Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO

Ngày 19 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) là một trong những nơi còn sót lại nhiều loài động, thực vật quý hiếm như bò tót, bò rừng…, gỗ hương, cẩm lai, cà chít…
Nhưng thời gian gần đây “lâm tặc” đã lợi dụng những khu rừng “vô chủ” giáp ranh bao quanh khu bảo tồn để tiến sâu vào những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt chặt phá và săn bắn động thực vật quý hiếm một cách tràn lan…
Sau hơn 4 giờ theo chân Đoàn kiểm tra của Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Ea Sô băng rừng, lội suối có mặt tại cột mốc số 20, nằm cạnh dòng sông Krông Hnăng. Đây là địa điểm đánh dấu ranh giới giữa KBTTN Ea Sô với khu rừng thuộc địa giới hành chính của huyện Krông Pa (tỉnh Gia Lai) và Sông Hinh (tỉnh Phú Yên).
Khi cả đoàn mệt lả tìm chỗ nghỉ chân thì bất ngờ bắt gặp một nhóm “lâm tặc” đang dùng rìu đốn hạ một cây gỗ hương. Lực lượng Kiểm lâm nhanh chóng bao vây, tịch thu tang vật và lấy lời khai.
Tranh thủ trò chuyện, Ksor Tương (23 tuổi, trú huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai), một “lâm tặc” trong nhóm cho biết: “Trong làng mình có hơn một nửa người dân đi làm gỗ vì dễ có tiền. Mỗi kg gỗ hương được thu mua tại bến sông có giá từ 7.000-8.000 đồng nên một người có thể làm được cả mấy trăm ngàn một ngày là chuyện thường…”.
Khi được hỏi khu rừng giáp ranh này do ai quản lý thì anh Phan Văn Quang - Trạm phó Trạm kiểm lâm số 5 phân trần: “Mặc dù thường xuyên tuần tra kiểm soát nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp được lực lượng Kiểm lâm từ phía các tỉnh bạn nên không biết rừng này do ai quản lý (?)”.
Tiến sâu vào khoảng 1km. Trước mắt là hàng trăm cây gỗ quý như giáng hương, cẩm xe, cà chít… bị đốn hạ ngổn ngang. Trong số đó, có rất nhiều cây gỗ quý chỉ mới bị đốn hạ chứ chưa khai thác.
Chỉ tay về phía một cây cà chít có đường kính khoảng 80cm, dài hơn 7m, anh Quang cho biết: “Những cây gỗ này đã có chủ hết rồi. Do chưa tìm được mối bán nên “lâm tặc” chưa mang đi đó thôi (!)”. Càng đi vào sâu rừng càng bị tàn phá. Cả khu rừng hàng ngàn héc ta, đâu đâu cũng vang tiếng máy cưa, tiếng rìu chặt gỗ và cả những tiếng cây rừng ào ào đổ xuống. Trên đường đi, thỉnh thoảng lại gặp từng nhóm từ 3 đến 5 người ngang nhiên đốn hạ cây rừng như chốn không người.
Hơn 16h , khi cả đoàn đang tìm chỗ hạ trại nghỉ chân qua đêm thì bất ngờ có một nhóm “lâm tặc” dùng 4 chiếc xe máy đã được độ chế chở 3 khúc gỗ hương dài hơn 1m, đường kính khoảng 30cm ào ào phóng từ trong rừng ra.
Bị bắt giữ, họ khai nhận số gỗ trên vừa mới được đốn hạ. Do khu vực này thuộc địa phận quản lý của huyện Krông Pa (tỉnh Gai Lai), cách trụ sở Khu BTTN Ea Sô gần một ngày đi bộ nên cán bộ kiểm lâm chỉ biết tịch thu tang vật để tiêu huỷ, còn người và xe máy đành thả cho về...
Gỗ được khai thác ở những cánh rừng “vô chủ” này được “lâm tặc” vận chuyển bằng hai con đường: Một là kết bè thả trôi theo dòng sông Krông Hnăng về bến Hai Cả (thuộc địa bàn huyện Krông Pa, Gia Lai); hai là vận chuyển theo đường mòn bằng xe độ chế. Phần lớn gỗ được vận chuyển bằng cách kết bè thả xuôi theo sông vì cách này vừa an toàn, lại vừa ít chi phí.
Sở dĩ có tên là bến Hai Cả là vì người chèo thuyền trên bến sông này có tên là Hai Cả. Ông ta đã từng đi tù 3 năm về tội chống người thi hành công vụ. Ra tù, Hai Cả về làm nghề lái đò đưa “lâm tặc” qua sông Krông Hnăng. Mỗi lần qua, người và xe máy phải trả cho Hai Cả 50.000 đồng.
Ngoài ra, Hai Cả còn có nhiệm vụ cảnh báo tình hình cho “lâm tặc” mỗi khi có thông tin kiểm lâm đi tuần tra... “Từ đây tới bến Hai Cả mất khoảng 4-5 giờ. Tôi thường bán gỗ cho một người tên Hiếu, thuộc Công ty Kim Long, có trụ sở tại huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên). Nghe đâu họ gom hàng để bán sang Trung Quốc”, Ksor Tương thú nhận.
Men theo sông Krông Hnăng về phía hạ nguồn, thỉnh thoảng lại gặp một nhóm người đang bám theo bè gỗ. Anh Lê Xuân Tùng, Đội phó Đội cơ động kiểm lâm huyện Ea Kar lắc đầu ngao ngán: “Vận chuyển gỗ trên đường bộ anh em chúng tôi còn dễ xử lý. Đằng này họ vận chuyển bằng đường thuỷ nên không bắt được. Bến Hai Cả thuộc địa bàn của tỉnh khác chúng tôi không có chức năng bắt gỗ ở đây”. Bên kia dòng sông Krông Hnăng là huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên), gỗ sau khi đến bến sông Hai Cả được vận chuyển về các xưởng cưa trong vùng.
Ông Lê Đắc Ý, Giám đốc KBTTN Ea Sô, cho biết: “Tại khu vực giáp ranh giữa khu bảo tồn và các huyện của tỉnh Gia Lai hiện có rất nhiều “lâm tặc” lấy danh nghĩa là người của Tập đoàn H. dùng cưa máy vào khai thác gỗ trên diện rộng. Trong đợt kiểm tra mới đây, chúng tôi đã phát hiện hơn 30 cây gỗ hương với khối lượng trên 100m3 vừa bị khai thác. Hiện những khu rừng giáp ranh đang cạn kiệt gỗ quý, “lâm tặc” đã và đang tràn vào khu bảo tồn”.
Nếu như phía Bắc và Đông của KBTTN Ea Sô đang nóng bỏng việc khai thác gỗ quý, thì phía Tây lại đối mặt với tình trạng săn bắt thú. Ở hai xã Ea Đah và Ea Púk (huyện Krông Năng, Đắk Lắk) có hàng trăm người chuyên đi săn thú. Trong năm nay, Hạt Kiểm lâm KBTTN Ea Sô đã bắt quả tang hàng chục vụ xâm nhập vào khu bảo tồn để săn bắn động vật hoang dã.
Ông Lê Đắc Ý cho biết: “Các đối tượng lâm tặc đang truyền tai nhau rằng, KBTTN Ea Sô đã giải thể cùng với rừng phòng hộ Krông Năng, việc săn bắn thú rừng không bị ngăn cấm, nên nhiều người đã nghe theo và ồ ạt vào rừng săn bắn. Từ đầu năm 2014 đến nay, chúng tôi đã bắt giữ 12 vụ, xử lý 16 đối tượng, thu giữ, phá huỷ hàng ngàn bẫy thú”.
Tình trạng săn bắt động vật, khai thác gỗ đang diễn ra hết sức phức tạp tại KBTTN Ea Sô. Nếu chính quyền các địa phương không sớm có sự phối hợp thì không lâu nữa khu bảo tồn này sẽ vắng bóng những loài động vật, thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. (Công An Nhân Dân 19/12, tr7) đầu trang(
Cứ vào mùa mưa lũ, tình trạng sập hầm gây chết người là chuyện bình thường xảy ra tại các bãi vàng có phép và trái phép ở các huyện vùng núi Quảng Nam.
Song, có không ít chủ bãi tận dụng mọi cơ hội và thời gian để tổ chức khai thác vàng sa khoáng, bất chấp hiểm nguy đang rập rình trên đầu và sẵn sàng tước đi tính mạng của người lao động vào bất cứ lúc nào…
Về huyện miền núi Nam Giang sẽ dễ dàng chứng kiến dọc theo con sông Cái đoạn từ thôn Pà Lanh đến giáp thị trấn Thạnh Mỹ, đã có gần 10ha đất bị vàng tặc cày ủi nham nhở, tạo ra những hố sâu thẳm. Nước dưới sông Cái đục ngầu, do đất sạt lở hai bên bờ khá nhiều chỗ và cuốn phăng tất cả về miền xuôi. Đáng nói là, điểm làm vàng trái phép này chỉ cách đường Hồ Chí Minh khoảng 200m, nhưng bọn vàng tặc công khai dùng xe múc đào khoét dọc bờ sông, dùng máy móc đưa đất đá vào máng, bồn để tuyển vàng, như là chốn không người.
Từ km 02 đến km 05 (đoạn sông Thanh chảy qua Xã Tà Phing), cũng chẳng khác gì bãi chiến trường. Lòng sông và hai bên bờ ngổn ngang sỏi đá bị cày xới lên, dòng nước bị đổi dòng tràn lên ruộng khiến không cây cối nào sống nổi. “Tháng 7/2014, có một người tên Năm ở miền Bắc vào khai thác vàng. Nghe đâu được cán bộ thôn cho phép, còn dân không biết gì và cũng chẳng nhận được tiền đền bù đất đai. Dân chúng tôi khiếu nại thì họ bảo đã nộp tiền cho thôn rồi”, già làng Tà Ngôn Aping (Tà Phing) ngao ngán nói.
Tại khu vực rừng núi thuộc xã Đắc Pring gần đây đã trở thành “lãnh địa” của vàng tặc. Bất kể ngày lẫn đêm, các chủ bãi đã cho phu vàng đào múc, khoét sâu vào những cánh rừng đại thụ để tìm vàng sa khoáng. Vị trí này nằm không xa một đồn biên phòng, nhưng chẳng thấy truy quét, đẩy đuổi bọn vàng tặc. Vậy nên, chỉ trong thời gian ngắn mà những cánh rừng thuộc các xã Đắc Pring và Đắc Pre (nằm trong phạm vi của Khu Bảo tồn thiên nhiên sông Thanh - KBTTNST) thuộc địa bàn huyện Nam Giang đã bị phá tan tành.
Các tuyến đường lên Khe Cọp, Khe Lên, Khe Chớp (xã Đắc Pring) bị băm nát do các phương tiện vận chuyển thiết bị, lương thực của các nhóm khai thác vàng trái phép. Để vào tận bãi vàng, họ sử dụng xe cơ giới san ủi đồi núi, mở gần chục km đường giữa rừng. Dọc theo nhiều con suối khác thuộc địa phận Đắc Pring, có nhiều lán trại làm vàng mọc lên. Hiện trường của khu rừng rộng 3 ha này, chỉ còn lại các giàn máy xúc, đào đãi vàng và nhiều thùng phuy chứa dầu diesel… còn chủ bãi và công nhân chạy toán loạn khi nghe tin truy quét.
Ban Quản lý KBTTNST phối hợp với Hạt Kiểm lâm Nam Giang tổ chức hàng chục đợt truy quét, đập phá nhiều máy xúc, máy nổ, tháo dỡ và đốt phá nhiều lán trại khai thác vàng trái phép. Song, cứ trước đợt truy quét là chủ bãi biết tin nên tổ chức đưa lực lượng ẩn dật trong rừng sâu, sau lần truy quét thì vàng tặc vẫn quay trở lại để hoành hành…
Ngược lên huyện Phước Sơn, về Phước Hiệp và được biết thông tin trên địa bàn xã có đến 5 doanh nghiệp khai thác vàng, nhưng hiện chỉ có Cty Nam Mai là còn thời hạn cấp phép, còn các Cty Ngọc Linh, SSG, Hà Thắng… đều đã hết phép từ lâu, nhưng tại các bãi vàng này vẫn xảy ra tình trạng khai thác công khai và nhiều nơi sử dụng vật liệu nổ để phá đá, đào hầm.
Nhìn nguồn nước sông Bung đổi màu do đất đá sạt lở và hóa chất độc hại tuôn xuống con sông Nước Mỹ (đoạn xã Cà Dy, Nam Giang) và thôn Lao Du (xã Phước Xuân, Phước Sơn), Chủ tịch UBND xã Nguyễn Chí Sâm ngậm ngùi: “Lúc trước, nước con sông dồi dào là nguồn sống cho đồng bào đánh bắt thủy sản, nay cá tăm hơi hết rồi. Nước sông cạn còn giúp lâm tặc mở đường vào triệt hạ rừng và phu vàng đổ về không thể kiểm soát nổi…”.
KBTTNST nằm trên địa bàn hai huyện Phước Sơn và Nam Giang, bao gồm diện tích 93.249ha rừng vùng lõi và 108.398ha vùng đệm. Để vào đây nếu đi từ hướng Phước Sơn, chỉ độc đạo một con đường từ thôn 4 (xã Phước Đức) đi vào. Đầu đường, một barie chắn ngang do lực lượng liên ngành của huyện quản lý và bất kể phương tiện xe cơ giới vào, phải được sự đồng ý của trạm này.
Vậy nhưng, nhiều phương tiện, thiết bị của bọn vàng tặc như “quả núi chui lọt lỗ kim” đã vào tận vùng lõi của khu để khai thác vàng trái phép, dù đã được chia thành hai khu bảo vệ nghiêm ngặt với nhiều lực lượng chức năng túc trực, tuần tra bảo vệ. Những cánh rừng già rậm rạp, xanh ngút ngàn đã bị đốn ngã và đào bới tan hoang. Vàng tặc lại có dịp cấu kết với lâm tặc đưa máy cưa những cây gỗ to vận chuyển ra ngoài tiêu thụ…
Được biết, tại khu vực này từ năm 2012 đến nay, các chủ bãi khai thác vàng trái phép tàn phá KBTTNST nghiêm trọng. Nhiều lần, các đoàn kiểm tra liên ngành đã tiến hành truy quét, nhưng “đâu lại vào đấy”.
Trong chuyến hành trình vào KBTST, mới cảm nhận đây là con đường mở ra chỉ phục vụ cho việc khai thác lâm, khoáng sản trái phép nên rất khó đi. Con đường được mở xuyên KBTTNST dài hàng chục km, hiện những bánh xe cơ giới còn in hằn trên mặt đường lầy lội, với những cây cổ thụ lớn bị cày ủi bật gốc nằm ngổn ngang hai bên đường, nhưng trước hậu quả nghiêm trọng này các ngành chức năng vẫn bó tay? (Thanh Tra 19/12) đầu trang(
Ngày 18.12, tin từ Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy (huyện Bắc Bình, Bình Thuận) cho biết, gần 35 m3 gỗ bị bỏ lại trong vụ lâm tặc chặt phá rừng ở khu vực xã Phan Sơn (huyện Bắc Bình) hiện nằm trong rừng sâu.
Trước đó, đoàn kiểm tra liên ngành của huyện Bắc Bình gồm công an kinh tế, kiểm lâm, bảo vệ rừng đã đến khu vực rừng bị lâm tặc chặt phá tại xã Phan Sơn (huyện Bắc Bình) để đo đạc hiện trường, thống kê số gỗ bị chặt phá.
Tại hiện trường, có khoảng 42 cây gỗ bằng lăng bị đốn hạ, cưa thành khối nhưng lâm tặc mới lấy đi được một phần, phần còn lại lực lượng chức năng đã kịp thời ngăn chặn. Theo thống kê sơ bộ toàn bộ số gỗ bằng lăng bị đốn hạ là 60 m3. Lâm tặc chuyển đi 25 m3 và bỏ lại hiện trường khoảng 35 m3.
Ông Phan Văn Minh, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy cho hay, vì địa hình hiểm trở không thể đưa gỗ tang vật về. Để tránh việc lâm tặc vận chuyển gỗ ra khỏi rừng đi tiêu thụ, các cán bộ giữ rừng đã phải dùng biện pháp tác động lên số gỗ tang vật bằng cách cưa lên các long gỗ tạo thành dấu vết để cảnh báo.
Hiện Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy đã gửi báo cáo cho Sở NN-PTNT Bình Thuận, Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện Bắc Bình để xin ý kiến chỉ đạo xử lý vụ việc. Đồng thời, các cơ quan chức năng của huyện Bắc Bình cũng đang củng cố hồ sơ để khởi tố vụ án phá rừng trên để điều tra làm rõ. (Thanh Niên 18/12) đầu trang(
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, phân khu dịch vụ - hành chính của vườn Quốc gia là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí...
Tuy nhiên, tại độ cao cos 600-700m của vườn Quốc gia Ba Vì, trong thời gian qua đã và đang được xây dựng nhiều công trình kiên cố dưới dạng “biệt phủ”...
Ghi nhận của phóng viên, tại khu vực này có hàng chục “biệt phủ” được xây dựng kiên cố bằng bê tông hóa, có nhà được làm bằng gỗ... Đáng nói, khi làm việc với chủ vườn, đại diện lãnh đạo đơn vị này không chứng minh cho phóng viên được những giấy tờ liên quan đến xây dựng “biệt phủ”, nhất là giấy phép xây dựng của cấp có thẩm quyền, báo cáo đánh giá tác động môi trường...
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì từ độ cao cos 400m trở lên đối với Vườn Quốc gia quy định là thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, hạn chế mọi tác động từ bên ngoài ảnh hưởng tới rừng.
Còn theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14-8-2006 của Thủ tướng Chính phủ thì “Vườn Quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái”.
Nhưng thực tế việc xây dựng những “biệt phủ” hoành tráng trong khu vực này cho thấy, hiện trạng rừng bị cày xới và có dấu hiệu bất thường. Bất thường bởi lẽ, theo tài liệu hồ sơ phóng viên có trong tay, năm 2008, ông Đỗ Khắc Thành - nguyên Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Vì trước khi nghỉ hưu đã ký “Hợp đồng liên kết Kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái kết hợp với Bảo vệ và phát triển rừng” với một công ty tư nhân.
Theo hợp đồng này, Vườn Quốc gia Ba Vì bàn giao 53ha diện tích rừng, đất lâm nghiệp và các công trình hạ tầng tại cos 600 đến 700m và khu vực độ cao cos 800m là 3,05ha cho doanh nghiệp để đầu tư theo quy hoạch... Trong điều khoản hợp đồng cũng yêu cầu bên B (bên doanh nghiệp) phải lập dự án đầu tư và phối hợp với bên A (Vườn Quốc gia Ba Vì) làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, khi trao đổi với ông Nguyễn Phi Truyền, Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Vì thì ông này không cung cấp được những văn bản liên quan đến cấp phép xây dựng, đánh giá tác động môi trường của cấp có thẩm quyền mà chỉ cung cấp được cho phóng viên bản “Quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể phân khu hành chính dịch vụ 1” do Công ty tư vấn thiết kế C.O.R.E lập, có xác nhận của vườn Quốc gia Ba Vì và đại diện Bộ NNPTNT là Tổng cục Lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, ông Truyền cũng không thể trả lời chính xác hiện có bao nhiêu “biệt phủ” đang được doanh nghiệp tư nhân xây dựng trong phạm vi cos 600 -700m và số tiền đầu tư cho dự án này là bao nhiêu.
Trước đó, tháng 6-2014, Thứ trưởng Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn mới ký Quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể phân khu hành chính dịch vụ 1 - vườn Quốc gia Ba Vì.
Theo đó, diện tích quy hoạch lên tới 120,5ha; được chia ra làm 4 khu, gồm: Khu cos 400m diện tích 60ha; khu cos 600, 700, 800m diện tích 58,5ha; khu cos 1000-1100m diện tích 1ha; khu cos 350m diện tích 1ha. Tuy nhiên, theo quy định thì “Các phân khu chức năng trong vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên được điều chỉnh về phạm vi ranh giới của từng phân khu dựa trên đặc điểm, thực trạng diễn biến của rừng và mục đích quản lý, sử dụng rừng.
Việc điều chỉnh ranh giới của các phân khu được thực hiện sau mỗi kỳ quy hoạch hoặc sau mỗi lần rà soát diện tích các loại rừng theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ”, nhưng thực tế trong quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể phân khu hành chính dịch vụ 1 - vườn Quốc gia Ba Vì chưa thấy có căn cứ văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ cho việc quy hoạch này, đó còn chưa nói đến “Nghị quyết số 49/2010/QH12 ngày 19-6-2010 của Quốc hội quy định: “Việc chuyển đổi diện tích vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 ha trở lên là thuộc thẩm quyền của Quốc hội”.
Được biết, khu vực cos 600-700m đã diễn ra việc xây dựng các “biệt phủ” từ nhiều năm qua và tới mùa du lịch sang năm (2015) sẽ đưa những “biệt phủ” này vào hoạt động...  (Cựu Chiến Binh VN 18/12, tr13) đầu trang(
Ngày 15.12, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ký ban hành văn bản chỉ đạo, yêu cầu UBND hai huyện Phù Cát và Tuy Phước chỉ đạo các đơn vị chức năng và UBND các xã có liên quan tiến hành các thủ tục hồ sơ, xử lý, cưỡng chế, khôi phục lại hiện trạng ban đầu đối với các hộ gia đình tự ý lấn, chiếm đất đai, chặt phá rừng, xây dựng nhà và công trình trái phép dọc tuyến tỉnh lộ 639 và các khu vực trong Khu kinh tế Nhơn Hội, trường hợp các hộ gia đình cố tình vi phạm thì áp dụng các biện pháp xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Đồng thời, tổ chức tuyên truyền, vận động, giải thích cho các hộ dân nằm trong vùng dự án hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, không được lấn, chiếm đất đai, chặt phá rừng, cơi nới, xây dựng nhà và công trình trái phép; nếu các hộ gia đình có nhu cầu sửa chữa, xây dựng nhà hợp lý trên đất phù hợp thì phải có thủ tục xin cấp phép theo đúng quy định.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng giao Giám đốc Sở NN-PTNT, Sở GT-VT chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ và quản lý hành lang tuyến đường tỉnh lộ 639 theo đúng quy định. (Báo Bình Định 16/12) đầu trang(
Theo thống kê hiện nay, toàn huyện Bình Đại có trên 3.700 ha rừng, trong đó có 1.345 ha rừng phòng hộ và trên 1.400 ha rừng đặc dụng, tập trung ở 4 xã Thừa Đức, Thới Thuận, Thạnh Phước và Bình Thắng.
Để đảm bảo cho các diện tích rừng trên địa bàn sinh trưởng và phát triển tốt, mang lại hiệu quả cao, những năm qua, huyện đã triển khai nhiều giải pháp trồng, chăm sóc, quản lý, đặc biệt là phòng, chống cháy rừng.
Theo thống kê hiện nay, toàn huyện Bình Đại có trên 3.700 ha rừng, trong đó có 1.345 ha rừng phòng hộ và trên 1.400 ha rừng đặc dụng, tập trung ở 4 xã Thừa Đức, Thới Thuận, Thạnh Phước và Bình Thắng. Để đảm bảo cho các diện tích rừng trên địa bàn sinh trưởng và phát triển tốt, mang lại hiệu quả cao, những năm qua, huyện đã triển khai nhiều giải pháp trồng, chăm sóc, quản lý, đặc biệt là phòng, chống cháy rừng.
Thời điểm này đang bắt đầu vào mùa khô, thời tiết nắng hạn, hanh khô kéo dài, nguy cơ cháy rừng xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là tại những khu vực rừng phòng hộ ven biển trồng cây phi lao có nhiều thực bì lá khô.
Nhằm phòng chống và ngăn chặn hiệu quả tình trạng cháy rừng, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và bảo vệ thiên nhiên, huyện Bình Đại đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cấp bách đến các đơn vị chức năng liên quan và chính quyền các xã Thừa Đức, Bình Thắng, Thới Thuận, Thạnh Phước như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân về nâng cao nhận thức bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng, nhất là người dân sinh sống ven rừng.
Tăng cường củng cố Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã và các tổ, đội chữa cháy, thường xuyên kiểm soát, bố trí lực lượng tại các chòi canh, đồng thời tổ chức tuần tra, canh gác phát hiện, xử lý kịp thời các tình huống xảy ra và xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm các quy định về an toàn phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định của Nhà nước.
Tập trung kiểm tra tại các công trình phòng cháy chữa cháy rừng như chòi canh lửa, đường băng cản lửa, hồ, mương trữ nước, biển báo cấm lửa, bảng nội quy phòng cháy chữa cháy rừng.
Đặc biệt sửa chữa và mua sắm bổ sung các phương tiện, dụng cụ phục vụ cho công tác phòng cháy rừng phù hợp với tình hình thực tế để sẵn sàng xử lý kịp thời các tình huống cháy rừng có thể xảy ra theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện và vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ). Bên cạnh đó, phải có kế hoạch huy động, sử dụng lực lượng, phân công trách nhiệm huy động lực lượng phương tiện kịp thời tham gia chữa cháy.
Riêng các xã Thừa Đức, Thới Thuận, Bình Thắng và Thạnh Phước phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn quản lý.
Chủ động rà soát lại quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng chữa cháy tại chỗ, phương tiện và trang thiết bị chữa cháy kịp thời, trong đó chú trọng đến việc quản lý mọi hoạt động của người dân sinh sống và sản xuất gần khu vực có rừng, nghiêm cấm tuyệt đối không sử dụng lửa gần rừng và ven rừng trong những ngày hanh khô kéo dài với bất kỳ trường hợp nào, để hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy gây ra.
Với sự chỉ đạo quyết liệt cùng những giải pháp cụ thể thiết thực, hy vọng rằng mùa khô năm 2014, Bình Đại tiếp tục duy trì và giữ vững độ che phủ của các diện tích rừng. (Bentre.gov.vn 16/12) đầu trang(
Trong khi cả xã hội đang chung tay bảo vệ động vật thì tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, thịt động vật hoang dã vẫn được chào mời và buôn bán một cách khá nhộn nhịp.
Sóc rừng giá 65 nghìn đồng/con, Hoẵng 420 nghìn đồng/kg, Cầy vòi 450 nghìn đồng/kg, Dúi 300 nghìn đồng/con,… Đó là cái giá mà hễ ai có nhu cầu muốn mua- ăn thịt đều có thể dễ dàng được phục vụ tại một hàng quán nào dọc tuyến đường Hồ Chí Minh trong khuôn viên khu bảo vệ Vườn quốc gia Cúc Phương.
Từ xã Thạch Lâm (Thanh Hoá) đến xã Ân Nghĩa (Hoà Bình) thật không khỏi bàng hoàng khi "mắt thấy, tai nghe” chứng kiến cảnh mua, bán thịt thú rừng diễn ra một cách ngang nhiên. Điều đặc biệt, hai xã kể trên đều nằm trong khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc Gia Cúc Phương (VQGCP).
Trong vai của một khách hàng PV đã tìm đến các nhà hàng để tìm hiểu. Tại nhà hàng Điểm hẹn Cúc Phương- Quán gió hương rừng trên địa bàn xã Ân Nghĩa (Hoà Bình), ngay khi ngỏ ý "muốn mua một ít thú rừng mang về” nữ nhân viên này trả lời "có thịt Hoẵng, Lợn rừng,… riêng thịt Sóc hôm nay vừa mới hết”. Tiếp đó, một nhân viên nam cho biết thêm "Thịt Hoẵng giá 420 nghìn đồng/kg nhưng hôm nay  chỉ đủ bán tại quán, không đủ để bán mang về”.
Để minh thực cho cảnh mua bán thú rừng đang diễn ra tại đây, PV tiếp tục dừng chân tại một nhà hàng khác mang tên Quang Đức (Thanh Hoá). Có điều, nhà hàng này có vị trí nằm ngay sát nách Trạm kiểm lâm số 4 huyện Thạch Thành (Thanh Hoá) nhưng những hoạt động mua bán, xẻ thịt thú rừng cũng ngang nhiên không kém.
Một nam nhân viên giới thiệu: "Nhà hàng có nhiều loại đặc sản rừng như Gà đồi, Dê núi. Đặc biệt có các loại thịt thú rừng như: Sóc, cầy vòi, cầy hương với giá dao động từ 100 nghìn đồng/con (mang về) còn nấu ngay thì 110 nghìn đồng/con đối với Sóc; Cầy vòi thì có giá cao hơn từ 450 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng/con; Cầy hương thì hơn 1 triệu”...
Điều khiến PV không khỏi xót xa trước câu nói của một nhân viên nam tại một nhà hàng rằng: "Vào bất cứ quán nhỏ nào ven đường hay một cửa hàng sang trọng thì những "thượng đế” như các anh khi ngỏ ý muốn ăn thú rừng cũng đều được phục vụ hết ý”.
Không hiểu trách nhiệm của "cái Trạm kiểm lâm 04” kia và Chính quyền địa phương sở tại đặt ở đâu? Hay chăng câu nói đùa của một người dân với PV: "chính các bác ấy là những người tiếp tay đắc lực, là đầu ra tiêu thụ cho nạn săn bắt thú rừng?”.
Đem câu chuyện mua bán thú rừng trao đổi với ông Tạ Đức Biên – Hạt phó Hạt kiểm lâm Cúc Phương (đóng trên địa bàn xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình). Khi PV phản ánh sự việc, cung cấp video ghi lại trong quá trình tác nghiệp thâm nhập thực tế để làm tư liệu minh chứng cho những gì đã phản ánh trên là hoàn toàn có thật thì ông Biên tỏ thái độ niềm nở:  "Thông tin các anh cung cấp là rất đáng quý! Chúng tôi rất cảm ơn và ngay ngày mai chúng tôi sẽ cho người kiểm tra”.
Ông Biên tâm sự, hai địa chỉ quán PV phản ánh, một là của Bí thư Đảng bộ xã Ân Nghĩa (Hoà Bình), một là của Hiệu trưởng trường cấp I, II Thạch Lâm (Thanh Hoá) và nhấn mạnh, "toàn là những người có trách nhiệm cả đấy!”. (Đại Đoàn Kết 19/12, tr10) đầu trang(
Sáng 18/12 tại Hà Nội, Tổ chức Động vật Châu Á và Trung ương Hội Đông y Việt Nam tổ chức Lễ trao giải cuộc thi "Thay thế sử dụng mật gấu bằng 32 cây thuốc, vị thuốc đông y - Biến ý tưởng thành hành động, vì cộng đồng, cùng chung tay bảo vệ loài gấu".
Cuộc thi hướng đến việc kêu gọi sự ủng hộ và đồng thuận của các thầy thuốc, lương y, bác sỹ đông y trên toàn quốc cam kết không sử dụng, kê đơn thuốc chữa bệnh có sử dụng mật gấu và các sản phẩm từ gấu nhằm góp phần bảo tồn các loài gấu Việt Nam, đồng thời duy trì phát triển bền vững các cây thuốc nam của đất nước.
Kết quả, 9 thầy thuốc đông y, đại diện cho 70.000 thầy thuốc của các chi hội đông y trên toàn quốc có bài dự thi xuất sắc đã được vinh danh trong lễ trao giải.
Trong đó, hai giải Nhất, mỗi giải trị giá 10 triệu đồng được trao cho thầy thuốc Phùng Sinh Suốt (Hà Giang), Nguyễn Văn Mười (Cần Thơ); hai giải Nhì, mỗi giải trị giá 5 triệu đồng thuộc về thầy thuốc Vù Xín Minh (Hà Giang), Phạm Xuân Nguyên (Thanh Hóa).
Ngoài ra, còn có 5 giải Ba mỗi giải trị giá 2 triệu đồng được trao cho các thầy thuốc thuốc đến từ các tỉnh Quảng Ninh, Hà Giang, Nghệ An và Tây Ninh.... (Nông Nghiệp Việt Nam 19/12, tr4) đầu trang(
18/12, tại Khu di tích mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp), Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam tổ chức lễ công nhận cây Khế, cây Sộp tại Khu di tích mộ cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc là cây Di sản Việt Nam.
Cây Khế, cây Sộp là những cây cổ thụ đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp đồng thời là một trong số rất ít những cây đặc biệt ở nước ta được công nhận là cây Di sản Việt Nam, đưa tổng số cây Di sản Việt Nam lên 719 cây.
Cây Khế 287 năm tuổi và cây Sộp 326 năm tuổi được ông Ngô Văn Hay tức thầy giáo Kỳ ở làng Tân Hưng, Sa Đéc trước đây vì mến mộ và biết ơn cụ Phó Bảng đã hiến tặng cho Khu di tích Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vào năm 1977. Đây là những thực thể sống đã trường tồn cùng thời gian, là minh chứng lịch sử của Đồng Tháp trong suốt gần 3 thế kỷ.
Được biết, trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và Mỹ, khi còn được trồng trong sân nhà và vườn kiểng của thầy giáo Kỳ ở làng Tân Hưng, Sa Đéc (nay thuộc phường 4, thành phố Sa Đéc), gia đình thầy giáo Kỳ đã đào hầm phía dưới 2 gốc cây này để che giấu cán bộ cách mạng và chưa lần nào bị địch phát hiện. Cùng với những cây kiểng quý khác trong sân nhà và vườn cây kiểng của thầy giáo Kỳ, cây Khế và cây Sộp chính là di tích che giấu cán bộ tại Sa Đéc.
Tại buổi lễ, ông Nguyễn Hòa Bình - đại diện Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã trao bằng công nhận cây Khế, cây Sộp là 2 cây Di sản Việt Nam cho ông Nguyễn Công Lý, đại diện Khu di tích mộ cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc đồng thời kêu gọi mọi người cùng nhau gìn giữ lâu dài những di sản vô giá này cho con cháu mai sau, qua đó, tiếp tục bảo tồn nguồn gen tiêu biểu của nước ta, giới thiệu phong phú, đa dạng của hệ thực vật Việt Nam với bạn bè thế giới.
Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam mong muốn mọi người góp phần nâng cao ý thức tôn trọng lịch sử, tôn trọng tự nhiên và trách nhiệm bảo vệ 2 cây Di sản này. (Tin Tức 19/12) đầu trang(
Phòng, chống cháy rừng là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng không chỉ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn góp phần giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, tài sản quốc gia và nhân dân.
Với phương châm “4 tại chỗ”, những năm qua, công tác phòng, chống cháy rừng (PCCR) trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, công tác này hiện mới chỉ chủ yếu “phòng” là chính, còn việc “chống” lại đang khá bị động trong huy động nguồn lực khi có cháy rừng xảy ra.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, đến thời điểm này, cơ quan chức năng đã thẩm định xong phương án PCCR mùa khô năm 2014-2015 của các đơn vị chủ rừng (phần lớn là các công ty, ban quản lý, bảo vệ rừng công lập).
Bên cạnh đó, đối với chủ rừng ngoài công lập đang triển khai phương án PCCR 5 năm, đơn vị cũng đã chỉ đạo các đơn vị chủ động rà soát, bố trí nguồn lực để triển khai nghiêm túc các danh mục theo phương án đã phê duyệt. Qua rà soát cũng như trên cơ sở phương án của các đơn vị, mùa khô năm 2014-2015, địa bàn toàn tỉnh xác định có khoảng 33.630 ha diện tích rừng trọng điểm dễ xảy ra cháy.
Trên cơ sở đó, các đơn vị đã đưa vào phương án phòng, chống cháy rừng như đốt dọn thực bì, giảm vật liệu cháy, làm đường băng cản lửa, thường xuyên theo dõi và cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng và tăng cường công tác tuyên truyền, quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy của người dân…
Trên cơ sở đó, tùy vào điều kiện thực tiễn, các đơn vị sẽ xây dựng kế hoạch, triển khai các đợt cao điểm về tuyên truyền, bố trí nhân lực, vật lực, lập phương án và tổ chức các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để PCCR một cách thiết thực, hiệu quả.
Để chủ động theo phương châm “4 tại chỗ” (là lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ), ngoài việc tăng cường công tác phối hợp giữa chính quyền, đoàn thể, người dân và đơn vị chủ rừng, Chi cục Kiểm lâm cũng đã chỉ đạo hạt kiểm lâm các huyện, thị xã tham mưu cho chính quyền địa phương củng cố, kiện toàn và bổ sung lực lượng trực tiếp và gián tiếp cho các ban PCCR; thành lập các tổ, đội phòng, chống cháy rừng xung kích tại các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao, đảm bảo sẵn sàng ứng phó khi xảy ra cháy rừng.
Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng đã rà soát, tu bổ và xây dựng mới các biển báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng; quy định cụ thể các khu vực nghiêm cấm đốt nương rẫy và hành vi dùng lửa khác ở những khu vực có nguy cơ cháy rừng theo quy định.
Qua phương án đã được phê duyệt của các đơn vị cho thấy, nguồn kinh phí bố trí cho các danh mục trong phương án PCCR chủ yếu dành cho công tác phòng như tuyên truyền, vận động, thực hiện các phương án giảm vật liệu cháy…
Trong khi đó, kinh phí bố trí để trang bị các dụng cụ dập lửa, hóa chất chống cháy, phục vụ hậu cần khi phát sinh cháy rừng là rất ít. Nguyên nhân theo các đơn vị chủ rừng (chủ yếu là các công ty, ban quản lý, bảo vệ rừng công lập) thì đây là thực trạng chung của các đơn vị do khó khăn trong cân đối tài chính hiện nay.
Qua 24 đơn vị đã được Chi cục Kiểm lâm phê duyệt phương án PCCR mùa khô năm 2014-2015, bình quân kinh phí bố trí cho công tác này tại mỗi đơn vị chỉ hơn 60 triệu đồng mỗi năm, chỉ bằng khoảng 1/3 yêu cầu kinh phí thực tế. Số kinh phí này chỉ đủ phục vụ cho việc tổ chức tuyên truyền, in ấn tài liệu, tờ rơi, bản cam kết và thực hiện một số danh mục khác.
Điều này đã dẫn đến thực trạng là hầu hết các phương tiện, công cụ chống cháy rừng tối thiểu như bình xịt hóa chất, vĩ dập lửa, máy bơm lưu động… tại các đơn vị chủ rừng rất ít được trang bị, nếu có thì số lượng khá khiêm tốn.
Trong khi đó, qua thực tế công tác chống cháy rừng thời gian qua cho thấy, khi xảy ra cháy rừng, đa phần lực lượng được huy động chủ yếu dùng các phương tiện thô sơ tự có như cành cây, nước, cuốc xẻng để dập lửa, hạn chế đám cháy, còn các phương tiện chữa cháy chuyên dụng rất ít. Điều này đã làm giảm công năng, hiệu quả dập lửa dẫn đến hậu quả tiêu cực do cháy rừng cao.
Bên cạnh đó, mặc dù đã có quy định khi xảy ra cháy rừng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm có quyền trưng dụng, huy động máy móc phục vụ công tác phòng, chống cháy rừng nhưng thực tế việc huy động này cũng khá khó khăn vì nhiều nguyên nhân như địa bàn xảy ra vụ cháy xa so với phương tiện hiện có; nhiều đối tượng chưa thực sự hợp tác nên từ chối bằng nhiều hình thức, lý do…
Cũng vì thiếu kinh phí nên nếu xảy ra cháy rừng, địa phương, đơn vị chủ rừng thường rơi vào thế bị động trong công tác hậu cần dẫn đến tính kịp thời, quyết liệt trong triển khai phương án còn thấp. Chưa kể đến, một số doanh nghiệp tư nhân có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng chỉ mới quan tâm đến lợi nhuận mà chưa thực sự xem trọng công tác này nên kinh phí bố trí để mua sắm dụng cụ, trang thiết bị PCCR rất ít.
Từ đây cho thấy, để công tác PCCR một cách hiệu quả theo phương châm “4 tại chỗ”, ngoài việc tăng cường công tác phòng cháy, các đơn vị, địa phương cũng cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề chủ động nguồn lực chống cháy một cách hiệu quả. (Báo Đắc Nông 18/12) đầu trang(
Báo Quảng Trị có bài “Rừng phòng hộ Tây Vĩnh Linh bị tàn phá, ai chịu trách nhiệm”, phản ánh tình trạng các đối tượng ngang nhiên xâm hại, chặt phá những cánh rừng phòng hộ phía Tây huyện Vĩnh Linh, trên địa bàn xã Vĩnh Hà diễn ra trong nhiều năm nhưng chưa được ngăn chặn hiệu quả.
Từ thông tin phản ánh của báo chí, huyện Vĩnh Linh đã cử 2 đoàn đến xã Vĩnh Hà để nắm hiện trường vụ việc. Trong đó ngày 26/11/2014, Đoàn công tác của huyện gồm: Phòng Tài nguyên- Môi trường, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải, Ban Quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải, Hạt Kiểm lâm, lãnh đạo UBND và cán bộ địa chính xã Vĩnh Hà.
Do báo cáo của đoàn kiểm tra lần thứ nhất chưa phản ánh đầy đủ sự việc đang xảy ra nên ngày 6/12/2014, UBND huyện cử tiếp đoàn liên ngành gồm: Phòng Nông nghiệp-PTNT, Phòng Tài nguyên- Môi trường, Hạt Kiểm lâm, Công an huyện. Cũng trong ngày này còn có thêm đoàn kiểm tra của Chi cục kiểm lâm và Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh cùng đến hiện trường.
Đáng chú ý là trong lần kiểm tra thứ nhất khi đoàn vào hiện trường thì gỗ được vận chuyển, tẩu tán gần hết; lần thứ hai phát hiện có thêm 3 bãi gỗ đang tập kết với nhiều cây gỗ từ rừng tự nhiên mới bị chặt phá, chưa vận chuyển. Điều đó cho thấy những kẻ phá rừng coi thường pháp luật, coi thường các ngành chức năng và chính quyền địa phương?
Mặc dù qua hai lần đến tìm hiểu về vụ việc, đã xác định khu rừng bị chặt phá thuộc tiểu khu 585, 586 trên địa phận xã Vĩnh Hà nhưng vẫn chưa xác định được chủ sở hữu, đơn vị quản lý rừng. Thực tế này cho thấy việc quản lý rừng phòng hộ ở huyện Vĩnh Linh mới chỉ giao trên giấy, như thừa nhận của ngành chức năng của huyện là hiện nay rừng, đất rừng trên địa bàn Vĩnh Linh vẫn chưa được bàn giao cụ thể cho các đơn vị quản lý, bảo vệ.
Ông Võ Văn Sanh, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà nói rõ hơn: “Mọi liên quan đến đất đai và các loại rừng, chủ sở hữu rừng đến nay vẫn chỉ trên giấy tờ. Tôi làm Chủ tịch UBND xã mấy năm nay rồi, nhưng thực tế có quản lý được đất và rừng trên địa bàn đâu”. Sự nhập nhằng này cùng với việc chưa cắm mốc phân định địa giới đã làm cho việc quy trách nhiệm không thực hiện được.
Dù đang có những khó khăn như việc giao đất, giao rừng chưa cụ thể trên thực địa, nhưng cũng cần nói rõ thêm là chính quyền địa phương và ngành chức năng như Kiểm lâm huyện, Tổ bảo vệ rừng xã Vĩnh Hà chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng phá rừng phòng hộ.
Trong lúc đường vận chuyển gỗ vào ra Khe Cau chỉ có một con đường duy nhất. Nếu có quyết tâm bắt giữ và xử lý đối tượng phá rừng thì không phải là điều quá khó. Thực tế trên làm cho người dân rất bức xúc khi mà những đối tượng chặt phá rừng phòng hộ vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, các cơ quan, đơn vị liên quan thì đùn đẩy trách nhiệm đã khiến cho nhiều cánh rừng tiếp tục bị chặt phá tan hoang.
Ai cũng biết những cánh rừng phòng hộ có ý nghĩa quan trọng trong việc chống xói lở đất, bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu, hạn chế lũ lụt… Nếu không bảo vệ được rừng phòng hộ, con người phải trả giá đắt cho những việc làm của ngày hôm nay. (Báo Quảng Trị 19/12) đầu trang(
Vài tháng gần đây, rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều ở tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Rắn lục đuôi đỏ xuất hiện không chỉ ở vùng nông thôn mà còn ở cả các vùng đô thị, thành phố. Số người bị rắn cắn của hai địa phương lên tới 200 ca.
Theo số liệu tổng hợp của khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, chỉ trong tháng 11-2014, khoa tiếp nhận, điều trị cho 37 bệnh nhân bị rắn lục đuôi đỏ cắn.
Trong vòng nửa tháng, từ ngày 1-12 đến 14-12-2014, có thêm 20 ca nhập viện điều trị tại khoa do bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Các chuyên gia ở đây nhận định có thể nguyên nhân loài rắn này tăng đột biến nhiều là do trận lũ lịch sử từ năm 2013. (Công An TPHCM 19/12, tr7) đầu trang(
Mới đây, tổ công tác của Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Bù Gia Mập phối hợp cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng thôn Bù Lư (xã Bù Gia Mập), tổ chức tuần tra, truy quét trên lâm phần đã bắt quả tang Trần Văn Vàng (SN 1986), trú thôn 2 Bù Bưng, xã Đắk Ơ (Bù Gia Mập) cùng một đồng bọn đi xe máy mang theo 2 con gà rừng làm gà mồi, đến khu vực rừng trồng thuộc Tiểu khu 21, Vườn quốc gia Bù Gia Mập để bẫy bắt động vật hoang dã.
Đoàn công tác yêu cầu về Hạt kiểm lâm để giải quyết thì 2 tên này không chấp hành. Đối tượng đi cùng với Vàng đeo trên vai túi đựng dây bẫy, bất ngờ lên xe nổ máy bỏ chạy. Lập tức Vàng tỏ thái độ ngang ngược, không chấp hành và cũng bỏ chạy sang khu vực rẫy của dân.
Đoàn công tác đuổi theo thì bất ngờ bị Vàng cầm rựa sắt lao tới chém tới tấp lực lượng bảo vệ rừng. Trong đó nghiêm trọng nhất là anh Nguyễn Văn Long, Phó trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 1, bị chém gần đứt lìa ngón tay trỏ.
Sau đó, đoàn công tác đã bắt giữ được Vàng, báo cáo về Hạt kiểm lâm đem ôtô đến áp giải về làm việc. Trên đường về, đến đoạn dốc cao, vực thẳm, Vàng đã nhào lên phía trước cướp vô lăng của tài xế, bẻ lái để xe lao xuống vực.
Tài xế cùng các cán bộ trong tổ công tác phản xạ kịp thời, giữ xe kéo lê trên mặt đường gần 20m, rồi đâm vào cột mốc bên đường và may mắn thoát nạn. Đoàn công tác đã dẫn giải Vàng cùng tang vật vi phạm về trụ sở UBND xã Bù Gia Mập, giao công an xử lý. (Người Lao Động 19/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 18/12, trong hội thảo: “Xác định ưu tiên để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã chỉ ra các lĩnh vực cần được ưu tiên để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trong thời gian tới.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong vòng 5 năm qua, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đã tăng hơn 2 lần, từ 6 triệu mét khối năm 2009 lên khoảng 16 triệu mét khối trong năm nay. Khai thác gỗ rừng trồng tự nhiên được quản lý chặt chẽ theo hướng bền vững. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản tăng khoảng 1,5 lần trong vòng 3 năm qua, từ 4,2 tỷ đô la năm 2011 lên 5,7 tỷ đô la năm 2013 và năm nay ước đạt 6,2 tỷ đô la...
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bên cạnh những kết quả đạt được thì sản xuất lâm nghiệp còn nhiều tồn tại và hạn chế như: giá trị, năng suất trên 1 ha rừng trồng còn thấp; chất lượng và khả năng cạnh tranh chưa cao; tăng trưởng của ngành và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các lâm trường, công ty lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng…
Do vậy, để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, các chuyên gia về rừng cho rằng, cần tập trung nghiên cứu tạo vùng nguyên liệu cung cấp gỗ lớn cùng với mũi nhọn đột phá bằng chọn tạo giống mới ngoại lai và bản địa, kể cả cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị, có lợi thế cạnh tranh, giảm tỷ lệ gỗ nguyên liệu nhập khẩu mới, nâng cao được giá trị gia tăng của ngành.
Theo ông Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam: “Luật Khoa học và Công nghệ được Quốc hội thông qua năm 2013 và Nghị định 08 của Chính phủ hướng dẫn thực thi luật có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu với nhiều giải pháp mới, phục vụ thiết thực tái cơ cấu lâm nghiệp. Cùng với việc đổi mới chính sách và thể chế trong lâm nghiệp để tạo mối liên kết trong lâm nghiệp”.
Còn theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn: “Khoa học và công nghệ cũng như các nghiên cứu được áp dụng vào lĩnh vực lâm nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện tái cơ cấu của ngành nông nghiệp. Mục tiêu đặt ra là phải nâng cao chuỗi giá trị của hàng hóa lâm sản thông qua nâng cao năng suất và đảm bảo thị trường đầu ra tiêu thụ các mặt hàng lâm sản. Để làm được điều này thì các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ khoa học đóng vai trò rất quan trọng”.
Các đại biểu cho rằng, lâm nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, vừa góp phần phát triển kinh tế vừa ổn định chính trị - xã hội, vì vậy mục tiêu ưu tiên nghiên cứu phải sát với thực tế.
“Nếu chúng ta chỉ làm nghiên cứu trong nước thì chắc chắn những kết quả về lâm nghiệp rất khó cho việc ứng dụng ngay vào sản xuất. Tôi sợ rằng những vấn đề chúng ta xác định bắt đầu nghiên cứu từ hôm nay chưa chắc đến năm 2020 đã đưa vào sản xuất được”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhận định.
Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, sản phẩm lâm nghiệp có chu kỳ dài, để tạo ra một giống mới, có khi phải mất hàng chục năm.
Do vậy, “Chúng ta phải tranh thủ tận dụng thành tựu khoa học của quốc tế để nghiên cứu chuyển giao và ứng dụng vào Việt Nam. Đồng thời phải nhanh chóng chuyển giao khoa học vào sản xuất đối với những tổ chức, cơ sở sản xuất chế biến, và có những giải pháp ưu tiên để những doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và ứng dụng ngay”, ông Tuấn nói.
Còn theo ông Võ Đại Hải thì “Mục tiêu nghiên cứu áp dụng khoa học cần ưu tiên vào công nghiệp rừng và chế biến lâm sản. Trong đó, liên kết các hộ trồng rừng hướng đến nâng cao chuỗi giá trị trong chuỗi sản xuất từ sản phẩm gỗ nguyên liệu, công nghiệp chế biến đến khâu tiêu thụ….”.
Cùng quan điểm này, ông Nguyễn Xuân Khoát, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cho biết thêm: “Phải tập trung nghiên cứu ứng dụng và phát triển hệ thống kỹ thuật thâm canh rừng và chế biến lâm sản bằng công nghệ cao, đồng thời chuyển hóa một phần rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn”.
Đồng thời, cũng theo ông Khoát, cần đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phải tăng cường khảo nghiệm mở rộng các giống mới được công nhận; sản xuất thử và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng và nhiều hơn các giống mới, các tiêu chuẩn, quy chuẩn đến tận chủ rừng, đặc biệt là thu hút được các doanh nghiệp cùng tham gia. (Tin Tức 19/12) đầu trang(
Nếu không có chiến lược đầu tư cho các giống lâm nghiệp gỗ lớn chất lượng, ngành lâm nghiệp sẽ bị “keo hóa”!...
GS.TS Nguyễn Xuân Quát (Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng) cảnh báo như vậy trước nguy cơ khắp nơi phát triển tràn lan bạch đàn, đặc biệt là keo lai....
GS.TS Nguyễn Xuân Quát cho biết: Thời gian qua, chúng ta cũng có những thành tựu trong nghiên cứu về lâm nghiệp. Trong điều kiện đầu tư chưa tương xứng, cơ chế còn bất cập, người làm nghiên cứu lĩnh vực lâm nghiệp đạt được như vậy theo tôi cũng là tốt rồi.
Bởi nghiên cứu lâm nghiệp có đặc thù rất đặc biệt so với các ngành khác, đụng tới cả KT-XH, môi trường, chu kỳ nghiên cứu quá dài, địa bàn nghiên cứu rất rộng, điều kiện nghiên cứu hết sức khó khăn. Một số cây mọc nhanh, kể cả cây gỗ lớn chúng ta cũng đã có bộ giống chọn tạo được rất tốt.
Vấn đề là chưa có chính sách để đưa nó ra SX bởi nhiều nguyên nhân. Một đất nước từng được đánh giá có lợi thế về tài nguyên rừng, vậy nhưng ngành SX đồ gỗ hàng năm vẫn phải nhập khẩu gỗ nguyên liệu với khối lượng lớn.
Chúng ta có những giống cây gỗ lớn bản địa mọc nhanh, sinh khối lớn và có chất lượng, hoàn toàn có lợi thế cạnh tranh, nhưng chính sách cho cây gỗ lớn lại vô cùng ít. Cây bản địa nói chung mọc chậm, chậm cho sản phẩm, và nghiên cứu để ra được một giống cũng đòi hỏi công phu.
Thế nhưng lâu nay lại muốn cơ quan nghiên cứu khoa học cứ phải có sản phẩm ngay, đề tài nghiên cứu thì chỉ 3 năm, 5 năm nên không ra được giống. Thế nên ông nào cũng chỉ nhăm nhăm làm keo, bạch đàn, đây vốn là cây ưa sáng, mọc nhanh nên làm cái là ăn ngay.
