|
Ngày 02 tháng 08 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, loài, nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo tồn và sử dụng bền vững nhằm góp phần phát triển đất nước theo định hướng nền kinh tế xanh, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đây là mục tiêu tổng quát của Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Chiến lược đề ra nhiệm vụ là phải bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên. Trong đó, xác định các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng và thực hiện mở rộng hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên; đẩy nhanh việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên biển và đất ngập nước đã được quy hoạch; thiết lập các hành lang đa dạng sinh học kết nối với các sinh cảnh nơi có các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động bảo vệ nghiêm ngặt rừng nguyên sinh; thực hiện các biện pháp ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép nhằm bảo vệ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn.
Khoanh nuôi, tái sinh rừng trong các chương trình trồng rừng, thực hiện các biện pháp làm giàu rừng bằng cây bản địa và đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống cháy rừng, nâng cao năng lực ứng phó với cháy rừng ở các cấp.
Đồng thời, củng cố bộ máy quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo đảm tất cả các khu bảo tồn thiên nhiên đã thành lập có Ban quản lý; thực hiện chính sách ưu đãi cho cán bộ làm việc trong các khu bảo tồn.
Các hoạt động trên nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng và tăng diện tích các hệ sinh thái tự nhiên được bảo vệ, bảo đảm diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn đạt 9% diện tích lãnh thổ, diện tích các khu bảo tồn biển đạt 0,24% diện tích vùng biển; độ che phủ rừng đạt 45%; rừng nguyên sinh được giữ ở mức 0,57 triệu ha và có kế hoạch bảo vệ hiệu quả.
Bên cạnh đó, diện tích rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô cần được duy trì ở mức hiện có; 15% diện tích hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị suy thoái được phục hồi; số lượng các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam được quốc tế công nhận đạt 10 khu Ramsar, 10 khu dự trữ sinh quyển, 10 vườn di sản ASEAN.
Cũng theo Quyết định, cần ngăn chặn sự suy giảm các loài hoang dã bị đe dọa, đặc biệt loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Bên cạnh đó, thực hiện các chương trình bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, đặc biệt ưu tiên đối với các loài thú lớn nguy cấp: Voi, hổ, sao la và các loài linh trưởng.
Ngoài ra, thực hiện bảo tồn các giống cây trồng, vật nuôi bản địa và các loài họ hàng hoang dại của các giống cây trồng, vật nuôi; tăng số lượng mẫu giống cây trồng được lưu giữ, bảo tồn trong các ngân hàng gen. Nhiệm vụ khác của Chiến lược là kiểm soát các hoạt động gây tác động xấu đến đa dạng sinh học, trong đó kiểm soát khai thác, buôn bán và tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã.
Cụ thể, hoàn thiện, thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các lực lượng cảnh sát môi trường, quản lý thị trường, hải quan, kiểm lâm, kiểm ngư trong việc phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi khai thác, buôn bán, tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã. ận động, tuyên truyền rộng rãi về việc không tiêu thụ, sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã trên phạm vi toàn quốc. (Chinhphu.vn 2/8)đầu trang(
Bộ Tài chính vừa có công văn số 9786/BTC-CST gửi Bộ Công thương về thuế xuất khẩu dăm gỗ.
Theo công văn này, ngày 4/3/2013, Bộ Công thương đã gửi tới Bộ Tài chính công văn đề nghị tăng thuế xuất khẩu dăm gỗ từ 0% lên 5%.
Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa xuất khẩu dăm gỗ với người trồng rừng và xuất khẩu dăm gỗ với nhập khẩu bột giấy, tình hình xuất, nhập khẩu dăm gỗ, bột giấy trong thời gian qua, đồng thời qua tham khảo các cơ quan, đơn vị liên quan, Bộ Tài chính cho hay còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, nên tạm thời chưa thu thuế xuất khẩu đối với dăm gỗ trong giai đoạn hiện nay. (Nông Nghiệp VN 2/8)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE), 17 cây cổ thụ ở Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Nam, Hòa Bình, Quảng Ngãi, Phú Thọ, Hải Phòng vừa được công nhận là cây di sản, nâng tổng số cây di sản ở Việt Nam lên 482.
Trong đó, Thái Bình có hai cây gạo hơn 170 tuổi ở khu vực đình Chùa, thôn Thượng Phúc (Quang Trung, Kiến Xương) và hai cây bàng gần 300 tuổi ở đền Côn Giang (Thái Hà, Thái Thụy). Thanh Hóa có bốn cây cổ thụ từ 300 đến 600 tuổi ở đền thờ Lê Lai (Kiên Thọ, Ngọc Lặc) và một cây đa gần 300 tuổi trong Khu Di tích Lịch sử Lam Kinh (Thọ Xuân). Hà Nam có một cây bồ đề và một cây sưa (đường kính 1m).
Với Hòa Bình, Phú Thọ, Hải Phòng, mỗi địa phương có một cây được công nhận di sản trong đợt này. Ngoài ra, còn có cụm cây đa và kơ-nia của Quảng Ngãi. Theo VACNE, nhiều hồ sơ đề nghị công nhận cây di sản của các địa phương đang được xem xét. (Tiền Phong 2/8)đầu trang(
Thực hiện Thông báo số 224 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải - Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 tại cuộc họp Ban chỉ đạo, UBND tỉnh vừa có văn bản giao nhiệm vụ cụ thể cho ngành chủ quản, các ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã.
Theo đó, Sở NN&PTNT có nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các sở, ngành, cơ quan chuyên môn kiểm tra, đôn đốc các huyện, thị xã, các chủ rừng trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã được bố trí và thực hiện lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình, dự án trên địa bàn để thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, trong đó cần tập trung chỉ đạo đẩy nhanh việc trồng rừng nhằm đạt chỉ tiêu kế hoạch năm 2013;
Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, khai thác rừng trái pháp luật; huy động các lực lượng thường xuyên tuần tra, phát hiện và PCCCR kịp thời, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra; kiểm tra, giám sát việc trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện, hkai thác khoáng soản và các công trình xây dựng khác, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định.
UBND tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT, Sở KH&ĐT, các sở, ngành liên quan hàng năm tham mưu UBND tỉnh bố trí nguồn kinh phí sự nghiệp để thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đảm bảo tính ổn định, hiệu quả.
Đối với Sở KH&ĐT, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở NN&PTNT và các đơn vị liên quan tham mưu đề xuất UBND tỉnh bố trí nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh, lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác trên địa bàn để phục vụ tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng hàng năm theo đúng các quy định hiện hành nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012.
UBND tỉnh giao UBND các huyện, thị xã chỉ đạo UBND các xã, các chủ rừng thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo các đề án đã được phê duyệt, đồng thời thực hiện lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác trên địa bàn để thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hàng năm; chỉ đạo các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, giám sát UBND các xã, các chủ rừng trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR trên địa bàn đạt hiệu quả, đảm bảo tiến độ đề ra. (Báo Hà Tĩnh 2/8)đầu trang(
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng và giá trị của rừng đối với phát triển kinh tế xã hội của huyện và môi trường sinh thái, trong những năm qua, Hạt Kiểm lâm Lập Thạch đã phát huy tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về triển khai công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tạo động lực cho kinh tế lâm nghiệp phát triển bền vững.
Hàng năm, Hạt đều tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Nhà nước về các dự án, hỗ trợ đầu tư trồng rừng; tổ chức tập huấn về khuyến lâm, cách lựa chọn loài cây phù hợp với từng vùng thổ nhưỡng, cho năng suất cao. Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp đến từng chủ rừng, lô, khoảnh, diện tích.
Tăng cường kiểm tra rừng theo kế hoạch và đột xuất. Phân công cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn giúp UBND các xã kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở các địa phương; phổ biến giáo dục các quy định của pháp luật về lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư, xây dựng các tổ chức quần chúng PCCCR, kiểm tra phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, giúp chính quyền địa phương xử lý hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, cán bộ kiểm lâm địa bàn còn thực hiện tốt phương châm “3 bám- kiểm lâm bám dân, bám rừng và bám chính quyền cơ sở” kịp thời báo cáo mọi thông tin để có hướng xử lý kịp thời, qua đó góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2013, trên địa bàn huyện đã trồng được gần 300ha rừng, trong đó trồng rừng tập trung được 208,83ha/358,2ha kế hoạch năm; trồng rừng phòng hộ 5,6ha; trồng cây phân tán được 126.657 cây, đạt gần 100% kế hoạch năm. Bảo vệ 420,2ha rừng phòng hộ. Lập biên bản xử lý 3 vụ vi phạm về thủ tục vận chuyển lâm sản từ tỉnh ngoài qua địa phận huyện; tịch thu 2,315m3 gỗ.
Với phương châm “Phòng cháy là chính, tích cực khẩn trương chữa cháy, khắc phục kịp thời hậu quả cháy rừng”, ngay từ đầu mùa khô, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho UBND huyện xây dựng phương án phòng, chống chữa cháy rừng (PCCCR), bảo vệ rừng (BVR) cấp huyện, kiểm lâm địa bàn tham mưu cho UBND cấp xã xây dựng 6 phương án cấp xã, kiện toàn 35 tổ đội xung kích PCCCR với 387 người; sửa chữa, kẻ vẽ lại 5 bảng tin tuyên truyền về PCCCR, BVR tại 3 xã: Ngọc Mỹ, Bắc Bình và Vân Trục.
Triển khai phương án PCCCR, BVR cấp huyện; tập huấn về nghiệp vụ PCCCR cấp cơ sở. Duy trì thường xuyên công tác trực cháy; ghi sổ nhật ký theo dõi hàng ngày về tình hình diễn biến tài nguyên rừng, dự báo cấp cháy; phân công cán bộ trực 24/24 giờ vào ngày cao điểm. Cấp dụng cụ phòng cháy chữa cháy rừng cho 6 đơn vị: Ngọc Mỹ, Vân Trục, Xuân Hòa, Quang Sơn, Bắc Bình và Công ty lâm nghiệp Lập Thạch…
Đồng thời, chỉ đạo chính quyền các xã xây dựng các phương án sẵn sàng phòng cháy, chữa cháy rừng và kế hoạch bảo vệ rừng một cách có hiệu quả, phù hợp với từng địa phương… (Báo Vĩnh Phúc 1/8)đầu trang(
Huyện miền núi Tân Kỳ (Nghệ An), xác định kinh tế vườn rừng là một thế mạnh, làm đòn bẩy để phát triển kinh tế của địa phương. Đến nay, toàn huyện có hơn 300 mô hình kinh tế vườn rừng, mỗi năm cho thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên, trong đó 45 trang trại cho thu nhập từ 250 triệu đồng trở lên.
Để kinh tế vườn rừng phát triển bền vững, các địa phương đã tạo điều kiện cho bà con tham quan, học tập một số mô hình kinh tế vườn rừng trong và ngoài huyện cho thu nhập cao để từ đó nhân ra diện rộng.
Ông Vương Đình Lập, Phó Chủ tịch UBND huyện Tân Kỳ cho biết, kinh tế trang trại, kinh tế vườn rừng phát triển đã mở ra hướng làm ăn mới, hình thành một đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ, dám làm. Nhiều chủ vườn rừng đã chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa vào quá trình sản xuất. Bình quân hàng năm các hộ nông dân phát triển kinh tế đồi rừng đã tạo ra giá trị hàng hóa và dịch vụ hàng trăm triệu đồng, góp phần không nhỏ nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho lao động địa phương.
Gia đình ông Trần Văn Thuyết, xóm Tân Hùng, xã Giai Xuân là một trong những hộ gia đình đầu tiên tham gia phát triển kinh tế vườn rừng với trên 25 ha đất đồi. Thời gian đầu ông gặp không ít khó khăn, bởi đây là vùng đồi núi cao chủ yếu là giang, nứa và lau lách... Bằng nghị lực vượt khó, sáng tạo ông thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài. Trên diện tích đất trồng rừng ông trồng xen cây sắn, khoai, chuối để chăn nuôi trâu, bò.
Sau hơn 8 năm cải tạo xây dựng, đến nay trang trại tổng hợp của ông có hàng chục héc ta keo, hơn 2 ha ao cá, hàng chục con trâu, bò. Ngoài ra, ông còn trồng thêm mía và hoa màu, mỗi năm cho thu nhập từ 120 - 150 triệu đồng. Ông Thuyết cũng cho biết: đất đai ở đây rất phù hợp với cây công nghiệp dài ngày như keo, xoan… nên dù vốn đầu tư ít nhưng vẫn phát triển tốt và cho lợi nhuận cao.
Phát triển kinh tế vườn rừng không chỉ giúp nhiều hộ gia đình ở huyện miền núi Tân Kỳ có thu nhập khá mà còn tạo việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương. Điển hình như ông Nguyễn Minh Trí, xóm đồi chè, xã Giai Xuân, trung bình mỗi năm thu lãi ròng trên 300 triệu đồng, từ mô hình kinh tế đồi rừng. Mô hình của ông đã tạo việc làm thường xuyên cho từ 6 - 9 lao động, với thu nhập từ 4 - 5 triệu đồng/người/tháng, Bên cạnh đó, ông Trí còn giúp bà con trong xóm về kiến thức khoa học kỹ thuật và hỗ trợ cho bà con vốn không lấy lãi để phát triển kinh tế. (Tầm Nhìn 1/8)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ ngày 25 đến 28-9-2013 triển lãm quốc tế lần thứ 10 về máy và thiết bị công nghiệp chế biến gỗ (Vietnam Woodworking Industry 2013) sẽ chính thức diễn ra tại Trung tâm hội chợ & triển lãm Sài Gòn (SECC), quận 7, TPHCM.
Triển lãm có sự tham gia của 260 đơn vị đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ như Áo, Bỉ, Trung Quốc, Đan Mạch, Việt Nam, Pháp, Đức, Hồng Công…trưng bày hơn 500 gian hàng sẽ giới thiệu một loạt các sản phẩm công nghiệp, công nghệ và dịch vụ.
Triển lãm được tổ chức dưới sự hợp tác của Chi nhánh CTCP Quảng cáo - hội chợ TM (Vinexad), công ty triển lãm quốc tế Chann Chao, Công ty Thương mại và dịch vụ tiếp thị Yorkers, công ty dịch vụ triển lãm và truyền thông Paper, hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM, hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định, hội chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, chính thức được hỗ trợ bởi EUMABOIS - liên đoàn các nhà sản xuất máy chế biến gỗ châu Âu.
Triển lãm được tổ chức 2 năm một lần và sẽ giới thiệu những bước phát triển mới nhất trong các lĩnh vực chế biến gỗ, phụ kiện, linh kiện, sửa chữa, vật liệu gỗ, keo dán…. Triển lãm có sự tham gia thường niên của các doanh nghiệp lớn của Việt Nam như Công ty TNHH MTV Thuận Hiền, Công ty TNHH MTV DVSX Phát triển Quốc Duy, Công ty Vetta… (Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính 1/8)đầu trang(
Xã Hiền Lương (huyện Đà Bắc) là một xã có vị trí địa lý dọc theo lòng hồ sông Đà, địa hình đồi núi chiếm phần lớn, người dân chỉ trồng ngô sắn và cây lâm nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ như: luồng, măng Bát Độ, bương… là chính.
Nguồn thu nhập của bà con khá ổn định từ việc: khai thác măng, khai thác cây bán cho nhà máy giấy, phần khác bán cốt pha trong xây dựng, làm lồng nuôi cá và chẻ tăm mành… Với nhiều vai trò như vậy, cây luồng vẫn tiếp tục được coi là chỗ “nhìn vào” của bà con trong xã khi giáp hạt.
Tuy nhiên với 486,7 ha rừng luồng sau nhiều năm khai thác, cây đã có hiện tượng thoái hóa, một số đã hết chu kỳ sinh trưởng dẫn tới hiện tượng ra hoa (còn gọi là “khuy”) làm bụi luồng lụi dần và chết. Xuất phát từ thực trạng đó, Trạm Khuyến nông huyện phối hợp cùng UBND xã kịp thời tập huấn kỹ thuật ươm luồng giống theo nhu cầu của bà con, để người dân tự sản xuất được giống phục vụ cho nhu cầu trồng mới lại rừng luồng ở vụ Xuân 2014.
50 học viên tham gia lớp tập huấn được hướng dẫn tỷ mỷ về các phương pháp ươm giống như: ươm bằng thân ngầm, ươm hom thân, ươm hom cành. Mỗi một phương pháp đưa ra đều có một ưu nhược điểm riêng phù hợp cho từng mùa vụ, địa hình, khí hậu, mục đích của người sản xuất giống. Các học viên được thực hành ngay tại hiện trường nhằm rèn luyện kỹ năng, nâng cao tay nghề. (Khuyến Nông VN 2/8)đầu trang(
Năm 2013 là năm bản lề huyện Bạch Thông thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 13, nhiệm kỳ 2010 - 2015. Với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, chính quyền và sự đồng thuận của nhân dân, huyện đã từng bước hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong phát triển nông - lâm nghiệp.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII xác định mục tiêu “xây dựng huyện Bạch Thông trở thành vùng kinh tế động lực của tỉnh, kinh tế phát triển với nhịp độ cao và bền vững; ngành nông nghiệp phát triển với mũi nhọn là lâm nghiệp, chuyển dịch nhanh sang sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật...”. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra, huyện Bạch Thông đã và đang triển khai đồng bộ các chính sách, dự án về phát triển kinh tế - xã hội, khích lệ tinh thần thi đua lao động sản xuất của nhân dân.
Xác định nông - lâm nghiệp là kinh tế mũi nhọn để khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện, Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã vận dụng sáng tạo các chủ trương của Trung ương và của tỉnh vào thực tế địa phương. Theo đó, huyện đã chỉ đạo phát triển nông - lâm nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng để nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích; đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; xây dựng thương hiệu, tìm thị trường tiêu thụ ổn định cho nông sản. Triển khai thực hiện các chương trình, mô hình sản xuất nông nghiệp; quy hoạch các vùng kinh tế theo đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, tập quán canh tác để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm tạo thành những vùng chuyên canh theo hướng hàng hóa; khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, trồng rừng theo hướng thâm canh và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Công tác phát triển rừng được các cấp ủy, chính quyền tích cực chỉ đạo thực hiện hiệu quả. Phong trào trồng rừng trên địa bàn đang phát triển mạnh mẽ, diện tích nhân dân tự mua giống về trồng rừng hằng năm đều tăng. Tổng diện tích trồng rừng mới trong hai năm 2011 - 2012 được 1.841ha, năm 2013 trồng được 1.701ha, nâng độ che phủ của rừng lên 76,8%. Giá trị thu nhập từ lâm nghiệp của huyện năm 2011 đạt hơn 83 tỷ đồng, năm 2012 đạt hơn 85 tỷ đồng. (Báo Bắc Kạn 1/8)đầu trang(
Khu vực Tây Nguyên và các huyện miền núi giáp Tây Nguyên có tiềm năng lớn về thủy điện. Tuy nhiên, việc phát triển nguồn điện sẽ không được coi là lý do để hy sinh các lợi ích xã hội và môi trường.
Trao đổi với báo Tin Tức, ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên nhấn mạnh, cần có các giải pháp đồng bộ để hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực của các dự án thủy điện trên địa bàn.
Đánh giá tiềm năng phát triển thủy điện của vùng Tây Nguyên, ông Hùng cho biết: “Đến nay, khu vực Tây Nguyên và phụ cận đã có 118 dự án thủy điện hoàn thành, phát điện với tổng công suất 5.798 MW và 75 dự án đang thi công với tổng công suất thiết kế 1.945,2 MW, dự kiến hoàn thành phát điện từ nay đến năm 2015.
Nhìn chung, các công trình thủy điện đều góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu ngân sách cho các địa phương, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận nhân dân.
Khi đi vào khai thác, thủy điện cũng có tác động mạnh mẽ trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, góp phần cải tạo môi trường xung quanh các hồ chứa, góp phần chủ động bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống trong mùa khô ở vùng hạ lưu và khu vực xung quanh hồ chứa. Ngoài ra, một số công trình còn có tác dụng tham gia cắt lũ trong mùa mưa tại một số địa phương.
Hiện nay, các dự án thủy điện đã vận hành trên địa bàn Tây Nguyên đang đóng góp khoảng 20% tổng công suất cho hệ thống điện quốc gia. Hàng năm, các nhà máy thủy điện đang vận hành tại khu vực sẽ đóng góp cho ngân sách nhà nước và xã hội khoảng 6.500 tỷ đồng thông qua việc nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên nước, phí dịch vụ môi trường rừng.
Riêng tại tỉnh Quảng Nam, năm 2012, các nhà máy thủy điện đang vận hành đã đóng góp cho ngân sách tỉnh 535 tỷ đồng; dự kiến đến cuối năm 2015, các nhà máy thủy điện trên địa bàn sẽ đóng góp nguồn thu cho ngân sách khoảng 800 tỷ đồng, bằng 20% thu nội địa của tỉnh.
Qua áp dụng thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tại tỉnh Lâm Đồng, định mức khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân tăng từ mức 2,8 - 3 triệu đồng/năm lên mức 10,5 đến 12 triệu đồng/năm, góp phần thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo cho người dân. Diện tích nhận khoán bảo vệ rừng tăng lên, góp phần bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Nếu có sự phối hợp tốt giữa các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư trong việc kết hợp xây dựng và thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa với xây dựng và điều hành lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp theo lưu vực sông (hoặc hệ thống sông) thì các hồ chứa này sẽ góp phần tích cực vào việc giảm lũ trong mùa mưa và bổ sung nước tưới trong mùa khô cho hạ du.
Ví dụ, thủy điện Buôn Tua Srah, Đồng Nai 2 - 4 sau khi đi vào hoạt động đã chấm dứt tình trạng lũ lụt tại các huyện Krông Nô (tỉnh Đắk Nông), Cát Tiên, Đạ Tẻh (tỉnh Lâm Đồng). Năm 2012, chủ đầu tư các dự án thủy điện trên lưu vực sông Vui Gia - Thu Bồn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc vận hành xả lũ, góp phần tích cực cắt giảm lũ cho hạ du.
Mùa khô 2012 -2013, các nhà máy thủy điện đã góp phần cung cấp nước tưới và giảm tình trạng xâm nhập mặn cho hạ du sông Thu Bồn (tỉnh Quảng Nam), sông Công (tỉnh Bình Định), sông Ba (tỉnh Phú Yên), sông Cái (tỉnh Ninh Thuận), sông Srêpốk (tỉnh Đắk Lắk)… Một số hồ chứa đã kết hợp khai thác du lịch, nuôi trồng thủy sản, giao thông. Khu vực dọc theo các hồ chứa đã hình thành tiểu vùng khí hậu với độ ẩm cao, mực nước ngầm gia tăng giúp phát triển sản xuất nông nghiệp và hệ sinh thái”.
Theo ông Hùng: “Bên cạnh những lợi ích nêu trên, thủy điện ở Tây Nguyên đã làm ngập nhiều diện tích rừng, đất đai, phá vỡ cân bằng sinh thái, hệ động thực vật, làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư, thu hẹp không gian sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
25 công trình thủy điện lớn đã và đang thi công tại Tây Nguyên đã chiếm dụng 68.195 ha đất, ảnh hưởng đến 25.712 hộ dân (6.875 hộ phải di dời). Tây Nguyên đã chuyển đổi trên 80.000 ha đất các loại cho thủy điện. Tính trung bình 1 MW thủy điện lớn đã chiếm dụng 14,5 ha đất các loại, làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của 5,5 hộ dân trong đó 1,5 hộ phải di dời; 1 MW thủy điện nhỏ chiếm dụng 8,7 ha đất, ảnh hưởng đến 1,3 hộ dân.
Bên cạnh đó, một số nhà máy thủy điện chưa phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong việc vận hành hồ chứa phù hợp với lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp nên gây ra tình trạng thiếu nước trong mùa khô, gia tăng lũ lụt trong mùa mưa, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống vùng hạ lưu.
Thủy điện còn làm thay đổi tập quán sản xuất và sinh hoạt của một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số vốn sinh sống lâu đời, việc di dời dân đến các vùng cao trong khi điều kiện sản xuất và đời sống không bằng nơi ở cũ, phải nhiều năm mới khắc phục được. Thủy điện cũng gián tiếp góp phần gây ra tình trạng phá rừng, việc chậm trễ trong đền bù, tái định cư dẫn đến khiếu kiện kéo dài ở một số địa phương, tạo dư luận xấu trong xã hội”.
Về tác động của các dự án thủy điện đối với đời sống người dân trong diện phải thực hiện tái định cư, định canh, ông Hùng cho rằng: “Việc giải tỏa đền bù tái định cư cho người dân đã được quan tâm giải quyết nhưng cũng có nhiều vấn đề phát sinh. Một số nơi người dân bức xúc vì địa phương bố trí đất tái định canh không đủ, hoặc có bố trí đất nhưng lại quá xa nơi tái định cư, đất dốc không thuận lợi cho bà con canh tác…
Ví dụ, việc tái định cư dự án thủy điện Đồng Nai 3 đã hoàn thành theo phương án phê duyệt. Song, việc bố trí đất tái định canh cho 432 hộ dân để đảm bảo mỗi hộ có 1,5 ha đất sản xuất chưa đạt theo quy định. Hiện, dự án mới chia được 259 ha đất tái định canh đủ điều kiện để sản xuất cho người dân, còn thiếu khoảng 250 ha.
Tại Kon Tum, dự án thủy điện Plei Krông đã hoàn thành từ năm 2009 nhưng đến nay vẫn còn 27 hộ dân không nhận đất sản xuất do đất xấu. Thủy điện Thượng Kon Tum dự kiến sẽ phát điện năm 2014 nhưng còn 382,3 ha đất rừng phòng hộ và 68,8 ha đất lúa chưa hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Dự án thủy điện Đắk Đ’rinh nếu không đáp ứng yêu cầu di dời dân trước tháng 9/2013, khi lũ về dù không tích nước vẫn không thể đảm bảo tính mạng và tài sản của 217 hộ dân.
Tại một số khu tái định cư, đời sống của người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số vẫn gặp một số khó khăn, sau nhiều năm vẫn chưa ổn định được. Nguyên nhân là do việc phải di chuyển nơi ở, nơi sản xuất khiến tập quán sinh sống của bà con bị đảo lộn. Có nơi, bà con mặc dù được bố trí đất tái định cư, định canh nhưng vẫn canh tác theo lối luân canh…”.
Vậy cần giải pháp gì để thực hiện được mục tiêu là đời sống người dân tái định cư, định canh tại nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ? Trả lời câu hỏi này, ông Hùng đề xuất: “Các tỉnh khu vực Tây Nguyên và giáp Tây Nguyên cần tăng cường phối hợp với chủ đầu tư các dự án trong công tác bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư và giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các dự án thủy điện.
Hiện nay, đời sống sản xuất và sinh hoạt của bà con ở một số nơi bị ảnh hưởng do lưu lượng dòng chảy ở một số địa phương không đảm bảo. Do đó, các ngành chức năng và chính quyền địa phương cần phối hợp với các nhà máy thủy điện trong việc xây dựng và điều tiết lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn và thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa bảo đảm việc phát điện đồng thời giảm tác động xấu cho sản xuất và đời sống ở hạ lưu.
Để giải quyết vấn đề hậu thủy điện, các địa phương cần xây dựng Quỹ hỗ trợ tái định cư thủy điện để hỗ trợ phát triển sản xuất và đời sống cho các hộ dân phải di dời trong thời gian họ chưa ổn định được cuộc sống. Quỹ này sẽ đóng vai trò quan trọng trong giải quyết kịp thời những vướng mắc, phát sinh đối với đời sống người dân.
Kể cả sau khi kết thúc việc đền bù, tái định cư của các dự án thủy điện nhưng các vấn đề phát sinh vẫn được giải quyết để đảm bảo cho các hộ dân sẽ ổn định được sản xuất và đời sống tốt hơn nơi ở cũ. Nguồn thu của quỹ hình thành từ việc trích một phần thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên nước và một phần lợi nhuận của các nhà máy thủy điện”.
Theo quy định, các dự án thủy điện phải thực hiện việc trồng rừng thay thế. Nói về việc thực hiện quy định này đối với các dự án thủy điện Tây Nguyên, ông Hùng cho hay: “Việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng đã chuyển sang mục đích làm thủy điện ở Tây Nguyên còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do các địa phương không bố trí được quỹ đất; mặt khác, chủ đầu tư các dự án thủy điện thường không có năng lực trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Theo thống kê chưa đầy đủ, mới chỉ có 757,3 ha rừng được trồng so với khoảng 22.770 ha đất rừng các loại đã chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện, đạt khoảng 3,3%.
Tại tỉnh Đắk Lắk, mặc dù UBND tỉnh đã phê duyệt các dự án thủy điện phải trồng mới 845,69 ha rừng nhưng chỉ thực hiện trồng mới được 63 ha. Trong đó, dự án thủy điện Sêrêpôk 4 (80 MW) mới trồng được 38,6 ha so với 202 ha đất rừng đã chuyển đổi mục đích sử dụng. Tại tỉnh Lâm Đồng, hầu hết các dự án thủy điện chưa bố trí được đất để trồng rừng thay thế. Tình Quảng Nam đã thu hồi, cho thuê và chuyển đổi mục đích sử dụng 7.657 ha đất phục vụ các dự án thủy điện nhưng mới phê duyệt được 7 dự án trồng rừng thay thế với tổng diện tích 520 ha. Do đó, thời gian tới, cần tìm giải pháp để tăng diện tích trồng rừng thay thế”.
Trước những vấn đề đang đặt ra, ông Hùng có đề xuất định hướng phát triển thủy điện tại khu vực Tây Nguyên: “Mặc dù thủy điện Tây Nguyên có tiềm năng rất lớn nhưng lợi ích phát triển nguồn cung điện sẽ không được coi là lý do để hy sinh các lợi ích xã hội và môi trường khác. Khu vực Tây nguyên là khu vực có vị trí cực kỳ nhạy cảm cả về địa chiến lược, tài nguyên, nguồn nước, cảnh quan, môi trường, đời sống và bản sắc văn hóa các dân tộc trong vùng. Tôi đồng tình với chủ trương của các tỉnh Tây Nguyên về việc đề nghị Bộ Công Thương cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh về quy hoạch thủy điện và nên loại bỏ những dự án nào quá ảnh hưởng đến môi trường và dân sinh, ảnh hưởng lớn đến đời sống bà con.
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng đã đề nghị Bộ Công Thương cần tạm dừng xây dựng mới thủy điện ở Tây Nguyên trong hai năm 2013 và 2014 để tập trung giải quyết các tồn đọng về môi trường và xã hội đồng thời, rà soát lại quy hoạch, loại bỏ các dự án thủy điện, các vị trí tiềm năng không khả thi và có tác động xấu đến môi trường.
Đối với các dự án thủy điện đã triển khai, Ban chỉ đạo Tây Nguyên đã đề nghị các bộ ngành, các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc bố trí đất ở, đất sản xuất và các điều kiện cần thiết cho các hộ dân tái định canh, định cư; thực hiện cam kết của nhà đầu tư về bảo vệ môi trường, nhất là cam kết trồng lại rừng; kiểm soát chặt chẽ quy trình vận hành hồ chứa đảm bảo thực hiện chức năng cắt lũ mùa mưa và chức năng điều tiết nước cho vùng hạ du; quản lý chất lượng, an toàn hồ đập...”.
Đến nay, tỉnh Lâm Đồng đã rà soát và đưa ra khỏi quy hoạch 28 dự án thủy điện nhỏ thuộc thẩm quyền phê duyệt của tỉnh; tỉnh Kon Tum đã loại bỏ 21 dự án thủy điện vì hiệu quả thấp; Gia Lai chấm dứt hoạt động của 8 dự án thủy điện vừa và nhỏ, đồng thời loại 11 dự án thủy điện khác ra khỏi quy hoạch; Đắk Lắk cũng vừa thu hồi chủ trương đầu tư, loại bỏ khỏi quy hoạch 20 dự án thủy điện vừa và nhỏ. Mới đây, Quảng Nam đã quyết định loại bỏ, dừng 20 dự án thủy điện.
Từ ngày 26/6 đến 3/7/2013, Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên cùng Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đi giám sát bảy công trình thủy điện gồm Đồng Nai 3 (Đắk Nông), Sêrêpốk 4A (Đắk Lắk), An Khê - Ka Nắk (Gia Lai), Thượng Kon Tum, Đắk Đ’rinh (Kon Tum), Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2 (Quảng Nam). (Tin Tức 1/8) đầu trang(
Đất rừng do Công ty TNHH Trúc Vinh, xã Trúc Lâm, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa sử dụng hợp pháp. Năm 2008, tỉnh có quyết định cấp giấy phép khai thác đất làm vật liệu san lấp, cho Ban Quản lí Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn thuê đất.
Nhưng khi tổ chức kiểm đếm, UBND huyện Tĩnh Gia lại lấy tài sản của Công ty Trúc Vinh để lập phương án bồi thường cho Ban Quản lí Rừng phòng hộ (BQLRPH) Tĩnh Gia, không có khoản hỗ trợ mất việc làm cho 63 công nhân…
Ngày 16/6/2008, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành quyết định số 1734/QĐ-UBND, cho phép Ban Quản lí Dự án Công trình Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (BQLDA) thuê và khai thác đất làm vật liệu san lấp. Điểm b, Điều 1 quyết định ghi: “Thu hồi 1.484.604m2 đất giao cho BQLDA thuê để sử dụng vào mục đích khai thác đất làm vật liệu san lấp”.
Tại khoản 2, Điều 2 quyết định giao UBND huyện Tĩnh Gia trong 10 ngày có trách nhiệm quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân (nếu có); tổ chức bồi thường GPMB theo quy định của pháp luật. Quyết định số 1734/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa không nêu cụ thể thu hồi đất của những đơn vị nào dẫn đến tình trạng UBND huyện Tĩnh Gia không ban hành quyết định thu hồi đất, mà chỉ thực hiện việc kiểm kê và lập phương án bồi thường trình UBND tỉnh phê duyệt.
Dựa vào phương án do UBND huyện Tĩnh Gia lập, ngày 7/8/2008 UBND tỉnh Thanh Hóa có quyết định số 2242/QĐ-UBND, duyệt dự toán bồi thường cây thông cho BQLRPH Tĩnh Gia 1.569.180.900 đồng, trong khi UBND tỉnh không có quyết định thu hồi đất của đơn vị này. Trong khi diện tích thu hồi 420.765m2 phê duyệt bồi thường cho BQLRPH Tĩnh Gia, thực tế là của Công ty Trúc Vinh đang sử dụng hợp pháp.
Do thời điểm thu hồi đất vào giữa tháng 6/2008, nên trình tự thủ tục phải theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP. Điểm a, khoản 1, Điều 60 Nghị định này quy định: “Thực hiện đúng trình tự, thủ tục về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định từ Điều 49 đến Điều 59 Nghị định này”. Đối chiếu với hồ sơ, UBND tỉnh Thanh Hóa và UBND huyện Tĩnh Gia sai sót rất nhiều về trình tự, thủ tục, thiếu hẳn các quyết định thu hồi đất tổng thể và thu hồi đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân…
Theo ông Nguyễn Bá Trung, Giám đốc Công ty Trúc Vinh, trước năm 1992 gia đình ông cùng ông Trần Văn Hinh khai hoang 23,6ha trồng cây trên đất trống tại núi Chuột Chù. Năm 1993 ông Hinh chuyển nhượng cho ông Trung 19,6ha rừng, gia đình ông quản lí, chăm bón từ đó đến khi bị thu hồi.
Ngoài ra, ông còn kí hợp đồng với Lâm trường Tĩnh Gia (nay là BQLRPH Tĩnh Gia), nhận 67ha đất lâm nghiệp, liền kề với đất ông nhận chuyển nhượng của ông Hinh, để chăm sóc, bảo vệ và khai thác nguồn lợi rừng từ năm 1997. Khi nhận giao rừng ngày 30/6/1997, diện tích thực tế chỉ còn 60,3ha, số cây thông Lâm trường bàn giao cho ông khi đó chỉ có 7.750 cây, 13,2ha do dân trồng, còn lại 35,5ha đất trống. Do mật độ cây không bảo đảm theo quy định, gia đình ông Trung, sau này là Công ty Trúc Vinh, đã trồng bổ sung, nâng tổng số cây thông kiểm đếm lúc GPMB năm 2008 lên 57.926 cây…
Những nội dung trình bày trên của ông Nguyễn Bá Trung có cơ sở tin cậy. Giấy nhượng vườn rừng đề ngày 12/9/1993, có chữ kí của ông Nguyễn Bá Trung, ông Trần Văn Hinh và vợ là Cao Thị Kỷ đề rõ: “Bên A nhượng bán cho bên B toàn bộ vườn rừng trên đỉnh núi Chuột Chù, cách nhà bên A 120 mét… Diện tích vườn rừng là 196.500m2 (19,65ha); tài sản trên đất gồm 3.200 cây bạch đàn, tre 16 bụi…
Bên A khai hoang 10 năm nay không có tranh chấp”. Mặc dù giấy nhượng bán này không có dấu xác nhận của chính quyền, song được Đoàn Thanh tra và cán bộ Lâm trường huyện Tĩnh Gia xác nhận tại biên bản làm việc ngày 10/4/2009 là có thật, đất ông Trung sử dụng không có tranh chấp. Diện tích đất này ông Trung và Công ty Trúc Vinh sử dụng hợp pháp, phải được đền bù hỗ trợ về đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngày 6/3/1997, bà Phan Thị Xoan, Giám đốc Lâm trường Tĩnh Gia kí hợp đồng số 20 HĐ/BV với ông Nguyễn Bá Trung, nội dung giao 67ha rừng tại tiểu khu 671 cho ông Trung chăm sóc, bảo vệ. Ngày 30/6/1997, ông Nguyễn Thái Tuyến, cán bộ Phòng Kĩ thuật - Kế hoạch đại diện cho Lâm trường tiến hành bàn giao rừng tại tiểu khu 671 cho ông Nguyễn Bá Trung.
Biên bản bàn giao thể hiện, tổng số cây thông tại thời điểm bàn giao là 7.750 cây. Tại biên bản kiểm kê khối lượng bồi thường GPMB số 01/BBKK-Tổ 4 ngày 20/6/2008, do Hội đồng bồi thường GPMB lập cho BQLRPH Tĩnh Gia, tổng số cây thông lấy nhựa là 57.926 cây, trong đó 15.750 cây từ 5 - 7 năm, số còn lại lớn hơn 7 năm.
Từ thời điểm kí hợp đồng, bàn giao rừng năm 1997 đến khi Nhà nước thu hồi năm 2008, ông Trung và Công ty Trúc Vinh vẫn thực hiện trồng dặm, bảo vệ, chăm sóc và khai thác nhựa thông tại khu rừng này, không có tranh chấp, không có bất cứ can thiệp nào của Lâm trường, sau đó là BQLRPH Tĩnh Gia.
Như vậy, số cây thông còn lại, sau khi trừ đi 7.750 cây ban đầu, phải thuộc về Công ty Trúc Vinh, phù hợp với quy định của pháp luật. Việc UBND huyện Tĩnh Gia lập phương án cho BQLRPH Tĩnh Gia được hưởng tiền đền bù, hỏi có công bằng? (Người Cao Tuổi 1/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện biên giới Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, xuất hiện một số thương lái tổ chức thu mua nhiều loại cây dược liệu như: Kim mao cẩu tích, củ khúc khắc... để bán sang Trung Quốc.
Mặc dù, những loại cây này chỉ được thương lái thu mua với giá rẻ mạt, nhưng vì cuộc sống khó khăn nên đồng bào các dân tộc thiểu số ở các bản, làng vẫn vào rừng khai thác với số lượng lớn bán kiếm tiền mưu sinh qua ngày. Nguy cơ cạn kiệt nguồn dược liệu quý ở địa bàn huyện biên giới Kỳ Sơn đang hiện hữu trước mắt.
Một cán bộ công tác trong ngành kiểm lâm địa phương lâu năm thì được anh này chia sẻ: Rất khó ngăn chặn tình trạng tận diệt cây dược liệu trên địa bàn. Biện pháp chủ yếu của chúng tôi vẫn là phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân thấy rõ mức độ nguy hại của nó. Nhưng vì đời sống quá khó khăn, nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế nên chỉ cần thấy có lợi nhuận trước mắt là họ đổ xô đi khai thác không thương tiếc loại dược liệu này.
Thực tế cho thấy, trong khi nhu cầu sản xuất thuốc chữa bệnh trong nước ngày càng cao thì nguồn dược liệu ngày càng trở nên khan hiếm do bị khai thác bừa bãi. Hệ quả là giá dược liệu bị đẩy lên cao, nhiều cây thuốc phải nhập lại từ phía Trung Quốc với giá "cắt cổ" gây khó khăn cho việc chữa bệnh. Do đó, tình trạng tận diệt cây dược liệu ở Kỳ Sơn cần được can thiệp sớm để tránh xảy ra những hậu quả tương tự. (Biên Phòng 1/8) đầu trang(
Sở NN&PTNT Gia Lai cho biết, giai đoạn 2006 - 2012, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng là 11.164 vụ; đã xử lý 11.123 vụ, trong đó có 10.998 vụ xử lý hành chính và 125 vụ khởi tố hình sự; tịch thu 2.725 ô tô, xe máy, máy kéo; thu giữ 3.057 kg động vật hoang dã và 16.428m3 gỗ tròn cũng như gỗ xẻ nhóm 1 đến nhóm 8. Tổng số tiền phạt, bán tài sản đã thu nộp vào ngân sách hơn 117,8 tỷ đồng.
Báo cáo về công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 của UBND tỉnh Gia Lai cũng cho thấy: Tính đến cuối tháng 4/2013, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng là 226 vụ; đã xử lý 223 vụ với 127 vụ xử lý hành chính (90 vụ tịch thu không xử lý) và 6 vụ khởi tố hình sự; tịch thu 3 ô tô, máy kéo và 4 phương tiện khác; thu giữ 168,26m3 gỗ tròn, 457,31m3 gỗ xẻ (nhóm 1 là 38,79m3). Tổng số tiền phạt, bán tài sản thu nộp vào ngân sách hơn 3,5 tỷ đồng.
Theo số liệu thống kê giai đoạn 2006 - 2012 của Sở NN&PTNT Gia Lai, đầu năm 2006, tổng diện tích rừng của tỉnh là 761.847,10 ha. Đến cuối năm 2011, tổng diện tích rừng còn 719.478 ha, trong đó rừng tự nhiên 664.876 ha, rừng trồng là 54.602 ha. Như vậy, chỉ trong vòng 5 năm, diện tích rừng tự nhiên giảm đến 62.159 ha.
Ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Gia Lai cho biết: Diện tích rừng ở Gia Lai ngày càng giảm là do nhu cầu đất ở, đất sản xuất của nhân dân, đất xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi và chuyển đổi rừng sang các mục đích sử dụng khác theo quy định của Nhà nước (7.192 ha); chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su là 28.831,6 ha. Ngoài ra, tình trạng cháy rừng, phá rừng và lấn chiếm đất rừng trái phép kéo dài từ năm 2000 - 2012 đã làm giảm nhiều diện tích có rừng trên địa bàn tỉnh. (Thanh Tra 1/8) đầu trang(
Đi làm rẫy cũng nơm nớp sợ voi quật chết, mấy tháng trời mất ăn mất ngủ, đến lúc thu hoạch lại mất cả công lẫn vốn... Đó là nỗi khổ của người dân các xã biên giới thuộc các huyện Ea Súp, Buôn Đôn (tỉnh Đăk Lăk).
Những ngày này, đàn voi hoang dã khoảng 30 con thường xuyên xuất hiện trên nương rẫy của người dân xã Ia J'Lơi, huyện Ea Súp. Mặc dù những nông dân có kinh nghiệm đã quyết liệt đuổi voi bằng mọi biện pháp, nhưng cũng có gần 4ha lúa, bắp, sắn chuẩn bị thu hoạch bị voi ăn hết.
Ông Nguyễn Văn Hài (ở thôn 3) cho biết: "Đêm nào có nhiều người thì mới dám ngủ lại chòi rẫy để canh chừng thôi. Vụ này tôi làm 1ha bắp lai, năng suất khoảng 50 tạ, trừ hết chi phí cũng lãi ít nhất 15 triệu đồng. Nhưng chuẩn bị thu hoạch thì voi phá sạch, tính ra thiệt hại gần 30 triệu đồng cả vốn đầu tư".
Theo ông Nguyễn Văn Long - Chủ tịch UBND xã Ia J'Lơi, đàn voi này xuất hiện khoảng 2 tuần nay, cứ chập choạng tối là chúng từ trong rừng tiến ra nương rẫy kiếm ăn và phá phách. Hiện đang là mùa thu hoạch nông sản nên rất khó đuổi voi. Còn tại xã Ia R'Vê, từ ngày 20.7 đến nay cũng có một đàn voi rừng khoảng 15 - 17 cá thể, nay mới có 5 hộ báo thiệt hại khoảng 3,5ha.
Ông Lê Thanh Hải - Chủ tịch UBND xã cho biết, chính quyền địa phương cũng chỉ biết tuyên truyền, vận động người dân dùng các biện pháp thông thường như đốt lửa, khua gõ soong nồi để đuổi voi.
Trước đây vùng rừng ở huyện Ea H'leo do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Phả quản lý là sinh cảnh ưa thích của một đàn voi rừng gần 40 cá thể. Sau khi tỉnh cho 4 doanh nghiệp thuê đất trồng cao su, đàn voi này đã di chuyển sang lãnh thổ Campuchia nên huyện này hết voi.
Theo Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk, toàn bộ diện tích rừng còn lại ở Buôn Đôn và Ea Súp hiện chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho voi. Do bị xua đuổi nên voi ngày hiện hung dữ hơn, từ năm 2011 đến nay đã có 2 vụ voi quật chết người đi làm rẫy. Theo ông Phạm Văn Láng - Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk - thì Việt Nam chưa có chương trình riêng về giải quyết xung đột người - voi.
Trước mắt, trung tâm đề nghị không tiếp tục chuyển đổi rừng nghèo, có chính sách hỗ trợ người dân, chỉ trồng các loại cây voi không thích ăn như ớt, ca cao, bông, gừng...
Một số khu vực cần di chuyển người dân đến nơi an toàn, trước hết là 42 hộ ở xã Cư M'lan canh tác trên lâm phần BQL rừng phòng hộ Buôn Đôn, 7 hộ người Dao sinh sống trong lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea H'Mơ...
Trung tâm đang tiếp tục lấy ý kiến người dân, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhằm đề xuất các biện pháp toàn diện để giải quyết xung đột người - voi. (Nông Thôn Ngày Nay 2/8)đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, trong 6 tháng đầu năm 2013, tình hình mua bán, khai thác, vận chuyển lâm sản, động vật trái phép trên địa bàn tỉnh diễn ra khá phức tạp, số vụ vi phạm có chiều hướng gia tăng so với cùng kỳ năm 2012. Đáng báo động là tình trạng khai thác mua bán vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra tại 2 huyện Buôn Đôn và Ea Súp…
Cụ thể, từ đầu năm 2013 đến nay, qua công tác tuần tra, kiểm soát, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, xử lý 1.374 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 416 vụ (tăng 43,4%) so với cùng kỳ năm 2012, lập biên bản tịch thu 2.947m3 gỗ các loại, xử phạt, nộp ngân sách Nhà nước hơn 15,6 tỷ đồng. Trong tổng số các vụ vi phạm, đã có 11 vụ được đem ra khởi tố hình sự, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng báo động là tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra tại 2 huyện Buôn Đôn và Ea Súp hết sức phức tạp. Chỉ riêng trên địa bàn 2 huyện này, qua kiểm tra, truy quét các tụ điểm khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản và công tác quản lý bảo vệ rừng của các dự án trồng cao su, nông lâm nghiệp khác, các cơ quan chức năng đã phát hiện tới 533 vụ vi phạm, tịch thu, tạm giữ hơn 933m3 gỗ các loại.
Việc lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm nương rẫy của các hộ đồng bào dân tộc, dân di cư tự do cũng đã góp phần đáng kể vào việc gia tăng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó, nhiều vụ phá rừng có quy mô lớn, đông người đã diễn ra một cách công khai, trắng trợn.
Điển hình như trên địa bàn huyện Krông Púk, ngày 6/1/2013, tại tiểu khu 356 xã Cư Né, hơn 100 người dân đồng bào tại các Buôn Mùi 1, 2, 3 đã kéo nhau ra dùng cưa máy, xà gạc, dao, rựa…ngang nhiên chặt phá rừng thông phòng hộ dọc quốc lộ 14. Hậu quả, hơn 4ha rừng và 150 cây thông có tuổi đời trên 20 năm tuổi bị đốn hạ ngổn ngang chỉ sau vài giờ đồng hồ.
Hay tại Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Buôn Đôn đã có 110 hộ đồng bào dân tộc thiểu số vào phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép làm nương rẫy trên diện tích hơn 100ha, trong đó có 36 hộ đã dựng chòi, lán trại kiên cố và trồng hoa màu trên diện tích 51,8ha suốt cả một thời gian dài. Trước vụ việc trên, UBND huyện Buôn Đôn đã ban hành quyết định “Buộc khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không ra được quyết định xử phạt vi phạm hành chính” đối với các hộ dân này.
Qua tìm hiểu, nguyên nhân làm cho các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua ở mức báo động là do thói quen, tập quán canh tác theo kiểu di cư của một số đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi, dẫn đến nhu về cầu đất để sản xuất, canh tác là khá lớn nên phá rừng trái pháp luật. Một số đầu nậu đất đai đã đứng ra thuê người dân phá rừng để trục lợi, khi bị thu hồi thì các đối tượng này đứng ra kích động tổ chức đông người, chống đối quyết liệt và khiếu kiện, tranh chấp…khi trồng lại rừng thì bị các đối tượng lén lút nhổ, phá bỏ gây nhiều khó khăn cho việc xử lý.
Ngoài ra, tình trạng lao động không ổn định không việc làm cùng với lợi nhuận cao từ việc khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép đã kích thích nhiều người dân địa phương tham gia. Bên cạnh đó, việc xử lý hành vi vi phạm của các cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương còn thiếu kiên quyết, chưa nghiêm nên chưa đủ sức răn đe.
Lực lượng kiểm lâm còn mỏng, lại thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhất là việc các Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp hoạt đông yếu ớt do thiếu kinh phí, nhiều công ty trở nên buông lỏng, bất lực hoặc đối phó yếu ớt trước nạn xâm hại rừng, không loại trừ khả năng nhiều cá nhân dung túng, tiếp tay cho các hành vi xâm hại rừng.
Trước thực trạng trên, mới đây UBND tỉnh Đắk Lắk đã đưa ra những biện pháp cấp thiết như: Cần đề cao trách nhiệm của chủ rừng và chính quyền địa phương khi để mất rừng. Xử lý nghiêm những doanh nghiệp, hộ dân và cộng đồng dân cư được giao rừng để bảo vệ, hoặc triển khai dự án trồng cao su mà quản lý lỏng lẻo dẫn đến mất rừng. Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, trong đó chú trọng việc tranh thủ sự hỗ trợ của lực lượng công an, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng tham gia bảo vệ rừng trên tuyến biên giới và rừng ở những địa bàn chiến lược về quốc phòng.
Theo dõi, quản lý và xử lý nghiêm minh các đối tượng là lâm tặc, đầu nậu và các chủ xưởng chế biến lâm sản khi phát hiện vi phạm. Đưa những vụ án phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép…ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật; kiểm tra, giám sát việc trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang xây dựng công trình thủy điện, khai thác khoáng sản và các công trình xây dựng khác, xử lý nghiêm đối với các sai phạm theo quy định. (Công An Nhân Dân 1/8)đầu trang(
1-8, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Y Sroi và Y Ki, trú tại xã Nâm Nung, huyện Krông Nô về hành vi chống người thi hành công vụ.
Trước đó, ngày 23-7, Công an huyện Krông Nô đã cử ba đồng chí gồm: Nguyễn Quang Thơm, Đào Văn Hoan và Nguyễn Thanh Đàm xác minh, làm rõ thông tin một số đối tượng dùng xe máy cày vận chuyển gỗ trái phép từ rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung ra thôn Tân Lập, xã Nâm Nung. Đến 17 giờ cùng ngày, ba đồng chí phát hiện một chiếc xe máy cày chở năm hộp gỗ cùng bảy người dân ngồi trên xe cày. Các đối tượng phát hiện hô hoán dùng dao rựa, xà beng, tuýp sắt truy đuổi tổ công tác, đánh một đồng chí bị thương ở tay. Khi nhiều người dân chung quanh ra can ngăn, các đối tượng mới bỏ đi.
Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác tiếp tục đuổi theo để bắt giữ xe cày chở gỗ với sự ứng cứu của công an huyện.
Khi đuổi kịp bất ngờ Y Sroi và Y Ki cùng năm đối tượng khác cầm dao rựa, gậy, xà beng, tuýp sắt xông tới đuổi đánh, lăng mạ, bao vây tổ công tác cướp lại chiếc xe cày, manh động dùng dao chém và dùng gỗ ném vào tổ công tác làm đồng chí Nguyễn Quang Thơm bị thương ở tay, đồng chí Trần Đại Nghĩa bị thương ở mặt…
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô, hai đối tượng Y Sroi và Y Ki khai nhận toàn bộ số gỗ trên là gỗ da lợn thuộc nhóm VI tương đương khoảng 1,3m3 và được chúng khai thác trái phép.
Vụ việc đang được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô làm rõ. (Nhân Dân 2/8)đầu trang(
Chiều 1-8, ông Nguyễn Thanh Bình, Chi Cục trưởng Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang cho biết: Chi cục vừa nhận bàn giao khoảng 90kg động vật hoang dã các loại, trong đó có một số loại quý hiếm, đang được bảo tồn từ Công an huyện Hòn Đất.
Số động vật hoang dã trên do lực lượng Công an huyện Hòn Đất thu giữ vào khoảng 6 giờ ngày 1-8 từ một xe buýt (mang biển kiểm soát 68H-4521) do Đỗ Phước Hải (32 tuổi, ngụ ấp Thuận Hòa, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) điều khiển. Tại cơ quan điều tra, đối tượng Hải khai nhận, số động vật hoang dã trên là do Hải nhận chở thuê cho một hành khách (không biết tên) từ kênh T6 (xã Bình Giang, huyện Hòn Đất) về thành phố Rạch Giá.
Cũng theo ông Nguyễn Thanh Bình, trước đó, chiều 31-7, tại một cửa hàng thủy sản ở khu lấn biển Rạch Giá, lực lượng Kiểm lâm tỉnh cũng đã thu giữ 3 con rùa biển (hơn 50kg) - loài cấm đánh bắt. Hiện 3 con rùa biển trên đã được đưa về Trung tâm bảo tồn động vật hoang dã Hòn Me để nuôi dưỡng sau đó sẽ thả về vùng biển Phú Quốc. (Quân Đội Nhân Dân 2/8)đầu trang(
UBND tỉnh vừa ra quyết định xử phạt đối với 3 cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản với tổng số tiền phạt 80 triệu đồng.
Đồng thời, tịch thu sung quỹ nhà nước tang vật gồm 27 hộp gỗ xẻ (5,395m3) chủng loại xoan đào; thuộc nhóm VI. Các cá nhân vi phạm gồm: Võ Tấn Bình (SN 1989, nghề nghiệp lái xe; cư trú tại thôn Thạnh Mỹ, xã Quế Xuân 1); Đặng Quốc Trương (SN 1991, nghề nghiệp lái xe; cư trú tại thôn Phú Mỹ, xã Quế Xuân 2); bà Võ Thị Bé (SN 1977, nghề nghiệp kinh doanh; cư trú tại thôn 10, xã Quế Xuân 2, huyện Quế Sơn). (Báo Quảng Nam 2/8)đầu trang(
Năm 1994, UBND huyện đã giao đất lâm nghiệp cho 318 hộ dân thuộc 4 xã Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng và thị trấn Nà Phặc quản lý, sử dụng với diện tích 3.680ha. Tuy nhiên sau khi rà soát lại diện tích đất lâm nghiệp thì phát hiện việc giao đất này đã trùng trên đất lâm trường, nên năm 2009 UBND huyện đã ban hành các Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trả lại đất cho lâm trường.
Đến nay, giữa người dân và lâm trường chưa thống nhất được cơ chế hưởng lợi tài sản trên đất cũng như hoàn thành các thủ tục để giao đất cho địa phương quản lý.
Huyện Ngân Sơn có diện tích tự nhiên 64.578ha. Trong đó diện tích đất lâm nghiệp của huyện là trên 51.689ha, chiếm hơn 80% tổng diện tích tự nhiên. Năm 2000, sau khi rà soát lại diện tích đất do lâm trường quản lý, huyện Ngân Sơn đã phát hiện việc giao đất cho các hộ dân đã trùng trên đất của lâm trường. Năm 2009, UBND huyện Ngân Sơn đã ban hành các Quyết định thu hồi giấy chứng nhận và trả lại đất cho lâm trường, tuy nhiên giữa lâm trường và người dân chưa thống nhất được cơ chế hưởng lợi đối với tài sản trên đất. Đến nay, hầu hết các hộ dân trên địa bàn 4 xã này đều chưa được cấp giấy CNQSDĐ.
Những nguyên nhân trên đã dẫn tới những khó khăn nhất định trong việc thực hiện Dự án cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giai đoạn 2011-2013) trên tất cả 11/11 xã, thị trấn. Trong quá trình triển khai thực hiện, Dự án đã gặp phải những khó khăn tại 4 xã Đức Vân, Bằng Vân, Vân Tùng, thị trấn Nà Phặc, một số diện tích đất ở, đất lâm nghiệp hiện đang nằm trong đất của lâm trường.
Cụ thể, tại xã Vân Tùng đất của lâm trường giao trùng vào đất quốc phòng, đất của trụ sở xã Đức Vân, trạm y tế, trường học đều nằm trong đất của lâm trường. Toàn bộ diện tích này chưa được rà soát, xác định ranh giới, lập bản đồ trích đo và tách khỏi đất lâm trường. Đối với diện tích đất lâm nghiệp đã được huyện Ngân Sơn giao cho các gia đình, cá nhân từ năm 1994 trùng trên đất lâm trường, UBND huyện đã có Quyết định thu hồi giấy CNQSDĐ của các hộ dân.
Tuy nhiên trên thực tế, phía lâm trường quản lý chưa hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp, một số diện tích đã được người dân sử dụng trồng rừng như thông, sa mộc đến nay đã tới tuổi nhưng việc khai thác và bán gỗ này gặp khó khăn. Một số hộ dân được giao đất từ năm 1995 với diện tích lớn nhưng các hộ chủ yếu khoanh nuôi, công tác bảo vệ việc phát triển rừng còn hạn chế. Theo đánh giá của huyện Ngân Sơn, đối với diện tích đất giao cho lâm trường quản lý, qua rà soát diện tích đất khoanh nuôi hàng năm lâm trường thiết kế trồng rừng mới theo kế hoạch đạt tỷ lệ thấp.
Để tháo gỡ những khó khăn trên với mục đích tăng cường công tác quản lý, sử dụng đất hiệu quả, phát triển rừng bền vững huyện Ngân Sơn đã đề nghị cơ quan chức năng tổ chức rà soát bản đồ đất 3 loại rừng và đối chiếu thực địa; tổ chức cắm mốc giới và thông báo cho UBND các xã, thị trấn và các hộ gia đình được biết, thực hiện, vì số liệu giữa quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 và quy hoạch 3 loại rừng không khớp nhau.
Đến nay, 4 xã trên của huyện Ngân Sơn đã tiến hành kiểm tra thực địa, đo đạc theo mốc chỉ giới. Theo báo cáo của xã Đức Vân, tổng số đất lâm nghiệp của xã là 2.347ha. Trong đó, diện tích do xã và các hộ dân quản lý, sử dụng là 853ha; đất lâm trường Ngân Sơn quản lý, sử dụng là 1.494ha.
Có 6 thôn, bản của xã là Phiêng Dượng, Nặm Làng, Bản Chang, Bản Đăm, Bản Tặc, Bản Ruồi có đất lẫn trong đất của lâm trường với diện tích 737.97ha của 109 hộ. Theo lãnh đạo UBND xã Đức Vân, toàn bộ diện tích đất của các hộ dân này nằm xen lẫn trên đất của lâm trường, thực tế các hộ dân đã sinh sống và canh tác từ trước khi có Quyết định của UBND tỉnh Cao Bằng giao đất cho lâm trường Ngân Sơn.
Còn tại xã Bằng Vân, qua kiểm kê, đối chiếu thực địa và bản đồ thì diện tích đất của lâm trường trên địa bàn xã là 1.443.60ha nằm trên địa bàn 5 thôn, Khuổi Ngoạ, Nặm Nộc, Lũng Sao, Pù Mò, Pác Nạn. Xã đã phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Lâm trường thống nhất xác định ranh giới đất lâm trường trên địa bàn, trong đó có 3 thôn có đất lâm nghiệp bị giao trùng, 78 hộ có nhu cầu sử dụng đất, với tổng diện tích 350ha.
Theo chính quyền xã Bằng Vân, một số diện tích đất của lâm trường quản lý chưa hiệu quả, còn để các đối tượng khai thác khoáng sản vào đất lâm nghiệp tại khu vực các thôn Khuổi Ngoạ, Nặm Nộc. Còn tại xã Vân Tùng, Lâm trường quản lý 1.430ha đã thống nhất trả lại toàn bộ cho địa phương quản lý. Tại thị trấn Nà Phặc, Lâm trường giữ lại toàn bộ 794,24ha.
Theo bản đồ quy hoạch đất của lâm trường giai đoạn 2007 - 2015 đã được UBND tỉnh phê duyệt, tổng diện tích lâm trường đề nghị giữ lại là 2.020ha, diện tích trả lại cho huyện Ngân Sơn là 3.146ha. Tuy nhiên, phía lâm trường không hoàn chỉnh các thủ tục để UBND tỉnh thu hồi đất giao cho địa phương, do vậy đến nay toàn bộ diện tích trên phía lâm trường Ngân Sơn vẫn quản lý. Đa số các hộ dân đang sinh sống, sản xuất trên diện tích của lâm trường hiện nay đều có chung mong muốn được hỗ trợ theo cơ chế hưởng lợi từ sản phẩm rừng, vì nhiều hộ dân đã thực hiện việc trồng rừng từ thời điểm trước khi có quyết định của UBND tỉnh Cao Bằng giao đất cho lâm trường; một số hộ được chính lâm trường trước đây giao đất để quản lý và đề nghị huyện cấp giấy CNQSDĐ.
Với những vướng mắc trên, đến nay hàng loạt những vấn đề liên quan cần được tháo gỡ. Cụ thể như việc xác định lại toàn bộ diện tích đất của lâm trường tại các địa phương; trong đó có cần bóc tách các loại đất như đất ở, đất phi nông nghiệp, đất nông nghiệp; huyện cần rà soát để cấp giấy CNQSDĐ cho các hộ dân tại 4 xã nêu trên.
Để tổ chức tốt công tác quản lý đất lâm nghiệp đồng thời đẩy nhanh công tác phát triển rừng theo hướng hiệu quả, bền vững, trong những năm tiếp theo, theo chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với công tác phát triển rừng sản xuất đặc biệt là việc giao đất, giao rừng cho người dân quản lý, chăm sóc sẽ mang lại hiệu quả to lớn.
Trên cơ sở đó, huyện Ngân Sơn cần tổ chức tốt công tác rà soát quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh phê duyệt phương án quy hoạch (đất lâm nghiệp, đất rừng phòng hộ, đất sản xuất, đất khác). Đây là nút thắt cần được tháo gỡ trong việc quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Ngân Sơn trong những năm qua. Đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn theo đúng kế hoạch đề ra. (Báo Bắc Kạn 1/8)đầu trang(
1.8, ông Võ Văn Bình, Đồn trưởng Đồn biên phòng 711 (Bộ đội biên phòng Kon Tum) cho biết, trong lúc tuần tra lực lượng liên ngành của tỉnh Kon Tum đã phát hiện gần 100 m3 gỗ khai thác trái phép tại các tiểu khu 725, 747 (H.Sa Thầy).
Vụ việc đang được điều tra làm rõ. (Thanh Niên 2/8)đầu trang(
Bị thanh tra phát hiện làm thất thoát ngân sách hàng tỉ đồng và kiến nghị chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, nhưng đã gần 1 năm trôi qua giám đốc sở vẫn tiếp tục đương chức và còn nói “không có gì sai trái cả”!
Ngày 4.10.2012, Thanh tra tỉnh Thừa Thiên-Huế đã công bố kết luận thanh tra, nêu rõ từ 2008 - 2011, tại Sở NN-PTNT tỉnh đã xảy ra hàng loạt sai phạm liên quan đến việc thẩm định, dự toán và phê duyệt dự toán khai thác gỗ rừng trồng tại các ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Sông Bồ, A Lưới, Sông Hương, Bắc Hải Vân, Nam Đông, gây thất thoát cho nhà nước hơn 9,1 tỉ đồng.
Các sai phạm này chủ yếu thuộc về trách nhiệm các cá nhân gồm ông Lê Ánh (chuyên viên thẩm định Phòng Kế hoạch tài chính), ông Hồ Đăng Dũng (Trưởng phòng Kế hoạch tài chính, Sở NN-PTNT) và ông Hồ Đăng Vang (Giám đốc Sở NN-PTNT).
Riêng ông Vang còn nhiều sai phạm khác trong chỉ đạo điều hành tại các đơn vị trực thuộc, có dấu hiệu trù dập cán bộ trong điều động, luân chuyển và xử lý kỷ luật cán bộ tùy tiện. Ông Vang còn can thiệp cho Xí nghiệp Tấn Lộc hưởng hàng loạt những ưu ái khó hiểu như khất nợ hơn 2,8 tỉ đồng trong việc khai thác 183,7 ha rừng tại rừng phòng hộ A Lưới; mua 75,27 ha rừng sau đó bán lòng vòng thu lợi hơn 2 tỉ đồng; khai thác hơn 300 ha rừng trồng tại BQLRPH Sông Hương và A Lưới. Đặc biệt còn viết thư tay yêu cầu BQLRPH Sông Hương cho Xí nghiệp Tấn Lộc mượn 200 triệu đồng.
Những sai phạm trên đã được Thanh tra tỉnh kết luận và kiến nghị UBND tỉnh chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ. Ngày 31.7, đại tá Đặng Minh Lực, Chánh văn phòng đồng thời là người phát ngôn của Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế, cho biết Công an tỉnh nhận hồ sơ sai phạm tại Sở NN-PTNT tỉnh do Thanh tra tỉnh chuyển từ ngày 13.11.2012 và hiện Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đang tiến hành thẩm tra, xác minh.
Ông Vang nói những điều nêu trong kết luận thanh tra là chưa đúng bản chất vụ việc. “Ở Thừa Thiên-Huế, chỉ cần sai phạm vài trăm triệu thôi là đủ chết chơ có mô mà tới bạc tỉ. Tỉnh ủy có tới 50 người mà ai người ta cũng biết không có chuyện đó mô. Không có gì sai trái cả”, ông Vang nói. (Thanh Niên 2/8)đầu trang(
Trong tháng 7/2013 lực lượng KL Nghệ An đã bắt giữ 91 vụ vi phạm lâm luật. Trong đó có 81 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, số gỗ tròn và xẻ các loại đã tịch thu 253 m3; vi phạm về quy định quản lý bảo vệ động vật hoang dã 1 vụ, số động vật rừng đã thu giữ 67 kg; vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản 4 vụ; vi phạm khác 5 vụ.
Tổng số tiền đã xử phạt, bán lâm sản và phương tiện vi phạm trong tháng 7 được 1.619 triệu đồng. Lũy kế 7 tháng đã thu nạp ngân sách 10 tỷ 964 triệu đồng. (Nông Nghiệp VN 2/8)đầu trang(
Ngày 13/7, sau khi nhận được tin báo của quần chúng, Công an huyện Krông Nô đã cử Tổ công tác và đến hiện trường ở thôn Tân Lập, xã Nâm Nung và phát hiện 1 chiếc xe máy cày chở 5 hộp gỗ cùng 7 người dân đang ngồi trên xe.
Trong quá trình truy đuổi và bắt giữ chiếc xe cày trên, Tổ công tác bị Y Sroi và Y Ki cùng 5 đối tượng khác cầm dao rựa, gậy, xà beng, tuýp sắt chống trả quyết liệt để cướp lại chiếc xe cày, làm anh Nguyễn Quang Thơm bị thương ở tay, anh Trần Đại Nghĩa bị thương ở mặt. Trước sự quá khích của các đối tượng, Tổ công tác đã bắt giữ Y Sroi và Y Ki giải về Công an huyện. Các đối tượng còn lại sau đó lần lượt ra Công an huyện đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Cơ quan CSĐT, các đối tượng khai nhận toàn bộ số gỗ trên là gỗ da lợn thuộc nhóm VI tương đương khoảng 1,3m3 và được chúng khai thác trái phép trong rừng.
Ngày 31/7, Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Y Sroi (SN1986) và Y Ki (SN 1989), trú tại xã Nâm Nung (Krông Nô) về hành vi chống người thi hành công vụ. (Báo Đăk Nông 2/8) đầu trang(
1-8, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động PCCCR số 1 Chi cục Kiểm lâm, kiểm tra cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã của lê Sỹ Bảo (trú tại TP Hạ Long), phát hiện tại đây có nuôi nhốt trái phép 2 con khỉ đuôi lợn và khỉ vàng thuộc nhóm động vật quý hiếm 2B và 1 con mèo rừng thuộc loại động vật quý hiếm 1B, cùng 25 con chim trĩ đỏ.
Chi cục Kiểm lâm tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Quảng Ninh 1/8)đầu trang(
THẾ GIỚI
Các nhà khoa học từng tiên phong trong việc nhân bản vô tính cừu Dolly vừa có kế hoạch dùng tế bào đông lạnh từ xác voi ma mút để làm sống lại những con quái vật cổ đại.
Theo dự án trên, các nhà khoa học sẽ sử dụng tế bào gốc để làm sống lại những loài thú cổ đại như từng làm với cừu Dolly năm 1996. Các chuyên gia cho rằng, việc tạo một loài khổng lồ từ kỹ thuật nhân bản vô tính là rất khó khăn, nhưng kỹ thuật hiện đại với công nghệ chuyển đổi tế bào mô gốc có thể đạt thành công.
Triển vọng tái tạo các loài vật cổ đại được giới khoa học chú ý khi họ phát hiện xác con voi ma mút con gần như nguyên vẹn bên dưới lớp băng vĩnh cửu ở Siberia. Dự kiến, giới nghiên cứu sẽ trích lấy tế bào gốc từ xác con voi ma mút con để thu thập DNA nhằm tái tạo loài vật cổ đại. Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi các tế bào phải khỏe mạnh dù trải qua hàng nghìn năm dưới lớp băng tuyết.
Hồi đầu tháng, xác con voi ma mút trên với tên gọi Yuka được trưng bày tại thành phố Yokohama, Nhật Bản sau khi người ta vận chuyển chúng từ vùng Siberia. Con ma mút cái nhỏ này sống khoảng 39.000 năm trước. Nó được bảo quản tốt đến mức vẫn còn lại bộ lông màu nâu vàng, các cơ bắp và các mô mềm trên xác.
Theo ông Sir Ian Wilmut, một nhà khoa học tế bào gốc, việc tái tạo các con thú thời tiền sử từ voi ma mút là một ý tưởng có thể trở thành hiện thực, nhưng điều này phải đối mặt với nhiều khó khăn từ thách thức kỹ thuật. Vấn đề cấp bách nhất là bảo quản các tế bào khổng lồ của voi ma mút được nguyên vẹn sau khi được lấy lên từ lớp băng tuyết vĩnh cửu.
Voi ma mút là loài to lớn từng ngự trị trên trái đất hàng chục ngàn năm trước, chủ yếu ở khu vực Bắc Mỹ và lục địa Á-Âu. Loài này tuyệt chủng do các tác động từ việc thay đổi của môi trường. (Vnexpress 1/8)đầu trang(
Các nhà khoa học bắt sống một con cá mập trắng, gây mê nó rồi gắn thẻ định vị GPS lên vây của "sát thủ biển khơi", phục vụ cho một dự án nghiên cứu đầy tham vọng.
Trong dự án này, các nhà nghiên cứu sẽ thực hiện nhiệm vụ gắn thẻ cho cá mập lớn nhất lịch sử nước Mỹ ở ngoài khơi Cape Cod, bang Massachusetts. Nhiệm vụ do tổ chức phi lợi nhuận OCEARCH và Viện hải dương học Woods Hole (WHOI) phối hợp thực hiện gắn thẻ trên 20 con cá mập trắng lớn.
Theo ông Simon Thorrold từ WHOI, nỗ lực này nhằm tìm hiểu rõ hơn về loài cá mập trắng và tầm quan trọng của chúng trong chuỗi lưới thức ăn ở đại dương. Hiện có khoảng 100 triệu con cá mập bị giết mỗi năm do nạn đánh bắt bừa bãi tại nhiều nước trên thế giới.
Để thực hiện dự án trên, các nhà khoa học sẽ bắt những con cá mập trắng, gây mê và đặt chúng lên thiết bị nâng thủy lực để đính vào vây lưng chúng thẻ GPS. Từ đó giúp giới khoa học hiểu hơn về đường đi của cá mập trắng, nhiệt độ và độ sâu của nước. Ngoài ra, các chuyên gia cũng thu thập mô và mẫu máu cá mập trắng để tìm hiểu thêm về sức khỏe và chế độ ăn uống của chúng.
Các dữ liệu thu thập sẽ được sử dụng cho nhiều nghiên cứu về hành vi của cá mập. Theo ông Simon Thorold, việc cá mập trắng lớn xuất hiện ngoài khơi Cape Cod trong những năm gần đây trùng với thời điểm phục hồi của quần thể hải cẩu xám, một loại thức ăn ưa thích của cá mập trắng.
Đầu năm nay, nhóm khoa học thuộc tổ chức OCEARCH đã gắn thẻ cho một con cá mập tên Lydia ngoài khơi Florida. (Vnexpress 1/8) đầu trang(
Nói rùa biết hút thuốc lá đã là chuyện lạ, nhưng lạ hơn là có một con rùa ở Trung Quốc nghiện thuốc lá đến nỗi mỗi ngày nó phải hút sơ sơ 10 điếu mới chịu.
Đầu bếp Đường, người đang giúp ông chủ của mình chăm sóc con rùa này, cho biết mỗi khi lên cơn nghiện, nó trở nên kích động một cách đáng sợ và chỉ đến khi nào được rít một hơi cho đã thì nó mới thôi hung hăng.
Cách đây 2 tháng, đầu bếp Đường nhận thấy con rùa trở nên chán ăn, kể cả món cá ưa thích nó cũng không thèm. Khám người nó thì anh phát hiện thấy một cái xương gà sắc nhọn ở phía dưới bụng của nó. Lấy ra thì con rùa ngọ nguậy không làm được nên anh nghĩ ra một cách đánh lạc hướng nó.
Nghĩ là làm, đầu bếp Đường lấy ngay điếu thuốc ở trên miệng của mình đút vào miệng rùa để cho nó bớt quậy. Không ngờ, con rùa ngậm luôn điếu thuốc trong miệng và nhất quyết không chịu nhả.
Cũng từ đây, con rùa luôn tiến lại gần đầu bếp Đường để xin thuốc lá. Cứ như thế, ông và con rùa thường hút thuốc với nhau. Nếu ông Đường không cho hút, nó sẽ bám lấy ông.
Đầu bếp Đường cho biết, hiện ông không đủ khả năng để cung cấp thuốc lá cho rùa mỗi ngày, và ông rất vui nếu mọi người đưa ra lời khuyên nhằm giúp con rùa cai nghiện, tờ Globaltimes cho biết.
Trả lời Changchun Evening News, đầu bếp Đường cho biết lúc đầu chỉ là vui nhưng bây giờ anh cảm thấy phải có trách nhiệm với chứng nghiện thuốc lá của con rùa này. Hơn nữa, anh cũng không đủ khả năng để cung cấp thuốc lá cho nó mỗi ngày. Anh hoan nghênh mọi ý kiến, lời khuyên nhằm giúp con rùa cai thuốc lá thành công.
Năm 2011, giới bảo tồn từng ghi nhận một con đười ươi tại Malaysia cũng nghiện thuốc lá. Nếu không được hút thường xuyên, nó sẽ rơi vào trạng thái uể oái, cáu giận. (Đất Việt 2/8)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||