Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO

Ngày 07 tháng 07 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Theo báo cáo của UBND tỉnh, 6 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn toàn tỉnh, các lực lượng chức năng phát hiện hơn 850 vụ vi phạm lâm luật liên quan đến phòng cháy, chữa cháy rừng, khai thác, mua bán, kinh doanh vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã, khai thác trụ tiêu trái pháp luật...
Các cơ quan chức năng đã xử lý, tịch thu hàng nghìn mét khối gỗ các loại, lập biên bản tạm giữ gần 550 phương tiện vi phạm, thụ nộp ngân sách Nhà nươc 7,5 tỷ đồng. (Quân Đội Nhân Dân 6/7) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Tỉnh - Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh cho biết, khoảng 13 giờ ngày 6-7, qua tuần tra, kiểm soát khu vực sông Cái đoạn qua xã Cầu Bà (huyện Khánh Vĩnh), lực lượng Kiểm lâm cơ động tỉnh đã phát hiện, thu giữ 3 bè gỗ do các đối tượng khai thác, vận chuyển trái phép trên sông Cái.
Mở rộng khu vực tìm kiếm, lực lượng Kiểm lâm còn phát hiện thêm 5 bè gỗ khác được neo đậu lại trên sông. Tổng số gỗ lậu lực lượng chức năng tạm giữ có 25 khúc gỗ kiền kiền xẻ hộp, khối lượng khoảng 2,2m3.
Được biết, thời gian gần đây, tại các xã cánh Tây huyện Khánh Vĩnh, một số đối tượng vẫn lén lút vào rừng khai thác gỗ trái phép, sau đó đưa gỗ về xuôi bằng đường sông. (Báo Khánh Hòa 6/7) đầu trang(
Từ đầu tháng 5 âm lịch đến nay, một đàn dơi lớn trên 100 con không rõ từ đâu kéo đến trú ngụ trong sân chùa, sư cô Võ Thị Lên, trụ trì chùa Hưng Long (xã Mỹ Hòa Hưng, TP. Long Xuyên, An Giang) cho biết sáng 6.7.
Đàn dơi đeo bám trên các thân cây cao trên 20 m trong chùa kêu inh ỏi suốt ngày, ban đêm dơi bay đi các nơi săn mồi. Đàn dơi rất dạn dĩ, thấy bóng người thấp thoáng dưới tán cây chúng không sợ hãi bay đi.
Chùa Hưng Long nằm giữa cù lao ven sông Hậu nên sự xuất hiện của bầy dơi quý đã thu hút nhiều khách du lịch và khách hành hương đến tham quan. Theo các cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang đây là bầy dơi quạ quý hiếm, một con nặng từ 900 gram đến 1,2 kg. (Thanh Niên 6/7) đầu trang(
6/5, ông Hoàng Liên Sơn , Chủ tịch UBND xã Cam Tuyền cho biết: Rừng phòng hộ Đá Mài - Tân Kim là rừng trồng theo Dự án 661. Theo đó các chủ rừng được cấp cây giống, phân bón và hỗ trợ tiền trồng cây và chăm sóc. Rừng do xã quản lý. Một số diện tích rừng phòng hộ bị tàn phá trong thời gian qua chính quyền địa phương không hề hay biết cho đến tháng 3 năm 2015 có sự khiếu kiện của người dân khi họ bị xâm phạm đến tài sản của mình.
Đầu tháng 3/2015, 20 hộ gia đình tại thôn Tân Lập phát hiện hơn 7 ha rừng tràm trồng 10 năm qua bị phá sạch. Không những thế, 20 hộ dân đã phát hiện trên diện tích đó rừng đã được trồng mới chừng một năm nhưng người trồng không phải là chủ rừng.
Ông Nguyễn Văn Tâm - đại diện cho tổ trồng rừng gồm 10 hộ gia đình tâm sự với chúng tôi: “Năm ha rừng tràm 10 năm nay của 10 hộ gia đình không còn một cây, thay luôn vào đó đất đã được cày ủi và tràm được trồng mới chừng một năm. Chúng tôi hỏi ra mới biết một người có tên là Thành (tức Nguyễn Thế Thành ở thôn Ba Thung, Cam Tuyền) đã ủi và trồng rừng trên diện tích của chúng tôi. Ngày 26/3/2015, tôi đại diện các hộ gia đình gởi đơn kiến nghị lên xã nhưng đến ngày 6/5/2015 vẫn chưa được giải quyết. Còn hai ha rừng của một tổ trồng rừng ở trong thôn cũng bị xâm phạm”.
Theo thông tin mà chúng tôi nắm được từ người dân trên địa bàn xã Cam Tuyền thì rừng phòng hộ ở khu vực đồi Phu Lơ bị tàn phá nghiêm trọng. Thêm nữa, một số khu vực rừng ở Đá Bã, Trầm Ná..., một trong những khu vực rừng phòng hộ bị một số người san ủi và trồng rừng mà không hề có ý kiến của chính quyền địa phương sở tại. Hiện tại, diện tích rừng phòng hộ bị tàn phá khoảng 15 ha. Trong đó có một số diện tích lớn rừng nguyên sinh bị đốn hạ, san ủi.
Ông Nguyễn Văn Thỉ, một chủ rừng ở thôn Tân Lập, cho chúng tôi hay: Việc quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn đã bị buông lỏng. Người dân khiếu kiện đến nay đã hơn hai tháng nhưng vấn đề vẫn chưa được xử lý. Người chiếm rừng của các hộ dân hiện ép chúng tôi bán 1 ha rừng với giá 5 triệu đồng. Nếu bán đất người nông dân biết làm gì?
20 hộ dân bị chiếm rừng phòng hộ rất bức xúc trước sự việc nêu trên. (Thời Nay 2/7) đầu trang(
Thọ Xuân, Thanh Hóa: Tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
Huyện Thọ Xuân có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 3.045 ha, trong đó, 2.452,71 ha rừng, 592,73 ha đất trống. Theo rà soát của cơ quan chức năng; diện tích vùng trọng điểm cháy là 1.167 ha, được chia làm 3 khu vực:
Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, xã Xuân Phú và các xã Xuân Thắng, Thọ Lâm. Để  bảo vệ rừng, bảo đảm không để cháy rừng xảy ra, những ngày qua, Hạt Kiểm lâm Thọ Xuân đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp, phối hợp với ban dân vận, MTTQ huyện tuyên truyền công tác bảo vệ, phát triển rừng năm 2015; chỉ đạo kiểm lâm địa bàn các xã tiếp tục duy trì nâng cao hiệu quả hoạt động của 51 tổ, đội tuyên truyền tại 5 xã trọng điểm. Phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy số 5 (thuộc cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tỉnh) tổ chức hướng dẫn cho lực lượng bảo vệ rừng Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, lực lượng dân quân thuộc xã Xuân Lam (Thọ Xuân) và xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc) thực hành sử dụng các loại phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng.
Cùng với công tác tuyên truyền, hướng dẫn, Hạt Kiểm lâm Thọ Xuân đã nghiêm túc thực hiện việc trực chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng; thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác lửa rừng trong những ngày nắng nóng, kiểm soát chặt chẽ; phân công thành viên tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo cơ sở về thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, hướng dẫn, tổ chức quản lý các hộ gia đình xử lý thực bì ở khu vực liền kề với rừng và thảm thực bì dễ cháy, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm, hạn chế nguy cơ cháy rừng xảy ra trên địa bàn. (Báo Thanh Hóa 6/7) đầu trang(
Chiều 6/7, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị cho biết đã có quyết định xử phạt hành chính Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh, ông Bùi Quang Linh, 45 triệu đồng và thực hiện kỷ luật cảnh cáo bởi hành vi mua lâm sản bất hợp pháp.
Ngày 23/5, Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Quảng Trị phát hiện trên xe ôtô 74C-036.39 chở 7 hộp gỗ có khối lượng hơn 5m3.
Mở rộng điều tra, ngày 30/5, Công an thu giữ thêm 4 hộp gỗ tại một xưởng cưa trên địa bàn huyện Vĩnh Linh. Toàn bộ 11 hộp gỗ (8,3 m3) này đều không có giấy tờ hợp lệ do Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh Bùi Quang Linh mua lại. Vụ việc sau đó được PC46 chuyển cho Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị xử lý.
Theo đại diện Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, ông Linh không biết số gỗ trên là gỗ lậu. Hội đồng kỷ luật thống nhất hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với ông Linh. (Tiền Phong 7/7; Nhân Dân + Tin Tức + VnExpress + Lao Động + Pháp Luật & Xã Hội + Pháp Luật TPHCM 6/7) đầu trang(
Tháng 7 vẫn là tháng cao điểm của những đợt nắng nóng cực đoan kéo dài nên tình trạng cháy rừng sẽ tiếp tục có nguy cơ xảy ra.
Theo Sở NN&PTNT Quảng Nam, trên địa bàn tỉnh có khoảng 324.000 ha đất rừng và gần 100.000 ha đất trống quy hoạch lâm nghiệp nằm trong vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy.
Vì vậy, công tác phòng cháy chữa cháy rừng phải liên tục được đề cao trong suốt mùa khô, nhất là khi các vụ cháy rừng tại xã  Phú Thọ (huyện Quế Sơn) và xã Duy Trinh (huyện Duy Xuyên) vừa qua là lời cảnh báo các khu rừng xung yếu có thể bị đe dọa bất cứ lúc nào. (VTV 7/7) đầu trang(
Thông tin từ Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn cho biết, hiện tỉnh đang tiến hành chi trả gần 13 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng cho các đơn vị chủ rừng và các hộ gia đình tham gia giữ rừng trên địa bàn tỉnh.
Trong đó, hơn 12,3 tỷ đồng được thanh toán cho 10 đơn vị chủ rừng là Vườn quốc gia Cát Tiên; Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp La Ngà; Công ty cổ phần giống lâm nghiệp vùng Nam bộ; Xí nghiệp nguyên liệu giấy Đông Nam bộ; Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm nghiệp Đông Nam bộ; Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai; các Ban Quản lý rừng phòng hộ: 600, Tân Phú, Xuân Lộc; Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa.
Ngoài ra, có gần 3.560 hộ gia đình của 5 huyện là: Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Thống Nhất cũng được chi trả tiền dịch vụ rừng với số tiền gần 440 triệu đồng. Đồng Nai hiện có hơn 152 ngàn hécta rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng. (Báo Đồng Nai 6/7) đầu trang(
Rừng đầu nguồn Đồng Hội, xã Xuân Quang 1, huyện miền núi Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã và bị tàn phá nghiêm trọng. Những bãi chứa cây rừng chất cao như núi ven đường chờ xe trọng tải lớn đến chở đi bán củi.
Ngược lên phía thượng nguồn dòng sông Kỳ Lộ (sông lớn thứ hai ở Phú Yên sau sông Ba), chúng tôi đến thôn Đồng Hội.
Tại đây, chúng tôi vượt qua Suối Sổ leo lên những tảng đá to bằng mái nhà rồi trườn lên dốc Chín Hơi dựng đứng. Trên con đường “chằng ăn trăn quấn” này, chúng tôi lại gặp những đoàn xe tải chở cây từ trong rừng sâu “bò” ra chuẩn bị đổ dốc.
Anh Nguyễn Văn Hiên, người dẫn đường cho hay: dốc Chín Hơi này trước đây người dân bản địa muốn lên đến đỉnh phải nghỉ lấy hơi 9 lần nên gọi là dốc Chín Hơi. Dốc cao dựng đứng vậy mà khi phá rừng, người ta dùng xe ủi làm đường cho xe tải “cày” trên đường này chở cây gỗ rừng về làm củi.
Sau một buổi đi bộ ròng rã lên được đỉnh dốc Chín Hơi, tiếp tục đi đến gần khu vực ruộng Bỏ rẽ phải, chúng tôi gặp khu rừng bị đốt cháy, những gốc cây đường kính từ 20 – 60cm bị cưa bằng mặt, cây cầy (kơ nia) to bằng một người ôm nằm dài dưới đất. ạnh đó là khu rừng còn sót lại thân cây dài 10 – 15m cũng bị khô lá do đợt đốt rẫy vừa rồi.
Sau chuyến đi vượt qua suối sâu, dốc cao, chúng tôi gặp một chiếc xe tải đang “lọt” vào giữa rừng cháy, tốp người vác những cây gỗ tròn to chất lên xe chở về bán củi.
Tài xế xe tải này cho hay, mỗi ngày có từ 10 – 15 xe tải chở củi từ rừng ra. Cây củi to đủ cỡ, có cây bằng cái đầu người, có cây bằng thùng gánh nước.
Theo bánh xe tải chúng tôi tìm đến bãi chứa cây gỗ rừng (còn gọi là củi) thuộc xóm Mới, thôn Phú Sơn, xã Xuân Quang 2 - cách dốc Chín Hơi 15 cây số. Bãi chất củi cao như núi có các cây gỗ như kơ nia, chò, sổ, chành ngạnh…
Theo người dân địa phương, bãi củi khổng lồ này hiện nay còn lại ít, vì những cây gỗ đường kính lớn đã được xe tải chở đi ban đêm, chủ yếu ra Bình Định hết rồi. “Người dân ở đây muốn chặt cây về làm đòn tay cất chuồng bò, chuồng heo cũng không còn. Vì mấy năm qua, công ty từ xa đến thuê nhân công chặt phá hàng trăm héc ta rừng để trồng rừng”, anh Trần Văn Hoàng, một người dân đi vác củi thuê chất lên xe, bức xúc nói.
Cách đó không xa, gần Trường tiểu học Triêm Đức cũng thuộc xã Xuân Quang 2, một khu đất trồng được tận dụng làm bãi chứa gỗ. Điều lạ là cả hai bãi gỗ này đều nằm trong khu dân cư, gần đường giao thông chính, nhưng không bị kiểm tra, xử lý(?).
“Cách đây vài hôm, bãi gỗ này chất cao như núi, rồi vào ban đêm, nhiều ô tô tải trọng lớn đã vận chuyển những cây gỗ to đi hết. Tôi thấy cảnh phá rừng đầu nguồn nóng mặt quá hỏi thì họ nói đây là gỗ “rừng nghèo”, được ngành chức năng cho phá để trồng keo”, anh Trần Văn Thanh, người dân ở gần bãi gỗ tiết lộ.
Cuối năm 2009, tại khu vực này, đã xảy ra trận lũ lịch sử, nước sông Kỳ Lộ lớn nhanh bất thường tràn về làm 18 người Xóm Trường (xã Xuân Quang 2) chết, hàng ngàn héc ta đất nông nghiệp bị bồi lấp, xói mòn. Hay tin, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thị sát tại Xóm Trường, lúc đó người dân phản ảnh với Tổng bí thư Nông Đức Mạnh rằng, nguyên xảy ra “lũ dữ” là do rừng đầu nguồn bị tàn phá bởi một dự án “lợi dụng trồng rừng để phá rừng”. Thế nhưng, từ đó đến nay, khu vực rừng đầu nguồn tiếp tục bị tàn phá.
Trả lời vấn đề này, ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đồng Xuân cho biết: trong những năm gần đây, một số cá nhân, hộ gia đình ở xã Xuân Quang 1, Xuân Quang 2 phát dọn thực bì trồng rừng.
Trong quá trình phát dọn trồng rừng, người dân tận thu cây để cải thiện kinh tế hộ. Qua quá trình tận thu, kiểm lâm và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra, giám sát. Tuy nhiên, trong thời gian qua, kiểm lâm cũng không đủ thời gian giám sát nên các đối tượng lợi dụng làm trái pháp luật.
Thời gian tới, Hạt cũng sẽ tăng cường kiểm tra, xác minh để xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm theo các thông tin mà các cơ quan báo chí, người dân phản ánh.
Về bãi gỗ tập kết số lượng lớn, Hạt đã phát hiện sự việc này và sẽ điều tra, xác minh lại những khu vực khai thác để xử lý nghiêm minh đối tượng vi phạm.
“Rừng đó thuộc các công ty, doanh nghiệp trồng rừng theo dự án, trong quá trình phát dọn thực bì cây to có đường kính trên 10cm, phải chừa lại, nhưng doanh nghiệp không thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước mà chặt phá lấy gỗ thì doanh nghiệp đó đã vi phạm pháp luật. Đã vi phạm pháp luật thì bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng bị xử lý theo pháp luật”-, ông Tâm nói. (Phụ Nữ TPHCM 6/7) đầu trang(
Khi biết chúng tôi có nguyện vọng được tham gia vào một chuyến kiểm tra trực tiếp tại hiện trường để đối chiếu với nội dung kê khai của người dân có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập, đồng chí Nguyễn Văn Khuyên, Giám đốc Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ hồ Yên Lập đã bố trí cho chúng tôi một chuyến xuyên rừng tuần tra bảo vệ rừng kết hợp kiểm tra hiện trạng.
Trong thời tiết nắng nóng kéo dài những ngày đầu tháng 7, ngay từ sáng sớm khi chúng tôi có mặt tại BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập, các cán bộ, chiến sĩ của Ban đã được phân công đến các trạm để làm nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, đặc biệt là thực hiện công tác phòng chống cháy rừng.
Đến hồ Yên Lập, để xuyên rừng tuần tra bảo vệ và kiểm tra hiện trạng rừng, trên chiếc xuồng cao tốc, chúng tôi phải vượt qua một chặng đường khá dài dọc theo lòng hồ. Trên đường đi, anh Lê Thanh Tâm, Phó Giám đốc BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập cho hay: Hồ Yên Lập có diện tích hơn 18.500ha, là công trình thuỷ lợi quan trọng của tỉnh, cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho các địa phương Quảng Yên, Uông Bí và các vùng lân cận.
Những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, có nhiều hộ dân lấn chiếm, chặt cây, sử dụng đất rừng trái phép để trồng dứa trong lưu vực của hồ. Một số hộ dân được giao đất, giao rừng từ những năm trước đây đã lợi dụng khai thác gỗ trái phép, gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh thuỷ dẫn đến tình  trạng xói mòn đất, bồi lấp rừng trong lưu vực lòng hồ và đã biến gần 500ha rừng thành nơi trồng dứa.
Thực hiện chỉ đạo của tỉnh, các ngành chức năng và các địa phương đã thực hiện việc di dời các hộ dân sống trong lưu vực lòng hồ ra ngoài nên tình hình ổn định trong thời gian dài. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ cho một số hộ dân có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập triển khai chậm khiến cho công tác quản lý, bảo vệ rừng đầu nguồn gặp nhiều khó khăn. Ngay mấy hôm trước, cán bộ chiến sĩ của Trạm đã phát hiện tình trạng người dân vào khai thác gỗ, mặc dù có tịch thu được tang vật là một số cây gỗ keo lớn song 2 ngày liền các đối tượng lẩn trốn trong rừng nên không bắt được.
Xuồng cập bờ, theo chân anh Lê Thanh Tâm, chúng tôi nhằm hướng tiểu khu 87B, khu Yên Lập Tây, thuộc địa bàn xã Dân Chủ (Hoành Bồ) mà leo dốc, xuyên rừng. Mặc dù chỉ cách mép nước hồ vài chục mét nhưng để tiếp cận với lối vào rừng chúng tôi đã phải đánh vật với những bụi gai rậm rạp và những vạt cây bụi cao vượt đầu người. Chúng tôi luồn lách, vượt qua một chặng đường dài ước chừng đến vài km những tre, dóc. Do khu vực trồng rừng trước đây của người dân ở khu vực đồi cao nên để đến được khu vực đó hết sức khó khăn. Cứ cúi rạp người mà leo.
Mặc dù đi giữa rừng nhưng ai nấy đều mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Chỉ đi được vài chục mét mọi người lại phải nghỉ chân. Cứ như thế, từ sáng sớm đến gần trưa, khi tôi đã uống cạn 3 chai nước lọc mang theo thì chúng tôi mới đặt chân đến được với khoảnh 8, tiểu khu 87B, xã Dân chủ.
Trong khi tôi “thở không ra hơi” thì anh Lê Văn Quang, cán bộ kỹ thuật của Ban cho biết: Địa điểm này chỉ là một trong số những điểm thuộc diện “trung bình” về độ khó khăn, vất vả trong quá trình hơn 3 tháng ròng rã các anh đi kiểm tra hiện trạng rừng. Nghỉ ngơi một lát, các cán bộ, chiến sĩ của Ban đã dùng máy quét GPS 76 để quét một vòng đo diện tích và vẽ sơ đồ ranh giới diện tích trồng cây của hộ dân ở đây. Sau nửa ngày kiểm tra, đối chiếu với việc khai báo năm trồng cây và độ tuổi của cây kiểm tra, các cán bộ, chiến sĩ đã xác định được 180 cây trồng phù hợp với khai báo của người dân. Còn lại chủ yếu là rừng trồng từ nguồn vốn ngân sách và cây rừng tự nhiên.
Do việc đi lại khó khăn nên trong 1 ngày, tổ kiểm tra mới hoàn thành được việc kiểm tra hiện trạng đối với 1 đơn của người dân. Cuối ngày, ước chừng thời gian ra khỏi rừng cho kịp, chúng tôi lại tay chống gậy “hành quân” xuống dốc.
Văn bản 1881 của UBND tỉnh chỉ đạo việc giải quyết kiến nghị của một số hộ dân có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập được UBND tỉnh chỉ đạo từ đầu tháng 5-2012 song đến nay ngành chức năng và các địa phương liên quan mới hoàn thành được việc kiểm tra trực tiếp tại hiện trường để đối chiếu với nội dung kê khai của người dân.
Trao đổi với chúng tôi, ông Mạc Văn Xuyên, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm cho biết: Ngay khi có sự chỉ đạo của UBND tỉnh, ngành đã thực hiện tiếp nhận đơn kiến nghị, kê khai, cam kết của các hộ dân, song hơn 6 tháng sau đến 15-11-2012, BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập mới tiếp nhận với số lượng 144 đơn đề nghị, kê khai, cam kết của các hộ dân do huyện Hoành Bồ và thị xã Quảng Yên tổng hợp chuyển đến.
Ngoài ra, trong quá trình triển khai thực hiện, đến 16-6-2015, Ban lại tiếp tục nhận thêm 31 đơn kiến nghị của 31 hộ dân khác nên tổng số đơn kiến nghị, kê khai, cam kết đã lên tới 175 trường hợp có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập. Sau khi tiếp nhận và phân loại đơn, BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập đã phối hợp thành lập 2 tổ công tác trực tiếp làm việc với các hộ dân.
Theo đó, có 12 trường hợp không đến làm việc, đối thoại với tổ công tác để phục vụ kiểm tra, đối chiếu tại hiện trường; 40 hộ khác sau khi đến làm việc đã tự nguyện rút đơn không đi kiểm tra hiện trường. Còn lại 123 hộ dân cần đi kiểm tra, đối chiếu hiện trường.
Tuy nhiên, quá trình kiểm tra gặp không ít khó khăn, trong đó phải kể đến diện tích các hộ kê khai phân tán nhỏ lẻ trên toàn khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, thuộc 5 tiểu khu: 82, 87B, 91A, 91B, 91C thuộc các xã Quảng La, Bằng Cả, Dân Chủ (Hoành Bồ) và phường Minh Thành (Quảng Yên). Số cây trồng do các hộ dân chỉ dẫn tại hiện trường phân bố rải rác, phân tán nhiều vị trí trên các diện tích đất trồng dứa, trồng cây ăn quả.
Được biết, đến nay BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập đã thực hiện kiểm tra hiện trường xong đối với 123 hộ dân; trong đó có 113 hộ có cây trồng phù hợp với quy hoạch rừng phòng hộ; 10 hộ qua kiểm tra không có cây trồng hoặc có cây trồng nhưng không phù hợp. Tổng diện tích đã kiểm tra là 308,974ha, trong đó có 280,051ha có cây trồng phù hợp với quy hoạch rừng phòng hộ của 113 hộ dân với tổng số cây đã kiểm tra, đo đếm là 84.886 cây các loại và 175 bụi tre gai, trong đó có 67.940 cây keo do người dân trồng.
Từ kết quả kiểm tra hiện trạng, đối chiếu với nội dung kê khai của người dân theo đơn kiến nghị, các ngành chức năng và địa phương liên quan cần sớm thực hiện dứt điểm chỉ đạo của UBND tỉnh về việc giải quyết kiến nghị của một số hộ dân có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập để ổn định công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, bảo vệ rừng đầu nguồn cũng như hài hoà lợi ích chính đáng của người dân. (Báo Quảng Ninh 6/7) đầu trang(
Khoảng 13 giờ ngày 6.7, tại núi Bà Hỏa, đoạn Hóc Bà Bếp (thuộc KV1, phường Đống Đa, TP Quy Nhơn) đã xảy ra một vụ cháy rừng tại khu vực do Lâm trường Quy Nhơn làm quản lý.
Theo người dân địa phương, vào thời điểm trên, một tiếng nổ lớn xảy ra, tiếp đó, nhiều diện tích keo, bạch đàn bùng cháy và lan sang các khu vực khác. Nguyên nhân vụ nổ có thể do bom mìn sót lại trong chiến tranh phát nổ. Rất may, vụ nổ và vụ cháy rừng cách xa khu dân cư nên không có thiệt hại về người.
Ông Lê Đức Sáu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Ngay sau nhận được tin báo của người dân, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương huy động hơn 70 người để dập tắt đám cháy. Đến 14 giờ, đám cháy cơ bản được khống chế, diện tích rừng bị thiêu hủy khoảng 0,5 ha. Hiện lực lượng chức năng đang điều tra làm rõ nguyên nhân của vụ cháy.
15 giờ cùng ngày, lực lượng chức năng vẫn tiếp tục có mặt tại hiện trường để phòng khi đám cháy bùng phát trở lại do nắng nóng. (Báo Bình Định 6/7) đầu trang(
Hiện đang là mùa khô, thời tiết nắng nóng kéo dài. Đây cũng là thời điểm rất dễ xảy ra các vụ cháy rừng. Trước tình hình đó, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) đã kịp thời triển khai nhiều phương án nhằm đảm bảo cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2015.
Huyện Vĩnh Linh có tổng diện tích rừng gần 30 ngàn héc ta. Trong đó, rừng trồng chiếm gần một nửa, chủ yếu là rừng thông nhựa thuần loài và rừng trồng hỗn giao. Đây là loại rừng dễ cháy và khi đã cháy thì sẽ nhanh chóng bùng phát trên diện rộng, rất khó khống chế.
Ngay từ đầu mùa khô, huyện Vĩnh Linh đã xây dựng các phương án PCCCR để các địa phương có rừng và các chủ rừng tập trung thực hiện. Trong đó đặc biệt chú trọng công tác tuần tra, kiểm soát, tăng cường cả về nhân lực và phương tiện ở những vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; huy động lực lượng thường xuyên hạ thấp thực bì nhằm làm giảm tác nhân gây cháy. Các lực lượng chức năng phân công trực 24/24 giờ, đầu tư kinh phí để tu sửa, bổ sung, mở mới hệ thống đường ranh cản lửa, chòi canh, các trang thiết bị phục vụ cho công tác PCCCR. Ban chỉ đạo PCCCR huyện Vĩnh Linh thường xuyên kiểm tra, theo dõi nhằm giám sát việc đảm bảo thực hiện các quy định về PCCCR ở các địa phương, đơn vị.
Bên cạnh đó, huyện Vĩnh Linh còn tập trung công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao ý thức cho người dân trong công tác bảo vệ rừng nói chung, PCCCR nói riêng. Các lực lượng chức năng và các chủ rừng cần có sự phối hợp chặt chẽ với người dân ở những địa phương có rừng để kịp thời nắm bắt thông tin, từ đó chủ động đối phó một cách có hiệu quả, triệt để khi có tình huống xảy ra, đảm bảo công tác PCCCR trong mùa khô năm 2015. (Báo Quảng Trị 7/7) đầu trang(
Trước những điều kiện biến đổi khí hậu và thời tiết hanh khô kéo dài đã khiến cho nguy cơ cháy rừng tăng cao. Từ thực trạng đó, Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Mê đã triển khai nhiều phương án và giải pháp trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Là huyện có diện tích rừng lớn, công tác PCCCR ở Bắc Mê còn gặp nhiều khó khăn như: Địa hình chia cắt, độ dốc lớn với nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau; tình hình khí hậu diễn biến phức tạp; ý thức của một số bộ phận người dân đối với công tác PCCCR còn chưa cao... do vậy vào mùa khô hanh hàng năm, ngành Kiểm lâm huyện đã thực hiện nhiều phương án PCCCR như: Củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo PCCCR từ cấp huyện đến cấp xã, thị trấn; thành lập 138 tổ đội PCCCR nhằm tăng cường thêm lực lượng để phối hợp với dân quân, công an, kiểm lâm địa bàn triển khai các biện pháp bảo vệ rừng; công tác tuyên truyền được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ngành kiểm lâm trong việc vận động, nâng cao ý thức của nhân dân thực hiện các quy định về PCCCR.
Để phát huy có hiệu quả năng lực của các tổ, đội PCCCR, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu, tổ chức các lớp tập huấn để trang bị các kiến thức cơ bản về PCCCR; duy trì lịch trực 24/24 giờ trong mùa khô hanh; tổ chức kịp thời, huy động các lực lượng chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra theo phương châm “bốn tại chỗ”.
Trong năm 2014 và mùa khô hanh 2014 – 2015, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với Trung tâm Văn hóa – Thông tin huyện tổ chức hàng trăm buổi lồng ghép tuyên truyền lưu động về công tác bảo vệ, PCCR đến tận các thôn bản; tuyên truyền về Luật Bảo vệ và phát triển rừng; ký cam kết về quản lý bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn đến 20 thôn bản với hơn 2.200 lượt người dân tham dự; phát hành các tài liệu tuyên truyền, xây dựng các bảng tuyên truyền, cảnh báo ở những khu vực cửa rừng, những nơi trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng; tuyên truyền cho nhân dân phát dọn thực bì ở những diện tích rừng kinh tế của gia đình; nâng cao ý thức của người dân khi đốt nương làm rẫy ở khu vực gần rừng...
Trong những năm gần đây, chủ trương trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc đang phát huy hiệu quả, nhiều hộ gia đình đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo từ việc khoanh nuôi, trồng mới, chăm sóc, bảo vệ rừng. Vì vậy, ý thức và trách nhiệm của nhân dân đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được nâng cao.
Chia sẻ những khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR, anh Hoàng Công Trình, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bắc Mê cho biết: Nguyên nhân chủ yếu gây ra cháy rừng là do thời tiết diễn biến bất thường, phức tạp; bên cạnh đó một số người dân còn chưa có ý thức bảo vệ rừng, bất cẩn trong việc xử lý lửa khi canh tác ở khu vực gần rừng; việc chữa cháy rừng cũng gặp nhiều khó khăn vì địa hình dốc cao, chia cắt, thời điểm xảy ra cháy rừng khó nắm bắt.
Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng chính là một trong những giải pháp quan trọng trong việc PCCCR. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm và các tổ, đội PCCCR duy trì túc trực 24/24 giờ kịp thời phát hiện và xử lý dập tắt các đám cháy rừng khi xảy ra, tránh để xảy ra cháy rừng trên diện rộng.
Trong mùa khô hanh hiện tại, thời tiết và khí hậu tiếp tục có những diễn biến phức tạp, nguy cơ cháy rừng luôn đe dọa các cánh rừng. Do vậy sự quan tâm của toàn thể các cấp ủy, chính quyền, Hạt Kiểm lâm và đặc biệt là ý thức, trách nhiệm của người dân đối với việc bảo vệ và phát triển rừng chính là những giải pháp an toàn và lâu dài nhất đối với việc PCCCR. (Báo Hà Giang 6/7) đầu trang(
Để bảo vệ rừng trong mùa nắng nóng, các cấp chính quyền và chủ rừng ở các địa phương đang chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp phòng, chống cháy rừng (PCCCR).
Nhiều năm nay, cứ trước mùa nắng nóng, để bảo vệ an toàn 3 héc ta rừng keo, bạch đàn, mây của gia đình, chị Tăng Thị Thu, ở xóm 2, xã Diễn Lâm (Diễn Châu) huy động toàn bộ các thành viên trong gia đình tiến hành vệ sinh, thu dọn thực bì, phát quang bụi rậm. Mùa nắng năm nay, được dự báo sẽ gay gắt hơn mọi năm nên gia đình chị đầu tư thêm các dụng cụ chữa cháy như dao phát, cào lá, đèn pin, đồng thời có kế hoạch phân công các thành viên trong gia đình thường xuyên trông coi rừng.
Chị Thu cho biết: “Đó là những kỹ năng chúng tôi đã được xã tập huấn hàng năm. Gia đình tôi nhận thức làm tốt công tác phòng ngừa chính là giải pháp quan trọng nhất để bảo vệ rừng...”.
Tại xã Diễn Phú, mặc dù 2.300 héc ta rừng đã bàn giao cho nhân dân quản lý nhưng công tác PCCR luôn được UBND xã chủ động triển khai. Năm nay, trước tình hình nắng nóng gay gắt, xã thành lập đội phòng cháy ở 22 xóm với quy chế hoạt động rõ ràng, đồng thời tiến hành ký cam kết sớm với các chủ rừng, xóm có rừng để bà con ý thức được việc khẩn trương cho công tác PCCR trong mọi thời điểm.
Ông Cao Như Năm, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: “Chúng tôi bố trí một lực lượng nòng cốt dể bảo vệ rừng, các hộ dân được quán triệt phải làm sạch các đường băng cản lửa, đồng thời rà soát loại toàn bộ dụng cụ, phương tiện phòng cháy... sẵn sàng cho phương án “4 tại chỗ”.
Toàn huyện Diễn Châu có trên 7.000 héc ta rừng, phân bổ ở 9 xã, trong đó có nhiều diện tích giáp ranh với huyện Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lưu, chủ yếu là rừng thông nhựa, nhiều diện tích nằm sát khu dân cư nên nguy cơ cháy rừng rất cao. Trước diễn biến phức tạp trong mùa nắng nóng năm nay, huyện kiện toàn lại Ban chỉ huy PCCR của huyện, bổ sung lực lượng trung đội mạnh, kiểm kê lại toàn bộ dụng cụ như dao phát, vỉ dập lửa, loa phóng thanh, đèn pin, bảo hộ để có cấp phát kịp thời, đồng thời phối hợp với đoàn thanh niên 9 xã ra quân làm vệ sinh, phát quang 50km đường băng cản lửa. Cùng đó, tăng cường truyên truyền cho bà con ven rừng, học sinh tại các trường học không đưa lửa vào rừng, đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định phòng chống cháy rừng.
Công tác PCCR cũng được đồng bào khu tái định cư xã Ngọc Lâm (Thanh Chương) chung sức thực hiện. Chuyển từ vùng thủy điện Bản Vẽ về tái định cư trên địa bàn huyện Thanh Chương 10 năm nay, gia đình bà Kha Thị Thu ở bản Tả Xiêng trồng được 6 ha rừng. Hàng năm cứ vào mùa nắng nóng, gia đình bà tập trung làm tốt công tác PCCR. Bà Thu cho biết: Cứ bắt đầu vào mùa khô nắng nóng, các thành thành viên trong gia đình nhắc nhở nhau và tuyên truyền bà con trong bản không mang lửa vào rừng, không đốt ong lấy mật; thường xuyên phát sẻ đường băng cản lửa, thu gom các loại cành, cây khô giảm bớt nguy cơ cháy rừng.
Tuy nhiên do diện tích rừng lớn, nhận thức về công tác phòng chống cháy rừng của bà con ở đây vẫn còn hạn chế, cuộc sống của bà con đang dựa vào rừng nên cũng rất khó cho các lực lượng chức năng kiểm soát. Trước thực tế đó, các lực lượng chức năng xã Ngọc Lâm nỗ lực tiến hành nhiều biện pháp để hạn chế thấp nhất về tình trạng xảy ra cháy rừng trên địa bàn quản lý.
Trao đổi về vấn đề này, ông Vi Văn Tuyển, Phó trưởng bản Tả Xiêng cho biết: “Hàng năm, xã bản đều tổ chức cho bà con dự các cuộc tập huấn công tác phòng chống cháy rừng. Ban quản lý bản cũng tích cực tuyên truyên đến từng nhà bằng loa truyền thanh xóm, thường xuyên nhắc nhở con em không được mang lửa vào rừng, đồng thời sớm ngăn chặn các đối tượng có hành vi vào phá rừng. Vì vậy trong thời gian qua, cả bản chúng tôi làm tốt công tác PCCR”.
Toàn xã Ngọc Lâm có khoảng hơn 5.000 ha rừng tự nhiên và 1.000 ha rừng trồng. Mùa hè năm nay, nắng nóng gay gắt, chính quyền xã và các thôn bản tăng cường công tác phối hợp với các cấp, ngành tập trung nâng cao ý thức của bà con trong phòng chống cháy rừng.
Ông Lô Hoài Dung, Chủ tịch UBND xã cho biết: “Trong thời gian qua trên địa bàn xã Ngọc Lâm chưa để xảy ra vụ cháy nào. Ngay từ đầu nắng nóng chúng tôi họp triển khai các giải pháp cấp bách về bảo vệ rừng; phân công trách nhiệm cho từng cán bộ phụ trách các vùng, các bản, nhằm hạn chế thấp nhất về cháy rừng gây ra, lực lượng nòng cốt PCCR được phân công trực 24/24 giờ…”. Những nỗ lực của cán bộ, nhân dân xã Ngọc Lâm và nhiều địa phương khác đang góp phần tích cực khoanh nuôi và bảo vệ rừng.
Hiện đang là giai đoạn cao điểm của mùa nắng nóng, do đó nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Vì vậy, bên cạnh sự vào cuộc tích cực của cơ quan chức năng, cấp ủy, chính quyền thì mỗi người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, bởi rừng là lá phổi xanh cung cấp ôxy cho con người, tăng độ che phủ, chống bào mòn và còn là nguồn thu giá trị trong phát triển kinh tế ở mỗi địa phương. (Báo Nghệ An 5/7) đầu trang(
Khi loài voọc quý từng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng thì mỗi ngày ông tình nguyện lên núi chăm sóc, canh chừng cho chúng khỏi bị săn trộm.
Xa tít trong vùng núi rẻo cao Thiết Sơn (Thạch Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình) là cảnh quan núi đá hùng vĩ bên chân ruộng nhà dân. Nơi đó, ông Nguyễn Thanh Tú, một người lính biên phòng nghỉ hưu, mỗi ngày lên núi tình nguyện bảo vệ chúng.
Trước đây, cha ông ở làng này nói đó là loài vượn. Nhưng vì ông Tú từng được các tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã huấn luyện nhận biết loài cần bảo vệ theo Công ước CITES nên ông Tú khẳng định đó là voọc Hà Tĩnh. Từ đầu năm 2015, nhiều nhà bảo tồn đến đây cũng khẳng định điều này nên loài voọc Hà Tĩnh mới thôi mang tên là vượn.
Tuổi thơ ông Tú thường leo khắp các tháp đá như Dàn Vượn, Nước Lặn, Khe Đá, Hung Cùng, Sẩm Mè, Cửa Hung, Cây Gạo... Ông thường thấy hàng đàn voọc Hà Tĩnh chuyền cành mỗi sáng sớm ra bứt lá, xuống tận chân ruộng tìm nước nhưng càng về sau chúng càng thưa dần do nạn săn bắt trộm. Trước khi bố của ông Tú nhắm mắt vào năm 1982, bố ông trối lại: “Con làm sao phải bảo vệ cho được loài vượn quê hương mình. Con vượn còn thì linh hồn núi rừng còn. Linh hồn đó còn dân làng mới hưởng phúc”.
Ông Tú nghe lời dạy đó nên mỗi lần rời đơn vị về nghỉ phép đều lên núi gỡ bẫy. Ông Tú kể: “Có lần thấy xác voọc mẹ chết, con non cũng bám vô đó mà chết, nhìn đau không thể tả. Có khi bọn thợ săn đánh lưới trong hang, cả đàn voọc rơi vào phục kích, mắc lưới, may mắn được ông phát hiện cắt lưới, không thì chẳng còn con nào”. Ông cũng không quên kể cứu sống những con voọc cô độc bị dính bẫy dây phanh, chúng lồng lộn đến mất chân sau. Nhìn những hình ảnh đó, ông quyết định phải làm gì đó với loài voọc quý ngay trên chính quê hương mình.
Từ năm 2012, ông Tú có quyết định nghỉ hưu, dân làng cứ thấy ông ngày nào cũng có mặt trong khu voọc quý sinh sống. Mưa nắng hay gió rét ông đều thoăn thoắt một mình với chai nước và miếng lương khô. ông dành hết thời gian lùng trong hẻm núi, lân la với chúng, nghe điệu chúng hú gọi nhau lúc phấn khích hoặc khi báo động để hiểu sâu tập tính loài quý hiếm này. Từ thức ăn như thế nào với con trưởng thành, rồi đến những con non được sinh nở ra sao ông đều chứng kiến thực tế. Đàn voọc Hà Tĩnh từ chỗ còn dưới 30 con, đến nay đã phát triển đến hơn 115 con, tách thành nhiều đàn khác nhau, trấn cứ mỗi ngọn núi đá vôi khác nhau.
Người làng thì nói ông “khùng” mới đi bảo vệ đồ rừng đồ rú. Ông vẫn mặc nhiên, không tự ái, lại lên mạng tìm hiểu về loài này, giải thích rõ ràng với xóm với thôn, ai săn bắn chúng, bắt chúng đều bị đi tù chứ chả chơi đâu. Loài quý hiếm, Sách đỏ, pháp luật bảo vệ đấy, tài sản quốc gia, tài sản nhân loại đấy.
Chúng tôi theo chân ông một tuần liền trong các ngọn núi hẻo lánh. Thật khó để theo dấu của đàn voọc. Ông Tú kể: “Ngày trước, trong vùng có hang Văn Công, chứa cả mấy ngàn người, ban ngày văn công tập hát, loa nhạc phát ra, bầy linh trưởng xuống mé cửa hang đông lắm. Vì chúng thích nhạc. Vậy nên có đợt bọn săn trộm mở nhạc gần vùng Cây Gạo, chúng xuống nghe, bị dính bẫy, giờ thì chúng cảnh giác lắm”.
Chúng tôi đi đến ba ngày không thấy rõ ràng tung tích của chúng, ông Tú động viên chúng tôi đừng nản. Đến ngày thứ tư, rồi thứ năm cũng chỉ thấy chúng chuyền cành sâu dưới các tán lá, không ló mặt rõ ràng. May mắn, hai ngày cuối cùng, ông Tú mở nhạc phát từ chiếc điện thoại dưới chân Dàn Vượn, con đầu đàn liền ra nghe ngóng.
Cùng lúc đó, trên ngọn Làng Còi ở phía Đồng Hóa, người dân cũng cho biết có một đàn chừng 20 con ra sát nhà dân kiếm ăn. Rồi ở Hung Trầu, Cửa Hung, trẻ chăn trâu cũng thấy chúng ra rất tự nhiên. Ông Tú giải thích: “Máy ảnh đưa đi đen sì, chân máy dài bọn chúng tưởng là súng nên cảnh giác. Bây giờ, chúng thấy thợ săn hoặc người lạ là phân biệt được ngay. Cả tuần phải làm quen, voọc Hà Tĩnh lộ diện mới chụp ảnh được”.
Ông Tú nghĩ phải tìm cách bảo vệ bài bản loài voọc quý hiếm này nên đã báo cáo lên Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Từ đó, chi cục trưởng tỉnh này đã cho đo vẽ ngay diện tích khu vực loài voọc này ở hơn 174 ha để có các bước đi bảo vệ mạnh mẽ. Riêng ông Tú mỗi ngày vẫn phải vào rừng, đồng lương hưu nhỏ bé ông đổ xăng đi mãi, nơi không đi xe máy được thì lội bộ. Rồi để bảo vệ cảnh quan, ông đưa lên các lèn đá trồng hàng trăm cây sưa cho loài voọc sau này thêm lá tươi tốt để ăn.
Ông nói: “Tôi sẽ bảo vệ đàn voọc đến chết. Trước khi qua đời cũng phải tìm người kế cận”. Vậy nên bây giờ ông đã cùng ba người dân khác tình nguyện canh cho chúng với “thù lao” được trả là mỗi lần mở nhạc từ điện thoại, nhiều con voọc Hà Tĩnh xuất hiện, đến gần cho ông ngắm. (Pháp Luật TPHCM 4/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gỗ sang EU vẫn “lơ mơ” về các nội dung của Hiệp định VPA/FLEGT và lo ngại về khả năng “đẻ” thêm thủ tục hành chính.
Dự kiến trong năm nay, “Hiệp định Đối tác Tự nguyện về Thực thi lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản” (gọi tắt là VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) được ký kết. Chính phủ Việt Nam tham gia đàm phán hiệp định này nhằm tránh cho doanh nghiệp (DN) xuất khẩu sang châu Âu phải làm trách nhiệm giải trình theo quy chế gỗ của châu Âu (EUTR).
Tuy nhiên, đến thời điểm này, nhiều doanh nghiệp khu vực miền Trung chuyên xuất khẩu gỗ sang EU vẫn còn “lơ mơ” về các nội dung của Hiệp định và thẳng thắn bày tỏ lo ngại về khả năng “đẻ” thêm thủ tục hành chính cũng như giấy tờ so với hiện nay. Điều này đã phần nào được tháo gỡ trong Hội thảo “Kết nối và chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp ngành gỗ” vừa diễn ra tại Bình Định.
Ông Nguyễn Tích Hoàn, Tổng Giám đốc Công ty Hoàng Phát (Bình Định) cho biết, mỗi năm Công ty nhập khẩu khoảng 15 ngàn m3 gỗ để sản xuất các mặt hàng xuất sang EU với doanh thu năm 2014 khoảng 12 triệu USD. Hiện doanh nghiệp này vẫn phải giải trình nguồn gốc gỗ theo Quy chế gỗ của EU và chưa thấy vướng mắc gì.
Còn khi hỏi về VPA/FLEGT, ông Hoàn thẳng thắn, mặc dù đã được thông tin qua các buổi hội thảo, tập huấn của Hiệp hội gỗ và được phỏng vấn trong đợt khảo sát đầu năm ngoái, nhưng đến nay ông vẫn còn lơ mơ về nội dung và tiến trình đàm phán Hiệp định. “Tôi có nghe nói đến Hiệp định cũng như đàm phán, nhưng theo kiểu vỉa hè” - ông Hoàn cho hay. Cũng như ông Hoàn, ông Đặng Công Quang, Phó Tổng Giám đốc Cty Cổ phần Lâm đặc sản Quảng Nam bày tỏ: “Tôi rất ít thời gian tìm hiểu thông tin về Hiệp định. Vì Hiệp định chưa ký kết nên chưa quan tâm nhiều. Hiện tôi không biết các vòng đàm phán đang đi tới đâu?”.
Theo bà Vũ Thị Hằng, chuyên gia dự án “Nâng cao năng lực cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp và cơ quan truyền thông trong quá trình thực thi FLEGT” - qua đợt khảo sát giữa kỳ đối với một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ khu vực miền Trung vào tháng 6/2015, các doanh nghiệp đã bước đầu nắm bắt thông tin về Hiệp định này, song không đồng đều. Có doanh nghiệp cử cán bộ chuyên trách xuất nhập khẩu theo dõi tiến trình đàm phán, một số ít chủ doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn.
Song cũng có chủ doanh nghiệp chỉ nghe “thoang thoảng” qua phương tiện thông tin đại chúng, còn phần lớn “do quá bận” nên dường như không có thời gian tìm hiểu. So với năm ngoái thì năm nay có thêm nhiều thông tin rõ ràng và cụ thể hơn do các dự án cung cấp cho đối tượng doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu thông tin.
Sau khi Việt Nam và EU ký kết VPA/FLEGT, Việt Nam sẽ thiết lập một hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (gọi tắt là TLAS) để xác minh và cấp phép FLEGT cho các chuyến hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu vào EU. Để được cấp phép FLEGT, doanh nghiệp phải đủ giấy tờ chứng minh các sản phẩm làm từ gỗ hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo thông tin mới nhất mà đoàn đám phán cung cấp, Việt Nam đã đàm phán thành công để EU chấp nhận cả 7 loại giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp, và DN hay hộ nông dân chỉ cần có 1 trong 7 loại giấy tờ đó theo quy định là có thể chứng minh được tính hợp pháp của gỗ. VPA đưa ra Định nghĩa gỗ hợp pháp dựa trên cơ sở luật pháp hiện hành của Việt Nam. Như vậy, VPA sẽ giải quyết các khó khăn hiện nay. DN và hộ trồng rừng cung cấp gỗ chỉ cần tuân thủ pháp luật hiện hành của Việt nam là sau này có thể đáp ứng được các yêu cầu của VPA. Nhưng đến nay nhiều doanh nghiệp cũng chưa nắm được điểm cơ bản này.
Ông Đặng Công Quang, Phó TGĐ Công ty CP Lâm đặc sản Quảng Nam cho rằng: “Cấp phép FLEGT cho từng lô hàng thì thực sự khó khăn cho doanh nghiệp. Nếu cấp cho từng chuyến hàng lại càng vất vả hơn”. Làm thế nào để những doanh nghiệp nào làm ăn tốt, đáng tin cậy có thể yên tâm sản xuất, kinh doanh mà không mất nhiều thời gian lo thủ tục, giấy tờ phát sinh là điều các doanh nghiệp đều quan tâm.
Những vấn đề và câu hỏi mà doanh nghiệp quan tâm đã được các chuyên gia tham gia trong đoàn đàm phán tháo gỡ trong Hội thảo “Kết nối và chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp ngành gỗ” do Trung tâm Giáo dục và Phát triển phối hợp với VCCI Đà Nẵng tổ chức tại Bình định ngày 26/6/2015 vừa qua.
Trước một quy định mới, doanh nghiệp ngại phát sinh thủ tục hồ sơ là chuyện dễ hiểu. Tuy nhiên, cũng giống như Đạo luật Lacey hay EUTR cuối cùng thì doanh nghiệp cũng thích nghi. Khác với đạo luật Lacey và EUTR, VPA không mang tính áp đặt mà theo hệ thống luật pháp của nước sản xuất gỗ. Tại Hội thảo, ông Trần Văn Triển – Phó Trưởng phòng Điều tra, xử lý vi phạm về lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, cho biết, định nghĩa gỗ hợp pháp là do Chính phủ Việt Nam đưa ra dựa trên pháp luật Việt Nam chứ không phải do EU áp đặt.
Hiện nay, để xuất khẩu được gỗ sang thị trường EU, DN đang phải làm trách nhiệm giải trình, nghĩa là DN cũng phải có giấy tờ chứng minh gỗ hợp pháp. Như vậy, DN chỉ cần tuân thủ tốt các quy định về sử dụng đất, khai thác/nhập khẩu, hải quan, vận chuyển, buôn bán gỗ, đăng ký kinh doanh, thuế… thì đã đảm bảo 4/7 nguyên tắc về gỗ hợp pháp theo pháp luật Việt Nam, còn lại chỉ là các vấn đề về kinh doanh, môi trường và xã hội. Vì thế mà việc thích ứng với VPA-FLEGT sẽ không gặp nhiều khó khăn như các DN tưởng tượng.
Ông Triển cũng cho biết thêm, với việc cấp phép FLEGT, nếu DN muốn đảm bảo thời gian đơn hàng thì chủ động nộp hồ sơ sớm. Sau khi cơ quan kiểm lâm duyệt, hồ sơ sẽ tự động được chuyển sang đơn vị cấp phép là Cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã có nguy cấp Việt Nam (CITES) để cấp phép. Một cổng thông tin điện tử cũng sẽ được xây dựng để DN có thể xin cấp phép online để tránh việc chồng chéo thủ tục và quan liêu, giảm chi phí và thời gian đi lại cho DN.
Cũng tại hội thảo, đại diện Ban chỉ đạo Lacey-FLEGT, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, sau khi Hiệp định ký kết, sẽ phải mất một thời gian để xây dựng hệ thống cấp phép, doanh nghiệp vẫn sẽ làm trách nhiệm giải trình bình thường theo EUTR, như vậy các DN sẽ có thời gian chuẩn bị nên không cần phải quá lo lắng về việc xin giấy phép.
Thời hạn ký kết VPA giữa Chính phủ Việt Nam và EU vẫn chưa chốt, nhưng những lợi ích mà VPA mang lại thì vẫn được nhiều chuyên gia ghi nhận. Ông Đào Tiến Dũng - Chánh văn phòng Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), cho rằng: “Vấn đề không phải là có ký VPA hay không mà những lợi ích nó mang lại từ khi Việt Nam tham gia đàm phán rất rõ ràng. Thời gian vừa qua, Việt Nam đã hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình tốt lên rất nhiều, việc này giúp ích rất nhiều cho DN, giúp DN tuân thủ pháp luật tốt hơn, mở rộng tên tuổi trên thị trường thế giới”
So với EUTR, DN phải tuân thủ pháp luật của nước sở tại thì việc ký kết và thực thi VPA tại Việt Nam trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam sẽ thuận lợi hơn cho DN Việt Nam rất nhiều. Các DN nên chủ động tiếp cận với các trang tin chính thống về FLEGT-VPA để hiểu rõ hơn nội dung Hiệp định và nắm bắt tiến trình đàm phán. Đặc biệt, làm thế nào để đơn giản hóa thủ tục cấp phép, tính minh bạch và sự hợp lý của các chi phí trong cấp phép FLEGT vẫn còn là câu hỏi cần có sự tham gia ý kiến từ các DN và các hiệp hội doanh nghiệp. (VOV 6/7) đầu trang(
Chiều 6.7, Hạt Kiểm lâm quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) đã ra quyết định số 50, thu hồi và hủy hợp đồng giao khoán đất với ông Phan Như Thạch (nguyên GĐ Công an tỉnh Quảng Nam) tại chân đèo Hải Vân (P.Hòa Hiệp Bắc, Q.Liên Chiểu).
Động thái này phần nào “xoa dịu” bức xúc của dư luận trước kỳ họp HĐND TP diễn ra hôm nay (7.7). Câu hỏi đặt ra là: Biệt thự ông Ngô Văn Quang (GĐ một Cty khai thác vàng ở Quảng Nam) xây dựng trái phép sau khi được ông Thạch nhượng lại có bị “xóa sổ”?
Trong kỳ họp HĐND TP lần này, Sở NNPTNT Đà Nẵng ủy quyền cho ông Trần Văn Lương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng - chuẩn bị nội dung trả lời ý kiến chất vấn của các đại biểu về việc xây dựng biệt thự, biệt phủ trái phép trên núi Hải Vân.
Tài liệu PV thu thập được thể hiện, ngày 25.3.1997, ông Thạch có đơn xin đất xây dựng vườn rừng được lãnh đạo BQL rừng đặc dụng Nam Hải Vân (BQL RĐD NHV) ký hợp đồng giao khoán số 01/HĐK ngày 1.4.1997 với diện tích 1,5ha tại tiểu khu 11, đồi Chim Chim (núi Hải Vân).
Tiếp đến, ngày 15.9.1997, ông Thạch tiếp tục có đơn xin đất xây dựng vườn rừng và được BQL RĐD NHV ký hợp đồng số 01b/HĐK ngày 21.9.1997 với diện tích 1,5ha tại khu vực trên. Tổng diện tích giao khoán cho ông Thạch là 3ha, có chính quyền địa phương chứng thực.
Tháng 5.2011, ông Thạch đã nhượng quyền bảo vệ và canh tác đất này lại cho ông Ngô Văn Quang bằng hình thức viết tay. Đáng nói, ngay tại thời điểm đó, Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu liên tục đi kiểm tra, báo cáo tình hình xây dựng trái phép của ông Quang về Chi cục Kiểm lâm, nhưng không hiểu sao cơ quan này vẫn “im hơi lặng tiếng”, không xem xét, chỉ đạo thanh lý hợp đồng, dù phát hiện bên được giao khoán nhiều lần vi phạm.
Làm việc với PV vào chiều 6.7, ông Lê Mạnh Hùng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng - thừa nhận “do còn chút nể nang” nên việc xử lý vi phạm hợp đồng mới dây dưa, kéo dài đến nay. “Chúng tôi và các đơn vị liên quan như UBND quận Liên Chiểu, Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu… có thiếu sót và đã có hình thức kỷ luật, kiểm điểm” - ông Hùng nói.
Ông Hùng cho biết: “Chúng tôi yêu cầu Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu đơn phương hủy hợp đồng giao khoán với ông Thạch. Còn ông Quang chúng tôi không đả động đến”. Ông Hùng nói, hợp đồng giữa ông Thạch và ông Quang không phải là hợp đồng mua bán, chuyển nhượng mà là hợp đồng ủy quyền. Vì vậy, ông Quang sai là sai với ông Thạch chứ không sai với bên giao khoán đất.
Ngày 4.2.2015, UBND quận Liên Chiểu ra quyết định xử phạt ông Quang vì xây dựng biệt thự trái phép, nhưng đến nay ông này chỉ tháo dỡ ngôi nhà đúc nhỏ. Không chỉ vậy, ông Quang còn có văn bản “xin” được giữ lại gần như toàn bộ biệt phủ rộng 1.411m2 để xây dựng khu du lịch.
PV đặt câu hỏi: “Nếu thu hồi lại đất mà biệt thự của ông Quang vẫn không được tháo dỡ thì làm thế nào để thực hiện?”, ông Hùng nói: “Chúng tôi chỉ dừng lại ở việc hủy hợp đồng vì kiểm lâm không có chức năng xử phạt hành chính trong xây dựng trái phép, còn việc tháo dỡ biệt thự của ông Quang đã có quyết định xử lý vi phạm của quận Liên Chiểu. Ông Quang không chấp hành thì chờ ý kiến chỉ đạo của thành phố thôi”.
Về tình huống pháp lý này, luật sư Đỗ Pháp (Đoàn Luật sư TP.Đà Nẵng) cho biết: “Chủ thể Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu thanh lý hợp đồng là ông Thạch vì ông Thạch ký hợp đồng giao khoán đất. Còn ông Quang trong trường hợp này chỉ là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Nếu có hợp đồng ủy quyền giữa hai bên thì dĩ nhiên có nghĩa vụ pháp lý và phát sinh quan hệ dân sự. Hai bên có thể khởi kiện ra tòa nếu có tranh chấp hợp đồng về quyền lợi. Nếu có hợp đồng ủy quyền sử dụng đất, hai ông phải mang ra công chứng để hủy hợp đồng”.
Theo luật sư Đỗ Pháp, khi Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu thanh lý hợp đồng với ông Thạch thì giao dịch giữa ông Thạch và ông Quang vô hiệu. Còn ông Quang vi phạm thì xử lý khi xây dựng, sử dụng đất thì cơ quan chức năng xử lý ông Quang.
Như vậy, việc Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu hủy hợp đồng giao khoán đất với ông Thạch không đồng nghĩa với việc biệt thự trái phép của ông Quang sẽ bị xóa sổ!. Và mọi việc lại trở lại “thế cờ” ban đầu: Tiếp tục chờ UBND TP.Đà Nẵng quyết định. (Lao Động + Vietnamnet + Dân Việt 7/7; VTC 6/7) đầu trang(
Hiệp hội Mắc ca Úc và Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) vừa tổ chức chuyến khảo sát, tham quan các hoạt động sản xuất, chế biến và kinh doanh mắc ca tại quốc gia nằm ở Nam bán cầu. PV NNVN đã có những trải nghiệm thú vị tại cái nôi của ngành công nghiệp mắc ca thế giới…
Suốt hai tuần lễ ròng rã đi thực địa tại hai vùng trồng và các nhà máy chế biến mắc ca lớn của Úc là Queensland và New South Wales, chúng tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đó là cách làm bài bản, khoa học và ứng dụng triệt để tiến bộ khoa học công nghệ trong từng công đoạn, có thể nói từ A đến Z. Chuyến đi này cũng đã phần nào gợi mở và tháo gỡ không ít băn khoăn, thắc mắc cho chương trình phát triển mắc ca mới đang ở giai đoạn khởi đầu ở Việt Nam.
Theo ông Jolyon Burnett, Tổng giám đốc Hiệp hội Mắc ca Úc, tổng diện tích mắc ca của Úc hiện có khoảng trên 21 ngàn ha, chủ yếu trồng dọc theo chiều dài 520 km bờ biển phía đông - nơi có thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp với loại cây này.
Toàn quốc có khoảng trên 6 triệu cây, tuổi đời từ 6 đến 25 năm trồng tại gần 800 trang trại tập trung chủ yếu ở Bundaberg, Gympie, Nambucca và Northern Rivers. Ngành công nghiệp sản xuất và chế biến xuất khẩu mắc ca Úc hiện chiếm 30% sản lượng và thị phần thế giới, mỗi năm thu về trên 200 triệu đô la Úc (1 đô la Úc tương đương 17.000 đồng). Trong tổng sản lượng dao động từ 45.000 đến 50.000 tấn hạt nguyên liệu trong những năm gần đây, lượng chế biến để tiêu thụ nội địa chỉ chiếm 35%, còn lại chủ yếu xuất sang châu Á với 40%, Mỹ 10% và châu Âu 14%.
Các con số thống kê thời gian qua cho thấy, chỉ riêng 5 thị trường lớn là nội địa, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã tiêu thụ tới khoảng 75% tổng sản lượng mắc ca toàn thế giới. Về giá, liên tục trong 5-6 năm qua, nông dân trồng loại cây lấy hạt này thu lãi từ 5.000-6.000 đô la Úc/ha/năm, sau khi đã trừ các khoản chi phí như máy móc, nhân công, phân bón, thuốc BVTV…
Tuy nhiên, điều đặc biệt ấn tượng đối với chúng tôi là sự chuyên nghiệp của người trồng mắc ca. Họ gần như nắm vững mọi quy trình phát triển của loại cây này, bắt đầu từ khâu chọn giống đến kỹ thuật canh tác, biết rõ thu hoạch vào thời điểm nào là tốt nhất để bán cho các nhà máy chế biến nguồn nguyên liệu đạt chất lượng tốt nhất, thu được giá cao nhất. Mặc dù Úc là quê hương của cây mắc ca với bộ giống lên tới gần trăm loại, nhưng nhờ quá trình nghiên cứu bài bản của đội ngũ các nhà khoa học trong suốt 40-50 năm qua họ đã chọn lọc ra khoảng trên dưới 20 giống tối ưu phù hợp với thời tiết và thổ nhưỡng của từng vùng miền.
Về năng suất, tuy có khác nhau, tùy theo từng độ tuổi nhưng hiện với vườn cây phổ biến trên 15 năm ở nước này đang dao động từ 3,2-3,5 tấn hạt/ha, tương đương 13-15 kg/cây. Là quốc gia có diện tích tự nhiên rộng tới gần 7,7 triệu km2 (gấp hơn 23 lần Việt Nam), dân số trên 23 triệu người lại chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn nên diện tích vườn trồng mắc ca của nông dân Úc bình quân đạt 20ha/trang trại, cá biệt có trang trại rộng tới 600 ha. Theo Hiệp hội Mắc ca Úc, năm 2014 sản lượng nhân toàn quốc ước tính đạt trên 11.500 tấn phục vụ ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu, tạo ra nhiều mặt hàng giá trị gia tăng cao như đồ ăn tốt cho sức khỏe, mỹ phẩm, dầu ăn.
Các chuyên gia cho rằng, đây mới chính là “thị phần tiềm năng” cho cây mắc ca trong tương lai bởi qua khảo sát thị trường thế giới cho thấy nhu cầu tiêu dùng các loại sản phẩm này đã tăng nhanh đột biến trong vài năm gần đây, đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông và châu Âu... Trước khi đến Úc, có một câu hỏi lớn từ phía Việt Nam được nhiều người ấp ủ nhất giành cho giới chuyên gia Úc là “Vì sao Úc là nơi sinh ra cây mắc ca lại có ngành công nghiệp chế biến mắc ca số 1 thế giới, đất đai rộng lớn mà không phát triển thêm diện tích?”.
Nay thắc mắc đó đã được chính ông Tổng giám đốc Hiệp hội Mắc ca Úc trả lời như sau: Thứ nhất, tuy là cây bản địa nhưng mắc ca chỉ thực sự phù hợp ở một số vùng khí hậu và thổ nhưỡng của Úc. Không phải vì chúng tôi không muốn mở rộng diện tích nhưng do các yếu tố khách quan như hạn chế về thổ nhưỡng, tiểu vùng khí hậu, hạ tầng, lập địa khiến việc đầu tư thêm trong thời gian tới là rất khó khăn vì sẽ đội chi phí lên rất cao.
Thứ hai là phải qua vài chục năm kinh nghiệm trồng các loại giống mắc ca khác nhau, nay nhiều trang trại mới nhận ra rằng, khi cây mắc ca đạt chiều cao gần 20 mét, tán xòe rộng (mặc dù là trồng thuần cây giống ghép, mật độ phổ biến là khoảng trên 300 cây/ha, tương ứng 8mx4m) nhưng việc quản lý vườn cây, đất đai hiện đã trở nên khó khăn hơn như khi cây quá lớn, tán rộng thì khả năng quang hợp bị hạn chế ảnh hưởng đến sản lượng. Song song đó là tình trạng biến đổi khí hậu, rửa trôi, xói mòn đất và bệnh dịch phát sinh tại nhiều vùng khiến cây bị lộ rễ nên việc đưa máy móc, cơ giới hóa vào sản xuất cũng tác động xấu đến năng suất vườn cây…
Nguyên nhân lớn thứ ba được cho là “mấu chốt của vấn đề” đối với việc phát triển cây mắc ca ở Úc là hiện chi phí để làm mắc ca tại đây quá tốn kém, trong khi thời gian thu hồi vốn đối với người trồng có thể lên tới 20-30 năm. Đối với ngành công nghiệp chế biến cũng vậy, cụ thể như tại Cty Pacific Gold Macadamia ở Bundaberg mà các bạn đã đến thăm, để đầu tư một nhà máy chế biến mắc ca hết khoảng 12 triệu đô la thì riêng tiền đất đã chiếm 8 triệu đô la.
Hay tại Queensland và New South Wales hiện nay dù đã cơ giới hóa và tự động hóa gần như toàn bộ các khâu để cắt giảm chi phí tối đa nhưng giá nhân công bình quân cho một lao động trong xưởng chế biến hiện là từ 4.000-6.000 đô la/tháng và 15-17 đô la/giờ cho một lao động mùa vụ tại vườn. Do Úc là “thiên đường lao động” nên giá thuê nhân công rất cao, cộng với tình trạng khan hiếm lao động dẫn đến khó thu hút các nhà đầu tư vào cây mắc ca trong bối cảnh nhiều lĩnh vực khác hấp dẫn và dễ kiếm tiền hơn rất nhiều. (Nông Nghiệp VN 6/7) đầu trang(
Tình trạng xe tải chở gỗ dăm được tỉnh Quảng Ngãi cho phép cơi nới thùng chạy ẩu, gây tai nạn đang khiến người dân bất an
Vụ tai nạn giao thông (TNGT) xảy ra ngày 19-6 vừa qua tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, do tài xế xe chở gỗ dăm lấn đường tông chết 4 người, đang gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với “hung thần xa lộ” này.
Tại tuyến đường nối từ Dốc Sỏi - cảng Dung Quất, chúng tôi chứng kiến mỗi ngày có hàng trăm lượt xe tải chở gỗ dăm qua lại. Nhiều xe tải được cơi nới thùng, không che chắn, chạy bạt mạng. Mỗi lần có xe chạy qua, người đi đường phải nấp vào lề để tránh, dăm gỗ từ trên thùng bay mù mịt. Tuyến đường Dốc Sỏi - cảng Dung Quất dài khoảng 10 km gần như bị băm nát.
Tại các cung đường khác như Quốc lộ 24 nối huyện Ba Tơ với TP Quảng Ngãi, tuyến đường từ Sơn Hà xuống TP Quảng Ngãi hay một số tuyến đường trong trung tâm TP Quảng Ngãi…, mỗi ngày cũng có hàng trăm xe chở gỗ dăm hoạt động. Anh Nguyễn Quang (ngụ thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà) bức xúc: “Các tuyến đường qua huyện Sơn Hà rất hẹp nhưng tài xế chạy rất ẩu, TNGT xảy ra liên miên”.
Điều đáng nói là tình trạng xe chở gỗ dăm cơi nới thùng, chạy ẩu, lấn tuyến hoành hành lâu nay nhưng chưa được cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi quan tâm đúng mức. Sau những đợt ra quân xử phạt, xe tải chở gỗ dăm “quậy” trên đường vẫn tái diễn.
Ông Phạm Trung Tân - Chủ tịch UBND xã Ba Cung, huyện Ba Tơ - xác nhận vụ TNGT nghiêm trọng làm 4 người chết vào chiều 19-6 chỉ là một số ít trường hợp tai nạn do xe chở gỗ dăm gây ra. “Hầu hết tài xế được chủ doanh nghiệp bảo kê hoặc ép công lao động nên chạy rất ẩu. Điều lạ là họ ít bị cơ quan chức năng xử lý”- ông Tân băn khoăn.
Liệu có hay không việc ưu ái cho xe tải chở gỗ dăm? Ông Huỳnh Ngà, Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Ngãi, lý giải: “Do đặc thù chở gỗ dăm để xuất khẩu, đem lại nguồn thu ngân sách lớn cho tỉnh, quan hệ trực tiếp với người nông dân cho nên tỉnh tạo một phần điều kiện”.
Việc tạo điều kiện này, theo ông Ngà, là cho phép nhà xe cơi nới thùng. Cụ thể trước đây, chiều cao thùng tối đa cho loại xe này lên đến 4,5 m, sau đó hạ xuống còn 4 m và đang tiếp tục đề xuất hạ còn 3,6 m.  “Sau vụ tai nạn làm 4 người chết, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu phải xử lý nghiêm khắc vi phạm đối với loại xe này. Do đó, từ nay đến giữa tháng 8-2015, chúng tôi sẽ yêu cầu tất cả xe chở gỗ dăm hạ tải đúng thùng xe theo quy định. Chúng tôi sẽ phối hợp với lực lượng CSGT tập trung kiểm tra, xử phạt nếu phát hiện xe nào vi phạm tốc độ, quy định an toàn giao thông” - ông Ngà cam kết. (Người Lao Động 5/7) đầu trang(
2-6-2015, Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 4025/VPCP-KTN do Phó chủ nhiệm VPCP Nguyễn Cao Lục ký gửi Bộ NNPTNT truyền đạt ý kiến của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc tiến sĩ Ngô Kiều Oanh-chủ trang trại Đồng Quê (thôn Nghe, xã Vân Hòa, huyện Ba Vì) có đơn kiến nghị việc xin ngừng giao 30,3ha rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì cho Công ty CP Tập đoàn đầu tư xây dựng và du lịch Bình Minh thuê môi trường rừng.
Theo đó, Phó thủ tướng có ý kiến: “Giao Bộ NNPTNT xem xét, xử lý và trả lời tiến sĩ Ngô Kiều Oanh theo đúng thẩm quyền và quy định hiện hành”.
Trước đó, liên quan đến việc xin ngừng giao 30,3ha rừng, tiến sĩ Ngô Kiều Oanh nhiều lần có đơn kiến nghị gửi Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về những vấn đề cho thuê môi trường rừng ở Vườn Quốc gia Ba Vì không đem lại hiệu quả kinh tế cao (Báo CCB Việt Nam có bài phản ánh về vấn đề này).
Đáng chú ý, nội dung tiến sĩ Ngô Kiều Oanh kiến nghị Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về diện tích 450ha quy hoạch Khu du lịch Thiên Sơn Thác Ngà của Công ty CP Tập đoàn đầu tư xây dựng và du lịch Bình Minh, năm 2000, UBND tỉnh Hà Tây (cũ) đã quy hoạch và giao cho doanh nghiệp, xét về quy trình thu hồi đất rừng là hoàn toàn sai phạm (theo kết luận thanh tra số 204/QĐ-TTNN của Thanh tra Chính phủ ban hành ngày 7-6-2002).
Bên cạnh đó, tiến sĩ Ngô Kiều Oanh cũng cho rằng, diện tích 30,3ha cho thuê môi trường rừng phát sinh sau này sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi, kế sinh nhai của 8 hộ dân(trong đó có một số hộ là CCB). Đặc biệt, hiện có nhiều công trình xây dựng trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Ba Vì (cos 400m trở lên) sẽ phá vỡ cảnh quan thiên nhiên và ảnh hưởng tới hệ động thực vật trong lâm phận vườn quốc gia. (Cựu Chiến Binh 5/7) đầu trang(
Những ngày qua, người dân các xã thuộc huyện Kon Plông (Kon Tum) đổ xô vào rừng để săn lùng lá kim cương, nấm cổ cò, nấm tai khỉ và quả mây rừng về bán cho các thương lái với giá từ vài chục ngàn đồng đến hàng triệu đồng/kg.
Điều bất thường là có những loại lâm sản, người dân chẳng biết có công dụng gì, cũng chẳng ăn bao giờ nhưng vì được thương lái đặt hàng giá cao nên đua nhau đi lấy về bán.
Tại ngã ba xã Măng Cành (huyện Kon Plông), một tốp 3 người dân ở làng Kon Năng, xã Măng Cành chuẩn bị bao, túi cùng một ít cơm nắm, nước uống để vào rừng hái lá kim cương và nấm tai khỉ. Hỏi mua lá kim cương, chị Y Krứa (19 tuổi, làng Kon Năng) chốt giá: “Thương lái mua 1 triệu đồng/kg, nếu anh trả giá cao hơn thì tôi mới bán”.
Theo Y Krứa, cây kim cương cao chưa đầy 1 gang tay, mọc trên những thảm lá mục ở rừng sâu hay giữa các khe đá. Mới đầu mùa nên cây kim cương chưa nhiều, lá nhỏ, chưa nở hoa nên khó tìm. Ngày giỏi lắm cũng kiếm được 1 lạng. Chừng 2-3 tháng nữa, khi cây kim cương nở hoa màu trắng thì việc tìm lá cũng dễ dàng hơn.
Trong lúc người dân nườm nượp vào rừng hái lá kim cương thì việc thu mua mặt hàng này cũng diễn ra tấp nập không kém. Nhiều thương lái đón đầu tại các bìa rừng để chờ người dân đi hái về sẽ thu mua trực tiếp hoặc đến tận nhà dân lùng mua. Điểm thu mua của bà Hoa (xã Đắk Tăng) là quán tạp hóa nằm ngay trung tâm xã. Cứ mỗi buổi chiều, 7 người trong gia đình bà này gồm chồng, con, anh em lùng sục khắp hàng chục ngôi làng ở các xã Đắk Tăng, Măng Bút, Măng Cành... để thu mua lá kim cương.
“Mới đầu mùa nên mua được rất ít, chỉ vài ba lạng, có bữa non 1ký/ngày. Sắp tới khi cây kim cương nở bông, người đi hái sẽ nhiều, lúc đó có thể mua cả chục ký/ngày. Mỗi khi gom được hàng, tôi gọi điện cho các thương lái đến lấy hàng, sau đó họ xuất bán sang Trung Quốc. Có bao nhiêu thương lái lấy bấy nhiêu, thậm chí giành giật nhau từng lạng”, bà Hoa nói.
Cùng với lá kim cương, nấm cổ cò cũng được bà Hoa thu mua. “Trước đó, nhiều thương lái đến đặt mua nấm cổ cò với giá 1,7 triệu đồng/kg. Tôi thấy giá cao nên thu mua của người dân rồi bán lại cho họ. Nấm cổ cò và lá kim cương đều ăn được, còn có công dụng gì đặc biệt tôi không rỏ”, bà Hoa tiếp lời.
Ngoài các mặt hàng nói trên, thương lái còn thu mua nhiều loại lâm sản phụ mà người dân không hề dùng tới bao giờ. Dẫn khách vào nhà kho đang chứa mấy túi đựng quả mây rừng, bà Hoa nói: “Quả đó thương lái đặt mua 300.000 đồng/kg. Tôi không biết quả này dùng để làm gì, lạ lắm”. Đến nhà ông Từ (thôn Kon Năng, xã Măng Cành), chúng tôi thấy ông đang hì hục vác từng bao nấm tai khỉ đổ ra sân rồi dàn mỏng ra phơi.
Ông Từ cho biết, mấy tháng trước, có người lạ mang mẫu nấm tai khỉ đến nhà ông đặt vấn đề muốn mua với giá 30.000 đồng/kg. “Nấm đó có nhiều trên rừng, nhưng chẳng người dân nào dám ăn. Thấy họ đặt mua thì tôi thu gom rồi bán lại, chỉ nghe nói họ mua rồi bán sang Trung Quốc”, ông Từ kể.
Ông Phan Đình Hải, Phó Chánh văn phòng UBND huyện Kon Plông xác nhận có nghe chuyện thương lái lùng mua lá kim cương, nấm tai khỉ, nấm cổ cò, còn chuyện mua làm gì thì ông cũng chịu. Theo ông Hải, nghe dân kể, xưa ông bà đi rừng lấy lá kim cương về nấu canh ăn thì thấy mát người ngủ ngon. Còn thực tế không biết cây kim cương chữa được bệnh gì, cũng chưa có ai nghiên cứu thành phần bên trong có tác dụng gì đặc biệt, hiện chỉ biết do được mua giá cao nên người dân đi hái. Trường hợp nấm tai khỉ người dân không dám ăn nhưng được thương lái thu mua với giá 30.000 đồng/kg, đó là điều bất thường.
Cũng theo ông Hải, lá kim cương, nấm cổ cò, tai khỉ, quả mây rừng đều là lâm sản không có giá trị cao. Việc người dân vào rừng hái, nhặt những loại này cũng không gây ảnh hưởng đến cây rừng. Trường hợp nếu thương lái ngừng thu mua các mặt hàng này (kiểu ồ ạt thu mua lá điều khô, rễ tiêu rồi “lặn mất tăm” như đã từng xảy ra ở các địa phương khác) thì chỉ có những hộ dân làm đại lý trực tiếp thu gom bị ảnh hưởng, còn nông dân không thiệt gì vì nếu thương lái không thu mua thì dân không đi lấy nữa. (Sài Gòn Giải Phóng 7/7) đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa yêu cầu UBND tỉnh Kiên Giang kiểm tra, làm rõ nội dung báo Tuổi Trẻ phản ánh về tình trạng "sốt" đất, mua bán đất rừng phòng hộ tại huyện đảo Phú Quốc.
Trước đó, báo Tuổi Trẻ phản ánh tình trạng giá đất đang diễn biến phức tạp tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang gây xáo trộn đời sống và quy hoạch phát triển của địa phương.
Cùng với hiện tượng sốt đất, nhiều khu đất rừng phòng hộ tại địa phương này đã bị người dân bao chiếm, trồng cây rồi bán sang tay...
Về vấn đề trên, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Kiên Giang kiểm tra, làm rõ nội dung phản ánh trên. Nếu sự việc đúng như báo Tuổi trẻ nêu, phải có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Tuổi Trẻ 6/7) đầu trang(
Hiện nay, đã kết thúc khung thời vụ của vụ trồng rừng năm 2015, tuy nhiên toàn tỉnh mới trồng được hơn 5.700 ha, đạt 71% kế hoạch.
Diện tích rừng sản xuất đã trồng được trên 4.600 ha/6.500 ha kế hoạch; Rừng phòng hộ 85 ha/190 ha kế hoạch; Rừng phân tán 890 ha/1.295 ha kế hoạch. 2 huyện đã hoàn thành vượt kế hoạch về diện tích trồng rừng năm 2015 là Chợ Mới và Pác Nặm. Trong đó huyện Chợ Mới trồng được 1.288 ha/1.220 ha kế hoạch, huyện Pác Nặm 419 ha/385 ha kế hoạch.
Hiện nay, toàn tỉnh còn khoảng gần 2.000 ha rừng chưa trồng, tập trung chủ yếu ở các huyện Ngân Sơn, Chợ Đồn và Na Rì. Nguyên nhân được xác định là do giống quế, thông chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn, một số nơi dừng cấp giống do thời tiết nắng nóng trong nhiều ngày qua.
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, mặc dù vụ trồng rừng năm 2015 chưa hoàn thành theo đúng khung thời vụ nhưng vẫn đạt tỷ lệ cao hơn so với cùng kỳ của năm 2014. (Đài PTTH Bắc Cạn 6/7) đầu trang(
Hội Chữ thập đỏ Ninh Bình vừa tổ chức kiểm tra, đánh giá và nghiệm thu diện tích rừng ngập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu được trồng mới trong năm 2015 tại khu vực bãi bồi ven biển ngoài đê Bình Minh 3, huyện Kim Sơn.
Giống cây được trồng là cây Trang (hay còn gọi là cây Vẹt). Sau hơn 2 tháng trồng, do điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi và đảm bảo đúng quy trình, kỹ thuật khi trồng nên diện tích rừng ngập mặn đang phát triển tốt; tỷ lệ cây sống đạt hơn 90%, chiều cao của cây đã đạt từ 40 – 50cm.
Dự án “Trồng rừng ngập mặn - giảm thiểu rủi ro thảm họa” tại khu vực bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn được sự hỗ trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) Ninh Bình đã triển khai từ năm 1997.
Qua gần 20 năm triển khai, đến nay Hội trữ thập đỏ tỉnh đã trồng và quản lý gần 240 ha rừng ngập mặn, góp phần quan trọng vào việc làm thay đổi thói quen, hành vi của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với thiên tai.
Hiệu quả trồng rừng ngập mặn tại khu vực bãi bồi ven biển có tác dụng bồi cao nền đất, hình thành nên một “bức tường xanh” vững chắc bảo vệ đê biển.
Qua các mùa bão lũ, triều cường, các đoạn đê biển có rừng ngập mặn che chắn đều không bị sạt lở, góp phần phòng ngừa thảm họa thiên nhiên. Chân đê được bồi tụ thêm đất giúp cho đê ngày càng vững chắc, giảm đáng kể chi phí tu bổ đê điều hàng năm, bảo vệ tốt cuộc sống của người dân vùng thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai.
Sau khi rừng được phục hồi, sinh vật biển trong rừng ngập mặn ngày càng phong phú, đa dạng hơn về thành phần loài, số lượng cá thể…, giúp tăng thu nhập của những người dân trong vùng thụ hưởng dự án. (Báo Ninh Bình 6/7) đầu trang(
Tháng 4/2015, Nhà máy chế biến gỗ ép thuộc công ty cổ phần công nghiệp và xuất khẩu lâm nghiệp Hà Giang chính thức đi vào hoạt động đã mở ra cơ hội mới cho Hà Giang trong phát triển công nghiệp của tỉnh.
Phương châm hoạt động của nhà máy là liên kết với các hộ kinh doanh, người trồng rừng để tạo vùng nguyên liệu ổn định cho nhà máy hoạt động. Việc liên kết này góp phần đưa ngành kinh tế lâm nghiệp của tỉnh phát triển, qua đó nâng cao được mức sống cho người dân trồng rừng và tạo việc làm ổn định cho hàng trăm công nhân của công ty
Công nghiệp chế biến sản phẩm gỗ được coi là động lực cho phát triển kinh tế ngành lâm nghiệp. Việc thay đổi cách tiếp cận theo chuỗi sản phẩm từ khâu tạo nguyên liệu cho tới khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, trong đó thị trường lâm sản trong nước và xuất khẩu cùng với chính sách phù hợp sẽ giữ vai trò quan trọng trong định hướng cơ cấu cây trồng chủ lực nhằm nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và phát triển rừng bền vững. Hiệu quả từ chế biến có được thành công hay không chính là sự gắn kết của doanh nghiệp với vùng nguyên liệu. Trong chuỗi giá trị của ngành lâm nghiệp gồm những khâu sản xuất liên quan với nhau, đầu tiên là bảo vệ và tạo rừng, tiếp đến là chế biến gỗ lâm sản và cuối cùng là thương mại gỗ và lâm sản.
Việc nhà máy chế biến gỗ ép thuộc Công ty cổ phần công nghiệp và xuất nhập khẩu lâm nghiệp Hà Giang đi vào hoạt động với công xuất 50.000m3/năm đã và đang tạo công ăn việc làm cho 140 công nhân, kỹ sư và hàng chục cơ sở, hợp tác xã chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh có thu nhập và sản xuất ổn định.Ngay từ ngày đầu thành lập, nhà máy đã thực hiện ký kết các hợp đồng cung ứng sản phẩm ván ép nguyên liệu từ các hộ gia đình, xưởng sản xuất trong tỉnh.
Tham gia ký hợp đồng cung ứng sản phẩm ván ép nguyên liệu cho nhà máy Ván ép xuất khẩu của công ty Cổ phần công nghiệp và xuất nhập khẩu lâm nghiệp Hà Giang, cơ sở của ông Đặng Quang Trại xã Kim Ngọc huyện Bắc Quang đã mở ra cơ hội hợp tác kinh doanh hiệu quả.
Ông Trại cho biết, đón bắt được cơ hội kinh doanh ổn định với công ty cổ phần Lâm nghiệp Hà Giang, xưởng sản xuất của ông đã đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị sản xuất gỗ ván ép nguyên liệu với dàn máy bóc, sấy khô thành phẩm. Hiện nay, cơ sở của ông đang thu mua gỗ rừng trồng của các hộ dân các xã Liên Hiệp, Kim Ngọc, Đồng Tâm, Thượng Bình… để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho nhà máy ván ép tại khu công nghiệp Bình Vàng. Với sản lượng cung cấp từ 1000 – 1.200m3/tháng.
Trao đổi với chúng tôi về quan điểm của công ty trong việc liên kết tạo vùng nguyên liệu, ông Dương Thế Hùng, Giám đốc Công ty cổ phần Công nghiệp và xuất nhập khẩu lâm nghiệp Hà Giang  cho biết: Thời gian tới Công ty cổ phần công nghiệp và xuất nhập khẩu lâm sản Hà Giang sẽ triển khai kế hoạch hỗ trợ, liên kết phát triển trồng rừng nguyên liệu gỗ đối với người dân các huyện như Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê để tạo vùng nguyên liệu ổn định cho nhà máy với cơ chế liên kết để trồng rừng. Trên quan điểm người dân có đất trồng rừng, nhà máy bỏ vốn, giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng chăm sóc. Với cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm gỗ rừng trồng kinh tế cho người dân.
Cùng về nội dung này, ông Lương Văn Đoàn, Chủ tịch UBND huyện Vị Xuyên cũng cho rằng: Việc liên kết giữa doanh nghiệp và người dân về bao tiêu sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy phong trào trồng rừng của địa phương. Bởi người dân sẽ yên tâm khi sản phẩm làm ra đã được doanh nghiệp bao tiêu. Bên cạnh đó, huyện Vị Xuyên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc liên kết với các gia đình để việc thu mua sản phẩm được thuận lợi nhất.
Với công suất thiết kế 150.000m3 sản phẩm/năm, bao gồm 3 Nhà máy sản xuất: Ván MDF với công suất 80.000m3/năm; ván thanh, ván ghép thanh với công suất 20.000m3/năm; ván ép với công suất 50.000m3/năm.
Theo đó, tổng nhu cầu nguyên liệu gỗ tròn của các Nhà máy vào khoảng 260.000 – 270.000m3/năm tương đương với khoảng 4.300ha rừng khai thác/năm. Đây chính là cơ hội mà Công ty cổ phần công nghiệp và xuất nhập khẩu lâm sản Hà Giang cùng chia sẻ lợi ích với người trồng rừng ở Hà Giang, khi thực hiện được cơ chế liên kết với Công ty sẽ góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp ở Hà Giang một cách bền vững và hiệu quả. (Đài PTTH Hà Giang 6/7) đầu trang(
Cùng với mục tiêu hỗ trợ cải thiện đời sống, chính sách giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số còn có mục tiêu là bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên, cả hai mục tiêu đều không đạt hiệu quả như mong muốn. Đa dạng hóa sinh kế từ giao đất, giao rừng được xem là giải pháp để xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số…
Trong 25 văn bản liên quan đến giao đất, giữ rừng chỉ có 8 văn bản đề cập đến đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), trong đó có 2 văn bản riêng cho đồng bào DTTS là Quyết định số 304/2005/QĐ - TTg ngày 23.11.2005 của Thủ tướng Chính phủ nhưng cũng chỉ tập trung vào giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho DTTS các tỉnh Tây Nguyên; và Quyết định 146/2005/QĐ - TTg ngày 15.6.2005 về thu hồi đất sản xuất của các nông, lâm trường để giao cho đồng bào DTTS nghèo.
Giao đất, giữ rừng cho đồng bào DTTS là một chủ trương đúng, tạo cơ sở pháp lý cho người dân có sinh kế từ rừng, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho hộ gia đình, cộng đồng. Từ đó, tạo được động lực, sự chủ động cho người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là, hầu hết các hộ DTTS khi được hỏi đến chính sách giao đất giữ rừng thì có phân biệt được các hình thức và các nghĩa vụ quyền lợi cơ bản, nhưng chưa hiểu rõ nghĩa vụ, quyền lợi, cơ chế hưởng lợi và các chính sách hỗ trợ giao đất giữ rừng có thể được hưởng. Đặc biệt, người dân không có nhiều thông tin về nguồn quỹ đất hiện có của địa phương nơi mình cư trú.
Có rất nhiều nguyên nhân lý giải vấn đề trên, song có thể thấy, các chính sách về quyền lợi của chủ rừng quy định nhiều, nhưng với chu kỳ dài và quy mô manh mún, nhỏ lẻ, thực tế là mức độ hưởng lợi ít, trong khi đó các thủ tục, cách tính và mức độ hưởng lợi phức tạp, không có nguồn lực để triển khai khiến cả hộ gia đình và các cấp không có động lực thực hiện. Hơn nữa, đồng bào DTTS có nhu cầu nhận đất, rừng nhưng số lượng hộ được giao đất giữ rừng còn thấp, tiến độ giao chậm. Từ đó, việc tiếp cận chính sách thông qua sự hưởng lợi cụ thể đã hạn chế sự tiếp cận chính sách nói chung.
Khảo sát tại một số xã ở Thanh Hóa, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Bình Thuận... cho thấy người dân đều chưa được hưởng lợi nhiều từ rừng (như theo quy định của pháp luật), ngoài việc tận thu một số lâm sản ngoài gỗ: chai cục, măng, phong lan, củi cành… nhưng cũng rất khiêm tốn, mức hưởng lợi cao nhất 3 - 4 triệu/năm. TS. Đặng Kim Sơn cho rằng, nguyên nhân chính là do đất, rừng giao chủ yếu xấu, nên ít nguồn lợi; thời gian trồng rừng để có thể hưởng lợi từ rừng thường kéo dài 5 - 7 năm; việc xác định nội dung, tính toán mức hưởng lợi phức tạp, thiếu chế tài đánh gia, đặc biệt thiếu sự giám sát của người dân.
Kết quả nghiên cứu hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số (thuộc tiểu Dự án Hỗ trợ giảm nghèo) cho thấy, tiền khoán hiện nay là 200 nghìn đồng/ha/năm cho một hộ có trung bình 4 khẩu, nếu có chi trả dịch vụ môi trường thì 350 nghìn đồng. Trong khi đó, không ít các chế độ hỗ trợ thực hiện không đúng, đủ như cam kết (5 triệu đồng/hộ nhà ở; 400 nghìn đồng/hộ khi xây dựng bể nước…). Thực tế, phần lớn đồng bào vẫn chủ động thực hiện hầu hết các công đoạn đầu tư trồng rừng, chăm sóc tiêu thụ sản phẩm, nhưng cơ chế phân chia sản phẩm chưa tương xứng với đóng góp, dịch vụ cung cấp cho bên nhận khoán.
Trong khi đó không ít Ban Quản lý rừng lạm thu phí. Cụ thể, theo Kết quả nghiên cứu do Ủy ban Dân tộc và Hội đồng Dân tộc công bố tháng 11.2014, 30 hộ đồng bào Dao Tiền khi tái định cư từ vùng lỗi Vườn Quốc gia Xuân Sơn được phổ biến mỗi hộ sẽ được trợ cấp 50 triệu đồng khi di dời, nhưng đến khi triển khai thì chỉ được trợ cấp mỗi hộ 5 triệu đồng; hay tại xã Như Thanh, Thanh Hóa, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sim thu 600 nghìn đồng/năm/ha trồng rừng keo, 400 nghìn đồng/ha trồng rừng luồng, ngoài ra khi người dân muốn trồng keo, luồng trên các diện tích rừng khoán phải nộp cho Ban Quản lý một khoản tiền từ 2 - 4 triệu đồng/ha. Thực tế này dẫn đến người dân mất lòng tin và nảy sinh mâu thuẫn giữa họ và Ban Quản lý rừng.
Theo Kết quả nghiên cứu của Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc, tại 6 điểm nghiên cứu cho thấy phần lớn các hộ thuộc diện nghèo, cận nghèo; thu nhập của 1 hộ (4 - 5 nhân khẩu) chỉ khoảng 30 triệu đồng/hộ/năm, thấp nhất là 16,4 triệu/hộ/năm, cao nhất là 83 triệu/hộ/năm. Trong kết cấu thu nhập, hầu hết các hộ có tỷ lệ thu nhập từ lâm nghiệp cao khoảng 40 - 50% thì tổng mức thu nhập lại thấp, chỉ trên 30 triệu đồng/hộ/năm. Điều này cho thấy, lâm nghiệp đóng góp lớn cho thu nhập nhưng người dân vẫn nghèo…
Thực tế, thu nhập từ trồng rừng là nguồn trung và dài hạn vì thời gian trồng, thu hoạch từ rừng thường kéo dài trên 5 năm. Đối với người nghèo, nếu chỉ dựa vào trồng rừng họ sẽ tiếp tục rơi vào vòng đói nghèo do đất đai ít, không có năng lực tài chính, kỹ thuật trồng rừng. Trong bối cảnh đó, quỹ đất thì có giới hạn, và các chính sách hưởng lợi và hỗ trợ chưa cho phép sống ổn định được bằng sinh kế từ rừng.
Như vậy, để thoát nghèo đồng bào không chỉ dựa vào lâm nghiệp mà phải đa dạng hóa sinh kế. Để làm được điều này các cơ quan xây dựng chính sách, quản lý cần thay đổi nhận thức, nhìn nhận đúng hiệu quả sinh kế của chính sách giao đất giữ rừng đối với đồng bào DTTS. Từ trước đến nay và cả trong tương lai, người DTTS không thể sống dựa chính vào rừng.
Sự thay đổi này sẽ kéo theo một chuỗi các vấn đề liên quan từ việc xây dựng, triển khai chính sách phù hợp với các đặc tính kinh tế, xã hội, môi trường năng lực và trình độ phát triển của từng nhóm DTTS; điều chỉnh quy định 3 loại rừng phù hợp với thực tế; chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp không thích hợp sang đất nông nghiệp để hỗ trợ người dân phát triển các sinh kế nông nghiệp đến hỗ trợ tài chính, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề…(Đại Biểu Nhân Dân 5/7) đầu trang(
Cùng với việc không mở rộng diện tích trồng mới cây mắcca, tỉnh Đắk Lắk còn khuyến cáo đồng bào các dân tộc không được sử dụng hạt, cây mắcca ghép không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng xen trong các vườn càphê, hồ tiêu, chè nhằm hạn chế rủi ro, thiệt hại cho đồng bào.
Theo tỉnh Đắk Lắk, đây là cây trồng dài ngày, sau 7 năm mới cho thu hoạch, suất đầu tư lớn, khả năng rủi ro trong sản xuất cao.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk cũng chỉ đạo các ngành chức năng, các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tăng cường tuyên truyền, phổ biến các nội dung liên quan đến cây mắcca để đồng bào các dân tộc, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa biết để thực hiện.
Theo đó, các đơn vị chức năng khuyến cáo người dân chỉ trồng cây mắcca thực nghiệm với diện tích hẹp, hoặc trồng xen trong các vườn càphê, hồ tiêu, chè bằng các giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận như H2, OC, 246, 816.  Đây là các giống mà Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên và nhiều hộ gia đình đồng bào các dân tộc đã trồng cho năng suất 9 kg hạt/cây/năm.
Cũng theo Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên, trọng lượng hạt và tỷ lệ nhân của các giống mắcca này khá tốt so với vùng nguyên sản cũng như các khu vực trồng mắcca trên thế giới.
Ngoài ra, tỉnh cũng chỉ đạo các huyện, thành phố, các ngành chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân cung ứng, kinh doanh hạt giống, cây mắcca ghép không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không đảm bảo chất lượng nhằm góp phần giảm thiệt hại cho đồng bào các dân tộc.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong hai năm trở lại đây, đồng bào các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk do chạy theo phong trào, tự phát ồ ạt mở rộng diện tích cây mắcca, đưa giá cây giống tăng vùn vụt, từ 20.000 đến 25.000 đồng/cây năm 2013 tăng lên 160.000 đến 180.000 đồng/cây vào thời điểm hiện nay.
Nghiêm trọng hơn, phần lớn đồng bào các dân tộc sử dụng nguồn giống cây mắcca đều không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng. Hiện toàn tỉnh có diện tích cây mắcca trên 110 ha, tập trung nhiều nhất ở các địa phương như Lắk, Krông Năng, M’Đrắk.
Qua kiểm tra các vườn mắcca đã trồng từ 7 đến 8 năm cho thấy, cây phát triển khá tốt, nhưng tỷ lệ đậu quả không đạt, hoặc không đậu quả làm thiệt hại lớn cho đồng bào các dân tộc. (Vietnam+ 6/7) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Bạc Liêu cho biết, theo kế hoạch trong năm 2015 tỉnh sẽ triển khai trồng 10 triệu cây phân tán trong dân và 910 ha rừng.
Hiện đã trồng 143,8 ha rừng, đạt 12% kế hoạch. Cụ thể, trồng rừng phòng hộ ven biển (64,8 ha); trồng rừng trên đất nuôi tôm (43,8 ha)…
Dự kiến từ nay đến cuối năm sẽ thực hiện đạt 100% kế hoạch. Bạc Liêu có tổng diện tích lâm phần hơn 5.400 ha, trong đó diện tích có rừng khoảng 3.170 ha, gồm rừng phòng hộ ven biển (2.900 ha), rừng đặc dụng (217 ha); rừng SX (55 ha). (Nông Nghiệp VN 6/7) đầu trang(
Thông Tin Nhanh Qua Đường Dây Nóng trên báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều xe ô tô chở gỗ quá tải lưu thông trên QL1A, đoạn qua H.Phú Lộc (TT-Huế), nhưng chưa bị các cơ quan chức năng xử lý. (Nhân Dân 5/7) đầu trang(
Tiên Yên là xã vùng thấp của huyện Quang Bình có trên 700 ha đất lâm nghiệp. Xác định rõ việc phát triển kinh tế rừng là một trong những hướng đi đúng đắn nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con nhân dân, những năm gần đây cấp ủy, chính quyền xã Tiên Yên thực sự quan tâm đến vấn đề này, đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân tập trung trồng rừng kinh tế, nhằm giúp người dân địa phương có nguồn thu nhập ổn định.
Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi nên người dân chú trọng trồng cây keo là chính, theo đánh giá của người dân thì đây là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc và cho hiệu quả kinh tế khá cao.
Giữa cái nắng oi ả của những ngày hè tháng 6, chúng tôi được cán bộ nông nghiệp xã đưa đến thăm gia đình chị Phùng Thị Xưa, ở thôn Yên Ngoan, một trong những gia đình tích cực tham gia trồng rừng kinh tế.
Vừa trèo đồi, vừa nói chuyện với phóng viên, chị Xưa chia sẻ: “Mấy năm trước, gia đình tôi trồng hơn 2 ha rừng keo, năm kia đã cho thu hoạch. Để tiết kiệm chi phí, công sức, gia đình bán cả đồi (thương lái tự cho người đến đốn cây và vận chuyển), thu lãi được gần 40 triệu đồng. Năm nay, vợ chồng tôi vừa mới trồng 3 ha keo giống, thời tiết thuận lợi nên cây sinh trưởng và phát triển tốt. Trồng keo cũng phải sang năm thứ 5 mới cho thu hoạch nên vợ chồng tôi chăm thêm đàn lợn thịt, mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa nuôi từ 40 – 50 con và trồng hơn 1,5 ha lúa, hoa màu để đảm bảo nguồn lương thực cho gia đình; trồng hơn 100 gốc cam ghép dưới đồi cũng đã bước sang năm thứ 3, cây phát triển nhanh và đang cho bói quả”.
Xã Tiên Yên có diện tích đất tự nhiên hơn 3 nghìn ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ hơn 500 ha, đất lâm nghiệp có thể trồng rừng của xã khoảng 700 ha. Thời gian trước, người dân trong xã tập trung trồng rừng theo Dự án 661. Dự án quy định nghiệm thu phải từ 5 ha rừng trồng trở lên, do địa lý  liền vùng, liền khoảnh của địa phương không nhiều nên xã phải thiết kế khoanh vùng. Dự án hỗ trợ một lần cho các hộ gia đình có 1 ha rừng trồng được 1,5 triệu đồng tiền giống và phân bón. Do đó, năm trước toàn xã chỉ trồng mới được gần 50 ha diện tích rừng.
Chủ tịch UBND xã Tiên Yên, Phùng Minh Thanh cho biết: Năm nay, cơ chế chính sách của tỉnh, của huyện có nhiều ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển trồng rừng theo định hướng “trồng rừng lâm nghiệp xã hội”. Người dân không nhất thiết phải trồng tập trung mà có thể trồng phân tán không liền vùng liền khoảnh. Chính sách trên tỉnh hỗ trợ người dân 600 đồng/cây giống, đến khi cây cho thu hoạch (nghiệm thu được) sẽ trả cho dân số tiền này.
Chính quyền xã thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) theo đề nghị của huyện và được hỗ trợ 200.000đ/ha. Xã phân công các thành viên BCĐ phụ trách các thôn, đi tuyên truyền, vận động thường xuyên, giúp đỡ người dân làm tốt công tác PCCC. Hiện nay, 6/6 thôn đều triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2015. Nhà ít cũng có khoảng 1 – 2ha, nhà nhiều có hàng chục ha rừng.
Theo tính toán thì 1 ha rừng trồng cần đầu tư khoảng 2 triệu đồng từ phát đồi đến trồng và chăm sóc cây giống thời gian đầu. Xã vận động những hộ gia đình có điều kiện kinh tế không có đất rừng liên kết với những hộ có đất nhưng thiếu vốn cùng đầu tư để cùng trồng rừng. Do cách làm này nên nhiều hộ dân đã tích cực tham gia trồng rừng phát triển kinh như gia đình anh Tả Văn Nàng, đã trồng được hơn 10 ha; Chu Văn Úy, trồng trên 4,5 ha; Tả Văn Quẹ, trên 4,5 ha...
Thôn Tân Bể là thôn có diện tích rừng trồng nhiều nhất với hơn 100 hộ dân tham gia trồng được khoảng 220 ha rừng, chiếm gần 50% tổng diện tích rừng trồng theo kế hoạch của toàn xã.
Thực tế cho thấy, đầu ra cho cây trồng cũng rất ổn định, khả quan. Anh Hoàng Văn Thụ, cán bộ nông nghiệp xã cho biết: Hiện nay, trung bình khoảng 1ha keo giống, trồng từ 1.600 – 2.000 cây, sau 5 – 7 năm thu được từ 50 - 100 triệu đồng/ha. Chỉ tính riêng trên địa bàn xã đã có 2 xưởng gỗ bóc tư nhân của ông Vũ Đức Nội ở thôn Yên Ngoan và anh Hoàng Văn Kiên ở thôn Yên Chàm liên tục thu mua. Nhà máy bột giấy trong khu công nghiệp Nam Quang (Bắc Quang) thu  mua cả cây với giá 900 đồng/cân (mảnh vụn, cành nhỏ các loại đều tận thu) để nghiền bột giấy. Ngoài ra, các thương lái từ dưới Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội... cũng đến tận nơi để bao tiêu đầu ra cho cây trồng.
Đến nay toàn xã Tiên Yên có 470 ha rừng sản xuất với gần 300 hộ dân gắn bó lợi ích kinh tế gia đình với việc trồng rừng. Trồng rừng kinh tế đã đem lại những lợi ích thiết thực  về KT – XH từ việc tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường tự nhiên đến tạo việc làm, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân địa phương. (Báo Hà Giang 6/7)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang