Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 01 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 28/9, đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bùi Bá Bổng dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Nông-Lâm nghiệp ASEAN+3 (AMAF+3) lần thứ 12, diễn ra ở Vientiane, Lào.
Hội nghị có sự tham dự của khoảng 150 đại biểu đến từ các nước thành viên ASEAN và ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Khai mạc hội nghị, Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongsing Thammavong nhấn mạnh rằng vấn đề thiếu lương thực thực phẩm, nghèo đói, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, dịch bệnh... vẫn là những khó khăn và thách thức đối với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Trong năm qua, kinh tế của khu vực ASEAN không ngừng phục hồi nhưng tốc độ tăng trưởng chưa mạnh, do đó các nước ASEAN cần có chính sách và quy định phù hợp tại mỗi nước và hợp tác hiệu quả để đảm bảo kinh tế của khối ASEAN tăng trưởng bền vững. ASEAN cần có biện pháp quản lý nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường, an ninh lương thực một cách vững chắc.
Thủ tướng Thongsing Thammavong cho biết mục tiêu của Lào là phát triển nông-lâm nghiệp toàn diện, đồng bộ theo hướng sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hàng hóa, đồng thời công nghiệp hóa ở những vùng có thế mạnh, đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thông qua khuyến khích sử dụng tiến bộ khoa học.
Thủ tướng Lào tin tưởng AMAF+3 lần thứ 12 sẽ tiếp tục góp phần làm cho gia đình ASEAN thêm đoàn kết, vững mạnh.
Hội nghị khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ đối với hợp tác AMAF+3 trong các lĩnh vực lương thực thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp phù hợp với Tuyên bố chung lần thứ hai về Hợp tác Đông Á và Kế hoạch hợp tác ASEAN+3 giai đoạn 2007-2017; hoan nghênh việc thực hiện Khung chiến lược hợp tác ASEAN+3 (APTC) bao gồm 6 lĩnh vực chiến lược, trong đó có tăng cường an ninh lương thực, phát triển năng lượng sinh khối, quản lý rừng bền vững, giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu, kiểm soát thú y và dịch bệnh...
Hội nghị hoan nghênh kết quả thực hiện các dự án hợp tác trong khuôn khổ APTC, đặc biệt là xây dựng năng lực sản xuất nông nghiệp, xử lý sau thu hoạch; đào tạo tập huấn, nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, và lâm nghiệp; ủng hộ việc tổ chức thực hiện Quỹ dự trữ gạo khẩn cấp ASEAN+3 có hiệu lực từ ngày 12/7/2012, ủng hộ dự án xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về an ninh lương thực ASEAN+3, chương trình hợp tác Nam-Nam và nhiều vấn đề quan trọng khác.
Hội nghị đã nhất trí tổ chức AMAF+3 lần thứ 13 tại Malaysia vào năm 2013. (VietnamPlus.vn 29/9)đầu trang(
Theo phóng viên TTXVN tại Lào, trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Lào, chiều 28/9 tại Vientinane, Đoàn đại biểu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam doThứ trưởng Bùi Bá Bổng dẫn đầu đã có cuộc hội đàm với Đoàn đại biểu Bộ Nông Lâm Lào do Bộ trưởng Vilayvan Phomkhe dẫn đầu.
Hai bên đã thông báo cho nhau tình hình phát triển nông-lâm nghiệp mỗi nước, đánh giá cao việc hợp tác giữa hai bộ trong thời gian qua và khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện ở cấp bộ và các cơ quan chuyên môn của hai bên thông qua trao đổi đoàn các cấp; thường xuyên tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đã thống nhất giữa hai bộ, ở cả cấp trung ương và địa phương.
Hai bên sẽ phát triển sản xuất một số giống ngô lai, lúa gạo, sắn cao sản; nghiên cứu và phát triển giống gia súc, gia cầm (bò, lợn, dê, gà) và thuỷ sản; cường hợp tác trong lĩnh vực kiểm dịch động, thực vật, triển khai các hoạt động hợp tác về phòng chống dịch bệnh và quản lý vận chuyển động thực vật và sản phẩm động thực vật qua biên giới; tăng cường hợp tác toàn diện về lâm nghiệp.
Lãnh đạo ngành nông-lâm nghiệp hai nước nhất trí xúc tiến nghiên cứu về phát triển lâm nghiệp bền vững; bảo tồn giống trong khuôn khổ hợp tác song phương, khu vực và quốc tế; xây dựng Thỏa thuận hợp tác về lâm nghiệp giữa hai nước; cập nhật thông tin về các quy định pháp luật liên quan tới khai thác gỗ tự nhiên và xuất khẩu gỗ; đẩy mạnh hoạt động thương mại, trao đổi hàng hóa nông-lâm nghiệp, thủy sản giữa hai nước; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng đầu tư sản xuất và khai thác tiềm năng các trang trại sẵn có tại Lào.
Phía Việt Nam sẽ hỗ trợ Lào nâng cao năng lực điều tra, giám sát và chẩn đoán các bệnh nguy hiểm và lây truyền qua biên giới; cử chuyên gia giúp Lào một số mô hình sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ xây dựng một số trạm khuyến nông cấp huyện tại Lào cùng một số vấn đề quan trọng mà hai bên quan tâm. (VietnamPlus.vn 28/9)đầu trang(
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước được thực hiện thí điểm theo Quyết định số 380/2008/QĐ-TTg tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng.
Sau 2 năm thí điểm thành công, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về thực hiện chi trả DVMTR trên phạm vi cả nước. Đến nay, sau 2 năm thực hiện, chính sách này đang dần đi vào cuộc sống.
Từ khi Nghị định số 99/2010/NĐ-CP được thực hiện, đến nay đã có 3 Thông tư hướng dẫn được ban hành nhằm tháo gỡ những khó khăn, tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong quá trình thực hiện chính sách. Đó là các Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23/11/12011 hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR, Thông tư số 20/2010/TT-BNNPTNT ngày 07/5/2012 hướng dẫn trình tự thủ tục nghiệm thu thanh toán tiền chi trả DVMTR, Thông tư số 85/2012/TT-BTC ngày 25/5/2012 hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Dự kiến từ nay đến cuối năm 2012, Bộ NN-PTNT, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp ban hành 2 thông tư hướng dẫn về cơ chế quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR và nguyên tắc, phương pháp xác định diện tích rừng trong lưu vực phục vụ chi trả DVMTR.
Bên cạnh đó, một hệ thống các quỹ từ trung ương đến địa phương cũng đã được hình thành và đi vào hoạt động ổn định. Ngoài Quỹ bảo vệ & phát triển rừng VN, đến nay đã có 21/35 tỉnh thành lập, vận hành Quỹ BV&PTR cấp tỉnh. Đây là điều kiện tiên quyết để đàm phán, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR với các nhà máy thủy điện, Cty cung cấp nước sạch… và tiếp nhận nguồn thu DVMTR.
Theo báo cáo của Quỹ BV&PTR VN, tính đến hết tháng 8/2012, quỹ đã ký kết được 22 hợp đồng và thu được 447 tỷ đồng từ các đơn vị sử dụng DVMTR thực hiện chi trả theo hình thức gián tiếp. Trong số các tỉnh đã thành lập Quỹ BV&PTR thì Lâm Đồng, Đắk Nông, Lào Cai, Lai Châu, Nghệ An là những tỉnh đi đầu.
Một số tỉnh dự kiến có nguồn thu từ DVMTR năm 2012 có thể đạt rất cao như Lâm Đồng (95,4 tỷ đồng), Đắk Nông (40 tỷ đồng), Lai Châu (140 tỷ đồng). Riêng tỉnh Nghệ An, chỉ riêng trong tháng 8/2012 đã thu ủy thác từ nhà máy thủy điện Bản Vẽ 14 tỷ đồng của quý I, II/2011 và 2012.
Ông Lê Văn Quang, GĐ Quỹ BV&PTR Đắk Nông cho biết, việc triển khai thực chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, các hoạt động hội thảo, tuyên truyền bằng nhiều hình thức đã góp phần nâng cao nhận thức của xã hội, tạo sự đồng thuận và nhất trí cao trong nhân dân.
Hiệu ứng của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR không những nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng mà còn huy động được một nguồn lực rất lớn cho công tác tuần tra bảo vệ rừng một cách thường xuyên. Thực hiện chính sách chi trả DVMTR cùng với các chính sách đầu tư hỗ trợ khác của nhà nước đã góp phần tích cực hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân nông thôn, miền núi.
Ông Phạm Hồng Lượng, Phó GĐ Quỹ BV&PTR VN cho biết, trong quá trình thực hiện chính sách còn một số vướng mắc như việc thiếu các văn bản pháp lý làm căn cứ hướng dẫn, sự nhận thức của các cấp, các ngành địa phương chưa đầy đủ, còn lúng túng trong triển khai. Nhiều địa phương thiếu nguồn lực tài chính để bố trí triển khai thực hiện các đề án, dự án liên quan đến chi trả DVMTR; đặc biệt là thiếu nguồn lực trong việc rà soát, xác định diện tích rừng trong các lưu vực và xác định ranh giới, diện tích rừng...
Để chính sách thực sự đi vào cuộc sống rất cần sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành nhất là trong việc ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện chi trả DVMTR, đồng thời cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bố trí nguồn nhân lực đầy đủ và nguồn tài chính hỗ trợ ban đầu kịp thời cho Quỹ BV&PTR cấp tỉnh. (Nông Nghiệp Việt Nam 28/9)đầu trang(
Bộ luật Hình sự (BLHS) sửa đổi năm 2009 đã quy định 11 tội danh về tội phạm môi trường, nhưng theo thống kê của Cục Cảnh sát môi trường (C36), sau hơn 10 năm luật có hiệu lực mới chỉ xử lý hình sự được 2 tội danh là Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190) và Tội hủy hoại rừng (Điều 189), còn lại là xử lý hành chính, hoặc chưa xử lý.
Theo Cục Cảnh sát môi trường, mỗi năm toàn lực lượng phát hiện khoảng 5-6 ngàn vụ vi phạm pháp luật về môi trường. Riêng năm 2011, lực lượng cảnh sát môi trường đã phát hiện 7.868 vụ vi phạm pháp luật, chuyển khởi tố 113 vụ với 145 đối tượng, tiến hành xử lý hành chính 3.837 vụ với 1.321 tổ chức và 2.795 cá nhân.
Nguyên nhân theo Cục cảnh sát môi trường, do nhận thức về tội phạm môi trường của người dân và cộng đồng chưa cao do đó việc phòng, chống các hành vi vi phạm về môi trường chưa đạt được kết quả. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác nữa khiến cho vi phạm pháp luật về môi trường ngày càng gia tăng chính là do nhiều quy định vẫn mang tính chung chung, không cụ thể khiến cơ quan chức năng gặp lúng túng trong quá trình xử lý. Lợi dụng "kẽ hở” này của luật, nhiều cá nhân, doanh nghiệp vẫn ngang nhiên phạm tội.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Xuân Lý, Cục trưởng C36, hiện nay các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS về tội phạm môi trường đang rất thiếu. Các khái niệm cơ bản như "nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, gây hậu quả lớn…” lại chưa được làm rõ, dẫn đến việc khó áp dụng.
Đơn cử như tại Khoản 1, Điều 182 quy định về Tội gây ô nhiễm môi trường như sau: "Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.
Quy định là vậy, nhưng chưa quy định rõ mức vượt quá Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam bao nhiêu lần thì được coi là mức độ nghiêm trọng và như thế nào thì được coi là làm cho môi trường ô nhiễm nghiêm trọng, hoặc thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng khác. Chính điều này đã gây lúng túng cho việc áp dụng hình thức xử lý hình sự đối với mỗi hành vi vi phạm.
Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, nguyên nhân chính dẫn tới tội phạm môi trường (TPMT) gia tăng là do sự thiếu thống nhất trong việc xác định rõ ranh giới giữa xử lý hành chính và xử lý hình sự, cũng như phân loại mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để áp dụng các chế tài cho hợp lý, chính xác.
Vấn đề này, Bộ Tư pháp cũng thừa nhận: "Thực tiễn các hành vi vi phạm môi trường ngày càng gia tăng với hình thức và mức độ ngày càng tinh vi, xảo quyệt, và việc áp dụng các điều khoản của BLHS để xử lý các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng vẫn còn hết sức lúng túng”.
Theo đánh giá của các chuyên gia thì số vụ vi phạm pháp luật về môi trường bị phát hiện mới chỉ chiếm khoảng 10 - 20% tổng số vụ xảy ra trên thực tế. Điều này đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người cũng như môi trường sống. Chính vì vậy, việc hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về tội phạm môi trường là điều hết sức cần thiết.
Ông Phạm Văn Lợi, Viện trưởng Viện khoa học quản lý môi trường cho rằng, cần phải sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản BLHS, trong đó phải thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vi vi phạm của các doanh nghiệp. Đồng quan điểm, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương Trần Văn Độ cũng cho rằng: Sửa đổi BLHS lần này, nhất thiết phải quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân vì thực tế nhiều vụ pháp nhân vi phạm không xử lý được, nhất là với nhóm tội phạm về kinh tế và môi trường. (Đại Đoàn Kết 29/9)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
28/9, tại xã Gia Mô, huyện Tân Lạc phối hợp với huyện Lạc Sơn và Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn- Ngổ Luông tổ chức ký kết quy chế phối hợp bảo vệ rừng vùng giáp ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn- Ngổ Luông( NS- NL).
Khu bảo tồn thiên nhiên NS-NL được được thành lập vào năm 2005 theo Quyết định số 40/2005/QĐ- UBND của UBND tỉnh với diện tích gần 19.300 ha. Là nơi quy tụ của nguồn tài nguyên rừng phong phú với nhiều loài động - thực vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam. Khu bảo tồn trải dài trên địa bàn 7 xã thuộc hai huyện Lạc Sơn và 8 xã vùng giáp ranh.
Đây là nơi có khu sinh thái xóm Mú (Lạc Sơn), hang động Nam Sơn (Tân Lạc) thu hút nhiều du khách đến tham quan, du lịch. Trong những năm qua, mặc dù đã được sự quan tâm của các cấp các ngành nhưng tình trạng phá rừng, săn bắt động vật quý hiếm tại khu bảo tồn vẫn xảy ra. Chính vì vậy, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị nhằm ngăn chặn hành vi phá họai tài nguyên rừng tại khu bảo tồn.
Tại hội nghị, đại biểu đã thảo luận, bàn giải pháp nhằm thực hiện có hiệu qủa công tác bảo vệ rừng. Trong đó, tập trung vào những vấn đề chính như: giao khoán đất cho dân; mở rộng diện tích rừng sản xuất tăng thu nhập cho bà con; hỗ trợ kinh phí cho các lực lượng cơ động bảo vệ rừng tại cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền; tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng, phân định rõ trách nhiệm của khu bảo tồn và hạt kiểm lâm; xây dựng các mô hình về tổ tự quản bảo vệ rừng, đến từng hộ dân cùng ký cam kết thực hiện; kiên quyết triệt phá các cơ sở chế biến gỗ lậu, bảo vệ tận gốc nguồn tài nguyên rừng… (Báo Hòa Bình 29/9)đầu trang(
Từ khi giao cho cộng đồng thôn quản lý, rừng cộng đồng được bảo vệ tốt hơn, ý thức giữ rừng của người dân cũng được nâng lên. Tuy nhiên, chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng vẫn chưa sinh lợi nhiều cho người dân.
Các đại biểu dự Hội thảo khởi động Dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” tỉnh Yên Bái.
Dự án “Thí điểm chương trình quản lý rừng cộng đồng” được triển khai từ tháng 10/2006 tại 4 xã là: An Bình, Lâm Giang huyện Văn Yên; Lâm Thượng, Tân Phượng, huyện Lục Yên. Đến năm 2008 bổ xung thêm 2 xã Phan Thanh, An Phú, huyện Lục Yên.
Sau khi thực hiện xong việc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, cấp xã đã xây dựng được 8 phương án giao rừng cho 8 cộng đồng dân cư thôn thuộc 6 xã và đã giao rừng cho cộng đồng quản lý với diện tích 3.200ha. Đồng thời bàn giao cọc mốc ranh giới các khu rừng tự nhiên phòng hộ với hình thức cắm 163 cọc bê tông, 50 mốc đá tự nhiên tại 8 khu rừng giao cho 8 cộng đồng thôn.
Sau khi giao rừng, các cộng đồng thôn đã xây dựng được kế hoạch quản lý bảo vệ rừng cộng đồng, xây dựng quy ước quản lý bảo vệ rừng thôn bản, xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Tại Hội thảo khởi động Dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng”, hầu hết các ý kiến đều cho rằng, từ khi được giao rừng, các thôn bản đã có ý thức hơn rất nhiều trong việc quản lý, bảo vệ rừng, cộng đồng dân cư thôn bản đã coi rừng là của họ, từ đó chủ động đề xuất và đưa ra các biện pháp quản lý bảo vệ rừng chặt chẽ hơn, giảm thiểu tối đa sự xâm hại vào rừng của các đối tượng ngoài cộng đồng góp phần giữ đất, giữ nguồn nước để phát triển sản xuất tạo thêm việc làm cho thành viên của cộng đồng.
Hoạt động tuần tra bảo vệ rừng của cộng đồng được duy trì thường xuyên, các cộng đồng thôn đã huy động được trên 10.000 công tham gia vào công tác này. Qua tuần tra bảo vệ rừng đã phát hiện được 9 vụ vi phạm lâm luật, hạn chế và ngăn chặn được nhiều hành vi xâm phạm rừng và đất rừng.
Xã Lâm Giang, huyện Văn Yên có diện tích rừng rộng lớn, bao gồm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ chạy dọc theo dãy núi Con Voi từ khe An Bình đến xã Lang Thíp (huyện Văn Yên). Phía bên kia núi là huyện Bảo Yên (Lào Cai) và Lục Yên (Yên Bái). Do địa bàn rộng lại tiếp giáp với nhiều xã nên đã có một thời gian rừng bị tàn phá dữ dội. Từ khi thực hiện Dự án quản lý rừng cộng đồng, tình trạng khai thác, xâm chiếm đất rừng đã giảm.
Ông Đặng Văn Bộ, Phó chủ tịch UBND xã Lâm Giang cho biết: “Thôn 9, xã Lâm Giang là một trong 3 thôn có diện tích rừng tự nhiên lớn. Năm 2007, xã được chọn vào chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng. Từ khi giao rừng cho cộng đồng, rừng đã được quản lý bảo vệ tốt hơn, không xảy ra tình trạng xâm lấn, khai thác gỗ trái phép”.
Anh Đặng Văn Thất, Trưởng thôn 9, xã Lâm Giang cho biết: “Cộng đồng thôn 9 được giao quản lý và phát triển trên 600ha rừng. Ban quản lý dự án xã và cộng đồng thôn 9 thường xuyên kiểm tra đôn đốc bà con quản lý tốt diện tích rừng được giao. Chúng tôi luôn tuyên truyền cho bà con hiểu rõ trách nhiệm bảo vệ rừng và việc hưởng lợi từ rừng sau này. Nhờ đó, người dân đã nhận thức được giá trị lợi ích của rừng mang lại, ý thức bảo vệ rừng được nâng cao, người dân không phát rừng làm nương rẫy nữa”.
Rừng cộng đồng đã và đang được bảo vệ tốt, tuy nhiên, do thời gian thực hiện dự án ngắn, trình độ cán bộ xã, thôn và người dân còn hạn chế nên việc thực hiện các văn bản hướng dẫn còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến kiến thức và nhận thức về quản lý lâm nghiệp cộng đồng của các cộng đồng dân cư còn thấp. Diện tích rừng được giao chủ yếu là rừng nghèo kiệt, không có lâm sản phụ nên người dân chưa được hưởng lợi từ rừng.
Do đó, muốn lâm nghiệp cộng đồng phát huy được hiệu quả, cần phải đưa thử nghiệm các mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ để cộng đồng được hưởng lợi trên mảnh đất ấy, dưới tán rừng ấy, góp phần nâng cao đời sống cho người dân. (Báo Yên Bái 29/9)đầu trang(
Thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ trên lĩnh vực lâm nghiệp, đến nay huyện Vân Canh đã giao khoán trên 17.649 ha rừng cho 1.314 hộ dân, 1 tổ chức và 1 cộng đồng thôn quản lý, bảo vệ trong thời hạn 5 năm với tổng kinh phí 3,69 tỉ đồng.
UBND huyện đã chỉ đạo ngành chức năng nghiên cứu phát triển các sản phẩm phụ dưới tán rừng, nhằm tăng nguồn thu nhập cho các hộ dân đã nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, tố giác, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. (Báo Bình Định 28/9)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Trà Vinh cho biết, tỉnh vừa triển khai kế hoạch trồng mới 120 ha rừng phòng hộ ven biển năm 2012, với tổng vốn đầu tư hơn 1,5 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, tỉnh còn đầu tư 1,8 tỷ đồng để thực hiện giao khoán mới, tái giao khoán cho hơn 3.000 hộ dân nhận khoanh nuôi và bảo vệ hơn 4.000 ha rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đã được trồng trong những năm qua. (Nhân Dân 1/10)đầu trang(
UBND TPHCM vừa phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Trồng mới và chuyển hóa rừng phòng hộ, rừng sản xuất trong Công viên Lịch sử - Văn hóa dân tộc TP”.
Dự án nhằm phát huy chức năng của các loài cây có giá trị kinh tế cao và bền vững như: sao đen, dầu, lim xanh, lát hoa, gõ mật, gõ đỏ, giáng hương... để tạo cảnh quan, đa dạng sinh học, bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái nơi tham quan nghỉ dưỡng cũng như góp phần bảo vệ các công trình hạ tầng cơ sở, bảo vệ đất đai trong Khu Công viên Lịch sử - Văn hóa dân tộc và của TP.
UBND TP cũng yêu cầu Sở VH-TT-DL phối hợp với các sở-ngành và UBND quận-huyện liên quan nghiên cứu phát triển mô hình nhà vườn kết hợp du lịch sinh thái tại quận 9 và phát triển du lịch đường sông nội đô; báo cáo UBND TP trong tháng 11-2012. (Sài Gòn Giải Phóng 30/9)đầu trang(
28/9, lãnh đạo Vườn quốc gia Cát Tiên cho hay: Hiện quần thể bò tót tại VQG có từ 110 – 120 con sinh sống theo bầy đàn (19 – 22 đàn).
Đây là nhóm động vật hoang dã có quy cơ tuyệt chủng cao được ghi trong Sách Đỏ. Ở VQG, bó tót là 1 trong 13 loài thú hoang dã thuộc 38 họ, 12 bộ đã được ghi nhận. Mới đây, sau một thời gian thẩm định, Sở NN&PTNT Lâm Đồng đã cho công bố những thước phim do người dân ghi lại cảnh bó tót xuất hiện ở một số nơi trong VQG, trong đó có đàn bò tót 13 con và 1 con bò tót sống đơn độc bị gãy một sừng.
Được biết, từ năm 2006 đến năm 2009, VQG đã triển khai dự án “Bảo tồn các loài bò lớn hoang dã” dưới dự tài trợ của Bộ Ngoại giao Pháp và Quỹ môi trường toàn cầu Pháp với tổng kinh phí 580.000 Euro. (Pháp Luật Việt Nam 29/9)đầu trang(
Hiện nay, giá gỗ đước đột ngột tăng cao, dễ tiêu thụ, người trồng rừng hưởng lợi lớn.
Tại xã Tam Giang (Năm Căn), có hàng chục hộ nhận khoán đất rừng kết hợp nuôi tôm. Trung bình khai thác xong 112ha rừng đước, trừ mọi chi phí người dân được 300-500 triệu đồng, cá biệt có hộ thu hơn một tỷ đồng nhờ diện tích rừng khoảng 10 ha.
Chu kỳ khai thác rừng đước từ 10-20 năm, mỗi hecta rừng thu lời hơn 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, lao động tại chỗ tham gia khai thác được trả công 300.000đồng/ngày.
Được biết, tỉnh Cà Mau có khoảng 70.000 ha rừng đước tập trung ở Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân, Đầm Dơi. (Tiền Phong 1/10)đầu trang(
Nhờ làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc trước đây của tỉnh Quảng Ngãi nay đã trở thành những cánh rừng bạt ngàn với sự tham gia có hiệu quả của hàng chục nghìn hộ nông dân. Nhiều hộ dân nhờ trồng rừng đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Tỉnh Quảng Ngãi hiện đang phát triển mạnh ba loại rừng, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Nhiều chương trình, dự án phát triển lâm nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện được đời sống của nhân dân địa phương.
Trao đổi ý kiến với PV về phát triển kinh tế rừng hiện nay, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi Dương Văn Tô xác định: Quảng Ngãi - một trong những tỉnh miền trung có tiềm năng thế mạnh đất lâm nghiệp với tổng diện tích gần 299 nghìn ha (trong đó rừng phòng hộ chiếm 45,5% và rừng sản xuất chiếm 55,5%). Trên cơ sở quy hoạch đất lâm nghiệp, tỉnh đã có cơ chế, chính sách hợp lý, khuyến khích nông dân phát triển rừng. Các dự án KFW6, JIBIC, WB3 và dự án 661 đã triển khai với hàng chục nghìn hộ nông dân tham gia quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới khoảng hàng chục nghìn ha rừng.
Mục tiêu kinh tế là tập trung phát triển mạnh rừng phòng hộ và rừng sản xuất, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho nghề rừng phát triển toàn diện. Ðây là cơ sở để các địa phương thực hiện tốt các chương trình, dự án trồng rừng, bảo đảm phát huy hiệu quả về cải thiện môi trường sinh thái, cung cấp và điều tiết nguồn nước tưới, sinh hoạt, ngăn chặn xói mòn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Mới đây, UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương thực hiện chặt chẽ, đồng bộ công tác quy hoạch ba loại rừng, tiến hành quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả. Nhiều loại đất trước đây quy hoạch không đúng thì nay được điều chỉnh lại cấp cho dân sản xuất. Các huyện miền núi tập trung thực hiện giao đất, giao rừng cho các hộ dân quản lý, sản xuất. Nhiều hộ dân hiện nay đã trở thành chủ rừng với mức đầu tư hàng chục triệu đồng cho những cánh rừng trồng mới. Các công ty lâm nghiệp, lâm trường và nhà máy chế biến dăm gỗ cũng đã có bước đột phá, mạnh dạn đầu tư tiền tỷ cho những khu rừng trồng tập trung, tạo nên những cánh rừng bạt ngàn. Nhờ đó, mà vốn rừng tăng lên rất nhanh, diện tích rừng trồng mới mỗi năm đều tăng đáng kể, góp phần đưa tỷ lệ độ che phủ rừng từ 24,6% năm 1999 lên gần 46% trong năm 2012...
Về thăm huyện miền núi Ba Tơ, nơi có phong trào trồng rừng mạnh nhất tỉnh hiện nay, chúng tôi chứng kiến nhiều mô hình kinh tế đồi rừng rất hiệu quả và đang được nhân rộng trong các hộ dân. Chánh Văn phòng Huyện ủy Ba Tơ Nguyễn Văn Thường cho biết, Huyện ủy vừa thông qua kế hoạch tiếp tục huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị đối với công tác phát triển kinh tế rừng. Ðây là một trong những chương trình đột phá của huyện, góp phần phát triển kinh tế địa phương bền vững. Hằng năm, các xã và thị trấn Ba Tơ đều xây dựng chỉ tiêu phát triển kinh tế rừng, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho hàng nghìn hộ dân. Nhiều hộ dân đã đầu tư hàng chục triệu đồng cho mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi bò, dê đạt hiệu quả kinh tế cao.
Ðứng trên đỉnh đèo Lâm thuộc xã Ba Thành trong nắng chiều ấm áp của những ngày cuối tháng 9 này, chúng tôi tận mắt thấy những cánh rừng thông, bạch đàn ngút ngàn tầm mắt. Xa xa bên cánh rừng bạch đàn là hàng chục con bò đang nhẩn nha gặm cỏ và một đàn dê mải mê nhai lá rừng.
Trạm trưởng khuyến nông Ba Tơ Nguyễn Thanh Hiệp cho biết: Hiện nay, ngoài xã Ba Thành, các xã khác cũng đã đầu tư phát triển kinh tế đồi rừng rất mạnh với khoảng 80% số hộ dân trong huyện tham gia trồng rừng. Mỗi xã có hàng trăm hộ làm kinh tế rừng với mức thu nhập từ 30 đến 40 triệu đồng/năm. Tại thôn Mô Lân, xã Ba Tô, gần 75% số hộ đã làm chủ đất rừng. Hằng năm, đồng bào trong thôn, bản đã trồng mới hàng chục ha rừng kết hợp chăn nuôi bò, lợn cho thu nhập hàng chục triệu đồng.
Bí thư Chi bộ thôn Mô Lân Phạm Văn Sâm phấn khởi cho biết: Bây giờ bà con ở đây vui lắm, vì được Ðảng, Nhà nước quan tâm hỗ trợ vốn sản xuất. Nhiều người đã được Trạm khuyến nông đầu tư giống cây lâm nghiệp, lợn giống cho nên làm ăn có thu nhập khá, ổn định được cuộc sống...
Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Ba Tơ là đơn vị nòng cốt trong phát triển kinh tế đồi rừng trên mảnh đất Ba Tơ Anh hùng. Công ty đã gắn bó với địa phương để phát triển sản xuất, tạo việc làm ổn định cho khoảng gần 1.800 hộ dân. Hiện, công ty đã ký hợp đồng với hộ dân chín xã trong huyện để làm kinh tế rừng. Trong đó các hộ dân thực hiện các khâu trồng, chăm sóc, bảo vệ với bình quân 10 triệu đồng/ha/hộ. Nhờ đó, nhiều hộ đồng bào không những đã ổn định cuộc sống mà còn giàu lên nhanh chóng như các hộ: Phạm Văn Sơn (xã Ba Trang), Phạm Văn Mời (xã Ba Lế), Phạm Văn Lai (xã Ba Thành)...
Phó Giám đốc Công ty Huỳnh Hoàng cho biết: Ở đây, công ty đầu tư sản xuất giống cây lâm nghiệp với sản lượng gần hai triệu cây con/năm, bảo đảm cung cấp cho các hộ hợp đồng trồng rừng trong từng vụ. Ngoài ra, tại xã Ba Thành cũng đã hình thành một làng chuyên sản xuất cây keo giống với 14 hộ tham gia và mỗi năm đã ươm hơn sáu triệu cây giống keo lai, bảo đảm cung cấp cho các đơn vị và hộ trồng rừng trên địa bàn.
PV đến một số địa phương miền núi khác của tỉnh Quảng Ngãi, đều thấy cây rừng phát triển xanh tốt. Ðứng trên đỉnh đèo Eo Gió (huyện Nghĩa Hành), Dốc Cà Ðáo (huyện Sơn Hà) có thể thấy mầu xanh của rừng bạt ngàn, nhiều diện tích rừng mới trồng đang lên xanh tốt. Hàng chục ha rừng trồng cách đây năm năm đã đến tuổi thu hoạch. Nhân dân một số địa phương cho biết: Chúng tôi có cuộc sống ổn định, giàu lên là nhờ trồng rừng nguyên liệu.
Hiện nay, mầu xanh của rừng keo đang lấn vào sân vườn của hộ dân. Nhiều hộ đã xây dựng trang trại trồng cây lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi cho thu nhập khá cao. Ðồng bào H’re ở Sơn Hà, Minh Long, đồng bào Cà Dong ở Sơn Tây và người Kor ở Trà Bồng có xóa được cái đói, vươn lên làm giàu cũng nhờ một phần phát triển cây lâm nghiệp. Không những ở các xã miền núi mà hiện nay nhiều xã ven biển thuộc huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Ðức Phổ, Mộ Ðức, Bình Sơn cũng đang phát triển mạnh cây lâm nghiệp. Hằng năm, mỗi địa phương đầu tư trồng mới hàng trăm ha rừng phòng hộ, rừng nguyên liệu. Với diện tích rừng trồng hiện nay trên địa bàn tỉnh bảo đảm phục vụ cho các nhà máy sản xuất đồ mộc và chế biến dăm gỗ xuất khẩu...
Bên cạnh lợi ích từ rừng mang lại thì Quảng Ngãi cũng còn nhiều bất cập trong việc phát triển vốn rừng như hệ thống tổ chức, quản lý lâm nghiệp chưa ổn định. Các công ty lâm nghiệp, lâm trường chậm đổi mới, sản xuất kém hiệu quả. Công tác điều tra, quy hoạch đất lâm nghiệp thiếu thực tế, sử dụng không ổn định. Nhiều nơi sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích để trồng mì, nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch, dịch vụ.
Nhất là các huyện miền núi đang có xu hướng sản xuất lâm nghiệp và nông nghiệp chồng lấn diện tích ngày càng lan rộng. Công tác quản lý rừng chưa chặt chẽ. Ðáng nói, nhiều địa phương trồng rừng có quy hoạch, nhưng đến khi khai thác thì không đúng qui hoạch, tiến độ. Mạnh ai nấy khai thác đã dẫn đến đất rừng nghèo, phòng hộ kém và rừng dễ cháy. Các vụ khai thác rừng trái phép vẫn còn xảy ra đã làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường, phòng, chống thiên tai và công tác trật tự, an toàn xã hội...
Với mục tiêu phát triển kinh tế rừng hiệu quả, bền vững, tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung công tác điều tra, quy hoạch, khoanh nuôi và bảo vệ diện tích rừng hiện có, khắc phục tình trạng suy thoái của rừng và đẩy mạnh trồng mới, bảo đảm cải thiện môi trường sinh thái, phấn đấu đạt 46% độ che phủ của rừng đến năm 2012.
Trước mắt, ngoài việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng đặc dụng, tỉnh triển khai thực hiện chủ yếu phát triển rừng phòng hộ và rừng sản xuất, với tổng diện tích hơn 256 nghìn ha. Các huyện và công ty lâm nghiệp trong tỉnh cần đổi mới phương án sản xuất và triển khai biện pháp phát triển rừng trồng, bảo đảm thu hút hàng chục nghìn lao động tham gia trồng rừng, ổn định cuộc sống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và chính sách thu hút đầu tư; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng có hiệu quả; tăng cường năng lực quản lý nhà nước, cải cách hành chính, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn.
Tỉnh Quảng Ngãi có chính sách đầu tư xây dựng các vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung, trong đó xác định rõ quyền sử dụng đất và tài nguyên rừng cho các công ty lâm nghiệp, lâm trường, các thành phần kinh tế khác và hộ gia đình, bảo đảm đầu tư sản xuất lâu dài. Ðất giao cho từng hộ gia đình sử dụng, được bố trí một phần diện tích để thực hiện sản xuất nông, lâm kết hợp, bảo đảm cho việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Các xã đặc biệt khó khăn khi giao đất cho hộ dân phải bố trí vốn, đầu tư kỹ thuật, cây giống để người dân yên tâm phát triển lâm nghiệp.
Với sự bảo tồn và phát triển vốn rừng như hiện nay, sẽ góp phần tạo cơ hội cho nhiều hộ dân vùng cao, vùng sâu của tỉnh Quảng Ngãi khai thác được tiềm năng lợi thế kinh tế rừng, ổn định được cuộc sống và sớm thoát cảnh nghèo khó, vươn lên làm giàu. (Nhân Dân 1/10)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa phê duyệt Dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ tỉnh Quảng Ngãi với tổng vốn đầu tư khoảng 289,6 tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA Nhật Bản là 246,8 tỷ đồng, còn lại là vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh.
Dự án thực hiện trong 9 năm (2012 – 2021) trên địa bàn 9 xã của 4 huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây và Tây Trà với tổng diện tích 9.300 ha, trong đó trồng mới rừng phòng hộ là 2.800 ha; khoanh nuôi có trồng bổ sung 600 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 2.700 ha và bảo vệ rừng 3.200 ha.
Ngoài ra, dự án còn có các hạng mục khác như phát triển cơ sở hạ tầng lâm sinh; hỗ trợ phát triển sinh kế như mô hình trồng rừng cây keo lai hom, trồng mây dưới tán rừng, trồng nấm, nuôi ong, xây dựng hầm biogas, kiểm soát phòng chống cháy rừng, đào tạo, tập huấn… (Tài Nguyên&Môi Trường 29/9)đầu trang(
Vườn Quốc gia Cát Tiên vừa chính thức công bố cuốn video ghi nhận con bò tót đực đơn độc xuất hiện tại vườn, sau một thời gian kiểm tra, thẩm định tính chân thực của đoạn video.
Theo đó, đoạn video trên được ông Vũ Ngọc Duyến quay vào ngày 18/7 vừa qua, tại khu vực núi Tượng với độ dài là 1 phút 42 giây.
Đoạn video ghi nhận chỉ có một cá thể bò tót duy nhất đã trưởng thành xuất hiện. Đây là con bò đực, hai bên sừng không đồng đều, có thể trước đó một bên sừng đã bị gãy và mọc lại.
Trước đó, vào tháng 4/2011, anh Tăng A Pẩu cũng đã quay được tại khu vực núi Tượng một đàn bò tót lên tới 13 con. Bên cạnh những con bò tót đã trưởng thành, đoạn phim còn ghi nhận một số cá thể bò tót con.
Hiện vẫn chưa xác định được nguyên nhân vì sao con bò tót đực này lại lạc lõng một mình mà không đi theo bầy đàn như bản năng sinh tồn trong tự nhiên của nó.
Vườn Quốc gia Cát Tiên có từ 110 – 120 cá thể bò tót sống theo bầy đàn (19 – 22 đàn). Trong Sách Đỏ Việt Nam, bò tót (Bos gaurus) được xếp vào dạng nguy cơ tuyệt chủng cao.
Ở Vườn Quốc gia Cát Tiên Cát Tiên, bò tót là một trong 113 loài thú hoang dã thuộc 38 họ và 12 bộ đã được ghi nhận; và là một trong 43 loài có nguy cơ tuyệt chủng. (Theo Khoa Học&Đời Sống 28/9)đầu trang(
Biết được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác trồng rừng trong việc tạo thu nhập, giúp phủ xanh đất trống, đồi núi trọc... Thời gian qua, phong trào trồng rừng được người dân xã Phong Huân (Chợ Đồn) tích cực hưởng ứng.
Xã Phong Huân có tổng diện tích đất tự nhiên 2.415 ha, đất canh tác 119,8ha, số còn lại là rừng và đất rừng. Những năm trước đây ở Phong Huân bà con tập trung khai thác nứa, chứ chưa chú trọng trồng rừng bởi ở đây diện tích nứa tương đối lớn. Chỉ có một vài hộ gia đình tham gia trồng rừng nhưng ở mức độ nhỏ lẻ và hiện nay đã được khai thác mang lại hiệu quả kinh tế. Thấy được hiệu quả kinh tế từ rừng mang lại nên phong trào trồng rừng ở đây ngày càng phát triển sâu rộng. Đặc biệt là từ khi Dự án 147 được triển khai về địa phương, có những chính sách hỗ trợ người dân trong trồng và bảo vệ rừng đã khuyến khích phong trào trồng ở đây phát triển. Theo đó chỉ trong vòng vài năm trở lại đây diện tích rừng trồng tại Phong Huân đã tăng lên nhanh chóng, đến hết vụ trồng rừng năm 2012 toàn xã đã trồng được hơn 200 ha chủ yếu là cây mỡ.
Trong khoảng thời gian 2 năm trở lại đây, trên địa bàn xã Phong Huân xuất hiện dịch sâu ong ăn lá mỡ, tập trung nhiều ở thôn Bản Cưa và một số thôn lân cận, có lúc diện tích bị sâu ong phá hoại lên đến khoảng 20 ha ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Dịch sâu ong đã ảnh hưởng đến phong trào trồng rừng của người dân, nhiều hộ gia đình trồng mỡ đã bắt đầu có tâm lý lo ngại do đó đã chuyển sang trồng cây keo. Vụ trồng rừng năm 2013 xã được giao chỉ tiêu kế hoạch là trồng 70 ha rừng, tính đến thời điểm hiện nay người dân đã đăng ký trồng được hơn 80 ha, trong đó diện tích đăng ký trồng cây keo là khoảng 40ha.
Là địa phương có điều kiện phù hợp cho phát triển kinh tế lâm nghiệp, do vậy xã tập trung chỉ đạo người dân phát triển kinh tế rừng, đồng thời quan tâm đến công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Ngoài ra mô hình trồng rừng xen canh cũng được địa phương chú trọng, những diện tích rừng trồng năm thứ nhất, thứ hai phần đa đều được bà con trồng xen canh cây lúa nương hoặc cây sắn. Hiệu quả mô hình này mang lại tương đối cao, giúp cho bà con cải thiện được cuộc sống, lấy ngắn nuôi dài, tránh lãng phí quỹ đất, vừa giúp cho rừng trồng phát triển được tốt hơn. Theo đánh giá của người dân, nếu so sánh trên cùng một diện tích trồng xen canh và không trồng xen canh thì cây trên diện tích được trồng xen canh luôn phát triển tốt hơn.
Để phong trào trồng rừng thật sự phát triển, chính quyền xã cũng cần tiếp tục phối hợp với Ban quản lý Dự án 147 thực hiện tốt công tác thiết kế, xử lý thực bì, hướng dẫn các biện pháp gieo trồng đúng quy cách, đúng kỹ thuật, đúng thời vụ đảm bảo tỷ lệ cây sống đạt cao. Vụ trồng rừng năm 2013 đã bắt đầu bước vào giai đoạn chuẩn bị. Rút kinh nghiệm từ vụ trồng rừng năm 2012, ngay từ thời điểm này cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã chủ động tuyên truyền, hướng dẫn bà con nhân dân từ khâu thiết kế, đăng ký diện tích…
Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng tin tưởng rằng khi bà con đã hiểu được giá trị từ việc trồng rừng mang lại và sự quan tâm của chính quyền địa phương, phong trào trồng rừng ở Phong Huân sẽ ngày càng đạt kết quả tốt; giúp xã sớm đạt được mục tiêu về độ che phủ rừng 70%, góp phần phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững. (Báo Bắc Kạn 29/9)đầu trang(
Đội Kiểm lầm Cơ động & phòng cháy chữa rừng số 1 (Chi Cục Kiểm lâm Thanh Hóa) vừa bắt giữ 4 xe ô tô gắn biển hiệu Mai Linh chở động vật rừng trái phép, xử phạt 480 triệu đồng.
Vụ thứ nhất, xe ô tô vận tải hành khách thuộc hãng Mai Linh Hà Nội, BKS 30Z-7978, do Nguyễn Thanh Trường, SN 1970, trú ở xã Hải Hà, Hải Hậu, Nam Định điều khiển vận chuyển 4 cá thể tê tê JaVa trọng lượng 22kg thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIB, không có thủ tục giấy tờ, xử phạt vi phạm hành chính 150 triệu đồng.
Vụ thứ hai, taxi Mai Linh BKS 37S-0553, do Hoàng Văn Xy, SN 1981, trú ở phường Nghi Thắng, xã Cửa Lò, Nghệ An điều khiển chở 2 cá thể tê tê JaVa trọng lượng 7,5kg, 41 cá thể rắn ráo trâu nặng 48kg, 86 cá thể rắn hổ mang trọng lượng 97kg, phạt 250 triệu đồng.
Vụ thứ ba, do Lê Mạnh Hưng, SN 1978, trú ở xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe taxi Mai Linh BKS 36N-1830, vận chuyển 90 cá thể sáo sậu, 140 cá thể sáo đen, 335 cá thể sáo nêu, phạt 40 triệu đồng. Vụ thứ tư, do Nguyễn Hữu Thành, SN 1980, quê xã Hải An, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe ta xi Mai Linh BKS 36N-3622 vận chuyển trái phép 37 cá thể rắn hổ mang, trọng lượng 40kg thuộc động vật qúy hiếm nhóm IIB, phạt 40 triệu đồng.
Hiện cả 4 xe ô tô trong các vụ việc trên vẫn đang bị tạm giữ tại Đội Kiểm lâm Cơ động & phòng cháy chữa cháy rừng số 1. (Tiền Phong 29/9)đầu trang(
28-9, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cho biết, đến nay trên địa bàn có hơn 120 ha rừng thông ở hai huyện Cam Lộ và Vĩnh Linh bị sâu róm tàn phá gây thiệt hại nặng.
Trong đó, sâu róm xuất hiện dày đặc, gây hại nặng nhất là ở rừng thông xã Vĩnh Chấp, huyện Vĩnh Linh và ở xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, với mật độ từ 100 - 170 con/ cây. Có nhiều cánh rừng tỷ lệ cây bị sâu róm tàn phá từ 90 - 100%.
Sâu róm cắn phá làm thông trụi lá, chết khô, gây ảnh hương nghiêm trọng đến tuổi thọ cây thông và sản lượng mủ; gây khó khăn cho việc khai thác mủ của các đơn vị kinh doanh, quản lý rừng.
Hiện nay, thời tiết đang còn nắng nóng và độ ẩm cao, thuận lợi cho sâu róm gây hại cây thông bùng phát trên diện rộng. Trước tình trạng sâu róm hoành hành tàn phá rừng thông, các đơn vị quản lý rừng đã huy động lực lượng, mua 1,5 tấn thuốc sinh học phun diệt trừ sâu róm. (Nhân Dân 29/9)đầu trang(
Ông Phan Văn Công, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, đơn vị đã phối hợp với các ngành liên quan và chính quyền huyện Đồng Xuân kiểm tra thực tế hiện trạng rừng tại khoảnh 4 và 6, tiểu khu 109 thuộc khu vực núi Hòn Giang, xã Xuân Long theo phản ánh của người dân.
Theo đó, toàn bộ khu vực trên có diện tích hơn 101ha là đất trống chưa có rừng, nhưng có nhiều cây bụi và một số cây gỗ nằm rải rác có đường kính dưới 15cm.
Diện tích trên thuộc quy hoạch rừng sản xuất, được UBND huyện Đồng Xuân cấp lại, cấp đổi 9 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho 4 hộ gia đình vào năm 2010. Trong đó có 72,7ha đất trống và 28,4ha đất rừng loại IIa nhưng trên thực tế cũng là đất trống. Tại hiện trường, có 59,7ha đất chưa có rừng được người dân phát đốt thực bì để trồng rừng, còn lại là đất trống, đồng thời san ủi đường đi dài gần 1km, rộng 3m để phục vụ trồng rừng. Ngoài ra, còn có 10,78ha đất thuộc các khu đất giáp ranh cũng đã được phát dọn thực bì của hai hộ gia đình hiện đang được các ngành chức năng và huyện Đồng Xuân rà soát, lập thủ tục cấp GCNQSDĐ.
Từ thực tế trên, Chi cục Kiểm lâm cho rằng, việc người dân phản ánh “phá rừng phòng hộ đầu nguồn Hòn Giang” là không chính xác. (Báo Phú Yên 29/9) đầu trang(
Chiều 28-9, Thượng tá Phạm Hồng Sơn, Phó Công an huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa), cho biết hiện hàng trăm người bám trụ trong rừng Gộp Ngà đã lũ lượt rời khỏi rừng để tránh nguy cơ sạt lở do mưa lớn.
Công an huyện đang tổ chức đóng chốt tại các bãi trầm, ngăn họ quay trở lại sau khi hết mưa. Hiện tại, tại điểm chốt chặn đèo xã Ba Cụm Bắc vẫn còn hàng trăm người dựng lán dã chiến để chờ quay lại rừng.
Phó chủ tịch UBND xã Sơn Trung nói có tin đồn tại thôn Mà O, xã Sơn Trung, nhóm của một người tên Trương Công Hạnh đã trúng một mẩu trầm, sau khi bán chia mỗi người 11-27 triệu đồng nhưng xã không xác tín được. Hiện nay người dân ở huyện Khánh Sơn cũng đang xôn xao việc một số công an huyện đã tịch thu hơn 1 kg trầm của các nhóm đào được. Tuy nhiên, Thượng tá Sơn cũng phủ nhận, cho đó chỉ là tin đồn. (Pháp Luật TPHCM 29/9; Thanh Niên 29/9)đầu trang(
30/9, tin từ Hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng cho biết, điều tra xác minh vụ 3 cây gỗ huê bị khai thác trái phép ở khu vực Hung Trí thuộc vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cho thấy, tại thời điểm "nóng" nhất của vụ việc này đã có 7 kiểm lâm viên và 1 Trạm trưởng rời chốt trực bất thường, từ đó, tạo điều kiện cho 1 lượng lớn gỗ huê được vận chuyển ra khỏi rừng.
Từ ngày 27/4 đến ngày 3/5/2012, Tổ Kiểm lâm chốt trực do Trần Đức Tiến chỉ huy đã liên tục bỏ chốt. Tiến lúc đó là Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng, đồng thời được giao thêm nhiệm vụ chỉ huy tổ. Từ việc bỏ chốt trực dẫn đến hậu quả 1 lượng lớn gỗ huê lậu lọt ra khỏi rừng.
Nói về vấn đề xử lý, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng cho biết: Đối với ông Tiến, lãnh đạo Hạt đã yêu cầu viết bản kiểm điểm, thuyên chuyển đi trạm khác. 7 kiểm lâm còn lại đang cho viết bản tường trình để có hình thức xử lý thích đáng.
Qua sự việc này, dư luận đặt ra câu hỏi: Ai đã chỉ đạo ông Tiến và 7 kiểm lâm bỏ chốt trực trong thời gian làm nhiệm vụ? Tổ Kiểm lâm do ông Tiến chỉ huy có bị mua chuộc hay không? (Thanh Tra 30/9)đầu trang(
Những năm gần đây, lũ lụt, hạn hán liên tục xảy ra trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, khiến sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nặng. Nhiều ý kiến cho rằng, đây là hậu quả việc chặt phá rừng bừa bãi. Điều khiến mọi người băn khoăn là cả chính quyền, nhân dân và các cấp ngành đều biết thực trạng này, thế nhưng việc tàn phá rừng vẫn xảy ra trên địa bàn.
Ông Nguyễn Văn Chung, ở thôn 2, xã Quãng Trực, huyện Kiến Đức, bức xúc: “Hồi xưa khi mà Chính phủ giữ rừng thì ai ai cũng được hưởng. Nay thì người ta chặt rừng, phá rừng. Phá rừng là không có mưa. Mùa mưa không có rừng thì lũ lụt. Giờ thì Nhà nước đừng có cho họ chặt rừng nữa”.
Một minh chứng cho thấy rõ tình trạng phá rừng đang diễn ra diễn ra hết sức nóng bỏng tại Đăk Nông: Công ty TNHH Trường Xuân, đóng trên địa bàn huyện Đăk Song đã khai thác sai lâm phần dẫn đến phá 9 héc ta, với 62 m3 gỗ. Chỉ trong 3 tháng tuần tra, truy quét lâm tặc, các đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh Đăk Nông đã phát hiện, bắt giữ rất nhiều vụ vận chuyển, cất giữ và phá rừng trái phép, thu giữ hàng trăm thiết bị cưa cắt, phương tiện vận chuyển các loại.
Số liệu thống kê cho thấy, những tháng cuối năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012, tình hình chống người thi hành công vụ trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn Đăk Nông tiếp tục diễn biến phức tạp.
Ông Hà Công Tài - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Nông cho biết: “Những hộ gia đình người đồng bào tại địa phương, do nhu cầu cần có gỗ để làm nhà, vào rừng để chặt cây thì không tránh khỏi, nhưng nghiêm trọng nhất là đầu năm có khoảng 100 người đồng bào dân tộc ở những tỉnh phía Bắc vào, họ đã tự ý kéo nhau vào rừng thuộc địa bàn quản lý của Công ty Nam Tây Nguyên, đóng trên địa bàn huyện Tuy Đức, phá rừng với diện tích lớn.
Họ cầm dao, rựa đe dọa nhân viên công ty, đánh cả kiểm lâm làm cho 4 người phải nhập viện. Chúng tôi phải kết hợp với công an huyện cưỡng chế các đối tượng ra khỏi rừng và truy tố 14 đối tượng. Tại địa bàn huyện Cư Jút có đối tượng còn khóa cửa trụ sở kiểm lâm và thả rắn hổ chúa vào, mục đích cho cắn chế đồng chí đang bị nhốt trong đó”.
Trong khi đó, từ phía người dân, anh Phạm Minh Cường, thôn 5, xã Đăk Buk So, huyên Kiến Đức, “so đo”: Mặc dù Chính phủ đã có chính sách quản lý bảo vệ rừng rõ ràng như vậy, thế nhưng lâm tặc vẫn thường xuyên vào rừng chặt phá và vận chuyển gỗ để phục vụ lợi ích cá nhân, trong khi đó, người dân vào rừng khai thác gỗ về làm nhà thì lực lượng kiểm lâm lại bắt giữ và xử lý rất chặt.
Điều này khiến bản thân anh đặt ra câu hỏi, liệu có hay không sự bắt tay giữa lâm tặc với kiểm lâm để cùng nhau phá rừng?. Anh Cường kiến nghị:“ Mong Chính phủ phải làm rõ vấn đề này”.
Rừng đã được giao cho các ban quản lý, các chủ rừng, thế nhưng rừng vẫn bị tàn phá. Hàng loạt vụ việc xảy ra liên quan đến tình trạng chặt phá rừng không thương tiếc và chống người thi hành công vụ vẫn xảy ra trên địa bàn tỉnh Đăk Nông. Thực trạng “nóng bỏng” này đòi hỏi chính quyền đại phương cần quyết liệt hơn nữa trong việc lập lại trật tự trong bảo vệ rừng, có giải pháp đảm bảo cho an toàn cho kiểm lâm yên tâm thực thi nhiệm vụ, nhưng đồng thời cũng tăng cường thanh tra, xử lý để thanh lọc những lâm tặc “đội lốt” người giữ rừng. (Pháp Luật Việt Nam 1/10)đầu trang(
10 năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ chế biến tăng khoảng 15 lần, từ 219 triệu USD năm 2000 lên 3,9 tỷ USD năm 2011 và hướng đến trên 4 tỷ USD năm 2012. Cùng với cá tra, ngành chế biến gỗ cho thấy sự phát triển mạnh mẽ khi Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gỗ lớn thứ 6 thế giới, số 2 châu Á (sau Trung Quốc) và số 1 Đông Nam Á. Điều đáng nói, tiềm lực ngành này còn rất mạnh để có thể tiếp tục tiến xa hơn vị trí hiện nay.
Trong 96,7 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gỗ chế biến của 70 nước trên thế giới, với kim ngạch đạt được khoảng 4 tỷ USD, ngành gỗ của Việt Nam mới chiếm 2,6%. Với tiềm lực này, nếu có chính sách, biện pháp phù hợp, kịp thời với chiến lược đúng đắn, ngành chế biến gỗ có thể đạt con số 15-20 tỷ USD trong hơn 1-2 thập niên tới. Đó là nhận định mà ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa) phát biểu tại hội thảo mới đây về xuất khẩu gỗ chế biến thời suy thoái.
Nhưng để chế biến gỗ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thật sự cần phải có một số điều kiện. Đó là phải tự chủ nguồn nguyên liệu, đây có thể nói là yếu điểm của ngành chế biến gỗ so với con cá tra. Bởi phần lớn gỗ nguyên liệu phải nhập khẩu lên đến hàng tỷ USD. Gỗ nguyên liệu chiếm khoảng 30%-50% giá trị sản phẩm.
Vì vậy, nếu lệ thuộc vào việc nhập khẩu thì không thể nói là có thể phát triển căn cơ. Những nước bán gỗ nguyên liệu cho Việt Nam có xu hướng tăng giá bán qua từng năm, các nước nhập khẩu lại đưa ra nhiều rào cản kỹ thuật như Đạo luật Lacey của Mỹ hay của các nước EU về việc đảm bảo tính minh bạch nguồn gốc gỗ làm chi phí đầu vào tăng lên, trong khi nhà nhập khẩu lại khống chế đầu ra.
Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, rừng là tài nguyên thiên nhiên tái sinh hàng năm nhờ sự phát triển sinh khối cây rừng. Ngành chế biến gỗ sẽ có bước phát triển bền vững khi Bộ NN-PTNT có bước đi đồng bộ trồng rừng và cấp chứng chỉ về rừng. Có như vậy mới vừa phát triển chế biến vừa phủ xanh đất trống, đồi trọc và là nguồn sinh kế ổn định của người trồng rừng. Có thể nói, việc chủ động nguồn nguyên liệu cho nhà máy chế biến vừa đảm bảo môi trường sống cho người dân.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Hà Công Tuấn cho biết, 10 năm trước, Việt Nam khai thác không tới 400.000m³ gỗ/năm, nhưng năm 2011, trong số 13 triệu m³ gỗ sử dụng, lượng nguyên liệu trong nước lên đến 11 triệu m³, bao gồm rừng trồng tập trung 6 triệu m3, gỗ cao su hơn 2 triệu m³ và gỗ cây từ phân tán khoảng 3 triệu m³.
Ông Hà Công Tuấn khẳng định, con số 22 triệu m³ gỗ nguyên liệu trong nước để cung ứng cho nhu cầu chế biến gỗ vào năm 2020 là điều trong tầm tay, có thể thực hiện được. Với 800.000ha cao su, chu kỳ khai thác 25 năm, năm 2020 chỉ riêng cao su có thể khai thác 5-6 triệu m³ gỗ cao su nguyên liệu. Với 2,3 triệu ha rừng trồng, năm 2020 cung cấp 15-16 triệu m³. Chưa kể lượng gỗ phân tán cung cấp hàng chục triệu mét khối. Như vậy, rừng tự nhiên chỉ khai thác hạn chế cho chế biến gỗ ngành thủ công mỹ nghệ.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Hội Hawa cho rằng, ngành chế biến gỗ hoàn toàn có thể trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước nếu biết cách khai thác. Điều ông Thắng muốn nói ở đây chính là khả năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài và tính cạnh tranh với những nước khác. Trung Quốc chuyển ngành này vào sâu nội địa, đẩy chi phí lên cao. Malaysia ngày càng khan hiếm lao động nên giá lao động tăng lên 13 USD/lao động/ngày so với 6 USD/lao động ở VN, Trung Quốc là 10 USD/lao động/ngày.
Tuy nhiên, nếu là ngành kinh tế mũi nhọn phải là ngành kinh tế đầu tàu, tạo điều kiện cho nhiều ngành nghề khác cũng phát triển. Khi chế biến gỗ phát triển cần có nguyên liệu ngày càng nhiều từ rừng trồng trong nước, từ ván nhân tạo và cần những phụ liệu trong quá trình sản xuất như sắt, bao bì (chiếm khoảng 15%-20% giá thành sản phẩm).
Phát triển ngành gỗ chế biến cũng chính là điều kiện để giúp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ như công nghiệp chế tạo máy móc do nhu cầu phát sinh của doanh nghiệp. Hiện nay, thiết bị này chủ yếu nhập khẩu. Hơn 10 năm trước, Trung Quốc nhập khẩu hầu hết các dây chuyền chế biến gỗ, hiện nay, công nghiệp chế tạo máy trong nước phát triển thay thế việc nhập khẩu, qua đó, tạo thêm việc làm người lao động. Nếu 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tạo ra khoảng 1 triệu việc làm thì ngành công nghiệp phụ trợ phát triển con số này có thể lên 2 triệu việc làm…
Rất tiếc, danh mục những ngành kinh tế mũi nhọn mà nhà nước nhận định để tạo điều kiện cho ngành này phát triển chưa có ngành chế biến gỗ. Vì vậy, Hawa đề nghị Bộ NN-PTNT và các bộ ngành khác xem xét để có thể bổ sung ngành gỗ vào danh mục. Đó sẽ là chất kích thích để doanh nghiệp chế biến gỗ mạnh dạn đầu tư, thay đổi công nghệ, thiết bị sao cho phù hợp và chớp lấy thời cơ, khi những nước có thể mạnh về chế biến gỗ ở châu Âu như Đức, Ý, Pháp… đang bị thua lỗ, phải đóng cửa và rao bán nhà máy với thiết bị và công nghệ tiên tiến hiện nay. Cơ hội để tái cấu trúc lại dây chuyền và thiết bị nhà máy vốn đã khá cũ và lạc hậu. (Sài Gòn Giải Phóng 30/9)đầu trang(
Người dân lúc lén lút, khi công khai vào rừng già tìm trầm với hy vọng vận may sẽ mỉm cười. Cơ quan chức năng thì loay hoay đề ra giải pháp, xử lý tình huống, vừa tốn công vừa tốn của.
Hàng trăm, thậm chí gần hàng ngàn người đổ xô tới thung lũng Ô Kha giáp rừng già Gộp Ngà (xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa), lật tung khu thung lũng và các địa điểm tiếp giáp với hy vọng mong manh tìm được "kho báu Kỳ nam". Nhưng đã nhiều ngày qua, những tay địu (người đi tìm trầm - PV) chuyên nghiệp này đành hậm hực quay về sau thời gian dài tuyệt vọng.
Đùng một cái! một số thông tin về mấy anh nông dân trở thành tỷ phú sau khi trúng mấy chục tỷ đồng vì đào được kỳ nam đã khiến cả một huyện nghèo Khánh Sơn trở nên sôi động. Ấy vậy mà, qua hơn 4 tháng truy tìm kho báu kỳ nam, kẻ mừng thì ít, người lo lại càng nhiều theo cấp số nhân.
Chuyện kể rằng, đầu năm 2012, có 4 người dân nghèo chuyên săn trầm ở xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đến khu vực thung lũng Ô Kha (xã Sơn Trung) để tìm Kỳ nam. Sở dĩ, họ vào vùng rừng thiêng, nước độc này tìm trầm là do có sự chỉ điểm của một bậc tiền bối nhiều kinh nghiệm trong nghề đi địu. Sau nhiều ngày tìm kiếm, giấc mơ Kỳ nam vẫn bặt vô âm tín.
Nhằm có thêm manh mối, các tay địu Quảng Nam nhập thêm một tốp địu khác của huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa) vào hội để săn tìm. 4 tháng rong ruổi nếm mật nằm gai, quần nát cả thung lũng Ô Kha, giấc mộng kỳ nam của nhóm vẫn chỉ là con số 0 tròn trĩnh.
Không đủ kiên nhẫn, nhóm người Khánh Hòa tách tốp về xuôi, để nhóm người Quảng Nam ở lại ăn rừng, ngủ suối tìm trầm. Đến tháng 9, nhóm này đã tìm được kỳ nam ở Gộp Ngà. Khối kỳ nam này dài tới 1,5m, nặng 7kg. Mấy ngày sau, nhóm này còn đào thêm được mấy chục kg nữa.
Sức mạnh của tin đồn trúng Kỳ nam lan toả đến chóng mặt khi hàng trăm người dân từ các vùng quê khác nhau, rồng rắn tới xã Sơn Trung tìm vận đỏ. Chẳng biết thực hư về số kỳ nam mà mấy tay địu đào được như thế nào, nhưng hậu quả nhãn tiền trước mắt đó là hầu hết khu thung lũng Ô Kha bị cày xới, rừng già Gộp Ngà đứng trước nguy cơ bị xâm hại nghiêm trọng, môi trường sinh thái bị đảo lộn bởi bàn tay con người.
Và tất nhiên, chính quyền huyện Khánh Sơn không dễ gì bỏ qua tình trạng này và thế là lại tái diễn cảnh: Người dân lúc lén lút, khi công khai vào rừng già tìm trầm với hy vọng vận may sẽ mỉm cười. Cơ quan chức năng thì loay hoay đề ra giải pháp, xử lý tình huống, vừa tốn công vừa tốn của.
Qua tìm hiểu, được biết những người đi địu đều thuộc diện nghèo khó, khi nghe thông tin ở Khánh Hòa có kỳ nam, họ tất tả lên đường. Trong lúc mùa màng bận rộn, con cái không có tiền đến trường, họ vẫn liều vay nóng với lãi suất cao để sắm sửa tư trang cho chuyến đi tìm giấc mộng tỷ phú.
Vậy nhưng, kỳ nam tìm đâu chưa thấy chỉ thấy lũ lượt từng nhóm người thất thểu từ trên núi xuống, khuôn mặt đen sạm vì thiếu ngủ, vì ăn rừng ở suối. Hỏi ai cũng gặp phải cái lắc đầu ngán ngẩm.
Anh Đinh Văn Chuyên - một trong tốp 12 người từ Quảng Nam lắc đầu chua chát: "Nghe tin có kỳ nam quý hiếm, gia đình tôi đi vay lãi ngày để sắm dụng cụ đi tìm Kỳ nam, nhưng cả tháng nay đào xới cũng chẳng thấy gì cả. Tin đồn trúng mấy chục ký kỳ nam chắc chỉ là tin đồn mà thôi, không biết mấy chục triệu tiền vay lãi giờ lấy đâu ra mà trả".
Cùng nhóm anh Chuyên, cũng có tới hàng trăm người dân khác thuộc tỉnh Đà Nẵng, Phú Yên kéo nhau xuống núi vì không tìm được kỳ nam. Ông Nguyễn Văn Mùi, huyện Vạn Ninh, Khánh Hoà mếu máo: "Người trúng kỳ nam chẳng thấy đâu, chỉ thấy toàn người trắng tay lặng lẽ xuôi về. Ở đây, giá cả thức ăn chặt chém. Ngày ngày, nhóm chúng tôi ăn cơm với nước mắm, gặm mì tôm khô, uống nước mắt (rượu trắng) suông với hy vọng vận may còn ở phía trước...".
Nguy hiểm hơn, qua tìm hiểu thực tế ngay cả khu Suối Chè kéo dài gần 2 km, thuộc tiểu khu 277 giáp rừng Gộp Ngà cũng đang bị đào xới. Đây là vùng căn cứ cách mạng thời chiến tranh với nhiều bom, mìn còn sót lại trong lòng đất. Thật nguy hiểm khi dân tranh nhau đào bới, moi móc rừng để mót kỳ nam có nguy cơ gặp phải mìn nổ tung bất cứ lúc nào.
Trước thực tế, hàng trăm người dân đổ xô về khu rừng già Gộp Ngà và các khu vực lân cận để đào bới, mót kỳ nam, chính quyền địa phương đã khẩn trương vào cuộc, nhưng thực tế chẳng khác nào bắt cóc bỏ đĩa. Cứ đuổi được tốp này thì tốp khác lại xuất hiện. Đuổi ban ngày thì ban đêm dân lại lén lút vào rừng.
Chắc hẳn đến tận bây giờ, mọi người vẫn còn nhắc tới sự kiện "đá đỏ Quỳ Châu" (Nghệ An). Nơi đó trong những năm 90 cũng có hàng trăm người tìm vào miền đất hứa để mong đổi đời. Nhưng họ chẳng được gì nhiều ngoài tấm thân tàn tạ, những căn bệnh hiểm nghèo. Gia đình tan nát bởi nợ nần. Những người được lợi vẫn là những thương lái, những kẻ đứng ra bao đầu các dịch vụ ăn theo. Và tất nhiên, các tệ nạn xã hội cũng theo đó mà phất cờ nổi dậy.
Hiện tình trạng tăng biến đột ngột về số lượng người tại một huyện miền núi Khánh Sơn đã đẩy tình hình an ninh trật tự theo chiều hướng xấu. Rất nhiều nông dân sau khi không tìm được kỳ nam cũng không còn đủ tiền để về quê, nhiều người khác lại lo thêm nỗi lo của món nợ hàng chục triệu đồng vay lãi.
Theo diễn biến của sự việc, mới đây, ông Trần Mạnh Dũng, Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn cho biết, sau khi địa phương bố trí lực lượng chức năng túc trực 24/24 giờ tại các tuyến đường dẫn lên xã Sơn Trung, riêng tại khu vực rừng Gộp Ngà, có 20 công an, kiểm lâm, dân quân túc trực, số lượng người vào rừng tìm trầm đã giảm hẳn.
Những ngày cao điểm, có đến 400 - 500 người vào rừng. Hiện chỉ còn gần 100 người vẫn lén lút đào xới tìm trầm. Lực lượng chức năng vẫn đang vận động, ngăn chặn người dân vào khu vực rừng Gộp Ngà. Địa phương quyết tâm trong tuần này sẽ giải quyết dứt điểm tình trạng người dân vào rừng tìm trầm, ông Dũng nói.
Câu chuyện về truy tìm kỳ nam tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, đang trở thành một vấn đề nóng. Nếu như các cơ quan chức năng Khánh Hoà không nhanh chóng có phương án xử lý dứt điểm, thì rất có thể, một Rubi đá đỏ Quỳ Châu thứ 2 lại tiếp tục ra đời? Trao đổi với phóng viên Người đưa tin, thượng tá Phạm Hồng Sơn, Phó trưởng Công an huyện Khánh Sơn cho biết, trong mấy ngày qua, có hàng trăm người đến từ: Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa... đổ xô vào Gộp Ngà (xã Sơn Trung) để tìm kỳ nam.
Thực trạng này đã dấy lên những lo ngại về tình hình an ninh trật tự và nạn phá rừng tại địa phương. Lực lượng chức năng huyện phải tăng cường nhằm đảm bảo an ninh trật tự và ngăn cản không cho người dân tiếp tục lên rừng tìm kỳ nam. (Người Đưa Tin 30/9)đầu trang(
Hàng ngàn lượt người từ Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên... đã đổ về núi Gộp Ngà (huyện Khánh Sơn) đào bới rừng để tìm kiếm kỳ nam, nuôi mộng đổi đời.
PV Tuổi Trẻ đã đi cùng những con người nghèo khó này suốt một tuần lễ.
Hơn một tuần qua, cơn sốt kỳ nam ở khu vực núi Gộp Ngà, xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa vẫn chưa nguội. Hàng ngàn dân “địu” (người đi tìm trầm) từ các tỉnh thành Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên... đã khăn gói về nơi sơn cùng thủy tận này với ước vọng “trúng” kỳ nam đổi đời.
Tuy nhiên, chuyện đổi đời chưa thấy đâu, chỉ biết đằng sau nghề săn trầm, kỳ nam là cuộc hành trình dài ngày, đầy gian nan thử thách, ăn bụi ngủ rừng... Núi rừng Khánh Sơn những ngày này hầu như đêm nào cũng mưa dầm dề, ẩm ướt. Thế nhưng mỗi ngày vẫn có hơn trăm lượt người băng rừng, lội suối qua tỉnh lộ 9 hoặc lầm lũi cả đêm vòng qua đèo Ngoạn Mục, tiến thẳng lên núi Gộp Ngà đào bới tìm kỳ nam.
Tại khu vực có tin đồn đã trúng “hàng” bạc tỉ (cách gọi của dân săn kỳ nam) ngổn ngang những gốc cây, đá tảng bị đào xới là hàng trăm lán lều, võng dã chiến của những “đội quân” đến từ những vùng quê khác nhau. Có đội chỉ vài người, đội vài chục người và cũng có đội cả trăm người cùng túc trực ngày đêm săn “hàng”. Sống và trải nghiệm bên những phận người này mới thấy cảnh sống của họ chẳng khác nào người rừng: lấy nước uống từ vũng nước ven đường, dùng cành cây nhỏ làm đũa ăn, lấy nắp nồi làm chén cơm...
Chỗ ở chỉ cần một chiếc võng mắc giữa rừng, mặc kệ muỗi cắn và nguy cơ sốt rét rừng. Khi nửa đêm mưa xuống, cả nhóm phải vội cất võng, dựng lán trại bằng tấm nilông giữa rừng cây, rồi mấy chục con người cùng ngồi ngủ gật gù bên bếp lửa tới sáng.
Hầu hết dân săn kỳ nam đều thuộc diện nghèo khó, phải bấm bụng vay tiền, rồi lặn lội đêm hôm cho những chuyến đi tìm giấc mơ tỉ phú. Có người may mắn khi đội mình trúng được một ít kỳ nam bé tẹo, đủ để trang trải chi phí, nhưng cũng không ít người trắng tay ra về trong bộ dạng gầy xọp, đen nhẻm, mắt sâu hoắm vì nhiều đêm thiếu ngủ.
Ông Trương Tấn Đạt (47 tuổi, quê xã Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa) thở dài: “Sau 20 năm bỏ nghề săn hàng, tôi mới trở lại Gộp Ngà bằng đường vòng (tránh chốt chặn của công an, biên phòng) hơn 400 cây số. Phần vì tò mò tin đồn trúng kỳ nam ở quê, nhà lại có 4-5 miệng ăn nên bấm bụng đi. Nhưng tình hình trời cứ mưa như thế này, có lẽ chuyến này về tay không!”.
Sự khắc nghiệt của thiên nhiên chỉ là một phần, dân “ăn trầm” còn phải đánh cược bằng cả máu, mồ hôi và nước mắt với những nguy cơ tai nạn từ cung đường đèo hiểm trở trong đêm tối, những tảng đá núi khổng lồ, chênh vênh; hay nguy cơ bị cướp giật, xin đểu, thậm chí hỗn chiến để giành lấy khu vực.
Thực tế sau trận hỗn chiến xảy ra sáng 27-9, đội quân săn trầm Quảng Nam, Đà Nẵng đã phải nhường chỗ cho đội Vạn Ninh, Khánh Hòa kiểm soát. Tuy nhiên, kết quả sau trận xích mích này thật chẳng đáng: khoảng 1kg kỳ nam được đội Vạn Ninh tìm thấy, phần bị công an thu giữ, phần chẳng thấm tháp khi chia cho hơn 300 con người trong đội.
Chiều mưa rầu rĩ, tôi theo chân một nhóm săn kỳ nam quê Vạn Giã rời núi Gộp Ngà, không khỏi chạnh lòng khi thấy từng tốp người vẫn đang ngược xuôi đổ về đây tìm trầm.
Đúng là ác mộng kỳ nam. (Tuổi Trẻ 30/9)đầu trang(
Gần chục năm nay, hàng trăm hộ dân di cư tự do “nhảy dù” vào sống giữa rừng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm (thuộc địa bàn xã Ea Kiết, huyện Cư M'gar, tỉnh Đắc Lắc) quản lý, đã gây ra nhiều hệ lụy.
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm hiện đang quản lý, bảo vệ 9.891ha rừng, sản xuất 400ha cà phê và 77ha cao su. Ngoài ra, công ty còn tổ chức sản xuất phân vi sinh, thu mua và chế biến nông sản. Có thể nói, trong những năm qua, cũng như nhiều chủ rừng khác trên địa bàn Tây Nguyên, rừng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm luôn chịu nhiều áp lực. Rừng bị tấn công từng ngày, nhất là xung quanh rừng đang có hàng nghìn người dân các xã Ea Kiết, Ea Mró, Ea Ta của huyện Cư Mgar sinh sống. Từ năm 1999 đến nay, hàng trăm hộ dân, chủ yếu là di cư tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc đã vào “lập làng” giữa rừng, khiến cho công tác giữ rừng của Công ty thêm chồng chất khó khăn.
Ngày 26-9, trao đổi với chúng tôi, đồng chí Trần Thanh Lâm, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm cho biết: Công tác giữ rừng của đơn vị những năm gần đây chẳng khác gì cuộc chiến đấu. Đã có những cán bộ, nhân viên phải đổ máu, hy sinh tính mạng. Vậy mà rừng vẫn mất từng ngày. Nguyên nhân chính của mất rừng là do dân di cư tự do tăng nhanh, dẫn đến nạn lấn chiếm đất rừng lấy đất ở, đất sản xuất và phá rừng lấy gỗ làm nhà... Lâm tặc thách thức và sẵn sàng chống trả, thậm chí chủ động tổ chức tấn công, uy hiếp lực lượng bảo vệ rừng. Chỉ tính từ năm 2007 đến nay đã có hàng chục vụ lâm tặc tấn công lực lượng bảo vệ rừng. Điển hình như các vụ anh Nguyễn Minh Huệ, Giám đốc Lâm trường Buôn Ja Wầm tử nạn trong cuộc chiến giữ rừng tại tiểu khu 514 vào năm 2007; đến năm 2009, anh Phan Quốc Tán hy sinh khi bắt giữ lâm tặc; năm 2010 anh Phan Kim Mưu bị lâm tặc bắn trọng thương, hiện đạn chì vẫn còn nằm trong gan; và mới đây, các anh Lê Văn Hường, Nguyễn Kim Nhật, Lê Văn Chiên bị lâm tặc tấn công gây thương tích...
Theo thống kê sơ bộ đã có hơn 400ha rừng bị phá. Nóng nhất là tại các tiểu khu 540, 544 và 547. Từ năm 1999, đã có hàng chục hộ là đồng bào di cư tự do từ huyện Krông Bông (Đắc Lắc) nhảy dù vào giữa rừng để phá rừng lập làng. Chủ rừng phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt đưa bà con trở lại huyện Krông Bông, nhưng không thành. Và cứ sau mỗi đợt như vậy thì số dân trở lại rừng lại đông hơn. Đến năm 2009 tăng lên 82 hộ và tính đến tháng 9-2012 này đã có tới 131 hộ, với 695 nhân khẩu. Diện tích rừng bị phá lên đến 385ha, bình quân mỗi hộ phá hơn 2,9ha.
Cũng trong ngày 26-9, chúng tôi được anh Tưởng Đức Nguyên cùng đồng đội thuộc Trạm kiểm kiểm soát cơ động (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm) dẫn đường lội suối, xuyên rừng để vào các làng trong và làng ngoài của 131 hộ dân di cư tự do. Tại đây rừng đã bị phá tan hoang, nhiều quả đồi không còn dấu tích của rừng, mà thay vào đó là những rẫy điều, cà phê, hồ tiêu và nhà cửa. Sống giữa rừng, nên 100% hộ ở làng di cư tự do này phá rừng lấy gỗ dựng nhà, nhiều căn nhà được dựng bằng gỗ khá rộng rãi với khối lượng gỗ lớn. Đi một vòng quanh các điểm dân di cư tự do này, chúng tôi còn phát hiện khá nhiều hộ công khai chất chứa gỗ lậu ngay trong nhà...
Không di dời được dân di cư tự do ra khỏi rừng, năm 2003 UBND tỉnh Đắc Lắc ban hành quyết định thành lập “khu dân cư mới” thuộc xã Ea Kiết; đồng thời huyện Cư Mgar cho lập điểm trường ngay giữa rừng, bảo đảm việc học hành cho khoảng 200 học sinh từ mẫu giáo đến lớp 4. Ngày 21-1-2009, UBND tỉnh Đắc Lắc phê duyệt Dự án định cư cho 82 hộ, với 400 nhân khẩu di cư tự do, với mục đích đưa bà con ra định cư ngoài bìa rừng, với tổng kinh phí dự kiến 13,5 tỷ đồng. Thế nhưng, do thiếu vốn, nên đến tháng 9-2012 này, dự án mới khởi động... chị Vàng Thị Duôn, bà Lầu Thị Say và chị Dương Thị Song cho rằng: “Nếu ra khu định cư mới, hằng ngày bà con phải dịch chuyển tới 4-5km đường rừng, mới vào được khu vực sản xuất, nên rất bất tiện!”.
Để xảy ra tình trạng hàng trăm hộ dân định cư ngay giữa rừng trong thời gian hơn chục năm là do ngay từ đầu chính quyền các cấp ở tỉnh Đắc Lắc thiếu cương quyết, không đưa ra giải pháp căn bản nhằm di dời dân ra khỏi rừng, không kịp thời bố trí khu tái định canh và tái định cư ổn định. Đến khi bà con đã dựng nhà, lập vườn ổn định mới tiến hành di dời dân vừa tốn tiền, vừa hao tổn công sức của dân, mà chưa chắc đã đạt được mục tiêu đề ra.
Thiết nghĩ, việc tổ chức định cư cho 131 hộ dân di cư tự do đang sống trong rừng Buôn Ja Wầm là hết sức cấp thiết, nhằm bảo đảm các điều kiện thiết yếu như “điện, đường, trường, trạm và nước sinh hoạt” cho bà con. Thế nhưng, muốn thành công các cấp chính quyền tỉnh Đắc Lắc phải thực hiện một cách cương quyết dựa trên những chính sách về hỗ trợ định canh, định cư và những quy định của pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng... (Quân Đội Nhân Dân 29/9)đầu trang(
30/9, UBND tỉnh Kon Tum cho biết vừa ban hành Quyết định số 436, xử phạt hành chính 40 triệu đồng đối với ông Nguyễn Văn Trung, trú ở thôn Vi Xây, xã Đăk Tăng, huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) về hành vi mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước; đồng thời tịch thu sung công quỹ Nhà nước 5,3m3 gỗ xẻ thông thường nhóm 3 (quy tròn là 8,160m3).
Sau 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định, nếu ông Nguyễn Văn Trung cố tình không chấp hành Quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành. (Phụ Nữ TPHCM 30/9)đầu trang(
“Tôi là kiểm lâm vườn, tôi phát hiện hai xe đạp thồ của sáu tên lâm tặc đang chở tám phách gỗ đi tiêu thụ. Bây giờ đã xử lý xong, tôi sẽ đưa chúng và tang vật về hạt kiểm lâm vườn”.
Khi nghe những lời này, hẳn bạn đọc sẽ nghĩ đây là lời của một kiểm lâm viên. Nhưng không, đó là khúc “diễn kịch” của một lâm tặc khi đang đốn gỗ trong vườn quốc gia Yok Đôn (Buôn Đôn, Đắk Lắk)...
Không chỉ tự do di chuyển, đặt lán trại, cười đùa khi đi săn bắn thú rừng, khai thác gỗ, các đối tượng còn quay clip kể lại việc phi pháp tại khu rừng cấm như đi làm trong vườn nhà...
Tất cả tám đoạn clip được quay bằng điện thoại di động trong tháng 7-2012 tại khu vực trạm 8 vườn quốc gia Yok Đôn và do một thông tín viên Tuổi Trẻ cung cấp. Các clip ghi lại quá trình “tác nghiệp” của nhóm lâm tặc sáu người trong vòng hơn một tuần và đều có “người dẫn chương trình”. Đó là hành trình vào rừng, đặt lán trại, di chuyển để săn bắn, khai thác gỗ và dùng xe đạp thồ tập kết gỗ ra bến sông Sêrêpốk, rồi dùng thuyền chở gỗ về tiêu thụ mà không hề bị truy cản...
Mở đầu là hình ảnh nhóm lâm tặc với dao, rìu, có cả một khẩu súng để vào rừng săn bắn, khai thác gỗ. Còn có phần giới thiệu nhóm, nhóm trưởng cũng như tên tuổi từng người và những dụng cụ mang theo để vào rừng. Nhóm này mang theo rượu, nước ngọt, đồ ăn trong vòng một tuần, chọn những nơi nào có nhiều gỗ quý để lập trại khai thác. Hằng ngày, nhóm này tổ chức nấu ăn rồi vào rừng đốn hạ gỗ, rọc phách đem về tập kết, khi nào đủ số lượng sẽ buộc những phách gỗ này lên xe đạp thồ để đưa ra khỏi rừng.
Trong một clip khác có ghi lại hình ảnh hai xe đạp thồ chở tám phách gỗ hương ra khỏi rừng. Mỗi xe đạp thồ được buộc bốn phách gỗ hai bên, mỗi phách gỗ - như lời các lâm tặc giới thiệu - dài 2,5m, khối lượng 0,15-0,17m3... Mỗi xe đạp thồ sẽ có một người cầm lái, một người đi phía trước, một người kéo dây phía sau để hãm tốc độ khi xuống dốc cũng như kéo - đẩy khi lên dốc. Trong quá trình di chuyển, rất nhiều lần nhóm lâm tặc này dừng nghỉ mệt và quay lại những hình ảnh này. Trong khi đưa tám phách gỗ ra bến sông thì một xe đạp thồ của nhóm lâm tặc bị hư, họ đã xúm lại sửa nhưng không được nên đành giấu gỗ và xe đạp trong rừng để quay lại “tăng bo” sau.
Sau khi gỗ được tập kết ra bờ sông Sêrêpốk, nhóm lâm tặc chở hết gỗ lên xuồng máy và chở đi tiêu thụ. Đoạn clip vận chuyển gỗ trên sông ghi lại hình ảnh hai thanh niên chở gỗ trên xuồng cũng rất thoải mái, không có gì phải giấu giếm. Hình ảnh cho thấy cận cảnh hai khuôn mặt với lời giới thiệu tên tuổi, cận cảnh từng phách gỗ, toàn cảnh dòng sông Sêrêpốk và điều đặc biệt là xuồng đầy ắp gỗ, không che chắn gì cả...
Ngày 24-9, PV đã trao đổi với ông Trần Văn Thành, quyền giám đốc vườn quốc gia Yok Đôn, về những clip nêu trên và ông Thành cho rằng những người cung cấp clip này có dụng ý làm xấu hình ảnh của vườn quốc gia! Tất cả ngả đường vào vườn đã bị lực lượng kiểm lâm phong tỏa, lâm tặc khó lọt vào rừng, sao tự tin quay clip như vậy được (?!).
Khi PV lần lượt mở các clip này để ông Thành xem thì ông Thành nói: “Tôi cũng đã hình dung ra quá trình khai thác gỗ của lâm tặc, nhưng khi xem xong clip thì thật không chấp nhận được. Chúng tôi sẽ thắt chặt hơn nữa việc tuần tra, kiểm soát cũng như rà soát các đối tượng trong clip nêu, đồng thời chấn chỉnh trạm kiểm lâm số 8. Thứ bảy tuần rồi (ngày 22-9), PV đã kỷ luật các kiểm lâm viên trạm 8 vì đã làm ngơ cho người khác vận chuyển gỗ ra khỏi khu vực mình quản lý. Tuy nhiên, khu vực trạm 8 là khu vực gần biên giới rất phức tạp, việc tuần tra bảo vệ rừng cũng có những khó khăn. Chính bản thân tôi từ khi về nhậm chức tại vườn vào tháng 7 cũng rất vất vả mới bắt được một số vụ khai thác, vận chuyển gỗ quý tại khu vực này...”.
Ông Thành nói thêm: “Những clip này được quay vào dịp chuyển giao chức danh lãnh đạo vườn. Vào thời gian này, lực lượng kiểm lâm vườn có xuống tinh thần nên không sát sao trong việc tuần tra, bảo vệ rừng. Ban lãnh đạo, hạt kiểm lâm vườn đã xốc lại tinh thần cho toàn bộ kiểm lâm vườn. Những cán bộ, kiểm lâm nào vi phạm chúng tôi đã xử lý kỷ luật, luân chuyển nhằm làm trong sạch từ bên trong. Hiện nay đâu đó trong vườn vẫn còn những vụ phá rừng mức độ nhỏ lẻ, nhưng tuyệt đối không có việc lâm tặc vào rừng đóng lán trại, khai thác rồi vận chuyển gỗ với khối lượng lớn và công khai, thoải mái như thế này”. (Tuổi Trẻ 30/9)đầu trang(
Theo các nhà khoa học, phát triển thủy điện "quá nóng” đã làm mất rừng, ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học. Mất đất sản xuất, xói mòn, bồi lắng lòng hồ. Trong đó mạng lưới sông ngòi bị thay đổi thủy văn, mất nước vùng hạ lưu, chia nước lưu vực, biến dạng địa mạo ven bờ vùng cửa sông, gây địa chấn - động đất. Tác động xấu đến hệ sinh thái thủy vực. Ô nhiễm nguồn nước.
Theo ước tính trung bình, để làm 1MW điện phải mất đến 16ha rừng. Đến nay có đến 119 thủy điện liên quan đến 47 khu rừng đặc dụng, mỗi khu bảo tồn của vườn quốc gia cõng 2,5 dự án thủy điện. VQG Cát Tiên có 6 dự án, Hoàng Liên có 6 dự án, khu bảo tồn Sông Tranh có 7 dự án...
Thừa Thiên - Huế vừa loại 6 dự án thuỷ điện ra khỏi quy hoạch của tỉnh giai đoạn đến năm 2020, bao gồm thuỷ điện Tà Li, Vi Linh, Rào La và các dự án thuỷ điện Ô Lâu I, II và III. Một trong những nguyên do là những thủy điện này ảnh hưởng xấu đến môi trường. Tỉnh cũng thu hồi giấy phép 3 dự án thuỷ điện khác do triển khai chậm.
Ngoài các dự án đã loại ra khỏi quy hoạch, tỉnh này còn 21 dự án phát triển thuỷ điện nữa mà nếu xây dựng tất thì hàng chục ngàn ha rừng sẽ mất là rất lớn. 3 dự án thuỷ điện đã đưa vào vận hành ở tỉnh này gồm thuỷ điện Bình Điền, Hương Điền và thuỷ điện A Lưới đã kéo theo các hồ chứa được xây dựng trên một lưu vực rộng. Chỉ tính riêng hồ Truồi có diện tích lưu vực 360 ha ngập nước, đồng nghĩa với chừng ấy diện tích rừng bị ngập và hư hại theo.
Mất rừng thì mức độ nguy hại lụt lội càng lớn do sông ở Thừa Thiên - Huế ngắn và dốc, trong khi tỉnh lại chưa xây dựng và thực hiện qui trình vận hành liên hồ trên địa bàn để vận hành và quản lý một cách tổng thể, khoa học và hiệu quả hơn... Chính sự thiếu ổn định khi vận hành hồ chứa với nhiều lý do khác nhau có thể đẩy hàng nghìn hecta lúa rơi vào cảnh cháy đồng hoặc ngập úng. Thực tế cho thấy sau một loạt phiền toái, rắc rối từ các nhà máy thủy điện tạo ra cho người dân địa phương như thiếu đất tái định cư, mất môi trường sống do mất rừng, mất nguồn nước, ngập lụt vì xả lũ bất thường... thì còn có thêm câu chuyện kiệt nước do vận hành "thiếu ổn định”, không thể đảm bảo độ che phủ và chống xói lở.
Tại hội thảo "Tăng cường năng lực các nhà hoạch định chính sách trong Tiểu vùng Mê kông” vừa kết thúc hôm qua 26-9, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh: Sự thịnh vượng của tiểu vùng Mê Kông phụ thuộc nhiều vào việc quản lý những vấn đề phát triển, phối hợp để khai thác bền vững nguồn tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ môi trường tốt hơn để đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến những nhu cầu của tương lai. Điều này hoàn toàn chính xác không chỉ ở tiểu vùng Mê Kông.
Thủy điện Sông Tranh 2 đang thu hút sự quan tâm đặc biệt do những trận động đất liên tục xảy ra gây tâm lý lo lắng cho người dân bản địa và nhân dân cả nước. Mới đây, ông Nguyễn Xuân Diệu, ủy viên Thường trực Ban chỉ đạo PCLB Trung ương - trưởng đoàn công tác của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương khi kiểm tra thực tế tại huyện Bắc Trà My và làm việc với Ban chỉ huy PCLB tỉnh Quảng Nam yêu cầu tỉnh cần chủ động hơn trong phối hợp xây dựng bản đồ ngập lụt, cảnh báo lũ ở những vùng xung yếu, tăng cường kiểm tra các hồ chứa thuỷ lợi và thuỷ điện để sớm phát hiện và xử lý kịp thời sự cố có thể xảy ra. Nguy cơ tiềm ẩn của thủy điện này ở mức độ nào vẫn tiếp tục gây tranh cãi không chỉ trong giới khoa học.
Rõ ràng phát triển thủy điện tràn lan tiếp tục bộc lộ những bất ổn, gây hậu quả xấu khó lường. Không chỉ một địa phương mà toàn quốc cần xem xét lại toàn diện, đảm bảo phát triển bền vững, có sự tham gia của nhiều phía từ quy hoạch cho đến công nghệ, vận hành, vì lợi ích chung, công bằng cho cả nhà đầu tư, người dân và kinh tế - xã hội đất nước trong kế hoạch phát triển thủy điện. (Đại Đoàn Kết 29/9)đầu trang(
Mốt sắm điền trang nuôi con đặc sản đang khiến nhiều đại gia Hà thành "chết đứng" vì đầu tư quá nhiều mà không thu hồi được vốn.
Còn nhớ, năm 2010, khu vực ngoại thành Hà Nội, giá đất lên cơn sốt vì rất nhiều đại gia tìm lên khu vực Ba Vì, sang Sóc Sơn, Đông Anh... mua đất làm trang trại. Đặc biệt, khu Ba Vì với tin đồn trở thành "vùng đất vàng" của hàng loạt khu hành chính quốc gia sẽ được di dời về đó, nhiều đại gia đã "ôm tiền" lên mua đất lập điền trang. Khi đó, giá đất ở một số xã Yên Bài, Vân Hoà, Gò Sống... (huyện Ba Vì) được "thổi" lên gấp nhiều lần so với thực tế.
Các trung tâm môi giới bất động sản dọc tuyến đường Láng- Hòa Lạc; quốc lộ 87… mọc lên như nấm sau mưa rào. Điển hình trung tâm môi giới bất động sản T.C (đường chạy qua Làng văn hoá các dân độc Việt Nam) mỗi ngày đã ký kết hàng trăm hợp đồng tư vấn mua đất làm trang trại. Thời điểm này, bất động sản tụt dốc không phanh, nhiều đại gia "vỡ mộng" vì hy vọng đất sốt trở lại sẽ kiếm được tiền chênh lệch.
Theo lời kể của ông Hoàng Xuân Thắng (Khu tập thể Tổng cục Hậu cần, Xuân Đỉnh, Hà Nội), năm 2008 nắm bắt xu hướng mua đất lập điền trang của nhiều đại gia, ông đã mua 2,5ha đất ở Ba Vì với giá 70 triệu đồng/ha, đầu tư làm trang trại. Sau đó, năm 2010, khi đất "sốt", ông Thắng đã mua thêm 1080m (tương đương với 3 sào vườn đất thổ cư).
Ông Thắng cho biết: "Thời điểm đó, mặt đường liên xã, huyện Ba Vì giá cao ngất ngưởng 220 triệu đồng/sào, có nơi giá mèng mèng cũng 150 triệu đồng. Giá đất thổ cư tại đây cũng 4-5 triệu đồng/m2. Giá ảo như thế nhưng, người Hà Nội và các tỉn lân cận cứ ùn ùn kéo lên mua".
Ông Thắng bảo rằng, lúc bấy giờ, giá đất nhích lên từng ngày, cũng chừng ấy tiền mua đất ở Hà Nội thì cũng khó mua được mảnh đất đẹp. Vì thế, những người lắm tiền nhiều của không ngần ngại chi 50- 70 triệu đồng cho "cò" để có thể mua được thửa đất ưng ý.
"Tôi vẫn nhớ, giá đất tại xã Yên Bài, Vân Hoà, Tản Lĩnh (Ba Vì) mà các trung tâm nhà đất cung cấp đã được "thổi giá" rất cao, thậm chí đắt gấp đôi giá thực tế. Vậy nhưng, người "thổi" giá cứ "thổi", người mua cứ mua, giờ mới… "vỡ mộng"", ông Thắng rầu rĩ nói.
Theo lời bộc bạch của ông Thắng, năm 2010, nhiều đại gia Hà Nội nghe ngóng thông tin đất sẽ tăng giá, đón đầu mua trước nhưng không ngờ lại dính bẫy "cò" mua phải đất "thổi giá". "Tôi có 3 trang trại ở Ba Vì và Đông Anh đầu tư khá bài bản nhưng giờ bán chẳng ai mua", ông Thắng trầm tư.
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi có dịp tiếp xúc anh Nguyễn Văn Vinh (Tản Lĩnh, Ba Vì) - người từng bán 4.300m đất với giá 520 triệu cho một nhân viên Đài truyền hình Việt Nam làm trang trại vào năm 2010. Thời điểm đó, rất nhiều người ở Hà Nội "ôm tiền" lên mua lại những khu đất ở Ba Vì để làm trang trại.
Anh Vinh cũng là người may mắn làm "cò" cho một người tên Tuấn (ở Hà Nội) lên mua lại 3 thửa đất, mỗi thửa rộng 8.600m2 với giá 1,5 tỷ đồng/ thửa. Anh Vinh khoe: "Tôi cũng được người đàn ông đó "hoa hồng" cho 75 triệu đồng".
Theo lời kể của anh Vinh, khu đất đó đã được xây dựng điền trang rất quy mô có đầy đủ nhà sàn, ao cá, vườn cây cảnh. Thế nhưng, bây giờ thì đất xuống nhiều rồi, điền trang cũng ế ẩm.
Ông L.T - Hiệu trưởng một trường đại học có tiếng ở Hà Nội đã "ôm" cả bọc tiền lên Ba Vì mua 2ha đất ở xã Tản Lĩnh làm trang trại. Ông đầu tư cả "vườn bách thú" ngay trong trang trại của mình với rất nhiều con vật có giá trị kinh tế như hươu sao, nai, cá sấu, gấu, ba ba, nhím, trăn...
Ông L.T, kể, ông mua mảnh đất này giá 2 tỷ, đắt gấp 3 lần so với bây giờ. Toàn bộ điền trang của ông đã xây tường rào bảo vệ kiên cố. Ông L.T còn thiết kế 3 nhà sàn bằng gỗ và có đủ loại cây cảnh trong khuôn viên trang trại và 5 ao nuôi cá đủ loại. Khi PV hỏi về số vốn ông đã đầu tư cho "vườn thú" của mình, ông L.T không công khai con số cụ thể.
Nhưng ông bảo rằng, thời buổi kinh tế khó khăn, còn rất ít người có hứng thú với điền trang. Điền trang càng được đầu tư quy mô lại càng khó sang nhượng. Ông L.T. bảo rằng, điền trang này ông đang rao bán lại 10 tỷ đồng với tất cả tài sản đã đầu tư nhưng hết người này đến xem, người khác đến hỏi mua đều chê đắt.
Ông L.T còn một trang trại ở xã Yên Bài (Ba Vì), có sổ đỏ với diện tích 5.500m, vuông đẹp, cách đường bê tông liên xã 100m (đường rộng 3m vào mảnh đất, mặt đường 120m) đã xây tường bao và có ao nuôi cá. Ông cũng đã đầu tư kha khá vào trang trại này và cũng chỉ mong bán được hòa vốn đầu tư…
Cũng theo tìm hiểu của PV, hiện rất nhiều "đại gia" trang trại đều rơi vào cảnh ngộ vốn đầu tư thì lớn mà lợi nhuận thu về vẫn đang… trông chờ vào sự "đột biến" của thị trường bất động sản.
Trước thực trạng đại gia "méo mặt" vì "ôm" đất trang trại, các chuyên gia bất động sản nhận định, nhu cầu mua đất trang trại đã sụt giảm rất nhiều. Thời gian gần đây, hầu như không có người tìm lên khu vực Ba Vì, sang Đông Anh, Sóc Sơn mua đất làm trang trại, vì với thời buổi kinh tế khủng hoảng như hiện nay, người ta sẽ mang tiền gửi ngân hàng chứ chẳng dại gì đầu tư vào nhà đất. (Người Đưa Tin 28/9) đầu trang(
Ngày 30-9, Viện Sinh thái học miền Nam làm việc với các cơ quan chức năng tỉnh Phú Yên để bàn giải pháp khẩn cấp bảo tồn nguồn gien loài cá sấu nước ngọt (còn gọi là cá sấu Xiêm).
Đây là loài từng bị Tổ chức Động vật hoang dã thế giới (IFF) khẳng định đã tuyệt chủng. Hoạt động này diễn ra ngay sau người dân phát hiện xác một cá thể cá sấu Xiêm tại xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh (Phú Yên) vào ngày 29-9.
Theo Tiến sĩ Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, xác cá sấu vừa phát hiện dài 3,2 m, nặng hơn 150 kg (ảnh). Hiện chưa xác định nguyên nhân làm con cá sấu trên 100 tuổi này chết. “Nhiều người dân xã Ea Lâm khẳng định họ còn nhìn thấy một con cá sấu Xiêm bị cụt đuôi. Đó có thể là con cuối cùng ở khu vực này” - ông Lê Văn Hiền, Bí thư Đảng ủy xã Ea Lâm, nói thêm.
Tiến sĩ Long cho biết trước đây giới nghiên cứu không ít lần nhìn thấy cá sấu Xiêm tại Ea Lâm. Tuy nhiên, từ khi hồ chứa nước Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ dâng ngập toàn bộ khu vực này, các cơ quan bảo tồn động vật hoang dã không còn kiểm soát được những cá thể ấy nữa.
“Năm 2006, Viện Sinh học nhiệt đới triển khai dự án bảo tồn loài cá sấu Xiêm tại bầu Hà Lầm. Viện cũng lập một dự án xây dựng làng sinh thái tại bầu Hà Lầm với mục đích bảo tồn nguồn gien cá sấu Xiêm quý hiếm. Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới cũng đã có kế hoạch di chuyển một số cá thể cá sấu Xiêm từ Thái Lan, Campuchia đến bầu Hà Lầm. Tuy nhiên, các dự định trên đã đổ vỡ khi khu vực này thành hồ thủy điện” - TS Long nói.
“Trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Sông Ba Hạ có nhắc đến cá sấu Xiêm trong khu vực. Nhưng họ không hề đề cập đến các tác động tiêu cực của dự án đối với loài này, cũng như không đề ra các giải pháp bảo tồn. Nếu tuân theo Luật Bảo vệ môi trường và Luật Đa dạng sinh học, lẽ ra thủy điện Sông Ba Hạ chưa được phép xây dựng bởi những nguồn gien đặc biệt quý hiếm như cá sấu Xiêm không thể để mất đi” - TS Long nói.
Cũng theo TS Long, thời gian tới Viện sẽ triển khai các giải pháp cấp bách để bảo vệ các cá thể cá sấu Xiêm còn lại (nếu có). Giải pháp tốt nhất hiện nay là bảo tồn dựa vào cộng đồng. “Huyện sẽ tuyên truyền, vận động nhân dân không đánh bắt bằng xung điện đồng thời tăng cường tuần tra, bảo vệ khu vực này. Huyện cũng đề nghị Viện Sinh thái học miền Nam tiếp tục triển khai dự án bảo tồn cá sấu Xiêm” - ông Đặng Đình Toại, Chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, nói thêm. (Pháp Luật TPHCM 1/10; Thanh Niên 1/10)đầu trang(
Có cầu thì ắt có cung. Đó là quan hệ có tính quy luật của kinh tế thị trường. Có cầu mà không có cung, nơi nào xảy ra như vậy, chứng tỏ ở đó có sự "đi ngược chiều” do chủ quan gây ra. Sản xuất gỗ nhân tạo là một trong những "điển hình” của tình trạng này.
Ngành sản xuất gỗ nhân tạo du nhập vào Việt Nam chưa lâu nhưng hiện thời mặt hàng này trở nên thông dụng trên thị trường nội địa. Các công sở cũng như hộ gia đình, công trình cao cấp và kể cả nhà tạm đều sử dụng gỗ nhân tạo. Vì nhiều lý do khác nhau, dùng gỗ nhân tạo thay cho gỗ rừng đang trở thành xu hướng của cả thế giới.
Tại Việt Nam, một trong những quốc gia đang có nguy cơ cạn kiệt gỗ rừng, mỗi năm sử dụng hàng triệu m3 gỗ nhân tạo. Gỗ dăm (dưới dạng tận dụng) là nguyên liệu chính dùng để chế biến gỗ nhân tạo. Tuy nhiên để có sản phẩm hoàn chỉnh với chất lượng tốt, đòi hỏi không thể thiếu những nguyên liệu phụ trợ quan trọng như keo gắn gỗ, chất làm bóng sản phẩm, chất chống ẩm...
Trong nhóm nguyên liệu phụ trợ, keo gắn gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất và giữ vai trò quan trọng nhất. Không có keo gắn gỗ, cho dù dư thừa các thứ khác, không thể tạo ra sản phẩm gỗ nhân tạo. Mỗi năm Việt Nam phải chi ra hàng trăm triệu USD nhập khẩu các loại nguyên liệu phụ trợ sản xuất gỗ nhân tạo, trong đó keo gắn gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Là nguyên phụ liệu không thể thiếu vậy mà sau nhiều năm hoạt động, đến nay Việt Nam vẫn phải nhập khẩu hơn 90% keo gắn gỗ. Nhu cầu trong nước có từ nhiều năm, khối lượng sử dụng càng ngày càng lớn. Ngành sản xuất gỗ nhân tạo đã và đang tạo ra nhu cầu (đầu ra) đối với keo gắn gỗ. Không những có cầu mà còn có ở mức lớn, vậy nhưng, sau nhiều năm ỷ lại thị trường nước ngoài, đến nay gần như cả nước chưa có cơ sở chuyên sản xuất keo gắn gỗ.
Hiện trạng không bình thường như vậy nếu còn kéo dài, ngành sản xuất gỗ nhân tạo sẽ chưa biết đến bao giờ khỏi bị động và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu như hiện thời. Làm thế nào và đến bao giờ khắc phục tình trạng có cầu mà không có cung, đó là câu hỏi giành cho Bộ Công thương và các doanh nghiệp đang hoạt động trên lĩnh vực chế biến gỗ phục vụ thị trường nội địa cũng như xuất khẩu.
Tăng cường sử dụng gỗ nhân tạo thay thế gỗ tự nhiên, đó là một trong những giải pháp hữu hiệu góp phần bảo vệ rừng. Khẩn trương thực hiện một số dự án sản xuất keo gắn gỗ đang là đòi hỏi của nhu cầu thị trường nội địa, vừa góp phần hạn chế nhập siêu, vừa tích cực tham gia chủ trương dùng gỗ nhân tạo thay thế gỗ tự nhiên. (Đại Đoàn Kết 1/10)đầu trang(
Theo các chuyên gia ngành gỗ, nhu cầu các sản phẩm gỗ xây dựng, trang trí nội thất chất lượng cao của Nhật Bản sẽ tiếp tục tăng.
Để tận dụng tốt cơ hội này các doanh nghiệp gỗ Việt Nam cần phải xây dựng chính sách hỗ trợ và quảng bá mạnh.
Ông Tadashi Kikuchi, Tùy viên kinh tế Nhật tại TPHCM nhận định người Nhật rất thích dùng những sản phẩm gia dụng làm từ gỗ nên có thể nói nhu cầu những sản phẩm trên của thị trường Nhật là rất lớn.
Tuy nhiên, để gia công chế biến và xuất khẩu những sản phẩm đáp ứng nhu cầu trên thì các doanh nghiệp Việt Nam cần hợp tác chặt chẽ với chính các doanh nghiệp Nhật Bản để nắm bắt được sở thích khách hàng.
Hiện nay chi phí nhân công tại Nhật rất cao, cùng với vấn đề dân số già đi nhanh chóng buộc các doanh nghiệp Nhật phải chuyển hướng xây dựng nhà máy ở những nước đang phát triển để tận dụng nguồn nhân công và nguyên vật liệu giá rẻ, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Nam Á.
Tỷ lệ nhập khẩu đồ gỗ từ Trung Quốc khá lớn, tuy nhiên do chi phí nhân công tại Trung Quốc cũng tăng khá nhanh nên nhiều doanh nghiệp Nhật cũng ngán ngại khi đầu tư vào đây.
“Trong khi đó, mặt dù còn khá hạn chế nhưng xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam vào Nhật Bản lại đang tăng trưởng tốt”, ông cho hay.
Bằng so sánh với ngành may mặc, ông Kikuchi cho rằng, nếu chỉ làm sản phẩm giá rẻ thì khó duy trì sự ổn định, đặc biệt tại thị trường ưa chuộng chất lượng sản phẩm cũng như tính độc đáo trong các thiết kế phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Theo ông, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là doanh nghiệp Việt Nam nên có sự hợp tác tốt với doanh nghiệp Nhật để sản xuất các sản phẩm có thiết kế tốt, từ đó người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận mua với giá cao.
“Làm được điều này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có khả năng trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành đồ gỗ”, ông nói.
Là một trong những công ty có nhiều kinh nghiệm xuất khẩu hàng đi Nhật, ông Võ Trường Thành, Chủ tịch tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành cũng thừa nhận, Nhật là một quốc gia phát triển, nơi mà các công ty đồ gỗ Việt Nam khó tự thiết kế sản phẩm để bán mà phải kết hợp với các nhà thiết kế ở đây.
Một vài ví dụ cho thấy sự khó tính của thị trường này là các sản phẩm phải gọn gàng, chắc chắn và tinh tế, gỗ làm sản phẩm phải có độ ẩm được quản lý chặt chẽ. Ghế là một trong những mặt hàng được bán nhiều nhất, các loại ghế được thiết kế nặng chỉ khoảng 3,5 kg nhưng phải rất chắc chắn để người lớn tuổi cũng có thể di chuyển được chúng và sử dụng. Để làm được điều này sản phẩm phải trải qua các bài test “mỏi mệt” từ 5.000 lần đến 8.000 lần!
Ông Thành nhận xét: hàng mộc sản xuất tại Việt Nam được xuất khẩu qua Nhật đều tăng từ khá đến tốt. “Vấn đề là các doanh nghiệp xuất được qua thị trường này lại thường là các doanh nghiệp FDI đến từ Nhật Bản, Đài Loan… tức là những nhà máy có khâu quản lý chất lượng tốt và ổn định”, ông nói.
“Thị trường Nhật Bản chỉ mở cửa cho hàng hóa chất lượng cao và ổn định, với giá rất tốt. Cơ hội để làm được điều này chỉ dành cho những ai am hiểu am hiểu văn hóa kinh doanh và có lòng kiên nhẫn”, ông chia sẻ.
Một minh chứng cho thấy sự bền vững của thị trường Nhật Bản là mặc dù thường đòi hỏi khó khăn về mặt chất lượng nhưng khi đã gây dựng được lòng tin của doanh nghiệp đối tác thì đây sẽ là thị trường tiêu thụ vững chắc nhất của doanh nghiệp Việt Nam. Hồi tháng 3-2011, Nhật Bản bị trận động đất, sóng thần lớn đánh vào, các nhà máy điện hạt nhân gây thiệt hại vô cùng lớn nhưng kim ngạch đồ gỗ Việt Nam xuất vào Nhật trong thời kỳ này cũng không bị ảnh hưởng nhiều.
Theo ông Thành, Nhật Bản chuẩn bị cho việc tái thiết sau thiên tai cũng khá chậm chạp, nhưng khi bắt đầu thì việc xây dựng sẽ rất mạnh mẽ và theo dự tính của ông thị trường này sẽ bùng nổ trong năm 2013, đặc biệt nhu cầu tiêu thụ các loại ván ép, cửa đi với chất lượng cao dành cho xây dựng và đồ gỗ nội thất sẽ tăng mạnh.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), Nhật Bản sẽ trở thành “điểm nhấn” của thị trường xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới. “Nếu như năm ngoái Nhật Bản tăng mạnh nhập khẩu các loại ván thanh phục vụ cho ngành xây dựng, tái thiết đất nước sau thiên tai thì giờ họ lại đang đẩy mạnh nhập khẩu các sản phẩm trang trí nội ngoại thất sau khi phần xây dựng hoàn tất”, ông cho hay.
Bên cạnh làn sóng tiêu thụ mới này, ông Võ Trường Thành cho hay Nhật Bản là thị trường nhập khẩu đồ gỗ lớn và mỗi năm mức sản xuất trong nước của họ giảm đi do sức ép của chi phí, đặc biệt là chi phí nhân công tăng cao.
“Việc di chuyển nhà máy hoặc một phần nhà máy từ Nhật Bản, nơi mà giá công nhân vốn cao, đến các quốc gia khác có giá nhân công rẻ hơn để sản xuất đồ gỗ cho thị trường Nhật Bản là một điều cần sự chuẩn bị nghiêm túc vì Việt Nam hiện nay cũng đang phải cạnh tranh với các nước khác trong khu vực Asean”, ông nói.
Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ trong tháng 8-2012 đạt trên 59,3 triệu đô la Mỹ, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2012 lên 425,5 triệu đô la Mỹ, tăng gần 16% so với cùng kỳ năm 2011. (Thesaigontimes.vn 30/9)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Không đâu như ở nước ta, mấy anh Tập đoàn Điện lực làm thủy điện đã đành, một công ty may, công ty gỗ cũng chơi, hãng taxi cũng nhảy vào. Không lãi, ai dại gì bỏ nhà vào rừng sâu, núi cao mà làm thủy điện.
Báo chí tốn bao nhiêu là giấy mực với thủy điện. Dân tình lo lắng cho động đất nhiều quá. Các nhà khoa học day dứt. Mấy anh ở Tập đoàn Điện lực còn lo hơn nhiều. Năm bảy nghìn tỷ bỏ ra rồi mà không tích nước, không phát điện thì vô cùng gay go, có khi phải làm liều. Mấy ông lãnh đạo ở tầm cao còn đau đầu hơn để làm sao có quyết định cho đúng, cho bảo đảm sự hài hòa của các mối quan hệ phức tạp này.
Hàng triệu năm rồi, trải qua bao nhiêu cuộc “đảo thiên, lộn địa”, trái đất này mới có được một sự cân bằng, mà chỉ là sự cân bằng tương đối thôi nhé. Những dòng sông êm đềm kia, những dòng suối với những thác nước mộng mơ kia là sản phẩm của thiên nhiên sau bao thăng trầm.
Đánh đùng một cái, loài người xây lên những con đập cao ngất ngưởng và tự hào rằng ta đã chiến thắng “Ông Trời”. Thế là những cân bằng tương đối kia đã bị phá vỡ. Những chỗ nứt gãy của tự nhiên sẽ nứt to hơn. Có phải động đất kích thích từ đó mà ra?
Không chỉ thế đâu, thủy điện ạ, thủy điện phá rừng hơi bị ác. Các bác chỉ báo cáo diện tích rừng bị chiếm dụng chỉ là diện tích lòng hồ để tích nước. Không đâu, thủy điện báo cáo bị thiếu nhiều đấy. Rừng còn bị phá do làm đường vào xây dựng thủy điện. Mà thủy điện của các bác toàn là xây dựng ở những nơi núi cao, rừng sâu thôi. Thế là những con đường quanh co lên thủy điện được hình thành sau khi các bác cứ thế mà chặt, mà cưa, mà san ủi để có đường lên thủy điện.
Rồi, bà con ta từ ngàn năm nay, chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người, ở dọc các ven sông, ven suối, nghe theo lời động viên của các bác thủy điện, hy vọng là “đếm tiền, mỏi tay”, rời bỏ mảnh đất của cha ông, tái định canh, tái định cư. Mà tái định canh, định cư ở đâu? Lại phải phá rừng tự nhiên, phá rừng gộp, để mà làm nhà, làm nương chứ. Gạo tiền của các bác thủy điện cho dân cũng chỉ được đâu có một năm thôi mà. Hết năm, dân sống bằng gì? Dân biết hy sinh cho thuỷ điện thế nào nữa đây, hỡi bác Trưởng ban dự án thủy điện 3?
Còn nữa, sau đập thủy điện là những dòng sông chết do nước không còn vì dòng nước đã bị bẻ cong, bẻ queo vào các tuốc bin. Nước ở hạ lưu của đập thủy điện khô cạn, cá không còn, thác không còn, rừng không còn, xơ xác.
Đó là chưa nói chuyện động trời khác. Mùa hạ, các bác thủy điện tích nước để phát điện. Một centimet chiều cao của nước là bạc tỷ của các bác đấy, đừng đùa. Thuỷ điện tích như thế, hạ lưu hết cả nước ăn, nước uống, nước tưới. Thế là hạn. Mùa mưa, hạ lưu đang ngập, nước thượng lưu về nhiều, các bác thủy điện sợ vỡ đập, các bác xả, mà xả nhanh. Thế là lụt ở hạ lưu sao mà dữ thế.
Thế mới hiểu tại sao ở một số nước người ta hạn chế thủy điện và thủy điện chỉ do nhà nước làm. Nhà nước làm mới chủ động điều phối được lúc hạn, lúc lũ. Không đâu như ở nước ta, mấy anh Tập đoàn Điện lực làm thủy điện đã đành, một công ty may, công ty gỗ cũng chơi, hãng taxi cũng nhảy vào. Xã hội hóa thủy điện. Tôi thủy điện, anh thủy điện. Không lãi, không siêu lãi, ai dại gì mà bỏ nhà, bỏ vợ con ở đô thị để vào rừng sâu, núi cao mà làm thủy điện. Thế mà vẫn có người còn nguỵ biện, không như thế lấy vốn ở đâu mà làm thủy điện? Buồn thật, thủy điện ơi. (Vietnamnet 1/10)đầu trang(
Có hai dự án, cùng cấp quốc gia, cùng không thể không làm. Vấn đề là thời gian khởi công và tiền: Xây dựng Bảo tàng Lịch sử quốc gia mới và bảo tồn, phát triển đàn voi Tây Nguyên.
Ở Đông Nam Á hầu như nước nào cũng có voi và thuần hóa, sử dụng voi là truyền thống lâu đời. Myanmar dùng voi khai thác gỗ, voi Thái Lan nổi tiếng trong ngành du lịch còn Lào được gọi là đất nước Triệu voi và hằng năm có hội voi... Voi Việt Nam đi vào lịch sử với những đội tượng binh kiêu hùng, là biểu tượng quyền uy của vua chúa…
Voi trong lao động, lễ hội... rất phổ biến ở Tây Nguyên. Bản Đôn, gần thành phố Pleiku, Đắk Lắk nổi tiếng cả nước về truyền thống thuần hóa và sử dụng voi... Nhưng mấy năm qua đàn voi Việt Nam (voi rừng và voi nhà) cứ teo tóp dần do những chứng bệnh lạ. Voi nhà mắc bệnh do bị nhổ lông, cưa ngà... để làm đồ lưu niệm; voi rừng mất diện tích sinh sống, lang thang qua những môi trường không thích hợp và bị xua đuổi...
Mặc dù chúng được luật pháp bảo vệ nhưng do không đủ phương tiện, điều kiện bảo đảm luật có hiệu lực nên 30 năm qua đàn voi rừng Tây Nguyên từ gần nghìn con, nay chỉ còn vài chục. Để phục hồi đàn voi, truyền thống và văn hóa sống, ứng xử với voi, đã có một dự án với tổng kinh phí 60 tỷ đồng.
Bảo tồn và phát triển đàn voi là việc làm cần thời gian, kinh nghiệm, kiến thức và tiền bạc. Những quản tượng kỳ cựu từ lâu đã không còn; thế hệ mới không mấy mặn mà; kinh nghiệm, kiến thức, phương tiện hiện nay thực sự nghèo nàn. Mấy năm trước, để bắt giữ mấy con voi rừng dữ đã phải mời chuyên gia Malaysia… Vậy 60 tỷ đồng có đủ để thực hiện?
Một dự án khác lại được cho là quá nhiều tiền - Bảo tàng Lịch sử quốc gia, với tổng kinh phí dự tính 11.000 tỷ đồng. Làm ra tiền đã khó, tiêu còn khó hơn. Mỗi một đồng bạc cho dự án như một người lính ra trận. Phải sử dụng sao cho xứng đáng, ít thất thoát nhất.
Các nơi, từ trung ương tới địa phương, đều có bảo tàng, nhưng hiệu quả được bao nhiêu? Mỗi năm có bao nhiêu đoàn học sinh đến thăm, học ngoại khóa ở Bảo tàng Lịch sử, Cách mạng, Quân đội?... Bảo tàng các địa phương có phải là địa điểm được giới thiệu trong hướng dẫn du lịch? Phải mất chừng 30 năm vất vưởng đủ mọi nhà kho, các hiện vật lịch sử Hà Nội mới có được chỗ ở chính thức, mà giờ bảo tàng ấy (trị giá 11.000 tỷ đồng) có thu hút khách tới xem?
Đàn voi sẽ thế nào nếu hôm nay không bắt tay vào việc. Đàn voi và thời gian không chờ đợi. Đã qua là vĩnh viễn. Tất nhiên phải có tiền. Bao nhiêu, cần tính toán cho đúng.
Còn bảo tàng? Tất nhiên là không thể không có. Nhưng có thể đợi. Tới lúc đủ điều kiện thực hiện tốt nhất. (Hà Nội Mới 28/9)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Báo cáo vừa được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức cảnh sát quốc tế (Interpol) công bố ngày 27/9 đánh giá, hành động chặt phá rừng bất hợp pháp có nguy cơ làm giảm và vô hiệu hóa những nỗ lực để cứu rừng, công cụ quan trọng bảo vệ khí hậu trái đất.
Theo báo cáo, hành động bất hợp pháp này là loại “tội phạm có tổ chức” và ngày càng trở nên tinh vi. Báo cáo nêu rõ: “Nếu chặt phá rừng bất hợp pháp không thể được kiểm soát, được phòng tránh thì các nỗ lực của cộng đồng quốc tế để giảm thiểu lượng khí thải carbon cũng sẽ bị suy giảm, thậm chí bị hủy hoại”.
Cuộc đấu tranh chống lại nạn chặt phá rừng là một trong những công cụ mấu chốt của cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu: các cánh rừng chính là nơi hấp thụ khí CO2. Nạn chặt phá rừng chính là nguồn gốc dẫn tới khoảng 17% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Hiện nay trên thế giới chỉ có 1/10 cánh rừng nguyên sinh còn tồn tại. Lượng gỗ khai thác bất hợp pháp chiếm từ 10-30% tổng lượng gỗ được buôn bán trên thế giới và trong các nước nhiệt đới như lưu vực sông Amazone, lưu vực Congo và Đông Nam Á, tỷ lệ này còn lên tới từ 50-90%.
Trong thời gian vừa qua, cộng đồng quốc tế đã triển khai nhiều cố gắng hạn chế nạn chặt phá rừng thông qua cơ chế REDD+ (Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng), nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho các nước nghèo dễ bị tác động. Báo cáo nhấn mạnh: "Để cơ chế REDD+ hoạt động hiệu quả, cần gia tăng các khỏan tài chính đầu tư cho cơ chế này. Hành động khai thác gỗ bất hợp pháp đe dọa hệ thống này nếu như khoản thu nhập từ hành động phạm pháp này cao hơn so với khoản tài chính được đầu tư trong khuôn khổ của REDD+ ".
Kể từ 5 năm trở lại đây, nạn chặt phá rừng bất hợp pháp ngày càng diễn biến tinh vi và phức tạp hơn. 90% hoạt động này được tiến hành bởi các nhóm tội phạm có tổ chức và mang lại khoản thu từ 30-100 tỷ USD mỗi năm.
Tại Hội nghị của Ủy ban Lâm nghiệp Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) diễn ra tại Rome (Italia) từ ngày 24-28/9 vừa qua, FAO cũng lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế cần bảo vệ các cánh rừng để đảm bảo phát triển bền vững.
Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị, Tổng Giám đốc FAO Graziano da Silva nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của rừng và bảo vệ rừng trong phát triển bền vững, và mối liên hệ giữa lâm nghiệp và phát triển bền vững là một trong những vấn đề xuyên suốt được quan tâm tại Hội nghị Rio-20 diễn ra hồi tháng 6 vừa qua.
Theo FAO, rừng chiếm ít nhất 35% diện tích của trái đất và đóng một vai trò mấu chốt trong nền kinh tế toàn cầu và các nền kinh tế quốc gia, cũng như trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và suy dinh dưỡng. Khoảng 350 triệu người thuộc nhóm những người nghèo nhất thế giới hiện phụ thuộc vào rừng để tồn tại lâu dài và sinh hoạt hàng ngày. FAO khẳng định, nông nghiệp và lâm nghiệp bền vững có thể đảo ngược tình trạng suy thoái đất và chống sa mạc hóa và đây là những vấn đề cần được ưu tiên trong các chương trình nghị sự quốc tế. (Đảng Cộng Sản VN 28/9)đầu trang(
Hôm 27/9, đại diện chính phủ từ 50 quốc gia đã tập trung tại Bonn (Đức) để tiến hành kí kết bản ghi nhớ Bảo tồn cá mập di cư theo Công ước của Liên hợp quốc về bảo vệ các loài di cư (CMS).
Các nước tham gia đã thông qua một kế hoạch bảo tồn mới, với những sáng kiến giảm thiểu mối đe dạo đối với cá mập di cư. Tham gia vào kế hoạch gồm cả đại diện của ngành công nghiệp đánh bắt cá, tổ chức phi chính phủ và nhà khoa học.
Các bên sẽ tiến hành trao đổi thông tin với nhau để nâng cao chất lượng giám sát, thu thập dữ liệu đánh giá cấu trúc, xu hướng và phân phối của các quần thể cá mập cần thiết, từ đó thiết kế các biện pháp bảo tồn hữu hiệu.
Bản ghi nhớ này có ý quan trọng trong việc thúc đẩy bảo tồn loài cá mập, khi loài cá này đang di cư tới các vùng lãnh thổ đại dương thuộc các nước khác nhau và chịu nhiều thiệt hại do nạn đánh bắt quá mức cùng các mối đe dọa khác. Kế hoạch bảo tồn cũng nhằm tới việc hạn chế hiện tượng cắt vây cá mập rồi vứt cá xuống biến đang diễn ra hiện nay.
Hiện nay, theo Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), 17% loài cá mập được liệt vào danh sách đỏ 100 loài có nguy cơ tuyệt chủng. Trong đó, có hai loài cá mập lớn nhất thế giới: cá mập phơi (Basking Shark) và cá mập trắng lớn (Great White Shark) được cọi là hai loài cá mập di cư có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất.
Do vây cá mập là món hàng có giá trị cao trên thị trường, nên đã nhiều nước tiến hành cắt vây cá. Ước tính mỗi năm có từ 26-73 triệu con cá mập trên toàn thế giới bị giết để lấy vây, với sự tham gia của hơn 60 nước, gồm cả 27 quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu.
Không những vậy, hầu hết các loài cá mập là loài vật phát triển chậm, trưởng thành muộn và sinh sản ít. Các yếu tố sinh học này làm cho cá mập đặc biệt dễ bị đánh bắt quá mức và có nghĩa là dân số có thể được làm chậm để khôi phục lại một lần bị cạn kiệt. (Đất Việt 30/9)đầu trang(
Bức ảnh về hành động dã man của con người với động vật hoang dã khiến cư dân mạng hết sức bất bình.
Tại vùng đất Philippines, hình ảnh về chú voi bị con người giết một cách dã man chỉ để lấy chiếc ngà đã được ống kính của nhiếp ảnh gia Brent Stirton ghi lại. Stirton là một nhiếp ảnh gia nổi tiếng về những bức ảnh mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tố cáo những tội ác của con người với thiên nhiên và động vật hoang dã. Ông là thành viên hoạt động tích cực trong Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên WWF.
Stirton mong muốn, những bức ảnh mang thông điệp lớn lao của ông sẽ góp phần giảm bớt những tội ác của con người, chung tay gìn giữ và bảo vệ thiên nhiên hoang dã.
Hình ảnh thương tâm này được đăng tải lên facebook với thông điệp ngắn gọn nhưng ý nghĩa "Đừng làm thế!" đã nhanh chóng được lan truyền trên mạng.
Cư dân mạng hầu hết đều bộc lộ sự căm phẫn trước tội ác của chính những đồng loại mình. Một bạn có tên Anh Truong comment: "Sao có loại người sát sinh vậy", bạn Huan Nguyen bình luận: "Phải bảo tồn động vật chứ", bạn Le Thanh Bảo lại tỏ ra bất lực: "Đúng là không sinh vật nào ác bằng con người"... (Giáo Dục VN 29/9)đầu trang(
Hội nghị của Ủy ban Lâm nghiệp Tổ chức Nông-Lương Liên hợp quốc (FAO) diễn ra tại Rome, Italy từ ngày 24-28/9 nhằm xem xét các vấn đề liên quan giữa bảo vệ và bảo tồn rừng với phát triển bền vững và an ninh lương thực, đồng thời chuẩn bị cho Đại hội Lâm nghiệp Thế giới lần thứ 14.
Thông cáo báo chí của FAO cho biết phát biểu khai mạc hội nghị, Tổng Giám đốc FAO Graziano da Silva đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của rừng và bảo vệ rừng trong phát triển bền vững, và mối liên hệ giữa lâm nghiệp và phát triển bền vững là một trong những vấn đề xuyên suốt được quan tâm tại Hội nghị Rio 20 hồi tháng Sáu vừa qua.
Tổng Giám đốc Silva khẳng định rừng chiếm ít nhất 35% diện tích Trái Đất, đóng một vai trò nền tảng trong nền kinh tế toàn cầu và các nền kinh tế quốc gia, cũng như trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và suy dinh dưỡng của FAO.
Việc hoàn thành các nhiệm vụ này phụ thuộc rất nhiều vào cân bằng sử dụng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó rừng có vai trò rất quan trọng trong các yếu tố môi trường như hấp thụ cácbon, đất và chất lượng nước, bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học.
Ông cho biết khoảng 350 triệu người thuộc nhóm những người nghèo nhất thế giới hiện phụ thuộc vào rừng để tồn tại lâu dài và sinh hoạt hàng ngày, nhưng ở nhiều nước tình trạng phá rừng và các hoạt động nông nghiệp đang góp phần gây thiệt hại đáng kể về đất mỗi năm.
Bảo tồn đất là cần thiết để duy trì sự sống trên Trái Đất, trong khi vấn đề làm chậm quá trình sa mạc hóa đã không được quan tâm chú ý ở mức độ cần thiết.
Nông nghiệp và lâm nghiệp bền vững có thể đảo ngược tình trạng suy thoái đất và chống sa mạc hóa, và đây là những vấn đề cần được ưu tiên trong các chương trình nghị sự quốc tế.
FAO sẽ làm việc cùng với các chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự và khu vực tư nhân để tối đa hóa vai trò của rừng, bởi đất rừng cũng như độ che phủ rừng sẽ đóng vai trò quan trọng về an ninh lương thực trong tương lai.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Môi trường của Brazil Izabella Teixeira nêu rõ đất nước chiếm tới 60% diện tích rừng nhiệt đới Amazone lớn nhất thế giới -lá phổi xanh của Trái Đất - chủ trương xây dựng một nền kinh tế dựa vào rừng, và các nỗ lực chống nạn phá rừng của Brazil đang bắt đầu mang lại kết quả tốt, giúp giảm tới 77% tình trạng phá rừng trong giai đoạn 2004-2011, trong đó quan hệ đối tác nhà nước-tư nhân là cốt lõi của chính sách mới về quản lý rừng của Chính phủ Brazil.
Tham dự hội nghị còn có đại diện Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc phụ trách khu vực châu Âu (UNECE) và Công ước Liên hợp quốc chống sa mạc hóa (UNCCD).
Đại diện của FAO và Nam Phi đã ký một thỏa thuận hợp tác về việc chuẩn bị cho Đại hội Lâm nghiệp thế giới 14, sẽ được tổ chức vào tháng 9/2015 tại Durban, Nam Phi. (VietnamPlus.vn 28/9)đầu trang(
Con đười ươi nổi tiếng của Indonesia vì tật xấu luôn hút thuốc phì phèo đã lên chức mẹ, một sự kiện hiếm hoi và đáng mừng cho loài linh trưởng đang trên bờ vực tuyệt chủng.
Đười ươi Tori (15 tuổi), cuối cùng đã lâm bồn vào ngày 26.9 trong niềm hân hoan của các nhân viên vườn thú Taru Jurug ở thành phố Solo thuộc Javanese.
Theo AFP dẫn lời giám đốc Lilik Kristanto, quá trình chuyển dạ diễn ra tự nhiên và không có sự can thiệp của con người.
Trong 10 năm qua, khách tham quan luôn cung cấp đầy đủ thuốc lá cho con đười ươi nổi tiếng, và đến tháng 7 năm nay nó đã được chuyển ra một hòn đảo gần đó trong nỗ lực bắt Tori bỏ thuốc.
Ông Kristanto cho hay Tori đã sinh con trên đảo, và may mắn là đười ươi con rất khỏe mạnh dù mẹ nó hút thuốc hầu như suốt thai kỳ.
Giới chuyên gia cho rằng chỉ còn 50.000 đến 60.000 đười ươi sống nơi hoang dã, với 80% ở Indonesia và số còn lại ở Malaysia. (Thanh Niên 29/9)đầu trang(
Một con tàu nghiên cứu đã phát hiện hơn 1,5 triệu loài sinh vật mới sau khi thám hiểm ở các khu vực Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương.
Những loài sinh vật mới được phát hiện này sẽ được công bố lại triển lãm đặc biệt của Bảo tàng Khoa học ở London.
Sau khi con tàu cập cảng London vào tuần trước, nhóm nghiên cứu cho hay khám phá về những loài sinh vật mới này có thể làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về tác động của biến đối khí hậu đến các đại dương trên Trái Đất, đồng thời cho thấy biển dễ chịu ảnh hưởng xấu như thế nào do những hoạt động của con người.
Hơn 30 nghìn mẫu nước biển được lấy từ nhiều địa điểm trên khắp hành tinh đã phát hiện ra 1,5 triệu loài sinh vật mới, có độ lớn từ 1cm.
Nghiên cứu cung cấp một bức tranh đa dạng về vi sinh vật biển, nhưng cũng chỉ ra số lượng chất thải plastic mà con người thải xuống đại dương.
Những mảnh plastic này sẽ không thể bị phá huỷ cho đến hàng trăm, nghìn năm nữa, chúng chỉ có thể ra nhập vào chuỗi thức ăn thông qua cá, chim biển và động vật biển khác, Các độc tố này có thể đầu độc đại dương, và cũng có thể đầu độc con người thông qua hải sản.
Tiến sĩ Chris Bowler, điều phối viên khoa học của đoàn thám hiểm cho hay các nhà khoa học sẽ phân tích các mẫu nước biển thu được trong tròng thí nghiệm 1 năm, nhiệm vụ bây giờ là phải tìm hiểu khí hậu và các chất thải khó tiêu sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hệ sinh thái.
Ông cho biết thêm “Chúng tôi muốn tìm hiểu vai trò của từng loài sinh vật này trong hệ sinh thái biển để chúng ta có thể dự đoán nhiều hơn về tương lai của các đại dương trong 50 đến 100 năm tới nếu chúng ta có ý định thau đổi chúng”.
“Chúng bao gồm các sinh vật vô cùng quan trọng để tái tạo oxy, nếu các đại dương vẫn tiếp tục bị axit hoá, lượng khí thải CO2 tiếp tục tăng trong khi những vi sinh vật này rất nhạy cảm với sự axit hoá, nguy cơ rằng chúng có thể bị tuyệt chủng trong những năm tới”, Tiến sĩ Bowler nói thêm. (Giáo Dục VN 28/9) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa