Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO

Ngày 19 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sáng 19-9, Công an huyện Đông Giang (Quảng Nam) cho biết đang điều tra vụ một tổ bảo vệ rừng bị một nhóm lâm tặc tấn công bằng hung khí khiến nhiều người bị thương.
Vụ việc xảy ra khoảng 19g ngày 15-9 tại khu vực Khe Dâu, tiểu khu 56 thuộc vườn quốc gia Bạch Mã (trên địa bàn xã A Ting, huyện Đông Giang).
Trước đó ngày 14-9, tổ bảo vệ rừng vườn quốc gia Bạch Mã gồm 20 người dân địa phương đi tuần tra bảo vệ trên diện tích rừng được giao khoán theo chương trình khoán bảo vệ rừng chi trả dịch vụ thuộc lưu vực thủy điện Sông Kôn 2.
Đến chiều tối 15-9, tổ bảo vệ rừng này dựng lán trại giữa rừng để nghỉ ngơi tại khu vực Khe Dâu, tiểu khu 56, vườn quốc gia Bạch Mã. Bất ngờ đến khoảng 19g tối cùng ngày, tổ bảo vệ bị một nhóm lâm tặc đến lán trại dùng dao và cây gỗ tấn công khiến nhiều người trong tổ bảo vệ bị thương.
Sau đó, nhóm lâm tặc này bỏ trốn. Có hai người trong tổ bảo vệ bị nặng nhất phải nhập viện cấp cứu là ông Pơloong Nai và Clâu Crơi (đều trú thôn Bà Zĩ, xã A Ting).
Hiện cả hai được cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa miền núi phía Bắc Quảng Nam và Trung tâm Y tế huyện Đông Giang trong tình trạng đa chấn thương. Riêng ông Nai bị vết chém dài và sâu trên mặt.
Lãnh đạo vườn quốc gia Bạch Mã cho biết đã thăm hỏi các nạn nhân và báo cáo vụ việc đến cơ quan chức năng huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam để điều tra, xử lý. (Công An TP HCM 19/9; Nông Nghiệp VN 19/9; Tuổi Trẻ 19/9)đầu trang(
Một khối lượng gỗ khổng lồ đến 257 phách vừa được phát hiện nằm la liệt khắp các khe suối ở thượng nguồn sông Thu Bồn (thuộc xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn, Quảng Nam) chờ chuyển về xuôi theo đường nước lũ.
Việc khai thác rầm rộ gỗ, tập kết giữa núi rừng diễn ra trong một thời gian dài nhưng chính quyền và các cơ quan chức năng không hay biết...
Phải mất hơn bốn giờ đi xe ôm và một buổi đường lội bộ giữa rừng PV mới đến được khu vực khe Mây (vùng giáp ranh giữa hai huyện Phước Sơn và Nông Sơn). Và phải cải trang thành những chuyên viên địa chất mới qua mặt được cánh xe ôm ở khe Sé (xã Quế Lâm, Nông Sơn) nhận lời chở vào rừng.
Một tài xế xe ôm tiết lộ: “Nếu là phóng viên, có đeo máy ảnh, máy quay tụi tôi ăn vàng cũng không dám chở. Chở vào các anh cũng không có đường ra, tụi tôi coi chừng bị mất mạng”.
Khe Mây là cánh rừng rậm rạp, tuy nhiên đường vào đây đều nhẵn ra bởi các vết trâu kéo gỗ. Ven đường những chiếc xe máy không biển số dựng thành hàng dọc, đó là loại xe chuyên dụng của những đội quân khai thác gỗ chuyên nghiệp. Thỉnh thoảng gặp những căn chòi lợp tôn, những mái lá và những căn lều tạm do đội quân khai thác gỗ dựng lên ven suối.
Càng đi về phía thượng nguồn chúng tôi càng thấy nhiều gỗ nằm dọc ngang dưới suối. Gỗ đã được xẻ thành từng phách, mỗi phách từ 0,2-0,3m3. Nhiều phách gỗ chất cao như đến mái nhà mà thoạt nhìn tưởng đây là công xưởng xẻ gỗ ở một cảng biển chờ xuất khẩu. Đủ loại gỗ từ nhóm 1 đến nhóm 7, trong số đó có nhiều loại gỗ quý như lim, gõ, huỷnh, xoan đào, chò nâu, chò chỉ...
Có những đống gỗ PV đếm được không dưới 90 phách, có những đống khác từ 10-20 phách nằm san sát bên nhau. Đa số gỗ ở đây đã rọc phách sẵn, chỉ cần gia công nhẹ là thành các tấm phản để chở về xuôi tiêu thụ.
Một người dân ở đây cho hay khi nước khe Mây dâng cao ngang bụng là lúc gỗ được chuyển đi. Gỗ được kết thành bè, kẹp những ruột bánh xe hơi bơm căng tròn vào thì người chỉ cần bơi theo, hoặc chống sào là có thể đưa gỗ theo con nước về xuôi.
Hôm PV vào rừng gặp từng đoàn xe ben chở gỗ rầm rập về xuôi. Một tài xế cho biết sau khi kiểm lâm phát hiện thì chính quyền huyện Nông Sơn cho phép vận chuyển gỗ này về để tận thu. Một lực lượng liên ngành gồm công an, kiểm lâm cũng được chốt chặn ở ngay ngã ba khe Mây để bảo vệ lượng gỗ vừa được phát hiện này.
Có mặt tại hiện trường, kiểm lâm viên Lê Trung Thọ, phụ trách thanh tra - pháp chế Hạt kiểm lâm huyện Nông Sơn, cho biết toàn bộ số gỗ trên được phát hiện cách đây gần 10 ngày. Kiểm lâm và cơ quan chức năng đã đi đến tận các cội cây bị chặt phá.
Sau khi bấm tọa độ thì kiểm lâm phát hiện số gỗ này nằm ở địa phận huyện Phước Sơn. “Chúng tôi hết sức bất ngờ với số lượng cây gỗ bị chặt phá quy mô lớn như vậy. Vấn đề là nó nằm không xa đường tuần tra mấy” - ông Thọ nói.
Trong khi đó, ông Trần Lanh, hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Phước Sơn, cho rằng vùng này là vùng giáp ranh với huyện Nông Sơn, khá xa địa bàn tuần tra nên các đối tượng đã lén lút khai thác gỗ để chuyển về địa bàn huyện Nông Sơn chờ đi tiêu thụ.
Ông Phan Tuấn, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, cho biết đây là vụ phá rừng rất nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn. Ông Tuấn nói: “Chính nhờ kiểm lâm đi tuần tra mới phát hiện vụ việc”.
Ông Phạm Phú Thủy, phó chủ tịch UBND huyện Nông Sơn, cho rằng cơ quan chức năng đã đi tuần tra và phát hiện số lượng gỗ như trên, dù là gỗ khai thác ở huyện nào thì bây giờ cũng phải lập hồ sơ và báo cáo đầy đủ. Sau đó liên quan đến ai thì xử lý theo đúng pháp luật. (Tuổi Trẻ 19/9) đầu trang(
18/9, Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị) phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa đã tiến hành thả 22 cá thể rùa gồm rùa Sa Nhân và rùa Đất 3G với tổng khối lượng khoảng 39kg về với tự nhiên.
Đây là số rùa do Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị phát hiện, thu giữ trên xe ô tô khách mang BKS: 75B – 004.03, do tài xế Nguyễn Mậu Thành (33 tuổi), số hộ chiếu: B8246858, trú Lộc Điền, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế) điều khiển vào ngày 16/9 khi đang trên đường đưa đi tiêu thụ.
Tại thời điểm bị bắt, tài xế Thành không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số rùa trên. Quá trình làm việc, tài xế Thành khai chở thuê số rùa trên cho một người chưa rõ địa chỉ về TP Đông Hà tiêu thụ.
Ngay sau đó, lực lượng Hải quan đã lập biên bản xử phạt tài xế Thành 7,5 triệu đồng về hành vi vận chuyển động vật không rõ nguồn gốc. Đồng thời, đơn vị đã bàn giao toàn bộ 22 cá thể rùa cho Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa để tiến hành xử lý theo quy định. (Đời Sống & Pháp Luật 19/9)đầu trang(
Liên quan vụ kiểm lâm, công an huyện Phước Sơn (Quảng Nam) túc trực tại trạm kiểm soát liên ngành xã Phước Đức ngăn chặn không cho người và phương tiện của Công ty Vàng Phước Sơn chuyển máy móc ra khỏi nhà máy.
18-9, Tập đoàn Besra Việt Nam (chủ hai Công ty Vàng Phước Sơn và Bồng Miêu) cho rằng họ không tẩu tán tài sản.
Đại diện tập đoàn này lý giải: Sau một thời gian đóng cửa, mỏ vàng Bồng Miêu đang hoạt động trở lại nên Công ty Vàng Bồng Miêu lấy lại và mượn thêm những máy móc, vật tư tại Công ty Vàng Phước Sơn.
“Chúng tôi đã có văn bản gửi UBND tỉnh Quảng Nam, UBND huyện Phước Sơn và các cơ quan chức năng đề nghị hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc vận chuyển thiết bị, máy móc từ mỏ vàng Phước Sơn qua mỏ vàng Bồng Miêu nhằm hỗ trợ mỏ vàng Bồng Miêu sớm quay lại hoạt động sản xuất” - đại diện Besra Việt Nam cho biết.
Công ty Vàng Phước Sơn đang nợ thuế trên 300 tỉ đồng và Cục Thuế tỉnh Quảng Nam đã cưỡng chế hóa đơn, phong tỏa tài sản ngân hàng. Công ty này tạm dừng hoạt động sản xuất, kinh doanh từ ngày 22-7. Đến ngày 4-8, UBND huyện Phước Sơn đã có thông báo về việc tăng cường kiểm tra tình hình hoạt động của doanh nghiệp này.
Ngoài việc nợ thuế, hai công ty trên của Tập đoàn Besra Việt Nam còn nợ tiền của rất nhiều doanh nghiệp, tiểu thương và cả những người buôn bán nhỏ tại chợ thị trấn Khâm Đức (huyện Phước Sơn). Vì vậy việc công ty vận chuyển máy móc ra khỏi nhà máy khiến người dân lo lắng và cho rằng đây là hành động tẩu tán tài sản để trốn nợ nên công an, kiểm lâm ngăn chặn… (Pháp Luật TP HCM 19/9)đầu trang(
15/9, tổ công tác gồm anh Nguyễn Hồng Thái và anh Nguyễn Phúc Dũng (cán bộ kiểm lâm trực chốt tại xã Ia BLứ, thuộc Hạt kiểm lâm huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai) đang làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn xã Ia BLứ thì phát hiện một xe công nông đầu dọc chở gỗ dầu xẻ (dùng làm dát, thang giường) đi ra từ rừng phía bên Đắk Lắk.
Tổ công tác yêu cầu lái xe xuất trình giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ nhưng chủ phương tiện không chấp hành mà tháo chốt nối, bỏ lại thùng xe rồi lái đầu kéo bỏ chạy. Tổ công tác liền gọi điện báo cáo Hạt kiểm lâm huyện xin hỗ trợ lực lượng, đồng thời thuê một đầu kéo khác kéo số gỗ trên về trạm để xử lý.
Khi đầu máy kéo được điều đến, anh Dũng đang nối chốt đầu kéo và thùng xe lại với nhau thì có 5 đối tượng đi trên 2 xe máy ập tới. Chúng dùng xà beng để đào đường, lật cống nước ngăn xe đi. Anh Thái tiến đến ngăn chặn thì chúng chia làm hai tốp, một tốp tiếptục đào đường, tốp còn lại do một người tên Hùng dẫn đầu đứng ra dọa tưới dầu đốt xe gỗ.
Thấy đám côn đồ tỏ vẻ manh động, hung hãn, anh Dũng vội rút bình xịt hơi cay ra nhưng bị một đối tượng cướp bình, xịt thằng vào mặt. Không những thế, tên này trong nhóm côn đồ còn dùng cán dao quắm đánh liên tiếp vào lưng, ngực anh Dũng.
Thấy anh Dũng bị tấn công, anh Thái vội chạy tới dìu nạn nhân đi lấy nước rửa mặt. Không ngờ đối tượng tên Hùng lao vào vung dao quắm chém thẳng xuống đầu anh Thái. Theo phản xạ, anh Thái giơ tay phải lên đỡ thì bị dao chém gần đứt bàn tay. Sau đó, đám côn đồ quay ra rượt đuổi anh Dũng để hành hung tiếp.
Sau khi đám côn đồ bỏ đi, các lực lượng chức năng đã đến đưa anh Thái đi Bệnh viện Hoàng Anh Gia Lai ở TP.Pleiku để phẫu thuật. Anh Dũng cũng được đưa tới bệnh viện huyện để rửa hơi cay và điều trị.
Gặp phóng viên tại Bệnh viện Hoàng Anh Gia Lai, anh Thái cho biết anh bị chém gần đứt cổ tay và bàn tay phải, xương cổ tay bị vỡ lệch ra ngoài, đứt dây thần kinh trụ, 3 gân tay ngón út, nhẫn, giữa. Sau gần 5 tiếng tiến hành phẫu thuật thì gân các ngón tay mới được ghép nối còn dây thần kinh có thể sẽ không nối được. Hiện bàn tay của anh Thái đã được vít đinh, nẹp khung sắt treo cố định các gân xương.
Vụ việc cho thấy tính chất hung hãn, manh động của lâm tặc tại Gia Lai. Đề nghị Công an tỉnh Gia Lai chỉ đạo Công an huyện Chư Pưh phá án trong thời gian sớm nhất để trấn an dư luận. Đồng thời đề nghị lãnh đạo tỉnh Gia Lai kịp thời thăm hỏi, động viên, khen thưởng hai cán bộ kiểm lâm đã không thỏa hiệp với lâm tặc mà xả thân để bảo vệ rừng. (Đời Sống & Pháp Luật 18/9) đầu trang(
Như đã thông tin, sau hai ngày liên tục chữa cháy rừng tại xã Đức Dũng và Tân Hương (huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), anh Hồ Sĩ Tường - Hạt phó Hạt Kiểm lâm Đức Thọ, người trực tiếp chỉ huy, tham gia chữa cháy rừng - đã kiệt sức và mãi mãi ra đi trong sự ngỡ ngàng, tiếc thương của gia đình, đồng nghiệp...
Anh ngã xuống khi lửa rừng vừa tắt. Nhưng một ngọn lửa khác đã lại cháy lên - ngọn lửa của sự dũng cảm, tận tâm, trách nhiệm với công việc.
18.9, phóng viên có mặt tại nhà anh Tường ở thôn 7, xã Sơn Diệm (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Từ ngoài sân đã nghe thấy những tiếng khóc than não lòng. Bên trong căn buồng, chị Phan Thị Tuyên - vợ anh Tường, giáo viên Trường Tiểu học Sơn Diệm - vật vã.
Gượng dậy tiếp chuyện, chị Tuyên nghẹn ngào: “Khoảng 2h sáng ngày 12.9, anh ấy có nhắn tin qua điện thoại nói vừa mới chữa cháy rừng xong. Lúc đó chị đang ngủ ríu mắt nên cũng không nhắn lại. Hôm sau, chị gọi điện, anh nói bị mệt đang truyền dịch tại cơ quan. Nhưng anh vẫn dặn không phải lo, cứ ở nhà cơm nước cho bà. Rứa mà anh ấy ra đi nhanh quá, đột ngột quá”.
Vì bận ngày hai buổi đến trường, tối lại lo cơm nước chăm mẹ già nên chị Tuyên chưa kịp đến cơ quan thăm chồng. Cho đến chiều ngày 16.9, khi anh Tường đã nhập Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Đức Thọ điều trị, anh em cơ quan chồng gọi điện báo tin, chị Tuyên mới hoảng hốt đến viện. “Khi chị xuống, anh có trò chuyện được một lúc rồi ngủ. Khoảng 7h sáng hôm sau thì anh đột ngột ra đi...” - chị Tuyên nghẹn giọng.
Vợ chồng chị Tuyên có 2 người con, cô con gái đầu đang học năm cuối của Trường Đại học Nông nghiệp, cậu con trai là sinh viên Trường Đại học FPT. Khi bố mất, cả 2 đang theo học ở Hà Nội. Nhận được tin, cả hai vội vàng đón xe về ngay để chịu tang. Bên quan tài của bố, cả hai đứa con khăn trắng dài quá lưng vật vã than khóc nghe ai oán, não nề.
Anh Hồ Sĩ Tài - em ruột anh Tường - buồn bã: “Anh ấy chết quá đột ngột, thật sự gia đình quá sốc, quá đau buồn. Hôm trước tôi đi Hà Nội gọi điện về hỏi thăm thì anh nói đang đi chữa cháy rừng. Rứa mà, tôi chưa kịp về thì anh ấy đã mất. Về đến nhà thì đã nhập quan rồi, không kịp nhìn mặt anh lần cuối”.
Anh Tường sinh ra trong gia đình nông dân nghèo. Nhà có 4 anh em, nhưng chỉ mình anh Tường là cán bộ nhà nước, 3 người còn lại đều là nông dân. Từ nhỏ anh đã vất vả nhưng thông minh nên được bố mẹ tạo điều kiện cho ăn học, theo đuổi sự nghiệp. Anh học Đại học Lâm nghiệp rồi về nhận nhiệm vụ trong ngành lâm nghiệp từ năm 1981. Năm 1993 là Hạt phó Kiểm lâm Hương Sơn. Đến năm 2008 chuyển về Hạt Kiểm lâm Đức Thọ và giữ vị trí hạt phó cho đến nay.
“Tội nghiệp chú ấy quá. Ở xóm này, chú ấy sống rất tốt, rất tình cảm. Ai có chuyện buồn, vui chi chú cũng tranh thủ đến thăm hỏi, chúc mừng. Chú là một người sống rất tốt, rất hiếm có” - cụ bà Nguyễn Thị Bân (76 tuổi, là hàng xóm của anh Tường) ngậm ngùi.
Nhiều người hàng xóm khác cũng nói rằng, anh Tường là một người mẫu mực, một người tốt. Trong cuộc sống gia đình không bao giờ nghe nói tiếng to. Bố mẹ đẻ của anh đã mất. Nhiều năm nay, anh đưa mẹ vợ về chung sống trong nhà và chăm sóc chu đáo, không bao giờ để bà than trách một lời.
13h, nắng như đổ lửa, nhưng vẫn có hàng trăm người dân địa phương từ già đến trẻ chen chúc thắp hương, viếng người quá cố rồi lại hòa vào dòng người dài đến hết con đường làng theo đoàn đưa tang. Trên chặng đường dài đó, tôi thấy rất nhiều những cụ ông, cụ bà râu tóc bạc phơ vén áo lau nước mắt tiếc thương cho “lá xanh rụng trước lá vàng”.
Và cũng trên chặng đường đó, những người mang đồng phục ngành kiểm lâm đỏ hoe đôi mắt tiễn người đồng nghiệp đã kiệt sức ngã xuống trong cuộc chiến chống giặc lửa, bảo vệ rừng. Tôi đọc thấy trong mắt rất nhiều đồng nghiệp của anh Tường sự cảm phục…
Kiểm lâm viên Hoàng Xuân Hồng (Hạt Kiểm lâm Đức Thọ) vẫn đang nghỉ dưỡng sức sau lần tham gia chữa cháy rừng cùng chỉ huy của mình. Giọng mệt mỏi, anh nói: “Tôi giờ mặt vẫn còn sưng, người rệu rã, vẫn đang phải truyền nước”. Anh kể, khoảng 13h ngày 11.9, anh em Hạt Kiểm lâm nhận được tin cháy rừng thông ở xã Đức Dũng và xã Tân Hương. Ngay sau đó, mọi người được huy động khẩn trương tham gia dập lửa cứu rừng.
“Để tiếp cận đám cháy, anh em phải leo dốc thẳm giữa trời nắng nóng, tay chân rệu rã, tê cứng. Vừa đến nơi đã phải vào cuộc dập lửa ngay” - anh Hồng nói. Sau nhiều giờ nỗ lực dập lửa, đến khoảng 16h cùng ngày thì đám cháy được dập tắt. Mọi người chỉ nghỉ chốc lát rồi xuống núi. Nhưng khoảng 1 giờ đồng hồ sau, ngoảnh mặt lên rừng lại thấy lửa bùng phát trở lại, mọi người hò nhau tiếp tục leo dốc lên dập lửa.
“Cứ cháy đi cháy lại như thế đến 5 lần, cho đến khoảng 17h ngày 12.9 đám cháy mới hoàn toàn được dập tắt. Chúng tôi thật sự kiệt sức luôn. Anh em kiểm lâm trẻ mà cũng ốm ra chứ nói gì đến anh Tường đã lớn tuổi” - anh Hồng nói.
Anh Trần Quỳnh - Kiểm lâm viên Hạt Kiểm lâm Đức Thọ, người cũng tham gia chữa cháy rừng với anh Tường, anh Hồng - cho biết, sau hôm chữa cháy rừng về, anh cũng kiệt sức rồi bị tái phát thoát vị đĩa đệm và phải điều trị cho đến nay.
“Khoảng 12h đêm, khi dập xong đám cháy, chúng tôi về đến cơ quan được một lúc lại thấy lửa phát cháy trở lại. Lúc này anh Tường, anh Hồng tiếp tục đánh xe đi cùng phối hợp với lực lượng công an huyện, dân quân tự vệ xã Đức Dũng, Tân Hương dập lửa.
Trực chữa cháy cho đến tận khi trời sáng, anh Tường kiệt sức phải truyền nước. Nhưng đến chiều cùng ngày, khi lên kiểm đếm diện tích rừng bị cháy, lửa lại tiếp tục bùng phát, anh Tường tiếp tục phải chữa cháy. Hôm sau về, anh bị nôn mửa phải nhập viện điều trị rồi đột ngột qua đời. Thật sự anh ấy đã kiệt sức sau khi liên tục chữa cháy rừng trong 2 ngày” - anh Quỳnh xót xa.
Bác sĩ Đoàn Huy Nhiệm - Phó trưởng khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Đức Thọ - cho biết, bệnh nhân Tường nhập viện lúc 23h ngày 15.9 trong tình trạng sốt cao, đau bụng. Sau khi thăm khám, các bác sĩ cho vào khoa Ngoại tổng hợp vì nghĩ nhiều đến khả năng bị đau ruột thừa.
Sau khi làm các xét nghiệm và chụp phim, nghi viêm túi mật vì bụng trướng. Sau một đêm điều trị, đến ngày 16.9, bệnh nhân có đỡ, ăn uống và nói chuyện được. Song đến sáng ngày 17.9, bệnh nhân ngất xỉu khi người nhà đưa đi làm vệ sinh.
Các y-bác sĩ ngay sau đó tập trung cứu chữa, nhưng anh Tường không qua khỏi. “Bệnh nhân có tiền sử bị nhồi máu não. Vì vậy chúng tôi nghĩ nguyên nhân dẫn đến bệnh nhân tử vong đột ngột như thế là do nhồi máu cơ tim.
Có thể, khi tham gia chữa cháy rừng, bệnh nhân hít nhiều khí độc CO, CO2 cộng với tiền sử bị nhồi máu cơ tim nên co mạch, ảnh hưởng đến hô hấp, tuần hoàn và kiệt sức” - bác sĩ Nhiệm lý giải.
Có mặt tại gia quyến, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đức Thọ Mai Đình Thành xúc động: “Vụ cháy hôm đó, cả huyện huy động hơn 300 người gồm kiểm lâm, công an, quân đội, cán bộ và nhân dân 2 xã tham gia chữa cháy. Anh Tường trực tiếp chỉ huy và chữa cháy rừng từ khi lửa bùng phát cho đến khi lửa được dập tắt. Phải khẳng định rằng, nếu không tham gia chữa cháy rừng cho đến khi kiệt sức như thế, anh Tường đã không mất”.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh - ông Nguyễn Huy Lợi - nói: “Anh Hồ Sĩ Tường rất đáng được ghi nhận về tinh thần trách nhiệm trong công việc. Đồng chí ấy đã mất khi làm nhiệm vụ. Chúng tôi đã báo cáo sự việc lên Sở NNPTNT, UBND tỉnh và Cục Lâm nghiệp Việt Nam, đồng thời đang làm các thủ tục đề nghị cấp trên xem xét chế độ cho đồng chí theo quy định của Nhà nước”. (Lao Động 19/9) đầu trang(
Những ngày gần đây, một đàn voi rừng liên tục xuất hiện tại khu vực thôn 20 (xã Đăk D’rông, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông) tìm kiếm thức ăn tại các cánh đồng mía, ngô, mì…
Ban ngày, voi rừng quanh quẩn ở bìa rừng (do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Wil quản lý). Tối đến khoảng 20g đàn voi kéo vào khu dân cư, thậm chí vào sát nhà dân để tìm kiếm thức ăn.
Bà Nguyễn Thị Nguyên - người dân ở thôn 20 cho biết - trong tuần này đã ba lần voi kéo về sát nhà và rống lên dữ dội khiến cả gia đình rất lo lắng.
Bà Nguyễn Thị Tẻn - một người dân khác ở thôn 12 - cũng cho biết mỗi đêm đàn voi kéo về người dân gần như thức trắng, không ai dám chợp mắt, và thực hiện các biện pháp xua đuổi voi như khua soong, chảo, đốt lửa… nhưng đêm sau đàn voi lại quay trở lại.
Ông Phạm Ngọc Tùng - kiểm lâm địa bàn xã Đắk Drông (Hạt Kiểm lâm huyện Cư Jút) - cho biết bước đầu xác định ít nhất có  2 đến 3 con voi về tìm kiếm thức ăn tại khu vực này và khuyến cáo người dân không nên dùng biện pháp mạnh để xua đuổi vì có thể làm đàn voi hung hãn hơn.
Khu vực thôn 20 chỉ cách Vườn quốc gia Yok Đôn khoảng 10km. Năm 2013, một đàn voi rừng đã về khu vực này phá đổ 2 nhà dân, 7 nhà rẫy và hàng chục ha hoa màu. (Tuổi Trẻ 19/9)đầu trang(
Con chim này được giới chơi chim cảnh ở các thành phố lớn săn tìm vì đây là loại chào mào do biến đổi gen mà có. Toàn thân chim có màu lông trắng như tuyết; mỏ, mắt và chân chim lại có màu đỏ khác lạ.
Người vừa bắt được con chim chào mào đặc biệt nói trên là anh Cư Seo Tráng, người dân tộc Mông, 27 tuổi, ở xã Na Hối, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Anh Bùi Đức Anh - một người mê chim cảnh ở thành phố Lào Cai - hay tin đã đổi cả chiếc xe máy của mình để được sở hữu con chim chào mào trắng quý hiếm. Anh cho biết anh phải cố mua bằng được con chim vì có thông tin con chào mào trắng này sẽ được bán ra nước ngoài. Theo anh Anh đây là con chim chào mào trắng duy nhất được phát hiện ở vùng núi Lào Cai.
Được biết đã có người chơi chim cảnh từ Hà Nội về trả giá mua chim với số tiền rất lớn nhưng anh Bùi Đức Anh không bán.
Anh Cư Seo Tráng kể, anh và các bạn đi rừng gần khu vực chân núi Hoàng Liên, đã phát hiện và bẫy con chim chào mào trắng theo phương pháp bẫy chim cổ truyền của người Mông ở vùng núi Tây Bắc. Chim mang về nhà nuôi khỏe mạnh và sớm thích nghi với môi trường mới.
Phong trào nuôi chim chào mào làm cảnh và sưu tầm các loại chim chào mào có bộ lông lạ đang phát triển mạnh ở tỉnh Lào Cai. Lào Cai cũng đã cho phép thành lập câu lạc bộ những người nuôi chim chào mào làm cảnh và hàng quý đều tổ chức các cuộc thi trao giải cho những chú chim chào mào có giọng hót lạ hay bộ lông đẹp. (Dân Trí 18/9) đầu trang(
Vừa qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa, chính quyền địa phương và các chủ nhà hàng, quán ăn trên địa bàn huyện Minh Hóa tổ chức ký cam kết không kinh doanh, buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật hoang dã và sản phẩm của chúng.
Đây là một trong những hoạt động nằm trong kế hoạch tổ chức chiến dịch ngăn chặn và ký cam kết không kinh doanh, buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật hoang dã và sản phẩm của chúng tại 3 huyện vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và thành phố Đồng Hới của Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Trong thời gian 1 ngày, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã cùng với Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa và chính quyền địa phương trực tiếp đến kiểm tra 13 quán ăn, nhà hàng tại thị trấn Quy Đạt, xã Hóa Tiến, xã Trung Hóa và xã Thượng Hóa.
Tại thời điểm kiểm tra, hầu hết các nhà hàng đều chấp hành đúng quy định của pháp luật. Cùng với việc kiểm tra, đoàn đã kết hợp tuyên truyền, phát tờ rơi, dán tranh cổ động và ký cam kết giữa Hạt Kiểm lâm huyện, chính quyền địa phương và chủ nhà hàng, quán ăn về nội dung không kinh doanh, buôn bán trái phép động vật hoang dã và sản phẩm của chúng.
Việc thực hiện ký cam kết này sẽ ngăn chặn việc tiêu thụ động vật hoang dã, từ đó góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên động, thực vật quý của khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nói riêng và tỉnh Quảng Bình nói chung. (Đài PTTH Quảng Bình 17/9) đầu trang(
Để quản lý tốt các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã, việc phối hợp chặt chẽ giữa ngành chức năng với chính quyền địa phương, bà con chăn nuôi nhằm làm rõ ràng nguồn gốc gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn là việc làm quan trọng.
Qua đó sẽ giúp ngành chức năng quản lý tốt số lượng gây nuôi động vật hoang dã ở địa phương, đồng thời tạo điều kiện để mô hình chăn nuôi ngày càng phát triển.
Việc gây nuôi sinh sản, sinh trưởng động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng hiện nay khá phát triển nhưng phần lớn còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ. Do đó sản phẩm không có đầu ra,  khiến các hộ chăn nuôi thường gặp khó khăn. Còn nhiều hộ khi gây nuôi động vật hoang dã không thông báo cho cơ quan chức năng nên việc quản lý cũng còn những hạn chế nhất định. Tuy nhiên cũng có những hộ chăn nuôi với quy mô khá lớn, thực hiện đúng trình tự thủ tục gây nuôi động vật hoang dã, nên đạt được hiệu quả cao.
Như cơ sở gây nuôi ba ba giống và ba ba thịt của gia đình anh Trần Minh Lanh ở ấp Phương Hòa 1, xã Hưng Phú, huyện Mỹ Tú. Với diện tích rộng hơn 3 ha, hiện tại Anh Lanh đã có đàn ba ba các loại trên 100.000 con. Trong đó hơn 40.000 con là ba ba trưởng thành làm giống sinh sản và ba ba thịt. Có được cơ ngơi này là cả quá trình hơn 10 năm gầy dựng; Anh Lanh cho biết năm 2001, gia đình anh nuôi thử 500 con ba ba nhưng gặp không ít khó khăn do thiếu kiến thức kỹ thuật; Kể cả vài năm sau đó việc nuôi ba ba của anh cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Nhờ tính năng động ham học hỏi của tuổi trẻ, anh đã miệt mài tìm hiểu, nắm bắt kỹ thuật nuôi từ sách báo và các phương tiện thông tin. Tuy nhiên điều quan trọng để thành công trong nghề này với anh là vừa làm vừa rút kinh nghiệm sau những vụ nuôi thất bại.
Với việc chăn nuôi quy mô lớn có đăng ký thủ tục với ngành chức năng, đã tạo điều kiện cho việc gây nuôi động vật hoang dã của hộ anh Trần Minh Lanh thuận lợi hơn từ khâu mua bán giống, đến việc xuất bán ba ba thịt; Theo anh Lanh việc đăng ký rõ ràng này mang đến nhiều lợi ích cho gia đình, đây cũng là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả kinh tế  cao.
Gây nuôi động vật hoang dã là một trong những biện pháp bảo tồn nguồn gen, hạn chế đánh bắt từ tự nhiên đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên nếu không quản lý tốt sẽ xảy ra tình trạng bẫy bắt, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã.
Việc đảm bảo an toàn sinh học ở các cơ sở nuôi nhốt nếu không được quan tâm đúng mức, có thể dẫn đến nhiều hệ lụy liên quan đến con người, môi trường, bởi động vật hoang dã phần lớn rất nguy hiểm như Cá sấu, Trăn đất.
Theo ông Dương Tấn Vũ, Phòng pháp chế chi cục kiểm lâm Sóc Trăng có đánh giá “Để quản lý có hiệu quả các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã, Chi cục Kiểm lâm Sóc Trăng phải hướng dẫn người nuôi thực hiện tốt những quy định khi gây nuôi động vật hoang dã.
Đồng thời đưa ra nhiều giải pháp quản lý trên cơ sở các quy định của Nhà nước, nhằm quản lý, bảo vệ, bảo tồn, phát triển động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh,  mặt khác tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở gây nuôi thực hiện tốt quy định pháp luật”. (Đài PTTH Sóc Trăng 17/9) đầu trang(
Theo báo cáo tại Hội nghị Linh trưởng quốc tế lần thứ 25 do Việt Nam đăng cai tổ chức diễn ra tại Hà Nội vừa qua, Việt Nam là một trong những nước ở châu Á có số lượng linh trưởng phong phú với 26 loài và phân loài thuộc 3 họ, là culi; khỉ và voọc; vượn, được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) công nhận.
Trong đó có 5 loài, phân loài đặc hữu gồm voọc Cát Bà, voọc quần đùi trắng, voọc mũi hếch, chà vá chân xám, khỉ đuôi dài Côn Đảo. Trong thời gian qua, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện hai loài linh trưởng là chà vá chân xám (năm 2007) và vượn Trung bộ (năm 2010).
Bên cạnh đó, Việt Nam đã tăng cường đầu tư, xây dựng và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học trong đó có các loài linh trưởng, với 2,2 triệu ha rừng đặc dụng được thành lập và 30 vườn quốc gia, 114 khu bảo tồn loài và sinh cảnh.
Nhưng một thực tế đáng buồn là Việt Nam cũng là nước linh trưởng có nguy cơ bị tiêu diệt hàng đầu trên thế giới. Chia sẻ về điều này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn cho rằng, linh trưởng đang có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng do nạn săn bắn bất hợp pháp, buôn bán trái phép, sinh cảnh sống bị thu hẹp. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác đang đối mặt với những thách thức bảo tồn linh trưởng.
Trong hơn 50 năm qua, Việt Nam đã xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo tồn thiên nhiên. Chính phủ Việt Nam đang ngày càng tăng cường đầu tư, xây dựng và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học trong đó có các loài linh trưởng.
Tuy nhiên, công tác bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân như: Các khu bảo tồn không có rừng ở vùng đệm, các khu bảo tồn có diện tích nhỏ và bị cô lập, thiếu vốn đầu tư, thiếu sự đồng thuận giữa lực lượng kiểm lâm và người dân địa phương, năng lực quản lý kém, thực thi luật không hiệu quả và thiếu lực lượng kiểm lâm.
Danh mục đỏ của IUCN cho biết ở Việt Nam có 7 loài linh trưởng ở mức rất nguy cấp, 9 loài nguy cấp và 7 loài sẽ nguy cấp trong thời gian tới. Nghĩa là 90% các loài linh trưởng ở nước ta bị đe dọa tuyệt chủng. Linh trưởng... nhớ rừng Việt Nam đã thành lập được nhiều trung tâm cứu hộ động vật hoang dã, được xem như những “mái nhà bình yên” bảo vệ cho chúng.
Nhưng nhiều chuyên gia cứu hộ giàu kinh nghiệm lo ngại rằng việc linh trưởng tiếp xúc quá thân thuộc với môi trường được nuôi nhốt, chăm sóc khi được thả về rừng sẽ không thích nghi được với cuộc sống hoang dã. Chúng cần rừng để trở về với thiên nhiên nhưng sự mất cân bằng đa dạng sinh học do chính bàn tay của con người tạo ra đang là mối đe dọa cho sự sống sót ngoài tự nhiên của các loài linh trưởng.
Để bảo tồn và phục hồi các loài thú linh trưởng, mục tiêu trước mắt theo ông Vương Tiến Mạnh, chuyên gia của Văn phòng CITES Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần xây dựng một kế hoạch hành động quốc gia kịp thời và tổng thể, trong đó tập trung vào các giải pháp: Xây dựng khung pháp lý thống nhất và chế tài xử lý nghiêm khắc các hành vi săn bắt, nuôi nhốt, giết mổ, buôn bán trái phép; quy hoạch hệ thống các vườn quốc gia, khu bảo tồn, trong đó ưu tiên cho các khu bảo tồn thú linh trưởng.
Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, trong đó, ưu tiên, đặt hàng các nghiên cứu về phân bố, tập tính, bảo tồn, xây dựng các vùng cấm các hoạt động con người nhằm đảm bảo nơi sống cho các loài linh trưởng.
Đồng thời cần có quy định cụ thể quản lý các loại dụng cụ súng, bẫy săn, phát triển các mô hình du lịch sinh thái bền vững và khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia, đặc biệt là các hoạt động tham quan, tìm hiểu về động vật hoang dã, mang tính giáo dục về BVMT. Việt Nam cũng phải xây dựng một cơ chế tài chính bền vững, tránh phụ thuộc quá nhiều vào sự viện trợ của nước ngoài cho bảo tồn các loài thú linh trưởng.
Cùng với các hoạt động thúc đẩy việc thi hành pháp luật và làm giảm nhu cầu buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép thì chăm lo, cải thiện đời sống và giáo dục ý thức bảo vệ thiên nhiên cho người dân chính là biện pháp cấp thiết để bảo vệ rừng, qua đó giữ gìn một sinh cảnh thích hợp để tái thả tự nhiên cho linh trưởng và các loài thú quý hiếm khác. (Tài Nguyên & Môi Trường 18/9, tr4) đầu trang(
Mặc dù Chính quyền và các ngành chức năng của tỉnh Đắk Lắk đã triển khai hàng loạt biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhưng tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng và chống người thi hành công vụ thời gian qua vẫn chưa có dấu hiệu lắng xuống.
Từ đầu năm 2014 đến nay, các lực lượng chức năng của tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện và xử lý gần 150 vụ vi phạm lâm luật. Các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, M’đrắk là địa bàn mà vấn nạn chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng, chống người thi hành công vụ thường xuyên xảy ra.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do cơ chế, chính sách, chế tài... về bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, một số chủ rừng và chính quyền địa phương có dấu hiệu buông lỏng công tác quản lý...
Bên cạnh đó, tình trạng dân di cư ngoài kế hoạch đến Đắk Lắk, kéo theo nhu cầu về đất ở, đất sản xuất tăng cao dẫn đến phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Qua thống kê, từ năm 2009 đến nay, toàn tỉnh Đắk Lắk có hơn 26 nghìn hecta rừng bị phá, lấn chiếm, nhưng địa phương mới thu hồi được 2.000 hecta để trồng lại rừng. (VTV9 18/9) đầu trang(
Đền Hùng là nơi thờ tự các Vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Rừng quốc gia Đền Hùng  rất đa dạng, phong phú về loài động, thực vật, trong đó có nhiều cây cổ thụ gắn với truyền thuyết và tâm linh của người Việt đã tạo cho cảnh quan khu di tích thiêng liêng, hùng vĩ.
Đến thăm rừng Đền Hùng, dừng lại ở gốc cây Thiên Tuế hơn 800 năm tuổi trước cửa chùa Thiền Quang gợi cho chúng ta nhớ lại nơi đây 60 năm về trước. Trước Đền Giếng Bác đã nói một câu bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Lần thứ hai, Bác về thăm Đền Hùng, dâng hương Đền Thượng, thăm mộ Tổ vào ngày 19-8-1962. Trước khi ra về, Bác dặn các lãnh đạo tỉnh Phú Thọ: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm, đẹp đẽ thành công viên cho con cháu sau này đến tham quan”. Khắc ghi lời dạy của Người, tỉnh ta luôn quan tâm để rừng Đền Hùng được trồng thêm nhiều cây xanh và bảo vệ nghiêm ngặt để cây rừng mãi xanh tươi.
Rừng tự nhiên ở Đền Hùng có 636 loài thực vật, trong đó có 15 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ như: Cẩu tích, Tuế lược, Trầm hương, Kim giao, Sến mật, Lát hoa, Giáng hương, Vù hương, Vừ, Cơ Nia, Thổ phục linh… Trong rừng có nhiều cây đại thụ như: Thông, Đại, Vạn Tuế, Thiên Tuế đến nay vẫn được bảo vệ nghiêm ngặt.
Cùng với rừng tự nhiên, diện tích rừng trồng do Khu di tích lịch sử Đền Hùng quản lý chủ yếu là rừng trồng và khoanh nuôi từ năm 2000 trở về trước.  Từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định thành lập Khu rừng Quốc gia Đền Hùng và xây dựng Dự án đầu tư Khu rừng quốc gia Đền Hùng do Sở Nông nghiệp và PTNT làm chủ đầu tư, đã trồng mới 6ha cây phù trợ (cây Keo) tại đồi Kiêu và trồng bổ sung 45ha cây bản địa tại Núi Hùng và Núi Vặn.
Dự án cũng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng một số công trình như: Các tuyến đường giao thông trong khu vực rừng quốc gia; đóng mốc ranh giới khu vực 538ha thuộc Rừng quốc gia Đền Hùng; xây dựng 2 chòi canh lửa tại đồi Đồng Lềnh và đồi Cao Phầy.
Khu di tích lịch sử Đền Hùng cũng đã thực hiện Dự án bảo tồn cây quý hiếm và trồng hàng rào mây và gia cố chống đỡ các cây cổ thụ, cây quý hiếm dọc các tuyến đường lên đền và xung quanh các ngôi đền, chùa trên núi Nghĩa Lĩnh; dự án hoàn thiện vườn ươm; dự án dẫn nước từ sông Lô và Khu di tích lịch sử Đền Hùng phục vụ cấp nước vào các hồ đập và phòng cháy chữa cháy.
Đáng chú ý, diện tích vườn hoa cây cảnh ở Đền Hùng ngày càng được mở rộng lên đến hơn 40ha bao gồm các khuôn viên vườn hoa: Trung tâm lễ hội, Đồi Công quán, Ngã 5 Đền Giếng, Ngã 5 lên cổng chính, khuôn viên Lạc Long Quân… Số lượng thành phần loài cây phong phú tạo cảnh quan khu lễ hội ngày càng xanh, sạch, đẹp.
Đáng lưu ý là vườn lưu niệm Quốc gia Đền Hùng để phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành Trung ương và các tỉnh, thành phố trồng cây lưu niệm đã trở thành điểm nhấn của Khu di tích lịch sử Đền Hùng.
Ông Nguyễn Thế Hùng - Phó Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng cho biết: “Cùng với việc trồng, chăm sóc, tu bổ, Rừng quốc gia Đền Hùng luôn được bảo vệ nghiêm ngặt. Khu di tích lịch sử Đền Hùng có  Phòng quản lý rừng với 45 cán bộ, viên chức và người lao động chuyên làm công tác chăm sóc, tu bổ, bảo vệ rừng. Phòng bảo vệ có 1 đội  chuyên quản lý, bảo vệ rừng là chính. Khu di tích đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã có rừng và hợp đồng với 18 hộ dân của xã Hy Cương để tạo sức mạnh tổng hợp trông coi, bảo vệ rừng”.
Từ tháng 8 Đồn Công an Việt Trì tại Đền Hùng được tăng thêm 1 đội cảnh sát bảo vệ mục tiêu bảo vệ Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong đó có bảo vệ rừng Quốc gia. Đặc biệt Khu di tích luôn phối hợp chặt chẽ với Hạt kiểm lâm việt Trì trong công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Ông Lê Minh Hữu - Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Việt Trì cho biết: “Xác định công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ rừng là việc làm quan trọng, ngoài việc tổ chức lớp tập huấn, Hạt kiểm lâm Việt Trì, Khu di tích lịch sử Đền Hùng còn đẩy mạnh tuyên truyền bằng các hình thức như: Qua hệ thống loa, đài truyền thanh, phát tờ gấp đến các đối tượng vì bảo vệ rừng quốc gia Đền Hùng là trách nhiệm của toàn dân nhằm phát triển và giữ gìn diện tích rừng nguyên sinh, rừng quốc gia Đền Hùng, khôi phục hệ sinh thái rừng xứng đáng với sự tôn vinh ngưỡng mộ của cả dân tộc”. Vì vậy từ nhiều năm nay không xảy ra cháy rừng quốc gia Đền Hùng, người dân đã có ý thức hơn trong bảo vệ rừng.
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, rừng Đền Hùng được phát triển trên diện tích 538ha, tuy nhiên do khó khăn trong vấn đề thu hồi đất nên vẫn chỉ trồng bổ sung trên diện tích cũ 285ha. Đất rừng còn lại vẫn thuộc chính quyền địa phương quản lý giao cho người dân sử dụng gây khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Vì vậy cần quan tâm đến công tác đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng các khu tái định cư để thuận lợi cho việc triển khai các dự án và việc bảo vệ, phát triển rừng Đền Hùng. (Báo Thú Thọ 18/9) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND thị trấn An Lão, từ đầu năm đến nay tại địa phương này đã có nhiều trường hợp người dân lấn chiếm đất rừng để làm rẫy trái phép.
Qua kiểm tra, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương đã lập biên bản hiện trường tại tiểu khu 22A, tiểu khu 19A đã có 25 điểm chặt phát trái phép hơn 6,4ha rừng trạng trái IC và IIA để trồng cây keo nguyên liệu giấy.
Trong đó đã có hơn 1,5ha rừng bị chặt phá hòan tòan, gần 4,9 ha rừng đã phát luỗng và cây bụi. Hiện tại chính quyền thị trấn An Lão đã lập kế họach nhổ bỏ cây trồng trái phép, phục hồi lại hiện trạng rừng đã bị xâm hại.
Cũng trong thời gian trên, chính quyền thị trấn đã phối hợp với kiểm lâm địa bàn tổ chức nhiều đợt tuần tra, chốt chặn các địa bàn trọng điểm, phát hiện và bắt giữ nhiều vụ vận chuyển lâm sản trái phép qua địa bàn, tạm giữ gần 1,3m3 gỗ các lọai và 1 xe máy chuyển giao cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
Đặc biệt, gần 9 tháng qua trên địa bàn thị trấn An Lão không để xảy ra trường hợp nào khai thác gỗ trái phép… (UBND Huyện An Lão 18/9) đầu trang(
Phòng Quản lý –Bảo vệ rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh vừa phối hợp với Hạt Kiểm lâm Xuyên Mộc và trường THPT Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc) tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, phòng cháy- chữa cháy rừng, bảo vệ động vật hoang dã và môi trường cho 900 HS.
Theo đó, tại lễ chào cờ thứ hai đầu tuần, Phòng Quản lý –Bảo vệ rừng đã triển khai hình thức thuyết trình có nội dung về vai trò tác dụng của rừng, ý nghĩa và tầm quan trọng của rừng- đa dạng sinh học đối với cuộc sống; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, phát triển rừng….
Tại đây, Phòng Quản lý –Bảo vệ rừng cũng đã cấp phát sổ tay và tờ rơi cho HS, cán bộ nhà trường có nội dung tuyên truyền bảo vệ rừng. Qua buổi tuyên truyền cho thấy, phần lớn HS THPT tại đây có những hiểu biết và nhận thức trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Bà Rịa Vũng Tàu 19/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đứng thứ 2 khu vực châu Á về xuất khẩu đồ gỗ nhưng ngay tại sân nhà, người tiêu dùng vẫn chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam.
Sau khi hoàn thiện căn nhà mới, gia đình chị Thanh ở đường Lê Văn Sỹ, quận 3 (TP Hồ Chí Minh) dành thời gian tìm mua đồ gỗ trang trí nội thất. Tìm hiểu các con phố chuyên kinh doanh mặt hàng này, chị ngạc nhiên khi thị trường đồ gỗ vắng bóng thương hiệu nội, trong khi thương hiệu đến từ nước ngoài như: Trung Quốc, Hàn quốc, Malaysia… thì tràn ngập.
“Sản phẩm đồ gỗ của nước ngoài rất đa dạng về chủng loại, thiết kế bắt mắt, cập nhật nhanh xu hướng thiết kế thế giới mà giá cả phải chăng. Trong khi đó sản phẩm của DN trong nước thường đơn điệu, giá cả ít cạnh tranh”, chị Thanh cho hay.
Theo kết quả khảo sát của ngành chức năng, hiện ngành gỗ cả nước có khoảng 4.000 DN, trong đó gần 95% là doanh nghiệp tư nhân. Những DN đầu tư khai thác thị trường nội địa đều có quy mô nhỏ và siêu nhỏ hoặc những hộ chế biến cá thể thuộc các làng nghề.
Còn những doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư cao, công nghệ hiện đại… chỉ tập trung những đơn hàng xuất khẩu, phục vụ theo yêu cầu của những bạn hàng quốc tế như Hoa Kỳ, Nhật Bản… Trong khi đó, với hơn 1.000 làng nghề chế biến gỗ trong phạm vi toàn quốc nhưng do thiếu kênh phân phối, sản phẩm của đồ gỗ Việt Nam, nhất là đồ gỗ của các làng nghề vẫn đang khó khăn trên con đường chinh phục người tiêu dùng.
Ông Phan Chí Dũng - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ, Bộ Công Thương cho biết hiện hơn 80% thị phần đồ gỗ, nội thất trong nước đang thuộc về các công ty đa quốc gia, công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Sức cạnh tranh của đồ gỗ Việt Nam không cao do DN chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, sản xuất với quy mô gia đình, vốn ít nên rất khó thích nghi với sự thay đổi thường xuyên của thị trường; nguyên liệu sản xuất phụ thuộc nhiều nhập khẩu nên giá thành cao; công tác xúc tiến thương mại chưa được quan tâm đúng mức, thiết kế sản phẩm còn nhiều hạn chế…
Còn anh Nguyễn Hữu Toan, GĐ Công ty TNHH nội thất Toàn Thiên Ấn cho rằng đầu tư vào sản xuất đồ gỗ nội thất cho thị trường nội địa, DN phải có đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp, nắm bắt tốt nhu cầu của khách hàng vì mẫu mã liên tục thay đổi, tiềm lực tài chính phải mạnh để đầu tư xây dựng kênh bán hàng chuyên nghiệp…
Tuy nhiên, rất nhiều DN vẫn chưa bắt nhịp được với nhu cầu tiêu dùng để đưa ra xu hướng thiết kế phù hợp với không gian nội thất, còn lúng túng trong cách tiếp cận thị trường. Riêng các DN xuất khẩu trước đây vốn quen với những dây chuyền sản xuất hàng loạt, hiện đang gặp nhiều khó khăn khi phải thay đổi theo mô hình sản xuất đồ gỗ nhỏ lẻ.
Tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam năm 2014 và triển vọng kinh doanh ngành đồ gỗ”, được tổ chức mới đây tại TP Hồ Chí Minh rất nhiều đại biểu cho rằng thị trường gỗ nội địa với nhu cầu tiêu dùng của gần 90 triệu dân vẫn còn tiềm năng, ước tính khoảng 1 tỉ USD/ năm.
“Hiện mỗi năm, mỗi hộ gia đình Việt bỏ ra khoảng 6 triệu đồng để mua sắm các mặt hàng đồ gỗ. Trước thời điểm suy thoái kinh tế, giá trị thương mại đồ gỗ nội địa đạt khoảng 3 tỷ USD/năm. Với sự hồi phục kinh tế, tiêu dùng nội địa năm 2014 nhiều khả năng đạt 2 tỷ USD trở lên và sẽ tăng thêm vào những năm tới”, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh lạc quan.
Theo các chuyên gia kinh tế, Nhà nước cần nhanh chóng có chính sách cụ thể bao gồm: khuyến khích đầu tư bằng chính sách thuế, có giải pháp giúp DN tiếp cận dễ dàng hơn các nguồn tài chính, tín dụng ưu đãi; hình thành những khu hay cụm công nghiệp chế biến gỗ…
Ngoài ra, cần quan tâm tăng cường kết nối doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước để tận dụng, học hỏi kinh nghiệm xây dựng, phát triển thị trường. Các DN phải đa dạng hóa và không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm sao cho phù hợp với thị hiếu khách hàng cũng như đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu, triển khai xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm…
“Kinh doanh thị trường trong nước có nhiều lợi thế như: nhu cầu ổn định, DN chủ động sáng tạo mẫu mã và điều tiết linh hoạt theo nhu cầu thị trường, kế hoạch sản xuất ổn định… Tuy nhiên, để trở lại thị trường nội địa thành công các DN cũng cần phải có sự liên kết chặt chẽ nhằm tạo chuỗi kinh doanh sản phẩm phù hợp với thị trường”, anh Toan nói thêm. (Tin Tức 19/9) đầu trang(
Chi cục lâm nghiệp Sơn La trực thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Sơn La với chức năng nhiệm vụ tham mưu giúp Sở NN&PTNT và UBND tỉnh Sơn La trong lĩnh vực lâm nghiệp, công tác trồng rừng, một số nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền.
Trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng kể, tiếp tục triển khai Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ NN&PTNT, tập trung thực hiện “Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất, nâng cao giá trị tăng sản phẩm gỗ qua chế biến, phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ, phát triển nền kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm” trong lâm nghiệp giai đoạn 2014 - 2020.
Trong điều kiện còn nhiều khó khăn như địa hình chia cắt mạnh, độ dốc cao, hạ tầng cơ sở, hệ hống giao thông còn thấp kém ảnh hưởng đến thị trường chế biến lâm sản, khó phát triển để khuyến khích người dân trồng rừng, bảo vệ rừng, chưa hình thành được các vùng nguyên liệu, sản xuất hàng hóa tập trung phục vụ cho công việc chế biến lâm sản...
Để thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp giai đoạn 2014 - 2020 Sơn La đang tập trung một số lĩnh vực:
Thứ nhất: Hiện nay đang rà soát lại quy hoạch, cơ cấu lại ba loại rừng theo các trục kinh tế của tỉnh: vùng QL6, vùng lòng hồ Sông Đà, vùng cao biên giới để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong bảo vệ và phát triển rừng thời gian tới, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng. Trọng tâm là bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng hiện còn, bảo vệ đất giữ nguồn sinh thủy cho lòng hồ sông Đà, sông Mã, cung cấp gỗ và lâm sản phục vụ cho nhân dân trong và ngoài tỉnh.
Thứ hai: Lựa chọn, ưu tiên trồng và phát triển cây bản địa, cây lâm sản ngoài gỗ cho giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện lập địa, phân bố tự nhiên cho từng vùng, tập trung vào một số loại như Sơn Tra vùng Bắc Yên, Mường La, Thuận Châu, Luồng (Chiềng Yên - Mộc Châu), Lùng -Vầu đắng (Xuân Nha - Vân Hồ). Tre dọc lòng hồ sông Đà như vùng Phù Yên, Bắc Yên… Dổi ăn quả vùng Yên Châu, Mai Sơn; Mác Ten, Sấu, Trám vùng Quỳnh Nhai, Thuận Châu và một số lâm sản ngoài gỗ như Sa Nhân, Cánh Kiến vùng sông Mã.
Thứ ba: Tập trung thúc đẩy thị trường lâm sản và xây dựng vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến: vùng nguyên liệu phục vụ nhà máy ván ép tre tại huyện Mộc Châu; nhà máy sản xuất tăm hương tại Vân Hồ. Tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp tập trung chế biến các sản phẩm Sơn Tra, Mác Ten và các lâm sản ngoài gỗ khác có lợi thế của địa phương.
Thứ tư: Tập trung hỗ trợ cộng đồng thôn, bản xây dựng kế hoạch quản lý rừng để nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo vệ và phát triển rừng cũng như việc sử dụng hiệu quả tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và các nguồn đầu tư cho lâm nghiệp hàng năm.
Trong đó, cần tập trung hỗ trợ vận động thôn, bản xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng, xây dựng kế hoạch quản lý rừng hàng năm và 5 năm, xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng của bản, quy chế quản lý quỹ cũng như đẩy mạnh việc duy trì tốt hoạt động của tổ đội bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng.
Với việc thực hiện các bước tập trung tái cơ cấu ngành lâm nghiệp giai đoạn 2014 - 2020 của tỉnh Sơn La, đặc thù của địa phương, tin rằng Sơn La sẽ thực hiện tốt và đạt được những kết quả cao nhất, cũng như góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội ngày càng bền vững hơn. (Bảo Vệ Pháp Luật 19/9, tr13) đầu trang(
Trong giai đoạn 2009-2011, khi giá mủ cao su đạt mức cao kỷ lục (110-120 triệu đồng/tấn mủ quy khô), trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc đã xảy ra tình trạng phát triển cao su ồ ạt, vượt quy hoạch, thậm chí trồng cao su cả trên diện tích đất chuyển đổi từ rừng khộp.
Theo thống kê của ngành nông nghiệp, đến nay toàn tỉnh Đắc Lắc đã trồng hơn 4.440ha cao su trên đất rừng khộp. Trong đó, huyện Ea Súp trồng 3.526 ha, vượt 280%; huyện Buôn Đôn trồng 920ha, vượt gần 100% so quy hoạch phát triển cao su giai đoạn 2009-2015.
Diện tích cao su trồng trên đất chuyển đổi từ rừng khộp vượt quy hoạch chủ yếu là cao su tiểu điền do các hộ nông dân trồng tự phát. Hậu quả, sau 5-7 năm kiến thiết cơ bản, cây cao su trồng trên đất chuyển đổi từ rừng khộp phát triển chậm, còi cọc, không cho mủ, hoặc cho mủ với năng suất và chất lượng thấp, khiến cả doanh nghiệp lẫn người nông dân lâm vào cảnh nợ nần và bế tắc.
Hơn 4.440ha cao su đã trồng đang đứng trước tình trạng sản xuất thua lỗ, phải chuyển đổi, nhất là từ năm 2013 đến nay, khi giá mủ cao su trên thị trường đang ở mức thấp hơn giá thành sản xuất.
Hiện nay, hầu hết diện tích cao su trồng trên đất rừng khộp ở tỉnh Đắc Lắc đều lâm vào cảnh tiêu điều. Nông dân bỏ bê vườn cao su, không chăm sóc, không cạo mủ. Nhiều hộ đã và đang phải chặt bỏ vườn cao su, chuyển đổi sang trồng cây nông sản ngắn ngày.
Được biết, trước khi chuyển đổi rừng khộp sang trồng cao su ở Đắc Lắc, đã có nhiều cuộc hội thảo nhằm bàn luận về hiệu quả kinh tế. Tại các cuộc hội thảo này, nhiều nhà khoa học đã đưa ra những luận cứ cho rằng không nên trồng cao su trên đất rừng khộp.
Bởi điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nơi phân bố rừng khộp khá khắc nghiệt, tầng đất mỏng; dễ ngập úng trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển, sinh trưởng của cây cao su. Hơn nữa, cây cao su trồng trên tầng đất canh tác mỏng, chủ yếu lại là đất pha cát, sỏi, nên dễ đổ ngã.
Trong định hướng phát triển hơn 26.000ha cao su giai đoạn 2009-2020, Đắc Lắc quy hoạch trồng 7.886ha cao su trên đất chuyển đổi từ rừng khộp. Thiết nghĩ, từ thực trạng trên, UBND tỉnh Đắc Lắc cần sớm xem xét lại, loại bỏ quy hoạch trồng cao su trên đất chuyển đổi từ rừng khộp, bởi không những không có hiệu quả kinh tế, mà còn gây nhiều hệ lụy về môi trường sinh thái, mất rừng tự nhiên.
Mặt khác, với hơn 4.440ha cao su đã trồng mà không đạt hiệu quả kinh tế, cần hỗ trợ để doanh nghiệp và nông dân chuyển đổi sang cây trồng phù hợp. (Quân Đội Nhân Dân 18/9) đầu trang(
Sau hơn 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ, đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã chi trả trên 100 tỷ đồng cho các hộ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng.
Chính sách được thực hiện đã góp phần cải thiện sinh kế, chất lượng cuộc sống cho những người sống bằng nghề rừng, tạo hiệu ứng tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, quá trình triển khai chính sách còn bộc lộ những khó khăn, vướng mắc cần có giải pháp kịp thời tháo gỡ.
Một trong những khó khăn đầu tiên phải nhắc tới đó là đơn giá chi trả dịch vụ tiền môi trường rừng có sự chênh lệch lớn giữa các lưu vực. Hiện nay, đơn giá áp dụng đối với diện tích rừng thuộc lưu vực sông Đà do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Trung ương ủy thác trả trên địa bàn tỉnh trong năm 2011 và 2012, mỗi năm 175.000 đồng/ha; năm 2013 là 200.000 đồng/ha.
Tuy nhiên, đối với diện tích rừng nằm trong lưu vực do các nhà máy thủy điện nội tỉnh chi trả được xác định theo công suất thực tế của từng nhà máy nên đơn giá chi trả thấp hơn nhiều. Đơn cử, đơn giá chi trả cho người dân khoanh nuôi, bảo vệ diện tích rừng thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Thác Bay là 20.000 đồng/ha/năm...
Đơn giá chi trả chênh lệch lớn dẫn đến tình trạng chủ rừng so bì, thắc mắc, khó trong việc tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ, giữ rừng. Tiến độ giải ngân chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng thời gian qua còn chậm, chưa kịp thời động viên, khuyến khích chủ rừng tham gia giữ rừng. Bên cạnh đó, thực trạng đã và đang diễn ra đó là một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh chây ỳ, nợ đọng tiền cung ứng dịch vụ nhưng chưa có chế tài xử phạt.
Tìm hiểu thực tế tại cơ sở cho thấy, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện phần lớn được chi trả cho chủ rừng là cộng đồng thôn bản. Cộng đồng trích từ 5 - 10% làm Quỹ cho tổ bảo vệ và phát triển rừng tại cộng đồng hoạt động, số tiền còn lại chia đều cho tất cả các hộ dân trong cộng đồng thôn bản.
Hình thức chi trả này dẫn đến tình trạng tại một số cộng đồng thôn bản người dân không tham gia bảo vệ rừng vẫn được hưởng tiền chi trả dịch vụ như người tích cực tham gia, khiến từng chủ rừng chưa thực sự gắn kết trách nhiệm, quyền lợi trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đang tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng, hoàn thiện hồ sơ, thủ tục chi trả, phấn đấu trong  quý IV năm 2014 Quỹ hoàn thành chi trả tiền dịch vụ năm 2013.
Cùng với đó là tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tới từng thôn, bản; từng chủ rừng. Quỹ sẽ phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát về quá trình tổ chức việc thực hiện chính sách, đảm bảo nguồn kinh phí chi trả đúng mục đích, hiệu quả.
Bên cạnh đó, Trung ương cũng cần sớm xem xét thống nhất mức chi trả, tránh sự chênh lệch về đơn giá như hiện nay, tạo thuận lợi trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 19/9) đầu trang(
Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thì các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước… là đối tượng bắt buộc phải thực hiện quy định này.
Thế nhưng, qua thực tế kiểm tra của các cơ quan chức năng mới đây cho thấy, nhiều đơn vị có trách nhiệm “trả nợ” rừng vẫn cố tình chậm chi trả.
Điển hình như Công ty TNHH Bình Minh từ năm 2012 đến nay, số tiền nợ đã lên đến trên 1,2 tỷ đồng. Còn tổng số nợ đọng của Công ty TNHH N&S từ năm 2011 đến nay đã lên đến trên 2,9 tỷ đồng…
Qua tìm hiểu thì do một số nguyên nhân mà chi phí DVMTR chưa được hạch toán vào giá thành sản xuất của các đơn vị có nghĩa vụ “trả nợ” rừng, nhất là các nhà máy thủy điện không thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý.
Một bất cập khác, trước đây Bộ Công thương đã có văn bản về tiền DVMTR đối với các nhà máy thủy điện có công suất từ 30 MW trở xuống có một số nội dung chưa phù hợp với Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR nên các nhà máy thủy điện như Công ty Cổ phần Công trình Việt Nguyên, Công ty TNHH N&S, Công ty TNHH Bình Minh… dựa vào văn bản này đã không nộp tiền ủy thác năm 2011 và 2012.
Bên cạnh đó, hiện nay, việc thu tiền gặp khó khăn do các nhà máy thủy điện dây dưa. Do đó, ngoài các trường hợp chưa được hạch toán chi phí DVMTR vào giá thành sản xuất thì các đơn vị đã nhận tiền DVMTR đã cấu thành vào giá điện mà không thực hiện chi trả thì được xem như là hành vi chiếm dụng quỹ bảo vệ môi trường rừng. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần xây dựng chế tài thích hợp để xử lý những trường hợp vi phạm này. (Báo Đắc Nông 19/9) đầu trang(
17/9, UBND tỉnh vừa quyết định thực hiện cơ chế khuyến khích, bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014 – 2020.
Đối tượng được hỗ trợ, gồm: Hộ gia đình (đã đăng ký thành nhóm hộ) có hộ khẩu thường trú tại các địa phương trong phạm vi hỗ trợ, có nhu cầu và khả năng đầu tư trồng sâm, đảm bảo các quy định về điều kiện được hỗ trợ; Trung tâm Phát triển Sâm Ngọc Linh và Dược liệu Quảng Nam; Trại Sâm Tắc Ngo thuộc UBND huyện Nam Trà My.
Về điều kiện được hỗ trợ: Hộ gia đình phải đăng ký thành nhóm hộ và đảm bảo các thủ tục về nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng, nhận rừng và đất rừng theo đúng trình tự quy định của pháp luật về lâm nghiệp; Tuân thủ các quy định về quản lý, bảo vệ rừng đối với từng loại rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp; Cam kết không thực hiện các hành vi: Dẫn nhập sâm ngoại lai vào khu vực trồng sâm Ngọc Linh; lợi dụng chính sách hỗ trợ mua sâm giống của Nhà nước để hưởng lợi; bán sâm chưa đến tuổi khai thác; Tuân thủ đầy đủ các quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác sâm Ngọc Linh, chịu sự kiểm tra, giám sát và nghiệm thu của các cơ quan chức năng.
Hỗ trợ về đất, nhóm hộ gia đình được nhận khoán, quản lý, bảo vệ rừng ở phân khu phục hồi sinh thái, phân khu hành chính dịch vụ và rừng phòng hộ theo quy hoạch và kế hoạch giao khoán để quản lý, bảo vệ rừng kết hợp trồng sâm dưới tán rừng; Trạm Dược liệu Trà Linh được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ rừng để thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh theo quy định của pháp luật.
Hỗ trợ về giống, đối với hộ gia đình (đã đăng ký thành nhóm hộ) ngân sách tỉnh hỗ trợ  80% giá mua cây sâm giống (giá sâm giống do Sở Tài chính định giá từng năm), nhưng không quá 500 cây/hộ/năm. Trại Sâm Tắc Ngo thuộc UBND huyện Nam Trà My: Mức hỗ trợ bằng mức hỗ trợ cho nhân dân, số lượng cây giống hỗ trợ tùy tình hình thực tế từng năm và được UBND tỉnh phê duyệt.
Hỗ trợ về tín dụng, ngân sách tỉnh hỗ trợ phần chênh lệch giữa mức lãi suất cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo với mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với các ngân hàng thương mại; mức vay tối đa không quá 30.000.000 đồng/hộ, dùng để mua sắm trang thiết bị quản lý và bảo vệ vườn sâm, thời gian vay không quá 07 năm.
Các hỗ trợ khác, hộ gia đình (đã đăng ký thành nhóm hộ) được hưởng kinh phí quản lý, bảo vệ rừng theo quy định hiện hành; hướng dẫn kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý nhà nước về giống để tự tổ chức sản xuất giống phục vụ cho đầu tư phát triển vùng sâm nguyên liệu trên đất được giao khoán; tham gia các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ; được tập huấn và hỗ trợ xây dựng mô hình theo các chương trình khuyến nông, giảm nghèo. (Quangnam.gov.vn 17/9) đầu trang(
Bước vào mùa mưa 2014, các đơn vị quản lý rừng và hộ dân cư trên lâm phần rừng tràm huyện U Minh đã chủ động tìm kiếm nguồn giống, vệ sinh diện tích trồng và huy động lực lượng tham gia trồng rừng.
Đến nay các đơn vị đã trồng được hơn 500ha rừng, trung bình tốn chi phí từ 2,5 đến 3 triệu đồng/ha, bao gồm cải tạo mặt bằng, mua cây giống và thuê mướn nhân công.
Trong tuần qua đã có mưa trở lại, lượng mưa tương đối đều, mặt nước dưới chân rừng đảm bảo tốt cho việc trồng rừng nên các chủ rừng đang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng.
Năm 2014, huyện U Minh sẽ trồng 2.640ha rừng, trong đó trồng mới 650ha, còn lại là trồng rừng sau khai thác.
Theo dự kiến, công tác trồng rừng năm 2014 ở huyện U Minh sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 11, sớm hơn một tháng so với năm 2013. (Báo Ảnh Đất Mũi 17/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh vừa phối hợp với chính quyền các địa phương hướng dẫn các hộ gia đình chăm sóc bảo vệ diện tích rừng hiện có và tiếp tục trồng rừng theo kế hoạch.
Đến nay, kế hoạch trồng rừng bước 1 được 3,5 ha, đạt 100% kế hoạch, trồng rừng bước 2 được 4 ha, đạt 100%; Chăm sóc rừng trồng đạt 91,8 ha.
Công tác bảo vệ rừng được chú trọng, không để xảy ra tình trạng chặt phá rừng và khai thác gỗ trái phép, tăng cường công tác kiểm tra thanh tra việc chấp hành chế độ, chính sách, pháp luật của nhà nước đối với cơ sở sản xuất kinh doanh lâm sản trên địa bàn tỉnh; xử lý nghiêm đối với các đơn vị vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và vận chuyển lâm sản trái phép. (Đài PTTH Bắc Ninh 18/9) đầu trang(
Sau một thời gian chuyển đổi mô hình quản lý, điều mà chúng ta kỳ vọng về tính dẫn đầu trong ứng dụng công nghệ, khoa học, đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao công tác quản lý, bảo vệ rừng của các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp xem ra vẫn chưa làm được.
Điều này đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết là phải tiếp tục có những phương án sắp xếp, đổi mới thiết thực và phù hợp hơn. Theo UBND tỉnh, toàn tỉnh hiện có 16 doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, trong đó có 14 công ty lâm nghiệp và 2 công ty nông nghiệp.
Các công ty đều đã chuyển đổi hình thức hoạt động từ nông, lâm trường quốc doanh sang công ty TNHH một thành viên nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, theo Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh thì đa phần sau chuyển đổi, bản chất trong hoạt động của các công ty này vẫn như trước đây, chưa có sự đột phá cần thiết trong quản lý điều hành, tổ chức sản xuất kinh doanh.
Cụ thể, ngoài một vài doanh nghiệp đa dạng hóa được ngành nghề, sản xuất tương đối hiệu quả thì phần nhiều công ty lâm nghiệp trên địa bàn vẫn chủ yếu “sống” bằng nguồn thu từ chỉ tiêu khai thác rừng và nguồn kinh phí cấp từ ngân sách Nhà nước như trước khi chưa chuyển đổi.
Sự lệ thuộc này dẫn đến hàng loạt công ty lâm nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, không cân đối được thu, chi để duy trì hoạt động, nhất là từ năm 2013 đến nay, thời điểm Nhà nước có chủ trương "đóng cửa rừng”, không giao chỉ tiêu khai thác. Chỉ đơn cử, trong năm 2014, ngân sách tỉnh bố trí hơn 11 tỷ đồng phục vụ công tác lâm nghiệp, trong đó kinh phí hoạt động cho 3 ban quản lý rừng phòng hộ chiếm xấp xỉ một nửa, số còn lại phân bổ cho 14 công ty lâm nghiệp.
Trong khi đó, tổng nhu cầu kinh phí quản lý, bảo vệ rừng tập trung và phòng chống cháy rừng của 14 công ty này trong năm là hơn 33 tỷ đồng. Không có chỉ tiêu khai thác, nhiều đơn vị, nhất là những đơn vị không có nguồn thu từ dịch vụ chi trả môi trường rừng đành phải hoạt động theo dạng “cầm hơi”.
Thực tế cho thấy, mặc dù trên danh nghĩa thì đang hoạt động nhưng thực chất hiện nay nhiều công ty lâm nghiệp đang ở trong tình trạng “chết lâm sàng’", tức không có khả năng cân đối thu, chi, điều hành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao do thiếu kinh phí. Nhiều công ty lâm nghiệp rơi vào tình trạng nợ lương cán bộ, công nhân nhiều tháng liền mà không có khả năng cân đối, chi trả.
Theo lãnh đạo Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Wil (Chư Jút) thì đơn vị này đã phải nợ lương cán bộ, công nhân hơn 4 tháng nhưng không có nguồn để trả. Mới đây, công ty đành phải mượn tiền để thanh toán tiền lương cho người lao động nhưng khoản tiền này cũng chưa biết lấy nguồn nguồn nào để trả nếu không có sự can thiệp kịp thời từ phía Nhà nước.
Không chỉ nợ tiền lương cán bộ, công nhân mà một số đơn vị còn nợ cả tiền thuê đất của tỉnh nhiều năm liền chưa trả với tổng số tiền gần 10 tỷ đồng. Nhất là từ năm 2013 đến nay, khi không có khoản thu từ chỉ tiêu khai thác rừng, các khoản nộp ngân sách Nhà nước của các công ty lâm nghiệp tỉnh chỉ được 14 tỷ đồng, phần lớn rơi vào số ít doanh nghiệp làm ăn thuận lợi, bằng 39% so với năm 2012.
Theo Sở Tài chính, trong số 16 công ty TNHH một thành viên nông, lâm nghiệp trên địa bàn, sau chuyển đổi, chỉ có 3 doanh nghiệp hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 6 doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ và 7 doanh nghiệp không hoàn thành nhiệm vụ.
Không hoàn thành nhiệm vụ ở đây bao gồm cả những nhiệm vụ chính như việc các đơn vị để mất rừng, đất rừng với diện tích lớn; để xảy ra tình trạng tranh chấp đất đai thuộc lâm phần quản lý và có một số sai phạm trong quản lý, tổ chức bảo vệ, phát triển  rừng.
Theo Sở NN-PTNT, từ khi chuyển đổi mô hình hoạt động đến nay, xét về mục tiêu, việc đổi mới mô hình hoạt động từ lâm trường quốc doanh sang công ty lâm nghiệp quốc doanh theo chủ trương xem ra không đạt. Mục tiêu đổi mới hình thức hoạt động, nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên không được cải thiện, công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng cũng còn nhiều bất cập.
Bên cạnh đó, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã để mất khoảng 50.000 ha rừng, đất rừng. Ngoài việc hàng năm, các công ty còn để xảy ra tình trạng mất rừng mà không đưa ra được giải pháp khắc phục hiệu quả thì hiện đang còn một diện tích đất rừng thuộc phạm vi quản lý của các đơn vị đã bị người dân lấn chiếm, canh tác chưa có phương án thu hồi, xử lý.
Chưa kể đến một số nội dung như xác định ranh giới, cắm mốc thực địa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang thuê đất cũng diễn ra rất chậm so với lộ trình kế hoạch. Nguyên nhân của thực trạng trên được các công ty lâm nghiệp đưa ra là do không đủ kinh phí để bố trí nhân lực làm công tác quản lý, bảo vệ cũng như trách nhiệm quản lý của chính quyền và doanh nghiệp chưa được làm rõ.
Tuy nhiên, theo đánh giá thì nguyên nhân cơ bản vẫn là do phần lớn các công ty sau khi chuyển đổi vẫn chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý và quản trị doanh nghiệp; lúng túng khi chuyển sang hạch toán kinh doanh theo luật Doanh nghiệp dẫn đến thiếu tính cạnh tranh, hiệu suất hoạt động thấp.
Mặt khác, một số doanh nghiệp chỉ mới chú trọng đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh mà thiếu sự quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng dẫn đến mất rừng và sai phạm trong công tác khoán trồng rừng, giao đất, giao rừng…
Để tiếp tục đổi mới căn bản cơ chế quản lý, quản trị công ty, quản lý chặt chẽ đất đai, tài nguyên rừng, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc tiếp tục đổi mới hình thức hoạt động để giải quyết bài toán về kinh phí mà các đơn vị phải đổi mới căn bản nội dung, cách thức, phương pháp điều hành, quản lý theo hướng thực chất, hiệu quả.
Theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và Quyết định số 686/QĐ-TTg, ngày 11/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp thì đa phần các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh nằm trong diện sẽ được sắp xếp, chuyển đổi theo mô hình công ty lâm nghiệp công ích 100% vốn Nhà nước hoặc chuyển sang ban quản lý rừng. Một vài đơn vị đủ điều kiện sẽ chuyển đổi thành công ty lâm nghiệp TNHH hai thành viên.
Đối với công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất hoặc rừng phòng hộ, rừng đặc dụng xen kẽ thì sẽ tiếp tục duy trì, cũng cố và phát triển công ty lâm nghiệp 100% vốn Nhà nước, nhưng phải được cấp chứng chỉ rừng quốc tế. Phương án sắp xếp, đổi mới phải làm rõ nội dung quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và rừng theo hướng đất đai và tài nguyên rừng phải được giao cho những chủ thể quản lý, sử dụng hiệu quả.
Các công ty phải tiếp tục duy trì và hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản hàng hóa tập trung, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, phù hợp với quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn.
Đối với các công ty chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH hai thành viên hoặc công ty lâm nghiệp có 100% vốn Nhà nước phải tạo được sự chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp; sản xuất lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và thị trường theo chuỗi giá trị và khẳng định vai trò như những trung tâm liên kết sản xuất trên từng lĩnh vực quản lý…
Rõ ràng, việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp trên địa bàn đang là yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết hiện nay nhằm tìm ra hướng đi  phù hợp trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng. Tuy nhiên, hiệu quả từ việc chuyển đổi này đến đâu lại đang phụ thuộc nhiều vào quyết tâm, tính tiên phong và sự sáng tạo của chính các công ty lâm nghiệm hiện nay. (Báo Đắc Nông 17/9) đầu trang(
Người dân xã Đồng Tháp - Đan Phượng đang phải chịu cảnh sống chung với khói bụi, tiếng ồn từ nhà máy sản xuất của Công ty TNHH chế biến gỗ Hiếu Hương (Công ty Hiếu Hương).
Hàng ngày, dòng khói đen nghi ngút “trút” vào nhà dân không thương tiếc khiến người dân vô cùng bức xúc và đã nhiều lần kiến nghị lên công ty nhưng chỉ nhận được sự thờ ơ, vô cảm.
Theo phản ánh của người dân sống xã Đồng Tháp, hằng ngày luôn phải “hứng chịu” từng đợt trút khói đen vào nhà dân của Công ty Hiếu Hương (có địa chỉ: Cụm CN Sông Cùng, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội).
Bà Nguyễn Thị Huyền cho biết: “Nhà máy sản xuất của Công ty Hiếu Hương hằng ngày xả khói đen ra môi trường, khi có gió thì dòng khói đen kịt “ập” vào thẳng nhà chúng tôi. Mỗi lần như vậy, bụi bẩn lại bám đầy quần áo, đồ dùng gia đình, vì vậy chúng tôi luôn phải đóng cửa che kín để tránh ảnh hưởng đến con cháu”.
Kèm theo khói bụi là mùi hôi khó chịu, mùi khét của hóa chất nồng nặc khu vực này. Khi đi qua khu vực sản xuất của công ty Hiếu Hương thì nhiều người cảm thấy đau đầu, khó thở, choáng váng.
Trao đổi với PV, một người dân cho biết nhiều người đã mắc những bệnh liên quan đến hô hấp: “Hiện nay, tình hình bệnh tật liên quan đến hô hấp diễn ra ngày càng phức tạp, mặc dù nhiều công ty hoạt đông sản xuất ở cụm công nghiệp Sông Cùng nhưng chỉ có công ty Hiếu Hương là xả khói bụi đen ra môi trường. Không khẳng định, nhưng có thể đây là “nguồn” của các bệnh liên quan mà người dân chúng tôi đang mắc phải?”.
Trước phản ánh của người dân, PV đã xuống khảo sát tình hình thì được chứng kiến cảnh khói đen nghi ngút từ ống khói của công ty Hiếu Hương. Đứng được một lúc thì hiện tượng như người dân phản ánh là đau đầu, tức ngực, choáng váng bắt đầu xuất hiện.
Để làm rõ thông tin, PV Báo đã liên lạc với đại diện công ty Hiếu Hương nhiều lần nhưng chỉ nhận được sự thờ ơ “tôi không biết vấn đề người dân phản ánh là gì?”. Mặc dù PV đã có trao đổi nội dung phản ánh của người dân nhưng phía công ty Hiếu Hương lại “trốn tránh” không làm việc.
Được biết, Công ty Hiếu Hương là đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh các sản phẩm như: Gỗ dán, gỗ ép các loại, gỗ ép coppha phủ phim, phủ keo chịu nước… Là ngành nghề sản xuất liên quan đến hóa chất đòi hỏi yêu cầu cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại cũng như làm tốt công tác bảo vệ môi trường nhưng hiện trạng như người dân phản ánh thì công ty Hiếu Hương đã hoàn thành “nghĩa vụ” bảo vệ môi trường hay chưa?
Sau những phản ánh của người dân và PV nhưng phía công ty Hiếu Hương lại “trốn tránh” từ chối cung cấp thông tin. Nếu không có điều gì “mờ ám” thì tại sao công ty Hiếu Hương lại nhiều lần “lảng tránh” làm việc với cơ quan báo chí?
Tại sao công ty Hiếu Hương lại có thể “thách thức” môi trường và “coi thường” sức khỏe người dân trong một thời gian dài mà không có cơ quan nào xử lý? Liệu đây có phải là trường hợp “ưu tiên” xả thải tại cụm công nghiệp Sông Cùng? (Môi Trường & Sức Khỏe 18/9) đầu trang(
Tính đến đầu tháng 9, toàn tỉnh đã trồng mới hơn 10.661 ha rừng, đạt 98,2% kế hoạch giao. Trong đó, trồng rừng tập trung được 6.502,9 ha; trồng rừng theo Dự án WB3 và Dự án Jaica được 3.097,3 ha; các doanh nghiệp và nhân dân tự trồng hơn 1.061 ha.
Bên cạnh công tác phát triển rừng, các đơn vị cơ sở đã làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng đến các tầng lớp nhân dân. Nhờ vậy, các hộ dân nhận khoán đã bảo vệ tốt 576.454 ha rừng được giao; chăm sóc 34.850 ha rừng trồng trong vụ xuân, đạt 100% kế hoạch.
Từ làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng nên trong mùa nắng nóng của năm trong tỉnh không có cháy rừng xảy ra, an ninh rừng tương đối ổn định, không có điểm nóng về khai thác lâm sản trái phép. (Báo Thanh Hóa 18/9) đầu trang(
Được sự hỗ trợ của BQL rừng phòng hộ huyện Nghi Lộc, của dự án WB3, sự chỉ đạo trực tiếp của UBND xã Nghi Công Nam, tranh thủ thời tiết thuận lợi, 31 hộ dân ở Xã Nghi Công Nam đã nhận đất ở những nơi như: Vùng ven Đại Huệ, vùng Cụp Trăn… trồng được 51 ha rừng, gồm cây keo và cây bạch đàn lai.
Trong đó có những hộ gia đình trồng được nhiều diện tích như: GĐ ông Nguyễn Văn Thọ ở xóm 3 trồng được 4 ha, GĐ anh Ngô Trí Thắng ở xóm 3 trồng được 3,7 ha… Theo chỉ tiêu thì xã Nghi Công Nam đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2014. (Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Nghi Lộc 17/9) đầu trang(
Những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển đáng kể, góp phần tích cực tăng giá trị sản xuất công nghiệp, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp này vẫn còn những bất cập đòi hỏi sự vào cuộc của các cấp, các ngành với những giải pháp thiết thực, cụ thể...  Trên cơ sở tận dụng những tiềm năng và thế mạnh về tự nhiên, những năm gần đây ngành công nghiệp (CN) chế biến của tỉnh ta đã phát triển khá mạnh với hàng nghìn cơ sở chế biến lớn, nhỏ từ nông sản, lâm sản, thuỷ hải sản đến thực phẩm, nước giải khát...
Theo báo cáo của Sở Công thương, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.005,3 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2010. Các sản phẩm chủ yếu vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định như: Nước mắm các loại đạt 1.900.000 lít, phân vi sinh 102.000 tấn, bia các loại đạt 9.501.000 lít, gỗ xẻ các loại 210.000 m3, dăm gỗ 134.000 tấn... qua đó, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động tại các địa phương.
Thực tế cho thấy, thời gian qua tỉnh ta đã không ngừng quan tâm đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng các sản phẩm của ngành CN chế biến. Thông qua việc thực hiện nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác và tập trung chế biến sâu các mặt hàng có lợi thế để xuất khẩu sang các thị trường truyền thống, CN chế biến được đánh giá là một trong những ngành CN có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển.
Một vấn đề được coi là khó khăn chung của không ít các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình, nhóm hộ tham gia chế biến nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh hiện nay đó là, nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất không ổn định, mà nguyên nhân chính là do sự phát triển của các cơ sở này không gắn liền với xây dựng, quy hoạch nguồn cung ổn định.
Hiện một số nhà máy đang tạm ngừng sản xuất do hết nguyên liệu như: Nhà máy tinh bột sắn xuất khẩu Sông Dinh, Nhà máy sản xuất tinh bột dong riềng xuất khẩu Long Giang Thịnh...; dẫn đến một số sản phẩm sản xuất giảm so với cùng kỳ như: mực đông lạnh giảm 5%, tinh bột sắn giảm 54,9%, cao su chế biến giảm 33,9%... Cùng với đó, thị trường đầu ra cũng là một trong những khó khăn không dễ tháo gỡ của ngành CN chế biến ở tỉnh ta hiện nay.
Đơn cử, chỉ nhìn vào ngành CN chế biến lâm sản có thể thấy: dù có nguồn tài nguyên rừng phong phú, số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ tăng mạnh qua các năm, nhưng ngành CN chế biến gỗ của tỉnh cũng còn một số tồn tại không thể “tháo gỡ” ngay trong “một sớm một chiều”. Chẳng hạn như các cơ sở băm dăm gỗ chiếm số lượng không ít so với các ngành nghề khác, nhưng số cơ sở sử dụng nguyên liệu dăm gỗ để sản xuất ván sợi, giấy, ván dăm... vẫn còn khá khiêm tốn.
Hầu như toàn bộ dăm gỗ sản xuất ra đều để xuất khẩu thô. Điều này gây lãng phí tài nguyên, giảm giá trị nguyên liệu gỗ, thu nhập của người trồng rừng thấp, tính bền vững của rừng trồng giảm. Bên cạnh đó, việc phân bố các doanh nghiệp chưa gắn với vùng nguyên liệu nên chi phí vận chuyển nguyên liệu và hiệu quả sử dụng gỗ ít nhiều bị hạn chế.
Ngoài ra, cơ cấu ngành nghề trong chế biến gỗ chưa thể hiện sự gắn kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chế biến liên tục, khi sản phẩm của doanh nghiệp này chưa là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp kia. Do đó, các sản phẩm đồ mộc, gỗ xẻ, ván gỗ nhân tạo chưa có thương hiệu, chưa đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng để chiếm lĩnh các thị trường quốc tế, mà chủ yếu tiêu thụ ngay nội địa và tại các địa phương trong tỉnh.
Theo ông Lê Thanh Sơn, Trưởng phòng Doanh nghiệp, lao động và việc làm, Ban quản lý Khu kinh tế, thì riêng đối với ngành CN chế biến gỗ, sản phẩm xuất khẩu nổi bật chính là dăm gỗ. Chỉ tính riêng tại Khu kinh tế Hòn La, đã có 5 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Tuy nhiên hiện nay, bên cạnh những khó khăn chung, không ít đơn vị đang phải đối mặt với khó khăn do những biến động của thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.
Để đạt được mục tiêu phát triển một số ngành CN có thế mạnh, trong đó có ngành CN chế biến nông, lâm, thuỷ sản trở thành ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn, tỉnh ta cần tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện về thủ tục, cơ chế để thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, thu hút và tạo việc làm cho người lao động... (Báo Quảng Bình 19/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo Caters News, một chú voi ở Kenya đã may mắn được giải cứu khi bị mắc kẹt trong giếng lâu ngày.
Một người nông dân đã tình cờ phát hiện ra chú voi trên khi đi qua chiếc giếng. Chú voi gầy gò vì bị đói và trên người có những vết thâm tím.
Các nhân viên của trung tâm Động vật hoang dã Kenya đã giải thoát cho chú voi và điều một chiếc máy bay nhỏ để chở chú voi tới trung tâm cứu hộ động vật hoang dã tại Nairobi.
"Chú voi đã bị kiệt sức vì quá đói. Các kết quả xét nghiệm máu cho thấy nó bị nhiễm trùng rất nghiêm trọng. Có thể nó đã uống nước không đảm bảo vệ sinh trong giếng" - Rob Brandford, giám đốc trung tâm bảo vệ động vật hoang dã David Sheldrick Wildlife Trust cho hay.
Các nhân viên y tế cho biết, phải mất ít nhất 6 tuần chăm sóc con voi mới có thể khỏe trở lại. (VietnamPlus 18/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng