|
Ngày 02 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Cá thể gấu cuối cùng được AAF đặt tên là Hercules, đã được vận chuyển về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc an toàn trong ngày 30/10.
Tổ chức Động vật châu Á (AAF) cùng các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vừa tiến hành cứu hộ và bàn giao cá thể gấu nuôi nhốt cuối cùng tại địa phương này cho Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam tại VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đây là chuyến cứu hộ cuối cùng trong quá trình suốt sáu tháng vừa qua, AAF phối hợp với Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh cứu hộ toàn bộ 33 cá thể gấu tại nhiều trang trại, hộ gia đình nuôi nhốt gấu trong tỉnh và đưa Quảng Ninh trở thành địa phương thứ ba trong cả nước, sau Huế và Bình Thuận không còn nạn nuôi nhốt gấu để khai thác mật.
Cá thể gấu cuối cùng được AAF đặt tên là Hercules, đã được vận chuyển về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc an toàn trong ngày 30/10.
Được biết, trong năm nay AAF đã cứu hộ được 33 cá thể gấu từ Quảng Ninh và 8 cá thể gấu từ các tỉnh, thành khác. Tính từ khi đi vào hoạt động đến nay, AAF đã cứu hộ được 161 cá thể gấu ngựa và gấu chó và hiện 148 cá thể vẫn đang tận hưởng môi trường sống bán tự nhiên tại Trung tâm, được đội ngũ thú y, chuyên gia và công nhân chăm sóc và phục hồi sức khỏe và bản năng tự nhiên. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/11) đầu trang(
Thấy con khỉ bị nhốt tội nghiệp, một người dân đã tự bỏ tiền mua và gửi Vườn Quốc gia Yok Đôn, Đắk Lắk phóng sinh.
Ông Đỗ Quang Tùng (Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn, Đắk Lắk) cho biết ông vừa tiếp nhận một con khỉ do anh Nguyễn Văn Liên (TP Buôn Ma Thuột) mang đến nhờ Vườn thả về với thiên nhiên.
“Trên đường tôi đi công tác ở Đắk Nông, thấy người dân nhốt con khỉ trông tội quá nên tôi đã quyết định lại mua với giá 1,5 triệu đồng để về phóng sinh. Tôi cũng chẳng biết con khỉ này có giá trị bao nhiêu”, anh Liên nói.
Anh Liên cũng cho biết, nhiều năm nay anh thường mua động vật hoang dã gửi cho các trung tâm cứu hộ để họ giúp thả về thiên nhiên.
“Do con khỉ này đã quen người rồi nên tạm thời chúng tôi phải nhốt riêng ra khoảng một thời gian để tập cho nó biết thích nghi với môi trường hoang dã, đồng thời theo dõi bệnh tật. Chứ bây giờ thả vào rừng liền thì nó khó có thể tự kiếm ăn, rất dễ bị bắt trộm” - ông Tùng cho biết.
“Hiện Vườn không có trung tâm cứu hộ nhưng vì cái tâm nên chúng tôi vẫn làm vì họ có lòng mang tới đây rồi. Đối với những loài phức tạp, bên Vườn cũng hạn chế nhận. Chẳng hạn như vừa rồi có người dân mang con trăn nhờ chúng tôi thả nhưng con trăn đòi hỏi có chuồng trại, cơ sở vật chất, kinh phí huấn luyện khoảng sáu tháng nên rất khó để tiếp nhận” - ông Vũ Đức Giỏi - Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ Vườn Quốc gia Yok Đôn cũng chia sẻ. (Pháp Luật TP.HCM 30/10) đầu trang(
Chữa bách bệnh, đuổi tà ma, mang lại may mắn và tiền bạc… là những lời “có cánh” mà các chủ cửa hàng bán đồ lưu niệm ở Buôn Đôn (Đắk Lắk) luôn “nổ” để bán ngà voi, nanh lợn rừng, vuốt hổ cho khách du lịch.
Đến Buôn Đôn, Đắk Lắk, chúng tôi được tận mắt chứng kiến cảnh mua bán các sản phẩm được cho là chế tác từ ngà, lông đến xương của voi hoang dã. Kẻ bán thì luôn “nổ”, còn người mua đều tin sái cổ đó là những sản phẩm “thần tiên” của quê hương dũng sĩ bắt voi AmaKông – người sống thọ hơn 100 tuổi, năm 80 tuổi vẫn lấy được vợ đẹp và sinh con.
Nhắc đến vùng đất voi Buôn Đôn là người ta luôn nhớ đến “vua voi” Amakông cũng như bài thuốc ngâm rượu do ông tìm kiếm, bào chế có thể chữa được nhiều thứ bệnh, mà nổi tiếng nhất là thứ bệnh “yếu sinh lý” của các bậc mày râu. Còn bây giờ, khi đến vùng đất này, bước chân vào các cửa hàng bán đồ lưu niệm, người ta còn râm ran nhiều điều kỳ diệu khác từ những sản phẩm của Buôn Đôn như: Hàn gắn tình cảm vợ chồng, tô điểm các cuộc tình, giúp cải lão hoàn đồng... (?)
Còn nhớ, ngày 3/11/2012, ngày “vua voi” AmaKông lìa xa cõi trần, du khách và những người quý mến cụ đến tiễn đưa rất đông. Ai mà chẳng muốn chứng kiến khoảnh khắc về với đất của một huyền thoại Tây Nguyên kỳ bí, nguyên sơ này? Cái sự đông người ấy, đó là câu chuyện của ngày hôm qua.
Còn bây giờ, khách đến Buôn Đôn chỉ để “săn” những sản phẩm độc - dị - lạ được chế tác từ voi chứ không còn mấy ai đến Buôn Đôn để thăm viếng nhà mồ của “vua voi” nữa. Mặc dù, mộ cụ nằm ở đầu buôn, là một trong những điểm đến luôn được giới thiệu trong Trung tâm thông tin du lịch của Buôn Đôn.
Theo ghi nhận của phóng viên, tại đây, hầu như quầy hàng lưu niệm nào cũng bày bán các sản phẩm liên quan đến các loài mãnh thú có tên trong Sách đỏ Việt Nam (đặc biệt là gấu, hổ, voi) như nanh, vuốt, móng, lông, da... Nhưng “nổi tiếng”, phổ biến và được nhiều khách du lịch mua là những mặt hàng liên quan đến “biểu tượng của Buôn Đôn” như vòng đeo tay bằng xương voi, ngà voi, lông đuôi voi.
Thấy chúng tôi hỏi chuyện, chủ quầy lưu niệm B.Đ đưa những chiếc lông đuôi voi với nhiều kích cỡ lớn nhỏ, dài ngắn ra rao bán với giá từ 100.000 - 300.000 đồng/chiếc. “Lông đuôi voi tốt lắm, may mắn lắm, có nó trong người xua đuổi được tà khí, đường công danh, sự nghiệp được hanh thông, cầu gì, ước gì đều được hết”(?), người chủ quán trạc tuổi 40 oang oang nói.
Tiếp đến, chủ cửa hàng giới thiệu về nhẫn lông đuôi voi – món trang sức được nhiều người săn tìm. Ông khẳng định, chỉ có nhẫn lông đuôi voi ở Buôn Đôn mới “chất”. Như để tạo độ tin tưởng cho chúng tôi, người chủ mở tủ lấy ra một vài sợi lông đuôi voi và cặp nhẫn. Theo quan sát, lông đuôi voi đen bóng được luồn vào chiếc nhẫn vàng có nhiều lỗ, trông rất bắt mắt. “Cặp nhẫn lông đuôi voi này giá 2,5 triệu. Những cặp đôi nào đeo nhẫn này cũng đều sống rất hạnh phúc, viên mãn”, chủ cửa hàng đon đả nói.
Dạo quanh một số cửa hàng bán đồ trang sức ở ngay gần khu lăng mộ của cụ AmaKông và khu “nghĩa địa voi”, không khó để tìm mua được sản phẩm được chế tác từ các bộ phận của voi. Đặc biệt, một số cửa hàng còn bán nguyên sợi lông voi nếu khách có nhu cầu mua. Giá lông đuôi trắng hiếm hơn nên đắt gấp rưỡi lông đuôi đen, có khi lên tới hơn cả triệu đồng/chiếc. Nhiều người còn tin rằng dùng lông voi để xỉa răng hoặc đốt lên lấy muội nhét vào chỗ răng sâu sẽ hết đau nhức(?).
Chị Hương, một du khách từ Hà Nội cho hay: “Tôi có nghe nhiều người nói khi đeo nhẫn lông đuôi voi sẽ tránh được tà ma, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống nên cũng sắm cho mình một chiếc. Tôi cũng thắc mắc không hiểu nó có tác dụng thế nào nhưng cứ đeo vậy thôi”.
Tâm lý của chị Huơng cũng là tâm lý của nhiều người khi muốn sở hữu một chiếc nhẫn lông đuôi voi. Và từ những lời đồn thổi vô căn cứ và niềm tin “thần thánh” của nhiều người như chị Hương khiến cho thị trường nhẫn lông đuôi voi ngày càng bát nháo. Nhiều kẻ xấu đã lợi dụng những truyền thuyết hư cấu về tác dụng của những sản phẩm từ voi để trục lợi lòng tin mù quáng của người dân.
Cũng tại xã Krông Na, nhiều cửa hàng còn bán công khai da voi phơi khô bên cạnh các loại hàng lưu niệm bằng xương đầu lợn rừng, xương voi, ngà voi, lông đuôi voi. Da voi bán tại khu vực này được cắt thành những miếng vuông khoảng 4cm mỗi cạnh và bán với giá 200.000-300.000 đồng/miếng. Theo lời của chủ cửa hàng, da voi sấy khô có thể dùng để chữa bệnh đau dạ dày. Khi dùng chỉ cần thái nhỏ đưa vào chảo rang vàng rồi tán thành bột hòa vào nước uống thì bệnh dạ dày lâu năm cũng lành(?).
Còn các sản phẩm trang sức được chế tác từ ngà voi được nhiều người truyền miệng có công dụng chữa bệnh phong thấp, phòng nhiễm độc... Đây chính là nguyên nhân khiến ngà voi được đẩy lên với giá trên trời. Vì lợi nhuận, bọn “đạo chích” còn nhổ trộm lông đuôi voi hoặc chặt cả đuôi voi. Tại Đắk Lắk đã ghi nhận nhiều vụ việc voi bị giết hại để lấy ngà, lấy lông, đuôi và da voi.
Bàn về tác dụng của các sản phẩm nói trên, TS Phạm Trọng Ảnh, nguyên cán bộ Phòng Động vật có xương sống (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) cho biết: “Ngà voi tuy đắt nhưng thực tế không có tác dụng gì đối với sức khoẻ. Một chiếc vòng đeo tay nhỏ bằng ngà voi cũng có giá vài triệu đồng. Đeo vòng ngà voi hay vuốt hổ tránh gió, phòng nhiễm độc... mới chỉ là những quan niệm dân gian truyền miệng, chưa có nghiên cứu khoa học nào về tác dụng của nó”.
“Xét về cấu tạo cơ học thì ngà voi thực chất chỉ là một chiếc răng. Nó không có tác dụng gì ngoài việc để trang trí, nhưng có lẽ càng cấm thì càng quý nên nó mới bị săn lùng. Vì sao ngà voi lại trở nên đắt như vậy là một câu hỏi không có lời giải đáp. Sử dụng ngà voi với mong muốn chữa bệnh hoặc phòng bệnh là một quan niệm rất phi khoa học. Thậm chí, trong ngà voi có nhiều thành phần phức tạp khiến người dùng có nguy cơ bị dị ứng và nhiễm độc”, TS Phạm Trọng Ảnh nhấn mạnh.
Trước thông tin phóng viên cung cấp, bà Nguyễn Đào Ngọc Vân (Ban quản lý dự án bảo tồn Voi) cho biết: “Voi Buôn Đôn thuộc nhóm voi Châu Á trong danh mục cấm tuyệt đối buôn bán tất cả các sản phẩm từ voi. Việc buôn bán các sản phẩm được chế tác từ voi như Báo GĐ&XH phản ánh, là việc trái pháp luật. Cơ quan chức năng và cơ quan quản lý thị trường phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra. Nếu phát hiện hành vi buôn bán các sản phẩm được chế tác từ voi phải tịch thu, tiêu hủy và xử phạt hành chính. Nếu buôn bán với khối lượng lớn phải xử lý hình sự theo quy định của pháp luật”.
Là cán bộ có nhiều năm làm nghiên cứu về voi, bà Vân cũng cho hay: “Hiện nay, chưa có bất kỳ một công trình khoa học nào kiểm chứng về tác dụng của da voi, ngà voi và lông đuôi voi đối với người sử dụng. Tất cả chỉ là đồn thổi không căn cứ. Cũng vì tin vào tâm linh nên nhiều người đã rơi vào cảnh tiền mất tật mang cũng như tiếp tay cho những kẻ xấu tận diệt voi rừng”.
Từ xưa, voi là con vật thân quen, được người bản địa tôn thờ, làm lễ cúng “nhập buôn” cho voi rừng vừa bắt được, lễ cúng đặt tên voi được tổ chức trang trọng. Sự tôn thờ đó đã đưa voi đến vị trí con vật thiêng liêng.
Rồi từ vật thiêng, voi trở thành mặt hàng kinh doanh không thương tiếc của các con buôn và sự cuồng tin của con người. Khách du lịch đến Buôn Đôn săn tìm mua nhẫn đuôi voi, vòng đeo tay và các trang sức từ ngà voi khiến những chú voi Buôn Đôn ngày càng bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng. (Tiền Phong 29/10) đầu trang(
“Lâm tặc” sử dụng hàng chục xe máy cà tàng độ, chế, không có biển kiểm soát, ngang nhiên chở những phách gỗ vuông lớn, chạy ào ào trên cung đường đầy đá sỏi và nhiều dốc đứng từ rừng sâu về nhà cất giấu. Sau đó sẽ có các thương lái đến thu mua và sử dụng xe khách loại 12 chỗ; hoặc xe tải vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ…
Một ngày cuối tháng 10/2015, chúng tôi về huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam và ghi nhận, “lâm tặc” sử dụng hàng chục xe máy cà tàng độ, chế, không có biển kiểm soát, ngang nhiên chở những phách gỗ vuông lớn, chạy ào ào trên cung đường đầy đá sỏi và nhiều dốc đứng từ rừng sâu ra ngã ba Làng Hồi, thuộc thôn 8, xã Phước Hiệp về nhà cất giấu. Sau đó sẽ có các thương lái đến thu mua và sử dụng xe khách loại 12 chỗ; hoặc xe tải vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ…
Ông Trần Lanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (HKL) Phước Sơn, thừa nhận: Tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện Phước Sơn có nhiều diễn biến phức tạp. Chỉ tính 9 tháng đầu năm 2015, HKL Phước Sơn đã kiểm tra phát hiện và lập biên bản, xử lý 125 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, tạm giữ 12 xe ôtô, 9 xe môtô, 4 ghe xuồng chở gỗ, 2 cưa máy và 1 xe máy đào bánh xích.
Ngoài ra, HKL Phước Sơn còn phối hợp với các ngành chức năng của huyện tham mưu UBND huyện ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép tại Tiểu khu 648, 654 xã Phước Hòa và Tiểu khu 652 thuộc xã Phước Hiệp...
Ông Lanh phân bua rằng, đơn vị của ông với 28 cán bộ, nhân viên đang quản lý 90.000ha đất có rừng, trong khi địa bàn quản lý xa dân cư nên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý rừng...
Theo ông Phan Thạch, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng số 2 (Đội 2) thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam: Từ đầu năm 2015 đến nay, đơn vị này đã bắt 116 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; tạm giữ 11 xe ôtô, 5 xe máy, 4 xe bò. Trong đó vi phạm xảy ra nhiều nhất vẫn là huyện Phước Sơn.
“Trước tình trạng rừng đang “chảy máu”, UBND huyện Phước Sơn đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt cho các cơ quan chức năng huyện tăng cường tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng”, ông Nguyễn Mạnh Hà, Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn, cho biết. (Công An Nhân Dân 1/11) đầu trang(
Ngày 30.10, Hạt kiểm lâm huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận) có báo cáo cho biết số lượng cây dương bị chủ Đồi Sứ Resort triệt hạ là 757 cây, chứ không phải 50 cây như chủ resort này từng báo cáo.
Sau khi Thanh Niên Online đăng bài viết Resort tự ý triệt hạ cây của Nhà nước, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận có ý kiến giao cho các đơn vị liên quan tiến hành xác minh, báo cáo.
Thực tế số cây Nhà nước bàn giao cho Công ty TNHH Đồi Sứ (chủ đầu tư Đồi Sứ resort) là 834 cây. Nhưng khi kiểm đếm lại, số cây này chỉ còn... 77.
Số lượng cây bị triệt hạ diễn ra cùng thời điểm. Đáng chú ý là chủ resort đã có dấu hiệu phi tang khi cho máy đào hết gốc cây và đốt bỏ để che dấu. Đây là số cây dương trong rừng phòng hộ Đồi Sứ, được Nhà nước bỏ tiền trồng từ năm 1994. Có cây đường kính lên đến 40 cm.
Hạt kiểm lâm Hàm Thuận Nam cho biết số lượng gỗ đã bị khai thác kiểm đếm được là 23,5 m3, số còn lại bị phi tang. (Thanh Niên 30/10) đầu trang(
Giám đốc Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam cho biết đã xác định được cán bộ bảo vệ rừng liên quan đến vụ phá rừng Trà Bui.
Liên quan đến vụ tàn phà rừng lớn nhất từ trước đến nay tại xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh khiến Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Tranh nghi ngờ có sự tiếp tay của cán bộ quản lý rừng, ngày 14/10, ông Đoàn Tất Chẩn, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh ký báo cáo số 210 gửi các cơ quan tố tụng huyện Bắc Trà My và UBND tỉnh Quảng Nam. Theo báo cáo, lỗi là do cấp dưới phát hiện gỗ lậu mà không báo cáo lãnh đạo để xử lý mà giữ lại để tự giải quyết (!?).
Tuy nhiên, trong một diễn biến mới nhất, ông Huỳnh Tấn Đức, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam thông tin đã xác định được cán bộ của Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh có vấn đề nghiêm trọng trong vụ phá rừng phòng hộ Sông Tranh.
Ông Huỳnh Tấn Đức khẳng định: “Vụ phá rừng phòng hộ Sông Tranh là tôi cam kết xử lý nghiêm túc. Mọi sai phạm sẽ được tôi xử lý dứt điểm, không bao che cho ai hết. Sau khi đi kiểm tra trực tiếp tại lâm phận tôi đã phát hiện trong vụ phá rừng này ở Trà Bui là có ông (cán bộ quản lý rừng – PV) sai rồi đó. Trách nhiệm của ông Đoàn Tất Chẩn (giám đốc Ban quản lý rừng p,hòng hộ Sông Tranh) là trách nhiệm liên đới trong vụ phá rừng nghiêm trọng này là người đứng đầu.
Ông Huỳnh Tấn Đức cho biết: “Theo tôi nhận định là ông Dự có vấn đề theo đúng như báo cáo của giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh gửi cơ quan tố tụng vào ngày 14/10. Vấn đề của ông Dự là phát hiện gỗ mà chậm không báo cáo. Còn động lực ông Dự đến đâu thì tôi chưa biết được, phải nhờ cơ quan điều tra kết luận mới chính xác được.
Còn chắc chắn về mặt buông lỏng trách nhiệm trong quản lý được giao là kết luận được rồi. Còn ông Dự có móc nối với lâm tặc hay không thì để cơ quan Công an điều tra kết luận khẳng định”.
Liên quan đến vụ phá rừng Trà Bui, ngày 14/10, ông Đoàn Tất Chẩn ký báo cáo số 210 gửi cơ quan tố tụng huyện Bắc Trà My, UBND tỉnh Quảng Nam cho rằng để xảy ra tàn phá rừng Trà Bui trong thời gian dài vừa qua là do các đối tượng rất tinh vi, thường khai thác, vận chuyển gỗ vào ban đêm nên không bắt được quả tang đối tượng.
“Riêng vụ cất giữ gỗ trái phép tại thôn 5 xã Trà Bui vào ngày 24/9/2015, Đội quản lý bảo vệ rừng cơ động trong quá trình tuần tra, kiểm soát lâm phận đã phát hiện 64 hộp gỗ chò nhóm VI, khối lượng 14,12m3 nhưng Đội không báo cáo để lãnh đạo Ban biết. Đến ngày 5/10/2015, ông Đinh Văn Chuẩn là nhân viên bảo vệ rừng Trạm Trà Bui đã báo cáo sự việc mà Đoàn kiểm tra rừng do Đội bảo vệ rừng cơ động phối hợp cùng ông Chuẩn đi kiểm tra mới rõ sự việc” – ông Dự báo cáo.
Ông Chuẩn còn cho rằng khi phát hiện ra vụ cất giữ gỗ trái phép trên, ông Phan Văn Dự yêu cầu trong Đoàn công tác không được báo cáo cho Giám đốc Ban và Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Trà Bui biết mà để tự ý giải quyết vụ việc. (Đất Việt 31/10) đầu trang(
Họ là những tình nguyện viên không quản ngại vất vả, gian khổ, tình nguyện đến nơi núi rừng hoang vu của Vườn quốc gia Cát Tiên (H.Tân Phú, Đồng Nai) để làm công tác cứu hộ, nuôi dưỡng và thả về thiên nhiên những con thú đang có nguy cơ tuyệt chủng từ mối hiểm họa của con người.
Vườn quốc gia Cát Tiên có 2 trung tâm gồm: Trung tâm cứu hộ gấu và Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Đảo Tiên. Hai trung tâm này được hình thành từ sự phối hợp giữa Vườn quốc gia Cát Tiên với các tổ chức phi chính phủ Anh, Đài Loan. Hằng ngày, hàng chục cán bộ, tình nguyện viên ở đây luôn tận tình với công việc cứu hộ, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng hoang dã cho động vật bị thương, bị dính bẫy để thả về môi trường tự nhiên.
Anh Nguyễn Thế Việt, Phó giám đốc Trung tâm cứu hộ gấu, cho biết trung tâm hiện đang nuôi dưỡng 35 cá thể gấu, trong đó có 8 gấu chó, 27 gấu ngựa. Ngoài ra còn có 1 con báo hoa mai, 4 con công Ấn Độ, 2 cá sấu và một cặp chồn …Tất cả đều được cứu hộ từ các chuồng nuôi chật hẹp, tù túng, thân mang đầy vết thương do dính bẫy được đưa về từ các địa phương như TP.HCM, Long An, Bình Phước, Lâm Đồng, Đồng Nai…
Vốn là một kiểm lâm của Vườn quốc gia Cát Tiên, anh Việt được cử đi học và sau đó được điều động sang công tác tại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã với vai trò là bác sĩ thú y. Gắn bó với núi rừng Cát Tiên hơn 16 năm nay, anh Việt cùng anh em nhân viên ở đây đã cứu hộ và chăm sóc cho hàng trăm động vật quý hiếm.
Anh Trần Văn Quản (45 tuổi, đội trưởng đội cứu hộ) chia sẻ: “Công việc ở đây khá nhiều nên anh em rất vất vả. Buổi sáng phải dậy sớm để nấu cháo, chặt hoa quả và chế biến thức ăn cho gấu. Sau đó lại tất bật vệ sinh khu vực bán hoang dã, kiểm tra hàng rào điện tử trước khi thả gấu ra. Tiếp đến là dọn rửa khu nuôi nhốt, tập cho gấu các bản năng sinh tồn ngoài tự nhiên. Buổi chiều lại chuẩn bị thức ăn, cho gấu vào chuồng...”
Để hoàn thành công việc các nhân viên cứu hộ không quản ngại nguy khó, thầm lặng bám rừng, bỏ công sức cưu mang động vật bằng tình yêu và trách nhiệm với thiên nhiên.
Đảo Tiên, cách trung tâm quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên khoảng 1 km, nằm cách biệt trên một cù lao giữa thượng nguồn sông Đồng Nai. Nơi đây là “đại bản doanh” của Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp chuyên về cứu hộ, nuôi dưỡng và thả những loài linh truởng gặp nguy hiểm về cuộc sống hoang dã.
Anh K’Hoài (50 tuổi, người Châu Mạ, đội trưởng của Trung tâm) giới thiệu: “Ở trung tâm hiện đang nuôi dưỡng 29 con vượn má vàng, 17 con cu li nhỏ (động vật cực kỳ quý hiếm). Từ trước tới nay, trung tâm đã thả được 3 gia đình với 8 cá thể vượn về với tự nhiên”.
Anh K’Hoài thú nhận trước đây anh cũng là một “sát thủ” rừng xanh. Sau này được tuyên truyền giáo dục, anh tham gia lực lượng kiểm lâm, đi trồng rừng, rồi theo học lớp làm du lịch, nhờ đó ý thức bảo vệ rừng, động vật được nhem nhóm. Là người dân tộc, am hiểu tập tính sinh hoạt, thức ăn của động vật nên K’Hoài được lãnh đạo Trung tâm gọi về “đầu quân” và giao cho công việc làm đội trưởng cứu hộ các loài linh trưởng.
Ngoài việc cứu hộ, chăm sóc các con vật ở trung tâm, hàng ngày anh thường rong ruổi vào rừng tìm kiếm hạt cây rừng, lá cây để nhân giống và làm thức cho linh trưởng.
Ông Nguyễn Văn Diện, giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên chia sẻ: “Anh em ở đây ai cũng tâm huyết, có tình yêu động vật, yêu thiên nhiên nên đã vượt qua nhiều khó khăn, bám trụ với trung tâm để làm tốt công tác cứu hộ và bảo tồn sự đa dạng sinh học cho Vườn quốc gia Cát Tiên”. (Thanh Niên 31/10) đầu trang(
Ngày 30/10 nguồn tin từ Hạt kiểm lâm huyện Vũ Quang cho biết: Đơn vị này vừa ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “hủy hoại rừng” và gửi đến Viện KSND huyện này.
Trước đó, vào cuối tháng 9, đầu tháng 10/2015, cơ quan chức năng đã phát hiện gần 9ha rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc địa bàn xã Hương Minh, huyện Vũ Quang bị chặt phá trái pháp luật.
Biên bản kiểm tra ngày 8/10/2015 của Hạt kiểm lâm huyện Vũ Quang cho thấy: Tại khoảnh 5, tiểu khu rừng 146B thuộc địa danh nêu trên có 8,92ha rừng phòng hộ bị tàn phá. Hiện, vụ việc đang được Công an huyện Vũ Quang tiếp tục điều tra, xử lý. (Thanh Niên 31/10) đầu trang(
Voi rừng liên tiếp đến các vị trí buộc xích voi nhà trong rừng đặc dụng Vườn Quốc gia Yók Đôn tấn công, làm nhiều voi nhà bị thương, bức xích chạy hoảng loạn.
Ngày 31.10, Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết, trung tâm vừa có văn bản gửi các hộ nuôi voi nhà ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn cảnh báo tình trạng voi rừng về tấn công voi nhà. Trước đó, đàn voi rừng liên tiếp về vị trí buộc xích voi nhà ở trong rừng, tấn công làm nhiều voi nhà bị thương, hoảng loạn.
Từ đầu tháng 10 đến nay, có ít nhất 5 vụ voi rừng tấn công, khiến 6 voi nhà bị thương (gồm 2 con voi của hộ gia đình, 4 con voi của các doanh nghiệp du lịch). Trong đó, nghiêm trọng nhất là đêm 17 và 18.10, đàn voi rừng kéo về Khu du lịch sinh thái và spa Bản Đôn, tấn công làm voi cái H’Nol của Cty CP TMDL Bản Đôn bị rách tai và bị thương ở đuôi.
Ông Y Lít Ksor – người nuôi voi ở xã Krông Na – cho biết, ngày 10.10 ông vào khu vực Trạm Kiểm lâm số 6 thuộc Vườn Quốc gia Yók Đôn thăm voi nhà. Đến nơi thấy voi PLăng của gia đình bị đứt xích, chạy hoảng loạn trong rừng, kiểm tra kỹ thì thấy voi bị thương ở chân và đuôi.
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk khuyến cáo, các hộ nuôi voi không nên xích voi tại các điểm voi rừng hay xuất hiện, ban đêm cần đưa voi về gần nhà. Nếu thấy voi rừng tấn công voi nhà, phá hoại hoa màu cần báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc Trung tâm Bảo tồn voi để tổ chức xua đuổi, không được gây hại cho voi rừng. (Lao Động 31/10) đầu trang(
Trong đa dạng sinh học, bảo vệ động vật hoang dã đóng một vai trò khá quan trọng.
Vì để một loài mất đi đa dạng sinh học sẽ bị phá vỡ gây ra những hệ lụy xấu cho quá trình biến đổi khí hậu. Bảo vệ động vật hoang dã góp phần giữ cân bằng cho đa dạng sinh học, giúp quá trình biến đổi khí hậu chậm lại.
Theo Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam, động vật hoang dã là chuỗi mắt xích quan trọng trong đa dạng sinh học.
Nếu chuỗi mắt xích này bị đứt, toàn hệ thống sẽ tê liệt, như vậy tác động rất xấu đến môi trường làm cho quá trình biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và khốc liệt hơn. Nếu bảo tồn tốt động vật hoang dã, thì môi trường sẽ được bảo vệ tốt hơn, như vậy những thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra sẽ bị hạn chế và bớt khốc liệt. Việt Nam là một trong 5 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu nên việc bảo vệ đa dạng sinh học càng trở nên cấp bách.
Tuy là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, nhưng gần 15 năm nay, Đồng Nai đã đóng cửa rừng tự nhiên để bảo tồn các loại động - thực vật hoang dã. Chính vì vậy mà hiện rừng ở Đồng Nai là một trong những nơi còn bảo tồn nhiều loại động vật hoang dã nằm trong sách đỏ thế giới và quốc gia.
Việc bảo vệ rừng, trong đó có động vật hoang dã được ngành kiểm lâm phối hợp với các địa phương quản lý rất chặt. Những vụ vi phạm về săn bắn, vận chuyển và kinh doanh động vật hoang dã không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng sẽ bị xử lý nghiêm.
Theo Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn, hiện trong rừng tự nhiên của tỉnh có gần 1.700 loài động vật rừng thuộc 209 họ, 40 bộ và 5 lớp. Trong đó, bao gồm có các loài thú, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng, cá. Đặc biệt, 76 loài động vật nằm trong Sách đỏ động vật Việt Nam. Đồng Nai được Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn đánh giá là nơi còn giữ được diện tích rừng nhiều nhất.
Ông Đặng Hồng Tăng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn cho biết: “Đồng Nai là một trong những tỉnh bảo vệ rừng khá tốt. Nhiều năm liền tại Đồng Nai không để xảy ra cháy rừng. Các loài động - thực vật hoang dã được bảo tồn nghiêm ngặt, nếu phát hiện buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã thì bị tịch thu và xử lý”.
Rừng bảo vệ tốt nên môi trường, sinh cảnh của các loài động vật hoang dã được bảo vệ. Rừng Đồng Nai cũng là nơi còn bảo tồn và lưu giữ được nhiều loại động vật hoang dã nằm trong sách đỏ. Hàng năm rừng của Đồng Nai đều tiếp nhận những đợt trả động vật hoang dã bị buôn bán trái phép bắt được đưa về các trung tâm cứu hộ.
Hiện nay, Đồng Nai đã có quy hoạch rừng đến năm 2020, bảo vệ động vật hoang dã là một trong những việc làm cấp bách tỉnh rất chú trọng. Vì bảo vệ động vật hoang dã là bảo vệ đa dạng sinh học, góp phần làm chậm lại quá trình của biến đổi khí hậu và giảm nhẹ những thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra.
Trên thế giới, các loài động vật hoang dã đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm quần thể, suy giảm chất lượng môi trường sống và nguy cơ tuyệt chủng ở cấp độ quốc gia và toàn cầu. Sự suy giảm các quần thể động vật hoang dã trong tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên.
Việc suy giảm động vật hoang dã nhanh tại nhiều quốc gia là do tình trạng săn bắt không bền vững. Và nạn buôn bán động vật hoang dã hiện đang là nguy cơ dẫn đến tuyệt chủng một số loài còn số lượng ít trong tự nhiên. Theo Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã, việc phát triển các trang trại gây nuôi động vật hoang dã vì mục đích thương mại hầu hết không giúp ích cho việc bảo tồn các quần thể động vật hoang dã ngoài tự nhiên.
Vì có những trang trại gây nuôi động vật hoang dã đã lấy nguồn gốc từ tự nhiên. Bảo vệ động vật hoang dã đang là việc làm cấp bách của nhiều quốc gia nhằm góp phần bảo vệ môi trường cho tương lai.
Tại Đồng Nai, việc quản lý động vật hoang dã ngoài tự nhiên và các trang trại chăn nuôi khá nghiêm ngặt. Với động vật hoang dã chăn nuôi trong các trang trại phải có nguồn gốc rõ ràng, nếu không có nguồn gốc rõ ràng khi xuất bán bị phát hiện sẽ bắt giữ và tịch thu và xử lý. Quá trình chăn nuôi động vật hoang dã nếu sinh sản, tăng số lượng đàn phải báo cáo với đơn vị kiểm lâm đến khi xuất bán sẽ được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc.
Ông Lê Minh Hùng, ấp 2, xã Phú Ngọc (huyện Định Quán), cho hay: “Gia đình tôi nuôi cá sấu gần 7 năm và mỗi khi mua cá giống đều chọn loại có nguồn gốc rõ ràng và khi mua về đều báo với Hạt Kiểm lâm huyện để họ kiểm tra, khi nuôi lớn xuất bán thì được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc sẽ dễ bán hơn không lo bị phát hiện, tịch thu”.
Với động vật hoang dã ngoài tự nhiên, tỉnh quản lý rất chặt các khu vực cửa rừng, không cho người dân vào rừng khai thác, săn bắn. Tuy nhiên, mỗi năm, lực lượng kiểm lâm vẫn phát hiện bắt giữ hàng trăm vụ săn bắt, vận chuyển buôn bán động vật hoang dã trái phép. Các vụ vi phạm trên hầu hết xử phạt hành chính tịch thu động vật hoang dã đưa về nơi cứu hộ để trả về tự nhiên.
Hiện nay, một số người tiêu dùng có điều kiện kinh tế vẫn thích sử dụng các loài động vật hoang dã ngoài tự nhiên làm thức ăn, ngâm rượu, bào chế làm thuốc... Đây là những sở thích xấu góp phần làm giảm các loài động vật hoang dã ngoài tự nhiên và dẫn đến nguy cơ khiến các loài bị tuyệt chủng dần trong tự nhiên. Theo quan niệm của một số người dân thì sử dụng động vật hoang dã trong tự nhiên tốt cho sức khỏe, chữa bách bệnh, chẳng hạn như: sừng tê giác, ngà voi, mật gấu...
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học, bác sĩ thú y trên thế giới đã chứng minh, việc sử dụng sản phẩm động vật hoang dã không tốt như lời truyền miệng mà có nguy cơ bị bệnh truyền nhiễm cao. Theo GS.TS Nguyễn Lân Dũng (Đại học quốc gia Hà Nội) việc đồn thổi dùng một số sản phẩm động vật hoang dã chữa được bách bệnh mới chỉ có ở Việt Nam khoảng 10 năm trở lại đây.
Đây là khoảng thời gian thu nhập của người dân tăng lên và nhu cầu thể hiện đẳng cấp bằng hàng xa xỉ xuất hiện. Nếu lời đồn là đúng tại sao từ thời xưa đến nay không dùng và các nước khác không có cơn sốt này. Ví dụ trong y văn cổ, sừng tê giác có tính thanh nhiệt, tác dụng tương tự sừng trâu. Các lời đồn thổi dùng sừng tê giác có tác dụng chữa ung thư, giải rượu, cường dương mới có gần đây không có căn cứ.
Cách bảo tồn động vật hoang dã trong tự nhiên tốt nhất là không nên sử dụng, khi cung không có thì cầu ắt sẽ giảm và việc săn bắt sẽ ít. Muốn thực hiện việc này, các địa phương phải tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao ý thức của người dân trong việc cùng chung sức bảo vệ động vật hoang dã ngoài tự nhiên nhằm bảo vệ đa dạng sinh học hạn chế thiên tai chậm lại quá trình của biến đổi khí hậu. (Bảo Vệ Pháp Luật 30/10) đầu trang(
Trong kháng chiến, Hòn Dung (xã Ninh Sơn, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) vốn là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Vậy mà giờ đây, những cánh rừng bạt ngàn đã và đang bị cạo trọc, khiến những ai từng một thời gắn bó với vùng đất cách mạng này không khỏi nhói lòng...
Rừng Đá Bàn mùa này khô khốc. Đứng trên đỉnh Hòn Dung, cái nắng cuối mùa khô táp thẳng vào mặt từng hồi rát rạt. Trước mặt, sau lưng, chỗ nào cũng cây đổ ngổn ngang. Gốc lớn, gốc nhỏ còn ứa nhựa. Cảm giác tan hoang, xót xa cứ nhói lên khi chứng kiến khung cảnh bạt ngàn cây cối bị đốn hạ.
Cách đây mấy tháng, nhìn từ xa, núi Bò Mắt (thuộc Hòn Dung) vẫn xanh rậm cây cối. Giờ đây, tất cả chỉ còn trơ gốc. Những thân cây đổ ngổn ngang, những vạt rừng còn sót lại cũng cháy sém, nham nhở. Ở khu vực sát đập Đá Bàn, khoảng mấy ha đất rừng mới bị đốn hạ. Cây nhỏ, cây to bị “bức tử” bởi những nhát cưa máy sắc lạnh.
Chỉ tay về phía mấy gốc ké nằm trơ trụi, Thiện - một tay phá rừng có tiếng ở xã Ninh Sơn khoe với chúng tôi: “7ha đó tôi mới cưa tháng trước. Một mình tôi với một cây cưa máy, vừa làm vừa chơi mà chưa đầy 20 ngày tôi đã hạ hết. Ngày xưa, nếu dùng rìu, rựa thì mấy tháng trời mới làm sạch được chỗ này. Cây ở đây tuy không lớn nhưng mật độ cây rừng dày đặc, rất khó đốn hạ, chỉ có tầm cỡ có nghề như tôi mới phá nhanh như vậy”.
Từng có thời gian điều tra việc khai thác vàng ở Ninh Sơn nên chúng tôi không lạ gì khu vực núi Bò Mắt. Cách đây mấy năm, cả một bạt rộng lớn được bao bọc bởi cây rừng. Cây to, cây nhỏ xòe tán kín cả mặt đất. Dân phu vàng làm việc giữa ngày hè mà không cần đội nón.
Vậy mà giờ đây, cả một mái núi phía đông không còn một bóng cây. Thấy chúng tôi có vẻ thắc mắc, Thiện ra điều hiểu biết: “Khó gì đâu, mấy ngày trời nắng, đưa cưa máy lên cưa sát gốc nhưng không cho cây đổ. Người đứng dưới núi nhìn lên vẫn thấy một màu xanh, biết đâu rừng bị phá. Đến khi cây khô, cho một mồi lửa là xong. Những thân gỗ lớn sử dụng được, vài bữa tôi cho xe lên lấy về. Ai hỏi thì cứ nói là rừng bị cháy, tận thu cây. 12ha đất rừng của tôi đều làm theo kiểu này”.
Trong khi khoe mẽ chiến tích phá rừng của mình, Thiện tiết lộ sang năm, gã sẽ chuyển sang hoạt động tại lòng hồ Đá Bàn. “Bên đó dù là rừng phòng hộ nhưng được cái khuất núi, ít tai mắt, có hạ cây cũng khó biết” - Thiện cười đầy bí hiểm.
Thực ra, tình trạng cưa cây với diện tích lớn trên đỉnh Hòn Dung đã xảy ra ở Ninh Sơn nhiều năm nay. Mỗi lần tàn phá cây cối ở địa danh này đều với diện tích lớn. Những cá nhân vi phạm đều là những người có rẫy ở cạnh rừng. Dựa vào đặc điểm “da beo” của đất rừng Ninh Sơn, có cơ hội là các cá nhân có máu mặt lập tức đốn hạ cây cối tự nhiên. Qua sự giới thiệu của một người đàn ông ở thôn 2, chúng tôi tìm đến một người tên Khánh ở thôn 5, xã Ninh Sơn.
Sau mấy bận gặp mặt, người này mới chịu nói chuyện: “Ở đây, anh em nhà thằng Thiện là phá rừng ác nhất. Tôi cũng mới phá 1ha ở sát đỉnh Hòn Dung. Nếu thích, sang năm phá tiếp”. Qua trò chuyện với Khánh mới biết, thực sự chỉ có vài cá nhân phá rừng ở khu vực núi Bò Mắt. Rừng phá xong thì đất biến thành đất rẫy. Cách đây mấy mùa rẫy, anh em nhà Đồng “đen” ở thôn 5 cũng đã phá cả chục ha, nay đã canh tác, ai có nhu cầu sẽ bán lại.
Qua tìm hiểu được biết, ngoài những nhân vật cộm cán trên, trong năm 2015, danh sách này còn có Dương Ngọc Có (thôn 2), Lê Thanh Hải (thôn 3) đã phá một diện tích rừng không nhỏ do xã Ninh Sơn quản lý. Trước đó, năm 2014, các cá nhân trong xã gồm: Đoàn Thị Minh Hiếu, Nguyễn Đình Quế, Nguyễn Văn Bút đã phá khoảng 4ha rừng ở khu vực núi Bò Mắt.
Một người dân ở ngay gần rừng Hòn Dung cho biết: “Năm nào rừng ở đây cũng bị phá. Bọn họ đem cưa máy lên cưa rầm rầm giữa thanh thiên, bạch nhật mà có thấy ai xử lý”.
Có điều lạ, diện tích cây bị đốn hạ theo kiểu tận diệt năm nào cũng nhiều, song đến thời điểm hiện tại chưa có một cá nhân nào bị xử lý nặng. Có chăng chỉ là phạt hành chính khoảng 1 triệu đồng hoặc cảnh cáo, nhắc nhở.
Trong một lần trà dư, tửu hậu với Thiện, gã hứng chí chỉ đống gỗ đã được xẻ hộp vuông vức trong nhà mình rồi nói: “Toàn hàng xịn đấy, đây chỉ để một ít, mấy khối gỗ xịn hơn cất ở nhà bố vợ hết rồi. Ông anh xem có mối nào cần gỗ cứ đặt, chỉ vài bữa là có ngay. Ở Ninh Sơn này, không rừng nào là tôi không biết”.
Khi được hỏi sao phá nhiều như vậy mà không việc gì, Thiện trả lời: “Tuy đây là rừng đầu nguồn nhưng mình có “cơ” thì mới dám phá, đám khác mà làm là bị truy tố ngay. Rừng này do xã quản lý, kiểm lâm không có quyền gì cả. Mình phá thì buộc họ phải kiểm tra nhưng chỉ để lấy lệ. Sau đó biết điều chút đỉnh là hòa cả làng. Cán bộ xã toàn anh em, chiến hữu cả mà. Hồi trước phá được 5ha, cúng rẫy mời cán bộ xã lên trên này nhậu luôn. Mấy ổng cũng trách sao phá rừng, tôi nói nghèo khó thì phá thôi, thế là xong”.
Làm việc với xã Ninh Sơn, ông Đào Trung Hải - Phó Chủ tịch xã Ninh Sơn cho biết: “Ngay khi phát hiện các đối tượng phá rừng, tôi đã trực tiếp lên kiểm tra. Trong đó Lê Đăng Thiện phá khoảng 0,2ha; một cá nhân khác không phải người địa phương phá 0,7ha nhưng không biết tên tuổi. Tổng toàn bộ diện tích rừng bị phá vừa qua khoảng 1,2ha. Đây là rừng thuộc trạng thái 1C (rừng tái sinh). Chúng tôi đã lập biên bản và yêu cầu cam kết không được phá rừng nữa”.
Theo ông Hải, hiện xã đã chuyển biên bản vi phạm cho Hạt Kiểm lâm thị xã xử lý. Bên cạnh diện tích rừng do xã quản lý bị phá thì còn có một phần diện tích bị phá khác do Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa quản lý. Do đó, phần này xã không có thẩm quyền.
Rời UBND xã Ninh Sơn khi trời đứng bóng, dù ở rất xa nhưng nhìn diện tích cây cối trên đỉnh Hòn Dung bị cạo trọc cũng đủ thấy diện tích thực tế không chỉ 1,2ha. Hình ảnh những gốc cây ứa nhựa, thân cây cháy sém nằm trơ trụi trên núi Mắt Bò khiến nhiều nghi vấn cứ lặp đi, lặp lại trong đầu chúng tôi... (Báo Khánh Hòa 30/10) đầu trang(
Theo hạt kiểm lâm thị xã Chí Linh, thời gian qua thời tiết khô hanh kéo dài nên tất cả diện tích rừng trên địa bàn đang ở mức cảnh báo cháy rừng số 5 - mức cực kỳ nguy hiểm.
Theo kinh nghiệm và thực tế, phần lớn các vụ cháy rừng thường bắt đầu ở thời điểm cuối giờ chiều, sau đó lan rộng và bùng phát mạnh vào đêm tối. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát và phóng chống cháy rừng, Hạt kiểm lâm thị xã đã chỉ đạo cán bộ phụ trách địa bàn từ 3h chiều hàng ngày tăng cường tuần tra tại khu vực rừng được phụ trách. Song song với đó lực lượng kiểm lâm tiến hành phát dọn thực bì, tạo các vành đai cản lửa.
Đồng thời, chuẩn bị các phương tiện, dụng cụ chữa cháy; phối hợp với chính quyền các địa phương và lực lượng quân đội đóng trên địa bàn thành lập và duy trì hoạt động của các đội chữa cháy, thường xuyên ứng trực nhằm sớm phát hiện và xử lý hiệu quả các vụ cháy ngay từ khi mới phát sinh.
Lực lượng kiểm lâm còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân tại các khu vực có rừng hạn chế dùng lửa khi vào rừng, phối hợp với ban quản lý các di tích lịch sử trong khu vực có rừng, tuyên truyền du khách đốt vàng mã đúng nơi quy định. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hải Dương 30/10) đầu trang(
Sáng 30/10, Ban Pháp chế HĐND tỉnh đã có cuộc làm việc với UBND huyện Nam Đàn nhằm khảo sát việc lại thực hiện một số kiến nghị, đề xuất qua giám sát, khảo sát của Ban từ năm 2013 lại nay.
Qua khảo sát cho thấy, Nam Đàn đã triển khai thực hiện các kiến nghị, đề xuất của Ban Pháp chế thông qua các đợt khảo sát, giám sát là khá nghiêm túc. Về công tác tuyển dụng viên chức và hợp đồng lao động trên địa bàn huyện thời gian qua được thực hiện bài bản.
Trên cơ sở chỉ tiêu biên chế, rà soát vị trí còn thiếu để xây dựng kế hoạch tuyển dụng và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở làm việc. Gắn với đó, huyện cũng đã thực hiện nghiêm túc việc rà soát, chấn chỉnh tình trạng hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị .
Đến thời điểm này, tại cơ quan UBND huyện và cấp xã đã chấm dứt việc ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn. Huyện cũng đã thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác đối với 41 công chức tài chính – kế toán, địa chính – xây dựng ở cấp huyện và xã; kịp thời xây dựng và ban hành Đề án giải quyết giáo viên dôi dư với mục tiêu đề ra đến năm 2017 cơ bản sẽ sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các nhà trường đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu.
Tuy nhiên, băn khoăn hiện nay, có một số cán bộ trong hệ thống trình độ, năng lực chuyên môn còn có những hạn chế, trong khi đó lực lượng sinh viên giỏi ở các trường đại học có uy tín ra trường chưa được vào các cơ quan nhà nước. Ở một số đơn vị sự nghiệp như Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, đài Truyền hình huyện, Trung tâm dạy nghề và một số trường học vẫn còn tình trạng hợp đồng lao động. Còn tình trạng bất cập về cơ cấu đội ngũ giáo viên, thiếu giáo viên mầm non, thừa giáo viên tiểu học và THCS.
Nam Đàn cũng là địa bàn “trọng điểm” về cháy rừng, trong thời gian gần đây, huyện đã có nhiều nỗ lực để tăng cường khả năng ứng phó và phòng, chống cháy rừng cho các lực lượng chức năng và các địa phương có diện tích rừng. Tổ chức triển khai ký cam kết trong công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng với huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) và Thanh Chương (Nghệ An) có rừng giáp ranh.
Tăng cường cảnh báo, phát hiện sớm các đám cháy trên địa bàn, gắn với điều tra kịp thời nguyên nhân, thù phạm gây ra cháy khi có đám cháy xảy ra. Nhờ đó, năm 2015 số vụ cháy rừng và diện tích bị thiệt hại giảm hẳn so với năm 2014.
Đoàn công tác đã ghi nhận sự chấp hành và triển khai nghiêm túc của huyện Nam Đàn đối với các kiến nghị, đề xuất của Ban Pháp chế. Đoàn tiếp tục kiến nghị UBND huyện cần quan tâm triển khai đề án giải quyết dôi dư giáo viên hiệu quả; nghiên cứu thêm việc thuyên chuyển giáo viên giữa các trường trong cùng bậc học; quan tâm tuyển dụng công chức công xã đảm bảo đúng định biên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị; tiếp tục chú trọng công tác chuyển đổi vị trí công tác đối với một số vị trí, lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, xây dựng, tài chính, kế toán.... Về công tác phòng, chống cháy rừng cần quan tâm điều tra, xử lý nghiêm các trường hợp gây ra cháy rừng, tạo sự răn đe.( Báo Nghệ An 30/10) đầu trang(
Ngày 29-10, tại Hà Nội, hội nghị cấp bộ trưởng các nước ASEAN về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới đã ra tuyên bố mạnh mẽ về những giải pháp cứng rắn để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm khói mù do cháy rừng có thể lan rộng ảnh hưởng sang các quốc gia lân cận và trong khu vực.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát cho biết, Hiệp định ASEAN về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới được ký kết năm 2002 là hiệp định quan trọng nhằm ngăn ngừa và theo dõi tình hình ô nhiễm khói mù xuyên biên giới do xuất phát từ các đám cháy rừng và đất, đòi hỏi sự tích cực cùng hợp tác của các quốc gia trong khu vực.
Đây là mục tiêu theo đuổi trong bối cảnh phát triển bền vững chung của khu vực trước xu hướng biến đổi khí hậu, tình trạng khô hạn và thiên tai liên tục xảy ra.
Các thành viên tham gia hội nghị đã đạt được thống nhất chung về mục tiêu đến năm 2020 sẽ không còn khói mù do cháy rừng xảy ra tại các nước Đông Nam Á. Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát khẳng định, Việt Nam cam kết dành mọi nguồn lực để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, vì một ASEAN có môi trường trong lành.
Đây là hội nghị diễn ra sau khoảng 1 tháng xảy ra các vụ cháy rừng lớn ở Indonesia mà khói mù khô đã lan tỏa tới nhiều nước trong khu vực, trong đó có TPHCM và Nam bộ.
Theo báo cáo được trình bày tại hội nghị, các quốc gia như Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan thường có thời tiết khô hạn từ tháng 1 đến tháng 3, còn Indonesia, Singapore, Malaysia, Brunei, Đông Timor, Philippines thường khô hạn vào tháng 6-9 đều là thời điểm dễ xảy ra cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 30/10) đầu trang(
Khoảng 20h00 tối ngày 29/10, tại tổ 8, khu 8, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long đã xảy ra một vụ cháy rừng.
Nhận được tin thông báo, Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo Ban CHQS thành phố Hạ Long phối hợp với các lực lượng tiến hành dập tắt đám cháy. Gần 100 cán bộ, chiến sỹ Bộ CHQS tỉnh, Ban CHQS thành phố Hạ Long, Cảnh sát PCCC, Kiểm Lâm, Dân quân Phường Bãi Cháy đã tham gia dập lửa, không để đám cháy lan rộng. Đến 01h30p ngày 30/10, đám cháy đã được khống chế.
Trong sáng nay, Bộ CHQS tỉnh, Trung đoàn 213, Lữ đoàn 170 HQ và các lực lượng đã tổ chức ứng trực nghiêm túc, phương tiện sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ phối hợp, chữa cháy trong mọi tình huống. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 30/10) đầu trang(
Rừng là tài nguyên quý của đất nước, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân. Ở nước ta hàng năm xảy ra hàng trăm vụ cháy rừng lớn, nhỏ, gây thiệt hại nghiêm trọng tới mọi mặt về kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) là rất quan trọng. Đối với Ban quản lý (BQL) rừng đặc dụng Hương Sơn trên địa bàn huyện Mỹ Đức thì công tác PCCCR luôn được đặt ra là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hàng đầu.
Rừng đặc dụng Hương Sơn là nơi có danh lam thắng cảnh Hương Tích nổi tiếng “đẹp nhất trời Nam” với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng. Trong rừng còn có hệ thống quần thể di tích lịch sử Chùa Hương đã được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt. Ngoài ra, rừng đặc dụng Hương Sơn còn có vai trò và tác dụng trong việc phòng hộ, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, điều hòa khí hậu, là lá phổi xanh của phía Nam Thủ đô Hà Nội.
Rừng có tổng diện tích 4.705ha, trong đó vùng chính là 3.760ha, vùng đệm có diện tích 945ha nằm trên địa bàn 4 xã thuộc huyện Mỹ Đức. Do đặc điểm rừng nằm gần khu dân cư nên hiện nay có trên 1.000 hộ dân đang canh tác làm vườn rừng và trên 200 hộ làm nhà ở ngay trong rừng, lượng người ra vào rừng hàng ngày rất lớn.
Đặc biệt, hàng năm nơi đây thu hút từ 1,5 - 1,7 triệu lượt khách du lịch về trẩy hội Chùa Hương. Chính vì vậy, nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất cao. Trên thực tế, hàng năm, cả nước xảy ra hàng trăm vụ cháy rừng lớn nhỏ, gây thiệt hại vô cùng nghiêm trọng trên toàn diện các mặt kinh tế - xã hội và môi trường.
Theo nhận định của Tổng cục Lâm nghiệp và dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, năm 2015, hiện tượng El Nino sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta, nắng nóng khô hạn diễn ra gay gắt, mùa khô kéo dài, lượng mưa giảm so với trung bình nhiều năm tại nhiều địa phương. Do đó, công tác PCCCR là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và Nhân dân sống trong rừng, ven rừng.
Ông Nguyễn Duy Giáp – Giám đốc BQL rừng đặc dụng Hương Sơn cho biết, công tác PCCCR được BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đặc biệt quan tâm. Đây được coi là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết để bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, nhằm giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Hàng năm, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã chủ động đề ra mọi phương án tối ưu nhằm ngăn chặn nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra. Phương châm trong công tác PCCCR của BQL rừng đặc dụng Hương Sơn là “Phòng cháy là chính, chữa cháy phải khẩn trương tích cực đạt hiệu quả cao”. Nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp trong PCCCR mà nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn do đơn vị quản lý luôn được đảm bảo.
Những tháng cuối năm này đang bắt đầu vào mùa hanh khô, là thời điểm cháy rừng xảy ra nhiều nhất trong năm. Vì thế công tác chủ động PCCR rừng được BQL rừng đặc dụng Hương Sơn tập trung đẩy mạnh. Xác định PCCCR là nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ và phát triển rừng, thời gian qua, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã tổ chức phổ biến kiến thức PCCCR trong cộng đồng.
Theo đó, đã tổ chức quán triệt từ huyện đến xã, thôn, xóm, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi người dân khi vào rừng. Hướng dẫn cho bà con cách dập lửa khi phát hiện đám cháy, đảm bảo không thiệt hại về người và tài sản. Bằng các hình thức tuyên truyền khác nhau như tuyên truyền trên hệ thống phát thanh, lồng ghép nội dung tuyên truyền bảo vệ rừng vào các buổi họp của xã, thôn.
Để tăng thêm hiệu quả, đơn vị đã phát 15.000 tờ rơi với nội dung tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng và PCCCR. Tổ chức họp dân tham gia ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR. Hàng năm, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn ký cam kết bảo vệ rừng với 22 trưởng thôn giáp ranh khu rừng và ký cam kết bảo vệ rừng với 257/276 hộ dân. Qua đó, giúp bà con nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng.
Ngoài ra, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn còn thường xuyên trao đổi, nâng cao trình độ, kiến thức cho các tổ đội bảo vệ về công tác PCCCR. Đôn đốc tuần tra, kiểm soát, nắm bắt lượng người ra vào khu vực rừng được phân công, những biến động trong và ngoài rừng.
Nắm rõ những khu vực dễ xảy ra cháy, thông tin kịp thời khi xảy ra cháy. Tổ chức, xây dựng phương án PCCCR, tăng cường các biện pháp PCCCR trong các tháng cao điểm và những điểm dễ xảy ra cháy rừng. Thường xuyên tuần tra, kiểm soát, báo cáo tình hình trong và ngoài rừng với cấp có thẩm quyền, chủ động phối kết hợp với các xã, thôn trên địa bàn để kịp thời thông tin, thông báo, tiếp ứng người, phương tiện khi cần thiết nếu có cháy rừng xảy ra.
Cùng với việc thi công xây dựng các công trình như trạm bảo vệ, tuyên truyền bằng biển, bảng nơi đông người ra vào rừng, thì việc xây dựng các chòi canh có tác dụng phát hiện sớm điểm cháy rừng, ở những khu vực khác nhau, giúp phát hiện kịp thời, xử lý, dập tắt đám cháy trong thời gian ngắn nhất.
Xây dựng bể chứa nước ở những vùng địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn. Đầu mùa khô, sông suối thường bị cạn kiệt, vì vậy phải có kế hoạch xây dựng ngăn các thung lũng, khe suối hoặc xây dựng những bể bán kiên cố để dự trữ nước cho sinh hoạt và phục vụ cho PCCCR, vừa phải bố trí lối đi, máy móc chuyên dụng kịp thời đáp ứng nếu có xảy ra cháy rừng.
Công tác PCCCR được BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, làm tốt việc kiểm tra, kiểm soát, canh lửa rừng. Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trong Nhân dân trên loa truyền thanh của xã và tại các cửa ra vào rừng bằng nhiều hình thức. Trong những ngày khô hanh cao điểm, BQL thường xuyên cử người trực canh lửa rừng 24/24 giờ, kịp thời chủ động triển khai các biện pháp chữa cháy rừng nếu có xảy ra theo đúng phương án PCCCR đã xây dựng.
Phối kết hợp với Cụm an ninh khu vực Chùa Hương để bảo vệ trật tự an ninh trong rừng. Để phát huy có hiệu quả năng lực của các tổ trong công tác PCCCR, BQL rừng đã tổ chức các buổi tập huấn để trang bị những kiến thức cơ bản về PCCCR cho các thành viên: Cách phát dọn thực bì và xử lý các vật liệu dễ cháy tại những khu vực xung yếu, cách xử lý và dập tắt các đám cháy nhỏ và đặt các biển báo cháy tại những khu vực có nguy cơ xảy ra cháy cao, gắn tinh thần trách nhiệm của các thành viên trong tổ với nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Nhờ vậy, ý thức của các thành viên trong tổ được nâng lên, tất cả đều thực hiện nghiêm túc các quy định về PCCCR của ngành kiểm lâm đưa ra.
Ông Giáp chia sẻ, với việc triển khai công tác PCCCR một cách đồng bộ và sáng tạo, tổ chức lực lượng kiểm tra, giám sát chặt chẽ, khoa học, nên từ đầu năm tới nay, trên địa bàn do BQL rừng đặc dụng Hương Sơn quản lý không có vụ việc phá rừng trái pháp luật và đặc biệt không để xảy ra vụ cháy rừng nào. Những năm gần đây, trước diễn biến thất thường của thời tiết, nắng nóng kéo dài và gay gắt hơn, chính vì vậy nguy cơ cháy rừng lại càng dễ xảy ra.
Bước vào mùa khô cũng là lúc công tác PCCCR trở nên cấp thiết và quan trọng. Để chủ động phòng chống cháy rừng, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đề cao cảnh giác, chủ động các phương án canh trực, tuần tra bảo vệ rừng.
“Việc bảo vệ và PCCCR không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, mà mỗi người dân hãy là một thành viên tích cực trong PCCCR. Đồng thời, hãy nêu cao vai trò, trách nhiệm của cả cộng đồng cùng chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh cho chính cuộc sống của chúng ta” - ông Giáp nói. (Kinh Tế Và Đô Thị 1/11) đầu trang(
Ngày 31/10/2015, Hội Bảo vệ TN&MT tỉnh phối hợp với Chi cục Bảo vệ Môi trường tổ chức Hội thảo khoa học Bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn gen.
Dự hội thảo có các Giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ khoa học đến từ: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật; Hội Chăn nuôi Việt Nam...
Việt Nam hiện xếp thứ 16 trên thế giới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật, tài nguyên di truyền và là nơi có nguồn gen cây trồng, vật nuôi địa phương đa dạng của thế giới. Theo báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học năm 2011, Việt Nam xác định được khoảng hơn 49.000 loài sinh vật bao gồm: 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20.000 loài thực vật trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; 2.00 loài động vật không xương sống và cá ở nước ngọt; trên 11.000 loài sinh vật biển.
Hiện nay, sự đa dạng tài nguyên thực vật đang bị đe dọa nghiêm trọng do hậu quả chiến tranh, việc khai thác bừa bãi, thiên tai, thói quen canh tác lạc hậu và sự gia tăng dân số kèm theo quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các vùng trong cả nước.
Đặc biệt, sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mà Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn gen.
Tại hội thảo, các đại biểu đã nghiên cứu 10 báo cáo chuyên đề về bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn gen, trong đó tập trung thảo luận 4 chuyên đề: Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam; khái quát đa dạng sinh học ở Vĩnh Phúc; bảo tồn gen vật nuôi ở Việt Nam; sinh vật ngoại lai xâm hại và biện pháp ứng phó trên địa bàn tỉnh.
Mục đích hội thảo lần này nhằm đánh giá về những tư liệu, kiến thức để xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn gen trong thời gian tới với từng khu vực, địa phương, chủ hộ đất có rừng, các nông trường, vườn Quốc gia trên địa bàn tỉnh; nâng cao nhận thức, kiến thức về bảo vệ môi trường cho người dân và cán bộ quản lý; giúp cộng đồng nhận thức rõ hơn về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học là thiết thực góp phần bảo vệ môi trường, giữ gìn và phát triển các loài động vật, thực vật trên địa bàn tỉnh... (Báo Vĩnh Phúc 31/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ đã triển khai nhiều biên pháp để quản lý bảo vệ rừng; trong đó, đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền trong nhân dân nên trong những tháng qua số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2014.
vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2014. Bên cạnh đó, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo về rừng trong khu bảo tồn.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, trong 10 tháng năm nay, tình hình các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã có chiều hướng giảm so với cùng kỳ năm trước; công tác quản lý và bảo vệ rừng, khoáng sản trên địa bàn được tăng cường kiểm tra, truy quét.
Cụ thể trong 10 tháng qua, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ đã phát hiện lập biên bản 36 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 10 vụ so với cùng kỳ năm 2014 , gồm có: 9 vụ khai thác rừng; 10 vụ vận chuyển, mua bán; 14 vụ cất giữ; 1 vụ sử dụng súng săn trái phép; 1 vụ mang cưa xăng vào rừng trái phép. Đối tượng vi phạm: Cá nhân: 6 vụ; vô chủ: 29 vụ.
Tổng lâm sản thu, giữ: 3,870 m3 gỗ tròn quý hiếm nhóm IIA; hơn 10 m3 gỗ xẻ. Phương tiện, dụng cụ thu, giữ: 5 xe máy, 1 ô tô, 5 cưa xăng, 4 súng săn, 1 nòng súng, 1 dao chặt.Tổng số tiền thu nộp ngân sách, 157.700.000 đồng, trong đó tiền xử phạt vi phạm hành chính 33.000.000 đồng, tiền bán tang vật, phương tiện tịch thu 124.700.000 đồng.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền xã tổ chức nhiều đợt truy quét khai thác vàng trái phép tập trung vào các lũng thuộc các xã Kim Hỷ, Lương Thượng với 200 lượt người tham gia, tiêu hủy mới tổng số 56 lán trại, 117 máy móc các loại, 150 lít dầu, chặt đứt 2.790 mét vòi dẫn nước.
Theo đồng chí Nguyễn Tiến Dũng- Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ: Trong những tháng qua, tình hình khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép cơ bản đã ngăn chặn được, tuy nhiên vẫn còn một số đối tượng lén lút khai thác, vận chuyển vào ban đêm, khai thác vật liệu làm nhà. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận người dân lén lút săn bắn, bẫy bắt động vật rừng trái phép.
Hoạt động khai thác vàng trái phép trong Khu bảo tồn đã hạn chế nhiều, số còn lại các đối tượng cố tình bám trụ mặc dù đã bị truy quét xử lý tiêu hủy máy móc, lán trại nhiều lần, đối tượng bỏ chạy lên rừng, một số chui trong hang sâu để trốn, một bộ phận người dân địa phương vẫn khai thác nhỏ lẻ… rất khó để ngăn chặn triệt để. Còn một số vụ khai thác rừng trái phép có tính chất nghiêm trọng chưa tìm ra được đối tượng khai thác trái phép vì không có manh mối.
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, những nguyên nhân chủ quan là: Lực lượng Kiểm lâm còn thiếu, một số yếu về nghiệp vụ; sự phối hợp giữa Trạm chốt với chính quyền địa phương có lúc chưa chặt chẽ; địa hình rừng núi đá hiểm trở gây khó khăn cho việc tiếp cận, truy bắt các đối tượng vi phạm. Hầu hết các đối tượng vi phạm rất ít đến dự các cuộc họp tuyên truyền thôn nên hiệu quả tuyên truyền trực tiếp chưa cao.
Số lượng dân số ở trong và xung quanh khu bảo tồn lớn, trên 11 nghìn nhân khẩu. Một số hộ còn thiếu đất, thiếu nước canh tác, không có việc làm thêm trong lúc nông nhàn, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn. Một số xã chưa thực sự quyết liệt trong việc tuyên truyền, vận động các chủ sở hữu cưa xăng đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và đưa về quản lý tập trung tại các trạm chốt Kiểm lâm theo đúng quy định.
Nhu cầu sử dụng gỗ quý hiếm để buôn bán, làm nhà ngày càng cao, lợi nhuận từ các hoạt động khai thác, buôn bán gỗ, khai thác khoáng sản trái phép quá cao, các đầu nậu hoạt động ngày càng tinh vi. Các chốt chặn liên ngành đã được UBND huyện ban hành Quyết định kiện toàn.
Tuy nhiên, lực lượng Công an cuối tháng 5/2015 mới cử người tham gia, lực lượng Kiểm lâm không có đủ người để đảm bảo trực 24/24 vì ngoài việc chốt chặn vẫn phải thực hiện nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác, do vậy các đối tượng lợi dụng sơ hở vận chuyển máy móc, xăng dầu vào các lũng bãi. Còn nhiều người từ nơi khác đến Kim Hỷ làm vàng, nhưng không quản lý được việc đăng ký tạm trú...
Nhằm thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn trong những tháng cuối năm, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ đưa ra những giải pháp như sau: Phối hợp với cấp ủy, chính quyền xã, cấp trên, các ngành liên quan tiếp tục tổ chức tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản của Đảng, Nhà nước quy định về quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và các văn bản có liên quan về quản lý bảo vệ rừng, PCCCR.
Tiếp tục tổ chức tuần tra, truy quét, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về khai thác, vận chuyển lâm sản, khai thác khoáng sản trái phép trong khu bảo tồn; chỉ đạo Tổ chốt liên ngành kết hợp chốt chặn và truy quét; các Trạm, Chốt tham mưu, phối hợp với chính quyền địa phương chủ động nắm bắt tình hình, tổ chức kiểm tra, mật phục ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm tại gốc; Phối hợp với Hạt Kiểm lâm liên quan, Đội Kiểm lâm cơ động, lực lượng Công an ngăn chặn xử lý việc vận chuyển lâm sản trái pháp luật tại các xã vùng đệm.
Phối hợp với chính quyền xã tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác giao khoán bảo vệ rừng đặc dụng; công tác hướng dẫn cộng đồng thôn bản thực hiện gói hỗ trợ 40 triệu đồng đối các thôn vùng đệm liền kề khu bảo tồn theo Quyết định 24 của Thủ tướng Chính phủ; tham mưu, phối hợp với chính quyền xã tiếp tục thực hiện cấp giấy chứng nhận, quản lý cưa xăng tập trung, cấp phép khai thác đúng quy định tại Thông tư 35 của Bộ NN & PTNT.
Chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn giám sát, đôn đốc và phối hợp chặt chẽ với các Tổ nhận khoán bảo vệ rừng tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng được giao theo định kỳ hoặc đột xuất; thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng tại những khu vực trọng điểm về cháy rừng; tăng cường công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền cơ sở, các ngành chức năng trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Phối hợp với các phòng chuyên môn của Chi cục tham mưu cho lãnh đạo Chi cục, Chủ tịch UBND huyện xử lý các vụ vi phạm hành chính theo đúng thẩm quyền và phối hợp chặt chẽ với các ngành trong khối nội chính, chính quyền cơ sở kiểm tra khám nghiệm hiện trường các vụ khai thác rừng trái phép có tính chất nghiêm trọng, hoàn thiện hồ sơ đưa các đối tượng vi phạm ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe phòng ngừa chung.
Bên cạnh đó, đề nghị Chi cục Kiểm lâm tăng cường thêm cán bộ cho đơn vị để tiếp tục tổ chức truy quét, xử lý các đối tượng khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép trong Khu bảo tồn theo kế hoạch của tỉnh; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ Kiểm lâm.
Đề nghị Huyện ủy, UBND huyện Na Rì chỉ đạo cấp ủy, chính quyền cơ sở, các ngành liên quan tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 08 của Ban thường vụ Tỉnh ủy; Quyết định 1718 của UBND tỉnh về quản lý cưa xăng và phương tiện độ chế. Đề nghị cấp ủy, chính quyền các xã tăng cường phối hợp trong công tác tuyên truyền, xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, thường xuyên đôn đốc các tổ nhận khoán tăng cường tuần tra, kiểm tra rừng và hỗ trợ, hướng dẫn thôn xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ phát triển cộng đồng theo đúng quy định và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của xã... (Công An Bắc Kạn 30/10) đầu trang(
Trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng ngày càng được các cấp, các ngành của huyện Bắc Mê quan tâm chú trọng.
Hiện nay, huyện Bắc Mê có 49.957 ha rừng, địa bàn rộng, đường đi lại phức tạp, lực lượng cán bộ chuyên ngành còn mỏng nên gặp không ít khó khăn trong công tác QLBVR. Để khắc phục tình trạng này, huyện đã thành lập các đội QLBVR dưới sự giám sát và chỉ đạo của Hạt Kiểm lâm huyện và phối hợp với Trạm Kiểm lâm trên địa bàn đã kiện toàn 14 Ban BVR và phòng, cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của huyện, các xã, thị trấn và 138 tổ tại cơ sở.
Cùng với đó, việc nâng cao trách nhiệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực BVR của các cấp ủy, chính quyền địa phương thường xuyên phối hợp tổ chức tốt hoạt động tuyên truyền, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm luật BV-PTR, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Nhờ vậy, trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện không còn điểm nóng về khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Để duy trì tốt các hoạt động BVR, huyện đã triển khai thành lập các Tổ BV-PTR ở 100% thôn bản trên địa bàn huyện. Trong 6 tháng đầu năm 2015, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với chính quyền xã và các Tổ tự quản tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng cho 2.532 lượt người, ký cam kết luật BVR với trên 2.500 gia đình có nương rẫy liền rừng, thống kê, ký cam kết sử dụng máy cưa xăng với 208 hộ; phát hiện và xử lý 35 vụ vi phạm trong lĩnh vực BVR và quản lý lâm sản, phạt tiền và nộp ngân sách Nhà nước trên 354 triệu đồng.
Ông Nguyễn Văn Ngà, Trưởng thôn Bản Noong, xã Lạc Nông cho biết: Tổ chúng tôi giao ban mỗi tháng một lần và thường xuyên vào rừng kiểm tra để nắm bắt thông tin BVR, không để người dân vào khai thác rừng trái phép; đến nay, ý thức BVR của bà con đã được nâng lên. Anh Nguyễn Văn Hồng, thành viên Tổ tự quản BVR, xã Lạc Nông cho biết: Tổ QLBVR từ khi thành lập đến nay các thành viên trong tổ hàng tháng đều đi tuần tra, có tháng đi 4 - 6 lần/tháng, anh em tích cực nên tình trạng người dân vào khai thác rừng đã giảm.
Ông Nguyễn Trung Kiên, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Mê cho biết: Với sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền huyện, đặc biệt là thực hiện quy chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm, Công an, dân quân tự vệ và UBND các xã trong thời gian vừa qua các lực lượng chức năng cũng như UBND cấp xã thực hiện rất tốt công tác QLBVR; tăng cường cán bộ Kiểm lâm xuống địa bàn tham mưu trực tiếp với chính quyền địa phương tổ chức thực hiện, triển khai công tác QLBVR; thành lập các tổ tự quản, thường xuyên tuần tra kiểm soát các khu vực trọng điểm và xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở. Thời gian qua, công tác QLBVR có chuyển biến tích cực, không có điểm nóng về khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản xảy ra trên địa bàn.
Thực hiện Nghị định 74 của Chính phủ, Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên phối hợp tốt với các lực lượng vũ trang trong công tác QLBVR, PCCCR như: Trao đổi thông tin; xây dựng phương án QLBVR; tổ chức tuyên truyền; huấn luyện tổ đội quần chúng; huy động các lực lượng tham gia tuần tra BVR, PCCCR; tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố. Qua đó, đã góp phần ngăn chặn và đẩy lùi khai thác, buôn bán lâm sản trái phép. Một trong những thành công trong công tác QLBVR chính là việc huy động được sức mạnh của toàn dân.
Những năm về trước, xã Lạc Nông luôn là điểm nóng về tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. Chính quyền địa phương và Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp chặt chẽ tích cực triển khai các biện pháp ngăn chặn, nên hiện nay, trên địa bàn không còn sảy ra các vụ vi phạm lâm luật. Xã Lạc Nông có 1.762 ha rừng đặc dụng, điều kiện giao thông tương đối thuận lợi, vì vậy, các đối tượng khai thác buôn bán lâm sản trái phép rễ có cơ hội thực hiện hành vi chặt phá rừng.
Để vận động người dân tích cực tham gia BVR, Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên bám sát địa bàn, thu thập thông tin từ quần chúng, từ đó, đề ra những giải pháp ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật về luật bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện thường xuyên với hình thức phong phú đã giúp người dân nâng cao nhận thức về pháp luật, không tham gia vận chuyển lâm sản trái phép.
Trao đổi với chúng tôi, ông Triệu Trung Hiệp, Chủ tịch UBND huyện Bắc Mê cho biết: Hằng năm, UBND huyện yêu cầu các xã, đặc biệt là lực lượng Kiểm lâm ngay từ đầu năm phải kiện toàn các Tổ QLBVR. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để bảo vệ rừng. Đến thời điểm này, việc QLBVR trên địa bàn huyện đang hoạt động rất hiệu quả. Đặc biệt, nhận thức của người dân so với mấy năm trước đã được nâng lên; lực lượng Kiểm lâm được tăng cường; tất cả các cấp ủy chính quyền đều tập chung chỉ đạo. (Báo Hà Giang 31/10) đầu trang(
Từ đầu năm 2015, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật trong quá trình thực hiện các dự án nông, lâm nghiệp (NLN) trên địa bàn, kiên quyết xử lý, chấn chỉnh những sai phạm trong quản lý bảo vệ rừng của các doanh nghiệp.
Toàn tỉnh hiện có 74 dự án (DA) NLN đang triển khai đầu tư, trong đó 35 DA trồng, cải tạo, quản lý bảo vệ rừng (QLBVR); 39 DA trồng cao su. Trong số 35 DA trồng, cải tạo rừng với tổng diện tích trên 30.600 ha, có 29 DA đã được phép triển khai thực hiện, các doanh nghiệp (DN) đã trồng phát triển được trên 7.800 ha rừng kinh tế, cây ăn quả, bông vải với tổng vốn đầu tư trên 266 tỷ đồng, thu hút khoảng 1.470 lao động.
Trong số 39 DA trồng cao su với tổng diện tích trên 28.000 ha, có 28 dự án đã triển khai thực hiện (26 DA có quyết định cho thuê đất và 2 DA liên kết với cộng đồng thôn, buôn, công ty TNHH MTV lâm nghiệp), đã trồng mới trên 7.800 ha, tổng vốn đã đầu tư trên 959 tỷ đồng, thu hút khoảng 1.800 lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, những năm gần đây, rừng ở vùng DA luôn bị xâm chiếm trái phép, tình trạng lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp xảy ra khá phức tạp. Để chấn chỉnh, xử lý dứt điểm các sai phạm trong công tác QLBVR đối với các DA này, ngày 23-1-2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 226/QĐ-UBND phê duyệt kế hoạch kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật trong thực hiện các DA đầu tư, tiếp đó ngày 26-6, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1595/QĐ-UBND về thành lập đoàn kiểm tra liên ngành đánh giá tình hình triển khai thực hiện các DA trên địa bàn.
Qua kết quả kiểm tra, trên diện tích rừng quản lý bảo vệ của các DA được thuê đất, thuê rừng có dấu hiệu suy giảm số lượng loài cây và chất lượng rừng so với trước khi giao. Bên cạnh đó, hầu hết, các DN thực hiện DA còn chậm so với tiến độ đã được phê duyệt, xảy ra tình trạng tranh chấp đất đai…
Một số DA có nhiều sai phạm trong quá trình triển khai gồm: DA trồng cao su của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Tân Phú Hưng tại xã Ea Sol (Ea H’leo); DA trồng cao su và QLBVR của Công ty TNHH Anh Quốc tại tiểu khu 293 xã Cư M’lan (Ea Súp); DA cải tạo, BVPTR của Công ty Cổ phần địa ốc Thái Bình tại tiểu khu 267, 268 xã Ea Bung (Ea Súp).
Đối với những sai phạm của các DN này, UBND tỉnh đã giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) chủ trì, phối hợp với ngành chức năng làm việc với các chủ dự án. Qua đó đã đề nghị UBND tỉnh đồng ý chủ trương cho DN trên được phép gia hạn thời gian thực hiện DA đến ngày 1-7-2016, hết thời gian gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì thu hồi mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất. Đối với DA của Công ty TNHH TM và SX Lộc Phát tại tiểu khu 106 xã Ea Hiao (Ea H’leo), Sở TN – MT cũng đã ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng 48 ha đất không đúng mục đích, đồng thời yêu cầu DN này trồng lại rừng trên diện tích đất này.
Đối với sai phạm của Công ty Cổ phần Bảo Ngọc đã san ủi trái phép 7 ha rừng thuộc DA cải tạo, bảo vệ và phát triển rừng kết hợp chăn nuôi gia súc tại tiểu khu 235, 237 xã Ea Bung (Ea Súp); Công ty Cổ phần XD – TM Đại Hưng đã cày xới khoảng 59,97 ha rừng và đất rừng thuộc DA cải tạo bảo vệ và phát triển rừng tại tiểu khu 225 xã Ia R’vê (Ea Súp) khi chưa được cấp thẩm quyền cho phép; Công ty TNHH 27/7 tại xã Ea Bung khai hoang trái phép 38,66 ha trong diện tích quy hoạch cải tạo rừng để trồng cao su…, UBND tỉnh đã giao Công an tỉnh chỉ đạo các đơn vị liên quan điều tra làm rõ những sai phạm trên, báo cáo UBND tỉnh xử lý. (Báo Đắk Lắk 31/10) đầu trang(
Ngày 30/10, Ban quản lý Chương trình UN-REDD II tỉnh Cà Mau tổ chức hội thảo phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giữa Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.
Tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu là hai tỉnh giáp ranh có những điểm tương đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Thời gian gần đây, nhiều vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhất là vận chuyển động vật hoang dã trái phép giữa khu vực giáp ranh ở hai tỉnh chưa được phát hiện và xử lý kịp thời. Trong khi đó mối quan hệ giữa hai Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu chỉ thực hiện trong giới hạn chia sẻ những thông tin, chưa ký kết quy chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Tại hội thảo, Chi cục Kiểm lâm hai tỉnh đã trao đổi những kinh nghiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, đồng thời thống nhất ký kết chính thức quy chế phối hợp giữa hai tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 31/10) đầu trang(
Nghề nuôi ong lấy mật vốn có từ lâu ở Quảng Bình, nhiều hộ dân đã thoát nghèo, một số khác cũng giàu lên nhờ nuôi ong. Ở các xã thuộc vùng đệm VQG Phong Nha-Kẻ Bàng như Xuân Trạch (Bố Trạch); Dân Hóa, Thượng Hóa, Hóa Sơn, Trung Hóa (Minh Hóa) nhờ sự hỗ trợ của dự án GIZ (thuộc Dự án khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng) cũng đã tiếp cận được với mô hình nuôi ong lấy mật. Nhờ đó, người dân dần có nguồn thu nhập ổn định, hạn chế việc vào rừng khai thác lâm, thổ sản.
Đến xã Thượng Hóa vào đúng mùa hoa rừng nở rộ, chúng tôi tìm gặp ông Đinh Xuân Đến (ở thôn Quyền), một trong những hộ dân được dự án GIZ hỗ trợ mô hình nuôi ong lấy mật. Được hỏi thăm về mô hình nuôi ong của gia đình, ông Đến phấn khởi chia sẻ: “Hồi đầu tháng 4 năm 2015, tôi được xã mời tham gia lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi ong lấy mật do dự án GIZ tổ chức.
Sau đó, dự án hỗ trợ cho gia đình tôi 3 đàn ong và các dụng cụ để nuôi. Rất vui là từ đó đến nay đàn ong phát triển tốt, tăng thêm 2 đàn, tôi đã thu hoạch được 15kg mật, bán giá 200.000 đồng/kg (1kg tương đương 1 chai 700ml)”.
Được biết, lâu nay bà con xã Thượng Hóa, Trung Hóa, Xuân Trạch... vốn quen với việc trồng rừng và khai thác lâm thổ sản để sống. Việc sống dựa vào rừng, trồng rừng kinh tế nhiều lúc cũng gây “xung đột” với những diện tích rừng tự nhiên. Bên cạnh đó, bà con có nhu cầu sửa nhà, đóng chuồng lợn, chuồng bò... cũng phải lên rừng kiếm gỗ, chặt cây. Nhưng từ khi có nghề nuôi ong, các hộ gia đình ở đây bắt đầu ít phụ thuộc vào rừng hơn, họ chú tâm phát triển đàn ong, quay lấy mật đều đặn bán cho thương lái.
Ông Cao Xuân Quảng, một hộ nuôi ong ở thôn 2 Tiền Phong, xã Trung Hóa cho biết: “Nếu tính lợi nhuận kinh tế từ khai thác lâm, thổ sản so với nghề nuôi ong có khi không bằng, mà lại vất vả và nguy hiểm hơn nhiều. Trong khi nếu chịu khó chăm chút, thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật thì nghề nuôi ong sẽ cho thu nhập khá cao.
Như gia đình tôi hiện có 27 đàn ong (trong đó có 3 đàn của dự án GIZ hỗ trợ, phát triển thêm được 6 đàn), mỗi năm lấy được trung bình khoảng 3 tạ mật, thu về trên 50 triệu đồng, có thể ổn định sản xuất, không sống phụ thuộc vào rừng nữa”.
Từ tháng 4-2015 đến nay, mô hình nuôi ong lấy mật do dự án GIZ hỗ trợ đã phát triển lên 139 đàn, tăng 13 đàn; tổng lượng mật thu được 326kg, bình quân 7,7kg/hộ. Đây là nghề mới, tuy bà con vừa làm vừa học tập kinh nghiệm nhưng đã cho thu nhập khá ổn định. Nhờ thế, tình trạng vào rừng khai thác lâm, thổ sản của người dân dần hạn chế, tạo sự thuận lợi trong việc quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng đệm VQG Phong Nha-Kẻ Bàng.
Nhằm hỗ trợ cho bà con phát triển đàn ong bền vững, dự án GIZ đã phối hợp với đội ngũ chuyên gia tư vấn Công ty TNHH Sinh Thái Miền Tây Quảng Bình và đội ngũ kỹ thuật viên thôn bản tâm huyết, có ý thức, nắm chắc kỹ thuật để sẵn sàng thường xuyên hỗ trợ, tư vấn cho các hộ gia đình nuôi ong và những ai có mong muốn phát triển mô hình này.
Bên cạnh đó, để bảo đảm khâu bao tiêu sản phẩm, dự án GIZ cũng đã liên kết với Công ty TNHH Sinh Thái Miền Tây Quảng Bình ký các cam kết về thu mua sản phẩm mật ong cho các hộ gia đình nuôi ong trong phạm vi thực hiện của dự án.
Trong thời gian tới, dự án sẽ đề xuất đầu tư thêm các trang thiết bị phục vụ quá trình nuôi, khai thác và bảo quản mật ong chất lượng cao như: máy làm tầng chân, máy đóng nút chai, máy kiểm tra thủy phần, thống nhất mẫu mã sản phẩm; tiến hành xây dựng nhãn hiệu tập thể cho mật ong 5 xã vùng đệm (Xuân Trạch, Dân Hóa, Thượng Hóa, Hóa Sơn, Trung Hóa) “Mật ong Phong Nha”, ký kết hợp đồng sản xuất mật ong sạch, mật ong chất lượng cao với các doanh nghiệp, đầu mối thu mua sản phẩm... (Nông Thôn Mới Hà Tĩnh 29/10) đầu trang(
Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh xác định, diện tích khai thác than trái phép thuộc tiểu khu 62 (xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ), thuộc rừng phòng hộ Yên Lập. Lãnh đạo Công an tỉnh này đề nghị xử lí trách nhiệm tổ chức cá nhân liên quan.
Thông tin từ CA tỉnh Quảng Ninh cho biết, lực lượng CSĐT CA tỉnh này vừa phát hiện và bắt giữ vụ khai thác than trái phép tại xã Tân Dân (Hoành Bồ, Quảng Ninh). Đáng chú ý, khu vực các đối tượng khai thác than trái phép này nằm trong diện tích rừng phòng hộ Yên Lập.
Lãnh đạo CA tỉnh Quảng Ninh đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh xử lí trách nhiệm các tập thể cá nhân có liên quan tại địa phương.
Ngày 30/10, ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh đã đi kiểm tra thực tế và làm việc với UBND huyện Hoành Bồ về việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than...
Tại buổi làm việc, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh yêu cầu Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo BQL rừng phòng hộ Yên Lập tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý tình trạng khai thác than trái phép trong khu vực rừng phòng hộ Yên Lập; đồng thời kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và xử lý đối với tập thể, cá nhân có liên quan đến việc để xảy ra khai thác than trái phép tại tiểu khu 62 xã Tân Dân và báo cáo UBND tỉnh trước ngày 10/11/2015.
Đối với UBND huyện Hoành Bồ, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh yêu cầu thực hiện nghiêm túc công tác quản lý nhà nước, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị của ngành Than trên địa bàn, thường xuyên kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ than trái phép; tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân người đứng đầu UBND huyện, xã Tân Dân và các cá nhân liên quan đến vụ việc trên.
Liên quan đến vụ việc, bước đầu UBND huyện Hoành Bồ tạm đình chỉ công tác điều hành của Chủ tịch UBND xã Tân Dân để kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu địa phương để xảy ra tình trạng khai thác than trái phép tại vị trí trên. (Dân Trí 31/10) đầu trang(
Ngày 11.10.2015, lực lượng liên ngành huyện Ngọc Hiển tuần tra tuyến rừng phòng hộ rất xung yếu thuộc địa bàn xã Viên An Đông thì phát hiện nhiều đối tượng khả nghi từ trong rừng bỏ chạy, lực lượng liên ngành tiến hành tiếp cận các đối tượng thì bị chống đối quyết liệt và làm bị thương một cán bộ Ban Quản lý rừng, làm hư hỏng nhẹ phương tiện truy bắt.
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 11/10/2015, lực lượng làm nhiệm vụ gồm Công an, Xã đội Viên An Đông, Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hiển, Đội tuần tra cơ động và các cán bộ Tiểu khu thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên phối hợp tuần tra tuyến rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn xã Viên An Đông.
Khi đến khoảnh 69 thuộc Tiểu khu 219 thì lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện có nhiều đối tượng từ trong rừng chạy ra bờ biển và lên ba phương tiện võ máy bỏ chạy, thấy có dấu hiệu khả nghi nên lực lượng làm nhiệm vụ truy đuổi theo, tuy nhiên do trời tối, ảnh hưởng của sóng biển nên lực lượng làm nhiệm vụ chỉ đuổi kịp phương tiện võ composite máy nổ Vanguard 6.0HP do Nguyễn Hoàng Khang điều khiển chở Huỳnh Văn Luận ngụ ở ấp Kinh Năm, xã Viên An Đông.
Khi lực lượng làm nhiệm vụ áp sát phương tiện lại thì Luận và Khang quyết liệt chống đối không cho lực lượng làm nhiệm vụ tiếp cận, Luận ngồi trước mũi võ dùng búa chặt gỗ quơ qua, quơ lại đe dọa, còn Khang dùng đá 4x6 và cây dằm gỗ ném về phía các phương tiện làm nhiệm vụ nhưng không trúng. Lực lượng làm nhiệm vụ áp sát thì Luận bỏ búa nhảy xuống biển để tẩu thoát, còn Khang dùng hai tay nhấc máy Vanguard 6.0 HP đang hoạt động nhằm đưa chân vịt máy qua lại về hướng phương tiện làm nhiệm vụ không cho áp sát, chân vịt máy chém trúng vào nhiều vị trí trên phương tiện làm nhiệm vụ, đồng thời chém trúng vào tay một cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên gây thương tích nặng.
Liền lúc này nhiều cán bộ nhảy qua phương tiện của Khang khống chế, tắt máy và bắt Khang. Đối với Luận sau khi nhảy xuống biển cũng bị lực lượng làm nhiệm vụ vây bắt. Sau đó lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành đến vị trí các đối tượng bỏ chạy thì phát hiện cách bờ biển khoảng 60m có rất nhiều cây gỗ đước bị đốn chặt chưa kịp vận chuyển.
Qua đấu tranh của các cơ quan chức năng, Luận và Khang khai còn 06 đối tượng khác đi trên hai phương tiện võ composite máy HonDa 13CV là những người cùng đi trộm cây rừng nhưng đã chạy thoát. Kết quả khám hiện trường ghi nhận có diện tích rừng bị chặt phá là 3250 m2 , gỗ đước thu tại hiện trường là 8m3 đây là rừng phòng hộ rất xung yếu cách bờ biển là 60 mét do Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên quản lý.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố và tạm giam Huỳnh Văn Luận và Nguyễn Hoàng Khang về hành vi chống người thi hành công vụ, đồng thời giám định thiệt hại rừng để xử lý vụ án. (VKSND Tỉnh Cà Mau 29/10) đầu trang(
Công an cấp bộ, tỉnh đều kết luận: Không có buôn lậu gỗ. Công ty bị hải quan cáo buộc nhập gỗ lậu kêu cứu Thủ tướng.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Quách Phi Long, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Sản xuất XNK Bảo Ngọc Bình Phước (viết tắt là Công ty Bảo Ngọc) ở huyện Lộc Ninh, Bình Phước, cho biết đã gửi đơn cầu cứu Thủ tướng và nhiều bộ, ngành việc công ty ông bị khởi tố oan, sai.
“Phía hải quan cho rằng tôi tổ chức nhập lậu gỗ nên ra quyết định khởi tố vụ án. Hàng hóa bị “giam”, tôi bị cấm xuất cảnh trong một thời gian dài nên đã không thể giải quyết các yêu cầu của đối tác dẫn đến doanh nghiệp bị thiệt hại hàng chục tỉ đồng. Sự việc xảy ra đã 22 tháng qua, đến nay Cơ quan CSĐT thuộc Bộ Công an và tỉnh Bình Phước kết luận chúng tôi không buôn lậu gỗ nhưng phía hải quan vẫn chưa chịu giải tỏa hàng” - ông Long nói.
Theo ông Long, từ ngày 29-11-2013 đến ngày 7-12-2013, Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan (gọi tắt là Cục Điều tra) phối hợp kiểm tra 12 container gỗ (gần 322 m3) ở cảng Cát Lái. Số gỗ này được nhập vào cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (Bình Phước). Qua kiểm tra cho thấy toàn bộ đều là gỗ giáng hương, không phải là gỗ trắc như nghi vấn ban đầu.
Ông Long khẳng định số gỗ này được Công ty Bảo Ngọc nhập khẩu theo hợp đồng đã ký với Công ty LoKo Tranding Import Export (Lào) vào cuối tháng 6-2011. Số gỗ đi quá cảnh qua Campuchia vào Việt Nam để xuất bán cho một công ty ở Đan Mạch theo hợp đồng đã ký. Việc nhập khẩu theo đúng thủ tục và Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Hoa Lư cho phép mở tờ khai tạm nhập và tái xuất (cùng ngày 18-11-2013). “Trước khi nhập gỗ, Công ty Bảo Ngọc đã có văn bản xin hướng dẫn các bộ, ngành liên quan về quy trình nhập số gỗ trên và công ty đã thực hiện theo quy trình được hướng dẫn” - ông Long nói.
Tuy vậy, ngày 22-11-2013, tổ công tác của Cục Điều tra đã không cho thông quan xuất khẩu lô hàng đi nước thứ ba theo hợp đồng giữa Công ty Bảo Ngọc và công ty ở Đan Mạch. Toàn bộ 12 container gỗ tại cảng Cát Lái bị tạm giữ cho đến nay.
Cùng ngày 22-11-2013, Hải quan cửa khẩu quốc tế Dinh Bà (Đồng Tháp) cũng kiểm tra 100% lô gỗ của Công ty Bảo Ngọc. Kết quả cho thấy đây là gỗ hương, cẩm lai đúng như khai báo, song cơ quan hải quan cho biết không giải quyết vì Công ty Bảo Ngọc đang bị điều tra.
Như vậy, chủng loại gỗ kiểm tra là đúng theo khai báo và không có gỗ trắc như nghi vấn ban đầu. Dù vậy, gần giữa tháng 5-2014, Cục Điều tra vẫn ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu xảy ra tại cửa khẩu quốc tế Hoa Lư. Hơn ba tháng sau, Cục Điều tra tiếp tục khởi tố vụ án buôn lậu xảy ra ở cửa khẩu quốc tế Dinh Bà.
Câu chuyện này gây nhiều ồn ào vào lúc này vì đây là lần đầu tiên Cục Điều tra ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu gỗ đối với Công ty Bảo Ngọc, được xem là một doanh nghiệp xuất khẩu gỗ lớn nhất của Bình Phước. Ngoài ra, một số cán bộ hải quan ở cửa khẩu Hoa Lư còn bị xem xét trách nhiệm.
Vài ngày sau khi khởi tố, Cục Điều tra đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44). Đến giữa tháng 4-2015, Thiếu tướng Vũ Quang Hưng - Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44) đã ra quyết định đình chỉ điều tra đối với vụ án hình sự buôn lậu xảy ra tại cửa khẩu Dinh Bà.
C44 cũng chuyển giao hồ sơ vụ án buôn lậu ở cửa khẩu Hoa Lư cho PC46 - Công an tỉnh Bình Phước. Sau đó ngày 12-9, PC46 Bình Phước ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án vì không cấu thành tội phạm. Theo PC46, kết quả trả lời ủy thác tư pháp của VKSND tỉnh Champasak (Lào) xác định TAND tỉnh Champasak đã thụ lý đơn khởi kiện của Công ty LoKo về hợp đồng mua bán gỗ với Công ty Bảo Ngọc. Việc mua gỗ giữa Công ty Bảo Ngọc với công ty bên Lào là có thật và không đủ cơ sở xác định Công ty Bảo Ngọc buôn lậu gỗ.
Ngoài ra, PC46 Bình Phước kết luận về ý thức chủ quan không đủ cơ sở xác định ông Long - Phó Giám đốc Công ty Bảo Ngọc buôn lậu gỗ vì trước khi nhập khẩu ông Long đã có công văn hỏi Tổng cục Hải quan và Chi cục Hải quan Hoa Lư cũng xác định hồ sơ nhập khẩu gỗ của Công ty Bảo Ngọc là đầy đủ, hợp lệ và cho thông quan.
Theo PC46, yêu cầu của Cục Điều tra về việc Công ty Bảo Ngọc phải xuất trình chứng từ thể hiện hàng hóa có nguồn gốc hợp pháp từ Lào, xuất trình giấy phép cho quá cảnh qua Campuchia là không phù hợp. Theo Công văn 2491 của Tổng cục Hải quan gửi Bộ Công Thương ngày 10-5-2013 thì hải quan Việt Nam không có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các chứng từ ngoài bộ hồ sơ hải quan nói chung và các chứng từ liên quan đến quản lý hàng quá cảnh của Campuchia nói riêng.
Ngoài ra, hiệp định quá cảnh hàng hóa giữa Campuchia và Việt Nam không quy định doanh nghiệp Việt Nam phải cung cấp chứng từ hồ sơ, giấy phép nước cho quá cảnh (Campuchia); không quy định phía Campuchia phải gửi hồ sơ quá cảnh cho Việt Nam. Theo PC46, hiệp định và hồ sơ hải quan đều không quy định phải có giấy phép quá cảnh khi làm thủ tục nhập gỗ. Do vậy, PC46 kết luận hành vi nhập khẩu gỗ của những người có trách nhiệm ở Công ty Bảo Ngọc không cấu thành tội phạm.
Theo Cục Hải quan tỉnh Bình Phước, mọi thẩm quyền giải quyết số gỗ trên thuộc về lãnh đạo Tổng cục Hải quan và Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan thuộc Tổng cục. Đầu tháng 10-2015, ông Nguyễn Phi Hùng - Cục trưởng Cục Điều tra có văn bản gửi Công ty Bảo Ngọc cho biết vụ án hiện thuộc thẩm quyền của Cơ quan CSĐT của Bộ Công an (C44) nên đề nghị Công ty Bảo Ngọc liên hệ với C44 để được xem xét giải quyết.
Trong khi đó, C44 và PC46 Bình Phước cho biết các vụ án đã bị đình chỉ. PC46 Bình Phước còn kiến nghị xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại toàn bộ số gỗ cho Công ty Bảo Ngọc bị Cục Điều tra thu giữ. Một lãnh đạo VKSND tỉnh Bình Phước cũng cho biết vụ án qua các bước điều tra các cơ quan liên quan đã họp liên ngành và kết luận đình chỉ vụ án buôn lậu.
Pháp Luật TP.HCM đã nhiều lần liên hệ với Cục Điều tra để tìm hiểu thêm thông tin về chuyện giải tỏa số gỗ song vẫn chưa gặp được người có trách nhiệm, chưa được trả lời. (Pháp Luật TP.HCM 31/10) đầu trang(
Theo ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn: Thời gian gần đây, tình trạng chặt phá, vận chuyển lâm sản trái phép tại khu vực VQG Yok Đôn (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) tiếp tục diễn biến phức tạp.
Từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng đã phát hiện gần 600 cây gỗ quý bị chặt phá, vận chuyển tại khu vực VQG Yok Đôn. Vào đầu tháng 9 vừa qua, VQG Yok Đôn và Chi cục Kiểm lâm vùng 4 đã phát hiện điểm tập kết gỗ dưới lòng suối Đắk Đam, cách Đồn biên phòng 747 khoảng 1km.
Cũng theo ông Tùng, hàng ngày vẫn còn khoảng 500 người dân ra vào rừng VQG Yok Đôn chăn thả gia súc và canh tác nương rẫy. Trong khi đó, tại vùng lõi của vườn có buôn Đrăng Phốk (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) với hàng trăm hộ dân sinh sống và một số đối tượng đã trà trộn vào vườn chặt phá, vận chuyển gỗ ra ngoài gây khó khăn cho việc quản lý và bảo vệ rừng VQG Yok Đôn. (Sài Gòn Giải Phóng 31/10) đầu trang(
Rừng phòng hộ ven biển thuộc huyện An Minh mỗi năm bị nước biển xâm thực 40ha, gây tác động không nhỏ đến môi trường và cuộc sống người dân.
Trong vài năm trở lại đây, thời tiết có nhiều thay đổi bất thường, nhiệt độ tăng dần hàng năm, đất ven biển thì bị xâm thực. Điển hình như rừng phòng hộ ven biển thuộc huyện An Minh – Kiên Giang, mỗi năm bị nước biển xâm thực 40ha, gây tác động không nhỏ đến môi trường và cuộc sống của người dân. Đây là một vấn đề cấp thiết, cần có sự can thiệp kịp thời của các nhà khoa học, cũng như các sở ngành.
Rừng phòng hộ ven biển huyện An Minh có tổng diện tích 4.029 ha, bờ biển dài 38 km. Những năm qua, địa phương đã giao khoán hơn 1.600 ha rừng cho người dân ở 4 xã Vân Khánh Tây, Vân Khánh, Tân Thạnh và Thuận Hòa để làm công tác bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, 5 năm gần đây, 200ha rừng phòng hộ đã bị mất do nước biển xâm thực, nơi sâu nhất là 150m, nơi ít nhất 60m, có nơi nước biển cách đê quốc phòng chỉ còn 80m.
Rừng đang bị xâm thực mỗi ngày khiến cho môi trường sống bị thay đổi, cuộc sống của người dân đang bị đe dọa. Đây là một vấn đề trăn trở, đối với nhưng người làm công tác quản lý rừng ở địa phương.
Ông Trần Phi Hải, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ ven biển, huyện An Minh cho biết: “Trong thời gian qua, Ban quản lý rừng An Minh quản lý rừng phòng hộ chiều dài 38km. Hiện nay, tình hình sạt lở trên bờ biển rất nghiêm trọng. Từ năm 2010 đến nay xói lở đã làm mất 200ha rừng phòng hộ ven biển”.
Tân Khánh Tây là xã chịu sự xâm thực nghiêm trọng nhất, với chiều dài gần 4.000m, tương đương 32ha, kéo dài từ rạch Kim Quy đến rạch Tiểu Dừa giáp Cà Mau. Trung bình mỗi năm xã mất hơn 6ha rừng.
Anh Nguyễn Văn Quyển, người dân địa phương cho biết: đất bắt đầu bị cuốn trôi từ năm 2009, nhưng nghiêm trọng nhất là từ năm 2012 đến nay. Mỗi năm nước biển cuốn trôi cả công đất và hầu như không có bồi, cây cối nhà cửa đều bị cuốn trôi.
Còn ông Nguyễn Văn Á, năm nay gần 70 tuổi, đã gắn bó với rừng mấy chục năm nay cho biết: khi xưa đất vẫn lở, nhưng lại có bồi, còn vài năm trở lại đây, thì đất lở nghiêm trọng, mỗi năm ăn sâu vào đê quốc phòng khoảng 30m khiến cuộc sống của những người dân nơi đây đang bị đảo lộn.
Chỉ 5 năm gần đây, rừng phòng hộ ven biển huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã bị xâm thực 200ha, tương đương 5% diện tích. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, số diện tích rừng còn lại hơn 3.800ha của huyện đứng trước nguy cơ bị nước biển xóa sổ. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 2/11) đầu trang(
Trước thực trạng nguồn dược liệu vùng Thất Sơn (An Giang) ngày càng cạn kiệt, Chi cục Kiểm lâm (CCKL) An Giang đang tích cực triển khai nhiều phương án khôi phục lại vùng rừng dược liệu quý hiếm này.
Từng được mệnh danh là “kho thuốc núi” của miền Tây, nguồn dược liệu ở vùng núi Thất Sơn được biết đến từ lâu đời với số lượng dược liệu rất lớn và phong phú về chủng loại, như xuyên tâm liên, sâm ba kích, cà gai leo, hà thủ ô, mật nhân... Tuy nhiên, việc người dân khai thác tự phát và ồ ạt nhiều năm qua đã làm cạn kiệt nguồn dược liệu quý này, trong đó có cả những loại thuộc danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam.
Về thực trạng này, CCKL An Giang cho biết, hiện nay việc quản lý tình trạng khai thác dược liệu không đúng quy định rất khó do chưa có chế tài, cần phải có sự phối hợp của nhiều ngành. Còn biện pháp hữu hiệu hiện nay mới chỉ là kêu gọi ý thức từ cộng đồng.
Ông Bành Thanh Hùng - Trưởng phòng Bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên CCKL An Giang cho biết, đa số những người sưu tầm dược liệu với thiện ý giúp cứu người, nhưng vì không có ý thức bảo tồn và không biết phương pháp khai thác nên đã làm cạn kiệt nguồn dược liệu đến mức báo động.
“Trước tình hình này, chúng tôi đã tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền để “đánh động” ý thức người khai thác nguồn dược liệu ở vùng Bảy Núi. Ngoài ra chúng tôi còn hợp tác, tuyên truyền với đồng bào nhận khoán đất trồng rừng để nâng cao ý thức cộng đồng về bảo tồn nguồn dược liệu” – ông Hùng thông tin.
Song song với việc kêu gọi người dân khai thác có ý thức các loại thảo dược ngoài thiên nhiên, CCKL An Giang cũng quy hoạch chi tiết những vùng trồng các loại dược liệu có tính chiến lược, trong đó chú trọng xây dựng “vườn cây dược liệu gia đình” trên cơ sở vườn dược liệu sẵn có của các hộ có truyền thống lâu đời trồng dược liệu. “Nguồn gen thuốc quý sẽ được bảo tồn theo hình thức vườn cây dược liệu gia đình để lưu truyền và phát triển những loại gen, giống cây dược liệu quý. Theo kế hoạch, các vườn dược liệu có diện tích khoảng 100ha, rải đều ở các núi” – ông Hùng cho biết thêm.
Cũng theo Sở NNPTNT An Giang, bước đầu trồng thử nghiệm cho thấy nhiều loại dược liệu quý đã thích nghi tốt ở một số vùng núi. Đặc biệt ở núi Cấm, các loại như sa nhân tím, đinh lăng, nghệ đen... đang phát triển tốt. Ông Trần Hiếu Thuận - Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Tịnh Biên cho biết: “Chúng tôi vừa triển khai trong dân dự án trồng thử nghiệm nghệ đen, có hợp đồng bao tiêu hoặc phương án lo đầu ra, sau đó nếu hiệu quả sẽ nhân rộng mô hình với các loại thảo dược khác nằm trong danh mục quy hoạch của tỉnh”.
Ông Hùng cũng cho biết việc quy hoạch tái tạo rừng dược liệu Thất Sơn cũng đã hoạch định vùng cấm khai thác cây dược liệu thiên nhiên với tổng diện tích khoanh vùng trên 2.000ha. Theo đó, một số cây như thổ phục linh, dây chiều, hà thủ ô trắng… sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt. (Dân Việt 30/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hiện nay, Thanh Hóa có 93.330 ha rừng trồng sản xuất, chủ yếu là rừng gỗ nhỏ, hiệu quả và giá trị kinh tế chỉ ở mức trung bình.
Để nâng cao thu nhập trên cùng diện tích, từ năm 2007, Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn triển khai thực hiện trồng rừng theo mô hình gỗ lớn, đến nay hiệu quả bước đầu đã được ghi nhận.
Với mục tiêu khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, nguồn lao động, hiện thực hóa mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã quy hoạch 55.932 ha đất để phát triển kinh doanh rừng trồng gỗ lớn giai đoạn từ 2013 – 2020, đồng thời, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh doanh trồng rừng gỗ lớn trình UBND tỉnh phê duyệt. Đây sẽ là hướng đi mới, tạo nên bước chuyển mạnh mẽ cho kinh tế rừng của tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa 31/10) đầu trang(
Năm 2015, Hạt Kiểm lâm Bá Thước được UBND tỉnh giao kế hoạch trồng mới 200 ha rừng thay thế. Hạt đã chủ động cung ứng vật tư, cây giống; tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng cho người dân.
Đến hết tháng 10-2015, Hạt Kiểm lâm Bá Thước đã chỉ đạo, tổ chức cho nhân dân trên địa bàn trồng mới được 200 ha rừng thay thế, chủ yếu là giống keo Úc, luồng, xoan, lát hoa, hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng thay thế năm 2015.
Cùng với trồng rừng, để tránh xảy ra cháy rừng Hạt Kiểm lâm Bá Thước đã tham mưu cho UBND huyện xây dựng Đề án “Đốt trước có điều khiển thảm thực vật cỏ tranh, lau lách để trồng rừng” đối với diện tích nằm sát bìa rừng. Kiểm lâm viên được bố trí về phụ trách địa bàn xã, tích cực tham mưu cho UBND các xã xây dựng, triển khai thực hiện phương án quản lý, bảo vệ rừng, phương án bảo vệ rừng vùng trọng điểm, phương án phòng cháy, chữa cháy theo phương châm “4 tại chỗ”.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Bá Thước không xảy ra điểm nóng về khai thác, mua bán, chế biến, vận chuyển lâm sản trái phép, cháy rừng không xảy ra. (Báo Thanh Hóa 30/10) đầu trang(
Sáng 30//10, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh phối hợp với Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và Phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (trung tâm Cirum) tổ chức tọa đàm về thực trạng và giải pháp tình trạng chồng chéo, chồng lấn quyền quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Dự buổi tọa đàm có đại diện một số vụ, ngành Trung ương; một số sở, ban, ngành của tỉnh; đại diện UBND, phòng, ban chuyên môn các huyện, thành phố…
Tỉnh Lào Cai có diện tích rừng tự nhiên trên 638 nghìn ha, trong đó, đất lâm nghiệp trên 417 nghìn ha. Số liệu diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp năm 2014 cho thấy tỉnh có trên 336 nghìn ha đạt độ che phủ rừng 52,6%.
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương về giao đất, giao rừng, tỉnh đã tổ chức giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Theo thống kê của ngành tài nguyên và môi trường, tính đến ngày 31/12/2009, toàn tỉnh đã tổ chức giao, cho thuê trên 347 nghìn ha đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận sử dụng đất trên 184 nghìn ha.
Để sớm hoàn thành công tác giao đất, giao rừng, tỉnh đã phê duyệt phương án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2011 – 2015 và đã có một số địa phương thực hiện thí điểm công tác giao đất gắn với giao rừng như thôn Khe Nà (Nậm Tha, Văn Bàn), cộng đồng thôn Vạn Dền Sử 1 (Sử Pán, Sa Pa), cộng đồng và hộ gia đình xã Lùng Sui (Si Ma Cai), cộng đồng xã Phìn Ngan (Bát Xát).
Để quản lý, sử dụng hiệu quả đất lâm nghiệp, tỉnh cũng đã phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng, xác định ranh giới 3 loại rừng, đồng thời chỉ đạo rà soát việc quản lý, sử dụng trên các diện tích rừng, đất lâm nghiệp. Thống kê đến hết năm 2013, diện tích rừng phòng hộ là trên 156 nghìn ha, rừng đặc dụng 63,5 nghìn ha, rừng sản xuất 197,7 nghìn ha. Trên địa bàn tỉnh hiện có 14 tổ chức được Nhà nước giao và tạm giao rừng, đất lâm nghiệp để quản lý.
Số liệu báo cáo của 14 đơn vị cho thấy, tình hình quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của 8 đơn vị được giao quản lý và 6 đơn vị tạm giao còn nhiều bất cập, diện tích đất lâm nghiệp giao có sự chồng chéo. Theo đó, tổng diện tích được giao là 231,6 nghìn ha, diện tích chồng chéo gần 11 nghìn ha, diện tích bị xâm lấn là 4,2 nghìn ha, diện tích nhỏ lẻ, manh mún là 4,7 nghìn ha, tổng diện tích đề nghị 14 đơn vị trả lại cho địa phương sau rà soát là 13,7 nghìn ha.
Công tác giao đất, giao rừng và quản lý đất lâm nghiệp được đánh giá mang lại hiệu quả nhất định, góp phần phục hồi tài nguyên rừng, nâng cao độ che phụ và tăng cường bảo vệ, phát triển rừng ở nhiều địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế như: Quy hoạch 3 loại rừng chưa sát với mục đích sử dụng, một số nơi diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp nhưng nhân dân không trồng rừng, đất không quy hoạch thì lại trồng rừng; công tác bảo vệ, phát triển rừng gặp khó khăn, tình trạng xâm lấn, tranh chấp, khai thác, phá rừng trái phép vẫn xảy ra, quỹ đất sản xuất thiếu tập trung chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển vùng nguyên liệu; rừng sản xuất, rừng phòng hộ xen lẫn nhau; rừng đặc dụng vẫn có người sinh sống, lao động sản xuất…
Để khắc phục tình trạng chồng lấn, chồng chéo quyền quản lý rừng, đất lâm nghiệp giữa các chủ rừng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, tại buổi tọa đàm, các đại biểu tham luận và kiến nghị một số giải pháp như: Cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất giữa các đơn vị; có quy chế phối hợp giữa các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; đối với diện tích cấp chồng chéo cần thu hồi lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng; đối với diện tích không tranh chấp cần cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tiến hành dồn điền, đổi thửa tạo quỹ đất tập trung, tạo vùng nguyên liệu đủ lớn…
Ban nghiên cứu liên minh các tổ chức Cirum, Code, Speri, Cendy khuyến nghị, tỉnh cần khẩn trương triển khai công tác rà soát; trong điều kiện một số huyện của tỉnh có bình quân đất nông nghiệp trên hộ rất thấp phương án tối ưu nhất là chuyển giao toàn bộ diện tích lâm nghiệp của Ban Quản lý rừng phòng hộ cho người dân địa phương quản lý để tổ chức sản xuất, ổn định cuộc sống; Ban Quản lý rừng phòng hộ chuyển sang làm vai trò dịch vụ, hướng dẫn người dân địa phương phục hồi và phát triển rừng. (Báo Lào Cai 30/10) đầu trang(
Tại tỉnh Bình Định, việc chuyển đất lâm nghiệp bỏ hoang sang đất nông nghiệp đang là vấn đề cấp bách được đặt ra để ổn định sản xuất cho người dân.
Hiện nay, ở tỉnh Bình Định, có ít nhất gần 6.000ha đất do tỉnh giao cho các công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ quản lý và trồng rừng không được sử dụng. Trong khi đó, người dân địa phương lại không có đất sản xuất. Điều này đã khiến tình trạng tranh chấp đất ở khu vực miền núi diễn ra gay gắt trong nhiều năm qua.
Trước thực tế này, phương án chuyển giao đất lâm nghiệp từ các công ty và ban quản lý rừng phòng hộ đã được tỉnh Bình Định đưa ra. Theo đó, đất chưa có rừng và đất làm nương rẫy mà các đơn vị này chưa sử dụng sẽ được giao lại cho địa phương quản lý, quy hoạch và lập kế hoạch bố trí cho người dân địa phương sử dụng. (Đài Truyền Hình Việt Nam 31/10) đầu trang(
Do buông lỏng quản lý thời gian dài nên tình trạng chuyển nhượng, cho thuê trái phép, biến đất đồi rừng thành biệt thự, nhà nghỉ diễn ra phổ biến.
Qua rà soát, sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường trên cả nước cho thấy, công tác quản lý đất nông, lâm trường đang bị buông lỏng, vi phạm quy định về việc mua bán, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng. Hầu hết các nông, lâm trường mới thực hiện chuyển đổi hình thức vẫn chưa có sự thay đổi về quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai.
Dọc bên đường liên thôn ở các xã Vân Hoà, Yên Bài, huyện Ba Vì, trên những mảnh đất khoán, thay vì hình ảnh những khu chăn nuôi, trồng trọt, đồi chè… nhiều biệt thự được xây dựng trên phần đất sản xuất của Công ty cổ phần Việt- Mông.
Đa số chủ của các biệt thự với hàng nghìn m2 đất này đều từ nơi khác đến mua lại diện tích nhận khoán 50 năm của công nhân nông trường Việt- Mông. Các giao dịch mua bán đều chỉ được ghi nhận bằng giấy viết tay giữa người bán và người mua. Do diện tích đất này không ai quản lý nên Ủy ban nhân dân xã Yên Bài không thể chứng nhận việc chuyển nhượng giữa các bên.
Nông trường hữu nghị Việt Nam – Mông Cổ được thành lập từ năm 1984 với tổng diện tích là hơn 1.100ha, thuộc địa phận thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì. Sau khi cổ phần hóa, Công ty cổ phần Việt -Mông được giao trên 29 ha, trong tổng số khoảng hơn 942 ha. Hiện công ty mới chỉ sử dụng gần 6,4 ha, còn hơn 23 ha trước kia giao cho các hộ dân vẫn chưa trả lại.
Như vậy, so sánh số liệu theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì thì diện tích đất đã bị thất lạc mất khoảng 200 ha và không rõ ai đang quản lý, sử dụng. Việc tiếp nhận đất đai từ Nông trường Việt- Mông chỉ được tiến hành theo số liệu ghi trên sổ sách mà không tiến hành bàn giao trên thực địa, diện tích đất bàn giao cũng không thực sự cụ thể, rõ ràng và không có các giấy tờ, hồ sơ pháp lý đầy đủ theo quy định.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Yên Bài Nguyễn Thế Chiến cho biết: "Họ chỉ giao dịch 2 người với nhau, chính quyền không xác nhận giao dịch khu vực Việt Mông. Xảy ra tranh chấp nhiều vì trích lục Việt Mông không cụ thể như bản đồ 299, ranh giới cụ thể không rõ nên rất khó khăn cho chính quyền địa phương".
Trên địa bàn huyện Ba Vì có tới 111.000 ha đất nông, lâm trường trước đây giao cho 12 đơn vị. Sau khi Nghị định 01/NĐ-CP về giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp, các đơn vị đã thực hiện giao khoán cho cán bộ công nhân viên và các đối tượng khác. Phần lớn các nông lâm trường đều không trực tiếp sản xuất. Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì nêu rõ, do buông lỏng quản lý thời gian dài nên tình trạng chuyển nhượng, cho thuê trái phép, biến đất đồi rừng thành biệt thự, nhà nghỉ diễn ra phổ biến.
Một số đơn vị của Công ty cổ phần Việt -Mông, Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Trạm thủy sản Suối Hai… đã giao khoán đất nông trường không đúng đối tượng quy định. Sau khi giao khoán không thường xuyên kiểm tra đối chiếu với hợp đồng khoán, không xử lý trường hợp sử dụng đất không đúng hợp đồng nhận khoán.
Nhiều đơn vị được giao quản lý đất đã tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, cho làm nhà trên đất vườn. Đặc biệt là sử dụng đất tại các đơn vị sản xuất nông, lâm, nghiệp đều kém hiệu quả, nộp ngân sách đều ở mức thấp.
Ông Nguyễn Đình Lan, Phó Trưởng phòng Tài nguyên môi trường huyện Ba Vì cho biết: "Khi có đoàn kiểm tra của các bộ, ban, ngành hoặc của thành phố Hà Nội thì không biết ai là chủ của doanh nghiệp này để liên hệ làm việc vì đã bị bán qua tay nhiều người: "Việc bán đất hay giao thầu khoán chúng tôi cũng không nắm được chính xác mà cũng không quản lý được vì đất nông lâm trường do các bộ quản lý.. tranh chấp địa phương muốn giai quyết nhưng cơ quan chủ quản không đồng ý".
Hiện nay, các nông, lâm trường trên địa bàn huyện Ba Vì đã bàn giao nhân khẩu và các cơ sở phúc lợi về cho các địa phương nhưng chưa bàn giao đất đai nên không có hồ sơ quản lý giám sát. Nhiều gia đình cán bộ công nhân viên nông trường được giao đất từ hàng chục năm nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người dân sinh sống trên mảnh đất của mình như đang sống trên đất ở nhờ, mọi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan muốn cũng không thể thực hiện được. Mục tiêu giao đất nông, lâm trường cho công nhân để phát huy hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện sống ổn định cho người dân đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Ông Nguyễn Văn Hùng, ở xã Yên Bài nêu ý kiến: "Nhà nước phát triển rất mạnh, trong khi dó chúng tôi không được vay vốn, cấp sổ không được gì chỉ có con người thôi.Về quyền lợi trên mảnh đất không có gì, không ai cấp. Xã bảo chưa về xã, nông trường không có con dấu. Quyền lợi dân không được hưởng, nghĩa vụ vẫn phải làm".Theo báo cáo, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của thành phố Hà Nội là 28.851 ha. Thực hiện chính sách pháp luật về đất đai tại các nông, lâm trường, trạm trại giai đoạn từ năm 2004 đến 2014, các cơ quan chức năng thành phố Hà Nội vừa tiến hành thanh tra, kiểm tra 18 đơn vị sử dụng đất tại 30 địa điểm trên địa bàn các quận, huyện…Kết quả cho thấy, 11 đơn vị đã tự ý phân chia, bán nhà, đất ở hoặc cho cán bộ, công nhân viên, cá nhân khác thuê trái phép.
Nguyên nhân là vai trò quản lý của chính chủ sử dụng đất và chính quyền địa phương còn mờ nhạt, việc phối hợp chưa chặt chẽ. Công tác lập hồ sơ, giao đất của cơ quan quản lý còn lỏng lẻo, giao đất cũng không ghi trên một giấy tờ hợp lệ nào mà chỉ giao trên miệng hoặc ghi trên sổ sách dẫn đến nhiều trường hợp tranh chấp, kiện tụng không có căn cứ nào để giải quyết.
Tại phiên họp thứ 41 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014, đa số các đại biểu cho rằng, cần có thái độ kiên quyết trong thu hồi những diện tích đất sử dụng thiếu hiệu quả để giao lại cho người dân quản lý, trồng rừng, sản xuất, góp phần nâng cao đời sống người dân, phát triển kinh tế- xã hội.
Đồng thời tiếp tục làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý, giao đất cho các lâm, nông trường quốc doanh nhưng sử dụng thiếu hiệu quả, thậm chí phát sinh tiêu cực, kiên quyết giải thể các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Các đại biểu cũng kiến nghị cần thanh tra, xử lý triệt để các vi phạm về sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường. (VOV Giao Thông 1/11) đầu trang(
Việc Công ty cổ phần Tân Vĩnh Cửu (Tavico) khai trương Trung tâm phân phối nguyên liệu gỗ nhập khẩu tại Đồng Nai được giới doanh nghiệp gỗ xuất khẩu Việt Nam ghi nhận là tái định hình “cuộc chơi” cho doanh nghiệp gỗ ở Việt Nam.
Trung tâm gỗ Tavico đang được đánh giá là mô hình phân phối nguyên liệu gỗ chuyên nghiệp đầu tiên và có quy mô lớn nhất tại Việt Nam.
Có diện tích 158.000 m 2, tổng mức đầu tư gần 350 tỷ đồng, Trung tâm có cả chợ đầu mối gỗ tròn, siêu thị nguyên liệu gỗ xẻ sấy, kho ngoại quan và khu dịch vụ khách hàng. Trữ lượng lớn gỗ cứng tại đây rất đa dạng về chủng loại, được nhập khẩu từ Mỹ, châu Âu, Canada, Nhật, Australia, Nga…
Hai điểm nhấn của Trung tâm gỗ Tavico là chợ đầu mối gỗ tròn và siêu thị gỗ xẻ xấy. Chợ đầu mối gỗ tròn rộng 54.000 m 2, có khả năng chứa 7.500 m 3 gỗ tròn cùng một lúc, chuyên bán các loại gỗ tròn nhập khẩu như sồi, tần bì, dẻ gai, óc chó... Các loại gỗ tròn được Tavico phân loại, đo đạc chính xác từng lóng, giúp khách hàng chọn mua được loại gỗ tròn tốt nhất dùng để lạng veneer.
Đặc biệt, sau khi mua gỗ tròn tại chợ đầu mối, khách có thể yêu cầu xẻ, sấy, gia công tại Trung tâm theo đúng quy cách mong muốn.
Với những đối tác đòi hỏi cung ứng nhanh để kịp sản xuất đơn hàng xuất khẩu, thì siêu thị nguyên liệu gỗ xẻ sấy là một lựa chọn tối ưu. Siêu thị này rộng 61.000 m2, luôn trưng bày sẵn các loại gỗ nhập khẩu với đủ chủng loại. Các loại gỗ được niêm yết thông tin chi tiết về giá, kích thước, độ ẩm, xuất xứ. Đặc biệt, tại đây, gỗ xẻ sấy được phân loại, sắp xếp khoa học theo từng khu riêng biệt, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian chọn lựa sản phẩm, giao dịch và yên tâm mua hàng đúng giá, chất lượng, đủ số lượng.
Trung tâm gỗ Tavico còn có kho ngoại quan rộng 38.000 m 2 tại ICD Long Bình - Tân Cảng (TP.HCM). Kho ngoại quan tập hợp lượng lớn gỗ đã xẻ sấy có sẵn nhập khẩu, tạo điều kiện cho khách hàng có thêm nhiều lựa chọn.
Khách hàng có thể kiểm tra hàng trực tiếp trước khi quyết định mua một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí. Đây là ưu điểm nổi trội so với giải pháp nhập khẩu trực tiếp từ nhà cung cấp nước ngoài như doanh nghiệp (DN) đang làm, vì hàng hóa được kiểm tra trước, tránh các rủi ro thường gặp phải.
Bên cạnh đó, Tavico cung cấp dịch vụ hải quan và giao nhận linh hoạt để các DN có nguyên liệu sớm nhất. Thời gian cung ứng hàng tới các địa chỉ ở Đồng Nai, Bình Dương và TP.HCM trong vòng 24 tiếng.
Ngoài ra, Trung tâm gỗ Tavico cũng cung cấp nhiều dịch vụ thông qua khu dịch vụ rộng 5.000 m 2, gồm dịch vụ tư vấn sử dụng nguyên liệu, xẻ sấy gia công, hợp tác cung ứng nguyên liệu cho công trình, mua bán ký gửi nguyên phụ liệu ngành gỗ tới vận chuyển hàng hóa 24/24h.
Cũng tại khu dịch vụ Tavico, các DN có thể tham gia Hội quán “Gỗ Tây” chia sẻ thông tin định kỳ hàng tuần.
Không phải vô cớ mà giới sản xuất đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam chú ý đến Trung tâm phân phối gỗ của Tavico. Bởi, với các điều kiện hiện có, Tavico đang giải hàng loạt vấn đề của ngành gỗ vốn đang mang lại kim ngạch xuất khẩu gần 7 tỷ USD/năm cho nền kinh tế.
Ông Nguyễn Liêm, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lâm Việt, một DN sản xuất đồ gỗ xuất khẩu lớn tại Bình Dương cho biết, Trung tâm gỗ Tavico sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho DN xuất khẩu gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cụ thể, đó là nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, ổn định và hiệu quả.
Nhờ đó, DN sẽ chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, tháo gỡ hàng rào kỹ thuật, ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt là yêu cầu kiểm soát nguồn gốc nhằm bảo vệ môi trường và phát triển rừng bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đây là vấn đề lớn của ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Vì nhìn vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp gỗ, bao gồm từ khâu trồng rừng, khai thác, nguyên liệu, sản xuất đồ gỗ đến phân phối tới tay người tiêu dùng, DN Việt mới bước đầu chen chân ở khâu sản xuất đồ gỗ, với thị phần khiêm tốn. Nhưng, ngay trong sản xuất, DN lại chưa thụ động về nguồn gỗ nguyên liệu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn trong thời gian ngắn.
Ông Võ Quang Hà, Tổng giám đốc Công ty Tavico giải thích, nếu DN mua trực tiếp từ nhà cung cấp nước ngoài, rủi ro như quy cách, số đo, chất lượng không hề nhỏ, nhiều khi hàng về tới cảng mới biết không như kỳ vọng. Đó là chưa kể thời gian cung cấp các đơn hàng phải tính theo tháng, lại phải mua lô lớn, điều kiện kho bãi và sự lựa chọn không đa dạng, vì mỗi nhà cung cấp riêng lẻ rất hữu hạn năng lực cung cấp về chủng loại.
Bên cạnh đó, nhiều DN thiếu thông tin về thị trường và kinh nghiệm giao dịch thương mại quốc tế gánh thêm rủ ro về tỷ giá.
“Tavico đầu tư lớn cho Trung tâm gỗ nguyên liệu để trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị ngành công nghiệp gỗ, thông qua việc tạo ra nguồn nguyên liệu hợp pháp, ổn định và hiệu quả. Chúng tôi sẽ mang tới cái nhìn mới về chuỗi giá trị và góp phần tái định hình “cuộc chơi”, nâng cao vị thế DN gỗ Việt trên bản đồ ngành gỗ toàn cầu”, ông Hà nói và cho biết thêm, hiện tại năng lực cung cấp của Trung tâm là 72.000 m 3 gỗ tròn và 75.000 m 3 gỗ xẻ sấy/năm.
Đặc biệt, động thái này đang tăng khả năng liên kết các DN trong ngành, tạo ra cách chơi mới, gia tăng quyền thương lượng với nhà cung cấp gỗ nguyên liệu nước ngoài để có nguồn nguyên liệu đầu vào tốt hơn về chất lượng, giá cả qua đó nâng cao tính cạnh tranh. (Đầu Tư 1/11) đầu trang(
Đồng Xuân là một trong ba huyện miền núi của tỉnh Phú Yên, có diện tích rừng và đất rừng lớn (chiếm gần 1/5 diện tích rừng và đất rừng của tỉnh).
Ngoài sắn và mía là hai loại cây trồng chủ lực, Đồng Xuân còn có thế mạnh về trồng rừng. Nắm bắt được lợi thế này, từ nhiều năm nay, Tập đoàn Bình Nam đã có sự đầu tư đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở huyện miền núi còn nhiều khó khăn này.
Qua hơn 4 năm triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (giai đoạn 2011-2020) của Thủ tướng Chính phủ, Đồng Xuân là một trong những địa phương thực hiện tốt kế hoạch này, đồng thời, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia dự án trồng rừng và trồng cây gây rừng trên các nương rẫy cũ.
Trong các dự án trồng rừng đã, đang thực hiện tại Đồng Xuân, Công ty TNHH Bình Nam là đơn vị tiên phong gây dựng phong trào trồng rừng từ năm 2008, với diện tích đất được giao là 3.157ha; đến nay, Bình Nam đã trồng gần 2.500ha rừng tập trung, có nơi đúng độ tuổi cho khai thác.
Ông Võ Cao Phi, Chủ tịch UBND huyện Đồng Xuân, cho biết: Bình Nam là đơn vị tiên phong trong các dự án trồng rừng tập trung. Cùng với Bình Nam, Trang Lâm, Trường Thành... là những đơn vị sau này tiếp tục thực hiện dự án trồng rừng. Đến nay, Đồng Xuân đã nâng diện tích trồng rừng lên 14.500ha (giai đoạn 2010-2015), đưa diện tích có rừng lên 37.000ha, chiếm gần 1/3 tổng diện tích tự nhiên toàn huyện (hơn 106.866ha), độ che phủ đạt xấp xỉ 43%. Đây là thành công lớn của Đồng Xuân, bởi diện tích rừng toàn tỉnh đến năm 2015 là 66.731ha, độ che phủ 35,2% (năm 2010, con số này là 47.430ha và 34,4%).
Bình Nam là doanh nghiệp luôn ý thức và tuân thủ mọi quy định của dự án trồng rừng. Là đơn vị đầu tiên thực hiện dự án trồng rừng tập trung tại Đồng Xuân, Công ty TNHH Bình Nam bước đầu gặp nhiều khó khăn và thử thách. Vượt qua mọi trở ngại, Bình Nam đã tuân thủ sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương, sự cảm thông của các ngành chức năng để từng bước đưa công tác trồng rừng đi vào ổn định.
Ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đồng Xuân, đánh giá: “Với góc độ là ngành chức năng, chúng tôi có thể đánh giá, Bình Nam luôn ý thức được trong vấn đề thực hiện dự án trồng rừng; cần phải quan tâm cải tạo đất, tạo môi trường thân thiện, sau mới đến việc khai thác kinh doanh. Từ một doanh nghiệp ngoài tỉnh, Bình Nam đã mạnh dạn đầu tư nguồn vốn lớn ban đầu, biến vùng đất khô cằn trở thành “lá phổi xanh” của huyện miền núi Đồng Xuân.
Hơn nữa, qua nhiều năm đứng chân trên địa bàn, Bình Nam đã tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động tại địa phương (nhất là bà con các dân tộc thiểu số); gắn bó với các phong trào ở địa phương, luôn được bà con đồng tình ủng hộ, chính quyền và các ngành chức năng tin tưởng”.
Có thể nói, trồng rừng - khai thác - chế biến là ba khâu quan trọng trong dây chuyền sản xuất khép kín của Bình Nam theo lộ trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Với tiềm lực kinh tế vững vàng, đa ngành nghề, Tập đoàn Bình Nam hoàn toàn có khả năng thực hiện lộ trình này một cách hiệu quả. Đến nay, dự án trồng rừng của Bình Nam đã cho kết quả khai thác.
Trong quá trình ấy, Bình Nam luôn ý thức được vai trò của người chủ sở hữu trên diện tích rừng trồng; luôn quan tâm đầu tư các khâu chăm sóc, bảo vệ rừng, cũng như công tác phòng chống cháy rừng, nhờ thế, rừng trồng của Bình Nam hiện cho sản lượng tương đối khá. Trong khai thác, Bình Nam cũng tranh thủ thực hiện đúng theo quy trình cho phép, tạo nền móng cho việc tiếp tục trồng rừng mới.
Bà Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Bình Nam, xác định: “Đến với Đồng Xuân theo dự án trồng rừng tập trung, chúng tôi phải chấp nhận sự đầu tư lớn của 10 năm đầu. Đến nay, hơn 8 năm đứng chân trên địa bàn, với thời tiết thất thường, khắc nghiệt, bất lợi cho việc trồng và chăm sóc rừng trồng, nhưng không vì thế mà chúng tôi nản chí. Chừng ấy năm, với gần 2.000ha rừng trồng, chúng tôi đã đầu tư trên 30 triệu đồng/ha, giờ đây, muốn phát huy hiệu quả kinh tế của nó, chúng tôi lại tiếp tục đầu tư cả trăm tỉ đồng để xây dựng nhà máy chế biến. Doanh nghiệp đã đặt mua và đưa về nước thiết bị công nghệ chế biến mới tiên tiến của Đức và Italia; đồng thời cho san ủi mặt bằng khu vực nhà máy tại xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân); dự kiến lắp đặt thiết bị và đưa nhà máy đi vào hoạt động cuối năm 2015”. (Kinh Tế Nông Thôn 30/10) đầu trang(
Đó là cách nhiều người khen anh Lê Văn Minh, dân tộc Cơ Tu ở thôn 5, xã Ba, huyện Đông Giang (Quảng Nam). Chỉ với 10 triệu đồng vốn đi vay ban đầu để đầu tư trồng rừng nguyên liệu, anh Minh đã thu về cả trăm triệu tiền lãi.
Năm 2008, gia đình anh Minh thuộc diện nghèo của xã. Nhà có 6 người, loanh quanh chỉ lo cái ăn đã vất vả. Thông qua sự vận động của Hội ND, cũng năm đó, anh Minh mạnh dạn vay Ngân hàng CSXH 10 triệu đồng mua keo giống về trồng trên diện tích gần 3ha đất rừng kinh tế.
Trong thời gian chờ cây khép tán, anh tranh thủ trồng bắp, đậu trên diện tích đất trống để lấy cái ăn. 4 năm sau, anh Minh thu hoạch lứa keo đầu tiên đã có ngay 100 triệu đồng. “Tiền bán cây keo không chỉ giúp tôi trả hết nợ cho ngân hàng mà còn tậu thêm được 2 con trâu, mua thêm cây keo giống, nuôi thêm heo, gà…” - anh Minh nhớ lại.
Đi dần từng bước, đến cuối năm 2014, diện tích rừng keo của gia đình anh Minh đã lên 15ha. Và kể từ đây, với việc khai thác tỉa, nguồn thu từ rừng keo mang lại cho anh bình quân 50 triệu đồng/năm. Bắt đầu từ năm 2015, gia đình anh Minh trở nên khá giả hẳn với việc bán 5ha keo trồng, sau khi trừ chi phí anh “bỏ túi” hơn 200 triệu đồng.
Gương thoát nghèo trở nên khá giả của gia đình anh Minh được bà con Cơ Tu khen gợi và học làm theo. Anh được các đảng viên bầu làm Bí thư chi bộ thôn 5. Ở cương vị mới, anh Minh càng tích cực hướng dẫn, giúp đỡ bà con làm kinh tế VAC, cải thiện cuộc sống. Nhờ anh Minh giúp đỡ về vốn, kỹ thuật mà hộ anh Lê Thanh Hải, thôn 5 đã thoát nghèo trở nên khấm khá, mua được xe máy, xây dựng được trang trại tổng hợp. Anh Minh cũng giúp gia đình ông A Lăng Mốt 75 triệu đồng sửa lại căn nhà tạm bợ, dột nát và có số vốn để trồng rừng kinh tế.
Ông Quỳnh Quý - Chủ tịch Hội ND xã Ba, nhận xét: “Anh Minh chịu học hỏi, vượt khó vươn lên thoát nghèo. Anh cũng là cán bộ có uy tín với đồng bào địa phương, làm giỏi lại có lòng từ tâm nên thuyết phục được bà con. Vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cần những cán bộ như anh Minh…”. (Dân Việt 1/11) đầu trang(
Dù có mức tăng trưởng khá tốt song ngành gỗ chưa thoát khỏi lo lắng cho mục tiêu 7 tỷ USD kim ngạch XK trong năm nay. Lo lắng này xuất phát từ những yếu tố như nguồn nguyên liệu, vốn vay, chi phí sản xuất cao khiến lợi nhuận giảm…
“Chập chững” từ 219 triệu USD kim ngạch XK vào năm 2000, ngành gỗ đã có bước tiến khá nhanh với tốc độ tăng trên 20% (giai đoạn 2000-2005) để “vọt lên” mốc 1 tỷ USD vào năm 2004. Tiến đều và tiến dần mỗi năm từ 2 tỷ USD (năm 2007) lên 3,9 tỷ USD (năm 2011) và cho đến nay kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt gần 5 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2015, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2014. Tốc độ tăng trưởng của ngành gỗ hiện nay dù tăng chậm hơn so với giai đoạn đỉnh điểm (trên 20%) chỉ khoảng 10%, nhưng sự gia tăng về kim ngạch cho thấy tiềm năng XK của ngành này còn khá lớn.
Lý giải về nguyên nhân khiến ngành gỗ có mức tăng trưởng tốt trong những năm qua, ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietfores) cho biết, nhu cầu tiêu dùng gỗ của thế giới rất lớn, khoảng 230 tỷ USD/năm, riêng EU là 85 tỷ USD/năm, Mỹ là 28 tỷ USD/năm. Việt Nam hiện mới chỉ XK sang Mỹ 2 tỷ USD hay 800 triệu USD sang EU, những con số này chưa thấm vào đâu so với nhu cầu của họ. “Do vậy, ngành gỗ vẫn có tốc độ tăng trưởng tốt”, ông Quyền nói.
Hiện thị trường XK lớn nhất của Việt Nam vẫn là Hoa Kỳ với kim ngạch tăng 26-27% so với cùng kỳ, tiếp đến là Nhật Bản, Trung Quốc, EU… Bên cạnh đó, XK gỗ của Việt Nam hiện đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 khu vực châu Á và đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Đáng chú ý, sản phẩm gỗ được các đối tác ưa chuộng nhất là bàn ghế trong nhà và bàn ghế ngoài trời, chiếm 75% thị phần trong XK của ngành gỗ.
Cùng với tốc độ tăng trưởng của kim ngạch, giá XK các sản phẩm gỗ cũng có mức tăng nhẹ. Một báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, giá XK sang một số thị trường chủ lực trong 9 tháng đầu năm đều tăng nhẹ. Cụ thể, giá XK sang thị trường Hoa Kỳ tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước do giá cả 2 nhóm mặt hàng bằng gỗ và đồ nội thất cùng tăng.
Giá XK sang thị trường Nhật Bản tăng 2,49% so với cùng kỳ năm trước, do giá nhóm gỗ và mặt hàng bằng gỗ tăng. Với thị trường Hàn Quốc, giá XK tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước, do giá nhóm gỗ và mặt hàng bằng gỗ và nhóm đồ nội thất cùng tăng.
Riêng với thị trường Trung Quốc, giá XK tăng 1,73% so với cùng kỳ năm trước, do giá nhóm gỗ và mặt hàng bằng gỗ tăng nhưng nhóm đồ nội thất giảm. Dù đây thị trường XK lớn thứ 3 của ngành hàng gỗ nhưng việc XK sang thị trường này thiếu tính bền vững, rủi ro. Thị trường Trung Quốc thiếu tính ổn định, bền vững vì kim ngạch hàng năm luôn biến động, giá cao giá thấp, năm nhập nhiều, năm nhập ít gây khó khăn cho DN.
Khi được hỏi về tiến độ XK trong năm 2015 có đạt mục tiêu 7 tỷ USD hay không, ông Quyền cho biết: “Quý IV-2015, lượng đơn hàng đã xong, đạt khoảng hơn 7 tỷ USD nhưng làm được hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố”. Yếu tố mà vị Phó Chủ tịch Vietfores nhắc đến đầu tiên là do khách hàng yêu cầu chất lượng cao hơn.
“Trước đây, khách hàng ít quan tâm đến nguồn gốc gỗ nhưng nay họ đến kiểm tra nguồn gốc rất chặt xem có đảm bảo không để làm tiếp hợp đồng”, ông Quyền nói.
Chính vì thế, việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu đáp ứng yêu cầu của khách hàng cũng là một vấn đề. Hiện Việt Nam đang NK gỗ ở 67 quốc gia, nhưng chỉ có khoảng 5-6 quốc gia là có chứng chỉ gỗ hợp pháp, còn lại là chưa, trong khi các DN đang rất thiếu thông tin về các quốc gia, không biết được các công ty nào có thể bán gỗ cho Việt Nam với đầy đủ các giấy phép như vậy. Nếu DN tự đi tìm các quốc gia khác để NK gỗ sẽ rất tốn kém cả về thời gian và tiền bạc.
Một yếu tố khác tác động đến ngành gỗ là vấn đề tỷ giá. Theo lý giải của ông Quyền, quý IV hàng năm, DN cần lượng lớn USD để đi mua nguyên liệu nhưng việc Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất tiền gửi USD tại các ngân hàng xuống còn 0%, trong khi trần lãi suất gửi VND với kỳ hạn ngắn vẫn là 5,5% nên ngân hàng khó có USD cho DN vay. Vốn thiếu cộng với nguồn nguyên liệu khó khăn, lãi suất cao khiến lợi nhuận DN giảm, đây là những nguyên nhân khiến DN “chần chừ” hoàn thành đơn hàng đã ký.
Với những khó khăn trên, để đạt mục tiêu XK đề ra trong năm 2015, Vietfores đề ra 4 giải pháp. Thứ nhất, DN cần tăng cường sử dụng gỗ nguyên liệu trong nước bởi trong nước có mấy loại đáp ứng được yêu cầu như gỗ cao su, gỗ rừng trồng đường kính lớn, gỗ vườn nhà.
“Khối lượng này đã có đủ để cung cấp, đồng thời có chứng chỉ tương đối tốt”, vị Phó Chủ tịch Vietfores nói. Thứ hai, cần tổ chức lại sản xuất trong DN, nhà máy để tiết kiệm chi phí, nguyên liệu để giảm giá thành. Ví dụ, trước đây 1m3 gỗ tròn chỉ có thể sử dụng được 80% nhưng nay phải đặt yêu cầu sử dụng được 90-95%.
Thứ ba, DN lớn và DN nhỏ cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Theo đó, DN lớn khi nhận đơn hàng nhưng vì quá sức nên giao lại cho DN nhỏ tận dụng đơn hàng, nhà xưởng, lao động. Thứ tư, về vấn đề vốn huy động, do lãi suất vay trong nước cao (3% với đồng USD) nên DN đã làm việc với các đối tác như tổ chức của IKEA để họ ứng tiền trước.
Hiện nay, các đối tác NK đã sẵn sàng ứng trước cho DN Việt Nam 30% vốn để DN triển khai kịp đơn hàng. Với 4 biện pháp này, hi vọng ngành gỗ có thể đạt mục tiêu đề ra trong năm nay”, ông Quyền chia sẻ. (Hải Quan 31/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh Lào Cai.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, chuyển công ty nông nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước không nắm giữ cổ phần đối với 2 Công ty TNHH một thành viên chè Thanh Bình và chè Phong Hải.
Duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích đối với 2 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Bảo Yên và Văn Bàn.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Lào Cai thực hiện việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa các công ty nông, lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định hiện hành.
UBND tỉnh Lào Cai rà soát, xác định nhu cầu sử dụng đất phù hợp với nhiệm vụ của từng công ty sau sắp xếp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Chỉ đạo các công ty nông, lâm nghiệp phải sử dụng đất đúng mục đích, khi thay đổi mục đích sử dụng đất phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt phù hợp với quy hoạch được duyệt của Tỉnh và quy định của pháp luật.
Đồng thời xây dựng Phương án quản lý đối với diện tích đất các công ty không có nhu cầu sử dụng bàn giao về địa phương; xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp, lấn chiếm, sử dụng đất không đúng quy định của Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp và các quy định của pháp luật về đất đai.
Bên cạnh đó bổ sung đủ vốn điều lệ cho các Công ty lâm nghiệp; hỗ trợ kinh phí khoán quản lý, bảo vệ rừng mà các Công ty đã thực hiện năm 2014 và từ năm 2015 trở đi UBND tỉnh Lào Cai thực hiện theo quy định của pháp luật. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 31/10) đầu trang(
Ban cưỡng chế trực thuộc UBND huyện Phú Quốc vừa tiến hành cưỡng chế nhiều hộ dân đã nhiều năm lấn chiến rừng phòng hộ tại tiểu khu 81, thị trấn An Thới huyện Phú Quốc (Kiên Giang).
Theo đó, Ban cưỡng chế tiến hành cưỡng chế đối với ông Nguyễn Văn Nam (SN 1952, hiện cư trú tại tiểu khu 81, thị trấn An Thới) thu hồii diện tích hơn 10 nghìn mét vuông đã trồng cây và nhiều công trình xây dựng trên đất rừng phòng hộ.
Tại hiện trường, ông Huỳnh Long Hải – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Phó ban cưỡng chế - đã đọc quyết định cưỡng chế với sự chứng kiến của chính quyền và các đoàn thể tại địa phương. Do ông Nguyễn Văn Nam không có mặt nên Ban cưỡng chế phải thực hiện cưỡng chế bằng cách: Tháo dỡ ngôi nhà, chặt bỏ hàng trăm cây trồng các loại, di chuyển các loại vật dụng của đương sự về lưu giữ tại nhà kho của thị trấn .
Một cán bộ của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phú Quốc cho biết: Trước khi thi hành quyết định cưỡng chế UBND huyện Phú Quốc đã quyết định buộc ông Nguyễn Văn Nam tự nguyện tháo dỡ, di dời cây trồng và các công trình xây dựng trái phép giao lại diện tích rừng cho Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Quốc, nhưng ông Nam không thi hành vì vậy huyện ra quyết định cưỡng chế. (Lao Động 1/11) đầu trang(
Tuy mới được triển khai hơn một năm, nhưng Dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn đã nhanh chóng đem lại hiệu quả.
Bởi nó không chỉ có tác dụng giữ rừng mà còn giúp người dân phát triển kinh tế và chống lại gió bão bảo vệ làng một cách hiệu quả! Đó là dự án phục hồi rừng ngập mặn ở xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Nếu như vào những năm 1995, các khu rừng dọc ven biển Quảng Nam bị tàn phá nặng nề để nuôi tôm. Trong đó khu rừng ngập mặn hơn 100 ha của địa phương nói trên đã bị người dân chặt phá để làm hồ nuôi tôm. Thì hôm nay chính nhờ dự án phục hồi rừng ngập mặn hàng chục ha rừng đang được phục hồi xanh tốt.
Chạy xe máy dọc theo con sông Trường Giang nhìn ra phía biển, chúng ta dễ dàng nhận thấy, giờ đây rừng ngập đã phủ kín nhiều nơi. Rừng đã trở thành lá chắn sóng bảo vệ khu vực đê không bị sạt lở mỗi khi mùa mưa bão về. Ông Phạm Hồng Châu, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Giang cho biết: “Toàn xã có hơn 1.849 hộ dân, chủ yếu sinh sống bằng nghề biển và sông nước và địa phương có hơn 100 ha rừng ngập mặn, là cây bần, cây đước,… nằm dọc bờ sông Trường Giang là lá chắn sóng bảo vệ làng. Thế nhưng đến năm 1995, do con tôm thẻ chân trắng có giá, người dân bắt đầu đua nhau chặt phá rừng và lấn dòng sông Trường Giang để làm ao nuôi tôm với diện tích khoảng 170 ha. Dù xã liên tục tuyên truyền, xử lý nhưng người dân vẫn lén lút phá rừng”.
Thực tế việc phá rừng dọc ven biển Quảng Nam đã làm cho các nhà chức trách đau đầu. Đã có đến hàng trăm ha rừng thông, rừng ngập mặn bị tàn phá để nuôi tôm. Đã không ít lần chính quyền từ xã đến tỉnh đã xử lý. Thế những chỉ hạn chế và nạn phá rừng vì con tôm vẫn xảy ra. Bởi theo ông Châu: Do người dân chỉ thấy được cái lợi trước mắt, chứ không nghĩ về sau.
Mãi cho đến năm 2007, con tôm hạ giá kèm với việc thua lỗ nên người dân đành bỏ hoang ao nuôi. “Rừng mất, mỗi mùa gió bão xã rất lo sợ khu vực đê chắn sóng bị xói lở. Như cơn bão số 9 năm 2009, bờ đê chắn sóng và khu vực rừng miếu bị sóng đánh cuốn phăng, sông ăn sâu vào đất liền. Việc phá rừng của người dân cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến động, thực vật sinh sống trong rừng, nhất là tôm, cua, cá, chim, cò,…” - ông Châu nói.
Trước tình trạng rừng ngập mặn bị tàn phá, UBND xã Tam Giang liên tục “cầu cứu” với các ngành chức năng huyện Núi Thành có biện pháp hỗ trợ phục hồi lại cánh rừng ngập mặn nhằm bảo vệ đê, bảo vệ xóm làng. Thế rồi mong ước của chính quyền địa phương và người dân cũng dần được đáp ứng. Theo đó vào tháng 6-2014 xã Tam Giang được huyện Núi Thành chọn để Trường Đại học Kinh tế Huế hỗ trợ 1ha cây đước, cây bần, cây mắm trồng thử nghiệm tại thôn Đông Xuân, Đông An, Đông Bình và Đông Mỹ.
Sau khi rừng phát triển tốt, lúc này Dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn do BQL Dự án ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành triển khai và hoàn thành cuối tháng 8.2015, với tổng diện tích trồng phục hồi rừng ngập mặn là 27,45ha, trong đó trồng rừng 23,90ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung là 3,55ha, với tổng kinh phí hơn 3,1 tỷ đồng.
Theo ông Châu: “Việc thực hiện dự án nói trên là hết sức cần thiết. Bởi mục tiêu của nó là nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven sông, bảo vệ các bờ đê, bờ kè khỏi bị xói lở bởi gió bão, ứng phó với biến đổi khí hậu”. Còn ông Nguyễn Ngọc Chính, ở thôn Đông Xuân, xã Tam Giang chia sẻ: “Người dân quê tôi đã thấy tác hại của việc phá rừng và lợi ích thiết thực của dự án phục hồi rừng ngập mặn. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc rừng trồng không để người dân chặt phá rừng như những năm về trước nữa”.
Thực tế, việc bảo vệ rừng tốt, thì rừng không chỉ là lá chắn sóng bảo vệ nhà của người dân mà rừng mà còn giúp phát triển kinh tế một cách hiệu quả. Vì rừng phát triển trở thành nơi sinh sản và trú ngụ của các loài thủy hải sản và chim chóc,... Nếu khai thác thủy hải sản đúng sẽ đem lại thu nhập cao cho người dân. Thật đáng mừng khi chính quyền và bà con nơi đây đã cùng nhau ký vào cam kết trong quy chế ban hành quản lý và sử dụng rừng ngập mặn có hiệu quả. Ai xâm hại đến rừng bị phát hiện sẽ xử lý nghiêm theo quy định.
Theo ông Phạm Hồng Châu, hiện tại, xã còn gần 70ha diện tích cần được khôi phục trồng rừng trong những năm kế tiếp. Ông Huỳnh Tấn Đức – Giám đốc Sở NN&PTNT cho rằng, quan điểm của ngành là giảm diện tích nuôi trồng thủy sản, mở rộng đất rừng phòng hộ. “Nếu không trồng được rừng phòng hộ ven biển thì sẽ rất khó phát triển ổn định các lĩnh vực khác. Thảm họa thiên tai liên tiếp cảnh báo nên không thể xem nhẹ đai rừng ven biển được ” – ông Đức nói.
Trước sự biến đổi khí hậu nói chung và sự tàn phá rừng ven biển của người dân địa phương. Có thể nói rằng, dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn ở Tam Giang là hết sức thiết thực, hiệu quả nên đã được người dân địa phương phấn khởi đồng tình ủng hộ cao. Do đó dự án cần được nhân rộng.
Đươc biết, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020. Theo đó, Nhà nước sẽ đầu tư 1.000 tỷ đồng cho 19 tỉnh, thành ven biển, trong đó có Quảng Nam.
Diện tích rừng ven biển nước ta chiếm 3% diện tích đất lâm nghiệp nhưng góp phần duy trì đa dạng sinh học, phòng hộ chắn sóng, chắn gió bão hiệu quả. Đến năm 2020, các địa phương phục hồi và trồng mới gần 60.000ha rừng, nâng cao độ che phủ của rừng ven biển lên 20%. (Đại Đoàn Kết 30/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||