phạt cho tồn tại), sau đó ông Chương tiếp tục xây dựng cho đến nay.
Đặc biệt hơn, trong quá trình chỉ đạo, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và vườn liền kề, UBND huyện Sóc Sơn đã thiếu kiểm tra dẫn đến một số cán bộ ở Phòng Địa chính Nhà đất và Đô thị, một số cán bộ xã có hành vi lập hồ sơ không đúng nguồn gốc và quá trình quản lý; giả mạo giấy tờ cơ quan Nhà nước để xét duyệt trình ký cấp giấy chứng nhận cho một số trường hợp, có biểu hiện vi phạm pháp luật.
TTCP chỉ rõ, để xảy ra việc chuyển đổi sai mục đích, xây dựng trái phép trên đất rừng Sóc Sơn, trước hết là trách nhiệm của lãnh đạo cấp xã và Giám đốc Lâm trường Sóc Sơn; lãnh đạo UBND huyện cũng liên quan chịu trách nhiệm. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường, lãnh đạo UBND TP Hà Nội đã không làm hết trách nhiệm được phân công, thiếu sự kiểm tra và chỉ đạo trong triển khai thực hiện quy hoạch RPH, đặc dụng, nhất là việc quản lý đất lâm nghiệp Sóc Sóc…
TTCP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND TP Hà Nội phải kiểm điểm trách nhiệm trong chỉ đạo triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết RPH, rừng đặc dụng; các trường hợp xây dựng trái phép trước đây đã làm thay đổi mục đích sử dụng đất RPH, đặc dụng đã được quy hoạch thì giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UBND TP Hà Nội thống nhất hướng xử lý trình Chính phủ quyết định.
Có điều, sau hơn 6 năm TTCP kết luận, cho đến nay, các công trình xây dựng trái phép quy mô lớn như Việt phủ Thành Chương, vẫn chưa được xử lý dứt điểm. (Thanh Tra 1/6)đầu trang(
Căn cứ Quân ủy Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, còn gọi là Di tích lịch sử Tà Thiết (Bình Phước), được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 16.11.1988, hiện đang bị xâm hại nghiêm trọng bởi nạn phá rừng.
Tại khu di tích này, nhiều cây gỗ quý đã bị lâm tặc đốn hạ. Cách nhà tướng Lê Đức Anh (nguyên Chủ tịch nước) chừng 300 mét, một khoảnh rừng đã bị khai thác trắng để trồng mì. Theo báo cáo của cơ quan chức năng, từ đầu năm đến nay xảy ra nhiều vụ chặt phá rừng, xâm hại Khu di tích Tà Thiết, trong đó có 4 trường hợp bị phát hiện.
Cụ thể ngày 29.1, phát hiện 2 cây gỗ lớn (đường kính trên 30 cm) tại khu vực bếp Hoàng Cầm bị lâm tặc đốn hạ. Ngày 13.2, 5 người chặt phá rừng. Đến ngày 21.2, lực lượng tiếp tục phát hiện hàng trăm cây gỗ bị chặt phá ở khu vực Hội trường rừng Tà Thiết. Ngày 12.3, nhiều người đã xâm hại rừng gần hạng mục di tích nhà làm việc của nữ tướng Nguyễn Thị Định (nguyên Phó tư lệnh các lực lượng giải phóng miền Nam).
Trước tình hình chặt phá cây rừng, xâm hại nghiêm trọng đến khu di tích, Sở VH-TT-DL tỉnh Bình Phước có văn bản kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo khẩn cấp các cơ quan chức năng cử các lực lượng chuyên trách có công cụ hỗ trợ đặc biệt phối hợp để bảo vệ rừng di tích; đồng thời chỉ đạo UBND H.Lộc Ninh, các sở, ban ngành rà soát lại vai trò, trách nhiệm được giao bảo vệ, quản lý tăng cường quản lý đối với rừng Tà Thiết.
Ông Nguyễn Quang Toản - Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Bình Phước đưa ý kiến: “Về lâu dài, để có thể giữ được rừng thì cần thành lập một tiểu ban quản lý và bảo vệ rừng trong khu di tích”. (Thanh Niên 3/6)đầu trang(
Do xô xát với 2 đối tượng có hành vi lấn chiếm đất rừng, Vũ Văn Mạnh cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Hòa Bắc – Hòa Nam, huyện Di Linh (Lâm Đồng)đã bị đánh đến xuất huyết não, liệt nửa người.
Ngày 1/6, Công an huyện Di Linh cho biết đang tiến hành điều tra vụ 2 đối tượng hành hung cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Hòa Bắc – Hòa Nam, huyện Di Linh dẫn đến thương tích nghiêm trọng.
29/5 tổ tuần tra của BQLRPH Hòa Bắc - Hòa Nam gồm các ông Lê Xuân Thịnh, Vũ Văn Mạnh và Nguyễn Đình Kim đi kiểm tra việc lấn chiếm đất rừng thì phát hiện 2 anh em Ngô Xuân Hiếu (27 tuổi), Ngô Xuân Diệu (33 tuổi), cùng trú tại xã Hòa Bắc, huyện Di Linh đang sử dụng máy múc đào đất, lấn chiếm rừng thuộc BQLRPH Hòa Bắc - Hòa Nam quản lý.
Tổ tuần tra yêu cầu 2 đối tượng dừng ngay hành vi lấn chiếm đất rừng nhưng 2 đối tượng không chấp hành mà có hành vi chửi bới và xô xát với tổ tuần tra. Sau khi về nhà ông Mạnh thấy tê vùng mặt trái, tay trái được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện và được chẩn đoán bị xuất huyết não, liệt nửa người. (Công An Nhân Dân 2/6; Pháp Luật TPHCM 2/6)đầu trang(
Mục tiêu của tỉnh Ðăk Nông đề ra trong năm 2013 là phấn đấu kéo giảm đến 50% số vụ và diện tích phá rừng so với năm 2012. Tuy nhiên, thực tế những gì xảy ra trong những tháng đầu năm nay cho thấy, để ngăn chặn được nạn phá rừng, đòi hỏi các cấp, các ngành tỉnh Ðăk Nông cần có những biện pháp mạnh và quyết liệt hơn.
Những tháng đầu năm nay trên địa bàn tỉnh Ðăk Nông những "điểm nóng" phá rừng kéo dài nhiều năm nay vẫn chưa được ngăn chặn triệt để. Cụ thể, tại Tiểu khu 1680 xã Quảng Sơn, huyện Ðác Glong do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý, từ đầu năm đến nay, các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện Ðác Glong đã phát hiện và xử lý bốn vụ phá rừng, làm thiệt hại hơn bốn ha rừng phòng hộ.
Cũng tại xã Quảng Sơn, thời gian gần đây nổi lên một "điểm nóng" phá rừng nữa là rừng thông hơn 30 năm tuổi nằm ngay trung tâm xã. Rừng thông này có diện tích gần 400 ha hiện được giao cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý, bảo vệ.
Tuy nhiên, kể từ khi UBND tỉnh Ðăk Nông công bố quy hoạch thành lập huyện mới Ðức Xuyên thì rừng thông này trở thành "điểm nóng" phá rừng. Người dân địa phương và các xã lân cận kéo đến phá rừng thông bằng nhiều cách thức như: đẽo vỏ, đốt gốc, đổ thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ... để cây thông chết dần rồi chiếm dụng đất, xây dựng nhà trái phép để ở và chờ nhận tiền đền bù.
Không riêng gì huyện Ðác Glong, huyện vùng sâu Tuy Ðức hiện có hơn 54.000 ha rừng, trong đó 51.069 ha rừng tự nhiên và 3.310 ha rừng trồng. Trong nhiều năm nay, tình trạng phá rừng trên địa bàn vẫn hết sức nóng bỏng. Các "điểm nóng" phá rừng được xác định thuộc lâm phận của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín, Nông-Lâm trường cao-su Tuy Ðức và một số dự án sản xuất nông-lâm nghiệp trên địa bàn xã Ðác Ngo, Quảng Trực...
Chủ tịch UBND tỉnh Ðăk Nông Lê Diễn cho biết: UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp và các đơn vị chủ rừng tăng cường hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt phải có những biện pháp mạnh, xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng cũng như các đơn vị chủ rừng để mất rừng nhằm kéo giảm số vụ cũng như diện tích phá rừng như đã đề ra.
Giải pháp quan trọng nhất hiện nay là các ngành chức năng của tỉnh phải kiểm soát và hạn chế được dân di cư tự do từ các nơi kéo đến sinh sống trên địa bàn tỉnh. Ðối với các vụ vi phạm lâm luật, cần thực hiện quyết liệt và xử lý nghiêm minh hơn, nhất là những vụ việc đủ điều kiện khởi tố hình sự thì cơ quan công an tiến hành khởi tố để răn đe, giáo dục chung.
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm phối hợp với ngành chức năng, chính quyền các địa phương, các đơn vị chủ rừng cương quyết cưỡng chế giải tỏa những điểm lấn chiếm đất rừng, phá rừng, buộc các đối tượng phá rừng phải trồng lại rừng. (Nhân Dân 2/6)đầu trang(
2.6, Đội kiểm lâm cơ động số 3, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cho biết đã đề nghị cơ quan công an điều tra, truy tìm nhóm lâm tặc liều lĩnh đâm xe chở gỗ lậu vào xe của lực lượng kiểm lâm xảy ra tại địa bàn H.Quế Phong.
Ông Lê Đình Thanh, Đội phó Đội kiểm lâm cơ động số 3, cho biết khoảng 1 giờ sáng 31.5, khi tổ công tác của Đội đang tuần tra ở khu vực xã Hạnh Dịch, H.Quế Phong thì phát hiện một ô tô đang vận chuyển gỗ lậu.
Tổ công tác đến yêu cầu cho kiểm tra thì bất ngờ nhóm lâm tặc cho xe ô tô đâm thẳng vào xe máy của tổ công tác.
Chiếc xe máy bị kéo lê một đoạn đường khá dài. Rất may, hai kiểm lâm viên ngồi trên xe đã kịp thời nhảy khỏi xe nên chỉ bị trầy nhẹ.
Sau khi đâm vào xe máy của kiểm lâm, chiếc ô tô cùng nhóm lâm tặc này đã bỏ chạy. (Thanh Niên 2/6)đầu trang(
Trong thời gian qua, nhiều vụ buôn lậu hàng cấm, hàng nhập khẩu phải có giấy phép với thủ đoạn tinh vi, táo tợn đã bị Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội) triệt phá.
Tuy nhiên, thực tế công tác đấu tranh chống buôn lậu qua đường hàng không còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc...
Gần đây nhất, 4/5, khi làm thủ tục nhập cảnh cho hành khách trên chuyến bay ký hiệu QR614 xuất phát từ Doha (Quatar) qua Bangkok (Thái Lan) hạ cánh xuống sân bay quốc tế Nội Bài, qua soi chiếu hành lý ký gửi, Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài phát hiện hành lý của ba hành khách là Nguyễn Trung Dũng (sinh năm 1989, ở Hoàn Kiếm, Hà Nội); Phạm Minh Châu (sinh năm 1985, ở Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội); Nguyễn Thị Nguyệt (ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), có nhiều dấu hiệu nghi vấn.
Qua kiểm tra, lực lượng hải quan phát hiện trong hành lý của 3 người này có 19 miếng sừng tê giác với tổng trọng lượng 2,15kg. Cụ thể: trong hành lý của hành khách Nguyễn Trung Dũng có 7 miếng sừng động vật nghi là sừng tê giác, có trọng lượng 0,65 kg; hành lý của Phạm Minh Châu có 4 miếng sừng động vật nghi là tê giác với trọng lượng 0,55 kg và trong hành lý của Nguyễn Thị Nguyệt có 8 miếng sừng động vật nghi là tê giác, với trọng lượng là 0,95 kg.
Trước đó, 1/4, khi làm thủ tục nhập cảnh cho hành khách trên chuyến bay ký hiệu QR614, cũng theo tuyến bay trên, qua máy soi chiếu hành lý ký gửi, lực lượng Hải quan Nội Bài phát hiện trong valy của hành khách Nguyễn Thế Mạnh Vinh (sinh năm 1985, hộ chiếu B7561656, ở Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội), có nhiều dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra.
Quá trình kiểm tra chiếc valy này, lực lượng chức năng phát hiện bên trong là 238 chiếc vòng trang sức cùng 100 đôi đũa có chiều dài 28 cm làm bằng ngà voi.
Đây chỉ là hai trong số các vụ buôn lậu qua đường hàng không được lực lượng Hải quan Nội Bài kịp thời phát hiện. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua tình trạng sử dụng đường không để buôn lậu đang ngày càng gia tăng, nhất là các mặt hàng có nguồn gốc động vật hoang dã, thuốc lá và điện thoại di động đã qua sử dụng. Thủ đoạn của những kẻ buôn lậu cũng tinh vi, táo tợn hơn trước.
Đối với hành có nguồn gốc động vật hoang dã, các đối tượng buôn lậu thường để trong hành lý ký gửi và xếp lẫn vào những mặt hàng khác trong hành lý khiến lực lượng kiểm soát hải quan khó phát hiện. Còn với điện thoại di động đã qua sử dụng, mặt hàng trọng điểm trong công tác chống buôn lậu bị cơ quan Hải quan liên tiếp phát hiện thời gian qua, xu hướng của chúng là tháo linh kiện ra và vận chuyển theo đường xách tay.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài Nguyễn Văn Chiến cho biết, để qua mặt lực lượng chức năng tại sân bay, có đối tượng buôn lậu điện thoại di động khi vào đến khu vực cách ly của Công an để kiểm tra hộ chiếu, đã lẩn vào khu vệ sinh để giấu hàng, chờ thời cơ thuận lợi vận chuyển ra ngoài.
Tinh vi hơn, bọn buôn lậu xé lẻ hàng, nhờ người xách ra ngoài khu vực sân bay, sau đó gom lại. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho lực lượng chức năng, vì khi tháo rời các bộ phận, chi tiết của chiếc điện thoại ra thì hình ảnh chiếu trên máy soi rất khó bị phát hiện.
Ví dụ, để vận chuyển thuốc lá lậu - mặt hàng cồng kềnh và khó qua máy soi, các đầu nậu thường lợi dụng những người lao động không biết quy định về tiêu chuẩn khi mang thuốc lá về Việt Nam xách hộ. Qua việc lấy lời khai những đối tượng vận chuyển đã bị lực lượng Hải quan phát hiện, có đến 90% là được nhờ xách hộ.
“Với những trường hợp này, cơ quan Hải quan chỉ có thể xử lý được đối tượng vận chuyển còn chủ mưu của vụ việc thì lại không xử lý được” - ông Chiến cho biết thêm.
Theo thống kê của lực lượng Hải quan Hà Nội, từ đầu năm đến nay đơn vị này đã phát hiện 13 vụ buôn lậu thuốc lá, 8 vụ buôn lậu điện thoại đã qua sử dụng và 4 vụ buôn lậu ngà voi và chế phẩm từ ngà voi.
Theo đại diện Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm (Cục Hải quan Hà Nội) cho biết, nhiều vụ buôn lậu hàng cấm nhập khẩu, vận chuyển qua sân bay quốc tế Nội Bài đã được lực lượng Hải quan kịp thời phát hiện, tuy nhiên khâu xử lý tang vật vi phạm và hành vi vi phạm của đối tượng vận chuyển lại gặp trở ngại lớn do những bất cập trong các quy định hiện hành.
Chẳng hạn, vụ vận chuyển 26 khúc ngà voi với trọng lượng khoảng trên 120 kg vào tháng 11/2012 vẫn chưa được xử lý, do cơ quan Hải quan không thể định giá được tang vật vi phạm theo yêu cầu của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.
Cũng theo vị đại diện Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm, hiện không chỉ khó xử lý tang vật là động vật hoang dã và sản phẩm động vật hoang dã, mà việc xử lý đối với các tang vật khác cũng gặp nhiều vướng mắc. Cơ quan Hải quan khó có thể thu được khoản tiền phạt về hành vi vi phạm hành chính, hoặc chỉ thu được rất ít.
Năm 2012 số tiền phạt về hành vi vi phạm hành chính đối với các vụ vận chuyển trái phép qua biên giới chỉ thu được 1/3 số tiền mà cơ quan Hải quan ra quyết định xử phạt. Nguyên nhân một phần là đối tượng vi phạm không có sự ràng buộc với cơ quan Hải quan. Còn cơ quan Hải quan, theo quy định của pháp luật thì không được phép giữ bất cứ giấy tờ tùy thân nào của đối tượng vi phạm.
Bên cạnh những khó khăn trong việc đối phó với những thủ đoạn của đối tượng buôn lậu, khó khăn trong việc xử lý tang vật, điều kiện làm việc cộng với sự quá tải tại sân bay quốc tế Nội Bài càng gia tăng thêm áp lực làm việc với những cán bộ Hải quan Hà Nội.
Hiện trung bình một ngày có trên 120 chuyến bay quá cảnh vào sân bay Nội Bài, cùng với đó số khách nhập cảnh một ngày khoảng 5.800 đến 6.000 người và số khách xuất cảnh cũng tương đương. Số lượng chuyến bay và hành khách lớn nhưng Tổ Chống buôn lậu Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài chỉ có 5 cán bộ chuyên trách. (Vnmedia 2/6)đầu trang(
Báo Cao Bằng đã có bài “Phá rừng làm nương rẫy bao giờ chấm dứt”, phản ánh về việc phá rừng tại khu Lán Mạc, thuộc thôn Khuổi Nạng, xã Kim Đồng (Thạch An). Đến nay, vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân.
Mới đây, Báo Cao Bằng tiếp tục nhận được đơn kiến nghị của 12 hộ dân thôn Khuổi Nạng phản ánh về việc rừng cộng đồng và rừng của các hộ dân tại khu Lán Mạc, thôn Khuổi Nạng bị người dân thôn Khuổi Đẩy, xã Kim Đồng (Thạch An) tiếp tục đến phá rừng làm nương rẫy. Tổ phóng viên Báo Cao Bằng đã đến thôn Khuổi Nạng, xã Kim Đồng để tìm hiểu sự việc.
Trưởng thôn Nông Văn Dũng bức xúc: Việc người dân thôn Khuổi Đẩy sang lấn chiếm rừng phòng hộ, đầu nguồn tại khu Lán Mạc, thôn Khuổi Nạng làm nương rẫy là không thể chấp nhận. Từ lúc sự việc mới xảy ra, chúng tôi đã báo cáo và làm đơn kiến nghị lên UBND xã Kim Đồng, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện Thạch An, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và Báo Cao Bằng.
UBND xã đã tổ chức hòa giải nhưng không thành. Sự việc chưa được giải quyết dứt điểm nhưng người dân thôn Khuổi Đẩy vẫn tiếp tục sang lấn chiếm khu đất rừng chung của thôn và rừng của các hộ dân thôn Khuổi Nạng. Khu rừng này đã được Nhà nước giao cho thôn và các hộ dân Khuổi Nạng quản lý, khoanh nuôi bảo vệ từ 1995, đến năm 2006 đã được cấp bìa đỏ. Đến nay, các hộ dân và thôn đã quản lý, chăm sóc được hơn 10 năm, có cây đường kính từ 20 - 30 cm.
Trưởng thôn Khuổi Nạng cho hay: Từ năm 2008 đến nay, rừng bị người dân xóm Khuổi Đẩy liên tục sang chặt, phá để làm nương rẫy. Ngày 22/1/2013, Ban Quản lý thôn Khuổi Nạng đi kiểm tra tại khu rừng đầu nguồn Lán Mạc, tại hiện trường, Ban Quản lý thôn lại phát hiện người dân Khuổi Đẩy tiếp tục sang phá thêm rừng, đã tiến hành lập biên bản với diện tích chặt phá mới hơn 2 ha.
Ông Đàm Văn Nho, Chủ tịch UBND xã Kim Đồng cho biết: Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã phối hợp cùng các ban, ngành, đoàn thể và Kiểm lâm địa bàn đến xóm Khuổi Đẩy họp dân để tuyên truyền công tác quản lý, bảo vệ rừng và quy định của Nhà nước về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, không được phát rừng làm nương rẫy; rừng đã được giao cho xóm Khuổi Nạng quản lý từ năm 1995, đến năm 2006 đã được cấp bìa đỏ, nhân dân xóm Khuổi Đẩy không được sang phát nương làm rẫy để chờ giải quyết. Xã cũng đã tiến hành tổ chức hòa giải giữa 2 thôn, nhưng không thành, mà phải gửi lên cấp trên tiếp tục giải quyết.
Ông Nguyễn Văn Dừa, Bí thư Huyện ủy Thạch An cho biết: Sau khi nhận được báo cáo của UBND xã Kim Đồng về sự việc phá rừng làm nương rẫy tại khu rừng Lán Mạc, thôn Khuổi Nạng, Ban Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo UBND huyện thành lập tổ công tác xuống hiện trường xem xét, tuyên truyền, phân tích để người dân nhận thức được cần phải chấp hành đúng quy định của phát luật về việc khai thác, quản lý, bảo vệ rừng và đề xuất với huyện để xử lý dứt điểm vừa hợp tình, hợp lý, đảm bảo quyền lợi của người dân, đồng thời giữ được sự đoàn kết, gắn bó của nhân dân các dân tộc 2 thôn. . (Báo Cao Bằng 2/6)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm Kỳ Anh đã xử lý 17 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng với gần 24 m3 gỗ từ nhóm 2 - nhóm 8 bị tịch thu.
Tổng số tiền thu nộp ngân sách là 97.289.000 đồng, trong đó có 46.100.000 đồng tiền xử phạt hành chính, 51.189.000 đồng tiền bán gỗ phát mãi.
Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm còn phát hiện 2 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng và tạm giữ 6,232m3 gỗ, trong đó có 1 vụ vô chủ và 1 vụ chuyển UBND tỉnh xử lý theo thẩm quyền. (Báo Hà Tĩnh 2/6)đầu trang(
Kiểm tra hai bao tải của người đi xe máy, tổ tuần tra đội QLTT số 4 Nghệ An phát hiện bên trong chứa cá thể rùa, các bộ phận động vật hoang dã. Tuy nhiên, tổ công tác đã không lập biên bản bắt giữ mà “ra giá” cho chủ hàng chuộc lại.
Những ngày cuối tháng 5/2013, Tòa án nhân dân (TAND) huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) đã mở phiên sơ thẩm xét xử Nguyễn Quốc Hùng (SN 1976) trú tại thị trấn Diễn Châu - nguyên Tổ trưởng Tổ tuần tra Đội Quản lý thị trường (QLTT) Số 4 thuộc Chi cục QLTT tỉnh Nghệ An và đồng bọn về tội “nhận hối lộ”.
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Quỳnh Lưu, vào khoảng 8h ngày 4/10/2012, tổ công tác Đội QLTT số 4 gồm Nguyễn Quốc Hùng và Trịnh Xuân Nam (SN 1960), trú ở khối Tân Phúc, phường Hưng Phúc, TP Vinh; Nguyễn Đức Anh (SN 1978), trú ở khối Liên Cơ, phường Hưng Bình, TP Vinh và Lê Xuân Hải (SN 1979) trú ở xã Nghi Phú, TP Vinh do Hùng làm Tổ trưởng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra một số hộ kinh doanh trên địa bàn xã Quỳnh Châu.
Khi cả tổ đang đi ôtô trên Quốc lộ 48 đến địa bàn xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu thì phát hiện một người đàn ông chở theo hai bao tải. Thấy khả nghi, tổ công tác quay xe đuổi theo và bắt giữ. Qua kiểm tra sơ bộ, trong hai bao hàng là cá thể rùa và các bộ phận của động vật hoang dã nên tổ công tác đã đưa hai bao hàng lên xe ôtô và yêu cầu lái xe là Bùi Tiến Thi (trú tại Yên Thành) theo về đội để xử lý.
Tuy nhiên, tổ công tác đã không lập biên bản bắt giữ hàng cũng như không hỏi tên, tuổi, địa chỉ của chủ hàng. Đến chiều, anh Thi liên lạc lại với các cán bộ quản lí thị trường này và được “ra giá” 35 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của ông Thi, cả 3 cán bộ này đều bị Phòng cảnh sát kinh tế Công an Nghệ An bắt giữ.
Tại phiên tòa, các đối tượng đều khai nhận hành vi của mình nhưng đều tố cáo đội trưởng Hoàng Văn Dũng đã trực tiếp chỉ đạo việc “làm giá” và nhận tiền từ Bùi Tiến Thi.
Theo các bị cáo, ngay sau khi bắt được số hàng đã trực tiếp báo cáo với đội trưởng, khi Thi xin chuộc số hàng trên cũng đã báo cáo với Dũng và được Dũng chỉ đạo đòi 40 triệu đồng; Thi xin giảm xuống 25 triệu đồng, rồi 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng Hùng đều gọi điện xin ý kiến Dũng.
Tuy nhiên, khi làm việc với cơ quan công an, Dũng hoàn toàn phủ nhận lời khai của Hùng, Nam, Hải và khai mình không hề biết vụ việc trên, các cuộc điện thoại đi, đến cho Hùng, Hải, Nam đơn thuần là công việc nên cơ quan công an không đủ căn cứ kết tội Dũng.
Đức Anh cũng khai nhận, không hề biết việc giao nhận tiền của Hùng, Nam, Hải và không tham gia vào việc giao hàng nhận tiền nên cũng không đủ căn cứ khởi tố hình sự Đức Anh. Do nội dung cáo trạng có liên quan đến Hoàng Văn Dũng nên TAND huyện Quỳnh Lưu đã hai lần mời Dũng tham dự phiên tòa để đối chất nhưng Dũng đều vắng mặt khiến tòa phải hoãn 1 lần.
Kết thúc phiên tòa, TAND huyện Quỳnh Lưu đã tuyên phạt Nguyễn Quốc Hùng 4 năm tù giam, Trịnh Xuân Nam 3 năm tù giam, Lê Xuân Hải 2 năm tù giam. (Dân Trí 2/6)đầu trang(
Diện tích, chất lượng rừng tự nhiên Tây Nguyên đang suy giảm nhanh chóng, trong khi đó các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng dường như không phát huy được hiệu quả.
Một trong những nguyên nhân quan trọng được nêu ra là mô hình quản lý, chính sách lâm nghiệp chưa phù hợp dẫn đến mất rừng. Cụ thể và điển hình là trường hợp của các Công ty lâm nghiệp, đang quản lý gần 1 triệu ha, chiếm hơn 1/3 diện tích rừng của Tây Nguyên.
Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa ở huyện Kong Chro, tỉnh Gia Lai hiện đang quản lý gần 17.000 ha rừng tự nhiên. Gần hai chục năm kể từ khi thành lập (năm 1994) đến nay, đơn vị này đã trải qua ba lần chuyển đổi tên gọi tương ứng với các mô hình quản lý, từ một đơn vị sự nghiệp (lâm trường quốc doanh) chuyển sang công ty nhà nước như hiện nay.
Mỗi lần chuyển đổi tên gọi, mô hình quản lý được kỳ vọng là mang hiệu quả mới cho công tác quản lý, bảo vệ cũng như sản xuất, kinh doanh nguồn tài nguyên rừng, đất rừng của đơn vị. Tuy nhiên, thực tế cho kết quả ngược lại, qua mỗi lần chuyển đổi tên, mô hình hoạt động là mỗi lần đánh dấu sự suy giảm về diện tích, chất lượng rừng của đơn vị.
Ông Trần Ngọc Anh, Giám đốc Công ty cho rằng, việc chuyển đổi chỉ mang tính hình thức theo kiểu “bình mới rượu cũ” tức là chỉ chuyển đổi tên gọi, còn chức năng và nhiệm vụ giữ nguyên, những tồn tại, khó khăn, vướng mắc vẫn còn đó.
Cụ thể, từ năm 2010 đến nay, dù được coi là công ty nhà nước nhưng đơn vị không có vốn hoạt động (hoạt động không đúng theo luật doanh nghiệp), toàn bộ kinh phí của đơn vị là sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Diện tích rừng quản lý lớn trong khi đó lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng và không chủ được được kinh phí dẫn đến việc triển khai nhiệm vụ hết sức khó khăn. Rừng trên lâm phần của đơn vị quản lý từng ngày bị xâm hại. Qua đó, ông Trần Ngọc Anh kiến nghị nên chuyển đổi mô hình quản lý để phù hợp với chức năng hiện nay của đơn vị là quản lý bảo vệ rừng.
Khó khăn của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa cũng là vấn đề chung của 56 công ty lâm nghiệp đang quản lý gần 1 triệu ha, chiếm hơn 1/3 diện tích rừng tự nhiên ở Tây Nguyên. Các công ty này không có đủ các yếu tố của một công ty nhà nước như vốn, nhân lực, quản trị... do đó hoạt động không đúng theo luật doanh nghiệp. Tư cách pháp lý chưa rõ ràng và cũng chưa đơn vị nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cho nên, ngay cả việc vay vốn để trồng rừng đã là không khả thi, việc đầu tư sản xuất kinh doanh, chế biến, phát triển rừng càng trở nên xa vời.
Khó khăn càng chồng chất khi cuối năm ngoái Chính phủ có chủ trương tạm dừng khai thác rừng tự nhiên trên toàn quốc, nguồn thu chủ yếu của các đơn vị này không còn. Nhiều đơn vị hiện không còn nguồn để chi trả tiền lương cho nhân viên. Một số đơn vị chủ động đề xuất liên doanh, liên kết với tư nhân để trồng rừng, trồng cao su.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đây là hình thức hợp thức hóa tài sản nhà nước cho tư nhân, cho nên tỉnh kiên quyết không cho triển khai, vấn đề là phải tìm ra mô hình quản lý phù hợp cho các công ty này.
“Đất trống mà cho trồng cao-su thì các công ty này không có gì thế chấp để vay ngân hàng để trồng cao-su. Nguồn vốn không có, liên doanh liên kết thực ra là bán cho tư nhân, hợp thức hóa thì sau này giải quyết rất là khó. Cho nên tỉnh không cho liên doanh liên kết cách này. Đất là đất của nhà nước, nhà nước giao cho công ty, rừng cũng giao cho công ty, thực ra các đơn vị này không có gì hết. Nên nghiên cứu loại hình này như thế nào, phải đặt tên như thế nào, quản lý như thế nào cho phù hợp.” - ông Phạm Thế Dũng cho biết thêm.
Liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, là chủ rừng nhưng các công ty lâm nghiệp không có quyền kiểm tra, kiểm soát hay tạm giữ đối tượng phá rừng trên lâm phần quản lý. Các nhân viên công ty lâm nghiệp không có trang phục, phương tiện, thiết bị và các công cụ cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Từ đó, dẫn đến tình trạng tự bảo vệ mình trước các đối tượng phá rừng đã rất khó, chưa nói đến việc bảo vệ rừng.
Và thực tế, ở Tây Nguyên trong những năm qua liên tiếp xảy ra các vụ lâm tặc hành hung, gây thương tích đối với nhân viên của các công ty lâm nghiệp. Trong đó, điển hình là vụ một nhóm lâm tặc hành hung 3 cán bộ bảo vệ rừng của Công ty lâm nghiệp nam Tây Nguyên (thuộc xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đác Nông) khiến ba cán bộ này phải đi cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy vào cuối tháng 4-2012.
Tại điểm nóng phá rừng thuộc Công ty lâm nghiệp Krông Bông (đóng tại huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk) liên tiếp từ năm 2011 đến nay cả người dân và lâm tặc manh động xông vào tấn công lực lượng bảo vệ rừng. Trong đó, vụ lớn nhất là lâm tặc tấn công vào lực lượng quản lý bảo vệ rừng của công ty bằng súng tự chế khiến hai cán bộ bị thương, người bị nặng nhất dính 28 viên đạn và phải chuyển đi TP Hồ Chí Minh để chữa trị.
Với nhiều khó khăn như đã nêu, lực lượng bảo vệ rừng của các công ty lâm nghiệp khó lòng giữ được rừng. Tại tỉnh Đắk Nông, đến nay tỉnh vẫn chưa thống kê chính xác diện tích rừng bị mất tại 15 công ty lâm nghiệp trên địa bàn. Chỉ biết rằng, nó cũng chiếm một phần không nhỏ trong số khoảng 30.000 ha rừng của tỉnh bị mất từ 2004 đến nay. Điều quan trọng trước mắt là cần có cơ chế quản lý phù hợp hơn.
“Đội ngũ của các công ty này thì mỏng nhưng mà diện tích rừng quản lý rất lớn. Thành thử từ bất cập đó dẫn đến việc không quản lý được rừng nhà nước giao cho, đi đến là rừng bị xâm hại. Vì vậy sắp tới phải củng cố, kiện toàn như thế nào, phải có cơ chế, chính sách cho phù hợp và có loại hình quản lý như thế nào cho phù hợp.” - Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông cho biết thêm.
Mất rừng không kiểm soát được khiến vấn đề sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp sao cho hiệu quả trở nên cấp thiết. Vì vậy, ngay sau chuyến công tác đầu tháng 3 của Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh tại một số tỉnh Tây Nguyên, đến giữa tháng 3 vấn đề này tiếp tục được đề cập trong hội nghị lâm nghiệp các tỉnh Tây Nguyên do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.
Theo đó, thời gian tới các địa phương trong khu vực cần phải nghiên cứu, đề xuất giải pháp thích hợp cho vấn đề công ty lâm nghiệp. Nhiều ý kiến cho rằng nên chuyển đổi các công ty lâm nghiệp thành các ban quản lý rừng – một đơn vị sự nghiệp hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, đối với các công ty lâm nghiệp có thể kinh doanh dựa trồng rừng thì nên giữ lại. Đồng thời, khi chuyển đổi công ty lâm nghiệp thành ban quản lý rừng thì cần tính đến việc bổ sung quyền, lực lượng, phương tiện và thiết bị cần thiết cho các ban quản lý để thực thi nhiệm vụ hiệu quả hơn. Trong đó, có ý kiến đáng chú ý là Ban quản lý rừng nên có biên chế kiểm lâm.
“Việc sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp nhà nước chúng ta nhìn thấy hai hình thức. Đối với các công ty lâm nghiệp mà đã có rừng sản xuất, làm kinh tế được, những mô hình nào còn tồn tại được, tự trang trải kinh phí được thì để tồn tại. Còn những mô hình nào không tồn tại được thì chuyển thành ban quản lý sự nghiệp có thu. Đấy là việc trong thời gian tới chúng ta tiếp tục phải nghiên cứu để đề xuất giải pháp để khắc phục.” - Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh trong buổi làm việc với các tỉnh Tây Nguyên về vấn đề lâm nghiệp tháng 3 vừa qua.
Với việc đang quản lý hơn 1/3 diện tích rừng của Tây Nguyên, giải quyết vấn đề của các công ty lâm nghiệp trở nên cấp thiết nhằm góp phần bảo vệ những cánh rừng còn lại. (Nhân Dân 2/6)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Có những “bản tin nho nhỏ” hằng ngày trên truyền thông như bà chủ tịch xã ăn chặn tiền xây nhà vệ sinh, các ông quan xã ỉm tiền hỗ trợ người nghèo, thậm chí biến người chết thành người sống, phù phép người sống thành đã qua đời để ăn chặn các loại tiền chính sách.
To hơn một chút là trưởng ban quản lý và bảo vệ rừng Đăk Ntao (Đắc Nông) thuê người phá 3,3ha rừng để lấy gỗ bán, hoặc dự án điện mặt trời cho các xã miền núi đã nghiệm thu từ mấy năm nay, nhưng mới phát hiện ra hàng đống thiết bị còn phơi nắng đội mưa chưa lắp đặt.
Nói chung, cứ nhìn từ trên cao xuống cấp thấp nhất (huyện, xã) đều thấy rõ sự bất lực (hay tiếp tay) của những người trong chính quyền cơ sở cho các hành vi tham nhũng, phá hoại tài nguyên, biển thủ công quỹ. Thậm chí có huyện miền núi nghèo ở Quảng Nam khi một vị phó thủ tướng hỏi về “lâm tặc – vàng tặc”, cán bộ huyện đã báo cáo trung thực: Huyện chuẩn bị ra quân dẹp “giặc” là y như rằng có “gián điệp” báo xuống xã, “giặc” rút lui hết. Khi “giặc” ở trong nhà, trong cơ quan thì còn gì để nói!
Nhưng với cấp thấp dẫu sao mọi người đều biết, thậm chí nhìn bằng mắt thịt của người trần cũng thấy rõ mồn một sự tha hóa biến chất của một bộ phận cán bộ công chức. Còn nếu ngồi từ dưới tầm thấp nhìn lên cao lại khác, tầm nhìn hạn chế bởi trời nhiều mây. Những đám mây xám kiểu “cơ chế, chính sách bất cập” hoặc “chưa có chế tài” hay “lỗi hệ thống”… khiến chúng ta cũng “mờ u mu huyền mù” về thực trạng kinh tế xã hội.
Đây không nói các vụ phạm pháp hình sự. Nhiều người, cứ tạm gọi là “nhẹ dạ cả tin” lại chăm chăm lên mạng xã hội, đọc gì tin nấy, mặc dù phần lớn là thông tin phán đoán, quy chụp, tâm huyết cũng có, hằn học cũng có, người trong cuộc nói nước đôi, người ngoài cuộc cũng ''rửa tay'' nhưng chưa ''gác kiếm'' nói nhiều hơn cả. Với cái nhìn chính thống, mạng xã hội vẫn được coi không phải là báo chí (dù tác nghiệp như báo chí), thậm chí bị xem là thông tin vỉa hè.
Nhưng có khói vì đã có lửa. Đã có lửa thì phải đề phòng hỏa hoạn. Hệ thống truyền thông quốc gia của Việt Nam đủ mạnh để làm đúng chức năng của mình và dư sức để “tuyên chiến” với những thông tin được xem là không chính thức, thậm chí là võ đoán, bịa đặt. Nhưng không hiểu vì sao điều này hầu như ít xảy ra, trừ việc nhất loạt đăng các bản tin chính thức được phát đi từ cơ quan có thẩm quyền. Chính hiện tượng “đường ai nấy đi” đã khiến người dưng thêm khó hiểu về bản chất của các thông tin, thậm chí các góc nhìn khác nhau còn “nguy hiểm” hơn thông tin của các ông “thầy bói xem voi”.
Cộng con đỉa to, cái quạt thóc, cái chổi xể, cái cột nhà cháy… lại vẫn là con voi xù xì. Còn những thông tin đa chiều lại khác, không hướng nhận thức của công chức vào một con vỏi con voi mà ly tán đi nhiều phương hướng, khó tìm được sự đồng thuận chung. Có câu “Đoàn kết là sức mạnh”, đồng thuận sẽ có đoàn kết. Còn phân ly tư duy, nhận thức, đánh giá hoặc chỉ nhìn thấy mây đen che khuất trời xanh, núi xanh thì lại khác.
30% cán bộ công chức “vác ô”, nhưng chỉ có mỗi một bác bí thư “vi hành” quán càphê sáng. Mới có một địa phương ghi hình chiếu lên tivi tỉnh nhà những cán bộ công chức ăn nhậu trong giờ hành chính, ''chém gió'' như… dân quèn. Có vài bác cán bộ mạnh dạn tuyên bố có “chạy chức”, “bôi trơn”, nhưng nói rồi chẳng tìm cách gì để chứng minh mình nói đúng.
Năm ông thầy bói đã chia sự thật ra thành 5 khúc, cộng lại đã miêu tả đúng hình tượng con voi. Và chỉ có thế mà thôi! (Lao Động 1/6)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Cảnh sát khu tự trị dân tộc Choang thuộc tỉnh Quảng Tây ở miền Nam Trung Quốc vừa thu giữ một lượng lớn rắn và rùa buôn lậu qua biên giới tại đây.
Theo thông báo của lực lượng an ninh biên phòng địa phương, lực lượng này đã phát hiện một chiếc xe tải đáng ngờ từ chiều 19/5 tại thành phố cảng Phòng Thành ở duyên hải khu tự trị Quảng Tây. Sau đó, khi chiếc xe tải này đang trên đường từ tỉnh biên giới Đông Hưng tới thủ phủ Quảng Châu của tỉnh lân cận Quảng Đông, cảnh sát đã chặn lại và thu được 89 thùng chứa rắn và 24 thùng chứa rùa trên xe.
Trong quá trình thẩm vấn, lái xe khai nhận mình được một người đàn ông tại Đông Hưng thuê chở hàng đến Quảng Châu, tuy nhiên cả hai đều không xuất trình được giấy phép chuyên chở động vật hoang dã. Cảnh sát nghi ngờ số động vật trên được vận chuyển lậu từ các nước láng giềng vào Trung Quốc qua đường biên giới.
Các quan chức lâm nghiệp địa phương cho biết sau khi tiếp nhận số động vật bị thu giữ sẽ tiến hành trả về rừng hoặc đưa tới các trung tâm cứu hộ động vật. (Đảng Cộng Sản VN 31/5)đầu trang(
Rất nhiều loài động thực vật sẽ có phân bố hẹp hơn nhiều nếu như tình hình biến đổi khí hậu diễn biến tiếp tục với tốc độ như hiện nay, theo một nghiên cứu vừa công bố mới đây.
Trong kịch bản “thông thường”, nếu như khí thải nhà kính không giảm đáng kể, khoảng 50% các loài thực vật và một phần ba các loài động vật sẽ biến mất ở một nửa diện tích phân bố của chúng vào năm 2080 so với hiện giờ, Livescience.com dẫn lời Rachel Warren, nhà nghiên cứu tại Đại học East Anglia, Anh. Nhiều loài đặc hữu bản địa cũng đứng trước đe dọa tuyệt chủng lớn hơn bao giờ hết.
Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Nature Climate Change đánh giá ảnh hưởng của sự nóng lên toàn cầu với 50.000 loài khác nhau trên toàn thế giới. Nghiên cứu sử dụng mô hình máy tính giả lập để tính toán và ước lượng những vùng khí hậu phân bổ của các loài động thực vật, rồi phân tích xem nếu các yếu tố môi trường thay đổi thì phân bổ của chúng sẽ thay đổi ra sao.
Trong rất nhiều trường hợp, sự thay đổi dẫn tới tuyệt chủng. Tuy nhiên, các loài động thực vật có phân bố hẹp không được đưa vào nghiên cứu này vì mục đích là tìm hiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với những loài phổ biến, theo lời Warren.
Dẫu vậy, các nhà nghiên cứu nói vẫn chưa phải quá muộn để cứu vãn tình hình. Nghiên cứu cho biết nếu lượng phát thải chậm lại và bắt đầu giảm dần từ năm 2017, khoảng 60% tổn thất là có thể tránh được. Nếu phát thải đạt đến đỉnh năm 2030 và giảm sau đó, khoảng 40% tổn thất có thể tránh được.
Mất mát đa dạng sinh học có thể đặc biệt nghiêm trọng ở Trung và Nam Mỹ, Úc, Bắc Phi và Đông Nam Á, theo Warren. Những vùng này dễ tổn thương vì sự suy giảm lượng mưa và nhiệt độ tăng, theo nghiên cứu. Sự sụt giảm các loài cũng gây ảnh hưởng mang tính hệ thống, bao gồm ảnh hưởng tới chuỗi thức ăn, cân bằng sinh học…
“Sẽ có những kẻ chiến thắng và những kẻ thua cuộc trong thế giới tự nhiên khi các loài đáp lại biến đổi khí hậu” - Lee Hannah, một nghiên cứu viên cấp cao về sinh học biến đổi khí hậu ở Viện Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (CII), bình luận. “Nghiên cứu này cho thấy chúng ta có thể giảm bớt những kẻ thua cuộc trong các loài phổ biến bằng cách hành động làm giảm biến đổi khí hậu”. (Tuổi Trẻ 1/6)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa