|
Ngày 02 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ NN&PTNT.
Bộ NN&PTNT thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Trong đó, về nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), Bộ NN&PTNT có nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng, kiểm tra thực hiện quy hoạch phát triển vùng cây trồng, vùng chăn nuôi tập trung, sản xuất nông sản thực phẩm an toàn; kế hoạch sử dụng, bảo vệ và cải tạo nâng cao độ phì đất nông nghiệp; chống xói mòn, sa mạc hoá và sạt lở đất.
Bên cạnh đó, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện sử dụng ngân sách cho các chương trình phòng, chống, khắc phục hậu quả dịch bệnh trên động vật, thực vật; chỉ đạo thực hiện về cơ cấu cây trồng, vật nuôi; kỹ thuật gieo trồng, chăn nuôi, thu hoạch, bảo quản và tổng kết, đánh giá thực hiện kế hoạch sản xuất trồng trọt, chăn nuôi hàng năm.
Về thủy lợi, Bộ NN&PTNT thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê điều, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều; quản lý, bảo vệ đê, hộ đê và sử dụng đê điều quy định tại Luật Đê điều và theo quy định của pháp luật. Cùng với đó là thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về an toàn đập, các hồ chứa nước thuỷ lợi theo quy định của pháp luật.
Bộ NN&PTNT còn có nhiệm vụ chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo theo phân công của Chính phủ.
Chủ trì, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện bố trí dân cư, di dân tái định cư các công trình thủy lợi, thủy điện; bố trí ổn định dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới hải đảo, vùng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu, di cư tự do, vùng xung yếu, rất xung yếu của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện công tác định canh, bố trí dân cư trong nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Về cơ cấu tổ chức, Bộ NN&PTNT có 26 đơn vị: 1- Vụ Kế hoạch; 2- Vụ Tài chính; 3- Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; 4- Vụ Hợp tác quốc tế; 5- Vụ Pháp chế; 6- Vụ Tổ chức cán bộ; 7- Vụ Quản lý doanh nghiệp; 8- Văn phòng Bộ; 9- Thanh tra Bộ; 10- Cục Trồng trọt; 11- Cục Bảo vệ thực vật; 12- Cục Chăn nuôi; 13- Cục Thú y; 14- Cục Chế biến nông lâm thuỷ sản và nghề muối; 15- Cục Quản lý xây dựng công trình;
16- Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn; 17- Cục Quản lý Chất lượng nông lâm sản và thuỷ sản; 18- Tổng cục Lâm nghiệp; 19- Tổng cục Thuỷ sản; 20- Tổng cục Thuỷ lợi; 21- Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn; 22- Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn I; 23- Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn II; 24- Trung tâm Tin học và Thống kê; 25- Báo Nông nghiệp Việt Nam; 26- Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (Chinhphu.vn 30/11) đầu trang(
Để góp phần nâng cao độ che phủ, bảo đảm chế độ điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất điện, UBND tỉnh Đăk Nông đã đồng ý chủ trương cho Sở NN&PTNT lồng ghép tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) vào mục đích phát triển rừng trong lưu vực Nhà máy thủy điện Đắk R’tíh.
Thời gian qua, thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, Nhà máy thủy điện Đắk R’tíh đã ủy thác chi trả tiền DVMTR với số tiền bình quân hàng năm khoảng 15 tỷ đồng, tương ứng với mức chi trả bình quân khoảng 754.000 đồng/ha/năm.
Mức chi trả này cao hơn rất nhiều so với định mức giao khoán quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước (200.000 đồng/ha/năm). Tuy nhiên, diện tích rừng tham gia cung ứng DVMTR trong lưu vực nhà máy mới chỉ đạt 16.907 ha, thấp hơn khá nhiều so với tổng diện tích đất lâm nghiệp trong lưu vực.
Thực tế này chưa đảm bảo việc điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất điện của nhà máy, nhất là vào mùa khô hạn. Vì vậy, việc điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất điện, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, góp phần đảm bảo cảnh quan cho đô thị Gia Nghĩa là điều hết sức cần thiết.
Do đó, Sở NN&PTNT đã xây dựng kế hoạch và lập Đề án trồng rừng trong phạm vi lưu vực Nhà máy thủy điện Đắk R’tíh với quy mô khoảng 2.000 ha rừng để triển khai thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2024, bình quân khoảng 200 ha/năm. Sau khi đề án được phê duyệt, Sở NN&PTNT sẽ hướng dẫn các địa phương, các đơn vị “chủ rừng” nằm trong lưu vực Nhà máy thủy điện Đắk R’tíh đăng ký kế hoạch trồng rừng và lập các dự án triển khai trồng rừng theo đề án.
Riêng đối với “chủ rừng” là tổ chức thì việc trồng rừng tập trung sẽ triển khai trên diện tích mà các đơn vị đang quản lý; còn đối với những diện tích đất do địa phương và các hộ dân quản lý thì trồng rừng theo hình thức nông- lâm kết hợp. Nguồn vốn thực hiện đề án được trích từ kinh phí dự phòng giữ lại tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh trong các năm 2011- 2012 và nguồn vốn cân đối từ tiền chi trả DVMTR hàng năm của Nhà máy thủy điện Đắk R’tíh ủy thác…
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh thì thực hiện đề án này sẽ giúp nâng cao độ che phủ của rừng trong lưu vực Nhà máy thủy điện Đắk R’tíh từ 15,6% trong năm 2014 lên 17,4% vào năm 2024. Thông qua công tác trồng rừng, cùng với việc góp phần đảm bảo việc điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất điện thì còn tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân. (Báo Đăk Nông 29/11) đầu trang(
Việc triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Đăk Nông theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách này, ở các địa phương đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc.
Theo quy định tại Điều 6, Thông tư 80/2011 ngày 23/11/2011 của Bộ NN&PTNT thì việc xác định tiền DVMTR chi trả cho “chủ rừng” được tính toán theo từng lưu vực cụ thể. Do vậy, trong quá trình chi trả tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh đã có sự chênh lệch mức chi trả giữa các lưu vực là rất lớn, tạo ra sự không đồng thuận giữa các đối tượng “chủ rừng” tham gia cung ứng DVMTR, nhất là các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.
Trước thực tế này, theo đề nghị của Sở NN&PTNT, xét theo điều kiện cụ thể của địa phương, ngày 25/10/2013, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1682/QĐ – UBND về phê duyệt danh sách các đơn vị theo 2 hệ thống lưu vực chính là lưu vực sông Sêrêpốk và lưu vực sông Đồng Nai để chi trả DVMTR.
Với phương án thu chi này, ngoài việc tạo cơ sở pháp lý để tổ chức triển khai các hoạt động thu chi tiền DVMTR, chủ động điều phối, sử dụng kinh phí hiệu quả thì việc thực hiện các chỉ tiêu, đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời các nguồn thu từ tiền ủy thác cũng được Quỹ BV&PTR tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện.
Theo đó, với mức thu đối với cơ sở thủy điện là 20 đồng/kw giờ điện thương phẩm và 40 đồng/m3 nước thương phẩm tại các cơ sở sản xuất nước và cung ứng nước sạch thì tổng số tiền DVMTR dự kiến thu năm 2014 là trên 52,7 tỷ đồng.
Trong đó, thu ủy thác qua Quỹ BV&PTR Việt Nam là trên 36,2 tỷ đồng và thu ủy thác qua Quỹ Bảo vệ – PTR tỉnh hơn 16,5 tỷ đồng. Về kế hoạch chi trả tiền DVMTR thì trong lưu vực sông Sêrêpốk và lưu vực sông Đồng Nai có tổng diện tích rừng tham gia cung ứng DVMTR là trên 197.698 ha.
Tại lưu vực sông Sêrêpốk có 12 nhà máy thủy điện và 3 cơ sở sản xuất cung ứng nước sạch; lưu vực sông Đồng Nai có 33 nhà máy thủy điện, 6 cơ sở sản xuất, cung ứng nước sạch.
Các đối tượng được chi trả tiền DVMTR chủ yếu gồm: “chủ rừng” là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, bon, buôn được Nhà nước giao đất, giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng; các “chủ rừng” là tổ chức, đơn vị được Nhà nước giao đất, giao rừng, cho thuê đất rừng để quản lý, bảo vệ, thực hiện các dự án đầu tư sản xuất nông- lâm nghiệp.
Mức chi trả DVMTR cho 1 ha rừng quy đổi trong một năm cụ thể như: tại lưu vực sông Sêrêpốk là 160.000 đồng/ha/năm; lưu vực sông Đồng Nai là 286.000 đồng/ha/năm. Còn đơn giá hỗ trợ cho các tổ chức không phải là “chủ rừng” nhưng được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng là 209.000 đồng/ha/năm. Như vậy, năm 2014, dự kiến Quỹ BR&PTR tỉnh sẽ chi trả cho các “chủ rừng” tham gia cung ứng DVMTR trong 2 lưu vực nói trên vào khoảng 47,5 tỷ đồng. Việc chi trả tiền DVMTR được thực hiện dưới hai hình thức là tạm ứng và thanh toán.
Để thực hiện kế hoạch thu chi tiền DVMTR trong 2014 đạt kết quả cao, Quỹ BV&PTR tỉnh đang tiếp tục rà soát các nguồn thu theo Nghị định 99/2010 và các khoản đóng góp bắt buộc theo quy định tại Điều 10, Nghị định 05/2008. Đồng thời, Quỹ cũng sẽ tiếp tục đàm phán, ký kết các hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR đối với các cơ sở sản xuất chưa ký kết, các cơ sở mới bắt đầu đi vào hoạt động cũng như chủ động giải ngân, tạm ứng tiền cho các “chủ rừng” tham gia cung ứng DVMTR theo quy định… (Báo Đăk Nông 29/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Ông Nguyễn Văn Hùng - Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim cho biết ngày 30-11, sự kiện “Chào đón chim di cư Việt Nam 2013” đã diễn ra tại VQG Tràm Chim.
Sự kiện này do VQG Tràm Chim phối hợp cùng Công ty du lịch hoang dã, Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế, Hiệp hội bảo vệ chim Vương quốc Anh, Trung tâm Thiên nhiên Việt Nam tổ chức.
Đây là sự kiện nhằm nâng cao hiểu biết về chim di cư cũng như tìm hiểu về mùa di cư của chim. Từ đó tuyên truyền về vệc bảo vệ môi trường, bảo tồn chim hoang dã.
Cũng theo ông Nguyễn Văn Hùng, hiện VQG Tràm Chim có 11 bộ, 46 họ và 231 loài chim đang sinh sống. Đặc biệt trong đó có 32 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế, trong sách đỏ Việt Nam đang sống tại Vườn quốc gia này, điển hình nhất là loài sếu đầu đỏ. (VietnamPlus.vn 30/11; Tuổi Trẻ 30/11) đầu trang(
Ngày 28/11, UBND huyện Lục Ngạn tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2013; triển khai nhiệm vụ, giải pháp PCCCR mùa khô năm 2013- 2014.
Xác định công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, thời gian qua, UBND huyện đã chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ các cơ quan chuyên môn, đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương phát huy vai trò, trách nhiệm, phấn đấu huy động lực lượng tập trung cao trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ban chỉ đạo huyện đã chỉ đạo 26 xã có rừng và 2 chủ rừng lớn xây dựng 28 phương án PCCCR; củng cố, kiện toàn 156 tổ xung kích PCCCR tại các thôn trọng điểm với hơn 3.000 người tham gia; đồng thời xây dựng cam kết tới các chủ hộ gia đình chăn thả gia súc và làm nương bãi ven rừng cần đảm bảo không đốt đồng cỏ, đốt nương gây cháy rừng...
Cùng đó, Ban chỉ đạo huyện đã mở 15 hội nghị tuyên truyền, tập huấn PCCCR trên địa bàn cho gần 1.000 học viên; tổ chức sửa chữa, kẻ vẽ lại 23 biển tin và biển báo bảo vệ PCCCR các loại... Do đó, từ đầu năm đến nay toàn huyện chỉ xảy ra 1 vụ cháy, làm thiệt hại hơn 1,6 ha rừng trồng tại xã Quý Sơn (do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Lục Ngạn quản lý), giảm 02 vụ so với năm 2012.
Phát biểu tại hội nghị, ông Trương Văn Năm- Phó Chủ tịch UBND huyện nhấn mạnh: Để làm tốt công tác PCCCR mùa khô hanh năm 2013 – 2014, các ngành chức năng cần phối hợp với các đơn vị chủ rừng, địa phương tích cực tuyên truyền, vận động, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR, từng bước góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và người dân trên địa bàn; giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng đất rừng, đất lâm nghiệp; tăng cường tuần tra, chốt chặn tại các địa bàn trọng điểm thường xảy ra, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, có nguy cơ cháy rừng cao.
Nhân dịp này, UBND huyện đã khen thưởng 2 tập thể và 2 cá nhân hoàn thành xuất sắc công tác phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2013. (Lucngan.bacgiang.gov.vn 29/11) đầu trang(
Ngày 22/11, ông Nguyễn Văn Hoàng, Phó Chủ tịch UBND, Trưởng Ban bảo vệ và phát triển rừng thành phố Bà Rịa chủ trì hội nghị tổng kết công tác phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2012 – 2013.
Từ việc xác định khoanh vùng trọng điểm khu vực dễ gây ra cháy rừng, mùa khô năm 2012 – 2013, Hạt kiểm lâm Bà Rịa đã hướng dẫn chủ rừng kiểm tra giám sát chặt chẽ việc dùng lửa, sử dụng nguồn nhiệt, chất dễ gây cháy; Thực hiện đường băng cản lửa trên 25 ha rừng; xây dựng 3 hồ chứa nước; tuyên truyền vận động những hộ dân, công ty xí nghiệp hoạt động giáp ranh rừng ký cam kết bảo vệ rừng; thành lập 5 tổ quần chúng cùng với lực lượng dân quân, dân phòng trên 300 người và trang bị công cụ sẵn sàng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng.
Vào thời điểm giao mùa, Trạm Kiểm lâm Bà Rịa còn phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng cho lực lượng thường trực, các chủ rừng và quần chúng nhân dân trong khu vực có diện tích rừng trồng. Tuy nhiên do đặc điểm thành phố Bà Rịa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa và các khu rừng có nhiều am cốc, chùa chiềng hội tụ nhiều khách thập phương đến cúng viếng; đây cũng là những nguyên nhân dễ gây cháy rừng.
Mặc dù đã có nhiều biện pháp đồng bộ và hiệu quả trong công tác phòng chống cháy rừng, nhưng trong mùa khô 2012 -2013 trên địa bàn thành phố vẫn xảy ra 02 vụ cháy rừng trên tổng diện tích 3,5 ha.
Tại hội nghị, các đại biểu được nghe triển khai kế hoạch phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2013 - 2014, kế hoạch tác nghiệp phòng chống cháy rừng năm 2014; Quy chế ban chỉ đạo về kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng của thành phố Bà Rịa . Dịp này, Sở NN&PTNT tỉnh khen thưởng cho 03 tập thể và 09 cá nhân, UBND thành phố tặng giấy khen cho 05 tập thể và 12 cá nhân có nhiều thành tích trong công tác bảo vệ, phòng, chống cháy rừng năm 2013. (Bariavungtau.gov.vn 29/11) đầu trang(
Ngày 26/11, Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng huyện Bát Xát đã tổ chức diễn tập phòng cháy rừng cấp thôn tại thôn Khoang Thuyền xã Nậm Chạc.
Cuộc diễn tập đã được chia làm 2 phần là diễn tập cơ chế và diễn tập thực binh. ở phần diễn tập cơ chế, sau khi nhận được công điện khẩn của Ban chỉ đạo Bảo vệ và phát triển rừng xã Nậm Chạc về việc triển khai ngay những biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, thôn Khoang Thuyền đã tổ chức họp thôn dưới sự chủ trì của trưởng thôn cùng đông đủ các đoàn thể và bà con nhân dân. Tại cuộc họp, thôn đã phổ biến công điện khẩn của Ban chỉ đạo xã, hướng dẫn nhân dân các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng và quy trình đốt nương an toàn có kiểm soát.
Ở phần diễn tập thực binh tình huống xảy ra cháy rừng là do hộ gia đình đốt nương do bất cẩn không vén đường băng, gặp gió to làm lửa cháy lan vào rừng. Sau khi nhận được tin báo trưởng thôn đã huy động nhân dân trong thôn và bà con thôn lân cận tham gia dập lửa cứu rừng, nhưng lực lượng mỏng không khống chế được đám cháy trưởng thôn đã báo cáo Ban chỉ đạo xã chi viện lực lượng chữa cháy.
Qua cuộc diễn tập phòng đã nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy điều hành của Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng địa phương. Thông qua diễn tập, kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương án phòng, chống cháy rừng sát với tình hình thực tế của địa phương cũng như tiếp tục nâng cao ý thức của nhân dân trong các thôn, bản về công tác phòng, chống cháy rừng, bảo vệ rừng. (Laocai.gov.vn 30/11) đầu trang(
Ban Chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ rừng huyện Bạch Thông đã tổ chức diễn tập phòng, chống cháy rừng năm 2013 tại xã Cao Sơn.
Cuộc diễn tập được chia thành 2 giai đoạn với 3 vấn đề huấn luyện. Giai đoạn I tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng, bao gồm các nội dung: Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; điều chỉnh, bổ sung, triển khai kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng; giao nhiệm vụ, hiệp đồng đảm bảo phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng cho các cơ quan, ban, ngành.
Giai đoạn II tổ chức diễn tập thực binh chữa cháy rừng tại khu đồi Khuổi Tôm, thôn Thôm Phụ với hiện trường diễn tập là 0,5 ha. Cuộc diễn tập được thực hiện theo phương châm 4 tại chỗ, lấy phòng ngừa cháy rừng là chính, công tác chữa cháy rừng phải được tiến hành khẩn trương, kịp thời ngăn chặn, hạn chế đám cháy, không để xảy ra cháy lớn, cháy lan kéo dài; đồng thời, cơ động lực lượng ứng cứu kịp thời làm giảm mức độ thiệt hại về tài nguyên rừng cũng như tính mạng và tài sản của nhân dân.
Thông qua diễn tập, Ban Chỉ đạo diễn tập kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương án phòng, chống cháy rừng sát với tình hình thực tế của địa phương cũng như tiếp tục nâng cao ý thức của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn từ huyện tới các thôn, bản về công tác phòng, chống cháy rừng, bảo vệ rừng. (Đài PT -TH Bắc Kạn 29/11) đầu trang(
Cùng với việc tập trung chỉ đạo bà con nhân dân tích cực tham gia trồng rừng, công tác quản lý và bảo vệ rừng luôn được các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện Chiêm Hoá đặc biệt quan tâm, các cơ quan chức năng của huyện đã chủ động phối hợp với các xã, thị trấn tăng cường tuần tra các khu vực trọng điểm, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
Trạm Kiểm lâm Tân Mỹ là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ trên 14.000 ha rừng, trong đó có hơn 2.000 ha rừng phòng hộ, gần 7.000 ha rừng sản xuất; trên 4.000 ha diện tích rừng trồng, tập trung ở các xã: Tân Mỹ, Hùng Mỹ, Xuân Quang và thị trấn Vĩnh Lộc.
Để làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, Trạm Kiểm lâm Tân Mỹ đã kiện toàn các ban chỉ huy và xây dựng quy chế hoạt động các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tại 3 xã, thị trấn với 127 người tham gia; kiện toàn tổ cơ động và tổ đội quần chúng quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng với 701 người tham gia.
Trạm cũng đã tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng đến 100% các thôn bản và hộ gia đình, đồng thời tuyên truyền cho nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng cường tuần tra kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ vi phạm lâm luật.
Toàn huyện Chiêm Hoá có trên 128.000 ha tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất lâm nghiệp trên 105.000 ha; diện tích rừng sản xuất 69.000 ha. Để công tác quản lý và bảo vệ rừng thực sự phát huy được hiệu quả, Hạt Kiểm lâm huyện Chiêm Hoá đã chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền huyện xây dựng kế hoạch về công tác quản lý và bảo rừng.
Đồng thời trạm đã phối hợp với các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục cho bà con nhân dân nắm được các quy định về bảo vệ rừng; thường xuyên theo dõi, nắm chắc diễn biến tình hình thời tiết; tổ chức cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm Chiêm Hóa tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng trọng điểm, phối hợp tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô hanh, bảo vệ tốt tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ của rừng, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Đài PT - TH Tuyên Quang 30/11) đầu trang(
Đây là cuộc thi diễn ra vào sáng 8.12 nhằm gây quỹ dành cho hoạt động bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam. (Thanh Niên 30/11) đầu trang(
Với mong muốn xây dựng một khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã kết hợp với việc phát triển kinh tế cho người dân từ chăn nuôi động vật hoang dã, Hoàng Văn Phức, sinh viên khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường K55, Trường ĐH Lâm nghiệp đang từng bước nỗ lực học tập, nghiên cứu để sớm hiện thực hóa giấc mơ này.
Ngay từ nhỏ đã có niềm đam mê bất tận với việc tìm hiểu, khám phá các loại động, thực vật tự nhiên, hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự, Phức trở về nhà và bắt đầu tự mày mò trên mạng tìm hiểu các kiến thức về việc nuôi, bảo tồn và duy trì nguồn gen của một số loài động, thực vật hoang dã như nhím, cầy hương, dúi và trồng lan rừng. Được sự khuyến khích của chi cục kiểm lâm địa phương, Phức mạnh dạn thử nghiệm nuôi nhím và ươm những giò phong lan đầu tiên.
Thời gian này, Phức tích lũy được nhiều kiến thức và thực hiện được nguyện vọng của mình, thi đậu vào khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường của Trường ĐH Lâm nghiệp. Trong quá trình học tập, Phức quyết tâm gắn học tập với tiếp tục theo đuổi niềm đam mê.
Đến nay, Phức đã có hai đề tài nghiên cứu khoa học: "Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh ở Đà Bắc, Hòa Bình" và "Khu bảo tồn pơ mu, xa mu dầu ở Xuân Liên, Thanh Hóa", giành giải ba cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học của Trường ĐH Lâm nghiệp.
Việc nghiên cứu về bảo tồn động vật hoang dã khá khó khăn, bởi khi đến địa bàn, cán bộ hoặc kiểm lâm khu vực sẽ giúp đỡ, hướng dẫn, còn muốn có các thông tin cần thiết thì phải tự đi. Không ngại khó, ngại khổ, Phức đã bám theo bản đồ rừng và định vị GPS đi tìm hiểu, thậm chí ăn, ngủ, nghỉ trong rừng.
Hơn thế, trong quá trình điều tra, ngoài các loài động, thực vật "lành tính", Phức còn nghiên cứu các loài động, thực vật nguy hiểm, nguy cơ bị tấn công rất cao. Nhưng với quyết tâm và niềm đam mê đối với động, thực vật hoang dã đã giúp Phức vượt qua được những khó khăn, thực hiện thành công các đề tài nghiên cứu và được bạn bè, thầy cô đánh giá cao.
Không chỉ là sinh viên xuất sắc, đam mê nghiên cứu khoa học về động, thực vật hoang dã, Phức còn rất tích cực tham gia và có nhiều đóng góp cho các phong trào đoàn, hội của trường, lớp. Với sự nỗ lực đó, Phức đã vinh dự được nhận nhiều danh hiệu cao quý như: Sinh viên Thủ đô thời đại mới năm 2012, Chứng nhận đảng viên xuất sắc TP Hà Nội năm 2012 và nhiều Bằng khen của TƯ Hội Sinh viên Việt Nam, TƯ Đoàn... (Hà Nội Mới 1/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại buổi lễ kỷ niệm 54 năm ngày thành lập ngành Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959 - 28/11/2013), các lãnh đạo; nguyên lãnh đạo và cán bộ Bộ NN-PTNT, Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, Trường ĐH Lâm nghiệp… đã cùng nhau ôn lại những chặng đường đã qua và đề ra phương hướng phát triển ngành trong thời gian tới.
Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh đánh giá cao những kết quả mà ngành ngành Lâm nghiệp đã đạt được trong những năm qua, đặc biệt là 2 năm thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo Quyết định số 57 của Thủ tướng Chính phủ.
Tỷ lệ che phủ rừng đang tăng đều theo các năm, công tác bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến tích cực hơn, các điểm nóng về bảo vệ rừng cơ bản được kiểm soát kịp thời, số vụ vi phạm và thiệt hại đều giảm, kim ngạch XK lâm sản đạt kết quả rất khả quan, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang dần đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích thiết thực cho người trồng và bảo vệ rừng…
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp chia sẻ: 2013 là năm thứ 2 Tổng cục Lâm nghiệp tham mưu giúp Bộ thực hiện kế hoạch BV&PTR giai đoạn 2011 - 2012 theo Quyết định 57/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đây cũng là năm đầu tiên ngành Lâm nghiệp cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng khoá XI thông qua việc thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành.
Trong bối cảnh kinh tế đất nước tiếp tục khó khăn, thời tiết lại diễn biến phức tạp nhưng với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và Bộ NN-PTNT, năm 2013 có thể nói là một năm nhiều thành công đối với ngành Lâm nghiệp.
Tổng cục là đơn vị đầu tiên trong Bộ trình Bộ trưởng phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành; đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới, kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của lực lượng Kiểm lâm giai đoạn 2012 - 2020 và Đề án quản lý khai thác rừng tự nhiên…
Đồng thời, Tổng cục cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đặc biệt với một số chủ trương, chính sách mới mang tính đột phá như: chính sách tri trả dịch vụ môi trường rừng, chính sách đồng quản lý, chủ trương tái cơ cấu ngành và sắp xếp các tổ chức quản lý rừng…
Qua đó, vừa nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân, vừa thay đổi nhận thức, tập quán kinh doanh sản xuất (SX) lâm nghiệp từ quảng canh sang thâm canh; kết hợp SX gỗ nhỏ và gỗ lớn, đồng thời nâng cao vai trò, vị thế của ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Trong các giải pháp tái cơ cấu ngành được thực hiện trong năm 2013, Tổng cục rất chú ý đến vấn đề quản lý giống cây lâm nghiệp, tháo gỡ khó khăn cho các tổ chức quản lý rừng, khai thác có hiệu quả xã hội hoá nghề rừng.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh hợp tác, tranh thủ các hỗ trợ quốc tế, xúc tiến các hoạt động thương mại, phát triển thị trường lâm sản, tăng cường quảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu cho đồ gỗ Việt Nam.
Mặc dù cuối năm 2012 dự báo năm 2013 xuất khẩu (XK) sẽ gặp khó khăn nhưng thực tế năm 2013, tổng kim ngạch XK lâm sản đạt kỷ lục trong các năm qua, XK mỗi tháng đạt bình quân 425 triệu USD/tháng, điển hình là các tháng quý III đều đạt trên 450 triệu USD/tháng; lượng gỗ rừng trồng sử dụng trong chế biến đồ mộc XK đã tăng. Đây là một tín hiệu rất tốt đối với ngành chế biến gỗ VN.
Về thị trường so với cùng kỳ năm trước, những thị trường nhập khẩu lớn các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đều tăng trưởng mạnh, cụ thể Hoa Kỳ tăng 8,6%, Trung Quốc tăng 30,7%, Nhật Bản tăng 16,1%, và Hàn Quốc tăng 45,4% so với cùng kỳ; Các thị trường giảm như Đức (giảm 16,5%) và Pháp (giảm 1,6%).
Năm 2013 thời tiết diễn biến phức tạp, khô hạn ở nhiều nơi; công tác bảo vệ rừng có nhiều diễn biến phức tạp cả về tính chất, mức độ thiệt hại. Tổng cục đã chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2013; thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành (Công an, Quốc phòng), kiểm tra tình hình bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tại một số tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; củng cố, duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ báo cháy và trạm viễn thám đáp ứng kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành.
Nhờ đó, số vụ vi phạm cũng như diện tích thiệt hại đều giảm so với cùng kỳ năm 2012. Tính đến hết tháng 10, cả nước xảy ra 230 vụ cháy rừng (giảm 153 vụ so với cùng kỳ năm 2012); diện tích bị thiệt hại là 903 ha (giảm 418 ha so với cùng kỳ năm 2012).
Tổng cục đã chủ động phối hợp với các địa phương giải quyết các điểm nóng về phá rừng và tụ điểm cất trữ lâm sản trái phép; tổ chức kiểm tra xác minh các điểm nóng về khai thác lâm sản trái pháp luật như ở Tà Xùa - Sơn La; Văn Bàn - Lào Cai; Sơn Động - Bắc Giang; Yên Tử - Quảng Ninh, tỉnh Đắk Lắk và một số tụ điểm buôn bán lâm sản trái pháp luật tại các tỉnh Thái Nguyên, Sơn La, Bắc Kạn... Tập trung cao độ giải quyết những vấn đề lâm nghiệp ở Tây nguyên, xử lý kịp thời các nhiệm vụ về bảo vệ và phát triển rừng trong khu vực.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh cũng nhận định: Trong bối cảnh của hội nhập hiện nay, nền kinh tế đất nước tiếp tục khó khăn, cùng với đó là áp lực phát triển kinh tế và gia tăng dân số lên tài nguyên rừng ngày một lớn, tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển từng vẫn còn diễn ra tại một số điểm nóng.
Chỉ tiêu về trồng rừng phòng hộ, đặc dụng còn đạt thấp so với kế hoạch; giá trị của các sản phẩm ngành Lâm nghiệp còn hạn chế so với tiềm năng; thu nhập, đời sống của người dân làm nghề rừng còn chưa theo kịp so với lĩnh vực khác trong ngành nông nghiệp… đòi hỏi ngành và toàn xã hội phải nỗ lực hơn nữa.
Thứ trưởng Lê Quốc Doanh hy vọng, với thành công mà ngành Lâm nghiệp đã đạt được trong những năm qua, cùng với niềm tin, sự đoàn kết, đồng tâm hiệp lực của chúng ta, những người đang ngày đêm gắn bó với nghề rừng sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức để đưa ngành Lâm nghiệp ngày càng phát triển. (Nông Nghiệp Việt Nam 2/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, tính đến ngày 20/11, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt gần 202.800 ha, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 22.700 ha, tăng 43,7% so với cùng kỳ 2012. Cũng so với cùng kỳ năm trước, trồng mới rừng sản xuất đạt 180.100 ha, tăng 12,5%. Sản lượng gỗ khai thác cũng tăng 6,4% đạt 4.800.000 m3.
Đến thời điểm này, các tỉnh miền Bắc đã cơ bản kết thúc vụ trồng rừng. Ước tính đến 20/11 các địa phương miền Bắc đã trồng được 154.800 ha rừng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng trồng đạt 18.600 ha (tăng 26,9%); Trung du miền núi phía Bắc trồng 103.300 ha (tăng 22,8%); vùng Bắc Trung Bộ trồng 32.800 ha (giảm 25,3%).
Còn tại các tỉnh miền Nam đang tiến hành trồng rừng chính vụ. Tính đến 20/11 các địa phương miền Nam đã trồng được 47.400 ha, tăng 51,6% so với cùng kỳ năm 2012.
Ngoài việc trồng rừng, các địa phương tiếp tục triển khai trồng cây phân tán, chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng 2013.
Thống kê của Bộ NNPTNT cũng cho thấy trong tháng 11 có mưa nhiều nên không có hiện tượng cháy rừng xảy ra. Tính chung 11 tháng, diện tích rừng bị cháy là hơn 870 ha (giảm 48% so với cùng kỳ năm trước).
Diện tích rừng bị chặt phá trong tháng là 12,2 ha, chủ yếu vẫn do người dân chặt phá rừng trái phép làm nương rẫy. Tuy nhiên với tổng diện tích hơn 600 ha bị chặt phá trong 11 tháng của năm nay, diện tích rừng bị chặt phá cũng đã giảm 45,4% so với cùng kỳ năm 2012. (Công An Nhân Dân 2/12; Hà Nội Mới 2/12; Chinhphu.vn 30/11) đầu trang(
Ngày 29/11, Vườn Quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập (2003-2013) và đón nhận Bằng khen của Thủ tướng.
Theo Quyết định số 01/2003 của Thủ tướng ngày 2/1/2003, Vườn Quốc gia Xuân Thủy thực hiện nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng cửa sông Hồng, các loài động vật, thực vật đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước, đặc biệt là các loài thủy sinh, các loài chim nước, chim di trú; phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương.
Trong 10 năm qua, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng cửa sông Hồng, các loài động thực vật đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước, nhất là các loài thủy sinh và các loài chim nước, chim di trú; phục vụ công tác nghiên cứu khoa học; giáo dục môi trường cho cộng đồng và phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tạo việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương.
Các quy chế quản lý như khai thác nguồn lợi ngao giống tại cửa sông Hồng; cộng đồng tham gia quản lý rừng ngập mặn; chia sẻ lợi ích thủy sản dưới tán rừng ngập mặn; tạo các sinh kế bền vững cho cộng đồng như trồng nấm, nuôi ong, phát triển du lịch sinh thái... đã góp phần thiết thực trong việc thực hiện chiến lược sử dụng khôn khéo và bền vững tài nguyên vùng bãi bồi khu vực Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
Theo ông Nguyễn Viết Cách, Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Vườn sẽ tiếp tục vững bước trên con đường đã được định hướng, trở thành điểm trình diễn về kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, đồng thời là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế trong tương lai.
Nhân dịp này, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đón nhận hai Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể và cá nhân. (VietnamPlus.vn 30/11; Đại Đoàn Kết 30/11) đầu trang(
Các tổ chức, cá nhân có thể nhận được tài trợ tối đa 25.000 đô la Mỹ cho những đề xuất ý tưởng về các dự án bảo vệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên tại các các huyện ven biển của tỉnh Trà Vinh và Bến Tre từ Chương trình “Rừng ngập mặn cho tương lai” của Việt Nam, do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) phát động vào đầu tháng 12-2013.
Theo IUCN, chương trình được tổ chức nhằm đẩy mạnh đầu tư vào hệ sinh thái ven biển thông qua Quỹ tài trợ dự án nhỏ (Smaill Grant Facilities) hỗ trợ cho các cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo tồn và quản lý các hệ sinh thái ven biển, qua đó nhận thức rõ các giá trị của rừng ngập mặn và hệ thực vật ven biển trong việc giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mỗi dự án được chấp nhận có thể được tài trợ tối đa lên tới 25.000 đô la Mỹ, thời gian thực hiện dự án trong vòng 12 tháng.
Các nghiên cứu cộng đồng bao gồm đánh giá tính dễ tổn thương tại Bến Tre và phân tích hiện trạng tại Bến Tre và Trà Vinh cho thấy cộng đồng ven biển khu vực này dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, cũng như các điều kiện phát triển hạn chế. Các dự án thông qua quỹ trên thực hiện thí điểm giúp tăng sức chống chọi của cộng đồng qua các hoạt động hỗ trợ cải thiện quy hoạch sử dụng đất và quản lý tài nguyên thiên nhiên, cụ thể là khôi phục rừng ngập mặn và nuôi hải sản bền vững. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 30/11) đầu trang(
Trong đó có 445 hecta rừng sản xuất và 25 hecta rừng phòng hộ. Diện tích này chủ yếu là rừng tràm, tập trung tại 3 xã Diễn Phú, Diễn Lâm và xã Diễn Đoài.
Đây là chương trình trồng rừng thuộc dự án Ngân hàng thế giới WB3 và Chương trình bảo vệ, phát triển rừng tài trợ.
Diễn Châu có 9 xã có rừng với tổng diện tích gần 7000 hecta, độ che phủ đạt 24%. Việc trồng mới rừng hàng năm sẽ góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc và tăng thu nhập cho người dân. (Đài PT - TH Nghệ An 2/12) đầu trang(
Nhân Kỷ niệm 54 năm Ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28.11.1954-28.11.2013), đại diện Báo Nông Thôn Ngày Nay đã có buổi gặp gỡ thân mật và trao lẵng hoa chúc mừng tới Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT).
Ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá cao những đóng góp của Báo Nông Thôn Ngày Nay trong thời gian qua, trong đó đã phản ánh kịp thời và có nhiều bài viết chất lượng về lĩnh vực lâm nghiệp, góp phần tạo nên những thành tích quan trọng của ngành.
Trong thời gian tới, Tổng cục Lâm nghiệp và Báo Nông Thôn Ngày Nay sẽ tiếp tục có sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả hơn nữa để ngành lâm nghiệp sớm hoàn thành các mục tiêu trọng tâm đã đề ra. (Nông Thôn Ngày Nay 29/11) đầu trang(
Ngày 29/11, dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3) tỉnh Nghệ An tổ chức hội nghị đánh giá tình hình thực hiện dự án năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014.
Dự án phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh Nghệ An được triển khai trên địa bàn 6 huyện: Thanh Chương, Tân Kỳ, Đô Lương, Nghi Lộc, Diễn Châu và Yên Thành với diện tích rừng dự kiến khoảng 6.000 ha.
Tính đến ngày 30/9/2013 dự án triển khai trên địa bàn Nghệ An đã hoàn thành thiết kế và phê duyệt trồng rừng được 3.026 ha. Dự án đã thành lập được 61 nhóm nông dân trồng rừng gồm trên 1.850 hộ thành viên tham gia. Bên cạnh những mặt thuận lợi triển khai dự án thì vẫn còn 1 số khó khăn tồn tại đó là: Một số huyện chưa chủ động xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động; Công tác rà soát diện tích trồng rừng, sổ đỏ, bổ sung quy hoạch một số địa phương chưa sát với thực tế nên khi triển khai không đạt kế hoạch.
Trong năm 2014 tiếp tục triển khai phấn đấu hoàn thành 1.160 ha trên địa bàn 6 huyện. Chuẩn bị tốt về cây giống, thiết kế để phục vụ cho công tác trồng rừng vụ xuân 2014, tiếp tục đo đạc, giao đất, cấp bìa cho các hộ tham gia dự án. (Đài PT - TH Nghệ An 30/11) đầu trang(
Bão số 14 đi qua đã gây thiệt hại lớn về tài sản trên địa bàn tỉnh. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực lâm nghiệp, theo thống kê sơ bộ của Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN&PTNT), đến thời điểm này, bão số 14 đã làm đổ, gãy gần 10.000ha rừng của các Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn, phần lớn diện tích rừng bị đổ, gãy có độ tuổi từ 2-4 năm. Ước tính thiệt hại hàng chục tỷ đồng.
Tại khu vực thôn Xuyên Hùng, xã Đài Xuyên, anh Tô Anh Hà, Đội trưởng đội Xuyên Hùng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Vân Đồn cho biết: “Hiện nay, tôi đang phải huy động anh em trong đội cùng với các hộ thành viên tìm cách khắc phục, thu dọn những khu vực rừng bị đổ, gãy. Tuy nhiên, do diện tích rừng bị gãy quá lớn, trên dưới 400ha, phần lớn tại khu vực đi lại khó khăn, người thì ít nên rất khó khắc phục”.
Anh Hà cho biết thêm, rừng từ 5 năm tuổi trở lên thì có thể tận thu được, nhưng giá gỗ sẽ giảm đi rất nhiều do chưa đủ tuổi khai thác, trong khi đó giá thuê khai thác lại cao hơn rất nhiều. Nếu như khi khai thác rừng bình thường, giá thuê nhân công khoảng 310.000 đồng/tấn gỗ, thì nay do bị đổ, gãy, khó khai thác nên công khai thác tăng lên 350.000 đồng/tấn. Cùng với đó, phí vận tải cũng cao hơn.
Ông Lê Đình Áng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Vân Đồn cho biết: “Qua kiểm đếm sơ bộ, đến nay diện tích rừng trồng bị đổ, gãy trên 1.600ha trong tổng số 8.738,5ha rừng của công ty; trong đó, rừng Công ty trồng bằng vốn của ngành Than bị gãy đổ 100% (134,1ha); đổ, gãy từ 20-80% là 326,5ha.
Diện tích rừng các hộ trồng khoán bằng vốn tự có đổ, gãy 100% là 157ha; đổ, gãy từ 20-80% là 1.057ha. Cùng với diện tích keo, bão số 14 đã làm đổ, gãy 3.520 cây thông nhựa đang khai thác của Công ty. Số bị đổ, gãy hoàn toàn mà không thể tận thu được chiếm diện tích rất lớn. Ước tính thiệt hại hàng chục tỷ đồng.
Tại khu vực đội Bàng Tẩy, phường Mông Dương (Cẩm Phả), ông Nguyễn Văn Bắc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả xót xa: “Bão số 14 đã làm đổ, gãy 986,3ha rừng trồng của Công ty, ước thiệt hại khoảng 30 tỷ đồng. Trong khi đó, diện tích rừng trồng từ năm 2008 rất ít, nên giá trị tận thu lại không được bao nhiêu. Từ khi bão qua đến nay, Công ty đã huy động công nhân và thuê lao động tận thu lại những diện tích rừng trồng từ 6 tuổi trở lên, giá trị được khoảng 10 tỷ đồng, do giá gỗ thấp hơn, trong khi giá thuê nhân công lao động đội lên quá lớn”.
Ông Dương Minh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho hay: “Đến thời điểm này, theo thống kê của một số công ty lâm nghiệp trên địa bàn thì bão số 14 đã làm đổ, gãy trên 7.000ha rừng trồng. Còn đối với các hộ dân trồng rừng, Chi cục cũng đang đề nghị các địa phương rà soát, thống kê diện tích rừng bị đổ, gãy. Phần lớn diện tích rừng bị đổ, gãy là rừng từ 3-4 năm tuổi.
Đối với rừng ở độ tuổi này khi bị đổ, gãy là coi như mất trắng, không có thể tận thu, khôi phục lại được. Diện tích rừng bị đổ, gãy từ 5-6 năm tuổi chỉ chiếm từ 20-30% diện tích rừng bị đổ, gãy nên người trồng rừng tận thu được không đáng là bao, trong khi đó, giá trị của rừng tận thu sẽ giảm từ 10-15 triệu đồng/ha do giá nhân công cao, rừng đang ở tuổi chuẩn bị khai thác nên giá trị thấp. Còn lại rừng 1-2 năm tuổi bị đổ thì sẽ phát triển chậm lại rất nhiều”.
Theo ông Tuấn, thì phần lớn các công ty lâm nghiệp đang trồng rừng bằng nguồn vốn của ngành Than, trả nợ bằng hình thức trả gỗ trụ mỏ, nên với thiệt hại lớn như vậy, các công ty lâm nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc trả nợ gỗ cho ngành Than vào những năm tới.
Ông Nguyễn Văn Nhã, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ cho biết: “Sơ bộ, bão số 14 đã làm thiệt hại hơn 1.100ha rừng của công ty, trừ một phần diện tích rừng đã được tận thu, giá trị thiệt hại tại khu vực rừng mất trắng, không tận thu được trên 18 tỷ đồng. Trong điều kiện khó khăn như hiện nay, Công ty rất mong ngành Than sẽ tạo điều kiện cho công ty lùi lại thời hạn trả nợ gỗ mỏ từ 3-5 năm và tiếp tục cho công ty vay vốn để trồng lại rừng và hỗ trợ lãi suất cho công ty một chu kỳ 6 năm.
Còn ông Nguyễn Văn Bắc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả cho hay: “Hiện nay, đối với khu vực cây nhỏ, bị đổ, gãy không tận thu được công ty đang thuê đốt để trồng lại rừng, tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nguồn vốn để trồng lại rừng là rất khó khăn. Toàn bộ gỗ từ diện tích rừng bị đổ, gãy có thể tận thu được thì ngành Than không lấy vì chưa đủ 7 năm tuổi.
Trong điều kiện khó khăn, ngành Than tạo điều kiện cho công ty trả chậm lại một vài năm để công ty có điều kiện phục hồi sản xuất. Nếu không thì vẫn phải vay vốn ngân hàng để mua gỗ trả cho ngành Than đúng thời hạn. Điều này sẽ khiến các công ty lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong những năm tới”. (Báo Quảng Ninh 30/11) đầu trang(
Thanh Hóa có 627 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, độ che phủ thực vật đạt gần 51% nhưng thu nhập từ ngành kinh tế lâm nghiệp còn thấp. Tỉnh chủ trương phát triển thảm rừng hàng hóa gắn với chế biến sâu nhằm gia tăng sinh lợi từ rừng, tạo điều kiện cho nhân dân yên tâm gắn bó với nghề rừng, đầu tư phát triển vốn rừng bền vững, từng bước xóa đói, giảm nghèo.
Đồng hành cùng cán bộ, chiến sĩ kiểm lâm huyện Lang Chánh từ những ngày đầu triển khai giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/1994/NĐ-CP cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp, giờ đi dưới tán rừng luồng, rừng keo xanh tốt, tôi cảm nhận rõ bước phát triển lâm nghiệp xã hội khi rừng, đất rừng có chủ.
Nạn khai thác rừng trái phép giảm, kiểm lâm được phân công bám địa bàn tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở thực thi các biện pháp bảo vệ, phát triển rừng. Năm năm trở lại đây, lực lượng kiểm lâm trực tiếp tham gia chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn nhân dân trồng rừng theo Quyết định 147 nhằm hình thành vùng thâm canh cây lâm nghiệp tập trung, thúc đẩy ngành kinh tế lâm nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa.
Ông Nguyễn Văn Ích ở bản Én, xã Trí Nang bộc bạch: Được giao quyền sử dụng 32 ha đất lâm nghiệp nhưng không có vốn đầu tư trồng rừng, nhiều năm gia đình trồng cây lương thực là chủ yếu. Nhờ được hỗ trợ hơn bốn triệu đồng để trồng mới một ha rừng, nhất là được ứng trước cây giống, phân bón, được hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp, gia đình ông đã trồng được 10 ha rừng. Đến chu kỳ khai thác, hộ trồng rừng hưởng lợi 100% sản phẩm thu hoạch, cho nên gia đình ông càng yên tâm đầu tư, chăm sóc, phát triển vốn rừng.
Huyện Lang Chánh có 51.265 ha đất lâm nghiệp, trong đó phần lớn diện tích được giao cho các chủ rừng nhà nước quản lý, sử dụng. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lang Chánh Nguyễn Văn Vĩnh cho biết: Nét mới của Quyết định 147 là hướng tới hỗ trợ hộ nghèo tổ chức trồng rừng sản xuất theo quy hoạch trên diện tích đất trống hay sử dụng chưa đúng mục đích và hộ trồng rừng được hưởng lợi tất cả nguồn lâm sản do mình làm ra.
8 tháng đầu năm 2013, nhân dân các địa phương trên địa bàn huyện đã trồng được 413,1 ha rừng nhưng chỉ được phân bổ vốn trồng 300 ha theo kế hoạch cả năm. Thành thử chủ dự án luôn trong tình trạng thiếu vốn thanh toán cho diện tích trồng rừng vượt kế hoạch.
Đến huyện Thường Xuân, PV ghi nhận: Việc xây dựng vườn ươm tại địa bàn bảo đảm chất lượng cây giống do không phải vận chuyển quá xa, hạ giá thành, mở ra cơ hội cho nông dân được trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp với các kỹ sư lâm sinh cùng "lội rừng".
Ông Lê Văn Bình, ở xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân cho biết: Từ khi nhận ba ha đất lâm nghiệp đến nay, gia đình ông vừa trồng keo vừa áp dụng triệt để phương thức trồng xen cây nông nghiệp khi rừng chưa khép tán, vừa đem lại giá trị kinh tế cao, có khả năng tăng độ phì cho đất.
Thanh Hóa xác định lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo ở 11 huyện miền núi nhưng để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh này còn những khó khăn, lúng túng.Cán bộ là khâu then chốt để "đánh thức tiềm năng" nhưng tuyến cơ sở vẫn thiếu cán bộ kỹ thuật; chưa kể năng lực, trình độ một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Cùng với việc tăng cường trí thức trẻ, ban hành chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại các xã miền núi, vùng cao; nhiệm kỳ này, một số kỹ sư lâm sinh là lãnh đạo các ngành, cơ quan cấp tỉnh, có nhiều năm gắn bó với rừng được điều động, luân chuyển về làm lãnh đạo một số huyện miền núi.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thường Xuân Phạm Phú Vẽ phân tích: Khi xây dựng kế hoạch trồng 1.500 ha cao-su, nhiều xã cho rằng không còn đất vì không nắm rõ tình hình, hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp. Lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền một số xã thí điểm rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp mới thấy hàng trăm ha đang sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả nên đề xuất: Đất lâm nghiệp đang sử dụng trồng cây hằng năm hiệu quả, yêu cầu hộ, tổ chức được giao quyền sử dụng đất hoàn tất thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng.
Đối với diện tích đất lâm nghiệp sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả buộc phải trồng cây lâm nghiệp theo quy hoạch, đúng cơ cấu cây trồng định hướng. Theo quy hoạch ba loại rừng, từ nay đến năm 2015, huyện Thường Xuân được phép chuyển đổi mục đích sử dụng bốn nghìn ha đất để trồng rừng hàng hóa và các cây lâm nghiệp khác nhưng nhiều xã chưa cụ thể hóa định hướng này trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thành thử có hộ năng động chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao giá trị trên một diện tích canh tác lại bị kiểm lâm lập biên bản xử lý.
Rõ ràng, việc đổi mới tư duy, phát triển vốn rừng kinh tế, nghề rừng hàng hóa cần sự chuyển động của cả hệ thống chính trị cơ sở.Theo Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Thanh Hóa Lê Văn Đốc, cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp, trong đó quan tâm lựa chọn các giống cây trồng đa mục tiêu, bảo đảm nâng độ che phủ thực vật đi đôi nâng cao giá trị thu nhập cho hộ dân gắn bó với nghề rừng.
Chủ trương của tỉnh giảm diện tích trồng mía, sắn để bố trí trồng cây lâm nghiệp trên diện tích có dốc từ 15 độ trở lên, định hình 25 nghìn ha cao-su vào năm 2015. Theo đó, chính quyền các cấp, nhất là cấp xã cần quản lý, tổ chức thực hiện tốt các quy hoạch chuyên ngành, bảo đảm không bố trí chồng lấn các loại cây trồng. Cùng với phát triển diện tích rừng thâm canh cần bổ sung, ban hành chính sách hấp dẫn hơn để thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu lâm sản hàng hóa. (Nhân Dân 30/11) đầu trang(
Chiều 1/12, tại xã Quỳnh Lập, Thị xã Hoàng Mai, Doanh nghiệp trồng rừng Lê Duy Nguyên đã tổ chức thả động vật hoang dã vào rừng.
Hiện nay, doanh nghiệp trồng rừng Lê Duy Nguyên ở xã Quỳnh lập – Thị xã Hoàng Mai đã phủ kín diện tích trồng trên 1008ha chủ yếu với các loại cây như: Thông, bạch đàn, keo, phi lao, lim xanh. Nhờ tổ chức trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật và bảo vệ tốt, cho nên toàn bộ diện tích khu rừng trồng phát triển rất tốt.
Để góp phần bảo vệ thiên nhiên, ông Lê Duy Nguyên đã tuyên truyền, vận động nhân dân địa phương tham gia phong trào mua thả động vật hoang dã vào rừng. Hai ông Trương Văn Hiếu và Nguyễn Huy Võ cùng có hộ khẩu thường trú ở xóm 2 xã Quỳnh Lộc, Thị xã Hoàng Mai chung với ông Lê Duy Nguyên mua 5 con hươu được nhân dân địa phương nuôi nhốt tại nhà để thả vào rừng.
Được biết, trước đó, vào những năm 1996, 1997, doanh nghiệp trồng rừng Lê Duy Nguyên đã mua 60 con hươu và năm 2000 mua 30kg rùa cùng với khỉ, sóc, tắc kè để thả vào trong khu rừng trồng của doanh nghiệp. (Đài PT - TH Nghệ An 2/12) đầu trang(
Năm 2014, huyện Ba Bể có kế hoạch trồng 1.800ha rừng, trong đó 1.163ha rừng tập trung, 550ha rừng phân tán và 87ha rừng đặc dụng.
Để đảm bảo tốt cho công tác trồng rừng, hiện nay 43 vườn ươm vệ tinh theo quy mô nhóm, hộ gia đình trên địa bàn huyện Ba Bể đã chuẩn bị các điều kiện tốt nhất cho việc gieo ươm cây giống, đảm bảo đúng khung thời vụ.
Vụ trồng rừng năm 2014, huyện Ba Bể sẽ tiến hành gieo ươm khoảng 4 triệu cây giống, trong đó hơn 3 triệu cây mỡ còn lại là keo và lát....Để làm tốt công tác gieo ươm cây giống phục vụ công tác trồng rừng, Ban quản lý dự án147 Lâm trường Ba Bể và Vườn Quốc gia Ba Bể đã chỉ đạo 43 vườn ươm vệ tinh tại 13 xã, thị trấn chuẩn bị mọi điều kiện để gieo ươm cây giống như: Tạo mặt bằng, làm đất, đóng bầu, tra hạt giống...
Để chất lượng cây giống được đảm bảo, Ban quản lý dự án147 Lâm trường Ba Bể và Vườn Quốc gia Ba Bể đã chuẩn bị đầy đủ vật tư đặc biệt là nguồn hạt giống trồng rừng và chỉ đạo cán bộ kỹ thuật về các địa phương để hướng dẫn, giám sát người dân thực hiện một số công đoạn như: chọn đất, đóng bầu, ủ hạt, tra hạt…Hiện nay, hầu hết các vườn ươm đã hoàn thành việc đóng bầu và đang tiến hành gieo hạt giống mỡ, keo. (Đài PT - TH Bắc Kạn 1/12) đầu trang(
Mới đây, tỉnh Đăk Nông đã triển khai Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng, nhằm giúp “chủ rừng”, ngành chức năng, địa phương biết con số thực diện tích rừng, đất rừng mình đang có. Đây là cơ sở quan trọng để trong những năm tới rừng, đất rừng của tỉnh sẽ được quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả hơn.
Giới thiệu phương pháp điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh, Giáo sư-Tiến sĩ Vương Văn Quỳnh, Viện trưởng Viện Sinh thái rừng và Môi trường cho biết: “Việc kiểm kê rừng sẽ được thực hiện bằng các phương pháp khoa học hiện đại, đó là dùng ảnh vệ tinh có độ phân giải cao, rồi kiểm tra thực địa và xác định trên bản đồ…
Thực tế, những năm trước, khi giao rừng cho “chủ rừng” quản lý phần lớn vẫn dựa trên bản đồ. Tới đây, qua kiểm kê rừng và đất rừng sẽ thể hiện rõ những con số cụ thể, chính xác. Ngay số liệu diện tích rừng, đất rừng của ngành Lâm nghiệp trước đây thường có sự khác biệt với ngành Tài nguyên và Môi trường thì nay sẽ được hạn chế, khắc phục và đi đến thống nhất.
Ðể làm được điều này, trong quá trình điều tra, kiểm kê rừng, ngoài lực lượng kiểm lâm, lâm nghiệp, còn có sự tham gia của cán bộ tài nguyên và môi trường, chính quyền địa phương, “chủ rừng””.
Cũng theo GS-TS Vương Văn Quỳnh, việc xác định chính xác diện tích rừng, chất lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng sẽ tạo thuận lợi cho địa phương có cơ sở quản lý rừng, theo dõi diễn biến rừng, đất lâm nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Rừng, đất rừng được điều tra trên địa bàn toàn tỉnh và đối tượng là các “chủ rừng” gồm nhóm I: hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; nhóm II là ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và công ty lâm nghiệp nhà nước, tư nhân…
Ðể triển khai công tác điều tra, kiểm kê rừng, UBND tỉnh đã có quyết định thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng do ông Nguyễn Ðức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; thành lập Tổ công tác kiểm kê rừng cấp tỉnh, có nhiệm vụ làm đầu mối, tham mưu Ban Chỉ đạo tỉnh đôn đốc thực hiện công tác kiểm kê rừng, lập kế hoạch giám sát kiểm kê rừng.
Ở các địa phương sẽ thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng huyện, tổ công tác xã. Tổng nguồn vốn triển khai dự án hơn 18,7 tỷ đồng, được thực hiện trong hai năm 2013-2014.
Theo ông Ðỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN&PTNT thì việc triển khai dự án có ý nghĩa quan trọng đối với các địa phương và ngành Nông nghiệp. Vì từng cấp, ngành và địa phương, đơn vị có liên quan sẽ nắm bắt cụ thể, chính xác diện tích, trữ lượng rừng để xây dựng phương án quản lý, bảo vệ và sử dụng, khai thác có hiệu quả quỹ đất lâm nghiệp.
Nắm rõ trữ lượng, diện tích rừng, đất rừng không những giúp các “chủ rừng”, địa phương lên phương án quản lý, bảo vệ thuận tiện mà còn gắn trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân, đơn vị, nếu để xảy ra mất mát, suy thoái tài nguyên rừng.
Ðược biết, để nâng cao năng lực, trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, trước đó, ngày 4/10, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 1578/QÐ-UBND quy định chi tiết giá rừng trên địa bàn tỉnh.
Việc quy định giá rừng bình quân trên địa bàn tỉnh để tính tiền sử dụng rừng khi Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, giá trị quyền sử dụng rừng, sở hữu rừng trồng; tính tiền thuê rừng khi Nhà nước cho thuê rừng không thông qua đấu giá quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng; tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi rừng; tính giá trị góp vốn; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm lâm luật, gây thiệt hại cho Nhà nước…
Như vậy, ngay sau khi tỉnh điều tra, xác định cụ thể trữ lượng, diện tích rừng, đất lâm nghiệp, kết hợp với những quy định chi tiết về giá từng loại rừng sẽ gắn chặt trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân trong quản lý bảo vệ rừng. Thay vì đổ lỗi cho cơ chế như trước đây thì sắp tới, nếu để mất rừng, từng “chủ rừng”, đơn vị, địa phương sẽ phải “đền” lại giá trị rừng, tương ứng như lúc đã được bàn giao. (Báo Đăk Nông 28/11) đầu trang(
Khoảng mười năm trở lại đây, nhờ phát huy thế mạnh kinh tế rừng nên cuộc sống của người dân xã Sơn Hải, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) được cải thiện, nhiều hộ đã thoát nghèo.
Sơn Hải là xã đặc biệt khó khăn có hơn 3.280ha đất lâm nghiệp, chiếm 60% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó UBND xã và các hộ dân quản lý 1.812ha. Để giảm nghèo bền vững, Đảng uỷ, chính quyền xã đã chú trọng tuyên truyền về hiệu quả kinh tế rừng, khuyến khích người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Những năm gần đây, khi Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Lục Ngạn bàn giao một phần diện tích, bà con đã nhanh chóng tiếp nhận, tập trung trồng, chăm sóc, khai thác rừng.
Ông Lý Văn Đảng, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Hải cho biết: Thông qua các chương trình, dự án, hỗ trợ vốn sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, cơ cấu kinh tế trong xã có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành lâm nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 90,71% năm 2010 xuống còn 69,15% năm 2012, đã có khoảng 70 hộ thoát nghèo nhờ nguồn thu từ rừng. Từ năm 2011 đến nay, Sơn Hải trồng mới hơn 177 ha keo, bạch đàn và một số cây lâm nghiệp khác, trong đó năm 2013 trồng mới 90ha.
Thực hiện chương trình phát triển lâm nghiệp gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững, từ nay đến hết năm 2015, xã tiếp tục vận động nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất để nâng cao chất lượng, giá trị thu nhập từ rừng, tăng độ che phủ và phát triển rừng gắn với bảo vệ đất đai, môi trường. (Báo Bắc Giang 29/11) đầu trang(
Việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ dân của các công ty lâm nghiệp của tỉnh Đăk Nông đã không mang lại kết quả như mong đợi, ngược lại, gần 2.000 ha rừng nhận khoán bị “xóa sổ”, nhiều hộ dân sử dụng đất lâm nghiệp được giao khoán vào mục đích khác…
Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông cho biết: Đến ngày 29-11, các đơn vị thuộc sở đã hoàn thành việc kiểm tra công tác giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ dân theo Nghị định số 135/NĐ-CP ngày 8-11-2005 của Chính phủ tại bốn Công ty lâm nghiệp trên địa bàn gồm: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đác N’Tao và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa.
Kết quả kiểm tra cho thấy, việc giao khoán không mang lại kết qủa mà ngược lại các hộ dân đã để gần 2.000 ha rừng nhận khoán bị “xóa sổ”, nhiều hộ dân sử dụng đất lâm nghiệp được giao khoán vào mục đích khác.
Cụ thể, từ năm 2005 đến nay, bốn công ty lâm nghiệp trên đã giao khoán được 2.672,8 ha rừng cho các hộ gia đình quản lý, bảo vệ, nhưng qua kiểm tra phát hiện có tới 1.960,2 ha rừng giao khoán bị chặt phá. Trong đó, riêng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín đã giao khoán hơn 2.106 ha rừng cho khoảng 500 hộ dân, nhưng đến nay đã có tổng cộng hơn 1.903 ha rừng bị phá.
Ngoài ra, các đơn vị khác như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ðác N’Tao... cũng đều có nhiều diện tích rừng giao khoán cho người dân bị phá trắng.
Nguyên nhân diện tích rừng giao khoán bị phá là do sau khi nhận khoán, các hộ gia đình đều không đủ năng lực thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ. Về phía các công ty lâm nghiệp cũng thiếu kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện theo hợp đồng đối với bên nhận khoán hàng năm.
Bên cạnh đó, các công ty lâm nghiệp khi phát hiện nhiều diện tích rừng giao khoán bị phá nhưng né tránh, không xử lý dứt điểm các hộ dân vi phạm hợp đồng giao khoán; đồng thời báo cáo không trung thực, không kịp thời đối với những diện tích rừng giao khoán bị chặt phá cho các ngành chức năng để có biện pháp hỗ trợ xử lý, ngăn chặn… dẫn đến nhiều diện tích rừng giao khoán bị tàn phá nặng nề.
Ngoài ra, qua kiểm tra, các đơn vị thuộc Sở NN&PTNT còn phát hiện nhiều diện tích đất lâm nghiệp giao khoán được các hộ dân sử dụng sai mục đích. Cụ thể, bốn công ty lâm nghiệp nêu trên đã giao khoán cho các hộ dân tổng cộng 1.793 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng, nhưng cho đến nay các hộ dân chỉ trồng được 573 ha rừng, trong khi đó diện tích trồng cao su lại tăng 34,4 ha so với diện tích hợp đồng giao khoán và số diện tích còn lại được người dân trồng các loại cây như cà-phê, hồ tiêu, điều, cao su, mít, sắn…
Thậm chí, một số hộ dân sau khi nhận khoán đã sang nhượng lại cho người khác để trục lợi, nhưng các công ty lâm nghiệp không phát hiện được hoặc có phát hiện được cũng né tránh, không báo cáo cho các ngành chức năng để xử lý. (Nông Thôn Ngày Nay 2/12; Nhân Dân 29/11) đầu trang(
Trong khi Đảng và Nhà nước khuyến khích trồng rừng để bảo vệ môi trường thì một thời gian dài người dân dưới tán rừng U Minh lại không được phép thực hiện việc này. Có lúc cán bộ lâm ngư trường (LNT) phát động người dân trồng, khi lại cấm, gây lãng phí hàng ngàn héc-ta đất.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, Công ty TNHH một thành viên U Minh Hạ (Công ty U Minh Hạ) còn 3.430/24.700ha đất rừng trống; trong đó, công ty trực tiếp quản lý 1.553ha, còn lại là của dân và các doanh nghiệp thuê đất. Những ngày mục sở thị ở các LNT, PV phát hiện nhiều chuyện lạ đời. Trong khi Đảng và Nhà nước phát động người dân trồng rừng thì một số lâm phần lại cấm. Nhiều năm liền hàng ngàn héc-ta đất rừng bỏ trống.
Ông Huỳnh Văn Tửng, hộ liên doanh liên kết trồng rừng ở Phân trường Sông Trẹm (xã Khánh Thuận, huyện U Minh) cho biết, năm 2006 khi LNT cấm không cho người dân thực hiện việc này, ông và nhiều hộ đã kéo lên hỏi cho ra lẽ.
Đại diện LNT cho rằng các hộ gần hết hợp đồng, không đủ chu kỳ và tỉnh định thu hồi đất giao công ty để cho thuê. Nhiều hộ buồn bã quay về bởi không biết sẽ sống thế nào trong những ngày tới. Nhiều năm liền sống dưới tán rừng, ông Tửng biết chủ trương ấy vẫn còn trên giấy, khi nào Nhà nước thu hồi hẵng hay và người dân phân khu bắt đầu “trồng tràm lén”.
Thế là mỗi buổi tối, ông Tửng cùng các con ra rừng trồng tràm. Nhớ lại thời “bị cấm trồng rừng”, ông cười khà khà: “Vậy mà tao trồng được 20ha chứ có ít đâu. Nếu không, đất đó còn trống đến bây giờ, phí biết bao nhiêu mà kể!”. Ông Trần Văn Sơn cho biết, thời gian trên khi người dân khai thác xong, LNT đưa ra “chiếu chỉ” cấm dân trồng rừng.
Ông tâm sự: “Nói sống dưới tán rừng nghèo là có thật, nhưng ở rừng mà không trồng rừng thì coi sao được! Mấy năm chờ hoài không thấy LNT xóa “chiếu chỉ” trên, tôi trồng lén được khoảng chục héc-ta”.
Ông Hai Vĩnh chỉ vạt tràm sau nhà nhớ lại, năm 2007 ông khai thác được 20ha nên đi mua giống về trồng. Về đến nhà chưa kịp nuốt miếng cơm vô bụng, ông rụng rời nghe vợ nói số tràm phải bỏ vì LNT không cho trồng. Mặc đêm tối, ông bơi xuồng đến LNT hỏi cho ra lẽ. Khi biết đó là sự thật, toàn bộ số tràm giống đành bỏ hư hoặc trôi hết. Hai năm sau thấy đất bỏ trống uổng quá nên ông lại lén trồng rừng.
Theo báo cáo của Công ty U Minh Hạ, số diện tích rừng bỏ trống hơn 800ha; chỉ riêng xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời có hàng trăm héc-ta bỏ hoang nhiều năm qua.
Trả lời báo chí, lãnh đạo Công ty U Minh Hạ xác nhận: “Sau khi khai thác xong, tỉnh có chủ trương thu hồi đất của dân cho nhà máy giấy thuê nhưng không được nên lại tiếp tục chờ. Những năm sau, tỉnh xem xét lại hộ liên doanh liên kết, làm hợp đồng mới nên chưa có chủ trương. “Nếu người dân trồng rừng, đất bị thu hồi sẽ xảy ra tranh chấp”, một cán bộ LNT giải thích.
Lý do trên hết sức bất ngờ với PV. Từ ngày đất nước thống nhất, các chủ trương chính sách về rừng đều quy định sau khai thác phải trồng lại ngay mùa liền kề hoặc chậm nhất là 24 tháng. Đặc biệt, Quyết định (QĐ) 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998 của Chính phủ về việc trồng 5 triệu ha rừng thì quy định này càng nghiêm ngặt hơn. Thế nhưng ở Cà Mau tình trạng bỏ rừng hoang diễn ra hơn 5 năm trời mà chưa có cán bộ quản lý nào bị kỷ luật hoặc chịu trách nhiệm việc này?
Gần 10 năm, hàng loạt người dân phát hiện bị ăn chặn công sức lao động. Giai đoạn 2000-2002, LNT Trần Văn Thời phát động “nhà nhà, người người trồng rừng” để bảo vệ môi trường xanh. Những cuộc họp dân, các hộ được cán bộ LNT hướng dẫn, động viên thực hiện tốt công tác này, nhưng mãi đến nay họ mới biết thực chất cuộc vận động trên. Ngày 29-7-1998, Thủ tướng ký QĐ 661/QĐ-TTg hỗ trợ tiền cho người dân trực tiếp trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, thế nhưng người thực hiện không được lãnh, vậy số tiền hỗ trợ chạy vào túi ai?
Ông Nguyễn Hoài Tâm kể: “Ngay cả tôi từng là cán bộ tiểu khu thuộc LNT Trần Văn Thời vẫn không hề hay biết về những chủ trương chính sách mới của Chính phủ. Thấy quyền lợi của người dân bị ăn chặn, tôi đón đò ra tỉnh gặp đồng đội cũ xin QĐ trên. Đến nay, “con kiến kiện củ khoai”, khiếu nại của người dân chẳng ai giải quyết”.
Thật bất ngờ, năm 2008 Chính phủ thí điểm việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã được triển khai ở khu vực miền Trung bằng QĐ 380/QĐ-TTg ngày 10-4-2008. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24-9-2010, chính thức thực hiện việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên phạm vi cả nước.
Tại nghị định này, Chính phủ chỉ đạo phải triển khai sớm và rộng rãi đến các đối tượng trồng rừng để kịp thời động viên, khuyến khích họ. Kết quả ở các tỉnh miền Trung cho thấy người trực tiếp thực hiện có thể được trả 100.000 đồng/ha/năm, tùy theo đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng tại địa phương nhiều hay ít. Còn người dân ở U Minh tham gia trồng rừng thì chẳng nhận được sự hỗ trợ nào!
Tại khu vực rừng sản xuất thuộc các xã khó khăn (phần lớn lâm phần của LNT Trần Văn Thời thuộc xã Khánh Bình Tây Bắc, xã khó khăn trong danh mục), người dân trồng rừng được hỗ trợ 2,5 triệu đồng/ha. Biết bị bưng bít thông tin, họ tìm ra hồ sơ nhận tiền hỗ trợ theo QĐ 661/QĐ-TTg của một số hộ ở tiểu khu 50 và 51 LNT Trần Văn Thời, mỗi hộ nhận 5 triệu đồng/2ha, trong khi 35 hộ khác thuộc hai tiểu khu này cũng trồng rừng như nhau nhưng lại không được đồng nào?
Khi PV tìm đến, ông Ngô Văn Vĩnh (tự Hai Vĩnh, ngụ xã Khánh Thuận, huyện U Minh, Cà Mau) khoe căn nhà khang trang, tài sản bạc tỷ... tất cả đều nhờ rừng. Thấy chúng tôi tròn xoe mắt, ông cười khà khà: “Không phải nông dân sản xuất giỏi, cũng chẳng phải cán bộ LNT..., tôi có được cơ ngơi này nhờ dám... mạnh miệng lên tiếng”.
Quê ở huyện Đầm Dơi, năm 2005 thấy người dân trong xóm rủ nhau liên doanh liên kết nhận đất rừng nên ông về bàn với gia đình rồi khăn gói lên đường. Hôm từ giã những người bạn cùng quê, trong men rượu ngà ngà, ông Vĩnh triết lý: “Người phụ đất chứ đất có bao giờ phụ người. Làm chủ 50ha đất mà không có ăn mới là chuyện lạ”. Thời gian đó, bao nhiêu vốn liếng dành dụm, ông đem mua lại số diện tích đã có rừng này do người chủ liên kết liên doanh trước đó chuyển nhượng.
Nhắc lại thuở ban đầu gian nan ấy, ông Vĩnh chia sẻ: “Mua được cánh rừng, cả nhà tôi thiếu đói. Tràm được năm tuổi nhưng chưa đến chu kỳ khai thác, vợ chồng tôi đành đi làm mướn nuôi thân. Đến mùa phòng chống cháy là lâm cảnh đói. Tôi canh lửa ngoài rừng, vợ về quê mượn tiền người thân mua gạo”. Lúc đó hy vọng đổi đời của ông Vĩnh là 50ha rừng đến kỳ khai thác.
Năm 2005, ông mừng rơi nước mắt khi nghe cán bộ LNT thông báo được khai thác 20ha. Cực khổ bao năm, ông hoa mắt khi cán bộ LNT đưa bản chiết tính chi tiết. Sau khi khai thác 20ha, tổng doanh thu được 70 triệu đồng, trừ các khoản phí, thuế và khoán, ông Vĩnh còn... 19 triệu! Suy đi tính lại, ông chua xót, với diện tích trên, ông mua lại giá 75 triệu đồng, sau năm năm chăm sóc chỉ nhận được có... 19 triệu! Vợ ông khóc không thành tiếng khi đã nghèo còn lỗ.
Sau một đêm thức trắng suy nghĩ về con số cán bộ LNT đưa ra, ông Vĩnh quyết định cùng vợ đếm lại số cây rừng chuẩn bị khai thác. Sau đó, ông bỏ việc ra TP.Cà Mau hỏi giá cừ tràm, củi..., phát hiện tổng doanh thu lên đến 140 triệu đồng nên tới gặp cán bộ LNT xin mua lại. Nghe qua, vị này lắc đầu cho rằng chưa có tiền lệ; việc khai thác, tìm nhà thầu là trách nhiệm LNT.
Giải thích thế nào, cán bộ LNT cũng lờ đi, bức xúc ông mượn hàng xóm 300 ngàn đồng khăn gói lên thành phố gặp lãnh đạo Sở NN& tỉnh Cà Mau dọa sẽ gửi đơn kiện LNT ăn chặn của dân nghèo. Thế là lời đề nghị của ông được xem xét. Nhưng cũng không phải dễ, LNT đề nghị phải trả tiền đủ một lần. Sau khi năn nỉ xin trừ 19 triệu đồng mình được hưởng nhưng không được, ông Vĩnh đã đi vay nóng trả đủ cho LNT.
Kết quả, ông bán cánh rừng được 150 triệu đồng, trừ chi phí và trả tiền ăn chia cho lâm trường, còn lời gần 80 triệu. Ông mua ghe, lập doanh nghiệp tư nhân chuyên mua tràm khai thác và phất luôn từ đó. Nhận được tin cánh rừng nào đến kỳ khai thác, ông lại cho ghe tới hỏi mua. Lâm ngư trường không đồng ý, ông dọa tố cáo nên lại trúng thầu. Nhờ vậy, người dân U Minh cũng được hưởng lợi. Việc khai thác rừng chặt chẽ hơn, không còn cảnh tiến hành bừa bãi chồng lấn sang diện tích khác.
Khác với Hai Vĩnh, ông Nguyễn Hoài Tâm từng là cán bộ LNT Trần Văn Thời, làm việc ở tiểu khu theo hợp đồng dài hạn. Năm 2002, do bất mãn một lãnh đạo trong đơn vị nên ông xin nghỉ việc, về làm nông dân, giữ rừng, trồng tràm như bao người dân khác ở rừng U Minh. Hơn ai hết, ông biết rõ những việc làm không đúng chủ trương của LNT đối với người trực tiếp trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Ông nói: “Gần như số tiền Chính phủ cấp để dân trồng rừng trong chủ trương trồng 5 triệu héc-ta đều bị LNT ách lại. Tôi phát hiện điều này khi được phân công làm cán bộ phụ trách trồng rừng”. Khi đó, thấy trong một văn bản chỉ đạo có nội dung “trồng rừng theo Quyết định 661”, ông bỏ thời gian nghiên cứu, phát hiện người trực tiếp trồng rừng được Chính phủ hỗ trợ rất nhiều. Bức xúc, ông cầm QĐ đến LNT dò hỏi.
Ông nhớ lại: “Tao xông vô phòng giám đốc hỏi sao không trả tiền cho người trồng rừng theo QĐ 661. Ông ấy trả lời biết gì mà nói, cứ làm theo chỉ đạo khiến tao nổi giận xin nghỉ công tác để làm rõ vấn đề”. Năm 2002, cánh rừng hơn 10ha (thuộc Tiểu khu 052, LNT Trần Văn Thời) của gia đình ông được hai tuổi. Ông tìm đến LNT đòi hỗ trợ bằng được. Ban đầu, cán bộ cứ chây ì, thách đi kiện; đến khi thấy ông chìa QĐ 661 ra, họ tái mặt xuống nước, giải quyết cho ông 25 triệu đồng là tiền công trồng 10ha rừng.
Ông chua xót: “Phần lớn bà con chịu không thấu cảnh chăm sóc cực khổ lại chẳng có huê lợi và không được hỗ trợ gì dưới tán rừng U Minh Hạ đã bỏ đi gần hết, sang nhượng lại thành quả lao động cho người khác”. Từ số tiền 25 triệu đó (thời điểm 2002 tương đương 6 lượng vàng) cùng việc tìm mua lại những cánh rừng khai thác như Hai Vĩnh, ông Tâm đã khá lên. Hiện ông là giám đốc một công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ liên quan đến rừng.
Hiện các cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau đang xem xét lại đề án quy hoạch đất rừng. Điều mà lãnh đạo địa phương không thể phủ nhận là một thời hàng loạt hộ dân bị bóc lột sức lao động dưới tán rừng. Do cây tràm không còn giá trị kinh tế nên rừng U Minh cần những chính sách thiết thực hơn để có thể giúp người dân thoát nghèo. (Công an TPHCM 29 - 30/11) đầu trang(
Trong tuần qua, đàn voi rừng 3 cá thể, gồm voi đực, voi cái và voi con, đã phá nát 2 ngôi nhà, 7 chòi rẫy và nhiều héc ta hoa màu của người dân xã Đắk Drông, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
Đêm 26/11, chị Hoàng Thị Ánh, thôn 20, xã Đắk Drông, nghe tiếng sột soạt bên hông nhà, cầm đèn pin soi, thấy đàn voi đang húc nhà mình. Hoảng sợ, chị dắt 2 con bỏ chạy, được mấy chục mét thì nhà đổ.
Đêm 28/11, voi rừng tiếp tục phá sập nhà bếp của gia đình anh Nông Văn Đạ ở thôn 20, xã Đắk Drông.
Trong 1 tuần, gia đình voi rừng phá 2 nhà và 7 chòi rẫy, nhiều hecta mía, ngô, sắn của người dân.
Ông Sầm Văn Dũng, thôn 20, bị voi phá mất 2 ha bắp, 5 sào mía, nhiều nhà khác trong thôn và mấy thôn bên cạnh cũng bị voi phá hoa màu.
Ông Trần Văn Thành, Chủ tịch xã Đắk Đrông cho biết, từ 3 tháng trước, đàn voi xuất hiện ở xã với tần suất thấp. Khoảng hơn tuần nay, chúng liên tục đến phá nhà cửa, cây trồng của nhiều hộ dân trong xã. Chính quyền địa phương tuyên truyền người dân không được bắn hoặc đặt bẫy, chỉ dùng các biện pháp xua đuổi.
Ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho hay, đàn voi sống ở khu vực Vườn Quốc gia Yok Đôn - Đắk Lắk, nhưng di chuyển sang địa bàn tỉnh Đắk Nông kiếm ăn. Trung tâm đang liên hệ kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, phối hợp đuổi đàn voi về rừng. (Tiền Phong 2/12; Người Lao Động 2/12; Nông Thôn Ngày Nay 2/12; Dân Trí 30/11; Công An Nhân Dân 1/12; Lao Động 30/11; Vnexpress.net 30/11) đầu trang(
Thời gian qua, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện và bắt giữ nhiều loại gia cầm, động vật hoang dã nhập lậu với số lượng lớn.
Theo Tổng cục Hải quan, đêm 20/11, Đội Kiểm soát Hải quan số 1, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh đã lập biên bản và tạm giữ 127 cá thể rùa các loại (tương đương 157kg) chưa xác định được chủ sở hữu. Trong đó, có 8 cá thể rùa thuộc danh mục động vật nguy cấp, quý hiếm.
Đội đã bàn giao toàn bộ hồ sơ, tang vật cho Hạt Kiểm lâm thành phố Móng Cái xử lý theo quy định.
Tiếp đó, ngày 23/11, tại khu vực phường Hải Hòa (thành phố Móng Cái), Đội Kiểm soát Hải quan số 1 cũng đã lập biên bản chứng nhận và tạm giữ 215 con chim quốc và 109 con chim vạc chưa xác định được chủ sở hữu. Đội đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành tiêu hủy theo quy định.
Đội Kiểm soát Hải quan số 1, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh cho biết, trong tháng còn lại của năm 2013, công tác chống buôn lậu sẽ được tăng cường mạnh hơn, vì trên địa bàn quản lý của Đội, hoạt động nhập lậu một số hàng tiêu dùng, động vật hoang dã quý hiếm... vẫn tiếp diễn, đặc biệt tình hình nhập lậu thực phẩm không đảm bảo chất lượng như bim bim, xúc xích… gia tăng. (Chinhphu.vn 29/11) đầu trang(
Quá trình rà soát, đánh giá hoạt động của các dự án nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cho thấy, đa số dự án hoạt động kém hiệu quả, thiếu năng lực, thậm chí nhiều cá nhân mở công ty lập dự án chỉ nhằm chiếm dụng, mua bán đất rừng trái phép.
Trong 41 dự án đầu tư sản xuất nông, lâm nghiệp với tổng diện tích 40.123 ha đã được cấp phép hoạt động, tỉnh đã thu hồi hàng chục dự án, đình chỉ nhiều hợp đồng liên doanh liên kết làm mất rừng nghiêm trọng trên địa bàn các huyện Tuy Đức, Đắk Song, Đắk Glong, Gia Nghĩa. Sáu cán bộ lãnh đạo Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Tín đã bị khởi tố về hành vi thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Trên ba mươi cán bộ lãnh đạo hạt- trạm và công chức ngành kiểm lâm bị kỷ luật, điều chuyển công tác. Trong hàng chục bị can, bị cáo từng là chủ các doanh nghiệp thuê đất, riêng Phạm Thị Thu Hiền, Giám đốc Công ty TNHH Bảo Châu đã lừa đảo bán dự án, chiếm đoạt của nhiều người 8,1 tỷ đồng; Phạm Quốc Chiến, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Phạm Quốc vừa để mất trên 500 ha rừng vừa lừa đảo bán đất dự án chiếm đoạt 3,1 tỷ đồng.
Gần đây, Công an tỉnh Đắk Nông cũng đã bắt tạm giam 91 bị can liên quan việc phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn xã biên giới Quảng Trực, huyện Tuy Đức. (Tiền Phong 30/11) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam đã tổ chức buổi họp khẩn hôm 29-11 trước tình hình người dân ồ ạt phá rừng dương phòng hộ ven biển, đào hồ nuôi tôm thẻ chân trắng.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam, diện tích nuôi tôm lót bạt trên địa bàn là 340 ha, sản lượng đạt 9.200 tấn. Trung bình người dân thu hoạch 30-50 tấn/ha, tương đương 3-5 tỉ đồng/ha/năm. Từ tháng 6-2013, giá tôm chạm đỉnh nên nhà nhà đổ xô đi nuôi tôm. Hậu quả là rừng phòng hộ bị phá, nước biển xâm thực sâu vào đất liền, mặn hóa nguồn nước ngọt ngầm.
Ông Nguyễn Ngọc Quang, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Nam, kết luận: “Tỉnh kiên quyết không để phát sinh ao nuôi mới. Các hộ đang nuôi nếu không cam kết nuôi đúng quy trình, bảo vệ môi trường sẽ không được nuôi tiếp. UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT phối hợp Sở TN&MT rà soát, quy hoạch tạm thời và phân bố lại vùng nuôi bền vững”. (Lao Động 1/12; Pháp Luật TPHCM 30/11) đầu trang(
Những loài thú trong rừng đang bị đe dọa bởi vô vàn mối nguy hiểm, mà mối nguy lớn nhất lại đến từ những bẫy thú rừng. Thực trạng trên đang diễn ra tại làng Dei Go (xã IaMơ Nông, Chư Păh, Gia Lai).
Với tình trạng “bẫy nhiều hơn thú” như hiện nay thì động vật hoang dã trong rừng bị tận diệt là điều dễ hiểu. Nhìn những vết máu loang lổ của những con thú không may nào đó phải tự cắn bỏ một phần cơ thể của mình để thoát khỏi cạm bẫy mới rõ hơn chuyện động vật hoang dã đang bị tận diệt từng ngày.
Già làng Ksor Tươi của làng Dei Go thảng thốt: “Xưa kia rừng còn giàu mà mình vẫn nghèo như thế, huống chi rừng bây giờ rừng cũng nghèo rồi, thì mình giàu chi nổi!”. Chiều hoàng hôn cao nguyên rực đỏ, chỉ có tiếng kêu thê thiết của những loài thú rừng vọng trong ánh nắng cuối ngày càng xót xa hơn… (Tin Tức 30/11) đầu trang(
Ngày 29.11, Công an huyện Tân Châu (Tây Ninh) cho biết, đã bắt quả tang bốn đối tượng vận chuyển 171 lóng gỗ xẻ, trong đó có 164 lóng gỗ trắc, 7 lóng gỗ giáng hương trị giá hàng trăm triệu đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Kính Vinh (38 tuổi) và Phan Văn Thắng (29 tuổi, cùng ngụ huyện Tân Châu) khai nhận số gỗ trên là do Hồ Văn Quý (25 tuổi, ngụ ấp Tân Cường, xã Tân Hà, huyện Tân Châu) nhận bốc vác và vận chuyển cho một người Campuchia, với tiền công vận chuyển là 4 triệu đồng và tiền công bốc vác 1,5 triệu đồng.
Sau đó, Quý thuê lại Vinh, Thắng và Lê Tấn Khoa (22 tuổi, ngụ huyện Tân Châu) cùng bốc vác và vận chuyển số gỗ nói trên.
Thắng, Vinh, Khoa, Quý nhận gỗ từ một người Campuchia rồi đưa lên xe ô tô để chở về Bình Dương giao hàng thì bị bắt.
Hiện Công an huyện Tân Châu đang tạm giữ hình sự bốn người trên để điều tra làm rõ. (Thanh Niên 30/11) đầu trang(
Sau hai ngày xét xử, ngày 29-11, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã tuyên án đối với các bị cáo trong vụ chặt trộm cây sưa gây xôn xao dư luận.
Có 14 bị cáo phải lãnh án về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đứng đầu vụ là Đinh Văn Tuyển (26 tuổi, quê Thanh Hóa) lãnh 10 năm tù, 13 bị cáo còn lại mỗi bị cáo lãnh mức án từ 20 tháng 17 ngày tù đến 9 năm tù. Riêng bị cáo Quách Văn Lợi (33 tuổi) phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải lãnh 30 tháng tù nhưng được hưởng án treo.
Theo hội đồng xét xử, trong khoảng thời gian từ tháng 11-2011 đến tháng 3-2012, Đinh Văn Tuyển và đồng bọn đã thực hiện 25 vụ trộm cắp cây sưa. (Tuổi Trẻ 30/11; VOV 30/11) đầu trang(
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, đất rừng chiến đến trên 80% diện tích tự nhiên, nên việc phát triển kinh tế rừng và chế biến gỗ là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong vòng 2-3 tháng qua, tại huyện Chợ Mới xuất hiện hàng chục xưởng bóc gỗ để bán cho các cơ sở sản xuất gỗ ép ở các tỉnh miền xuôi rất cần cân nhắc đến sự tồn tại bền vững cho những cơ sở này.
Ông Đoàn Văn Chiến ở thôn Bản Tết 1, xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới (Bắc Kạn) cho biết: Gia đình ông vay 300 triệu đồng vốn từ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đầu tư mua máy, mở xưởng bóc gỗ từ tháng 9/2013. Mỗi ngày xưởng của ông bóc khoảng 7 m3 gỗ tròn, bình quân mỗi tháng tiêu thụ khoảng 200 m3 gỗ tròn có đường kính 10-15 cm bán cho các cơ sở ở Hà Nội.
Tương tự, do thấy một số hộ ở Thái Nguyên làm có lãi, từ vốn tự có và vay thêm của anh em, bạn bè được gần 400 triệu đồng, anh Trần Ngọc Hoàng ở thôn Bản Còn, xã Nông Thịnh (Chợ Mới) cũng mở xưởng để sản xuất, hàng tháng có một số người từ Hà Nội lên mua chứ không ký hợp đồng với bất cứ cơ sở nào.
Theo các chủ xưởng sản xuất gỗ bóc thì họ đều làm thủ tục cấp phép hoạt động với các cơ quan chức năng của huyện Chợ Mới. Các xưởng này hoạt động cũng tạo việc làm cho một số lao động địa phương. Mỗi xưởng thường có từ 6-7 người làm việc trực tiếp thu nhập 100.000 đồng/ngày/người và 10 gia đình nhận phơi gỗ bóc, thu nhập 80.000 đồng/ngày/người.
Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Mới Bế Ngọc Hùng cho biết, nếu các xưởng này hoạt động thường xuyên thì đây cũng là mô hình tạo việc làm cho người dân vùng cao. Tuy nhiên, các cơ sở này hoạt động mang tính tự phát, không có đầu ra ổn định, thấy lợi trước mắt thì làm, không có đầu ra tin cậy.
Huyện không cấm các cơ sở hoạt động, nhưng cũng không khuyến khích do thụ động về đầu ra của sản phẩm, tính rủi ro rất cao. Gần như 100% cơ sở chỉ biết sản xuất, có người mua thì bán, còn không biết nơi có nhu cầu ở đâu. Huyện đã nhắc nhở các cơ sở nên tìm hiểu kỹ và có hợp đồng kinh tế mới đầu tư sản xuất và có kiểm soát chặt chẽ về môi trường. (Dangcongsan.vn 30/11) đầu trang(
Chỉ trong vòng chưa đầy 10 ngày, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đã bắt và làm rõ 4 vụ vận chuyển gần 30m3 gỗ. Theo những lái xe, được biết, số gỗ trên chủ yếu do người dân địa phương khai thác ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống.
Chiều 28/11, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An cho biết, tiếp nhận thông tin từ quần chúng nhân dân, tối ngày 24/11, Hạt kiểm lâm Quế Phong phối hợp với Đồn Biên Phòng xã Thông Thụ tiến hành kiểm tra, tuần tra trên địa bàn khu vực Bản Lốc, xã Thông Thụ.
Đến khoảng 23h phát hiện và kiểm tra xe ô tô mang biển kiểm soát 37C - 077.33 do lái xe Cao Thịnh Bắc, trú tại xóm Nông Trang, xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu (Nghệ An) điều khiển.
Qua kiểm tra, trên xe chở hơn 2m3 gỗ xẻ các loại đang trên đường vận chuyển chuẩn bị ra khỏi địa bàn, số gỗ trên thuộc nhóm 4, không có số hiệu, không có dấu búa kiểm lâm, lái xe Cao Thịnh Bắc không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc lâm sản hợp pháp.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản đưa số gỗ trên về hạt kiểm lâm Quế Phong tiến hành điểu tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tiếp đó, ngày 25/11, Hạt kiểm lâm Quế Phong phối hợp với Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 03 tiến hành kiểm tra trên địa bàn xã này, phát hiện hơn 2m3 gỗ xẻ vô chủ được tập kết trên địa bàn Bản Mường Phú, xã Thông Thụ.
Tổ công tác lập biên bản đưa toàn bộ số gỗ trên về kho Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 3 tạm giữ và điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Điều đáng nói, thời gian gần đây, tình trạng các lâm tặc lén lút cấu kết với bà con dân bản để tẩu tán số không giấy phép này ra khỏi địa bàn để trục lợi.
Trước đó, sáng 15/11, Phòng CSPCTP về Môi trường, CA tỉnh Nghệ An phát hiện hàng chục xe ôtô tải, ôtô khách, ôtô con chạy trên QL48A vận chuyển gỗ trái phép. Do lực lượng mỏng nên chỉ tổ chức bắt giữ được 2 xe vận chuyển với khối lượng gỗ lớn.
Theo đó, ngày 15/11, trên QL48A thuộc địa bàn xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, Phòng CSPCTP về Môi trường phát hiện, bắt giữ xe ôtô BKS: 37C - 025.83 do Lê Quang Vinh (SN 1988, trú tại xóm Tuần B, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) điều khiển. Qua kiểm tra trên xe có 25 tấm gỗ xẻ với số lượng 9m3.
Và cũng chỉ sau đó 30 phút, cũng trên tuyến từ QL48A đi thị trấn Quỳ Hợp thuộc địa bàn xã Châu Lộc, huyện Quỳ Hợp, Phòng CSPCTP về Môi trường tiếp tục phát hiện và bắt giữ ôtô BKS: 37V - 3823 do Hồ Văn Kỳ (SN 1987, trú xã Tân Sơn, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) điều khiển và trên xe vận chuyển 58 tấm gỗ xẻ (16m3). Như vậy, tổng số gỗ thu được từ 4 vụ việc nên trên lên đến gần 30m3.
Theo những lái xe, được biết, số gỗ trên chủ yếu do người dân địa phương khai thác ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống thuộc các xã Châu Hoàn, Diên Lãm (Quỳ Châu); Nam Sơn, Bắc Sơn, Châu Thái, Châu Sơn (Quỳ Hợp), được các đầu nậu tập kết và vận chuyển về xuôi tiêu thụ.
Ngay sau các vụ việc trên, Phòng CSPCTP về Môi trường đã báo cáo tình hình, kết quả đấu tranh trong lĩnh vực bảo vệ rừng và quản lý lâm sản gửi lãnh đạo Công an tỉnh và UBND tỉnh Nghệ An cũng như các cơ quan chức năng về tình trạng vận chuyển gỗ lậu, trái phép trong dịp cuối năm đang phức tạp và cần có phương án triển khai cụ thể để đấu tranh phòng, chống khai thác vận chuyển gỗ trái phép như nêu ở trên. (Dân Trí 30/11) đầu trang(
Tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ tiến hành giao mới hoặc hoàn thiện thủ tục để giao 44.418 ha rừng tự nhiên cho các hộ, nhóm hộ hoặc cộng đồng dân cư. Trong số này, đa số là rừng tự nhiên quy hoạch là rừng sản xuất và là rừng nghèo kiệt.
Đến nay, huyện A Lưới đã hoàn tất mọi thủ tục và tiến hành giao 15.690ha rừng tự nhiên, trong đó có 9.625ha rừng sản xuất; huyện Nam Đông giao khoảng 6.756ha chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc quy hoạch sản xuất cho hộ và nhóm hộ gia đình hoặc cộng đồng dân cư.
Là hai địa phương có diện tích rừng chiếm hơn 50% trên địa bàn toàn tỉnh nhưng người nông dân ở hai huyện miền núi A Lưới và Nam Đông của tỉnh Thừa Thiên Huế không có rừng để trồng, phải đi làm thuê. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, Báo Pháp Luật Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với ông Võ Văn Dự - Phó trưởng ban Dân tộc tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ông Dự cho biết: Trong những năm qua, được sự hỗ trợ của Trung ương và tỉnh, vùng dân tộc và miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm, nước sạch... được đầu tư tương đối đồng bộ, nhà ở hầu hết được hỗ trợ xây dựng khang trang, nhiều chính sách đất đai, hỗ trợ phát triển sản xuất đã góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho đồng bào miền núi.
Ai đã từng đến vùng miền núi Thừa Thiên Huế từ năm 2000 trở về trước, nay trở lại đều cảm nhận được sự thay đổi rõ rệt. Mặc dù vậy, đây vẫn là vùng còn nhiều khó khăn. Tổng số hộ nghèo hiện còn 2.697 hộ (chiếm 14,06%) và tỷ hệ hộ cận nghèo là 2.028 (chiếm 10,57%). 13 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh, từ 20% trở lên đều ở 2 huyện miền núi này.
Đa số người dân cho rằng họ không cần Nhà nước cứu trợ, giúp đỡ gạo, tiền mà tạo cho họ có đất rừng để làm ăn lâu dài. Vậy, chính sách giao rừng cho nông dân miền núi được tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện như thế nào?
Trả lời câu hỏi trên, ông Dự cho biết: Hậu quả của đói nghèo dẫn đến nguyên nhân là cư dân trên địa bàn từ lén lút đến công khai phá rừng trái phép để lấy gỗ, làm nương rẫy dưới nhiều hình thức. Tuyệt đại bộ phận người dân ở miền núi là nông dân, mà nông dân muốn giàu, trước hết phải có tư liệu sản xuất. Nhưng hiện nay, mặc dù tỉnh đã có chủ trương giao đất rừng cho nông dân nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của bà con.
Tính đến năm 2012, các hộ gia đình được giao và quản lý 35.373ha rừng trồng, chiếm tỷ lệ 42% và khoảng 8.000ha cao su, chiếm tỷ lệ 90% diện tích cao su toàn tỉnh. Từ năm 2004 trở lại đây, thông qua thực hiện chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào nghèo, hầu hết người dân thiếu đất sản xuất đã giải quyết đáp ứng các nhu cầu tối thiểu. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận nông dân thiếu đất trồng rừng và nhiều lý do khác nhau như do nhận thức, do đã được giao đất trồng rừng sau đó lại bán đi, do bị thu hồi và chuyển mục đích sử dụng lại muốn nhận tiền hoặc chưa nhận được đền bù về đất...
Để giúp người dân, nhất là ở miền núi có rừng để quản lý lâu dài và hưởng lợi, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 430/QĐ –UBND ngày 02/3/2010 phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2010 -2014. Theo đó, tỉnh sẽ tiến hành giao mới hoặc hoàn thiện thủ tục để giao 44.418 ha rừng tự nhiên cho các hộ, nhóm hộ hoặc cộng đồng dân cư. Trong số này, đa số là rừng tự nhiên quy hoạch là rừng sản xuất và là rừng nghèo kiệt.
Đến nay, huyện A Lưới đã hoàn tất mọi thủ tục và tiến hành giao 15.690ha rừng tự nhiên, trong đó có 9.625ha rừng sản xuất; huyện Nam Đông giao khoảng 6.756ha chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc quy hoạch sản xuất cho hộ và nhóm hộ gia đình hoặc cộng đồng dân cư.
Có ý kiến cho rằng rừng tại Thừa Thiên Huế tập trung về tay các đại gia và người có chức, có tiền. Vậy, sự thực là như thế nào?, ông Dự cho hay: Theo thông tin tôi biết, có một số doanh nghiệp đã tích tụ đất trồng rừng hàng trăm hécta nhờ mua lại quyền sử dụng đất của các hộ nông dân hoặc thuê đất của Nhà nước ở những nơi sản xuất còn rất khó khăn mà tại thời điểm đó, người dân chưa có điều kiện tổ chức sản xuất.
Một số trường hợp khác đã xin chính quyền địa phương khai hoang đất để trồng rừng cách đây hàng chục năm, vào thời điểm Nhà nước đang khuyến khích mọi người dân trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc và lúc bấy giờ, hầu như chưa ai quan tâm đến việc trồng rừng. Còn nói việc rừng về tay người có chức, có tiền thì cần phải điều tra, xác minh cụ thể mới kết luận được rừng vào tay ai, có đúng với chủ trương giao đất, giao rừng của Chính phủ không để có hướng xử lý.
Cũng theo ông Dự: Hiện nay, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã đặc biệt khó khăn.
Theo đó, đến nay huyện A Lưới đã khảo sát cụ thể và xác định nhu cầu hỗ trợ đất sản xuất của 10/21 xã, thị trấn là 429 hộ/500,7ha; các xã còn lại đang tiến hành rà soát; tính chung nhu cầu toàn huyện là trên 1.000ha đất sản xuất. Ở huyện Nam Đông có khoảng hơn 1.000 hộ thiếu đất sản xuất, trong đó hộ nghèo và cận nghèo chiếm khoảng 70%. Các huyện còn lại đang tiến hành rà soát.
Dự kiến đầu năm 2014, Ban Dân tộc sẽ phối hợp với các ngành cấp tỉnh và chính quyền các địa phương để triển khai hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc Chương trình 135, Chương trình nông thôn mới, các chương trình dự án khác để đầu tư cho người dân sử dụng có hiệu quả như trồng mây, nuôi ong, chăn nuôi gia súc, gia cầm... hoặc tiến hành cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất để trồng rừng kinh tế theo Thông tư 23/2013/TT- BNNPTN ngày 04/05/2013 của Bộ NN&PTNT. (Pháp Luật Việt Nam 2/12) đầu trang(
Ngày 1-12, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên cho biết cơ quan này vừa ra quyết định kỷ luật khai trừ khỏi Đảng đối với ông Võ Trọng Bình, Phó ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Hinh (Phú Yên).
Cơ quan này cũng đã chuyển hồ sơ vụ sai phạm của ông Võ Trọng Bình sang cơ quan công an để tiếp tục điều tra, xử lý và đề nghị cơ quan thẩm quyền buộc thôi việc đối với ông này.
Như chúng tôi đã thông tin, sau khi thu hồi đất rừng của người dân tại khu vực Hòn Cồ thuộc buôn Thinh, xã Ea Trol thì các cán bộ BQL rừng chia nhau. Thay vì giao khoán cho người dân địa phương để trồng rừng, quản lý, bảo vệ theo quy định, BQL rừng phòng hộ Sông Hinh đã giao khoán cho 24 hộ dân với tổng diện tích 252 ha (chủ yếu là người nhà của BQL rừng), riêng ông Bình được chia 18 ha. Nhiều cán bộ được chia đất rừng đã phát dọn rừng, trồng cao su, cà phê, xen các cây ngắn ngày; tự ý mua bán, chuyển nhượng trái phép…
Ngoài ra, BQL rừng phòng hộ Sông Hinh đã buông lỏng quản lý, để người dân lấn chiếm trái phép gần 700 ha đất rừng, làm đất sản xuất. Ngày 15-8, gần 100 người dân xã Ea Trol đồng loạt kéo đến khu rừng Hòn Cồ chặt dọn, đòi lại đất rừng đã chia cho cán bộ. (Pháp Luật TPHCM 2/12) đầu trang(
Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau là rừng ngập mặn nguyên sinh lớn nhất nước ta và cũng là khu Ramsar của thế giới, nhưng đang bị tàn phá trước sự bất lực của các ngành chức năng.
Anh Đặng Minh Lâm, Trưởng Phòng lâm sinh thủy sản VQG Mũi Cà Mau thừa nhận nạn chặt phá cây rừng gần đây diễn biến phức tạp so với trước đây. Nguyên nhân do năm nay nguồn lợi nghêu giống ít, người dân mất nguồn thu nên gây áp lực lên rừng.
Cũng theo lời anh Lâm, gần đây Ban giám đốc VQG Mũi Cà Mau kỷ luật hàng loạt trạm trưởng Trạm kiểm lâm vì không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra mất rừng số lượng lớn, như Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Cái Mòi Đỗ Thành Nhiệm; Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Kênh 5 Quách Tấn Kháng; gần đây nhất là cách chức Trạm trưởng trạm kiểm lâm Trại Xẻo, Trương Thanh Tâm và Trạm phó Trần Thái Sanh.
Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc VQG Mũi Cà Mau, trăn trở: “Dân nghèo còn nhiều, ranh giới rừng mong manh nên rừng luôn bị tàn phá. Hộ dân không chặt bán cây tươi cũng mang về hầm than mua gạo. Khi nào chăm lo tốt sinh kế cho bà con, giúp người nghèo ổn định cuộc sống mới mong nạn chặt phá cây rừng giảm lại”.
Trước tình trạng trên, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Phạm Thành Tươi chỉ đạo các sở, ngành có liên quan tiếp tục mở rộng điều tra, làm rõ vụ việc tàn phá rừng ở VQG Mũi Cà Mau.
Một số vấn đề được yêu cầu làm rõ, là: tổng số diện tích rừng bị thiệt hại; những sai phạm của cán bộ VQG Mũi Cà Mau đã để mất rừng; cán bộ kiểm lâm có dấu hiệu tiếp tay với lâm tặc tàn phá rừng. Nếu cơ quan điều tra xét thấy đủ điều kiện thì khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật.
Song hành với đó, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau yêu cầu kiểm điểm, xử lý nghiêm các đơn vị, cá nhân, cán bộ quản lý trực thuộc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra mất rừng trong một thời gian dài. (Sài Gòn Giải Phóng 2/12) đầu trang(
Ngày 1.12, UBND xã Sơn Phước (huyện Sơn Hòa, Phú Yên) đã cho lực lượng tuần tra đón lõng một nhóm người đang vận chuyển gỗ tại thôn Tân Bình (Sơn Phước).
Tại hiện trường, tổ tuần tra đã phát hiện thu giữ 26 súc gỗ hộp, loài cây gáo da đá. Đây là số gỗ lậu vừa tập kết bên bờ sông, đang chờ gọi xe tải đến tẩu tán. Liền đó, một số người trong nhóm vận chuyển gỗ đã xông vào trấn áp lực lượng tuần tra, cướp đi 8 khúc gỗ. Số gỗ còn lại 19 súc (hơn 2m3) hiện đã chuyển giao cho Hạt Kiểm lâm Sơn Hòa; vụ việc đang tiếp tục được điều tra xử lý theo pháp luật. (Nông Thôn Ngày Nay 2/12; Nông Nghiệp Việt Nam 2/12; Pháp Luật TPHCM 2/12; Quân Đội Nhân Dân 1/12; Phụ Nữ TPHCM 1/12) đầu trang(
Mới đây, ngành nông nghiệp tỉnh Lào Cai đã tổ chức đánh giá mô hình thử nghiệm giao đất lâm nghiệp gắn với giao rừng dựa vào cộng đồng, cho thấy những hiệu quả bước đầu, song qua quá trình triển khai cũng còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần “tháo gỡ”. Trong đó nổi lên nhiều diện tích rừng chồng chéo, đã gây khó khăn trong công tác giao đất, giao rừng và quản lý đất lâm nghiệp ở nhiều địa phương.
Thực hiện chủ trương giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, những năm qua, tỉnh Lào Cai đã tích cực vận động nhân dân tham gia nhận đất, nhận rừng. Đến nay, đã cơ bản hoàn thành công tác giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn. Sau khi được giao đất, các tổ chức cá nhân, hộ gia đình đã quản lý, sử dụng đúng mục đích, nâng cao hiệu quả sử dụng đất được giao, góp phần nâng độ che phủ của rừng lên 51,2% năm 2012.
Tuy nhiên, công tác giao đất lâm nghiệp trong những năm qua còn một số hạn chế, bất cập ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế lâm nghiệp như công tác giao đất chưa sát với thực tế, chưa xác định được chất lượng rừng...
Theo kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng (theo Chỉ thị 38/2008 của Thủ tướng Chính phủ), tổng diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh có 417.754,5 ha (trong đó, cho sản xuất 201.806 ha, cho phòng hộ 169.879 ha, cho đặc dụng 46.069 ha). Sau đó, tỉnh cũng có điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng này (điều chỉnh 3.000 ha đất lâm nghiệp sang trồng cao su; 290 ha để làm thủy điện và phát triển kinh tế, xã hội).
Hiện tại, theo đánh giá của ngành nông nghiệp, chất lượng công tác giao đất lâm nghiệp, giao rừng trước đây còn hạn chế, chưa đánh giá được chất lượng, trữ lượng rừng mà mới chỉ dừng lại ở việc xác định trạng thái rừng. Việc giao đất, giao rừng cho các chủ rừng nhà nước và hộ gia đình, cá nhân ở một số nơi ranh giới trên thực địa chưa phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng canh tác chồng chéo, xâm chiếm lẫn nhau. Giao đất còn sai lệch về vị trí giữa bản đồ và thực địa. Một số diện tích giao cho gia đình, cá nhân không căn cứ vào quy hoạch 3 loại rừng, nên đã giao ra ngoài quy hoạch cho lâm nghiệp, nên tình trạng tranh chấp đất rừng còn xảy ra.
Ông Trương Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch huyện Si Ma Cai cho biết: Thực tế triển khai ở Si Ma Cai, công tác giao đất, giao rừng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, do trước đây triển khai còn có sự chồng chéo, hồ sơ giao đất cho các tổ chức, cá nhân không rõ ràng, khó xác định trên thực địa (bản đồ không có tọa độ, không mô tả rõ ràng) trong khi đó, rừng được giao chưa được đánh giá trữ lượng nên khó khăn cho công tác quản lý, đầu tư phát triển rừng.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức hộ gia đình, cá nhân còn chậm (còn 46% diện tích đất đã giao xong chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và chưa gắn với công tác giao rừng. Phần diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa giao hiện do ủy ban nhân dân xã quản lý còn lớn, trong khi đó đời sống của một bộ phận người dân sống ở gần rừng, ven rừng còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu hoặc chưa được giao đất, giao rừng để sản xuất.
Mặt khác, trên danh nghĩa hiện nay phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã có chủ, nhưng một số diện tích rừng phòng hộ sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng chuyển sang quy hoạch thành rừng sản xuất, nhưng việc quản lý, sử dụng ở một số địa phương hiệu quả chưa cao, công tác quản lý chưa được chặt chẽ, vẫn để người dân xâm lấn, xâm canh.
Cũng đề cập đến những bất cập trong công tác giao đất, giao rừng, ông Phạm Văn Duy, Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Bàn chia sẻ: Ngoài những bất cập đã nêu trên, việc xác lập quyền sở hữu, sử dụng đất lâm nghiệp hết sức khó khăn, do không có kinh phí đo đạc, nên tính chính xác không cao. Mặc dù, tỉnh Lào Cai đã có dự án giao đất bằng ảnh hàng không, nhưng vẫn là phương pháp làm thủ công “giao bằng mắt, vẽ bằng tay”, tưởng là khoa học nhưng sai số vẫn rất lớn.
Điển hình trong việc này là khi triển khai làm đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai qua địa phận huyện Văn Bàn mới thấy sõ sự sai số khi giao đất (sai tọa độ). Hay như khi thẩm định để triển khai Quyết định 178 (chính sách hưởng lợi từ rừng kinh tế), trong giấy ghi là đất 3A2, ngoài thực địa là đất trống. Nhất là khi rà soát, quy hoạch 3 loại rừng, chưa thống nhất giữa 2 ngành nông nghiệp và tài nguyên môi trường, nên việc sử dụng bản đồ khác nhau dẫn đến việc đo đạc cũng không thống nhất.
Việc xác định đất ở, đất nông nghiệp nhiều khi vẫn còn gặp khó khăn, trong khi đó đất lâm nghiệp chưa có ranh giới cụ thể, không cứ “thửa” mà phải cắm mốc xác định danh giới nên đã xảy ra tình trạng chồng chéo.
Ông Hoàng Văn Thạch, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Bảo Yên cho rằng: Việc giao đất không đồng bộ dẫn đến chồng chéo, không khớp giữa diện tích, ranh giới nên việc xâm lấn của các hộ gia đình ngày càng gia tăng, đang là vấn đề “nóng” ở huyện Bảo Yên nói riêng và các địa phương trong tỉnh nói chung. Bởi lợi ích kinh tế từ canh tác vườn rừng hiện nay (như trồng sắn), trong khi đó, quy định ranh giới không rõ ràng, người dân thường chọn diện tích gần nhà, vị trí thuận tiện để sản xuất, nên dễ xảy ra tranh chấp. (Báo Lào Cai 30/11) đầu trang(
Tại các cửa rừng thuộc 2 huyện Ninh Sơn và Bác Ái (Ninh Thuận) thường xuyên xuất hiện nhiều xe gắn máy "độ" chở gỗ lao vun vút trên đường.
Đây là loại phương tiện vận chuyển gỗ của lâm tặc, thường có thêm "phụ xe" đứng ở phía sau để canh chừng lực lượng chức năng. (Thanh Niên 2/12) đầu trang(
Ngày 30/11, cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Châu cho biết: Đang tạm giữ nhóm đối tượng gồm: Nguyễn Kính Vinh (38 tuổi), Hồ Văn Quý (25 tuổi), Lê Tấn Khoa (21 tuổi) và Phan Văn Thắng (29 tuổi), tất cả cùng ngụ huyện Tân Châu, để điều tra mở rộng về đường dây vận chuyển gỗ lậu qua biên giới.
Theo kết quả điều tra ban đầu: Lúc 23h40 ngày 27/11, tại khu vực ấp Tân Lâm (xã Tân Hà, huyện Tân Châu), các trinh sát Công an huyện Tân Châu bắt quả tang Vinh và Thắng đang vận chuyển 164 lóng gỗ trắc tương đương 2,079m3; 7 lóng gỗ giáng hương tương đương 0,070m3 trên xe ôtô BKS 60N-1286.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Quý bốc vác và vận chuyển số gỗ trên cho một người Campuchia với tiền công 5,5 triệu đồng. Sau đó, Quý thuê Vinh vận chuyển gỗ và thuê Thắng, Khoa bốc vác. Tại vùng giáp ranh biên giới Việt Nam - Campuchia, bọn chúng nhận gỗ của người Campuchia rồi đưa lên xe ôtô của Vinh để vận chuyển sang tỉnh Bình Dương giao hàng.
Ngày 29/11, Công an huyện Tân Châu bắt khẩn cấp Quý và Khoa và chuyển hội đồng thẩm định giá tài sản các lóng gỗ trên trị giá 187,8 triệu đồng. (Công An Nhân Dân 1/12) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Phá rừng làm thủy điện không trồng lại, dời dân đi nhưng không cấp đủ đất để tái định cư, vỡ đập vì xây chất lượng kém, xả lũ bất ngờ gây hại cho dân, không bù đủ nước cho hạ lưu. Rõ ràng, quản lý phát triển thủy điện đang có nhiều vấn đề. Dự án thủy điện bị phản đối ai cũng có lý để được ký thông qua nhưng khi có sự cố, gây ra hậu họa thì ai cũng có lý để từ chối trách nhiệm.
Cuộc tranh cãi về có hay không việc thủy điện khiến cho lũ lụt miền Trung thêm trầm trọng đang tiếp diễn. Công – tội của thủy điện mỗi bên có một ý kiến khác nhau nhưng từ thực tế có thể thấy thủy điện xây nhiều nhưng quản lý còn nhiều vấn đề bất cập. Điều đó đã và sẽ còn gây ra nhiều hậu quả.
Từ phía cơ quan quản lý, Bộ Công thương mới đây đã phủ nhận lũ lụt miền Trung là do thủy điện gây ra. Sau khi rà soát việc vận hành 16 hồ chứa thủy điện, thủy lợi lớn ở miền Trung trong đợt lũ mới đây, Tổng Cục năng lượng, Bộ Công thương khẳng định, thủy điện không có “tội” trong các trận ngập lụt vùng hạ du vừa qua. Không những vậy, các hồ này đã tích cực giúp cắt giảm đỉnh lũ. Nguyên nhân gây ra lũ lụt chính là ‘tại trời’ mưa lớn trong thời gian ngắn nên không thể tránh khỏi.
Trong khi đó, nhiều ý kiến khác đã nhanh chóng quy trách nhiệm lũ chồng lũ là do 15 nhà máy thủy điện miền Trung thấy mưa lớn, đồng loạt xả tràn khiến cho nước ngập cao khắp nơi, gây nên thiệt hại lớn cho người dân. Thủy điện phải chịu trách nhiệm về hiện tượng cứ mưa to là ngập lụt tại miền Trung.
Thủy điện vốn được cho là năng lượng sạch, giá rẻ phù hợp với các quốc gia nghèo như Việt Nam. Đầu tư thủy điện là một lĩnh vực hấp dẫn và phát triển rầm rộ trong thời gia qua nhưng cũng đã để lại không ít tai tiếng.
Tiêu cực lớn nhất do thủy điện gây ra là tàn phá tài nguyên, môi trường. Làm thủy điện cũng đồng nghĩa với phá rừng. Các thống kê cho thấy, để sản xuất ra 1 MW điện phải đánh đổi từ 6 - 10 ha rừng.
Theo quy định các chủ dự án thủy điện phải trồng rừng bồi hoàn, thì nhiều dự án tại miền Trung đến nay chỉ mới trồng rừng bồi hoàn kiểu qua loa chiếu lệ, đạt 5%-10%. Tất yếu mất rừng sẽ kéo theo lũ lụt trầm trọng. Vậy lũ tại mất rừng cũng chính là lũ từ xây thủy điện mà ra. Chỉ riêng việc này có thể thấy, thủy điện xây nhiều mà quản lý không tốt nên mới để lại hậu họa không lường.
Bên cạnh chuyện phá rừng còn hàng loạt vấn đề khác như: vỡ nhiều đập thủy điện, xả xử bất thường hại dân, không bù đủ nước gây hại cho hạ lưu… đã cho thấy phát triển thủy điện tràn lan nhưng quản lý còn nhiều hạn chế.
Cùng với mất rừng, vỡ đập, lũ lụt… người dân vùng thủy điện đối diện với tình trạng mất đất sản xuất, thiếu đất sản xuất ở hầu hết các khu tái định cư. Diện tích đất sản xuất mà các chủ đầu tư thủy điện cấp cho dân chủ yếu là đất nương rẫy, số lượng chỉ bằng 1/3-1/4 diện tích nơi cũ. Nay gặp phải lũ lụt lớn nhiều gia đình mất người, mất tài sản, trắng tay thì sự tức giận lại càng gia tăng và thủy điện phải gánh chịu thêm nhiều tiếng xấu.
Vì thế, khi nhìn lại cả quá trình phát triển, nhiều ý kiến cho rằng, lũ lụt gây hậu họa lớn là do tầm nhìn yếu kém trong cả quản lý lẫn hoạch định sự phát triển bền vững của khu vực mà thủy điện là một vấn đề bức xúc nhất.
Rừng bị lấy đi quá nhiều là nguyên nhân làm cho lũ lụt ngày càng gia tăng sức mạnh, mà nguyên nhân rừng ở miền Trung, Tây nguyên bị lấy lại để làm thủy điện và trồng cây công nghiệp. Thủy điện có thể không làm tăng lũ, nhưng thủy điện khiến rừng bị mất đi, khiến lũ dữ hơn và tàn phá nặng nề hơn.
Trong khi phát triển mạnh thủy điện thì mạng lưới quan trắc đo mưa ở miền Trung rất thưa, rất ít trạm, chỉ đo mưa 12 giờ và mưa 24 giờ, không có 6 hay 3 giờ. Ví dụ lưu vực sông Ba có khu vực gần 5.000 km2 mới có một trạm. Thiếu các trạm quan trắc, đo mưa thì công tác dự báo sẽ yếu kém và độ chính xác không cao, khiến cho các nhà máy thủy điện cũng khó đưa ra những quyết định chính xác và sớm.
Hiện các công trình thủy điện tại miền Trung chỉ có thể thông báo xả lũ trước 2 - 3 giờ, trong khi người dân cần ít nhất 6 - 8 giờ để chuẩn bị đối phó.
Các nhà khoa học cho biết, chúng ta hoàn toàn có thể tăng thời gian thông báo trước khi xả lũ, nếu nâng cao năng lực dự báo mưa lũ, bổ sung các trạm đo mưa... nhưng điều đó đã không được quan tâm đầu tư đúng mức.
Không những thế, nhiều chủ đầu tư thủy điện thiếu am hiểu về vận hành hồ chứa. Trong khi đó, chính những con người này trực tiếp quyết định phương án giữ hay xả nước.
Đấy là chưa kể, qui trình vận hành liên hồ tại miền Trung thời gian qua không có mấy tác dụng bởi khả năng dự báo không tốt. Điểm quan trọng nhất trong vận hành liên hồ phải có một chỉ huy trưởng điều hành các hồ xả nước trước sau thế nào, đến nay ở miền Trung chưa có đầu mối tổng thể.
Vì vậy, mặc cho cơ quan chức năng khẳng định các hồ chứa đã vận hành đúng quy trình trong xả lũ thì nhiều ý kiến vẫn nghi ngờ các nhà máy thủy điện không bao giờ muốn xả lũ trước khi bão về dù được khuyến cáo. Họ không chịu xả lũ sớm vì sợ không đủ nước trong hồ chứa, nhất là dự báo khí tượng không bảo đảm chính xác. Khi mưa lũ lớn hơn năng lực tràn của đập thì họ buộc xả bớt lượng nước trong hồ vâ gây ra hậu quả nặng nề cho hạ lưu.
Để miền Trung không còn cảnh mỗi năm một lần chạy lũ và lũ năm sau lại cao hơn năm trước và không lặp lãi mỗi lần dân chết vì lũ lại một lần cãi nhau thì câu chuyện quản lý thủy điện mà lâu dài hơn và rộng lớn hơn là chống lũ cho miền Trung cần được đánh giá và thực thi một cách tổng thể. (Vietnamnet.vn 1/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Loài chim này sinh sống chủ yếu ở New Zealand và đã bị tuyên bố tuyệt chủng vào năm 2007. Nhưng mới đây các nhà khoa học bảo tồn thiên nhiên cho thấy có dấu hiệu chúng vẫn còn sống.
Tân Hoa xã của Trung Quốc đưa tin Ban nghiên cứu thẩm định về chim của New Zealand đã xác nhận dấu hiệu này ở gần thị trấn Reefton. Nhờ vậy, hệ thống phân loại các mối đe dọa sinh vật cũng đã điều chỉnh loài chim South Island kokako từ tuyệt chủng sang có nguy cơ cao, dựa trên dấu hiệu nhìn thấy chúng ở gần Reefton và 10 thông báo nhìn thấy khác.
Hãng tin UPI dẫn lời Kevin Hackwell, chuyên viên quản lý cơ quan bảo tồn rừng và chim cho biết lần cuối người ta nhìn thấy South Island kokako là vào năm 2007, nên kết luận chúng đã tuyệt chủng. Nhưng các dấu hiệu gần đây là tin tốt cho loài chim này. Kể từ thế kỷ 14 đến nay, con số thống kê cho thấy New Zealand đã mất đến 50 loài chim.
South Island kokako là loài chim lông xám, mắt có quầng đen, đuôi dài nhưng cánh ngắn, dưới mặt lại có một quầng lông màu cam. Chúng có đôi chân mạnh mẽ giúp dễ dàng chạy nhảy xuyên qua các khu rừng. (Thanh Niên 2/12) đầu trang(
Báo chí vừa cho biết, nước này đang nỗ lực tìm cách để ngăn chặn nạn săn trộm tê giác - đang ở mức báo động trong những năm gần đây. Theo đó, họ đã sử dụng các phương pháp từ tuần tra tới việc cắt sừng tê giác, và mới nhất là tiêm thuốc độc vào sừng tê giác để khiến sừng loài động vật này không còn giá trị trên thị trường chợ đen.
Theo các chuyên gia bảo vệ động vật hoang dã, chất độc này an toàn đối với tê giác nhưng độc hại cho con người nếu sử dụng. Người sử dụng sừng tê giác ngấm chất độc có thể gặp các triệu chứng như buồn nôn, tiêu chảy, tê liệt thần kinh, thậm chí tử vong. Cho tới thời điểm này, hàng nghìn con tê giác đã được tiêm thuốc độc vào sừng, với hy vọng sẽ tạo được sự khác biệt trong cuộc chiến cứu loài động vật quý hiếm này khỏi họa tuyệt chủng. (Nhân Dân 30/11) đầu trang(
Với mục đích nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, bảo tàng giáo dục sinh thái Tam Giang (tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc) đang trở thành một loại hình độc đáo, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Bảo tàng giáo dục sinh thái Tam Giang được mệnh danh là khu rừng tự nhiên thu nhỏ, từ lâu đã trở thành địa điểm yêu thích của người dân trong vùng và đông đảo khách du lịch. Ở đây tái hiện lại khung cảnh của khu bảo tồn tự nhiên Tam Giang (TP.Jiamusi) – một trong những khu bảo tồn tự nhiên lớn nhất Trung Quốc với diện tích 190.000 ha, bao gồm hệ thống động thực vật phong phú.
Ông Lý Thụy Minh – Phó Giám đốc bảo tàng cho biết: “Đây là bảo tàng sinh thái có chức năng chính là giáo dục bảo vệ môi trường, nhất là đối tượng thanh thiếu niên, học sinh. Thiết kế đặc trưng là chủ đề về khu dự trữ sinh quyển Tam Giang với 4 mùa xuân hạ thu đông. Mọi thứ diễn ra trong tự nhiên thế nào chúng tôi cố gắng tái hiện giống như thế ấy: cũng có mưa, tuyết, lau sậy, cỏ đuôi mèo và các động thực vật đặc trưng”.
Hầu hết các hiện vật trưng bày trong bảo tàng đều là những vật có trong tự nhiên của vùng Tam Giang, từ đất, cát, nước đến các loại cây cối hay thực vật sống. Đặc biệt, những con vật trưng bày tại đây đều là những tiêu bản của con vật thật, tạo cảm giác như đang thực sự lạc vào khu rừng tự nhiên cho khách tham quan. (VTV 30/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||