Vì vậy bây giờ số lượng giống keo, giống bạch đàn trồng ngắn hạn để bán dăm gỗ thì nhiều vô kể, nhưng giống cây gỗ lớn, cho ra gỗ xẻ giá trị cao thì không tìm đâu ra. Hiện nay khắp nơi đâu đâu cũng chỉ trồng keo lai, bạch đàn. Nếu không khéo, 10 hay 15 năm nữa thôi, ngành lâm nghiệp Việt Nam sẽ bị “keo hóa” tất. Tới lúc đó chưa nói tới chuyện nâng cao giá trị ngành lâm nghiệp, mà môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, phát triển bền vững ngành lâm nghiệp sẽ đối mặt với không ít vấn đề.
Đến nay chúng ta đã chọn tạo, dự tuyển được khoảng 146 loài và giống cây lâm nghiệp, trong đó có khoảng gần 60 loài và giống có thể phục vụ tốt cho rừng sản xuất. Đi kèm với đó là khoảng gần 4.000 ha vườn giống, 900 vườn ươm, trong đó có 230 ha vườn cây đầu dòng...
Tuy nhiên, như đã nói, do nhiều cơ chế mà việc nghiên cứu, mức độ cải thiện giống còn thấp, chỉ tự chọn lọc ở rừng chuyển hóa ra mà thôi, chứ chưa được lai tạo, chưa được nhân giống bằng công nghệ cao, đặc biệt là chưa có cải thiện bằng công nghệ di truyền, mà bây giờ muốn có giống chất lượng cao nhất quyết phải có cải thiện bằng công nghệ di truyền.
Hiện đang đề xuất đầu tư để nghiên cứu chọn tạo sâu nhằm cho ra giống cây gỗ lớn đối với một số loài như cây mỡ, sa mộc, dổi xanh, dổi ăn hạt... Đây là những loài gỗ lớn, nếu cho ra được giống tốt thì tốc độ phát triển không kém nhiều so với keo lai, keo tai tượng hay bạch đàn, chu kỳ khai thác chỉ khoảng 10-12 năm đã có gỗ lớn....
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, ngay ở quyết định thành lập của Chính phủ cũng đã nói rõ là cơ quan nghiên cứu đầu ngành hạng đặc biệt, nhưng cơ chế, chính sách cho Viện thì không có gì đặc biệt cả. Đội ngũ cán bộ trẻ nhiều, nhưng trong khi các nhà khoa học đầu ngành dần dần đã hết vẫn chưa thấy lực lượng kế tục.
Điều này do thu nhập cán bộ thấp quá, cán bộ trẻ không còn tâm huyết. Về đầu tư thì nhiều năm qua liên tục giảm, trước đây mỗi năm 10-15 đề tài nay chỉ còn 4-5 đề tài. Đầu tư hạ tầng, phòng thí nghiệm trọng điểm chưa tới nơi tới chốn. Đặc biệt đất đai nghiên cứu, thực nghiệm cũng không.
Nghiên cứu giống lâm nghiệp mà không có đất thì làm thế nào đây? Về đề tài nghiên cứu, nhất quyết phải chuyển sang dài hạn, nối pha, chứ không thể 3 năm, 5 năm lại nghiệm thu đề tài được. Làm giống lâm nghiệp mà 3 năm thì làm sao có thể ra được giống!... (Nông Nghiệp Việt Nam 19/12, tr7) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp...
Theo đó, việc sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp nhằm xác định cụ thể người sử dụng đất, chủ rừng, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, bảo vệ và phát triển rừng, tài nguyên rừng; tạo sự chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp; gắn với công nghiệp chế biến và thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa.
Các công ty nông, lâm nghiệp làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh là chính thì chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường và thực hiện cổ phần hóa; các công ty nông, lâm nghiệp làm nhiệm vụ công ích là chính thì thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch.
Phương án sắp xếp, đổi mới Cty nông nghiệp: Cụ thể, theo phương án sắp xếp, đổi mới công ty nông nghiệp, Nhà nước sẽ duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty nông nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm các công ty nông nghiệp tại các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Cùng với đó là chuyển công ty nông nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối đối với công ty nông nghiệp có ngành nghề kinh doanh chính là trồng, chế biến cao su tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa gắn với quốc phòng, an ninh.
Phương án sắp xếp, đổi mới Cty lâm nghiệp: Về phương án sắp xếp, đổi mới công ty lâm nghiệp, sẽ duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty lâm nghiệp có diện tích rừng sản xuất là:
1- Rừng tự nhiên giàu và trung bình từ 70% diện tích đất được giao, thuê trở lên và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững, được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận;
2- Rừng tự nhiên chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và chưa được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững, rừng phòng hộ, rừng đặc đặc dụng từ 70% diện tích đất được giao, thuê trở lên thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.
Bên cạnh đó, chuyển thành ban quản lý rừng phòng hộ hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập có thu đối với công ty lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có diện tích rừng phòng hộ tập trung từ 70% diện tích đất được giao, thuê trở lên.
Chuyển công ty lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối đối với công ty lâm nghiệp có diện tích rừng sản xuất là rừng trồng và đất quy hoạch trồng rừng sản xuất từ 70% diện tích đất được giao, thuê trở lên tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa gắn với quốc phòng, an ninh.
Giải thể Cty nông, lâm nghiệp nếu kinh doanh thua lỗ Nghị định cũng nêu rõ, thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên trên cơ sở sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nhằm thực hiện gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển công nghiệp chế biến và thị trường…
Ngoài ra, các trường hợp giải thể công ty nông, lâm nghiệp cũng được quy định rõ gồm: Kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp vì lý do chủ quan của công ty và có số lỗ lũy kế bằng 3/4 vốn nhà nước tại công ty trở lên; Khoán trắng, giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai và sản phẩm trên diện tích chiếm từ 3/4 tổng diện tích đất công ty được giao, thuê...
Ngoài ra, Nghị định cũng nêu các cơ chế, chính sách sắp xếp, đổi mới và phát triển công ty nông, lâm nghiệp như cơ chế, chính sách về giao đất, cho thuê đất; quản lý, sử dụng rừng; tài chính; đầu tư... (Nông Nghiệp Việt Nam 18/12) đầu trang(
Từ khi Nghị định số 23 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng có hiệu lực thi hành vào năm 2006, tại 55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 2.320 dự án đầu tư chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải trồng lại rừng với tổng diện tích 76.040 ha.
Tuy nhiên, đến cuối năm ngoái mới trồng được 2.540 ha, diện tích còn lại phải trồng là 73.500 ha. Tính đến tháng 12/2014, mới có 28/55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trồng rừng thay thế với 7.191 ha. Trong đó, diện tích rừng trồng trong năm 2014 là 4.648ha, đạt 35% tiến độ kế hoạch năm.
Nhiều chủ dự án chưa thực hiện, trong đó đáng chú ý là 27 dự án phải trồng rừng thay thế trên 100 ha như dự án thủy điện Trung Sơn (Thanh Hóa) với 1.179,3ha, công ty CP thủy điện Hủa Na (Nghệ An) với 1.433,1ha, Dự án thủy điện Lai Châu, Lai Châu với 1.533,8ha, Thủy điện Đồng Nai 3/1, Đăk Nông với 2.639,8ha…
Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, hiện công tác trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, đặc biệt là chuyển đổi sang làm thủy điện vẫn còn nhiều bức xúc. Trong đó, ở nhiều địa phương, công tác này vẫn còn chậm và thực hiện chưa nghiêm túc, gây ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng thay thế theo kế hoạch đề ra.
Nhiều chủ dự án không thực hiện đúng trách nhiệm xây dựng phương án trồng rừng thay thế, thậm chí có biểu hiện trây ì, nhất là đối với các dự án đã hoàn thành việc khai hoang, chuyển mục đích sử dụng rừng và các dự án đã hoàn thành.
Ông Trương Phước Anh, Giám đốc Sở NN&PTNT Gia Lai, cho biết, hiện Gia Lai có 15 dự án với 667ha rừng trồng thay thế, tuy nhiên đến nay mới triển khai chuẩn bị trồng thay thế được 7 dự án, còn 8 dự án với 218ha chưa có chuyển động.
Do vậy, ông Anh cũng nêu khó khăn, sở dĩ đến nay chưa thực hiện đúng tiến độ là do thời tiết không cho phép, các chủ dự án “chưa nghiêm, chưa ngoan” trong việc trồng rừng thay thế bởi do đặc thù địa hình của tỉnh, dẫn đến suất đầu tư cho 1ha trồng rừng thay thế chênh lệch lớn, biến động từ 60 - 100 triệu đồng/ha (chi phí lớn).
Hay giải thích cho sự chậm trễ của các dự án thủy điện, ông Dương Quang Thành, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cho rằng một số dự án cũng đã quyết toán xong nguồn kinh phí trồng bù rừng nhưng đang gặp vướng mắc như số hécta trồng bù rừng lớn trong khi quỹ đất tại địa địa phương không đủ.
“Phải có đất giao chủ đầu tư thì chủ đầu tư mới có thể lập phương án trồng bù được. Bên cạnh đó, đơn giá của các địa phương lại khác nhau giao động từ 15 đến 130 triệu đồng/ha, khó khăn cho việc lập phương án trồng bù rừng”, ông Thành nói.
Tuy nhiên, trước khó khăn về quỹ đất trồng rừng, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), lại cho rằng Thông tư 24 đã quy định rõ về các dự án trong tỉnh không bố trí được quỹ đất trồng rừng, phải nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.
Trong điều kiện tỉnh cũng không bố trí được quỹ đất trồng rừng thì sẽ nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam để Bộ NN&PTNT cân đối trồng bù diện tích rừng ở các địa phương khác trong tỉnh hoặc ở các địa phương khác có quỹ đất.
Đồng thời, nếu nhìn nhận một cách thẳng thắn, kết quả trồng rừng thay thế đạt thấp so với kế hoạch đề ra là do nhiều địa phương thiếu quan tâm chỉ đạo và chưa phân công cụ thể việc tổ chức thực hiện, chưa chủ động tháo gỡ vướng mắc và đôn đốc các chủ dự án thực hiện trách nhiệm pháp lý về trồng rừng thay thế trên địa bàn.
Trong khi các chủ dự án được phê duyệt chuyển mục đích sử dụng rừng không thực hiện quy định của pháp luật, dẫn đến tồn đọng kéo dài, việc giải quyết phức tạp hơn, làm cho quy định của pháp luật không được thực hiện nghiêm túc; nhận thức về trồng rừng thay thế ở nhiều nơi còn thiếu nhất quán, nên thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm.
Đặc biệt, một số địa phương chấp thuận cho chủ dự án nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh nhưng lại sử dụng sai mục đích, để vốn tồn đọng, thậm chí sử dụng số tiền đã thu để chi cho các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng thay vì chỉ sử dụng cho thực hiện nhiệm vụ trồng rừng thay thế.
Vì vậy, ông Ngãi cho rằng trước hết cần nâng cao trách nhiệm của các DN, chủ đầu tư về trồng rừng thay thế; tăng cường thông tin, truyền thông đến các chủ dự án nhằm thực hiện đúng chỉ đạo của Trung ương, Thủ tướng Chính phủ.
Ông Ngãi cũng kiến nghị, đối với những chủ dự án thủy điện trì trệ, đề nghị các Bộ, ngành xem xét không mua điện của các dự án này và chủ đầu tư nào cố ý không chịu làm đề nghị rút giấy phép hoạt động.
Đại diện Bộ Công Thương, cũng khẳng định thời gian tới, Bộ Công Thương cũng thống nhất phương án chỉ cấp phép có thời hạn ngắn (1 năm) đối với các dự án không có phương án trồng bù rừng.
Bộ trưởng Cao Đức Phát cũng đã đưa ra chỉ thị trong quá trình triển khai phải đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ. Kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm trong trồng rừng thay thế; đồng thời buộc trồng rừng thay thế đúng theo quy định ngay trong thời vụ gần nhất.
“Đề nghị lãnh đạo các tỉnh và sở, ngành liên quan đôn đốc, hướng dẫn sâu sát các chủ đầu tư, yêu cầu phải triển khai. Bên cạnh đó, Bộ sẽ hỗ trợ tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về quỹ đất trồng rừng thay thế cho các chủ đầu tư thực hiện trách nhiệm của mình”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Ngoài ra, với các DN, chủ đầu tư gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai trồng rừng thay thế cần dựa vào các cơ quan lâm nghiệp để có kế hoạch bám sát, đảm bảo tiến độ rừng trồng. Đồng thời, các tỉnh triển khai trồng rừng thay thế cần có báo cáo tiến độ thực hiện cho Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/1/2015.
Ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết: Kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm trong việc trồng rừng thay thế. Cán bộ, công chức vi phạm phải xem xét xử lý trách nhiệm công vụ. Trường hợp vi phạm gây hậu quả vượt mức xử lý vi phạm hành chính, kiên quyết đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự người vi phạm.
Cơ quan chức năng không cấp hoặc thu hồi giấy phép hoạt động điện lực đối với các cơ sở không thực hiện nghiêm việc trồng rừng thay thế. Nếu chậm trồng rừng, phạt chủ đầu tư 400-500 triệu đồng. Đơn vị thủy điện nào cố ý không chịu làm sẽ đề nghị rút giấy phép.
Còn ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) nói: Các dự án thủy điện đã lấy rừng tập trung thì phải trả rừng tập trung. Còn trả bằng trồng cây phân tán là không ổn vì việc kiểm soát rừng này thế nào, chăm sóc, bảo vệ ra sao để cây sống, để thực sự có rừng thay thế theo quy định của luật pháp.
Thời gian qua, nhiều chủ đầu tư không nghiêm túc thực hiện các quy định của luật pháp. Nhiều chủ đầu tư còn chưa có phương án trồng, chứ chưa nói đến việc đi trồng cây gì, ở đâu, vốn ở đâu…. Do vậy, nếu không làm quyết liệt từng ngày, vụ trồng rừng năm 2015 cũng không đạt được.
Ông Nguyễn Đức Quyền, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thanh Hóa cho hay: Hiện UBND tỉnh Thanh Hóa đang chỉ đạo các địa phương rà soát quỹ đất để trồng rừng thay thế vào vụ Xuân 2015 từ nguồn kinh phí đã nhận về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh.
Đồng thời, tỉnh Thanh Hóa cũng kiến nghị Bộ NN&PTNT cần phối hợp với Bộ Tài chính xem xét ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn cơ chế, quản lý và sử dụng nguồn tiền ủy thác trồng rừng thay thế từ các dự án có chuyển đổi rừng. (Thời Báo Kinh Doanh 19/12, tr3) đầu trang(
Chiều 16.12, Chủ tịch UBND tỉnh đã có buổi làm việc với huyện Nghĩa Hành và Tổ công tác 1703 của tỉnh liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành.
Theo báo cáo, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, sau khi thanh tra, Tổ công tác đã kết luận: Việc giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của xã Hành Dũng và UBND huyện Nghĩa Hành là trái với quy định. Vì vậy, Tổ công tác kiến nghị phải thu hồi đất và thực hiện việc kê khai đăng ký lại theo đúng quy định của pháp luật.
Phát biểu tại cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Nghĩa Hành phải khẩn trương giải quyết vụ việc. Nguyên tắc xử lý phải thận trọng, chặt chẽ, đúng trình tự của pháp luật. Tiếp tục rà soát, làm rõ kết luận của thanh tra. Khẩn cấp rà soát, phân loại, làm rõ từng đối tượng đã trồng, chăm sóc keo, cũng như làm rõ việc giao đất, sử dụng đất để thu hồi theo đúng quy định của pháp luật.
Trên cơ sở đó, rà soát, lập phương án giao đất cho dân. Sở, ngành và Tổ công tác cần thường xuyên theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc huyện thực hiện và phải có kết luận sơ bộ vụ việc chậm nhất vào cuối tháng 12.2014. (Báo Quảng Ngãi 17/12) đầu trang(
Được xem là “cây tỉ phú” nhưng nhiều nông dân trồng dó bầu để tạo trầm hương ở Đồng Nai, Vũng Tàu... đang khóc ròng vì gặp phải thuốc tạo trầm kém chất lượng.
Trái ngược hoàn toàn với sự sôi nổi của phong trào trồng cây dó những năm trước, thời gian gần đây khi đến Tân Phú, Đồng Nai, dù vào mùa thu hoạch dó bầu để lấy trầm hương nhưng chẳng mấy ai vui.
Nhìn những cây dó bầu sau hai năm cấy thuốc giờ đây phải cắt bỏ, ông Trần Hoàng Tuấn (Núi Tượng, Tân Phú, Đồng Nai) như rớt nước mắt bởi đã đổ hàng tỉ đồng cho việc trồng gần 5.000 cây dó bầu. Chỉ vào các lỗ chi chít trên thân cây dó, ông Tuấn kể mỗi cây dó được khoan hàng trăm lỗ để bơm 3 lít chất tạo trầm nhưng gần hai năm sau trầm vẫn không thấy, ông nhận ra mình đã bị lừa.
“Nếu trồng cây dó không cần cấy thuốc tạo trầm, mỗi cây tôi có thể bán khoảng 7 triệu đồng. Còn nay cây chết, cây rỗng ruột bán không người mua, chưa kể tiền mua thuốc tạo trầm hơn 1,5 tỉ đồng và công sức, thời gian chờ đợi gần hai năm trời. Với số lượng đầu tư 5.000 cây dó bầu, tính sơ sơ tôi đã thua lỗ hơn 2 tỉ đồng” - ông Tuấn buồn bã.
Dù thiệt hại ít hơn ông Tuấn nhưng ông Đinh Hữu Thông (ấp 2, Trà Cổ, Tân Phú, Đồng Nai) đang khổ sở vì phải còng lưng trả món nợ từ giấc mộng trầm hương để lại. Theo ông Thông, để có hơn 250 triệu đồng mua thuốc tạo trầm cấy vào 200 cây dó bầu, ông phải vay khắp nơi, nhưng nay sau gần bốn năm cấy các cây dó đang chết dần do gặp thuốc tạo trầm dỏm, còn đơn vị bán thuốc lặn mất tăm. “Bao nhiêu năm qua ai trúng trầm không biết chứ Tân Phú ai cũng khóc vì trầm” - ông Thông nói như khóc.
Theo ông Ngô Duy Tư, chủ nhiệm Câu lạc bộ Trầm hương tỉnh Đồng Nai, chỉ riêng Tân Phú cuối năm 2012 và đầu năm 2013 có khoảng 40.000 cây dó bầu bị hư, chết do gặp phải thuốc tạo trầm kém chất lượng.
Tương tự, Hội Trầm hương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết hiện hầu như trong tỉnh không còn cây dó để cấy trầm, bởi năm 2012 và 2013 hàng chục ngàn cây 6 - 8 năm tuổi được người dân đổ xô cấy thuốc tạo trầm nhưng do toàn gặp phải thuốc kém chất lượng nên hầu như bị chết, hư.
Anh Trần Văn Mạnh (Q.12, TP.HCM), người đang trồng 20.000 cây dó bầu tại Đà Nẵng, cho biết không dám tin dùng bất cứ chế phẩm tạo trầm nào để cấy vào cây bởi theo anh, trên thị trường dù có hàng trăm cơ sở sản xuất chế phẩm tạo trầm nhưng chưa nơi nào đủ uy tín để thuyết phục anh. “Tôi chấp nhận để không cây dó hơn là “nhắm mắt” cấy chế phẩm tạo trầm với nhiều rủi ro như hiện nay” - anh Mạnh khẳng định.
Trong khi đó, theo ông Trần Hoàng Tuấn, hầu hết các đơn vị cấy thuốc (kèm bán thuốc) đều không chịu ký hợp đồng, không có giấy tờ nào về thông tin sản phẩm thuốc nên nông dân chỉ mua thuốc bằng niềm tin, khi thua lỗ chẳng đòi được đồng nào.
“Khi cấy thuốc, họ khẳng định sau tám tháng cho loại trầm giá 6 triệu đồng/kg, để lâu hơn sẽ cho ra trầm loại 3, loại 4 với giá trên 10 triệu đồng/kg, nếu không sẽ đền bù thiệt hại. Tuy nhiên, từ trước đến giờ chưa thấy ai đền bù, toàn đi lừa nông dân” - ông Tuấn bức xúc.
Ông Nguyễn Văn Minh, phó chủ tịch Hội Trầm hương VN, cũng thừa nhận cả nước hiện có hàng trăm cá nhân, tập thể sản xuất và phân phối chế phẩm kích thích tạo trầm và hầu hết không có chứng nhận chất lượng sản phẩm.
“Do năng lực và thẩm quyền của hội có hạn nên chỉ khuyến cáo người nông dân nên lựa chọn kỹ trước khi sử dụng chất cấy tạo trầm chứ không thể quản lý hay can thiệp vào công việc các đơn vị kinh doanh chất tạo trầm. Việc cấp chứng nhận chất lượng sản phẩm thuốc tạo trầm hiện do các địa phương đảm nhận” - ông Minh nói.
Để giảm thiểu những rủi ro cho nông dân, ông Ngô Duy Tư cho rằng Hội Trầm hương VN nên sàng lọc và đưa vào danh sách các chế phẩm kích thích tạo trầm hương hiệu quả, kèm theo phương pháp sử dụng để nông dân lựa chọn.
Bởi với thị trường chế phẩm kích thích tạo trầm hương hỗn tạp với hàng trăm chủng loại như hiện nay, nếu không quản lý nhiều nông dân sẽ tiếp tục phải trả giá. (Tuổi Trẻ 17/12, tr7) đầu trang(
Chiều 16/12, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã chủ trì cuộc họp trực tuyến về công tác trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác. Tại điểm cầu Lạng Sơn, ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh dự họp.
Hiện nay có 2.320 dự án đầu tư trên địa bàn 55 tỉnh, thành phố chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác. Tổng diện tích rừng phải trồng lại là 76.040 ha. Từ năm 2013 Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã tăng cường chỉ đạo và đã có các giải pháp cụ thể, cũng như cơ sở pháp lý để triển khai trách nhiệm trồng rừng thay thế.
Tuy nhiên tiến độ triển khai rất chậm. Tính hết năm 2014, mới chỉ có 28/55 tỉnh, thành phố trồng rừng thay thế được 7.191 ha. Trong đó diện tích trồng rừng thay thế của các dự án thủy điện trong năm 2014 chỉ đạt 2.445ha, bằng 22% kế hoạch.
Đối với Lạng Sơn, hiện toàn tỉnh có 35 dự án chuyển đổi đất lâm nghiệp có rừng sang các mục đích khác với diện tích 682,6ha. Tuy nhiên đến tháng 12/2014, toàn tỉnh mới chỉ có 2 dự án thực hiện trồng rừng thay thế với diện tích 50ha.
Tại cuộc họp các đại biểu đã tập trung nêu bật những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Trong đó nhấn mạnh việc các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương và chủ dự án chưa quan tâm đúng mức đến trồng rừng thay thế; một số dự án đã hoàn thành, nghiệm thu, quyết toán, ban quản lý dự án đã giải thể... rất khó khăn trong việc quy trách nhiệm. Tại cuộc họp, một số địa phương cũng nêu kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp để triển khai trồng rừng thay thế được tốt hơn.
Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định: Ngay sau cuộc họp này, các chủ dự án cần phải chủ động xây dựng phương án, kế hoạch triển khai; các địa phương cần đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra tình hình triển khai thực hiện. Việc triển khai phải khẩn trương, nghiêm túc theo đúng chỉ đạo của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và quy định pháp luật. (Langson.gov.vn 18/12) đầu trang(
Hiện nay, các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh quản lý khoảng 12.576,1 ha diện tích đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng chiếm 89,7% , đất chưa có rừng chiếm 10,2%.
Bình quân, mỗi năm các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trồng mới từ 800 – 1.000 ha rừng bằng các loại giống mới, có chất lượng; sản xuất cung ứng cho nhân dân địa phương từ 4-5 triệu cây giống lâm nghiệp; khai thác tiêu thụ 40.000 m3 gỗ trồng rừng; doanh thu bình quân của các công ty đạt gần 30 tỷ đồng/năm; góp phần đảm bảo đời sống và việc làm cho gần 200 cán bộ, công nhân viên của các công ty và gần 3.000 hộ gia đình nhận khoán là người địa phương.
Về công tác quản lý sử dụng rừng và đất đai tại các Công ty ngày càng được quản lý chặt chẽ, đi vào hiệu quả. Có 02 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Động và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Mai Sơn đã thực hiện xong việc đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang thuê rừng, thuê đất theo quy định; 02 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế và Lục Ngạn tự bỏ kinh phí thực hiện đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang thuê đất;…
Bên cạnh đó, những kết quả đạt được, các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như: Hầu hết các công ty đều gặp khó khăn về vốn hoạt động; các công ty chưa có chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn, chủ yếu trồng và khai thác gỗ nhỏ, giá trị thấp, việc khai thác chưa gắn với chế biến lâm sản; một số công ty còn để tình trạng nợ đọng kéo dài, chưa có khả năng thanh toán; trong quản lý đất đai vẫn xảy ra tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất lâm nghiệp chưa được giải quyết dứt điểm;…
Tại buổi làm việc, đại diện các công ty và lãnh đạo một số Sở liên quan đã làm rõ những tồn tại, hạn chế  và phương hướng cần khắc phục trong vấn đề quản lý và khai thác rừng của các công ty trong thời gian tới, trọng tâm vào các vấn đề về đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty; kinh phí hỗ trợ người dân trong việc trồng rừng; vấn đề bồi thường tài sản trên đất cho công ty khi thu hồi đất trồng rừng kinh tế chuyển sang đất sản xuất nông nghiệp; những hạn chế trong việc chế biến lâm sản của các công ty;…
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Hải nêu rõ: UBND tỉnh sẽ hỗ trợ kinh phí cho việc đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty còn lại; do đó, đến hết quý I/2015, sẽ hoàn tất việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đảm bảo tính chính xác, nhanh gọn, hiệu quả. UBND tỉnh tiếp tục chi ngân sách cho các công ty quản lý rừng tự nhiên, do đó các công ty cần nâng cao trách nhiệm bảo vệ, quản lý rừng tự nhiên, việc khai thác phải đi đôi với tái tạo và phát triển rừng tự nhiên.
Bên cạnh đó, các công ty cần tiếp tục quản lý chặt chẽ việc cấp Giấy phép khai thác rừng của các hộ dân, tránh tình trạng khai thác rừng tùy tiện, gây thiệt hại kinh tế cho nhà nước trong lĩnh vực quản lý rừng.
Đồng thời, các công ty cần có kế hoạch, hoạch định lại phương thức sản xuất kinh doanh, việc khai thác phải gắn với  chế biến sản phẩm lâm sản, đảm bảo phù hợp với yêu cầu thực tế của từng loại rừng, tạo ra nguồn nguyên liệu mới đáp ứng được nhu cầu của thị trường. (Bacgiang.gov.vn 17/12) đầu trang(
Theo Quyết định ngày 18-12 của UBND tỉnh, trong năm 2015, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa sẽ trồng 30ha rừng thay thế.
Nguồn vốn thực hiện được trích từ nguồn kinh phí do các doanh nghiệp có chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác, sau khi được phê duyệt phương án trồng rừng thay thế đã nộp vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh.
Tại Quyết định này, UBND tỉnh cũng giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan quản lý, giám sát tổ chức thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 theo đúng quy định.
Được biết, ngày 21-8-2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1134/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng khu ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2020. Rừng Định Hóa, là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong quần thể di tích lịch sử cách mạng ATK - Định Hóa.
Theo Quyết định này thì quy hoạch rừng và đất rừng huyện Định Hóa; quy hoạch lại 3 loại rừng của huyện Định Hóa có tổng diện tích đất lâm nghiệp 35.787ha, trong đó rừng đặc dụng 8.728ha, rừng phòng hộ 7.050ha, rừng sản xuất 20.009ha. (Báo Thái Nguyên 18/12) đầu trang(
UBND tỉnh nhiều lần buộc các chủ dự án nhà máy thủy điện phải trồng rừng thay thế (TRTT) theo đúng quy định. Thế nhưng, nghĩa vụ “trả nợ” rừng năm nay đạt rất thấp (3,4% kế hoạch trồng của năm).
Tại cuộc họp trực tuyến với các tỉnh, thành trong cả nước mới đây, Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đưa ra thông điệp xử lý cương quyết với những đơn vị cố tình chậm TRTT.
Theo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, tổng diện tích phải TRTT khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang thi công các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh là hơn 1.371ha. Kế hoạch trồng rừng năm 2014 hơn 700ha, nhưng diện tích sau khi điều chỉnh xuống còn hơn 451ha (giảm 251ha).
Chi Cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp lý giải, nguyên nhân giảm là diện tích rừng bị ảnh hưởng với công trình thủy điện Đắc Mi 4 điều chỉnh từ 300ha theo kế hoạch xuống còn hơn 86ha; công trình thủy điện Geruco Sông Côn xin chậm TRTT đến năm 2015. Mặc dù đến thời điểm cuối năm, nhưng cả tỉnh mới chỉ thực hiện TRTT gần 24/700ha (đạt 3,4% kế hoạch năm).
Ông Lê Minh Hưng – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, công tác TRTT trong năm 2014 đạt tỷ lệ quá thấp so với kế hoạch đã duyệt. Các địa phương, đơn vị đã hoàn thành việc khảo sát, lập và phê duyệt dự án, tổ chức xử lý thực bì, tập kết cây giống đến hiện trường để trồng nên tốn khá nhiều thời gian.
“Nguyên nhân TRTT chậm được xác định là nhiều dự án chưa lập phương án, trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Trong quá trình xây dựng dự án không đề cập việc bồi thường đất và tài sản trên đất, chủ yếu nương rẫy của người dân, ảnh hưởng không nhỏ đến thu hồi đất để trồng” – ông Hưng nói.
Nhiều chủ dự án thủy điện chưa hoặc TRTT rất rề rà như thủy điện Sông Bung 4 còn 105ha rừng chưa trồng, Sông Tranh 2 còn hơn 78ha, Sông Bung 2 chưa trồng đến 426ha… Năm 2013, lãnh đạo Sở NN&PTNT thẳng thừng tuyên bố, nếu chủ đầu tư nào không trồng lại rừng mà còn dây dưa không chuyển tiền trồng lại rừng mới, tỉnh sẽ trích quỹ ký cược của các doanh nghiệp đó để trồng bù lại diện tích rừng bị lấy mất.
Nếu địa bàn nào trong tỉnh không còn đất để trồng rừng thay thế có thể chuyển cho địa bàn khác trong tỉnh để trồng. Tuy nhiên, mọi việc đâu lại hoàn đấy, các cơ quan chức năng chỉ mới dừng lại ở hình thức nhắc nhở chủ dự án, chứ chưa có chế tài xử lý.
Theo quy định, chủ thủy điện có thể nộp tiền vào quỹ bảo vệ và phát triển rừng địa phương nếu không TRTT. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, bất cập là một số địa phương chấp thuận cho chủ dự án nộp tiền TRTT vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh nhưng để vốn tồn đọng, thậm chí đề nghị trung ương cho sử dụng số tiền đã thu để chi cho các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng thay vì TRTT.
Trong khi đó, Bộ Công Thương phân tích, TRTT chậm do nhiều tỉnh hiện không còn quỹ đất hoặc đất không phù hợp để trồng rừng. Một số địa phương chưa xác định được trách nhiệm trong việc bố trí đất trồng rừng hoặc đơn giá đền bù trồng rừng, chủ đầu tư gặp khó về tài chính...
Theo ông Lê Minh Hưng, một trong những vướng mắc cản trở việc TRTT là có địa phương xảy ra tranh chấp đất giữa người dân và đơn vị thi công. Do vậy, nơi nào trồng hơn 30ha mới lập hội đồng phê duyệt phương án. Ngành lâm nghiệp đề xuất, đối với các công trình thủy điện có diện tích rừng chuyển đổi mục đích ít hơn 10ha thì không cần thành lập hội đồng thẩm định phương án mà ngành sẽ tham mưu sở và UBND tỉnh phê duyệt phương án triển khai.
Về lo ngại thiếu đất TRTT, theo các địa phương miền núi, các dự án thủy điện nêu ra lý do này là không thuyết phục, thiếu cơ sở. Chủ tịch UBND huyện Đông Giang – ông Đỗ Tài khẳng định, quỹ đất không thiếu, vấn đề nằm ở chỗ chủ dự án thủy điện có quyết tâm “trả nợ” hay không mà thôi.
Thông tin từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ngành có 13.850ha rừng cần phải trồng thay thế, với giá trị đầu tư trồng bù 800 tỷ đồng. Hiện EVN đã lập phương án trồng 3.850ha, trị giá 190 tỷ đồng. Cái khó là địa phương phải có đất, chủ đầu tư mới lên phương án để TRTT. Đơn giá các địa phương đưa ra với mỗi héc ta rừng cũng khác nhau nên rối rắm trong triển khai thực hiện.
Bộ trưởng Cao Đức Phát nhận định, nhiều chủ đầu tư không nghiêm túc thực hiện các quy định của luật pháp, chưa có phương án trồng, chứ chưa nói đến việc đi trồng cây gì, ở đâu, vốn ra sao… Do vậy, năm 2015, ngành sẽ xử lý nghiêm, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền rút giấy phép dự án nào không hoặc chậm TRTT.
“Chủ dự án nào cố tình vi phạm, ngành sẽ chuyển qua cơ quan công an điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật” – Bộ trưởng Cao Đức Phát nói. Theo quy định, nếu đơn vị nào chậm TRTT trong 1 năm, diện tích trên 50ha sẽ bị phạt 400 - 500 triệu đồng, thực tế rất nhiều đơn vị sai phạm.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, nhiều tỉnh “nợ rừng” lớn nhưng triển khai ì ạch gồm Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Lạng Sơn và Quảng Nam. Trong số 27 đơn vị nợ hơn 100ha mỗi dự án, Bộ NN&PTNT chỉ ra Quảng Nam có 4 nhà máy thủy điện “nợ rừng” như thủy điện Sông Tranh 2 chưa trồng 314ha, Sông Bung 4 hơn 206ha, Sông Bung 5 là hơn 106ha và thủy điện Sông Bung 2 hơn 426ha. (Báo Quảng Nam 19/12) đầu trang(
Sáng 18/12, Đoàn kiểm tra số 2 của UBND tỉnh đã có buổi làm việc với công ty Lâm nghiệp Đường 9 về việc thực hiện công tác dân vận chính quyền và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Thời gian qua, công ty Lâm nghiệp Đường 9 đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, kịp thời đề ra kế hoạch hành động sát đúng với tình hình, đặc điểm thực tế, triển khai có hiệu quả các chỉ thị, nghị định liên quan về quy chế dân chủ.
Các hoạt động của công ty được minh bạch và có sự kiểm tra, giám sát thực hiện của công đoàn cơ sở, công tác cải cách hành chính được thực hiện hiệu quả, không ngừng cải thiện phong cách, lề lối làm việc.
Công tác dân vận chính quyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ công nhân viên được công ty Lâm nghiệp Đường 9 thực hiện nghiêm túc, góp phần thúc đẩy sản xuất, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng chính đáng, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người lao động.
Thông qua đợt kiểm tra này sẽ giúp UBND tỉnh nắm bắt tình hình thực hiện công tác quy chế dân chủ, công tác dân vận chính quyền ở các cơ quan đơn vị, đề ra những giải pháp thiết thực để tiếp tục chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện công tác quy chế dân chủ và dân vận chính quyền trong thời gian tới. (Đài PTTH Quảng Trị 19/12) đầu trang(
Đảo Nhím trong hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng được quy hoạch là đất lâm nghiệp (trồng rừng phòng hộ) từ khi hồ nước đưa vào sử dụng (1985). Cho đến năm 1991, ngành chức năng mới trồng được 49,5 ha cây keo, nhập vào tiểu khu 64 thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Dầu Tiếng.
Diện tích còn lại hơn 320 ha do người dân khai phá, bao chiếm cất nhà, sản xuất nông nghiệp. Từ năm 2003 đến nay, Nhà nước đã chi hàng chục tỷ đồng hỗ trợ di dời hơn 300 hộ dân ra khỏi đảo Nhím để thực hiện các dự án. Thế nhưng hiện nay người dân lại tiếp tục tái chiếm đất đảo để sản xuất và nạn chặt phá, trộm cắp cây rừng cũng diễn ra phức tạp.
Khi các hộ dân được nhận tiền hỗ trợ, bồi thường tài sản trên đất và được cấp đất tái định cư tại Đồng Kèn, đất và các loại cây trồng trên đảo Nhím được giao cho UBND xã Suối Đá quản lý. Qua thời gian, các dự án trên đảo thực hiện không thành công. Việc trồng và bảo vệ rừng trên đảo được giao cho Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh thực hiện, xã Suối Đá chỉ cử một công an viên phụ trách an ninh, trật tự.
Khi 49,5 ha rừng cây keo được phép thanh lý, khai thác; lợi dụng việc này, nhiều người đã tự ý đến khai thác trái phép hàng loạt cây trồng rải rác trên đảo để lấy gỗ. Khi phát hiện, chính quyền địa phương thu giữ được hơn 100m3 gỗ các loại và lập biên bản một số người vi phạm.
Các ngành chức năng của huyện Dương Minh Châu cũng vào cuộc điều tra, làm rõ. Thế nhưng đến nay, sự việc khai thác gỗ trái phép này vẫn chưa được xử lý. Từ khi Bộ CHQS tỉnh bàn giao đất đảo Nhím lại cho huyện, huyện giao cho xã Suối Đá quản lý thì chỉ trong vòng hơn 2 tháng, ở đây tiếp tục phát hiện 7 vụ “lâm tặc” đốn hạ cây rừng (Báo Tây Ninh đã đưa tin).
Trên đảo Nhím hiện có hơn 80 hộ gia đình cất nhà ở để trồng mì và chăn nuôi gia súc gia cầm. Trong đó có 12 hộ dân chưa chịu nhận tiền hỗ trợ, đền bù để di dời. Tổng diện tích sản xuất của 12 hộ này là 22,7 ha, trồng các loại cây ăn trái và khoai mì. Ngoài ra còn có 63 hộ khác tự ý quay lại cất nhà, chòi ở trên đảo, trong số này có 24 hộ ở từ năm 2003 đến nay.
Ông Võ Văn Vui là một trong số hộ thuộc diện di dời ra khỏi đảo, đã 2 lần nhận tiền hỗ trợ, bồi thường và đã nhận 1.000m2 đất thổ cư tại Khu tái định cư Đồng Kèn. Ông đã sang nhượng lại đất thổ cư được cấp cho người khác, tới nay gia đình ông vẫn “bám trụ” trên đảo, không chịu di dời để giao 2 ha đất đang sản xuất cho Nhà nước trồng rừng.
Trong những năm qua, UBND huyện Dương Minh Châu đã nhiều lần tổ chức đoàn cưỡng chế, dùng máy cày phá bỏ hàng chục ha mì do người dân cố tình lấn chiếm đất trồng rừng để canh tác. Tuy nhiên, việc cưỡng chế tháo dỡ nhà, chòi ở trên đất đã bồi thường, hỗ trợ thì chưa thực hiện. Do đó, nhiều hộ cứ “cố lỳ”, các hộ khác thấy vậy làm theo. Cán bộ địa phương đến lập biên bản nhắc nhở phải tháo dỡ, nhưng chẳng thấy ai chấp hành!
Việc trồng rừng do Bộ CHQS tỉnh thực hiện từ năm 2008. Khi có quyết định bàn giao lại cho UBND huyện Dương Minh Châu, thực trạng đảo như sau: diện tích bàn giao là 370,9 ha, trong đó diện tích có rừng là 263,4 ha, gồm: 161,64 ha rừng trồng năm 2008-2009 với tỷ lệ cây sống 75%- 80%; 118,055 ha rừng trồng năm 2012 nhưng thực có rừng chỉ 80,66 ha với tỷ lệ cây sống 40-64%.
Đáng chú ý là trên tổng diện tích đất đã trồng rừng bị người dân lấn chiếm đến 65,72 ha. Việc lấn chiếm đất đi đôi với việc lén lút phá bỏ cây rừng để trồng mì. Trong số đó, chỉ một số rất ít diện tích lấn chiếm đất rừng để trồng mì bị đơn vị trồng rừng dùng máy cày phá bỏ khi mới xuống giống, hầu hết diện tích còn lại chưa bị xử lý.
Bà Trần Mỹ Trang- Chủ tịch UBND xã Suối Đá cho biết, hiện vẫn chưa có quyết định chính thức giao rừng trồng trên đảo Nhím cho xã quản lý. Thực tế, nếu có được giao thì đây cũng sẽ là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, cấp xã khó có thể hoàn thành nhiệm vụ, bởi vì vừa không có lực lượng, không có chuyên môn, vừa không có đủ chức năng, quyền hạn. Trong thực tế, những năm qua, UBND xã Suối Đá cũng đã lập biên bản, xử phạt hành chính khá nhiều trường hợp vi phạm trên đảo Nhím nhưng không đem lại kết quả khả quan nào.
Trong những năm qua, toàn tỉnh đã thực hiện khá tốt việc thu hồi đất lâm nghiệp bị bao lấn chiếm sử dụng sai mục đích để thực hiện việc trồng rừng. Nên chăng, huyện Dương Minh Châu cũng áp dụng các biện pháp kiên quyết, đồng bộ trong việc thu hồi đất để thực hiện việc trồng rừng trên đảo Nhím như đã từng thực hiện ở các dự án rừng khác trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời, việc trồng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng trên đảo Nhím nên giao cho một đơn vị có chuyên môn, đủ năng lực, quyền hạn thì sẽ có hiệu quả cao hơn. (Báo Tây Ninh 19/12) đầu trang(
Nhiều năm qua, ông Lê Văn Đổng (khóm An Định B, thị trấn Ba Chúc, Tri Tôn) trồng thử nghiệm các loại ngải xen vườn xoài ở vồ Đá Bạc và thành công với mô hình “nông – lâm kết hợp” trên đỉnh núi Dài lớn.
Kết quả mang lại nguồn lợi đáng kể, nâng cao thu nhập gia đình, vừa tạo ra cách làm ăn mới, vừa bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Với 50 công vườn đồi ở vồ Đá Bạc (núi Dài lớn), ông Đổng trồng xoài bưởi chiếm hơn 2/3 diện tích, cây giống do Chi cục Kiểm lâm An Giang cung cấp theo chương trình trồng rừng phòng hộ đồi núi.
“Thực hiện Dự án 661, người ta đã lên thiết kế trồng cây theo từng khu vực, đâu phải nơi nào cũng trồng toàn cây rừng, mà có cả xen canh cây ăn trái và cây bản địa” – ông Đổng tỏ ra hiểu biết.
Theo thuật ngữ chuyên ngành, là “kỹ thuật trồng cây hỗn giao” hay còn gọi “phương pháp trồng cây xen canh”, giúp các chủ rừng “lấy ngắn nuôi dài” để gắn bó với rừng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
“Hồi đó, Kiểm lâm cung cấp giống xoài bưởi để trồng xen vườn đồi, vườn rừng thì ít người chịu nhận. Phần lớn họ đắn đo, sợ không hiệu quả, tốn công chăm sóc” – ông Đổng nói.
Đến khi giống xoài ghép cho trái, cư dân vùng núi không khỏi ngỡ ngàng, bắt đầu chú ý theo dõi. Hướng dẫn leo núi Dài lớn, đi thăm miếng vườn đồi của mình, ông Lê Văn Đổng khoe, gia đình vừa thu hoạch trên 1.000kg xoài sớm, bán được khoảng 10.000 đồng/kg.
“Từ nay đến Tết, cây xoài vẫn tiếp tục ra hoa và cho trái liên tục, hết đợt này tới đợt khác. Bây giờ, xoài núi cho trái quanh năm, gần như không có thời gian nghỉ” – ông Đổng lý giải.
Nguyên nhân chính là khi kích thích ra hoa, kết trái, phòng trừ sâu bệnh thường xuyên thì khả năng cây xoài phát triển mạnh, đậu trái tốt và thu hoạch nhanh, chu kỳ khoảng cách thời vụ không xa.
Đối với giống xoài bưởi, xử lý từng đợt ít tốn tiền hơn so với xoài bản địa và xoài cát Hòa Lộc, do tính thích nghi thời tiết khô hạn và khả năng chống chọi sâu bệnh tốt, năng suất rất khả quan.
Vườn của ông Đổng không chỉ trồng xen xoài, mà còn tận dụng mặt đất đồi, hộc đá để trồng thêm các loại ngải, thuộc nhóm dược liệu quý hiếm đang được các nhà chuyên môn và doanh nghiệp nhắm tới.
Ngải trồng dưới tán rừng, ông xem như cây phụ trợ và nông – lâm kết hợp, sưu tập gầy giống ban đầu và dần dà nhân rộng khắp miếng vườn. Mục đích chủ yếu là khai thác tiềm năng đất núi để gia tăng sản xuất, nâng cao giá trị thu nhập, lấy công làm lời.
Ông Đổng cho biết, vườn của ông hiện có khoảng 15 loại ngải, phân bổ đều khắp diện tích 50 công đất đồi núi. “Hễ chỗ nào trống, tui đưa ngải xuống, mùa mưa kết thúc thì đào lên bán. Giá cả thấp, cứ việc bỏ đại, ngải càng già thì củ càng chất lượng. Giống ngải tốt, hổng sợ ế” – ông tự tin.
Đối với cư dân trong khu vực, nếu có nhu cầu sử dụng ngải để làm thuốc, ông cũng sẵn sàng cho không. Khoảng 2 – 3 mùa gần đây, ông Lê Văn Đổng còn thành công khi trồng nghệ xà cừ - một loại củ dùng chế biến dược liệu, đạt năng suất trên 1.000 kg/công, giá bán trên 10.000 đồng/kg.
Ông là thành viên của Tổ hợp tác trồng nghệ xà cừ ở khu rừng Thalot (núi Cấm, xã An Hảo, Tịnh Biên), người lập vườn đồi, vườn rừng có hiệu quả kinh tế nhất ở khu vực núi Dài và núi Cấm. (Báo An Giang 19/12) đầu trang(
Thực hiện Quyết định 594/QĐ-TTg, ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016, tỉnh Yên Bái đã thành lập Ban chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh Yên Bái và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện dự án điều tra, kiểm kê rừng tỉnh giai đoạn 2014-2015.
Mục tiêu của dự án là nắm bắt chính xác toàn bộ diện tích rừng; chất lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể; Kiểm kê toàn bộ 481.770 ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trong quy hoạch 3 loại rừng. Đối tượng kiểm tra gồm toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp, toàn bộ chủ rừng. (Hội Nông Dân VN 18/12) đầu trang(
Quảng Ninh có 8 đơn vị doanh nghiệp lâm nghiệp hoạt động theo mô hình công ty TNHH MTV lâm nghiệp là Cẩm Phả, Vân Đồn, Hoành Bồ, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình Liêu, Uông Bí và Đông Triều.
Đến cuối năm 2013, các đơn vị này đang có trên 40.591ha rừng sản xuất, chiếm trên 60% tổng diện tích đất rừng đang quản lý, khai thác. Tuy nhiên, số diện tích rừng sản xuất này không đồng đều, trong khi có đơn vị diện tích rừng sản xuất đạt trên 90% tổng diện tích thì có đơn vị chỉ đạt khoảng 10%.
Trong số 8 công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, đơn vị có diện tích rừng sản xuất lớn nhất là Công ty Lâm nghiệp Cẩm Phả với gần 12.000ha, chiếm trên 90% tổng diện tích đơn vị đang quản lý, đơn vị có diện tích ít nhất là Công ty Lâm nghiệp Đông Triều với 1.323ha.  Còn lại các đơn vị khác (Vân Đồn 8.700ha, Uông Bí trên 5.000ha,  Hoành Bồ  5.900ha, Tiên Yên, Ba Chẽ đều dưới 3.000ha, Bình Liêu 1.832ha).
Theo ông Dương Minh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, đối với các công ty TNHH MTV lâm nghiệp, cứ đơn vị nào có nhiều rừng sản xuất là thắng lợi, muốn làm gì cũng chủ động, có lợi thế trong tay. Còn các đơn vị có ít rừng sản xuất đều bí bách, khó khăn, muốn xoay xở, đầu tư làm ăn gì cũng phải cân nhắc.
Như vậy, ngoài Công ty Lâm nghiệp Cẩm Phả và Vân Đồn tương đối thuận lợi vì có diện tích rừng sản xuất lớn và khá tập trung, còn lại các đơn vị đều có diện tích rừng sản xuất vừa ít, vừa manh mún đã và đang khiến cho công tác quản lý, khai thác, phát huy giá trị rừng, đất rừng của các đơn vị này bị hạn chế rất nhiều.
Thực tế hiện cũng chỉ có Công ty Lâm nghiệp Cẩm Phả, Vân Đồn, Uông Bí, Hoành Bồ mới mạnh dạn tổ chức sản xuất lớn, còn lại các đơn vị khác chỉ dám làm quy mô nhỏ. Riêng Công ty Lâm nghiệp Đông Triều hầu như không có hoạt động sản xuất nào nổi bật.
Ông Nguyễn Văn Thành, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều bày tỏ: Với diện tích đất sản xuất chưa tới 11%, Công ty khó có thể chủ động để đầu tư sản xuất hay nâng cao hiệu quả kinh tế cho đơn vị được... Nếu chỉ trông mong vào diện tích rừng sản xuất thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không thể trụ vững được, người lao động cũng không có việc làm và thu nhập.
Có thể thấy, diện tích đất rừng trên địa bàn đang dần bị thu hẹp, nguyên nhân do các chính sách chuyển đổi, rà soát loại rừng đã khiến cho diện tích rừng sản xuất bị biến động. Công tác quản lý, phát triển rừng sản xuất thiếu chặt chẽ của một số công ty lâm nghiệp trong suốt thời gian dài trước đó cũng góp phần thu hẹp diện tích này. Đơn cử như việc trồng rừng theo kế hoạch của các đơn vị đạt tỷ lệ thấp, diện tích đất trống đồi trọc còn khá cao so với diện tích được giao.
Theo kết quả rà soát mới đây, diện tích đất chưa có rừng của các công ty lâm nghiệp còn đến gần 3.000ha. Bên cạnh đó, không ít công ty lâm nghiệp giao khoán đất rừng cho các hộ dân trồng rừng nhưng thiếu quản lý giám sát, dẫn đến xảy ra tình trạng người dân sử dụng đất lâm nghiệp để trồng cây nông nghiệp và cây ăn quả, thậm chí làm nhà ở.
Theo số liệu khảo sát của liên cơ quan Sở Tài nguyên - Môi trường và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cuối năm 2013 cho thấy, người dân đang quản lý sử dụng sai mục đích hàng trăm ha đất lâm nghiệp, trong đó nhiều nhất là Công ty Lâm nghiệp Hoành Bồ với 538ha; hơn 4,2ha của Công ty Lâm nghiệp Vân Đồn; 39ha của Công ty Lâm nghiệp Bình Liêu…
Đặc biệt, trước đây, do công tác giao đất trên thực địa chưa chặt chẽ, chưa có mốc cắm ngoài thực địa để xác định ranh giới rõ ràng, đồng thời những diện tích rừng các công ty lâm nghiệp chưa đầu tư đến đã bị một số người dân tranh thủ lấn chiếm đất rừng để trồng rừng, dẫn đến tranh chấp khiếu kiện.
Đơn cử như đối với Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên, suốt thời kỳ từ năm 2005-2008 đã xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng trên hầu khắp diện tích rừng tại xã Phong Dụ; thôn Đồng Đặng (xã Đông Ngũ), thôn Co Mười (xã Hà Lâu)… Các công ty Lâm nghiệp Đông Triều, Ba Chẽ, Bình Liêu cũng xảy ra tình trạng tương tự. Sau đó, phần lớn các sự việc này đều được giải quyết theo hướng: các đơn vị doanh nghiệp trả lại đất cho địa phương.
Đơn cử, vụ việc ở Phong Dụ, Đông Ngũ, Hà Lâu của Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên nói trên, đơn vị cũng phải  bàn giao lại cho huyện trên 45ha rừng để người dân sản xuất. Ngoài ra, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chức năng rà soát diện tích đất mà các công ty lâm nghiệp không có khả năng đầu tư để thu hồi, tiến tới giao lại cho các hộ dân phát triển sản xuất.
Qua đó, 3 công ty lâm nghiệp gồm Hoành Bồ, Vân Đồn, Đông Triều đã chính thức chuyển giao lại cho địa phương quản lý trên 1.700ha, trong đó Công ty Lâm nghiệp Hoành Bồ chuyển giao lại 1.185ha…
Có thể khẳng định, vùng nguyên liệu có vị trí đặc biệt trong sản xuất kinh doanh của các công ty lâm nghiệp, bởi vậy cần phải có chính sách phù hợp phát triển vùng nguyên liệu lâm nghiệp. (Báo Quảng Ninh 19/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Bốn ngôi nhà đã bị phá hủy khi lính cứu hỏa Úc được tăng cường để kiểm soát hai đám cháy rừng lớn ở bang Victoria trong điều kiện nhiệt độ cao và gió lớn. (Công An TPHCM 19/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng