Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 01 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Nhiều năm nay, hơn 3.697 ha rừng trên địa bàn được UBND xã Hà Tây (huyện Chư Pah) hợp đồng giao khoán cho 3 cộng đồng làng và 2 nhóm hộ tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Nhờ vậy, nhiều gia đình người dân tộc thiểu số nơi đây có thêm nguồn thu nhập đáng kể, diện tích rừng mà người dân nhận khoán cũng luôn được bảo vệ nghiêm ngặt.
Diện tích rộng, địa hình nhiều đồi dốc nên việc tuần tra, kiểm soát rừng nhận khoán của người dân ở Hà Tây vô cùng khó khăn. Họ chỉ có cách duy nhất là đi bộ, len lỏi dưới tán rừng rậm rạp nhiều gai nhọn và những dốc núi dựng đứng để kiểm tra từng tiểu khu, từng khoảnh rừng xem có bị xâm hại không. Mỗi chuyến đi của người dân thường kéo dài từ 2 đến 3 ngày nên họ phải mang theo đủ thứ, nào là muối, mì tôm, cá khô… để qua đêm trong rừng.
Theo anh Yaoh (làng Kon Chang), nhóm anh luôn có bảng phân công cụ thể cho từng người, ai đi tuần tra rừng thì mới được chấm công. Mỗi tháng, anh tham gia tuần tra bảo vệ rừng 3-4 lần, mỗi lần được hỗ trợ 200.000 đồng cộng với tiền xăng xe. Hết tổ của anh sẽ đến các tổ khác, làng khác thay phiên vào rừng kiểm tra xem có ai phá rừng làm nương rẫy, xâm hại đến rừng trong diện tích mà làng đã nhận khoán. “Nhiều khi nghe thông tin có kẻ xấu rình rập, lén lút xâm hại đến rừng, tất cả các nhóm tổ đều được huy động tham gia ngày đêm canh gác, bảo vệ”-anh Yaoh nói.
Anh Yaoh cho rằng: Việc giữ rừng giống như giữ nhà nên người dân ở đây ai cũng tự bảo nhau không được phá rừng làm nương rẫy, không để người lạ vào rừng. Nếu ai xâm phạm vào khu vực rừng nhận khoán, người dân sẽ nhanh chóng thông báo để chính quyền xã can thiệp, xử lý kịp thời. Chính vì vậy, trong thời gian qua, diện tích rừng được các cộng đồng làng, nhóm hộ nhận khoán bảo vệ không bị tàn phá, những cánh rừng bạt ngàn luôn một màu xanh tốt.
Ông Sôn-già làng Kon Sơ Lăl, cho biết: Sau khi nhận khoán bảo vệ rừng với UBND xã, ông đã tổ chức họp làng thông báo rừng này nay đã là của làng nên từ nay mọi người trong làng không được phá rừng làm rẫy như trước đây nữa. Đồng thời, 78 hộ với hơn 200 khẩu trong làng được chia thành nhiều tổ thay phiên nhau đi tuần tra kiểm soát, ai cũng có nhiệm vụ tham gia bảo vệ rừng. Trong khi đó, anh Hvưng(làng Kon Chang) nhìn nhận, từ khi làng nhận giao khoán rừng, dân làng được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng nên ai cũng vui mừng mặc dù biết rằng diện tích đất mà lâu nay bà con hay phát rừng làm rẫy sẽ giảm đi vì từ nay không còn ai dám xâm phạm đến rừng.
Trao đổi với P.V về việc giao khoán rừng cho người dân quản lý và bảo vệ, ông Thaoh-Chủ tịch UBND xã Hà Tây, cho biết: Gần 3.700 ha rừng trên địa bàn được xã hợp đồng giao khoán cho cộng đồng làng Kon Chang, Kon Hơ Nglẽh, Kon Sơ Lăl và 2 nhóm hộ quản lý, bảo vệ rừng. Hàng tuần, hàng tháng, xã đều cử lực lượng phối hợp với nhóm, tổ của các làng tổ chức tuần tra kiểm soát diện tích rừng nói trên. “Được hỗ trợ tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân ở đây tự nhắc nhở nhau bảo vệ diện tích rừng đã nhận khoán. Đồng thời, tự giác tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm soát và triển khai nhiều biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng; ngăn chặn kịp thời các hành vi chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép…”-ông Thaoh khẳng định.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Thưởng-Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, cho biết: Đợt này, Quỹ phối hợp với UBND xã Hà Tây tổ chức chi trả hơn 145 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng tháng 5 và 6-2017 cho 251 hộ thuộc 2 nhóm hộ và 3 cộng đồng dân cư nhận khoán giữ rừng. Theo đó, tùy vào diện tích và số hộ tham gia nhận khoán, trung bình mỗi hộ nhận được từ 466 ngàn đồng đến hơn 1 triệu đồng. Năm 2016, thu nhập bình quân 1 hộ người dân tộc thiểu số được xã thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng khoảng 4,7 triệu đồng.
“Chúng tôi mong muốn đồng bào dân tộc thiểu số cùng chính quyền xã tăng cường công tác bảo vệ rừng, không để rừng bị chặt phá. Khoản tiền nhận được từ việc tham gia bảo vệ rừng không nhiều nhưng phần nào cũng giúp họ cải thiện cuộc sống gia đình”-ông Thưởng khẳng định. Do vậy, ngoài nhiệm vụ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng kịp thời cho xã để phát tận tay người dân, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh còn tổ chức đợt tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nội dung chính là tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của chính sách này đối với người tham gia bảo vệ rừng; công tác triển khai chính sách của xã; trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia hợp đồng bảo vệ rừng cung ứng; ghi nhận và giải thích một số vướng mắc của người dân, của địa phương trong quá trình thực hiện. “Một khi người dân hiểu được điều này thì rừng sẽ luôn luôn được bảo vệ”-ông Thưởng tin tưởng. (Báo Gia Lai 1/8) đầu trang(
Từ nguồn tin “đặc tình” Đội trưởng Đội CSGT huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã đón lõng, bắt thành công xe bán tải chở số lượng lớn động vật hoang dã.
Khoảng 6h sáng 27/7, Đại úy Nguyễn Mạnh Linh, Đội trưởng Đội CSGT huyện Quỳ Châu (Nghệ An) nhận được nguồn tin từ mạng lưới “đặc tình” (nguồn tin từ địa bàn) thông báo về việc phát hiện một đối tượng đang vận chuyển động vật hoang dã từ huyện Quế Phong đi huyện Nghĩa Đàn tiêu thụ. Sau khi xác minh nguồn tin và xác định cung đường đối tượng di chuyển sẽ đi qua huyện Quỳ Châu, Đại úy Linh báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo.
“Nhận được lệnh từ cấp trên, tôi cử 2 tổ công tác ra chốt chặn trên QL48 - cung đường chiếc xe chở động vật hoang dã sẽ đi qua. Phương án chặn bắt là một tổ do tôi chỉ huy sẽ đi lên xã Châu Thắng để đón đầu, tổ còn lại sẽ bọc hậu ở khu vực trung tâm huyện để đề phòng đối tượng bỏ chạy. Cả 2 vị trí đón lõng đều là đường độc đạo không có đường ngang, ngõ tắt nhằm tạo điều kiện cho các tổ công tác đón dừng phương tiện”, Đại úy Linh kể.
Khoảng 8h, chiếc xe bán tải nghi vấn BKS 37C-246.84 xuất hiện ở Km101 QL48. Lập tức, Tổ công tác của Đại úy Linh áp sát, yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Tài xế Trần Quang Anh (SN 1989, trú xóm Mới, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong) tỏ ra ngơ ngác, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Đến khi Đại úy Linh yêu cầu kiểm tra thùng xe, tài xế này giật mình, mặt biến sắc.
Mở thùng xe, Tổ công tác phát hiện có 5 bao, chứa 14 cá thể dúi đã chết và 57 cá thể dúi còn sống, được nhốt trong lồng bẫy sập. Tài xế Anh không đưa ra được giấy tờ chứng minh nguồn gốc 71 cá thể dúi này.
Đấu tranh khai thác tại chỗ, tài xế Quang Anh khai nhận được đối tượng Lương Văn Sinh (SN 1984, trú xã Tri Lễ, huyện Quế Phong) thuê vận chuyển 5 bao chứa dúi mua gom từ người dân miền núi đưa về bán cho các nhà hàng ở huyện Nghĩa Đàn. Sau khi lập biên bản vụ việc, Tổ công tác đã bàn giao lại số dúi này cho Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Châu để xử lý theo quy định.
Đại úy Linh chia sẻ: “Buôn bán động vật hoang dã là một trong những vấn đề nóng ở miền núi. Vì thế, trong tháng hành động cao điểm phòng chống tội phạm trên tuyến, Đội CSGT Quỳ Châu đã xây dựng kế hoạch, cử lực lượng đấu tranh với hành vi vi phạm này. Trong vòng 1 tháng qua, CSGT Quỳ Châu đã bắt 3 vụ vận chuyển động vật hoang dã, thu giữ và bàn giao cho lực lượng kiểm lâm 127 cá thể dúi, 3 cá thể rùa... Ngoài ra còn bắt quả tang 2 đối tượng tàng trữ, buôn bán ma túy”.
Được biết, Đại úy Linh có 10 năm công tác tại Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, Công an huyện Quỳ Châu và chuyển sang đội CSGT được 2 năm. Nhờ kinh nghiệm đánh án và mạng lưới “đặc tình” rộng khắp, mà thời gian qua, Đại úy Linh cùng đồng đội đã tham gia ngăn chặn, bắt giữ nhiều đối tượng phạm tội, phá nhiều vụ án góp phần đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, giữ bình yên trên những cung đường miền Tây xứ Nghệ. (Giao Thông 1/8) đầu trang(
Diện tích rừng ở Tây Nguyên đang teo tóp với tốc độ chóng mặt do sự bất lực, thậm chí là “buông tay” của nhiều đơn vị quản lý rừng. Nhiều điểm nóng tranh chấp phát sinh, việc thu hồi đất rừng theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cũng vô cùng nan giải.
Rừng bị phá, bị lấn chiếm nhưng có không ít lãnh đạo công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng im lặng, khi thanh tra vào cuộc mới phát hiện rừng chỉ còn trên… giấy.
Làm việc với phóng viên NTNN mới đây, ông Phạm Hòa Dũng – Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nam Tây Nguyên, huyện Tuy Đức, Đăk Nông – cho biết: “Có hơn 30 người đang cố thủ trong rừng sâu thuộc tiểu khu 1500 và tiểu khu 1504, xã Quảng Trực để dựng lán trại, đốt dọn trồng tỉa trên đất mới phá rừng”. Theo ông Dũng, vụ phá rừng này khởi phát từ ngày 30.11.2016, với khoảng 50 – 70 người từ xã Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước) ồ ạt kéo sang. Dù đơn vị quản lý rừng và các cơ quan chức năng huyện Tuy Đức phát hiện sớm, nhưng do họ quá đông nên không thể đẩy đuổi. Từ 1,2ha bị phá ban đầu, đến nay diện tích rừng tự nhiên bị chặt phá, lấn chiếm đã tăng lên hơn 16,3ha.
Ngày 29.6 vừa qua, huyện Tuy Đức và huyện Bù Gia Mập đã có buổi làm việc, cùng thống nhất nếu các đối tượng tiếp tục vi phạm thì chỉ đạo lực lượng công an, kiểm lâm điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật chứ không vận động suông như thời gian qua. Nhưng cho đến nay, hàng chục đối tượng vẫn tiếp tục phá rừng, không thể kiểm soát được.
Tương tự, HTX Hợp Tiến (xã Quảng Sơn, huyện Đăk G’long) cũng không biết làm gì với 125 hộ dân “nhảy dù” vào diện tích rừng mà HTX được UBND tỉnh Đăk Nông cho thuê. Ông Nguyễn Anh Đức – Giám đốc HTX – bức xúc nói: “Lúc đầu chỉ có 3 hộ vào săn bắt, hái lượm chứ không dám phá rừng, tôi báo cáo nhưng chính quyền không xử lý. Bây giờ đã tăng lên 125 hộ, họ ngang nhiên chặt trụi 218ha rừng tự nhiên để lập làng và lấy đất canh tác”. Theo ông Đức, nhiều đối tượng ở làng này đã tấn công lực lượng bảo vệ rừng.
“Năm ngoái, 5 nhân viên bảo vệ rừng của HTX cùng 1 cán bộ kiểm lâm địa bàn đã bị 30 người dùng súng tự chế, dao kiếm tấn công bị thương. Họ còn đập phá xe U Oát tuần tra, phá trạm bảo vệ rừng, cướp súng của kiểm lâm huyện” – ông Đức nhớ lại. Tất nhiên đó là những vụ phá rừng lẻ tẻ, chứ với 125 hộ thì không lực lượng nào giải tỏa được, đành để họ như đốm lửa giữa rừng già mùa khô, sẵn sàng bùng lên thiêu trụi cả nghìn ha rừng.
Không chỉ Công ty Lâm nghiệp nhà nước, HTX mà diện tích rừng do quân đội quản lý ở Tây Nguyên cũng bị lấn chiếm. Vụ việc mới nhất xảy ra ngày 28.4, tại tiểu khu 1670 thuộc địa bàn xã Quảng Sơn (huyện Đăk G’long), do Đoàn Kinh tế quốc phòng Quảng Sơn thuộc Quân khu V quản lý. Trước sự có mặt của lực lượng quân đội, công an, kiểm lâm, 17 đối tượng vẫn ngang nhiên đưa xe ôtô bán tải, 2 máy khoan, dao, mã tấu vào chiếm đất rừng tại vị trí cách Trạm Bảo vệ rừng chỉ 70m. Đoàn Kinh tế quốc phòng Quảng Sơn phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu về nguồn gốc đất rừng theo yêu cầu của các đối tượng, nhưng vẫn không thuyết phục được. Cuộc giằng co kéo dài đến tối mịt, “thắng lợi” thuộc về nhóm người chiếm đất với việc trồng xong 577 cây gòn.
“Chúng tôi không loại trừ có sự đứng sau sắp xếp của các băng nhóm “xã hội đen” chuyên bảo kê, đâm thuê chém mướn, cưỡng đoạt tài sản, phá rừng… chứ không phải người dân thiếu đất” – thượng tá Nguyễn Văn Thuyên – Đoàn trưởng Đoàn Kinh tế quốc phòng Quảng Sơn nói.
Trong khi tình trạng phá rừng diễn ra như... bão, nhiều chủ rừng lại thiếu trách nhiệm, có dấu hiệu “buông tay”, thậm chí là báo cáo gian dối về số liệu mất rừng. Qua thanh tra, UBND tỉnh Đăk Nông phát hiện từ năm 2008 đến nay, Công ty Lâm nghiệp Đức Hòa (huyện Đăk Song) đã để hơn 2.600ha rừng bị chặt phá làm nhà ở, sản xuất nông nghiệp mà không có biện pháp ngăn chặn. Kiểm tra ngẫu nhiên 13 điểm, thì tất cả các khu vực đó đều đã “trắng rừng”.
Theo UBND tỉnh Đăk Nông, tình trạng phá rừng diễn ra nhiều năm, với diện tích lớn nhưng lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Đức Hòa báo cáo không trung thực (chỉ báo mất 67ha). Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đang điều tra, làm rõ các sai phạm của Giám đốc Phạm Đình Dũng (đã bị kỷ luật cảnh cáo, điều chuyển về làm chuyên viên Sở NNPTNT) và những cán bộ thuộc quyền.
Cũng trong thời gian từ năm 2008 đến nay, nhiều công ty lâm nghiệp nhà nước khác ở Đăk Nông để mất gần như hoàn toàn diện tích rừng được giao quản lý. Trong đó Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân chỉ còn 146/7.000ha được giao, Công ty Lâm nghiệp Thuận Tân còn 711/4.600ha, Công ty Lâm nghiệp Quảng Tín 2.000/9.000ha… Nguyên nhân mất rừng được xác định do lãnh đạo công ty buông lỏng quản lý, không có biện pháp ngăn chặn, giấu giếm việc mất rừng nên các ngành chức năng không nắm bắt được tình hình.
Tại Gia Lai, Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ được UBND tỉnh giao hơn 9.000ha rừng và đất lâm nghiệp vào năm 2011, đến đầu năm 2017 chỉ còn 6.677ha, tức 30% diện tích đã mất quyền sử dụng hoàn toàn. Để che giấu trách nhiệm, khi làm mới và chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lãnh đạo ban cố ý đã bỏ ra ngoài hơn 1.000ha rừng và đất lâm nghiệp. Dấu hiệu thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái của ông Nguyễn Đức – Trưởng ban và những cán bộ liên quan cũng đang được Công an tỉnh điều tra, làm rõ theo chỉ đạo của UBND tỉnh Gia Lai.
Ông Lê Quang Dần – Phó Giám đốc Sở NNPTNT Đăk Nông cho biết: “Dù đã nhiều lần đổi mới, song các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đăk Nông vẫn khó đảm đương nhiệm vụ bảo vệ rừng. Gọi là công ty nhưng hầu hết các đều không có hoạt động sản xuất, kinh doanh vì thiếu vốn lưu động, chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Sau khi dừng khai thác gỗ, các công ty chỉ được hỗ trợ 200.000 đồng/ha/năm kinh phí bảo vệ rừng, tiền dịch vụ rừng không phải đơn vị nào cũng có”. Khó khăn bủa vây, áp lực bảo vệ rừng ngày càng lớn khiến nhiều đơn vị chủ rừng có tâm lý buông xuôi, dẫn đến “xóa sổ” toàn lâm phần được giao. (Dân Việt 1/8) đầu trang(
Trong lúc tuần tra tại khu vực Tiểu khu 60, Nông lâm trường Bù Đốp, cơ quan chức năng phát hiện 5 cá thể động vật hoang dã với tổng trọng lượng 23,9kg nhưng đã bị bắn chết.
Theo kết quả giám định ngày 31/7 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thì 5 cá thể động vật hoang dã nói trên là loài voọc chà vá chân đen quý hiếm, nằm trong danh mục động vật quý hiếm cấm săn bắt, buôn bán.
Trước đó, lực lượng chức năng tỉnh Bình Phước (gồm Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp phối hợp với Đồn Biên phòng Đắk Huýt) trong lúc tuần tra ban đêm tại khu vực Tiểu khu 60, Nông lâm trường Bù Đốp (ấp Mười Mẫu, xã Phước Thiện, huyện Bù Đốp) phát hiện Tôn Tấn Tài (trú ấp Tân Phong, xã Tân Thành, huyện Bù Đốp) đang vận chuyển trái phép một lượng lớn động vật hoang dã. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện 5 cá thể động vật hoang dã với tổng trọng lượng 23,9kg nhưng đã bị bắn chết. Theo lời khai của Tài, số voọc chà vá chân đen này do Tài mới săn bắn được ở rừng Campuchia, đang vận chuyển về huyện Bù Đốp tiêu thụ thì bị bắt giữ.
Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra xử lý. (Nông Nghiệp VN 31/7) đầu trang(
Việc UBND tỉnh Phú Yên cho phép doanh nghiệp áp dụng cơ chế đặc thù thực hiện một số dự án kinh tế được cho là nguyên nhân dẫn đến hàng trăm ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng bị “xóa sổ”.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT),  giai đoạn 2012- 2017, trên địa bàn Phú Yên có 41 dự án đã thực hiện hoặc có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng rừng để thực hiện dự án. Trong tổng diện tích cần thu hồi, đất có rừng chiếm 807,57 ha (rừng đặc dụng 53,34 ha; rừng phòng hộ 283,98 ha; rừng sản xuất 470,25 ha).
Qua thanh tra cho thấy, quá trình triển khai thực hiện 39/41 dự án đã có 423,96 ha rừng bị chuyển mục đích sử dụng không phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Phú Yên giai đoạn 2011-2020 và trái quy định tại Điều 29 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006. Cơ quan quản lý nhà nước về rừng còn cho hay, việc chấp hành quy định trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác cũng có nhiều vi phạm.
Đến thời điểm thanh tra, tỉnh Phú Yên có tới 28 dự án chưa chấp hành nghĩa vụ trồng rừng thay thế với tổng diện tích là 171,18 ha. Điều này là trái quy định tại Điều 29 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006; khoản 5 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BNNPTNT ngày 29/7/2015 và không chấp hành chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ tại khoản 1 Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24/01/2014.
Kết luận thanh tra của Tổng cục Lâm nghiệp chỉ ra rằng, việc UBND tỉnh Phú Yên ban hành các văn bản cho phép áp dụng cơ chế đặc thù với nội dung như: vừa lập dự án đầu tư vừa hoàn tất thủ tục về thu hồi đất, thu hồi rừng; vừa chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, vừa đánh giá tác động môi trường; vừa xây dựng phương án trồng rừng thay thế vừa khai thác tận dụng gỗ, củi, đối với hàng loạt dự án là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai phạm nói trên.
Chủ trương dùng cơ chế “đặc thù” của địa phương là hành vi tiếp tay cho một số chủ đầu tư xóa sổ hàng trăm ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đi ngược với tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trước đó.
Theo kết luận, ở 14 dự án thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng theo Luật Đất đai năm 2003, có 6 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (37,35 ha rừng đặc dụng; 34,7 ha rừng phòng hộ). Tại thời điểm thanh tra, có 2 dự án chưa được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang thực hiện dự án.
Cụ thể, ở dự án Nhà máy lọc dầu Vũng Rô, trong khi chưa có ý kiến của Thủ tướng, UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành quyết định cho doanh nghiệp chuyển mục đích sử dụng 42,35 ha rừng (rừng phòng hộ 31,73 ha và rừng sản xuất 10,62 ha) sang thực hiện dự án.
Chưa hết, là một trong 12 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (16,31 ha rừng đặc dụng; 166,87 ha rừng phòng hộ), nhưng dự án Khu du lịch liên hợp cao cấp New City Việt Nam trong khi chưa có văn bản chấp thuận của Thủ tướng nhưng tỉnh này đã “bật đèn xanh” cho thi công.
Kết luận khẳng định, việc làm này của UBND tỉnh Phú Yên là vi phạm Luật Đất đai 2013, chưa chấp hành chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 178/TTg-KTN ngày 28/01/2013. Trách nhiệm chỉ đạo, giải quyết thuộc UBND tỉnh và trách nhiệm tham mưu, tổ chức thực hiện thuộc Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên.
Từ hàng loạt sai phạm, Tổng Cục Lâm nghiệp kiến nghị Bộ NN&PTNT đề nghị UBND tỉnh Phú Yên rà soát toàn diện các dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh Phú Yên thời gian qua, gồm cả dự án đã có chủ trương đầu tư, nhưng chưa triển khai thực hiện; kịp thời chấn chỉnh và chỉ đạo khắc phục những thiếu sót trong quá trình lập, phê duyệt và thực hiện dự án; kiên quyết không chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác khi chưa đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng rừng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm đối với các tập thể và cá nhân để xảy ra các sai phạm được nêu trong Kết luận thanh tra”. (Pháp Luật VN 1/8) đầu trang(
Đi thuyền trên sông, khám phá thế giới động vật cùng nhiều khu vui chơi giải trí hấp dẫn, tổ hợp Safari Jungle Splash (Công viên Thiên đường Bảo Sơn) mới khai trương là điểm đến mới lạ, độc đáo của Thủ đô. Lễ khai trương đã diễn ra vào 29/7 vừa qua.
Với diện tích 2,6 ha, Jungle Splash tái tạo lại hình ảnh của các khu rừng nguyên sinh với tổ hợp thác nước, vườn chim, tạo hình sông núi. Nhiều loại động vật hoang dã như: ngựa vằn, hổ trắng, sư tử trắng, linh cẩu đốm, báo Cheetah,… có nguồn gốc từ Nam Phi, Bắc Mỹ đã được “nhập khẩu” về để mang đến trải nghiệm thú vị hơn cho du khách.
Trong giai đoạn 1, Jungle Splash đưa vào vận hành 3 trò chơi: bước chân kỳ bí, cung đường tốc độ và bay giữa ngân hà. Đây đều là những trò chơi cảm giác mạnh, mới lạ với cao độ và tốc độ. Jungle Splash đi vào khai thác sẽ tạo điểm vui chơi mới cho người dân Hà Nội và các tỉnh lân cận. (Đầu Tư Chứng Khoán 31/7) đầu trang(
Cung đường tuần tra vành đai biên giới Thanh Chương đang trở thành con đường trung chuyển gỗ lậu. Không chỉ đặt máy tời, lập trạm xẻ gỗ, lâm tặc còn nghênh ngang dùng xe máy tự chế bốn giảm xóc tải gỗ chạy trên đường biên. Cả khu rừng náo nhiệt bởi tiếng cưa máy, tiếng xe rẹt ga, tiếng người hè nhau kéo gỗ vượt dốc...
Trong vai một người đi bẫy chim, chúng tôi đã có hai chuyến ngược rừng lên đường vành đai biên giới thuộc xã Ngọc Lâm (Thanh Chương) vào ngày 8/7 và 20/7. Con đường công vụ nối trung tâm UBND xã Ngọc Lâm với đường vành đai biên giới ngót 10km đường rừng dốc quanh co. Có những đoạn dài, chúng tôi phải xuống xe, dắt bộ qua lòng con suối cạn.
Trên đường ngược rừng, chừng vài chục phút lại khoảng vài người, rạp mình trên chiếc xe máy tự chế có 4 giảm xóc phía sau. Không nón mũ, phía trước lủng lẳng can xăng, vai mang ba lô, có khi còn kèm thêm cưa máy, họ rẹt ga phóng bạt mạng.
Đặt chân đến đường vành đai biên giới, thuộc tiểu khu 994, chúng tôi rẽ trái, hướng về cửa khẩu Thanh Thuỷ. Chạy chừng 10 phút, chúng tôi phải dừng lại do đường bị tắc vì sạt lở núi. Phía bên này, lâm tặc ngang nhiên lắp đặt một máy tời để kéo gỗ còn phía bên kia là bãi tập kết gỗ. Tại đây, có ba phiến gỗ rộng chừng 40cm, dày 15cm, dài hơn 2m nằm ngổn ngang, chờ được kéo sang.
Tiếp tục đi về hướng cửa khẩu Thanh Thuỷ thuộc tiểu khu 995, chúng tôi lắng tai nghe và phát hiện tiếng cưa máy rền vang cả khu vực dưới thung lũng vọng lên. Cách vị trí lâm tặc lắp đặt máy tời chừng 5km, tại một góc cua tay áo, có tất thảy 6 chiếc xe máy, mỗi xe chất hai phiến gỗ dài chừng 2-3m, rộng 40cm, dày 20cm dựng choán cả lối đi. Trên mé rừng gần đó, mấy lâm tặc ngồi thản nhiên hút thuốc, nhìn chúng tôi nghi ngờ. Nhưng khi thấy hai cái bẫy chim trên tay thì sự nghi ngờ dường như không còn nữa. Khi đã đi qua chừng 200m, chúng tôi vờ đặt bẫy chim rồi vào bụi rậm nấp rình. Hơn 10 phút sau, mấy lâm tặc nổ máy, rồ ga tải gỗ ì ạch vượt dốc trở ra.
Trên cung đường đi qua, chúng tôi phát hiện hơn 5 vị trí lâm tặc lập trạm cưa xẻ gỗ ngay trên đường vành đai. Những bìa gỗ, thớ gỗ, mùn cưa tươi mới là chứng tích của đợt xẻ gỗ diễn ra chỉ một thời gian ngắn trước đó.
Một người dân đi rẫy ở bìa rừng cho biết: Có mấy tốp thường xuyên vào đường biên chặt gỗ. Ban ngày, họ cưa cây, xẻ và vận chuyển gỗ đến điểm tập kết trên đường biên. Mỗi khi họ di chuyển, tiếng xe máy tự chế rẹt ga ầm ầm. Khi đã có đủ gỗ, họ dùng xe máy tự chế tải gỗ đi trong đêm, từ đường biên xuống.
Trong cả hai chuyến ngược rừng, ngoài hình ảnh những phiến gỗ nằm ngổn ngang trên đường biên, những đoạn dây cáp phục vụ kéo gỗ... là tiếng cưa máy rền vang, náo động cả khu rừng. Vậy, số gỗ kia là do lâm tặc khai thác từ Lào chuyển về hay khai thác ngay trong chính các tiểu khu 994, 995 nơi đây?
Đem câu chuyện lâm tặc ngang nhiên cưa xẻ rồi chở gỗ trên đường biên trao đổi với lãnh đạo xã Ngọc Lâm, ông Lô Huy Hùng - Chủ tịch UBND xã thẳng thắn: Đó là các đối tượng vượt biên khai thác bên Lào, họ là người ngoài địa phương như Thanh Hương, Thanh Thịnh, Thanh An... Từ đầu năm đến nay chúng tôi đã phát hiện và thu giữ 3-4m3 gỗ. Theo ông Hùng, thời điểm gỗ từ đường biên về là khoảng 3-4 giờ sáng, mỗi đoàn ít nhất 3-4 xe máy lôi.
Trao đổi với Thượng tá Phan Minh Tân - Chính trị viên Đồn Biên phòng Ngọc Lâm, được biết thời gian qua, đồn đã phối hợp nhiều lực lượng làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng nên tình trạng chặt phá giảm hẳn. Từ năm 2015 đến nay không có chặt phá trên địa bàn, hiện tượng vi phạm quy chế biên giới giảm. Tuy nhiên, khi chúng tôi đề cập đến việc có tình trạng lâm tặc lập trạm xẻ gỗ, chở gỗ ngang nhiên trên đường biên, thì Thượng tá Tân thừa nhận: Có người dân từ các xã Thanh Hương, Thanh Thịnh xâm nhập đất Lào khai thác gỗ trái phép.
Theo thông tin chúng tôi có được, từ đầu năm đến nay, các lực lượng chức năng huyện Thanh Chương đã bắt giữ 46 vụ (cất giữ, vận chuyển, phá rừng) với hơn 100m3 gỗ các loại. Vậy nhưng, ông Nguyễn Hữu Thắng - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thanh Chương vẫn cho rằng tình hình khai thác gỗ trái phép đã tạm yên. Chỉ đến khi biết thông tin lâm tặc ngang nhiên vận chuyển gỗ trái phép trên đường vành đai do chúng tôi cung cấp thì ông Thắng cho hay: Đó là vi phạm pháp luật.
Đường Hồ Chí Minh vào tận đường vành đai biên giới dài 21km, đi qua trạm kiểm lâm, đồn biên phòng, trạm bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ, UBND xã Ngọc Lâm. Đây là con đường độc đạo để có thể đi xe máy lên tận đường vành đai. Nhưng điều chúng tôi khó lý giải là vì sao gỗ lậu vẫn được tuồn về xuôi qua con đường độc đạo này?
Chủ tịch UBND xã Ngọc Lâm Lô Huy Hùng thừa nhận có phần trách nhiệm về mặt quản lý nhà nước ở đây. Tuy nhiên, ông Hùng đặt ra băn khoăn: Vấn đề cần phải mổ xẻ là tình trạng lâm tặc ngang nhiên vận chuyển gỗ trên đường biên. Bởi ngoài trách nhiệm của chúng tôi thì có trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.
Cả ông Trịnh Văn Bình - Trạm phó Trạm Quản lý Bảo vệ rừng Khe Máng thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương và ông Nguyễn Hữu Thắng - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thanh Chương khẳng định: Trách nhiệm ở trên đường biên là của đồn biên phòng. Riêng ông Thắng nói thêm: Nếu biên phòng làm chặt thì sẽ không có người ra vào. Phát hiện sai phạm (vận chuyển, khai thác gỗ) trên đường biên thì lực lượng quản lý phải xem xét lại. Chỉ khi gỗ ra ngoài đường khu vực đường biên chúng tôi mới đủ thẩm quyền bắt giữ.
Cả bốn lực lượng nêu trên đều đủ chức năng, thẩm quyền bắt giữ người khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. Số lượng hơn 100m3 gỗ bị bắt giữ từ đầu năm đến nay chỉ có thể xem là con số rất nhỏ. Còn con số thực mà cơ quan chức năng không phát hiện, không bắt giữ là bao nhiêu? Rõ ràng, cần phải xem xét trách nhiệm của các lực lượng thực thi nhiệm vụ bảo vệ rừng tại huyện Thanh Chương khi đã và đang để xảy ra tình trạng lâm tặc ngang nhiên chở gỗ, xẻ gỗ trên đường vành đai biên giới. Là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ rừng nhưng Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thanh Chương Nguyễn Hữu Thắng đã không dám nói hết hai từ trách nhiệm: “Trách nhiệm để xảy ra thực tế này trước hết là chủ rừng, địa phương rồi kiểm lâm. Còn đã làm hết trách nhiệm chưa thì rất khó nói”.
Cũng theo ông Thắng, việc phối hợp giữa các lực lượng trong tuần tra, quản lý bảo vệ rừng là tương đối tốt. Chúng tôi không hiểu, cái tốt mà ông Thắng nói ở đây đến mức độ nào. Chỉ biết, gỗ trên đường vành đai biên giới Thanh Chương đang được lâm tặc ngang nhiên vận chuyển là không thể chối cãi! (Lao Động Nghệ An 31/7) đầu trang(
Đảo Cò Chi Lăng Nam là một viên ngọc quý mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho vùng đất Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Cách Thủ đô Hà Nội khoảng 70km về phía Đông, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương là một miền quê yên ả, mang vẻ đẹp của một vùng đồng bằng châu thổ ven sông Hồng. Mảnh đất này không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên nên thơ mà còn lưu giữ nét văn hóa tâm linh từ các ngôi đền, chùa hòa quyện trong vẻ đẹp giản dị của những làng nghề truyền thống.
Từ cách đây hàng trăm năm, nơi đây đã hình thành những hồ nước lớn xanh mát, tạo nên những sinh cảnh độc đáo, đặc biệt là Đảo Cò giữa lòng hồ An Dương. Tại đây, mỗi buổi sáng sớm và chiều tà, trên bầu trời, từng đàn cò bay trắng muốt đã tạo nên một bức tranh phong cảnh thi vị, hữu tình thường chỉ thấy ở các làng quê xưa.
Không ai biết chính xác Đảo Cò có từ bao giờ nhưng người dân nơi đây vẫn kể lại cho nhau câu chuyện về một trận đại hồng thủy làm vỡ đê sông Hồng gây ngập lụt, cuốn trôi làng mạc. Tương truyền rằng vào thời Nguyễn, khu vực này đã 3 lần liên tiếp xảy ra vỡ đê sông Luộc, trận lũ lớn nhất với những xoáy nước tràn vào gây ngập trắng cả một vùng, khi lũ rút đi để lại một hồ nước rộng lớn và những hòn đảo nhỏ tồn tại đến ngày nay.
Năm tháng qua đi, cây cối trên đảo xanh tươi, tôm cá cũng tấp nập ngược xuôi, từng đàn cò, đàn vạc rủ nhau tìm về đây trú ngụ, sinh sản và cái tên Đảo Cò cũng xuất hiện từ đó. Đảo Cò Chi Lăng Nam hiện có khoảng 16.000 con cò và 6.000 con vạc sinh sống. Nơi đây được các nhà khoa học đánh giá là khu dự trữ thiên nhiên có mức độ đa dạng sinh học lớn và được bảo tồn gần như nguyên vẹn nhất ở miền Bắc. Hiếm có nơi nào cò tập trung với số lượng đông, mật độ dày, phong phú về chủng loại và gần gũi với con người như ở Đảo Cò Chi Lăng Nam.
Ngày ngày, khu du lịch sinh thái Đảo Cò đón rất nhiều khách du lịch đến thưởng ngoạn vẻ đẹp của Đảo Cò giữa hồ An Dương. Đắm mình trong không gian thiên nhiên thoáng đãng, thanh bình, ngắm nhìn cuộc sống của những đàn cò trên các cành cây, con người như sống chậm lại giữa nhịp sống hối hả, nhộn nhịp thường ngày. (VTV 31/7) đầu trang(
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết, từ đầu năm đến nay, voi rừng đã kéo về khu vực canh tác của người dân ở những vùng gần rừng phá hoại hơn 20 ha hoa màu, 5 chòi rẫy và tấn công 6 con voi nhà bị thương.
Cụ thể: từ ngày 12 đến 28-1, một đàn voi hoang dã khoảng 25 cá thể di chuyển về khu vực canh tác của người dân các xã Ea Bung, Ia R'vê (huyện Ea Súp) đã phá hoại 2,8 ha cây trồng ở xã Ea Bung và 5,6 ha cây trồng của xã Ia R'vê. Tiếp đó từ ngày 22 đến 27-3, một đàn voi rừng khoảng 16 cá thể kéo về xã Ea Kiết (huyện Cư M’gar) phá hoại 2,4 ha hoa màu.
Riêng tại xã Krông Na (huyện Buôn Đôn), trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 đã bị voi hoang dã (gồm cả voi đàn và voi cá thể đi riêng lẻ) nhiều lần về phá hoại, gây thiệt hại 9,3 ha hoa màu, làm sập 5 chòi rẫy, tấn công 6 voi nhà bị thương.
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk đã phối hợp với những địa phương bị voi kéo về phá hoại thống kê mức độ thiệt hại, lập hồ sơ đề xuất UBND tỉnh xem xét hỗ trợ cho người dân. (Đài PTTH Đắc Nông 31/7) đầu trang(
Những ngày qua, trên địa bàn tỉnh liên tục có những ngày thời tiết nắng nóng với nhiệt độ cao từ 36-38 độ C (có nơi trên 38 độ). Theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh, trong những ngày tiếp theo, nắng nóng vẫn còn xảy trên diện rộng với nhiệt độ cao có nơi trên 38 độ C. Vì vậy, cảnh báo cấp cháy rừng ở tất cả các khu vực trong tỉnh đang ở cấp báo động III, IV - Cấp nguy hiểm.
Trước tình hình nắng nóng kéo dài, Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh yêu cầu Ban chỉ đạo các huyện, thành, thị chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tiến hành kiểm tra, đôn đốc và yêu cầu các chủ rừng thực hiện nghiêm chỉnh công tác phòng cháy, chữa cháy rừng  (PCCCR) theo quy định. Nghiêm cấm người dân đốt nương rẫy, chấp hành nghiêm nội quy dùng lửa trong rừng và ven rừng, chú ý phát dọn sạch đường băng cản lửa ở các khu vực rừng dễ xảy ra cháy.
Đối với các lực lượng liên ngành cần tăng cường thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR, chuẩn bị sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, trang thiết bị đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra trên địa bàn tỉnh. Đối với lực lượng Kiểm lâm, Ban chỉ đạo PCCCR cấp xã, Tổ bảo vệ rừng và PCCCR thôn, bản tổ chức trực 24/24h trong những ngày thời tiết hanh khô, nắng nóng, cấp độ cháy rừng cao; thường xuyên tuần tra rừng, phát hiện và kiểm soát lửa rừng, không để cháy lan trên diện rộng khi có cháy rừng xảy ra.
Khi xảy ra cháy rừng, chính quyền địa phương cần huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy theo phương án 4 tại chỗ để dập tắt ngay đám cháy và tiến hành điều tra, xác minh nguyên nhân, đối tượng gây cháy; có biện pháp xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (Báo Thái Nguyên 31/7) đầu trang(
UBND huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc) vừa có công văn 1131/UBND-NNPTNT gửi Công an huyện, hạt kiểm lâm huyện; UBND các xã: Bồ Lý, Đạo Trù, Đại Đình, Hồ Sơn và Minh Quang về việc xử lý vi phạm phòng cháy, chữa cháy rừng và khắc phục sau cháy rừng.
Thực hiện văn bản 864/TCLN-KL ngày 12/6/2017 về việc xử lý vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng; văn bản số 4729/UBND ngày 26/6/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc xử lý vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng, để kịp thời ngăn chặn các vụ cháy rừng xảy ra tiếp theo và triển khai hiệu quả các giải pháp khắc phục hậu quả sau cháy rừng, UBND huyện đề nghị Công an huyện chủ động và phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện, UBND các xã tổ chức điều tra, làm rõ nguyên nhân các vụ cháy rừng từ tháng 4 đến hết tháng 6 năm 2017; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của pháp luật.
Hạt kiểm lâm huyện, chủ trì phối hợp với các cơ quan chuyên môn, UBND các xã và chủ rừng đánh giá thiệt hại và đề xuất, triển khai phương án phục hồi lại diện tích rừng đã bị thiệt hại do cháy; đề xuất các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trong thời gian tới. Tiếp tục rà soát các phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng phù hợp với trọng điểm có nguy cơ cao.
UBND các xã tăng cường các hoạt động tuyên truyền về công tác phát triển, bảo vệ rừng đến mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền địa phương và toàn thể nhân dân nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. (Đảng Cộng Sản VN 31/7) đầu trang(
16 giờ 15 phút ngày 27/7, Công an huyện Tam Nông phát hiện và mời làm việc đối tượng Trần Văn Thắng (48 tuổi) và Nguyễn Thị Hồng (37 tuổi) cùng ngụ thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An về hành vi vận chuyển động vật hoang dã trái phép.
Lực lượng Công an kiểm tra và tạm giữ 107 cá thể động vật hoang dã gồm: 104 con trích, 3 con cúm núm, 1 xe mô tô biển số 62P1-012.27 dùng để vận chuyển động vật hoang dã.
Tại cơ quan Công an, các đối tượng khai nhận mua số cá thể động vật hoang dã nêu trên của người dân tại ấp K8, xã Phú Đức, huyện Tam Nông để mang đi tiêu thụ.
Công an huyện Tam Nông đã bàn giao hồ sơ, các đối tượng và cùng tang vật cho Hạt Kiểm lâm liên huyện Tam Nông - Tân Hồng để xử lý theo thẩm quyền. (Báo Đồng Tháp 28/7) đầu trang(
Nhờ biết cách chăm sóc và am hiểu đặc tính đối tượng nên mô hình nuôi động vật hoang dã đã giúp nhiều hộ dân trong tỉnh có thu nhập từ 50-100 triệu đồng/năm.
Thành công với mô hình nuôi cầy vòi hương (chồn hương) sinh sản, ông Lê Quốc Dũng, ở ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, cho biết những năm trước, phong trào nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu lan rộng, trong đó cầy vòi hương trở thành đối tượng được nhiều hộ dân trong và ngoài tỉnh “săn đón” mang về nuôi để phát triển kinh tế và gia đình ông cũng không ngoại lệ.
Ông Dũng kể, vào khoảng năm 2010, sau khi bàn với gia đình, ông đến tận xã Vĩnh Tuy (huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang) mua một cặp cầy vòi hương con với giá 7 triệu đồng về nuôi. Lúc này, ông bắt đầu tìm hiểu tập tính, cách cho ăn, cũng như thuần phục chúng. Từ 2 con giống ban đầu, đến nay qua 7 năm nuôi, ông Dũng đã sở hữu trên 20 chuồng, với hơn 20 con cầy vòi hương, trong đó có 7 con chồn hương con. “Ban đầu nuôi con vật này tôi cũng vất vả lắm, cực nhất là không biết chúng sinh sống như thế nào, cho ăn ra sao. Trải qua nhiều lần thất bại nên tôi rút tỉa được kinh nghiệm nuôi mới thành công. Hiện tôi chỉ nuôi sinh sản, không còn nuôi thương phẩm và với hơn 15 con cầy vòi hương bố mẹ, một năm chúng có thể cho sinh sản trên dưới 30 con chồn hương con, thu nhập cũng khoảng 100 triệu đồng/năm”.
Theo các hộ nuôi động vật hoang dã, từ bản năng, cầy vòi hương là loài động vật rất dễ thích nghi với môi trường sống tự nhiên, cũng như nuôi lồng. Đồng thời, kỹ thuật chăm sóc rất nhẹ, người nuôi chỉ cần chọn nơi thông thoáng, khô ráo, tránh mưa và gió lạnh thì việc nuôi cầy vòi hương thương phẩm rất có hiệu quả, còn kích thước lồng nuôi thì tùy theo người nuôi thiết kế. Đối với nuôi sinh sản, khẩu phần ăn luôn là vấn đề cần quan tâm hàng đầu. Một tuần, người nuôi cần cho cầy vòi hương ăn với những chế độ khác nhau như: thịt, cá, rắn, cua… cho đến các loại trái cây đặc thù. Có như vậy, cầy vòi hương bố mẹ mới sinh trưởng và sinh sản tốt.
Tương tự, anh Lê Văn Quắn, ở thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, cho biết: “Hồi đó, gia đình tôi làm kinh tế vườn, đất đai ít ỏi, hàng năm thu nhập không đáng là bao. Vì thế, khi nghe nuôi động vật hoang dã cho lợi nhuận khá nên tôi mạnh dạn nuôi cầy vòi hương. Qua 2 năm nuôi, từ 5 con bố mẹ, tôi đã xuất bán được 10 con chồn hương con, kinh tế thu về ban đầu cũng được 25 triệu đồng. Tới đây, tôi dự định tiếp tục nhân đàn và học hỏi thêm cách chăm sóc để nuôi sinh sản thành công hơn, nhằm phát triển kinh tế gia đình”.
Với giá trị kinh tế hấp dẫn, thời gian gần đây, phong trào nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh lan rộng, đối tượng nuôi cũng trở nên đa dạng và phong phú với nhiều chủng loại như: rắn ri voi, ba ba trăn đất, cá sấu, heo rừng… Tuy nhiên, theo đơn vị quản lý chuyên môn trong tỉnh, khi nuôi động vật hoang dã phải được ngành kiểm lâm địa phương thẩm định nguồn gốc và cấp phép; thực hiện chức năng quản lý, thường xuyên kiểm tra, lập sổ theo dõi số lượng, diễn biến quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Ngoài ra, hướng dẫn người nuôi các thủ tục hành chính liên quan đến vật nuôi và cách xây dựng chuồng trại, tuyệt đối không để vật nuôi thoát ra môi trường; nghiêm cắm săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã trong tự nhiên.
Từ việc hỗ trợ của các ngành chức năng, lâu nay các hộ nuôi động vật hoang dã tỉnh nhà luôn được hưởng lợi. Cụ thể là khâu mua bán diễn ra khá dễ dàng; kịp thời hỗ trợ về mặt kỹ thuật để giúp người nuôi hạn chế rủi ro trong quá trình nuôi và nhân đàn, đặc biệt là giá bán ra thị trường luôn ở mức cao và ổn định.
Ông Huỳnh Thiện Tâm, ở ấp 4, xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ, bày tỏ: “Tính ra, tôi đã nuôi rắn ri voi hơn 8 năm rồi và chỉ nuôi sinh sản. Thông thường tôi nuôi hơn 100 con rắn bố mẹ nên mỗi năm chúng sinh sản rất đạt và đợt này khoảng 400 con rắn con mới bán hết với giá dao động từ 80.000-100.000 đồng/con. Sở dĩ, tôi bán được giá cao như vậy là vì khi nuôi có khai báo với đơn vị kiểm lâm địa phương nên nguồn gốc rõ ràng, buôn bán thuận tiện, trung bình cao hơn giá thị trường khoảng 10.000 đồng/con. Từ số lượng trên, tôi thu nhập cũng trên 50 triệu đồng/năm, cuộc sống gia đình khấm khá hơn trước rất nhiều. Song, nếu không khéo tính, khéo nuôi thì cũng không ít người nuôi thất bại, thâm vốn, bỏ chuồng”.
Theo ông Lê Trung Chánh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phụng Hiệp, thời gian qua, phong trào nuôi động vật hoang dã ở địa phương phát triển khá mạnh, thu về lợi nhuận từ 50-100 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, trước sức ép từ yếu tố thị trường thì người nuôi vẫn chịu rủi ro và vật nuôi sẽ trở thành gánh nặng. Do vậy, để tránh tình trạng thất thoát, người nuôi cần chú ý lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp. Ngành luôn khuyến khích người dân tận dụng diện tích đất trống quanh nhà để nuôi trăn đất và ba ba. Bởi vì, 2 loài động vật này đầu ra trên thị trường tương đối ổn định, dễ nuôi, ít rủi ro.
“Tới đây, đơn vị sẽ tuyên truyền, vận động, thực hiện các giải pháp quản lý chặt chẽ, tránh tình trạng hộ nuôi không khai báo và mua bán trái phép. Đồng thời, chúng tôi vừa thực hiện mô hình nuôi động vật hoang dã đối với 3 xã có diện tích gần Khu bảo tồn thiên nhiên lung Ngọc Hoàng là xã Hiệp Hưng, Phương Phú và Phương Bình nhằm giúp người dân ổn định kinh tế gia đình, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo ở địa phương, góp phần xây dựng thành công xã nông thôn mới”, ông Chánh nhấn mạnh. (Báo Hậu Giang 31/7) đầu trang(
Tại TP. Cà Mau, việc buôn bán các loại động vật hoang dã diễn ra ngang nhiên và công khai trên nhiều tuyến đường, đặc biệt là các khu vực ven thành phố. Thậm chí, có nhiều điểm còn công khai trưng biển bán các loại động vật hoang dã. Nhiều năm qua, các loại động vật hoang dã vẫn từ những điểm kinh doanh được chuyển đến các nhà hàng, quán nhậu.
Mặc dù biết bán những mặt hàng này là vi phạm nhưng khi được phóng viên hỏi thì các tiểu thương đều đổ thừa cho hoàn cảnh gia đình và không biết các loài đó nằm trong danh mục cấm.
Hiện nay, tình trạng buôn bán các loại chim trời diễn ra sôi động nhất phải kể đến tuyến đường Võ Văn Kiệt thuộc Khóm 1, phường Tân Xuyên TP Cà Mau. Đoạn qua cầu Bạch Ngưu hướng đi về Tắc Thủ, nơi đây hoạt động buôn bán các loài chim khá tấp nập. Chỉ đếm sơ qua đã thấy khu vực này có đến gần hơn 10 điểm buôn bán các loại chim trời.
Các loài chim được bày bán ngang nhiên với mức giá: Chim cuốc 85.000 đồng/kg, le le 120.000 đồng/kg, chim chàng nghịch 120.000 đồng/kg, cò có 60.000-90.000 đồng/kg… Riêng con quốc, người bán cho biết do muốn bẫy được phải tốn nhiều công sức, nên giá khá cao và tuỳ lúc hàng ít hay nhiều.
Ngoài các loại chim trời thì các loại rắn như bông súng, ri cá cũng có giá từ 300.000 đồng/kg trở lên, ba ba sông giá 100.000 đồng/con loại nhỏ… cũng được bày bán công khai.
Phó chủ tịch phường Tân Xuyên Nguyễn Hiền Năng cho biết: "Tình trạng  buôn bán động vật hoang dã diễn ra khoảng hơn 1 năm nay, cũng nhiều lần ra quân tuyên truyền, và xử lý. Trong thời gian tới, các hộ kinh doanh ở đấy không chấp hành, phường sẽ kết hợp với các phòng chức năng sẽ có hướng xử lý mạnh hơn, nhằm ngăn chặn việc bán động vật hoang dã ngang nhiên trong nội ô thành phố".
Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau Lê Văn Hải cho biết, thời gian qua, việc bán các mặt hàng động vật hoang dã, vận chuyển động vật hoang dã từ nơi khác về tiêu thụ ở Cà Mau rất ngang nhiên bất chấp sự nhắc nhở của ngành chức năng. Từ đầu năm đến nay Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã bắt 5 vụ vận chuyển, mua bán trái phép động vật hoang dã và tịch thu 160 kg sâm đất, 155 kg càng đước, 12 kg kỳ đà, 6 kg rùa nắp, 8.6kg rùa ba gờ, 1 nai con. Xử phạt số tiền trên 70 triệu đồng".
"Sắp tới, Chi cục sẽ tiếp tục ra quân tuyên truyền nhắc nhở những hộ kinh doanh về mặt hàng này và sẽ tiến hành xử lý theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã", ông Hải khẳng định. (Báo Cà Mau 31/7) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các ngành chức năng huyện Đăk Glei (Kon Tum) đã kiểm tra, phát hiện 63 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó phá rừng trái phép 9 vụ, với diện tích thiệt hại hơn 1ha; khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép 40 vụ và mua bán, cất giấu, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của Nhà nước 14 vụ; tịch thu trên 83 m3 gỗ quy tròn các loại.
Bên cạnh việc tăng cường công tác kiểm tra, quản lý, bảo vệ rừng, đến nay, các đơn vị chủ rừng trong huyện đã tiến hành giao khoán bảo vệ rừng giai đoạn 2016- 2020 với tổng diện tích trên 49.500 ha. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Kon tum 31/7) đầu trang(
Những ngày cuối tháng 7, đoàn công tác của Cục DTNN khu vực Vĩnh Phú đã đến Hà Giang trong chuyến vận chuyển gạo hỗ trợ đồng bào, nhằm bảo vệ phát triển rừng 6 huyện vùng cao núi đá.
Hà Giang là một tỉnh nghèo. Toàn tỉnh có 11 huyện, thành phố thì có tới 6 huyện thuộc diện nghèo được thụ hưởng các chính sách theo Nghị quyết 30a của Chính phủ (gồm: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì và Xín Mần).
Đây cũng là các địa phương được hưởng chính sách hỗ trợ gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Từ trung tuần tháng 7 đến nay, Cục DTNN khu vực Vĩnh Phú đã thực hiện xuất cấp 1.778 tấn gạo, giao đến trung tâm 6 huyện. Cụ thể: Đồng Văn 258,675 tấn; Mèo Vạc 328,275 tấn; Yên Minh 287,98 tấn; Quản Bạ 315,5 tấn; Hoàng Su Phì 302,74 tấn và Xín Mần 285,83 tấn.
Những ngày tháng 7, tại Hà Giang liên tiếp xảy ra mưa lớn kéo dài trên diện rộng. Riêng trên địa bàn huyện Xín Mần, từ ngày 19 đến ngày 21/7, mưa lớn kéo dài đã làm sạt lở. Một số tuyến đường đến huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần bị chia cắt, làm ảnh hưởng đến quá trình giao gạo. Đặc biệt huyện Xín Mần có 11/19 xã bị mưa lũ chia cắt nên thậm chí phải vận chuyển gạo trên xe máy mang đến cho đồng bào.
Đoàn công tác của Cục DTNN Vĩnh Phú với tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao đã nỗ lực hết sức khó khăn, mưa lũ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Gạo hỗ trợ được chuyển đến tay đồng bào kịp thời, đúng kế hoạch... (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 31/7) đầu trang(
Điện trên hàng rào được phát đi theo hình thức phát - tắt trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ 1/3 giây, nhằm gây hoảng sợ cho voi, nhưng không nguy hiểm đến tính mạng voi và người.
Ngày 31.7, PV Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, để tìm hiểu kỹ hơn về nguyên lý hoạt động của hàng rào điện bảo vệ voi rừng được xây dựng ở khu vực H.Định Quán và H.Vĩnh Cửu (Đồng Nai).
Theo ông Dũng, hàng rào điện lấy điện từ năng lượng mặt trời và tích vào bình ắc quy 24V, các bình ắc quy này đặt tại 10 trạm dọc theo hàng rào, các trạm cách nhau 5km. Sau đó thông qua bộ phát xung (công nghệ New Zealand, nhập nguyên kiện) nâng điện thế lên trung bình từ 6.000V - 11.000V rồi phát vào dây rào điện.
Ngoài ra, còn tùy vào địa hình, vùng đất khô hay ẩm ướt, và có kim loại nằm lẫn trong đất hay không, để đặt mức điện cho phù hợp. Hiện tại trong quá trình thử nghiệm thì nơi thấp nhất được đặt 4.500V, nơi cao nhất là 14.000V.
Cũng theo ông Dũng, điện trên hàng rào được phát đi theo hình thức phát - tắt trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ 1/3 giây, nên khi người đụng vào sẽ giật bắn ra, nhưng không nguy hiểm tới tính mạng. Đối với voi cũng vậy, chỉ gây hoảng sợ và voi không dám lại gần hàng rào điện.
Độ dài của hàng rào điện là 50 km, đi qua 3 xã: gồm Mã Đà, Phú Lý (H.Vĩnh Cửu) và Thanh Sơn (H.Định Quán), ngăn cách khu dân cư và các nương rẫy của người dân với rừng tự nhiên, nơi voi thường ra tìm thức ăn và xung đột với người.
Hàng rào có độ cao 2,2 m, được xây dựng bằng các cột bê tông cốt thép, trên đó gắn 4 sợi dây cáp dẫn điện được kéo căng tào thành hàng rào ngăn chặn voi vượt qua. Trên hàng rào điện cứ cách 50 m lại gắn một tấm biển ghi “Nguy hiểm điện giật” để cảnh báo.
Toàn bộ hàng rào có tổng cộng 18 cổng chính cho xe ô tô chạy qua, cùng cả trăm cổng phụ dành cho xe máy lưu thông, nhằm giúp người dân vào nương rẫy canh tác và thu hoạch mùa màng.
Thông qua Báo Thanh Niên, ông Dũng mong muốn người dân địa phương đồng hành cùng chính quyền để bảo vệ voi, hành động trước mắt là không nên lấy thiết bị điện trên hàng rào (vừa qua phát hiện mất 5 bóng đèn cảnh báo gắn trên hàng rào ở khu vực xã Phú Lý); khi đi qua các cổng chính vào nương rẫy nhớ đóng cửa lại để voi không ra được.
Dự án khẩn cấp bảo tồn voi được tỉnh Đồng Nai xây dựng vào năm 2013, và giao cho Chi cục kiểm lâm tỉnh làm chủ đầu tư, bao gồm các hạng mục: Xác định khả năng cung cấp nguồn thức ăn trong các sinh cảnh tự nhiên hiện voi đang sinh sống để có hướng khôi phục hoặc làm giàu rừng; khôi phục, cải tạo và mở rộng sinh cảnh tự nhiên có quần thể voi; xác định diện tích trồng cây thức ăn, cây thuốc trị bệnh bổ sung cho voi; trồng bổ sung cây thức ăn, cây thuốc trị bệnh cho voi trong phạm vi khu vực dự án bảo tồn voi; bổ sung điểm cung cấp khoáng chất cho voi; cải thiện nguồn cung cấp nước (các ao, đầm tự nhiên, có thể xây dựng các đập giữ nước) mà không phá vỡ quy luật tự nhiên và xây dựng hàng rào điện khoảng 50 km. Nguồn vốn thực hiện dự án là hơn 74 tỉ đồng, trong đó, ngân sách T.Ư 80% và địa phương 20%. Dự kiến năm 2020 sẽ hoàn thành. (Thanh Niên 1/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 31.7, ông Nguyễn Như Phi, Chủ tịch UBND H.Mang Yang (Gia Lai) cho biết huyện đã chỉ đạo tạm dừng việc khai thác 2 cây trâm đỏ cổ thụ có dấu hiệu trái luật tại xã Kon Thục (H.Mang Yang).
Việc khai thác gỗ rừng tự nhiên được phát hiện tại vườn một nhà người dân ở làng Dơ Nâu, xã Kon Thụp.
Tại đây, một số người đã huy động 5 phương tiện cơ giới công suất lớn (2 xe múc, 1 xe cẩu, 2 xe đầu kéo) để khai thác 2 cây trâm đỏ. Trong đó, có 1 cây đường kính gốc khoảng 1,2 m, chiều dài dưới cành là 5m, tính từ gốc đến ngọn khoảng trên 10m.
Trong quá trình khai thác, những người này đã làm hư hỏng nghiêm trọng 100m đường giao thông.
Qua kiếm tra, những người tham gia khai thác trâm đỏ cổ thụ không xuất trình được các giấy tờ theo quy định, không đến trình diện và hợp tác để xử lý.
Ngay sau đó UBND H.Mang Yang đã chỉ đạo tạm giữ các phương tiện, tang vật, xử lý theo quy định, đồng thời gửi báo cáo lên UBND tỉnh Gia Lai và các ngành chức năng để xin ý kiến chỉ đạo phối hợp giải quyết.
Theo ông Hoàng Y Byoi, Chủ tịch UBND xã Kon Thụp, hai cây trâm đỏ này có độ tuổi trên dưới 100 năm tuổi. (Thanh Niên 31/7) đầu trang(
Theo kế hoạch, đến hết tháng 6, huyện Bạch Thông hoàn thành trồng rừng năm 2017. Tuy nhiên đến thời điểm này, toàn huyện còn gần 40ha rừng chưa được trồng.
Trong năm nay, huyện Bạch Thông có kế hoạch trồng 557ha rừng, đến nay toàn huyện trồng được 517ha, đạt 93% kế hoạch. Trong đó, trồng rừng tập trung là 86ha, trồng cây phân tán 397ha, trồng lại rừng sau khai thác là 26ha, người dân tự trồng rừng 8ha.
Được biết, diện tích rừng đến nay chưa trồng là diện tích trồng cây phân tán với 2 loại cây là trám và lát. Tuy nhiên, do cây giống còn nhỏ, chưa đủ tiêu chuẩn trồng nên phải đến cuối tháng 7 này, Hạt Kiểm lâm huyện mới cấp cây giống cho người dân trồng.
Để diện tích rừng mới trồng phát triển tốt, hiện nay cơ quan chuyên môn của huyện đang chỉ đạo người dân kiểm tra, chăm sóc, đồng thời tiến hành trồng dặm những cây rừng bị chết để đảm bảo tỷ lệ cây sống đạt cao. (Đài PTTH Bắc Kạn 29/7) đầu trang(
UBND tỉnh ban hành Công văn số 5734/UBND-NNMT, ngày 24/7/2017 về việc xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2018 – 2020.
Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm thông báo cho các đơn vị, hộ gia đình có nhu cầu trồng rừng lập Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư của đơn vị theo quy định tại Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ, gửi về Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xem xét, tham mưu UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư.
Hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư dự án gồm: Báo cáo đề xuất chủ trương theo Mẫu 04, Phụ lục II, Nghị định số 136/2015/NĐ-CP, số lượng 07 bộ; Tờ trình thẩm định báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư theo Mẫu 01, Phụ lục III, Nghị định số 136/2015/NĐ-CP, số lượng 07 bộ; Tờ trình thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn theo Mẫu 02, Phụ lục III, Nghị định số 136/2015/NĐ-CP, số lượng 07 bộ.
UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành có liên quan thẩm định Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cho dự án theo quy định tại Luật  Đầu tư công và Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ, để UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư dự án.
Giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành tổ chức thẩm định phương án sử dụng đất theo Đề án sắp xếp đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông nghiệp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường để trình UBND tỉnh phê duyệt.
Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đơn vị có liên quan xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sử dụng nguồn vốn sự nghiệp trong giai đoạn 2016-2020 và hàng năm trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy định. (Daklak.gov.vn 31/7) đầu trang(
Chiều ngày 30/7, sau 20 ngày với 3 lớp, gồm 199 cán bộ, công chức ngành Kiểm lâm toàn tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành tập huấn quản lý và sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ thành công. Lớp do Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tổ chức; bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành.
Các học viên được cấp Chứng nhận phải đạt điểm quy định qua thi trắc nghiệm lý thuyết và bắn đạn thật. Kết quả, 100% học viên đều đạt, trong đó có nhiều học viên đạt điểm khá, giỏi về lý thuyết và 24 -29 điểm /30 điểm về bắn đạn thật.
Mặc dù thời tiết những ngày tập huấn không thuận lợi, đối tượng người học không đồng đều về tuổi tác, nhưng với đội ngũ giảng dạy nhiệt tình, có kinh nghiệm; tài liệu đầy đủ, phương pháp dạy - học sáng tạo và tổ chức quản lý lớp học nghiêm túc, chặt chẽ nên kết quả đạt như mong muốn.
Tại buổi bế mạc, Đại tá Trương Ngọc Thành - Trưởng Phòng P64, Công an tỉnh đã biểu dương tinh thần giảng dạy và học tập của lớp, đồng thời yêu cầu các học viên tiếp tục rèn luyện nhiều hơn nữa. Phó giám đốc Sở NN&PTNT Võ Danh Tuyên cũng ghi nhận thành tích đạt được và đề nghị toàn ngành Kiểm lâm phát huy cao độ để trau dồi nghiệp vụ nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong công tác của mình. (Báo Lâm Đồng 31/7) đầu trang(
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên, huyện Krông Pa đang khẩn trương triển khai các biện pháp để thu hồi diện tích đất lâm nghiệp người dân đã lấn chiếm để trồng lại rừng.
Qua khảo sát, tổng diện tích đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm cần phải thu hồi trên địa bàn huyện Krông Pa là 7.443 ha. Theo kế hoạch, trong 2 năm (2017- 2018) huyện thu hồi 1.020 ha, trong năm 2019 thu hồi 2.060 ha, diện tích còn lại sẽ thu hồi trong những năm tiếp theo.
Thực tế cho thấy, việc triển khai thu hồi diện tích đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm ở huyện Krông Pa gặp rất nhiều khó khăn vì diện tích cần thu hồi nằm phân tán nhiều nơi và nhiều diện tích quy hoạch phát triển lâm nghiệp nhưng người dân lấn chiếm canh tác đã lâu năm, giờ không muốn trả lại để trồng rừng. Công tác tuyên truyền người dân nâng cao nhận thức về việc trồng rừng gắn với phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho bà con tại một số địa phương trong huyện còn hạn chế. Từ những nguyên nhân trên dẫn đến việc triển khai công tác thu hồi đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm trên địa bàn huyện Krông Pa chậm tiến độ. (Đài PTTH Gia Lai 1/8) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các chủ rừng và các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Kon Rẫy từng bước đưa công tác quản lý bảo vệ rừng đi vào nề nếp.
Để tìm hiểu việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở địa phương, chúng tôi về Ban quản lý bảo vệ rừng huyện Kon Rẫy. Ông Đỗ Tiến Chinh - Phó ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Kon Rẫy cho biết, Ban được Nhà nước giao quản lý bảo vệ 14.724,3ha rừng phòng hộ, trong đó có 12.958,23ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng nằm trên địa bàn xã Đăk Kôi và thị trấn Đăk Rve. Diện tích rừng phòng hộ do đơn vị quản lý là rừng đầu nguồn quan trọng của dòng sông Đăk Bla và của nhiều công trình thủy điện trên dòng sông Sê San.
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, Ban giao khoán cho 512 hộ dân quản lý bảo vệ 9.500ha rừng theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; diện tích rừng còn lại Ban tự quản lý. Người nhận khoán bảo vệ rừng được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng do các nhà máy thủy điện phát điện chi trả.
Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ Kon Rẫy, năm 2016, bên cạnh mỗi héc ta rừng cung ứng dịch vụ được các nhà máy thủy điện chi trả 290 - 300 nghìn đồng/ha, Nhà nước còn cấp bù (theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 9/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020) bảo đảm người dân nhận khoán được hưởng 400 nghìn đồng/ha.
Với diện tích rừng được Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Kon Rẫy giao khoán, tính ra bình quân mỗi hộ nhận khoán được hưởng gần 7,5 triệu đồng/năm. Số tiền trên là khoản thu nhập không nhỏ giúp bà con sống gần rừng có thêm thu nhập để nâng cao đời sống và cải thiện sinh kế. Quyền lợi gắn với trách nhiệm, các hộ nhận khoán không để xảy ra khai thác gỗ trái phép, phát rừng làm nương rẫy và cháy rừng.
Đối với diện tích rừng Nhà nước giao đất, giao rừng cho dân (cấp quyền sử dụng đất rừng), Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh ủy thác cho Ban chi trả dịch vụ môi trường rừng huyện chi trả cho dân. Theo ông Nguyễn Văn Tú - Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện, Trưởng ban Chi trả dịch vụ môi trường rừng huyện, không tính những năm trước, chỉ riêng năm 2016, Ban chi trả cho chủ rừng là các hộ gia đình (931 hộ dân được giao đất giao rừng) ở xã Đăk Pne, Đăk Ruồng, Đăk Tờ Re, Đăk Kôi, Đăk Tơ Lung trên 2 tỷ đồng. Tính ra, bình quân các hộ nhận đất, nhận rừng được nhận hơn 2 triệu đồng/năm. Được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm, người dân ngày càng có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng và không để xảy ra mất rừng.
Đối với diện tích rừng cung ứng dịch vụ do chính quyền địa phương quản lý, UBND các xã có điều kiện hỗ trợ cho lực lượng dân quân, công an, kiểm lâm địa bàn và hộ nhận khoán tăng cường tuần tra bảo vệ rừng, trực chốt bảo vệ rừng, hợp đồng người bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, ông Trần Văn Độ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện đánh giá cao chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thông qua chính sách này, lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh và các cấp chính quyền địa phương tăng cường tuyên truyền cho người dân, các chủ rừng nâng cao nhận thức bảo vệ rừng; đồng thời đẩy mạnh tuần tra và thành lập các chốt bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện còn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Chư Păh, Đăk Đoa (Gia Lai) tăng cường bảo vệ vùng rừng giáp ranh theo quy chế đã ký kết.
Phát huy chính sách dịch vụ môi trường rừng cùng với việc thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, từ đầu năm 2017 đến nay, huyện Kon Rẫy dập tắt điểm nóng, không để phát rừng làm nương rẫy và xảy ra cháy rừng trái phép. Công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương ngày càng đi vào nề nếp. (Báo Kon Tum 30/7) đầu trang(
Theo thống kê của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, đến nay toàn tỉnh đã trồng được trên 182.000 ha rừng sản xuất, trong đó có 71.000 ha rừng luồng, 7.000 ha rừng cây đặc sản như thông, quế, cọ, phèn và trên 104.000 ha rừng gỗ nguyên liệu, như keo tai tượng, xoan, trẩu, mỡ.
Việc lựa chọn, đưa giống mới, các mô hình sản xuất, trồng rừng thâm canh gỗ lớn, trồng xen canh cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, phục tráng rừng luồng đều được áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trồng, chăm sóc bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo định hướng giai đoạn 2016-2025, toàn tỉnh quy hoạch trên 402.000 ha rừng sản xuất, chiếm 62,07% diện tích đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 177.724 ha, rừng trồng 188.988 ha và 35.302 ha đất trống.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, hiện nay các địa phương đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn và khuyến khích người dân chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; triển khai có hiệu quả chính sách khuyến khích thâm canh rừng luồng, phấn đấu đến năm 2020 đạt 30.000 ha rừng luồng thâm canh.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ trong phát triển rừng sản xuất theo hướng liên kết giữa người dân và doanh nghiệp. Qua đó, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng. (Báo Thanh Hóa 30/7) đầu trang(
Toàn tỉnh hiện có 15.828,53 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC do Hội đồng Quản trị rừng thế giới chứng nhận, trong đó có 11.462 ha thuộc 5 công ty lâm nghiệp do tỉnh quản lý; 866 ha thuộc nhóm, hộ gia đình; còn lại là thuộc các công ty lâm nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn. Bình quân giá trị mỗi ha rừng được cấp chứng chỉ tăng thêm từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng.
Thôn Nghẹt, xã Phú Thịnh (Yên Sơn) có 110 hộ dân, chủ yếu là người Dao quần trắng. Ông Lý Văn Dau, một trong những chủ hộ trong thôn có 2,2 ha được cấp chứng chỉ rừng cho biết, khi được cấp chứng chỉ FSC gia đình có thể thu từ 90 - 100 triệu đồng/ha, thay vì chỉ 70 - 80 triệu đồng/ha như trước đây. Việc trồng, chăm sóc rừng theo tiêu chuẩn FSC giúp những người trồng rừng như ông Dau tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật, cách thức canh tác mới, xóa bỏ hẳn tình trạng trồng tự phát như trước đây. Vì toàn bộ các khâu từ giống, sử dụng phân bón đến bao tiêu sản phẩm đều có hợp đồng rõ ràng. Trước những lợi ích này, 14 hộ gia đình khác ở thôn Nghẹt quyết định đăng ký thực hiện chăm sóc 48,5 ha rừng theo kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn FSC.
Ông Phạm Ngọc Chung, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Thịnh cho biết, toàn xã đã có 60 hộ, với 181,37 ha rừng tại các thôn Đèo Bụt, Mỹ Lộc, Nghẹt, Tình Quang được cấp chứng chỉ rừng FSC. Hiện đã có thêm 51 hộ trồng rừng đăng ký 231,63 ha để tiếp tục đánh giá trong năm nay.
Xã Tiến Bộ hiện có 13 hộ gia đình được cấp chứng chỉ rừng với diện tích 236,48 ha. Ông Trần Quyết Cường, Chủ tịch UBND xã Tiến Bộ cho biết, trước khi thực hiện, xã phối hợp với Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang và các đơn vị liên quan tổ chức tập huấn, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích khi được cấp chứng chỉ rừng. Bên cạnh việc tăng giá trị kinh tế thì cấp chứng chỉ rừng đã thay đổi căn bản thói quen trong trồng, chăm sóc rừng của người dân: Loại bỏ hoàn toàn việc đốt thực bì khi chuẩn bị đất trồng rừng, không vứt bao bì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi... ảnh hưởng đến nguồn nước và môi trường sống.
Theo anh Triệu Đăng Khoa, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, việc thu hút chính người dân tham gia thực hiện cấp chứng chỉ rừng là một bước tiến lớn trong phát triển rừng theo định hướng tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của tỉnh, khi 85% diện tích rừng sản xuất nằm trong tay người dân. Hiện ngành Lâm nghiệp tỉnh cũng đã lựa chọn một số xã của huyện Yên Sơn như Phú Thịnh, Công Đa, Tân Tiến, Thái Bình, Tiến Bộ, Nhữ Hán... để tiếp tục áp dụng, mở rộng diện tích cấp chứng chỉ ra hộ gia đình, cá nhân. Toàn bộ sản phẩm rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC được Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang thu mua toàn bộ.
Theo đại diện công ty, doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ nội, ngoại thất sang các quốc gia châu Âu, do đó các hoạt động từ khâu thu mua nguyên liệu đến tổ chức sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm ngoài những yêu cầu của pháp luật Việt Nam thì công ty phải đáp ứng tất cả các yêu cầu của luật pháp quốc tế. Trong đó phải đảm bảo các yêu cầu: Nguyên liệu hợp pháp, có hợp đồng chuỗi từ người trồng rừng, khai thác, vận chuyển đến chế biến.
Việc trồng rừng theo chuẩn thế giới thực sự là một bước tiến dài trong sản xuất lâm nghiệp, xóa bỏ tình trạng trồng rừng theo kiểu tự phát, không áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa doanh nghiệp và người nông dân tiến gần đến cánh cửa bước ra thế giới với những sản phẩm gỗ chất lượng. Từ nay đến năm 2018, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục phối hợp với Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang đánh giá, cấp chứng chỉ rừng cho trên 30.000 ha rừng trồng tại địa phương, trong đó ưu tiên các hộ, nhóm hộ gia đình. (Báo Tuyên Quang 31/7) đầu trang(
Nhiều năm trở lại đây, Bình Ðịnh đã trở thành “thủ phủ” của nghề ươm cây giống lâm nghiệp. Ngoài việc đảm bảo cung ứng cho người trồng rừng trong tỉnh, một lượng lớn cây giống được xuất bán cho nhiều địa phương trong nước. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều cơ sở không đủ điều kiện sản xuất - kinh doanh cây giống lâm nghiệp nhưng vẫn hành nghề, cung ứng sản phẩm không đảm bảo chất lượng ra thị trường.
Theo Sở NN&PTNT, mỗi năm toàn tỉnh trồng mới và trồng rừng sau khai thác khoảng 10.000 ha, với nhu cầu cây giống lâm nghiệp (CGLN) trên dưới 20 triệu cây các loại. Nhu cầu cây giống lớn, đầu ra thuận lợi, hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD) cao, nên nhiều tổ chức, cá nhân đã ồ ạt xây dựng cơ sở sản xuất giống, mở rộng vườn ươm. Tuy nhiên, vấn đề phát triển nóng các cơ sở sản xuất CGLN cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc quản lý chất lượng.
Dọc tuyến QL 19C - đoạn qua địa phận các xã Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp, thị trấn Vân Canh (huyện Vân Canh) - thời điểm này có hàng loạt vườn ươm, cơ sở sản xuất CGLN đang hoạt động. Bên cạnh các vườn ươm, cơ sở đầu tư xây dựng bài bản, được cấp phép, vẫn còn nhiều vườn ươm tự phát, hoạt động “chui”, sản xuất cây giống không đảm bảo quy trình kỹ thuật; chủ các cơ sở ươm giống không có chuyên môn kỹ thuật mà chỉ làm theo kinh nghiệm, nên cung cấp cho thị trường cây giống không đảm bảo chất lượng.
Ông Trần Văn Khổ, Phó Phòng NN&PTNT huyện Vân Canh, cho biết: Qua kiểm tra, toàn huyện có trên 10 vườn ươm SXKD cây giống không đảm bảo quy trình kỹ thuật, nhân giống bằng phương pháp giâm hom. Hầu hết chủ các vườn ươm này đều tận dụng diện tích đất vườn nhà để mở cơ sở, mày mò học hỏi kỹ thuật để SXKD cây giống cung cấp cho các hộ trồng rừng nhỏ lẻ, cây giống không rõ nguồn gốc xuất xứ, không được cấp phép hoạt động. Khi cơ quan chức năng kiểm tra thì các cơ sở tạm dừng sản xuất, đợi qua đợt kiểm tra lại tiếp tục hoạt động.
Còn tại huyện Phù Cát, qua kiểm tra có 16 cơ sở sản xuất CGLN chưa được cơ quan chức năng cấp phép. Các cơ sở này tập trung tại 2 xã Cát Trinh (13 hộ) và Cát Hanh (3 hộ), SXKD cây bạch đàn, keo lai bằng hạt giống không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Đây là 2 loại giống không được Bộ NN&PTNT cho phép kinh doanh vì thụ phấn đồng huyết dẫn đến cây thế hệ sau kém chất lượng, chậm phát triển. Đáng nói hơn, dù tồn tại đã nhiều năm nay nhưng các cơ sở này vẫn chưa hề bị cơ quan chức năng và chính quyền địa phương xử lý.
Ông Vũ Quốc Bảo, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Phù Cát, cho biết: “Mỗi khi vào vụ trồng rừng hàng năm, Phòng đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra, nhưng do thấy các hộ này kinh doanh nhỏ lẻ, sản xuất 150 - 200 ngàn cây giống/năm/hộ nên chỉ nhắc nhở, yêu cầu dừng sản xuất. Cái khó hiện nay trong công tác quản lý các cơ sở sản xuất CGLN là do nhu cầu trồng rừng của người dân địa phương rất lớn, trong khi các cơ sở sản xuất nhỏ này bán cây giống với giá thấp nên hấp dẫn một số người thiếu vốn sản xuất”.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm (Sở NN&PTNT), hiện bên cạnh các cơ sở SXKD CGLN có quy mô lớn được cơ quan chức năng cấp phép; trên địa bàn tỉnh có trên 80% số cơ sở có quy mô nhỏ hộ gia đình, công suất 200 - 300 ngàn cây giống/năm, chưa được quản lý. Hầu hết các cơ sở sản xuất nhỏ chưa được kiểm soát chất lượng nguồn gốc giống chặt chẽ và các quy trình sản xuất chưa đảm bảo theo yêu cầu của Bộ NN&PTNT.
Để nâng cao chất lượng, giá trị rừng trồng, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, việc quản lý, nâng cao chất lượng CGLN được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu, là tiền đề cho hiệu quả kinh doanh rừng trồng. Nhằm siết chặt công tác quản lý các vườn ươm, Bộ NN&PTNT đã có văn bản yêu cầu các sở NN&PTNT phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt quy chế quản lý, có biện pháp kiểm tra, xử lý đối với các cơ sở SXKD CGLN kém chất lượng.
Ông Phạm Bá Nghị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, cho biết: Chi cục đã tham mưu Sở NN&PTNT thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, phối hợp với Phòng NN&PTNT các huyện và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra hoạt động SXKD và thực hiện các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực sản xuất CGLN tại các địa phương trong tỉnh. Bên cạnh đó, Chi cục thường xuyên tuyên truyền, khuyến cáo người trồng rừng không mua, không sử dụng các CGLN không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Tăng cường kiểm tra các vườn ươm, chấn chỉnh việc gieo ươm cây giống không rõ nguồn gốc; yêu cầu các chủ vườn ươm trước khi xuất bán cây giống phải thông báo đến cơ quan chức năng để được kiểm tra, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc giống của từng lô cây con.
“Từ nay đến cuối vụ trồng rừng, lực lượng thanh tra, pháp chế thuộc Chi cục Kiểm lâm sẽ tiếp tục kiểm tra thường xuyên hoạt động SXKD CGLN trên địa bàn toàn tỉnh; đồng thời có những biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời các đơn vị có hành vi vi phạm”, ông Nghị cho hay. (Báo Bình Định 31/7) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Người ta vẫn gọi thế kỷ 20 là "Thế kỷ đồ nhựa", mà thời điểm bắt đầu của kỷ nguyên nhựa hiện đại là ngày 7.12.1909 khi Leo Backeland được công nhận sáng chế về một hỗn hợp phenol - formaldehyde.
Nhưng ứng dụng ban đầu của hỗn hợp này đáng thất vọng vì sản phẩm cuối cùng bị co lại. Nhà sáng chế đã cải tiến bằng cách thêm vào phenol - formaldehyde 10 - 40% bột gỗ. Và những đồ vật được đúc từ loại nhựa tổng hợp mang tên Backelite bây giờ đã có đặc tính cơ học tốt hơn.
Thành công đó đã được ứng dụng ngay vào công nghiệp điện tử. Trên thực tế, việc phát triển ban đầu của ngành công nghiệp này là nhờ những đặc tính của hỗn hợp đúc bột gỗ - nhựa phenol.
Trong Thế chiến 2, một câu hỏi mới đặt ra đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Mỹ là: thay vì dùng gỗ để cải tiến những đặc tính của nhựa, vậy liệu nhựa có thể dùng để cải tiến các đặc tính của gỗ hay không?
Như ta đã biết, chất gỗ (thành tế bào) phồng ra 45% thể tích khi đặt trong nước. Nếu nước giữa các thành tế bào được thay thế bởi một chất không bay hơi, việc sụp đổ của các thành tế bào sẽ được ngăn chặn, gỗ giữ được trạng thái phồng lên lâu bền.
Khi độ ẩm tương đối thay đổi, sẽ không có sự phồng thêm nào nữa xảy ra. Gỗ này được xem như đạt hiệu suất lý thuyết chống phồng rộp 100%.
Yêu cầu là nhựa phải hòa tan được với nước. Sự thấm qua thành tế bào phụ thuộc vào kích thước tương đối của các khoảng trống rất bé giữa các thành tế bào phồng ra và kích thước phân tử của dung dịch thấm. Khi trùng hợp bằng nhiệt ở nhiệt độ 300oF từ 30 đến 60 phút, dung dịch thấm (monomer) được chuyển thành chất không tan và không bay hơi (polymer).
Cuối thập niên 1950, một phương pháp mới để nâng cấp gỗ là sản xuất hợp chất gỗ - polymer bằng việc trùng hợp bởi bức xạ đã được nhiều nhà khoa học chú ý.
Công trình sớm nhất được thực hiện ở Viện năng lượng nguyên tử Karpov thuộc CHLB Nga và công bố năm 1960. Theo báo cáo này, gỗ được tẩm với các monomer thương mại như methyl methacrylate và được trùng hợp bởi bức xạ gamma... Tuy nhiên những thông tin chi tiết và những thông số cụ thể là từ nghiên cứu ứng dụng của giáo sư J.A Kent, Đại học tổng hợp Virginia – Hoa Kỳ.
Dựa trên kết quả này, các nhà kỹ thuật đã khẩn trương đưa vào sản xuất các loại gỗ nhựa với quy mô công nghiệp, đi đầu là các công ty Nova Wood và Lockheed Georgia của Mỹ.
Quá trình chiếu bức xạ gỗ - nhựa có rất nhiều ưu điểm so với quá trình xử lý bằng nhiệt, bởi khả năng lan truyền của nhiệt kém, hơn nữa những phương thức trùng hợp bằng nhiệt có khả năng gia tăng nhiệt độ không kiểm soát được, làm giảm chất lượng các mẫu gỗ. Trong khi việc trùng hợp bằng bức xạ thì đồng nhất, tốc độ và mức độ trùng hợp được kiểm soát bằng việc thay đổi liều lượng. Vì thế, các mẫu gỗ xử lý bằng bức xạ có thể nâng cao những đặc tính mong ước.
Các hợp chất gỗ - polymer đã qua chiếu xạ hay composites polymer - gỗ (WPC) về mặt cơ học thì khỏe hơn gỗ chưa được xử lý rất nhiều.
Chúng có độ cứng và sức chịu nén cực kỳ tốt, chống được ẩm - nấm - mục và sự tấn công của côn trùng. Độ cứng tăng 300%, sức chịu nén tăng 100%, sức căng tăng 80%, tỷ trọng tăng 50 - 100% và khả năng chống xơ xước tăng 200%.
WPC có nhiều gam màu đẹp, trông giống những loại gỗ quý, không bị nhiễm bẩn bởi các chất lỏng thông thường như nước tẩy rửa, dầu mỡ… và chịu được nhiệt độ cao. Tuy nhiên cũng nên lưu ý, WPC không thể đóng đinh được, nó không còn chỗ cho các sợi hoặc thớ gỗ biến dạng. Vì thế các sản phẩm gỗ cần được hoàn chỉnh về hình dáng, kích thước trước khi được nâng cấp bằng chiếu xạ thấm monomer.
Kỹ thuật sản xuất các hợp chất gỗ - polymer chiếu bức xạ gamma rất đơn giản: Gỗ đã qua chế biến đúng kích cỡ được chất vào buồng tẩm (một cái bình bằng thép nối với một bơm chân không).
Buồng tẩm đóng lại và được hút chân không. Sau một thời gian quy định, gỗ được làm ngập bởi một monomer lỏng khi vẫn ở tình trạng chân không. Nitrogen được đưa từ từ vào bình khiến áp lực trong bình tăng dần tới giới hạn cho phép để monomer thấm sâu vào các thành tế bào và vào các thớ gỗ.
Các mẫu gỗ được giữ trong monomer một lúc rồi đưa ra ngoài buồng tẩm, xếp vào những thùng chứa (container) và được đưa lên băng chuyền tự động chạy vào buồng chiếu xạ gamma (thông tường từ nguồn cobalt - 60, tuy nhiên cesium - 137 cũng có thể sử dụng trong một máy chiếu bức xạ thích hợp). Việc chiếu bức xạ tiếp tục cho đến liều lượng đã được lựa chọn trước, tùy thuộc vào tính chất của hỗn hợp polymer, tỷ lệ liều và loại gỗ.
Nói chung một liều lượng khoảng 2-3 rads là đủ để hoàn thành việc trùng hợp polymer. Quá trình này cũng rất tiết kiệm năng lượng (1 megarad năng lượng bức xạ bằng 2,40 calories). Khi được lấy ra khỏi container, WPC được thông khí để làm bay mùi. Một lớp gỗ rất mỏng sẽ được bóc đi vì lớp này chứa ít polymer hơn do việc bay hơi của monomer, xuất hiện trực tiếp lớp hợp chất gỗ - poloymer lên bề mặt. Sản phẩm WPC được chà giấy nhám để làm nổi các vân gỗ tự nhiên và không cần sơn phủ, đánh bóng gì thêm.
Một hệ thống monomer đặc thù cho việc nâng cấp gỗ cũng được lựa chọn. Đối với khí hậu nhiệt đới, hỗn hợp polyester chưa no styrene và monomer methyl methacrylate là thích hợp. Những monomer như styrene, methyl methacrylate, acrylonitrile hữu cơ trong tự nhiên thì rất dễ cháy.
Để giảm tính dễ cháy này, các monomer được trộn với những liều lượng khác nhau của halogen sẽ gia tăng khả năng chống lửa của composite. Đối với đồ gỗ nội thất, vẻ đẹp bề ngoài và khả năng chống xơ xước thì được ưa chuộng, điều này có thể thực hiện bằng cách tăng cường thành phần polyester trong hỗn hợp monomer. Người ta cũng có thể trộn thêm vào monomer các chất có tính năng đặc biệt như chlorinated paraffin, phẩm màu, thậm chí cả nước hoa nữa, nhờ đó thu được nhiều loại WPC có những ưu điểm nổi bật, hấp dẫn.
Ở đầu thập niên 1960, Mỹ và Anh đã dùng các tấm WPC để lát đường chống ăn mòn trong các nhà máy sản xuất xút ăn da. Sau đó từ 1-1,5 triệu m2 WPC cho việc này đã được sản xuất hàng năm tại mỗi nước.
CHLB Nga cũng đã ứng dụng WPC trong công nghiệp, dùng làm máy nén lọc của ngành dầu khí, sơn, nhuộm trong môi trường axit hoặc kiềm, kết quả thời gian sử dụng của chúng tăng 200%.
Đặc biệt một thử nghiệm trình diễn tại Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Bombay (BARC) với 5 loại gỗ xẻ thứ cấp, rẻ tiền phổ biến ở Ấn Độ tên khoa học là: Adina cordifolia, Betula sp, Ceiba pentandra, Dyospyros melanoxylon, Hardwickia binnata để làm ván sàn chất lượng cao. Chúng được cắt, bào hoàn chỉnh trước khi trùng hợp bức xạ với styrene polyester monomer. Mỗi loại có 100 m2 được lát và kết quả tất cả 500 m2 sàn lát ấy vẫn còn như mới sau 6 năm không cần đến bất cứ sự bảo dưỡng nào. Trong khi đó, diện tích ván sàn đối chứng được làm bằng các loại gỗ tốt nhưng chưa được chiếu xạ thấm monomer thì đã phải tu bổ sửa chữa nhiều lần.
Từ đó các WPC đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất sàn lát công nghiệp và gia đình, kỹ nghệ vận tải - giao thông, đồ gỗ gia dụng, trang trí nội thất, xây dựng, công cụ cầm tay, dụng cụ thể thao và công nghiệp quốc phòng…
Kỹ thuật này cũng có thể ứng dụng trong việc nâng cao chất lượng các đồ thủ công mỹ nghệ, bảo quản các tài sản bằng gỗ. Ở một số nơi người ta còn tạc tượng gỗ rồi thấm monomer chiếu xạ để bày ngoài trời sân vườn. Thậm chí nhiều tác phẩm điêu khắc gỗ cổ đã bị tàn phá bởi thời tiết cũng được xỷ lý và khôi phục an toàn…
Đặc biệt, việc sản xuất và ứng dụng rộng rãi WPC trong công nghiệp và đời sống ở nhiều quốc gia đã có ảnh hưởng tích cực đến chiến lược phát triển rừng, phát huy cao độ các giá trị to lớn của rừng: Cung cấp - Phòng hộ - Cảnh quan - Môi trường và mở ra khả năng trồng rừng bằng những loài cây mọc nhanh, bảo tồn được các nguồn gene quý hiếm… đem  lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn.
Ở Việt Nam, trước năm 1975, nhà nghiên cứu Lê Văn Thới đã đề xuất các thử nghiệm nên thực hiện trên gỗ chất lượng thấp, có thể sử dụng cả phế liệu gỗ và đã lên danh mục 52 loài cây cho kỹ thuật này.
Đầu thập niên 1980, do yêu cầu của ngành dệt, bảo tồn - bảo tàng… đề tài chiếu bức xạ thấm monomer cho gỗ đã được đặt ra. Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu - Thực nghiệm Lâm sinh Lâm Đồng và Viện hạt Đà Lạt đã chọn 45 mẫu gỗ ở Đông Nam Bộ và 32 mẫu ở Lâm Đồng để chiếu xạ thấm monomer. Kết quả đã sản xuất được một số thoi dệt đúng tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm và xác định được liều lượng bức xạ, tỷ lệ liều và monoemer cho một số loài cây mọc nhanh ở Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên.
Chuẩn bị cho bước phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước ở thế kỷ XXI, năm 1999, Nhà nước với nguồn tài trợ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) qua dự án VIE/8/010, đã thành lâp Trung tâm Chiếu xạ tại TP.HCM (Vinagamma) hội tụ nhiều nhà khoa học ứng dụng như TS Trần Tích Cảnh, điều phối viên của IAEA; Trần Khắc Ân, giám đốc Vinagamma; TS Phạm Quốc Trinh, Trưởng ban An toàn bức xạ - Bộ Khoa học và Công nghệ…
Đề cập đến vấn đề được nhiều người quan tâm, các ông cho biết: Thiết bị chiếu xạ gamma SVST-Co-60 của Trung tâm kiểu hộp mang chuẩn là hệ công nghệ chiếu xạ đa năng, vận hành tự động và an toàn tuyệt đối, không thải loại ra môi trường bất kỳ tác nhân độc hại nào ở dạng khí, lỏng hay rắn. Thiết bị hoạt động không sinh bụi, không sinh khói và không gây tiếng ồn. Sản phẩm chiếu xạ không tồn dư các chất độc hại như xử lý bằng chất hóa học và hoàn toàn không bị nhiễm xạ. Giá thành sản phẩm WPC trên thế giới rất rẻ, chỉ bằng 1/5 - 1/3 giá thành sản phẩm các loại gỗ tốt, lại có ưu điểm về thời gian, bảo đảm nguồn nguyên liệu lâu dài...(Một Thế Giới 30/7) đầu trang(./.