Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO

Ngày 30 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
29/10, ông Trần Quốc Toàn - Trạm trưởng trạm kiểm lâm số 1, Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng (huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) cho biết vừa bắt được 1 đối tượng chặt phá rừng trái phép tại địa bàn.
Theo đó, vào khoảng 6 giờ sáng cùng ngày, tổ lên ngành (do ông Toàn làm tổ trưởng) tiến hành tuần tra tại khu vực giáp ranh giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng và rừng của Trạm thực nghiệp lâm nghiệp Đắk Plao (huyện Đắk Glong). Trong lúc tuần tra, tổ phát hiện tiếng cưa lốc trong rừng nên chia thành nhiều nhóm nhỏ để lần theo tiếng cưa.
Sau khi phát hiện 1 đối tượng đang chặt hạ nhiều cây gỗ lớn, tổ đã tiến hành tạm giữ đối tượng cùng tang vật gồm 1 cưa xăng, 1 chiếc rìu và 1 con dao. Tiếp đó, tổ tuần tra đã áp giải đối tượng về giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong để xử lý theo thẩm quyền. Bước đầu, đối tượng khai tên là Giàng A Dế (SN 1985, ở xã Đắk Som, huyện Đắk Glong), phá rừng với mục đích để lấy đất canh tác.
Ông Toàn cho biết: “Các đối tượng phá rừng chủ yếu với mục đích lấy đất sản xuất, thường lợi dụng lúc rạng sáng (từ 4-7 giờ) hoặc chiều tối (sau 17 giờ) để vào cưa hạ cây trong rừng. Hiện tại, chúng tôi ước tính có khoảng 2.700m2 đất rừng trên địa bàn đã bị chặt phá”. (Tài Nguyên & Môi Trường 29/10) đầu trang(
UBND huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) vừa có văn bản kiến nghị Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) chỉ đạo Ban giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với lãnh đạo vườn và các trạm kiểm lâm, kiểm lâm viên có liên quan đến việc gỗ quý bị chặt hạ gần trạm kiểm lâm mà không phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
Qua kiểm tra mới đây, đoàn liên ngành huyện Buôn Đôn phát hiện 15 cây giáng hương, cẩm lai (gỗ quý nhóm I) bị lâm tặc chặt hạ ngay gần các Trạm Kiểm lâm số 5, 8, 11 và 12 của Vườn Quốc gia Yok Đôn.
Cách đây hai tuần, Công an huyện Buôn Đôn cũng phát hiện một cây giáng hương giống hơn 10m³ gỗ bị lâm tặc chặt hạ cạnh Trạm Kiểm lâm số 8 của Vườn Quốc gia Yok Đôn. (Sài Gòn Giải Phóng 30/10, tr7) đầu trang(
Ông Hà Công Tài, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, cho biết từ năm 2004 đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh Đắk Nông phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương đã phát hiện, xử lý hơn 9.600 vụ phá rừng trái phép.
Tổng diện tích bị phá là 8.900ha rừng các loại. Cơ quan chức năng đã xử lý hành chính 8.950 vụ phá rừng, khởi tố 436 vụ và chuyển hồ sơ điều tra hình sự 292 vụ phá rừng; tịch thu hơn 12.700 m3 gỗ các loại do khai thác rừng trái phép, xử phạt hành chính gần 60 tỷ đồng.
Trên thực tế, nạn phá rừng, xâm chiếm đất rừng còn nghiêm trọng hơn nhiều. Hàng chục ngàn ha rừng bị tàn phá, nhiều lâm trường mất hết diện tích rừng phải giải thể như lâm trường Quảng Tân, huyện Tuy Đức, lâm trường Hồng An và Đạo Nghĩa, huyện Đắk R’ Lấp, lâm trường Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa…
Theo thống kê của các chủ rừng, diện tích rừng bị xâm lấn và phá trái phép là gần 28.000 ha, rừng bị phá trái phép nhiều nhất là ở huyện Đắk Song với diện tích hơn 10.500 ha.
Các cơ quan chức năng ở Đắk Nông đã nêu một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khó quản lý và bảo vệ rừng ở tỉnh này như hệ thống pháp lý, công tác tổ chức, lãnh đạo và nguồn nhân lực bảo vệ đang có nhiều bất cập; khi giao đất và rừng cho các chủ dự án, tỉnh chưa phân loại, định giá rừng, đến khi mất rừng thì không có cơ sở để xử lý; sự phối hợp giữa các cấp, ngành trong vấn đề bảo vệ rừng còn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng các đối tượng lợi dụng sơ hở này để phá rừng.
Trong khi đó, các đơn vị được giao quản lý, bảo vệ rừng chưa quan tâm đến phương án quản lý, bảo vệ, nhân lực thực hiện nhiệm vụ này còn mỏng, thiếu chuyên môn, nghiệp vụ.
Các chủ dự án đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp mới chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế trước mắt mà xao nhãng nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, để người dân chặt phá, lấn chiếm rừng, đất rừng.
Sự phối hợp giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm còn lỏng lẻo dẫn đến việc các vụ phá rừng không được phát hiện, xử lý kịp thời.
Để hạn chế nạn phá rừng và xâm chiếm đất rừng trái phép, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, các đồn Biên phòng, thành lập các đoàn liên ngành và thường xuyên kiểm tra khu vực dọc biên giới của tỉnh; đồng thời, tham mưu cho ủy ban nhân dân các huyện thành lập các chốt chặn trực 24/24 giờ tại các khu vực trọng điểm về phá rừng.
Đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã lập kế hoạch và tổ chức 371 đợt tuần tra, truy quét tại các điểm nóng về phá rừng, các tụ điểm về khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; phát hiện và lập 104 biên bản vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng… (VietnamPlus 29/10) đầu trang(
Chiều 28/10, sau một ngày xét xử sơ thẩm, TAND tỉnh tuyên phạt các bị cáo: Lê Quang Vĩnh (SN 1965, trú phường Ea Tam, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) 4 năm 3 tháng tù; Phùng Xuân Úy (SN 1971, trú 57 Phùng Hưng, phường Ea Tam) 4 năm tù; Vũ Ngọc Hùng Sinh (SN 1970, trú xã Đức Minh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) và Lương Anh Việt (SN 1978, trú xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa) mỗi bị cáo 2 năm 3 tháng tù.
Hai đồng phạm khác là Nguyễn Tấn Cần (SN 1972, trú thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil) và Diệp Thanh Xuân (SN 1978, trú thị trấn Đắk Mil), mỗi bị cáo lãnh 2 năm 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ngoài ra, tòa còn tuyên phạt bổ sung các bị cáo Úy, Việt và Vĩnh, mỗi bị cáo 10 triệu đồng. Sáu bị cáo vừa nêu đều phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Theo cáo trạng, khoảng đầu tháng 1/2013, Lê Quang Vĩnh chủ động tạo mối quan hệ với Vũ Ngọc Hùng Sinh và Lương Anh Việt để làm môi giới mua bán gỗ. Biết Sinh, Việt cần hồ sơ lâm sản nhằm hợp thức hóa việc buôn bán gỗ không có giấy tờ hợp pháp nên Vĩnh đặt vấn đề và được Phùng Xuân Úy (Giám đốc Công ty TNHH Chung Úy, kinh doanh mua bán gỗ ở địa chỉ 57 Phùng Hưng, phường Ea Tam) đồng ý lập hồ sơ lâm sản khống bán cho Việt. Sau đó, Việt, Sinh còn rủ Cần, Xuân hùn vốn buôn bán để kiếm lời.
Với hình thức lập hồ sơ lâm sản khống để buôn bán gỗ lậu, cáo trạng xác định từ đầu tháng 1 đến tháng 3/2013, Úy, Vĩnh, Vũ Ngọc Hùng Sinh, Nguyễn Tấn Cần, Diệp Thanh Xuân và Lương Anh Việt đã nhiều lần thực hiện hành vi buôn bán gỗ trái phép trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên về Phú Yên tiêu thụ.
Trong đó, Úy và Vĩnh làm môi giới, cung cấp hồ sơ lâm sản khống để buôn bán với khối lượng gỗ hộp quy tròn là hơn 534m3; Vũ Ngọc Hùng Sinh buôn bán số lượng gỗ hộp quy tròn là hơn 445m3, Diệp Thanh Xuân, Nguyễn Tấn Cần buôn bán số lượng gỗ hộp quy tròn là hơn 138m3 và Lương Anh Việt buôn bán số lượng gỗ hộp quy tròn là hơn 60m3.
Liên quan đến vụ án này cón có Lâm Hùng Tuấn (trú thị trấn Kông Chro, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai) tham gia mua bán hơn 16m3 gỗ sao của Vũ Ngọc Hùng Sinh là có dấu hiệu phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại khoản 2, Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, sau khi vụ án xảy ra, Tuấn đã không bỏ trốn khỏi địa phương. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật… (Báo Phú Yên 29/10) đầu trang(
Trước thông tin có 3 cá thể voi xuất hiện ở khu vực khe Lui Lui, tiểu khu 55 thuộc thôn Khe Dầu, xã Sơn Kim I, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), các cơ quan chức năng đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân địa phương tránh xa khu vực có voi xuất hiện; đồng thời ra chủ trương bảo vệ đàn voi, không săn bắn, xua đuổi khiến voi hoảng sợ.
Theo đó, vào ngày 8/10, ngay khi nhận được tin báo của người dân về việc tại khu vực khe Lui Lui thuộc thôn Khe Dầu, xã Sơn Kim I xuất hiện 3 cá thể voi, Hạt kiểm lâm Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã vào cuộc xác minh thông tin.
Qua theo dõi hiện trường, đến ngày 29/10, lực lượng chức năng phát hiện có nhiều khu vực xuất hiện vết chân lớn và phân voi cùng một số dấu vết khác mà đàn voi để lại. Bên cạnh đó, một số khu vực trồng keo của người dân địa phương cũng đã bị thiệt hại do đàn voi giẫm lên trên đường di chuyển và tìm kiếm thức ăn.
Ông Nguyễn Quang Vinh, trú tại xóm 9, thôn Khe Dầu, người từng nhìn thấy đàn voi xuất hiện cho biết: “Khi thấy có voi xuất hiện và giẫm lên keo, tôi và một số người có gõ mõ nên voi có thể đã di chuyển vào sâu trong rừng. Từ hôm đó đến nay, người dân cũng cảnh giác và không qua lại khu vực rừng đề phòng nguy hiểm.
Trong khu vực voi xuất hiện có nhiều diện tích đất mà gia đình tôi và một số hộ dân khác đang làm ruộng, trồng keo, thả cá.... Việc voi xuất hiện và sinh sống ở đây về lâu dài có thể gây ra những thiệt hại nhất định nên mọi người đang rất lo lắng. Tại các lán trại mà một số gia đình dựng lên hiện đang phải dùng hình nộm người giả để đề phòng voi tấn công".
Trước sự việc trên, Hạt kiểm lâm Hương Sơn đã chỉ đạo trạm kiểm lâm địa phương phối hợp với chính quyền xã Sơn Kim I và Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo tổ chức tuyên truyền cho bà con không qua lại khu vực có voi xuất hiện, đồng thời không xua đuổi mạnh, tránh làm voi bị thương.
Khi thấy voi phá hoại các công trình công cộng, hoa màu, bà con cần sử dụng các vật dụng đơn giản như kẻng, trống, loa phóng thanh, máy nổ... để gây tiếng động lớn xua đuổi voi; dùng lửa, đèn pin chiếu sáng vào mắt voi, đốt các loại ớt bột, hạt tiêu khô tại các chòi, nương rẫy, nhà tạm hoặc khu vực voi thường qua lại để xua đuổi voi. (Đời Sống & Pháp Luật 30/10) đầu trang(
Vườn cò Ngọc Nhị (Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội) của ông chủ Phùng Đoài Học xưa nay vẫn nổi tiếng là nơi bảo tồn cò hoang dã. Tuy nhiên, ẩn sau cái danh đến nức tiếng ấy là sự thực cảnh giết động vật hoang dã công khai bán cho thực khách ngay cạnh Vườn Quốc gia Ba Vì.
Trong khung cảnh vườn tre bương ngút ngàn, khoảng không gian yên tĩnh và những mái chòi lá hiu hiu gió mát đã tạo ra dấu ấn riêng biệt của Khu du lịch sinh thái vườn cò Ngọc Nhị. Hàng trăm chiếc ô tô, xe máy lũ lượt nối đuôi nhau kéo về “đại bản doanh” sinh tồn của loài cò để thưởng ngoạn thắng cảnh và thưởng thức những món thịt động vật hoang dã.
Du khách lần đầu đến đây đều thầm khen chủ vườn có ý thức bảo vệ động thực vật khi đọc những tấm biển to chình ình ở các gốc cây với nội dung quy định: “Cấm leo trèo gây động mạnh; cấm lấy trứng, bắt cò; cấm bẻ măng trong rừng”...
Nhưng trái hẳn với vẻ bề ngoài, khi đi xuyên qua hàng tre cao thì mới thấy một “sân sau” hoành tráng với hệ thống gian bếp chế biến thực phẩm, hàng ăn… rộng khoảng 3 nghìn m2 xếp hàng dài theo một chuỗi nhà hàng sang trọng có thể phục vụ 500 - 600 thực khách ăn uống cùng một lúc. Đặc biệt, ở mỗi góc chòi ăn uống đều treo biển thực đơn “to uỳnh” với dòng chữ  nổi bật “đặc sản chế biến từ cò”.
Dạo một vòng qua các chòi ăn, PV thấy trên các mâm luôn có sẵn 1 - 2 đĩa thịt cò quay với số lượng từ 4 - 6 con. Nhân viên của nhà hàng túc trực chờ “thượng đế” yêu cầu là mổ cò sống để khách được thưởng thức các món ăn tươi ngon hơn.
Trong vai thực khách, PV được chủ vườn giới thiệu những món ăn được xem là đặc sản của nhà hàng, nào là cò nướng, cò quay, cò xáo măng, cò rang muối… Mỗi con cò sau khi được vặt lông, quay chín thơm ngậy và chế biến đủ món tùy chọn sẽ được bán với giá 70 nghìn đồng.
PV được chị H (nhân viên của nhà hàng) giới thiệu, cò ở Ngọc Nhị là cò hoang dã nên thịt rất thơm, ngon và chắc. Ngoài ra, nhà hàng còn bán cả trùng tục (giống gà nước) đang được du khách yêu thích. Chỉ cần bỏ ra 300 nghìn đồng là du khách sẽ có một bữa thịt cò ngon “độc nhất vô nhị” ở nơi đồng quê Ba Vì.
Khi PV tỏ ý muốn mua cò với số lượng lớn đem về làm quà, chị H hứng khởi: “Anh muốn mua bao nhiêu cũng có, số lượng không hạn chế, nếu cần chế biến thì nhà hàng sẽ làm, với tiền công khoảng 100 nghìn đồng”.
Chị H cũng cho biết thêm, cò ở đây được đánh bẫy một mẻ vào sáng sớm nếu hôm nào có lịch đặt ăn nhiều. Ngay sau khi ghi nhận tình trạng giết mổ cò công khai tại vườn cò Ngọc Nhị, PV đã gửi phản ánh vụ việc lên Hạt Kiểm lâm huyện Ba Vì (Hà Nội).
Ông Đinh Đức Hoàng, Hạt Phó Hạt Kiểm lâm huyện Ba Vì cho biết: “Hạt Kiểm lâm Ba Vì đã lập tổ công tác đến kiểm tra nhà hàng vườn cò Ngọc Nhị. Tại đây đã phát hiện và thu giữ được hai con chim trùng tục, trọng lượng 0,4 kg đã bị giết mổ. Hạt kiểm lâm đã lập biên bản kiểm tra và báo cáo với cấp trên để xử lý”.
Ông Hoàng cũng cho biết thêm, bản thân chủ vườn cò Ngọc Nhị cũng đã ký cam kết với Hạt Kiểm lâm Ba Vì về việc không kinh doanh, mua bán, vận chuyển, săn bắn, bẫy bắt, tàng trữ, nuôi nhốt, giết thịt, chế biến thức ăn từ động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên.
Mặc dù vậy, trên thực tế, nhà hàng vườn cò Ngọc Nhị vẫn treo biển quảng cáo thực đơn từ cò và các động vật hoang dã. Hàng ngày, chủ vườn vẫn sát hại đàn cò để chế biến cò thành những món ăn khoái khẩu phục vụ các du khách gần xa.
Về thực tế này, GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh, Phó Chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đánh giá, vườn cò Ngọc Nhị, Ba Vì hình thành từ những năm 90 thế kỷ trước. Hiện nay, tình trạng giết mổ cò và một số động vật hoang dã (chủ yếu là gà nước) ở vườn cò Ngọc Nhị diễn ra sôi động và là điều không thể chấp nhận được.
Việc buông lỏng quản lý và nếu có dung túng của các cơ quan chức năng là điều đáng trách vì bản thân vườn cò Ngọc Nhị là tự nhiên, cần phải được bảo vệ để phát triển hệ sinh thái và du lịch cộng đồng. Hiện nay, vườn cò này vẫn còn giá trị về nghiên cứu khoa học, Sở KHCN, Đại học Quốc gia Hà Nội... đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu ở đây.
Gia đình ông Học cần tuân thủ những quy tắc về việc bảo vệ cò và động vật hoang dã trong khu vườn. Đồng thời, chính quyền và các cơ quan chức năng cần sớm ra một quyết định để bảo tồn di sản thiên nhiên vườn cò Ngọc Nhị. (Giao Thông 30/10) đầu trang(
Chỉ còn lại khoảng 300 con, bầy đàn bị xé lẻ tan tác nên dù là loài thú lớn có sức mạnh vô địch trong các cánh rừng VN, những bầy bò tót vẫn đang sống trong sợ hãi.
Khi PV đề nghị được vào rừng để ghi hình bầy bò tót đang sinh sống tại rừng Đồng Phú, ông Nguyễn Văn Cao - hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đồng Phú (Bình Phước) - hứa sẽ tạo điều kiện nhưng lắc đầu cười: “Bò tót giờ sợ người như người sợ cọp, ngửi thấy hơi người là trốn biệt. Hạt đã phối hợp với Vườn quốc gia Nam Cát Tiên để ghi hình mấy năm nay mà không được”.
Tuy nhiên, PV vẫn quyết thử vận may, vì dẫu sao cánh rừng ở phía tây sông Mã Đà này cũng là nơi hiếm hoi trong cả nước còn có bò tót sinh sống.
Từ thị trấn Đồng Phú, ông Phạm Xuân Bá - tổ trưởng tổ cơ động Hạt Kiểm lâm Đồng Phú - và hai kiểm lâm viên dẫn PV vào cánh rừng có bò tót sinh sống ở xã Tân Lợi. Đó là những khoảnh rừng “da beo” còn sót lại, bị vây tứ phía bởi những dự án cao su.
Đến cửa rừng gặp ông Sáu Dinh, một thợ săn đã giải nghệ ở ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi, lại nhận được lần nữa cái lắc đầu: “Bò thì cũng còn đó, nhưng tụi tui đi rừng hiếm lắm mới nhìn được cái lưng đen trũi là bò đã phóng ngược vô rừng”.
Và đúng như lời cảnh báo, suốt ngày đầu tiên dấu chân chúng tôi và kiểm lâm đã quần khắp trên một khoảnh rừng rộng hơn 5km mỗi bề, từ tiểu khu 376 sang tiểu khu 377, 379, 386, 389... vẫn không thấy bóng dáng của bò tót.
Chỉ thi thoảng lẫn trong đám lá rừng mục nát, ông Phạm Xuân Bá dùng gậy lật lên những bãi phân khô nằm cạnh dấu chân bò tót và động viên: “Vậy là bầy bò này cũng mới kéo ra đây kiếm ăn mấy bữa trước”, giúp PV có thêm động lực để mở rộng vùng tìm kiếm bầy bò tót đến sát bờ sông Mã Đà, giáp với vùng rừng Rang Rang của huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) vào ngày hôm sau.
Nhưng gần hết một ngày nữa, dấu vết bò tót vẫn mờ mịt, thi thoảng vút nhanh trong tán rừng chỉ có bóng dáng chồn sóc và nai hoẵng theo bầy.
Đến xế chiều, khi chân đã mỏi nhừ, mắt hoa lên vì mệt và không còn hi vọng ghi hình được bò tót thì bỗng dung từ phía mé rừng thuộc tiểu khu 377, sát với lô cao su đang cho mủ, bỗng xuất hiện những khối đen trùi trũi, bốn chân trắng toát (đặc điểm riêng biệt của bò tót) từ gối trở xuống.
Không còn thời gian để ra hiệu, PV chỉ kịp kêu lên mấy tiếng: “Bò tót, bò tót kìa!” để những kiểm lâm đi sau kịp dừng lại.
Trong ánh chiều rỡ ràng, ở khoảng cách 70-80m, ba chú bò tót vạm vỡ, trong đó con đứng giữa theo ông Bá phải nặng trên 1 tấn và chắc chắn là bò đực vì sừng dài và cong vút, đang ngước cổ nhìn.
Có lẽ cũng quá bất ngờ vì sự xuất hiện của con người, ba chú bò tót khựng lại trong vài giây, kịp cho PV ghi lại được vài bức hình nhòe nét. Nhưng liền sau đó mắt cả ba con bò long sọc lên, mũi phồng to. Đó chính là dấu hiệu tấn công của bò tót.
Lúc này do ham ghi hình, cả đoàn đã tiến gần hơn đến vị trí bầy bò, chỉ còn cách hơn 40m và đó là khoảng cách quá ngắn để bầy bò giành phần thắng trong cuộc “đua nước rút” nếu muốn.
Nhưng trái với sự lo lắng của PV, kẻ sợ hãi lại chính là bầy bó tót. Một tiếng “hù ừ...ự ự ựm” rền vang cả vạt rừng của con bò tót đầu đàn, cả bầy bò liền quay đầu nhắm thẳng hướng rừng già chạy thục mạng.
Không chỉ ba con mà lúc này từ phía các lô cao su, từ những trảng cỏ ven mé rừng, cả bầy bò tót lớn bé, trong đó có cả những bê con, cũng quay đầu phóng thẳng theo bò tót đầu đàn. PV kịp đếm cả thảy có 11 con bò tót trong bầy.
Khoảnh khắc hiếm hoi và đầy may mắn ấy chỉ diễn ra chừng 10 giây. Cả bầy bò tót nhanh chóng mất hút trong sự sợ hãi và bóng chiều sụp xuống vội vã... Nỗi sợ hãi của bầy bò tót ở Đồng Phú không phải là nỗi sợ hãi cá biệt từ những bầy bò tót mà PV đã gặp.
Tháng 9 - 2010, khi lần đầu tiên ghi được hình ảnh con bò tót nặng hơn 1 tấn tại Vườn quốc gia Phước Bình (Bác Ái, Ninh Thuận), phóng viên Tuổi Trẻ cũng từng một phen hú vía khi bấm loạt ảnh đầu tiên, con bò tót đã phổng mũi, mắt long sọc, chạng chân đe dọa...
Nhưng rồi sau đó lại cong đuôi chạy thục mạng vào rừng (!) Cho đến lần gần đây nhất, vào giữa tháng 9 - 2014, khi trở lại Phước Bình để lấy tư liệu cho loạt bài này, những hình ảnh ghi được từ chú bò tót ấy vẫn đầy nét hoảng sợ khi chạm phải con người.
Bám rừng Phước Bình từ những ngày bầy bò tót còn kéo nhau ra suối nằm nhai lại mỗi chiều hàng chục năm trước, ông Nguyễn Công Vân - giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình - nói: “Làm sao mà bò tót không sợ con người cho được khi bao nhiêu đồng loại của chúng cứ ra khỏi rừng là bỏ mạng”.
Ông Vân tin nỗi ám ảnh về sự tàn sát từ con người chắc chắn còn in dấu trong gần như tất cả các cá thể bò ở Phước Bình. Ngoài những con bò lớn, tuổi thọ vài chục năm (như con bò chúng tôi ghi hình được),từng trải qua nhiều phen tan tác vì bò đầu đàn bị bắn hạ thì những cá thể bò có tuổi đời nhỏ hơn cũng từng chứng kiến sự hung bạo của thợ săn.
Ông Vân phán đoán rất có thể con bò tót đực ở Phước Bình xuất hiện mấy năm gần đây là từ sự vỡ bầy sau khi con bò tót đầu đàn ở rừng Phước Bình bị bắn hạ cách đây chưa lâu. Kon Sa Ha Đa - kẻ bắn hạ con bò tót này bằng một khẩu cacbin - oái ăm lại là một xã đội trưởng tại xã Đạ Cháy (Lạc Dương, Lâm Đồng).
Vụ việc chỉ bị phát hiện khi kiểm lâm và công an phát hiện Kon Sa Ha Đa đang xách đầu bò nặng hơn 20kg đi bán.
Trở lại câu chuyện từ rừng Đồng Phú, trước khi PV đến đây ghi hình bầy bò tót hơn một năm, một con bò tót con nặng khoảng 100kg đã chết không rõ lý do ngay vùng rừng đệm giáp ranh với lô cao su non ở tiểu khu 377.
Anh Liêu Văn Thanh, một người dân tộc Sán Dìu làm rẫy ngay nơi bò tót con vừa chết, kể lại: “Ngày trước bò gặp người là rượt chạy trối chết. Còn giờ đêm đêm bò tót vẫn lén ra ủi trộm mì nhưng gặp chó sủa trăng cũng hoảng, vọt vô rừng...”.
Bản năng sinh tồn và trí tinh khôn đã giúp bò tót hiểu phải lui bước trước con người. Nhưng “chiến thắng” ấy của con người trước loài mãnh thú này là một mất mát không biết bao giờ có thể bù đắp. (Tuổi Trẻ 29/10, tr10) đầu trang(
Cách xa những cây Hương cổ thụ tại xã Krong (H. Kbang, Gia Lai) hơn 100km là cánh rừng Hương nguyên sinh khác tại khu vực xã Ia Kriêng (H. Đức Cơ, Gia Lai).
Nơi đây, dù rừng Hương nằm gần khu dân cư, thuận tiện cho việc đi lại nhưng tuyệt nhiên không một cây Hương nào bị chặt hạ. Bởi nó được cả một cộng đồng che chở và xem đó như là một báu vật.
Dù đã từng tới rừng Hương này một lần nhưng khi PV đề cập chuyện quay trở lại viết về cánh rừng Hương tại làng Grông (xã Ia Kriêng) thì sự e ngại hiện lên gương mặt của anh Trịnh Xuân Hữu, Kiểm lâm phụ trách địa bàn thuộc Hạt Kiểm lâm H. Đức Cơ.
Bởi lẽ, gỗ Hương đang lên giá từng ngày và trở thành mặt hàng “hot” mà “lâm tặc” luôn nhòm ngó, săn lùng. Thế nhưng, sự e ngại đó cũng bị xua đi vì anh Hữu cũng hiểu rằng rừng Hương này đang được dân làng, chính quyền địa phương chung sức bảo vệ và xem đó như một báu vật. Trong khi việc khai thác rừng trái phép đang diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là gỗ Hương (nhóm I) luôn “nóng” thì ở nơi đây, cánh rừng gỗ Hương nguyên sinh vẫn sinh trưởng và phát triển.
Từ trung tâm xã Ia Kriêng đi vào khoảng 8km, phải nhờ một cán bộ xã dẫn đường, PV mới tìm được rừng Hương nằm ở làng Grông. Trên một vùng đồi đất pha cát, dù khắc nghiệt nhưng không hiểu sao những cây Hương lại “chọn” nơi đây để bám trụ. Hơn 3.200 cây gỗ Hương có tuổi đời vài chục năm quần tụ với nhau thành rừng với diện tích gần 4ha, những cây lớn giờ đường kính cũng hơn 60 - 70cm, cây nhỏ cũng hơn 10cm, những cây mới nảy mầm thì không thể đếm hết.
Và chỉ duy nhất có mỗi loài Hương mọc lên ở đây tạo nên một cánh rừng nguyên sinh đặc hữu. Hàng nghìn cây Hương mọc san sát, cây cao thẳng đứng 30-40m, những tàng cây che kín, tỏa bóng mát rượi cả khu rừng.
Ông Rơmah Lel, Chủ tịch UBND xã Ia Kriêng cho biết: “Từ những năm 80 của thế kỷ trước, dân làng Grông đã phát hiện cánh rừng Hương đặc biệt này và cũng từ đó dân làng cùng chính quyền chung tay bảo vệ, ngăn chặn những người xấu ở nơi khác đến chặt phá. Gia Lai chỉ còn duy nhất ở xã mình có rừng Hương đặc biệt như thế này thôi! Bà con mình tự hào lắm!”.
Anh Rơ Mah Uyn, người dân sống trong làng kể: “Hồi nhỏ, mình đi lấy củi đã vào rừng Hương này, ở đây chim chóc, gà rừng theo mùa kéo nhau về làm tổ, đến mùa cả những cây Hương nở hoa vàng cả góc rừng này. Chỉ cần đứng đây vào buổi sáng hoặc buổi chiều, đủ loại chim kêu vang cả nơi đây”. Có lẽ, người đàn ông này cảm nhận được vẻ đẹp, quý của rừng Hương nên đã tình nguyện đứng ra bảo vệ rừng cây từ những ngày cánh rừng Hương này được chính quyền xã phát hiện.
Đến giờ này, để tìm được một cánh rừng nguyên sinh đặc hữu toàn cây Hương ở mảnh đất Tây Nguyên này như tại làng Grông này là chuyện hy hữu. Bởi sự săn lùng với những thú chơi đồ gỗ quý của con người, cây Hương bị triệt phá tận gốc trước nhiều nỗ lực bảo vệ của chính quyền. Và cái tin làng Grông có một rừng Hương đặc hữu dĩ nhiên đã đến tai lâm tặc từ lâu. Nhiều lần, “lâm tặc” đã đưa cưa máy, xe cộ vào rừng rắp tâm chặt hạ... song mọi hành động của đám “lâm tặc” đều bị dân làng ngăn chặn.
Người già ở làng vẫn còn nhớ: Khi biết tin làng Grông có rừng Hương, đám “lâm tặc” đến làng nhiều lần lắm. Chúng mua rượu, mua thịt vào gạ gẫm mời người già. Gặp ai chúng cũng bị la mắng. Không mua chuộc được người già, chúng quay sang lôi kéo đám trai làng.
Tin đến tai người già, họ gọi những đứa trong làng đến răn: Nếu đứa nào giúp “lâm tặc” chặt rừng Hương thì đừng quay về nhìn mặt người làng nữa. Cái bụng đám thanh niên biết sợ, biết nghe theo lời người già! Hay nhiều năm trước, những cơn sóng dữ đến với làng Grông: một số người bị bệnh phong, đói nghèo. Cuộc sống cơ cực đeo đẳng người làng. Những cuộc mưu sinh khốn khó vắt kiệt sức họ. Hơn trăm nóc nhà buồn hiu mỗi ngày. Dù khốn khó là vậy nhưng người làng vẫn thầm bảo nhau không được đẵn bất cứ một cây hương nào đem bán...
Chuyện đó giờ chỉ còn là dĩ vãng. Ngày hôm nay, cuộc sống của người làng Grông đã không còn cái đói, cái nghèo bám theo nữa. Và ý thức giữ rừng Hương nguyên sinh của làng vẫn vẹn nguyên.
Ngoài những cây Hương, khu rừng này lác đác có vài cây gỗ trắc. Đây cũng là loại gỗ quý được thương lái lùng sục, mua từng ki- lô-gam từ thân, cành, rễ. Để bảo vệ cánh rừng này, công giữ rừng của những cán bộ gác rừng, người dân nơi đây cũng không hề nhỏ.
Anh Nguyễn Hữu Mạnh, một trong hai người được UBND H.Đức Cơ thuê giữ rừng Hương cổ thụ cho biết: “Tôi trông rừng Hương từ hơn mười năm nay. Thỉnh thoảng mấy đứa choai choai bên ngoài cũng vào phá, khi thì bắt con gà, khi thì lấy vài đồ dùng, nhưng rừng Hương thì chúng không dám phá”.
Và để bảo vệ rừng Hương, cách đây vài năm, chính quyền H. Đức Cơ đã trích ngân sách làm một ngôi nhà nhỏ và thuê hai người canh giữ 24/24 giờ rừng Hương quý.
Ông Võ Thanh Hùng, Chủ tịch UBND H. Đức Cơ chia sẻ: “Nếu có thêm dự án, nguồn vốn để đầu tư, bảo vệ rừng Hương này nữa thì quá tốt... Chẳng hạn như rào chắn lại, cho phép chăn nuôi dưới tán rừng, ươm thêm cây Hương để nhân giống ra nơi khác. Từ đó, ngoài việc bảo vệ, phát triển rừng, nơi đây còn là một nơi đáng đến khi khách phương xa đến thăm huyện vùng biên này”.
Nơi đây, mỗi mùa Hương vẫn nở hoa vàng rực thu hút những đàn chim cả ngàn con đến trú ngụ... Từ lâu, khu rừng đã trở thành một phần của làng, của cộng đồng muôn loài nơi Trường Sơn hùng vĩ. (Công An TP Đà Nẵng 30/10) đầu trang(
Hà Nội sẽ tiến hành bảo tồn loài và sinh vật cảnh hồ Hoàn Kiếm trên phạm vi 5 phường, toàn bộ vùng nước hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận với diện tích 16ha.
UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt đề cương nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết khu bảo tồn loài và sinh vật cảnh hồ Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đến năm 2020.
Theo đó, phạm vi nghiên cứu gồm 5 phường (Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Tràng Tiền, Hàng Bạc và Hàng Đào), quận Hoàn Kiếm và toàn bộ vùng nước hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận với diện tích 16ha nhằm bảo tồn, bảo vệ các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế, các sinh vật quý hiếm, đồng thời khai thác, sử dụng khu bảo tồn hiệu quả...
UBND thành phố giao Chi cục Thuỷ sản Hà Nội (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện nhiệm vụ của chủ đầu tư, tổ chức lựa chọn nhà thầu tư vấn, tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư bảo đảm tuân thủ đúng quy định. Trước khi lựa chọn tư vấn phải lập, thẩm định, phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán chi tiết bảo đảm chính xác, tiết kiệm, hiệu quả.
Tập trung chỉ đạo, đôn đốc, giám sát chặt chẽ đơn vị tư vấn trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành dự án đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, không để xảy ra thất thoát vốn đầu tư.
Trước đó tại quyết điịnh phê duyệt quy hoạch bảo tồn đan dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030 sẽ chuyển đổi và thành lập mới 4 khu bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Thành phố đó là: Chuyển đổi rừng đặc dụng Hương Sơn thành khu bảo vệ cảnh quan Hương Sơn nhằm bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi, bảo vệ di tích lịch sử, phát triển du lịch sinh thái, tâm linh, bảo tồn nguồn gen quý hiếm như mơ Hương Tích, rau sắng và các loài động thực vật quý hiếm.
Diện tích tự nhiên (vùng lõi) khoảng 3.760 ha (kế thừa toàn bộ ranh giới và quy hoạch rừng đặc dụng Hương Sơn theo Quyết định số 1913/QĐ-UBND ngày 07/11/2008 của UBND thành phố Hà Nội), nằm trên địa bàn các xã: Hương Sơn, An Phú, An Tiến, Hùng Tiến huyện Mỹ Đức.
Thành lập khu bảo tồn loài - sinh cảnh hồ Hoàn Kiếm: Diện tích tự nhiên khoảng 11,5 ha, thuộc địa bàn phường Hàng Trống và phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm nhằm bảo vệ loài Rùa hồ Gươm và nhiều loài thủy sinh vật khác, bảo vệ di sản văn hóa, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường phục vụ du lịch, giáo dục, nghiên cứu.
Thành lập khu bảo vệ cảnh quan Vật Lại: Diện tích tự nhiên khoảng 10 ha, nằm trên địa bàn thôn Yên Bồ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì nhằm bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng tự nhiên và bảo vệ di tích lịch sử cấp quốc gia (nơi lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đồi Đồng Vàng).
Thành lập khu bảo vệ cảnh quan Hồ Tây: Diện tích tự nhiên khoảng 524 ha, nằm trên địa bàn các phường: Quảng An, Bưởi, Thuỵ Khuê, Yên Phụ, Xuân La, Nhật Tân, quận Tây Hồ nhằm bảo vệ sinh thái hồ tự nhiên, bảo tồn các loài hoang dã (sâm cầm, cò), bảo vệ di sản văn hóa, cảnh quan thiên nhiên phục vụ du lịch, giáo dục, nghiên cứu. (Kinh Tế & Đô Thị 30/10) đầu trang(
Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội cho biết tính đến cuối tháng 10/2014, Trung tâm đã cứu hộ và bảo tồn được 502 cá thể động vật hoang dã và 56kg rắn.
Trong tháng 10/2014, Trung tâm đã tiếp nhận 4 đợt với 217 cá thể động vật hoang dã sống, gồm 4 con tê tê Java; 210 con chim chào mào; 1 con mèo rừng; 2 con khỉ mặt đỏ.
Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã tổ chức thả 1 đợt động vật hoang dã về Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang 331 cá thể động vật hoang dã; trong đó có 275 con chim chào mào, 14 con rùa hộp trán vàng, 15 con rùa đất sê pôn, 22 con rùa sa nhân, 5 con mèo rừng; đồng thời tiến hành chuyển giao cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vườn thú Hà Nội 1 chim hồng hoàng, 1 cầy vòi hương, 1 cầy vòi mốc.
Ngoài ra, Trung tâm Cứu hộ Động vật hoang dã Hà Nội đã làm tốt công tác điều trị bệnh động vật hoang dã, với 95 đợt cho 600 lượt cá thể động vật bị thương, bị các bệnh về đường hô hấp, viêm phổi, viêm đường tiêu hóa, ghẻ, nấm rụng lông, tổn thương da...
Đặc biệt, Trung tâm rất quan tâm đến công tác phòng chống dịch bệnh cho các loài động vật hoang dã đang được cứu hộ, bảo tồn tại Trung tâm không để dịch bệnh xảy ra như: tổ chức tiêm phòng vacxin, tẩy giun, sán theo định kỳ 8 đợt, cho 396 lượt cá thể động vật hoang dã...
Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã nhân nuôi sinh sản và nhân đàn được 24 cá thể, trong đó 4 con hổ, 20 con khỉ, hiện các con vật sinh sản tại Trung tâm đang sinh trưởng và phát triển tốt.
Riêng trong tháng 10/2014, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã phát hiện và xử lý nghiêm 7 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu 2 động vật hoang dã quý hiếm, xử phạt hành chính 66 triệu đồng. (VietnamPlus 30/10) đầu trang(
Đến bản Chai Chanh nằm sâu trong khe núi Nà Lạn thuộc xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu (Sơn La), thấy những cánh rừng ở đây được khoanh nuôi, bảo vệ rất tốt.
Quanh bản có rất nhiều cây bạch đàn, cây lấy gỗ các loại. Anh Lù Văn Ấm - Trưởng bản bảo: “Bản chỉ có khoảng 40ha rừng. Tuy đất sản xuất hiếm lắm nhưng dân bản bảo nhau phải giữ lấy rừng, đưa việc bảo vệ rừng vào hương ước của bản. Vì thế chẳng ai xâm lấn đất rừng làm nương, phá cây rừng lấy gỗ, làm củi…”.
Hơn 60 hộ ở đây vốn là dân tái định cư Thủy điện Sơn La từ huyện Quỳnh Nhai đến từ năm 2009. “Vì tái định cư nên đất đai có hạn, ai cũng muốn mở rộng nương vườn nhà mình để được thêm cân ngô, củ sắn nhưng chẳng ai dám phá rừng làm nương. Xâm lấn vào đất rừng không chỉ bị Nhà nước phạt mà còn bị dân bản chê cười, mất danh hiệu Gia đình văn hóa đấy” - chị Lù Thị Len, dân bản bảo vậy.
Trước đây trên quê cũ, nhà ai cũng có tới mấy ha đất, gỗ nhiều, củi lắm nên chẳng phải lo gì chất đốt tới việc lấy gỗ sửa nhà cửa. Về nơi ở mới, đất được chia theo nhân khẩu như đô thị, bà con chăn thêm con dê, con bò nhưng không có bãi chăn thả, lại phải đun nấu hàng ngày bằng cùi ngô, thân ngô, lá cây, củi nhỏ… nên cũng khó chịu lắm.
“Nhưng dân bản cũng biết cái rừng mang cho mình hơi thở tốt, là nguồn nước ăn, nước sản xuất, làm cho không khí mát lành, làm cho bản đẹp hơn nên đã họp nhau, thống nhất bảo vệ rừng. Chuyện thả rông gia súc lên rừng cũng không còn nữa”.
Trưởng bản Lù Văn Ấm tâm sự: "Tôi nói với mọi người rằng Nhà nước xây cho nhà tắm, bể nước... Nếu không giữ rừng thì bể sẽ khô, nước sẽ hết, khổ thể có chịu được không? Nếu chặt một cây gỗ chỉ được vài trăm ngàn, không bằng nuôi một vài con gà, con vịt.
Cứ trồng cây quanh nhà, trồng cỏ thì cũng đủ củi đun, cỏ cho dê bò ăn… Vì thế cả bản có tới hàng ngàn cây xanh quanh nhà, làm hàng rào, làm củi, gỗ. Thế là mấy chục ha rừng luôn được bảo vệ an toàn". (Dân Việt 30/10) đầu trang(
Mường Lát là huyện vùng cao biên giới, nằm về phía tây tỉnh Thanh Hóa, có tổng diện tích tự nhiên 81.461,44ha; toàn huyện có 08 xã 01 thị trấn, có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn, gồm: Dân tộc Mông chiếm 40,2%; dân tộc Thái 46,6%; dân tộc Mường 4,3%; dân tộc Giao 2%; dân tộc Khơ Mú 2,4%; dân tộc Kinh 4,5%.
Trong những năm qua công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và PCCCR trên địa bàn huyện Mường Lát đã có nhiều chuyển biến tích cực, an ninh rừng luôn được ổn định, không để xảy ra cháy rừng.
Với tinh thần quyết tâm, nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành chức năng và nhân dân các dân tộc, việc tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã mang laị những kết quả thiết thực, diện tích rừng tự nhiên được giữ vững ổn định, từ năm 2012 đến nay toàn huyện đã tổ chức trồng được trên 10.000ha rừng sản xuất theo dự án 147, rừng trồng sinh trưởng và phát triển tốt; công tác PCCCR được đặc biệt quan tâm, mặc dù thời tiết có thời gian đã lên đến 410C, nắng nóng kéo dài, trong khi đó vật liệu cháy chủ yếu là cây le, lau lách, thực bì dày đã khô nỏ, cảnh báo nguy cơ cháy rừng rất cao, nhưng trên địa bàn huyện Mường Lát không để xảy ra cháy rừng.
Đạt được những kết quả đó là có sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cấp, các ngành trên địa bàn, lực lượng Kiểm lâm đã thực sự là vai trò nòng cốt trong việc thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và PCCCR.
Để công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và PCCCR trên địa bàn huyện Mường Lát đạt kết quả ngày càng tốt hơn, cần có một số giải pháp sau:
Tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và PCCCR tới mọi tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức, với nhiều nội dung đa dạng phong phú, làm cho toàn thể cán bộ, nhân dân hiểu được vai trò và lợi ích thiết thực của rừng đối với đời sống cộng đồng người dân.
Tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp xã.
Cần phải xây dựng phương án rà soát lại những diện tích rừng nghèo kiệt không có giá trị về kinh tế, diện tích rừng có nguy cơ cháy cao như rừng le, rừng không có khả năng phục hồi có nhiều vật liệu cháy để cải tạo rừng, trồng rừng thay thế bằng những cây có giá trị kinh tế cao, đồng thời làm giảm nguy cơ cháy rừng.
Quy hoạch đất lâm nghiệp chi tiết, cụ thể; trong đó phân rõ khu vực sản xuất nương rẫy, vùng chăn thả gia súc; ưu tiên cho các khu vực có thể khai hoang ruộng lúa nước cố định cho nhân dân, đảm bảo tối thiểu nguồn lương thực sinh hoạt cho người dân.
Tăng cường đầu tư cho công tác phát triên rừng như: Trồng rừng mới trên các diện tích đất trống, diện tích rừng le, rừng không có khả năng phục hồi thành rừng; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và bảo vệ nghiêm ngặt những diện dích rừng tự nhiên hiện có trên địa bàn bằng các nguồn vốn đầu tư của trung ương, địa phương và kêu gọi các nguồn đầu tư khác.
Cần đầu tư xây dựng các công trình phòng cháy như: Đường băng trắng cản lữa ở những khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy cao, các khu vực giáp biên giới với nước bạn Lào, các bảng tuyên truyền, biển báo cấm lửa những khu rừng có nguy cơ cháy cao.
Quản lý chặt chẽ việc phát, đốt rẫy, xử lý thực bì trồng rừng. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 28/10) đầu trang(
Nhằm đánh giá các hoạt động của Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư giai đoạn 2001 – 2010, năm 2011 và năm 2012.
Lập Quy hoạch bảo tồn và phát triển khu rừng đặc dụng đến năm 2020 nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững khu rừng đặc dụng; sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá trị đa dạng sinh học, cảnh quan, môi trường tiếp cận phương pháp sử dụng rừng đa mục đích; huy động các nguồn lực kinh tế của địa phương, cộng đồng vào các hoạt động bảo tồn và phát triển Khu rừng cảnh quan Trà Sư; góp phần cải thiện đời sống của người bảo vệ rừng, tạo thu nhập cho cộng đồng sống ven rừng và khai thác sử dụng du lịch sinh thái rừng, bảo vệ an ninh, ổn định xã hội trong khu vực.
Do đó, ngày 24/10/2014 UBND tỉnh An Giang đã có Quyết định phê duyệt Đề cương và dự toán kinh phí xây dựng Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư đến năm 2020.
Theo Quyết định, sau khi đề cương, dự toán kinh phí được phê duyệt; hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư với đơn vị tư vấn nào sẽ do chủ đầu tư tự quyết định và tự chịu trách nhiệm; thời gian thực hiện để hoàn thành báo cáo, bảng biểu và các loại bản đồ để báo cáo tại tỉnh An Giang là 200 ngày (sau ngày ký Quyết định là 10 ngày).
Tổng kinh phí dự toán thực hiện Đề cương trên là 119.713 ngàn đồng từ nguồn vốn sự nghiệp lâm nghiệp của Chi cục Kiểm Lâm. (Angiang.gov.vn 29/10) đầu trang(
Tại xã Ngọc Khê, Ban Chỉ đạo Phòng cháy chữa, cháy rừng (PCCCR) huyện Trùng Khánh tổ chức diễn tập PCCCR cấp xã năm 2014.
Cuộc diễn tập  được triển khai tại khu đồi xóm Kha Moong, xã Ngọc Khê - nơi tiếp giáp với rừng thông của xã Đình Phong. Đây là địa bàn có nguy cơ cháy rừng cao, thảm thực vật khô dày. Tham gia diễn tập thực binh có hơn 100 người dân xóm Kha Moong, Trung đội dân quân tự vệ xã Ngọc Khê, cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Ngọc Côn.
Nội dung diễn tập chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, tiếp nhận tin báo cháy; hội ý nhanh tổ đội quần chúng bảo vệ, PCCC rừng xóm, huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ; khi lực lượng tại chỗ không tự giải quyết được, xóm báo cháy về Ban Chỉ đạo PCCC rừng xã.
Giai đoạn 2, Ban Chỉ đạo PCCC rừng xã họp nhanh về công tác PCCC rừng; triển khai, huy động lực lượng, phương tiện ứng cứu, hỗ trợ cho nhân dân xóm chữa cháy tại hiện trường; khi đám cháy lan rộng, Kiểm lâm địa bàn báo cáo tình hình vụ cháy với Trưởng Ban Chỉ huy PCCC huyện và đề nghị ứng cứu về lực lượng, phương tiện, hậu cần.
Được các lực lượng phối hợp ứng cứu kịp thời, hiệu quả theo phương châm 4 tại chỗ và phương pháp dùng đường băng cản lửa, đám cháy được dập tắt, đảm bảo an toàn về người và tài sản của nhân dân.
Cuộc diễn tập nâng cao khả năng lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác PCCC, bảo vệ rừng và xử lý các tình huống cháy rừng có thể xảy ra sát với thực tế ở địa phương. Đồng thời, nâng cao khả năng hiệp đồng giữa các lực lượng khi có  cháy rừng xảy ra. (Báo Cao Bằng 29/10) đầu trang(
Từ hơn 1 tháng nay, dịch bệnh sâu róm đã lan rộng, phá hoại hơn 1500ha rừng thông ở huyện Nghi Lộc.
Điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết bất lợi cũng như hạn chế về kinh phí đã khiến cho việc dập dịch gặp nhiều khó khăn. (Báo Nghệ An 28/10) đầu trang(
Sáng 29-10, Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 tổ chức hội nghị giao ban công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) 10 tháng năm 2014.
Ông Trần Văn Tuân, UVTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Tham dự có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương liên quan.
Trong 10 tháng năm 2014, Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương, đơn vị chủ rừng và cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác QLBVR và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn tỉnh; thực hiện tuyên truyền phổ biến pháp luật và tập huấn nâng cao năng lực QLBVR… đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.
Trong mùa khô năm 2014, để hạn chế cháy rừng, ngay từ cuối năm 2013, Ban Chỉ đạo đã thực hiện công tác PCCCR đồng bộ và triệt để, trong đó chú trọng việc vệ sinh rừng và tu sửa các công trình PCCCR trước mùa khô. Mặc dù khí hậu, thời tiết năm 2014 diễn biến phức tạp, tuy nhiên nhờ sự chủ động trực cháy, phát hiện sớm các đám cháy rừng nên các điểm cháy đều được chữa cháy kịp thời, ít ảnh hưởng tới tài nguyên rừng.
Cũng trong thời gian này, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các ngành liên quan và chính quyền địa phương tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc sử dụng rừng của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được giao đất, giao rừng.
Kết quả theo dõi thống kê đến ngày 27-10, trên địa bàn tỉnh đã chuyển đổi rừng và đất lâm nghiệp sang mục đích khác 97,5ha, chủ yếu là xây dựng đường giao thông, các công trình dân sinh kinh tế. Khai thác gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh đạt 273.208,7 ster (tương đương 191.246m3. Trồng mới và trồng lại rừng đạt 4.392ha.
Về công tác chống chặt, phá rừng và kiểm tra lâm sản, lực lượng kiểm lâm đã nắm được diễn biến tình hình trong rừng để tổ chức kiểm tra, truy quét. Quản lý tốt việc sử dụng rừng của các chủ rừng, sớm phát hiện các vụ vi phạm và ngăn chặn kịp thời. Số vụ chặt, phá rừng, lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái phép và thiệt hại về rừng đã giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước.
UBND các huyện, thành phố, thị xã đã tích cực triển khai, đôn đốc công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn; đặc biệt là thực hiện phương án tháo dỡ các cơ sở cưa xẻ trái phép, góp phần tích cực cho công tác QLBVR và quản lý lâm sản trên địa bàn.
Đến hết tháng 9 năm 2014, các lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản xử lý 868 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó phá rừng, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp là 19 vụ; khai thác rừng trái phép 3 vụ; vi phạm về mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản trái pháp luật 844 vụ…
Phát biểu tại hội nghị, ông Trần Văn Tuân yêu cầu Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, các ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền QLBVR bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, PCCCR cho nhân dân và toàn xã hội; rà soát lại đội ngũ cán bộ về quản lý, năng lực, đạo đức, sức khỏe, hiệu quả công việc để có biện pháp đào tạo, bồi dưỡng; chú trọng nắm tình hình để ngăn chặn các hành vi phá rừng và việc vận chuyển lâm sản trái phép… (Báo Quảng Bình 29/10) đầu trang(
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng dân cư, nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ đảng viên, trưởng bản trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các quy ước về bảo vệ rừng là giải pháp chủ yếu được xã Mường Lói, huyện Điện Biên thực hiện để giữ rừng.
Nhờ đó, những cánh rừng trên địa bàn xã được bảo vệ tốt, góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng cũng như tăng thu nhập cho người dân từ rừng. Xã Mường Lói nằm cách trung tâm huyện Điện Biên trên 80km, là một xã biên giới xa xôi, khó khăn nhất. Sau khi chia tách một phần diện tích, dân số để thành lập xã Phu Luông theo Nghị quyết 45 của Chính phủ, xã Mường Lói có diện tích tự nhiên gần 16 ngàn ha; trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là gần 12 ngàn ha.
Trong tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng, diện tích rừng phòng hộ chiếm phần lớn với gần 8.500ha, còn lại là rừng sản xuất khoảng 3.200ha. Xác định rõ tầm quan trọng của công tác quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là các cánh rừng đầu nguồn, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo cán bộ kiểm lâm địa bàn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực phối hợp với các đoàn thể địa phương tuyên truyền, phổ biến các quy định của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ rừng tới đông đảo người dân; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Theo đó, hàng năm, xã đều thực hiện củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và duy trì, củng cố 9 tổ, đội bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng với quân số gần 100 người.
Thành viên của các tổ đội bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, phát hiện các hành vi vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, kịp thời phát hiện các điểm có nguy cơ xảy ra cháy và có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa...
Đồng thời, kiểm lâm địa bàn, thành viên của các tổ đội bảo vệ rừng cũng là lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân các biện pháp phòng chống chữa cháy rừng.
Anh Lường Văn Thương, Kiểm lâm viên xã Mường Lói cho biết: Hàng năm, bước vào mùa khô hanh, tôi cùng các ban ngành, đoàn thể của xã thường xuyên xuống tuyên truyền cho bà con về các phương án phòng chống chữa cháy rừng, bảo vệ rừng như: Kỹ thuật đốt nương, làm đường băng cản lửa, dọn dẹp cây bụi, vệ sinh rừng...
Bản Na Cọ là một trong những bản thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng của xã Mường Lói, diện tích rừng bản được giao quản lý, bảo vệ là trên 300ha. Bản có 67 hộ, 320 nhân khẩu với 2 dân tộc cùng sinh sống là Khơ Mú và dân tộc Lào.
Sống gần rừng, cuộc sống phụ thuộc nhiều vào rừng nên người dân nơi đây hiểu rất rõ giữ rừng quan trọng như thế nào. Chính vì vậy, cho đến nay, nhân dân trong bản vẫn còn giữ tục lệ cúng thần rừng để xin thần phù hộ cho bản làng được bình yên, mùa màng tươi tốt. Mọi người dân trong bản đều tuân thủ quy ước về bảo vệ rừng, không tự ý chặt phá, khai thác lâm sản trong rừng.
Đặc biệt, được sự tuyên truyền, hướng dẫn của cán bộ kiểm lâm, trước mùa khô hanh hàng năm bà con nhân dân trong bản đều tổ chức dọn dẹp, vệ sinh rừng tại các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy cao. Nhờ ý thức giữ rừng của cả cộng đồng nên các cánh rừng xung quanh bản được giữ gìn bảo vệ tốt, các diện tích rừng bị phá trước đây được phục hồi.
Chị Mòng Thị Xuân, bản Na Cọ, xã Mường Lói chia sẻ: Được cán bộ kiểm lâm tuyên truyền nên mọi người trong bản biết được trách nhiệm của mình trong việc giữ rừng, không được chặt phá, lấy gỗ, người ở nơi khác đến cũng không được lấy vì rừng này bây giờ giao cho cả bản bảo vệ. Không ai được tự ý phá rừng để làm nương mới nữa, khi đốt, làm nương cũ phải có người trông coi không được để cháy lan vào rừng, nếu vi phạm sẽ bị bản phạt và báo lên chính quyền xã xử lý.
Không riêng bản Na Cọ, 9/9 bản của xã Mường Lói công tác quản lý, bảo vệ rừng trong những năm qua luôn được thực hiện tốt. Để có được kết quả trên, hàng năm, Ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong bảo vệ và phát triển rừng của xã đều xây dựng phương án, kế hoạch phối hợp với lực lượng kiểm lâm xuống địa bàn tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại 100% cộng đồng thôn bản.
Xuất phát từ tình hình thực tế là các bản đều nằm xa trung tâm xã, giao thông đi lại hết sức khó khăn nên xã xác định rừng chỉ được bảo vệ tốt nếu có sự tham gia của cộng đồng và người dân. Khi người dân hiểu rõ được trách nhiệm cũng như lợi ích của việc giữ gìn nguồn tài nguyên rừng thì mọi hành vi xâm hại rừng sẽ được người dân dân ngăn chặn ngay từ cơ sở và kịp thời thông tin đến UBND xã, cán bộ kiểm lâm địa bàn để có biện pháp xử lý phù hợp. Đồng thời, công tác phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ cũng phát huy tối đa hiệu quả khi có sự tham gia ủng hộ của người dân.
Ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Lói cho biết: Xã đã thành lập Ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong bảo vệ và phát triển rừng để tuyên truyền cho nhân dân về công tác phòng cháy chữa cháy rừng, nhất là vào mùa khô trong năm. Hàng năm, ban chỉ đạo đều cử các thành viên đi tuyên truyền đến từng bản. Trong mấy năm vừa qua, trên địa bàn xã không xảy ra vụ cháy rừng nào và cũng không có trường hợp phá rừng làm nương.
Song song công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ, phòng chống chữa cháy rừng, UBND xã cũng tích cực phối hợp với lực lượng chức năng thực hiện rà soát diện tích rừng trên địa bàn thuộc các dự án trồng rừng; thực hiện giao đất, giao rừng cho cộng đồng thôn bản quản lý, bảo vệ và tiến tới triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định.
Từ đó, một mặt góp phần nâng cao thu nhập của người dân từ rừng, mặt khác tăng cường hiệu quả của công tác quản lý rừng, giữ vững tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn. (Báo Điện Biên Phủ 29/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 29-10, theo chân lực lượng chức năng phường Hòa Hiệp Bắc (quận Liên Chiểu), PV trở lại khu vực công trình xây dựng của Công ty CP Thế Diệu, nằm ở đỉnh đèo Hải Vân, khu vực giáp ranh (chưa thống nhất địa giới hành chính) giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế để kiểm tra tình hình.
Ngay sân công trình nhà 2 tầng của Công ty CP Thế Diệu có nhiều vật dụng sinh hoạt như áo quần, mùng mền, cuốc xẻng… để vương vãi dưới nền đất. Cạnh đó, một nhóm khoảng 10 phụ nữ đang ngồi nghỉ ngơi.
Qua trò chuyện, một phụ nữ trong nhóm này cho biết, họ ở Thanh Hóa được thuê vào đây để trồng rừng mấy ngày nay. Hỏi trồng rừng ở đâu, người phụ nữ này chỉ tay về phía đồi núi ở tiểu khu 4A, Rừng đặc dụng Nam Hải Vân.
Cách đó không xa, cũng có một lán trại che bạt có khoảng 10 người đang ngồi nghỉ trưa. Cạnh đó, hàng trăm cây sao đen để sẵn chờ những người này mang đi trồng. Thấy có người lạ đến, một nhóm người ăn mặc lịch sự đi ô-tô biển số tỉnh Thừa Thiên Huế đến cho biết là người của Công ty CP Thế Diệu.
Qua trao đổi, một nam công nhân Công ty CP Thế Diệu nói rằng họ đến đây kiểm tra tình hình thi công. Công nhân này cũng cho biết thêm, ngôi nhà 2 tầng là trụ sở của Công ty CP Thế Diệu để cán bộ, nhân viên công ty điều hành dự án khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine - Huế.
Toàn bộ dự án có diện tích 200 hecta, với tổng kinh phí đầu tư 250 triệu USD, thời gian thi công trong 10 năm. Chủ dự án này là doanh nhân đến từ Hong Kong (Trung Quốc).
Sau khi kiểm tra tình hình thực tế tại hiện trường, ông Trương Việt - Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc - đã gọi điện thoại yêu cầu Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu cử ngay lực lượng đến kiểm tra, đình chỉ việc trồng rừng ở khu vực đất của Đà Nẵng, cũng như khu vực giáp ranh chưa thống nhất về địa giới hành chính giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo ông Trương Việt, UBND phường Hòa Hiệp Bắc sẽ họp với các cơ quan chức năng của quận Liên Chiểu để bàn biện pháp triển khai lực lượng đến hiện trường yêu cầu dừng thi công, giữ nguyên hiện trạng công trình của Công ty CP Thế Diệu, nghiêm cấm việc trồng rừng tại khu vực này.
Chiều 29-10, trao đổi với PV qua điện thoại xung quanh vụ việc này, ông Võ Văn Thương - Chánh Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng - cho biết UBND thành phố đã có văn bản đề nghị Chính phủ có ý kiến dừng lại; chờ Chính phủ có ý kiến về sự chưa thống nhất địa giới hành chính. Bởi lẽ, Đà Nẵng khẳng định khu vực này lâu nay là của Đà Nẵng, thế nhưng tỉnh Thừa Thiên Huế thì lại nói là của họ (!?). (Báo Đà Nẵng 30/10) đầu trang(
Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Cà Mau sẽ triển khai trồng rừng tập trung với hơn 16.650ha; trong đó, rừng trồng mới là 2.500ha, rừng thay thế 600ha, trồng lại rừng sau khai thác 13.550ha.
Theo đó, bình quân mỗi năm tỉnh trồng 3 triệu cây phân tán, khoanh nuôi rừng tái sinh 100ha, khoanh nuôi chuyển tiếp 200ha. Ngoài việc phấn đấu thực hiện hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng, tỉnh còn đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016-2020, trên cơ sở triển khai thực hiện Dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng; Dự án bảo vệ và phát triển Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh hạ; xây dựng một trung tâm giống lâm nghiệp chất lượng cao và xây dựng các nhà trạm quản lý, bảo vệ rừng.
Theo Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lê Dũng, tỉnh sẽ thực hiện nghiêm túc quy định trồng rừng thay thế khi chuyển đổi đất có rừng sang mục đích khác; đồng thời, tăng cường quản lý hệ sinh thái rừng đặc dụng, bảo vệ quỹ gen, đảm bảo đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái, hấp thụ khí CO2...
Bên cạnh đó, tỉnh huy động nguồn lực cũng như xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng, tổ chức sắp xếp và bố trí dân cư kết hợp gắn với việc tạo sinh kế cho cư dân vùng rừng, nhằm giảm áp lực chặt phá cây rừng, khai thác động vật hoang dã trái phép.
Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm tạo điều kiện để phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất kết hợp nhưng không ảnh hưởng đến rừng và đất rừng, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện nay, tỉnh đang gặp khó khăn về mặt bằng trồng mới rừng đước, kinh phí đầu tư trồng rừng ở khu vực rừng đước tốn kém lớn hơn 20 triệu đồng/ha, do phải thực hiện khâu san bờ, lấp kinh tạo mặt bằng trồng rừng.
Trong khi đó, nhà nước chỉ hỗ trợ 3 triệu đồng cho mỗi ha đối với trồng rừng sản xuất và 12 triệu đồng đối với trồng rừng phòng hộ. Do vậy, các hộ dân thiếu vốn trồng rừng làm ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng của tỉnh.
Trước khó khăn trên, trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Cà Mau xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng, huy động nguồn lực, vốn đầu tư trồng rừng để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu trồng 4.100 ha rừng tập trung, khoanh nuôi tái sinh rừng, khoán bảo vệ rừng và trồng cây phân tán đạt 100% so kế hoạch đề ra. (Quân Đội Nhân Dân 30/10) đầu trang(
Trong khi rất nhiều người dân thiếu đất sản xuất nhưng không tìm ra quỹ đất mới thì một số cán bộ, vợ, con... giám đốc các sở, ngành của tỉnh Bình Phước lại được “ban phát” hàng chục hecta đất rừng để trồng cao su.
Tuổi Trẻ đã vào cuộc điều tra danh sách các cán bộ nhận đất và làm rõ cách “ban phát” đất rừng kỳ lạ này của Bình Phước.
Không phải cán bộ nào cũng có “đặc quyền” nhận đất rừng trồng cao su, mà theo điều tra của PV chỉ có khoảng 30 cán bộ là lãnh đạo cấp sở, văn phòng UBND tỉnh... trở lên mới được chia đất.
Giữa tháng 10-2014, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm ký quyết định thu hồi đất rừng của các ban quản lý đất rừng, công ty cao su để giao cho nhiều cán bộ thuê trồng cao su.
Căn cứ để UBND tỉnh ra quyết định là từ tờ trình của Sở Tài nguyên - môi trường (TN&MT) tỉnh Bình Phước, nhưng trong danh sách được nhận đất ấy, người ta thấy có cả tên vợ của giám đốc Sở TN&MT Nguyễn Phú Quới và nhiều cán bộ lãnh đạo khác.
Ngày 14-10-2014, UBND tỉnh Bình Phước ra quyết định số 2207/QĐ-UBND thu hồi 8,09ha tại khoảnh 8,9 tiểu khu 222 và khoảnh 1 tiểu khu 221 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết (thuộc địa phận xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh) để giao cho UBND huyện Lộc Ninh quản lý, xét cho hộ ông Lê Hoàng Thanh thuê.
Ông Lê Hoàng Thanh hiện là viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước. Cùng ngày, UBND tỉnh Bình Phước cũng ra quyết định thu hồi 9,7ha đất rừng tại Nông lâm trường Nghĩa Trung thuộc Công ty TNHH một thành viên cao su Sông Bé để cho hộ gia đình ông Võ Ngọc Vinh thuê. Ông Vinh hiện là trưởng phòng tổ chức - hành chính Văn phòng UBND tỉnh Bình Phước.
Trước đó, vào tháng 7-2011, UBND tỉnh Bình Phước cũng có quyết định thu hồi hơn 9,5ha đất lâm nghiệp tại tiểu khu 90 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh (huyện Lộc Ninh) để xét cho hộ ông Ngô Văn Họa (nguyên phó chủ tịch Ủy ban MTTQ VN tỉnh Bình Phước, nguyên trưởng Ban văn hóa - xã hội HĐND tỉnh Bình Phước, nghỉ hưu năm 2013) thuê...
Các quyết định nói trên ghi rõ nguồn gốc đất cho thuê là đất rừng, được giao cho các cá nhân thuê với thời hạn 50 năm để trồng cao su.
Theo điều tra của PV, ngoài các cán bộ đứng tên nhận đất, một số cán bộ đang đương chức “né” bằng cách để cho vợ, con của mình đứng tên.
Cụ thể như trường hợp bà Nguyễn Thị Thu Ánh (vợ ông Lê Văn Tánh - quyền chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước) được nhận 6,3ha. Tại quyết định 2208/QĐ-UBND, UBND tỉnh Bình Phước cho một số hộ gia đình thuê đất rừng theo tờ trình của Sở TN&MT, có tên bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt được thuê 6,6ha.
Theo điều tra, bà Nguyệt chính là vợ của ông Nguyễn Phú Quới, hiện làm giám đốc Sở TN&MT, trước đây là phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước. Trong danh sách của quyết định này còn có bà Nguyễn Thị Liên (vợ ông Nguyễn Văn Tới, giám đốc Sở NN&PTNT) được nhận 9,7ha; bà Nguyễn Thị Kim Em (vợ ông Trần Văn Lộc, phó giám đốc Sở NN&PTNT) được nhận 8,2ha...
Ngoài ra, trong các quyết định mới đây của UBND tỉnh Bình Phước, còn có trường hợp ông Bùi Chiến Thắng (con của ông Bùi Huy Thống, nguyên chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước) được thuê tới 15ha. Ông Hồ Thanh Bông - nguyên phó chánh Văn phòng UBND tỉnh Bình Phước, hiện là phó chánh Thanh tra tỉnh Bình Phước - được thuê 10ha ở huyện Lộc Ninh.
Theo tìm hiểu của PV, việc “chia chác” đất rừng cho cán bộ ở Bình Phước không hề có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định đối tượng, tiêu chí... nhận đất mà chỉ các cán bộ lãnh đạo sở, ngành hoặc cán bộ trong văn phòng UBND tỉnh...“biết”, làm đơn gửi lãnh đạo UBND tỉnh Bình Phước.
Sau khi có đơn của cán bộ, lãnh đạo UBND tỉnh Bình Phước duyệt đồng ý, rồi gửi công văn cho Sở NN&PTNT hoặc các ban quản lý rừng để tìm vị trí đất. Sau đó mới ra quyết định và làm thủ tục cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo điều tra, các chủ trương cấp đất cho cán bộ này được thực hiện từ những năm 2007-2009 tới nay, từ thời các đời chủ tịch UBND tỉnh: Nguyễn Tấn Hưng (nay làm bí thư Tỉnh ủy Bình Phước), Trương Tấn Thiệu (đã bị miễn nhiệm) và chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Nguyễn Văn Trăm.
Các cán bộ sau khi nhận đất đều đã trồng cao su, tới nay nhiều vườn cao su đã có thể thu hoạch. Điều đáng nói, các cán bộ được chia đất đều không phải những hộ khó khăn, không trực tiếp sản xuất...
Thậm chí có cán bộ đã có cả chục hecta cao su (trị giá mỗi hecta cao su đang cạo mủ cả tỉ đồng, tính ra các cán bộ này có cả vài chục tỉ đồng) nhưng vẫn được chia đất.
Nhiều cán bộ đã nhận đất vài năm nhưng tới nay mới làm thủ tục thuê đất để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trao đổi với PV ngày 24-10, ông Hồ Thanh Bông (phó chánh Thanh tra tỉnh Bình Phước, được nhận 10ha đất rừng) cho hay ông được UBND tỉnh cho thuê đất ở huyện Lộc Ninh từ năm 2008.
Đến mùa mưa năm 2009, ông Bông trồng cao su trên toàn bộ diện tích đất được thuê. Sau hơn năm năm trồng đến nay cao su đã chuẩn bị cho khai thác.
“Hồi đó (năm 2008) tôi cùng nhiều cán bộ khác trong tỉnh được UBND tỉnh xét cho thuê đất, nhiều cán bộ hễ có nhu cầu thì được thuê. Lúc đầu tỉnh chỉ duyệt cho 5ha nhưng tôi nghĩ đất thì ở xa, vả lại đã làm thì cho ra làm nên tôi đề nghị và được tỉnh cho thuê 10ha” - ông Bông nói.
Theo điều tra của PV, một số trường hợp cán bộ được UBND tỉnh Bình Phước cho thuê đất có dấu hiệu “chia chác” khi một khoảnh đất rừng khoảng 30ha được 4-5 cán bộ chia nhau.
Thậm chí, một cán bộ trong danh sách còn cho biết có trường hợp lãnh đạo cũng nhận đất nhưng “ngại” đứng tên nên nhờ ông và cán bộ khác đứng tên giùm. Việc cho thuê đất chủ yếu theo tiêu chí “tình nghĩa”.
Trong khi đó, Bình Phước là một tỉnh có nhiều người nghèo, thiếu đất sản xuất. Mặc dù Bình Phước cũng triển khai các chính sách giao đất, hỗ trợ đất sản xuất cho các hộ dân này nhưng tới nay việc thực hiện còn hạn chế do tỉnh thiếu quỹ đất. Nhiều hộ dân có nhu cầu sản xuất đã đi lấn chiếm đất của lâm trường, chặt phá rừng... để sản xuất.
Theo báo cáo của Thanh tra tỉnh Bình Phước về tình hình cấp đất sản xuất cho các hộ dân theo chính sách an sinh xã hội, tính đến tháng 7-2014, tổng số hộ có nhu cầu cấp đất sản xuất tới hơn 8.000 hộ, với diện tích có nhu cầu hơn 6.148ha.
Trong đó, số hộ đã được xét duyệt cấp đất nhưng chưa được cấp là hơn 1.500 hộ (diện tích đất cần là 1.536ha), số hộ thiếu đất sản xuất 1.495 hộ (diện tích đất cần 808ha), số hộ không có đất sản xuất hơn 4.700 hộ (diện tích cần 3.535ha), số hộ bị thu hồi đất nay không có đất sản xuất 296 hộ (diện tích đất cần 269,4ha).
Quỹ đất của một số địa phương tại Bình Phước không còn như thị xã Phước Long, Đồng Xoài, huyện Bù Gia Mập, huyện Chơn Thành... dù số hộ thiếu đất, không có đất sản xuất của chính các địa phương này cũng còn nhiều.
Hầu hết các cán bộ được “chia” đất để trồng cao su đều thuộc đất rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết (huyện Lộc Ninh) quản lý.
Vị trí của các khoảnh đất rừng này khá đẹp và thuận lợi về mặt giao thông: từ TP.HCM chỉ cần đi thẳng quốc lộ 13 qua tỉnh Bình Dương, thị xã Bình Long của tỉnh Bình Phước, khi tới ngã ba thuộc xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh thì quẹo trái hơn 10km là tới rừng.
Con đường từ quốc lộ 13 vào ban quản lý rừng được mở rộng và trải nhựa khá đẹp, tuyến đường này có thể nối tới địa phận tỉnh Tây Ninh và ra biên giới giáp với Campuchia.
Điều đáng nói là rừng Tà Thiết từng rất nổi tiếng khi có di tích khu căn cứ cách mạng Trung ương Cục miền Nam đặt tại đây. Thế nhưng, với gần 12.500ha diện tích tự nhiên mà ban quản lý rừng được giao, hiện chỉ còn hơn 3.100ha vùng “lõi” (có căn cứ di tích) là rừng tự nhiên; hơn 8.200ha đã được chuyển sang rừng trồng cao su, phần còn lại là đất trống hoặc diện tích khác.
Nhiều người dân qua đây không khỏi đau xót khi thấy những diện tích rừng tự nhiên bạt ngàn khi xưa thì nay đã bị chặt phá trở thành rừng nghèo kiệt và được chuyển sang trồng cao su.
Giữa tháng 10-2014, phóng viên đi khảo sát tại các tiểu khu 221, 222... của rừng Tà Thiết (là những tiểu khu cán bộ được giao đất) thấy xen lẫn giữa những hàng cây cao su mới trồng 4-5 tuổi còn dấu tích rất nhiều cây cổ thụ trước đây nay đã bị chặt bỏ, bị đốt... chỉ còn trơ những gốc cây lớn.
Ông Nguyễn Văn Hùng - giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết - cho biết ông mới về đây nhận nhiệm vụ được hơn một năm nay. Trong số hơn 3.100ha rừng tự nhiên còn lại thì sắp tới tỉnh Bình Phước cũng sẽ tiếp tục chuyển khoảng 2.000ha sang rừng sản xuất để trồng cao su, chỉ còn giữ hơn 1.000ha là di tích lịch sử để giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quản lý. “Có lẽ khi đó Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết cũng sẽ giải thể thôi!” - ông Hùng buồn rầu nói.
Theo điều tra, nhiều cán bộ về hưu khi thấy các cán bộ lãnh đạo tỉnh có đất cũng đã “xí phần”, làm đơn xin được thuê đất rừng để “trồng cao su, cải thiện đời sống”, dù các cán bộ này không trực tiếp sản xuất và cũng đã hết tuổi lao động. Nhiều cán bộ, cá nhân có nhà ở nơi khác như Bình Dương, TP.HCM... cũng được cho thuê đất.
Cụ thể, ngày 25-9-2013, xét đơn xin cấp đất sản xuất cải thiện đời sống của các hộ gia đình ông Lê Tính (TP Thủ Dầu Một, Bình Dương) và Nguyễn Viết Nghĩa (thị xã Thuận An, Bình Dương), kèm theo biên bản khảo sát đất giữa Công ty TNHH MTV cao su Sông Bé và Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm có ý kiến chấp thuận cho hai hộ gia đình này được thuê đất lâm nghiệp để trồng cao su với diện tích mỗi hộ 10ha.
Theo tìm hiểu, cả hai đều nguyên là cán bộ lãnh đạo của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước. Năm 2007, chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước khi đó là ông Nguyễn Tấn Hưng chấp thuận đề nghị của 21 hộ gia đình, cá nhân thuê mỗi hộ 10ha đất lâm nghiệp.
Các hộ này phần lớn đều là cán bộ hoặc vợ, con, người nhà của cán bộ gồm: Ông Bùi Thế Thành (Ban dân vận, Tỉnh ủy tỉnh Bình Phước), ông Nguyễn Văn Lợi (Ban tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Bình Phước), ông Huỳnh Văn Tiến (Công an tỉnh Bình Phước), ông Vũ Thành Nam (Sở Kế hoạch - đầu tư tỉnh Bình Phước), ông Đỗ Văn Quang (Sở Nội vụ Bình Phước), Đặng Lệ Oanh (Văn phòng UBND tỉnh Bình Phước)...
Tháng 6-2008, chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước khi đó là ông Trương Tấn Thiệu đồng ý dùng 105ha đất rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết để cho 11 cá nhân thuê. Trong đó có một số cán bộ như ông Ngô Văn Hòa (Ban quản lý các khu công nghiệp Bình Phước) thuê 20ha, ông Nguyễn Chính (Đài Tiếng nói VN, TP.HCM) thuê 5ha... (Tuổi Trẻ 29/10, tr5) đầu trang(
24/10, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND Quy định về phân cấp, phân công trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Quy định ban hành nhằm cụ thể hoá các quy định pháp luật về bảo vệ rừng và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Quy định áp dụng đối với các sở, ngành chức năng, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố; Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; các tổ chức, cá nhân là chủ rừng, cơ quan Kiểm lâm và các tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. (Binhthuan.gov.vn 28/10) đầu trang(
28/10, tại TP Hồ Chí Minh, các Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Chiến Bình, Lê Thị Thủy đã chủ trì làm việc cùng đại diện Văn phòng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các Bộ: Công an, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thông; tỉnh Bình Phước; tỉnh Đắc Nông; Cục II, Cục III (Thanh tra Chính phủ), để thống nhất phương án xử lý tình trạng khiếu nại liên quan đến việc xử lý hành vi bao chiếm đất rừng tại một số xã thuộc địa bàn huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắc Nông, thời gian qua nhiều công dân từ các tỉnh, thành khác đã đến khu vực xã Đắc Ngo, Quảng Trực bao chiếm đất lâm nghiệp, đất rừng để trồng cây nông nghiệp ngắn ngày.
Vì nhiều nguyên nhân như công tác quản lý đất rừng chưa đúng quy định, các chủ rừng không đủ sức giữ rừng nên hơn 4.000 ha đất rừng đã bị người dân xâm canh, bao chiếm. Thậm chí, đã xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật tại các khu vực này khi các hộ dân sang nhượng lại phần đất đã bao chiếm, xuất hiện việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp giữa người dân và doanh nghiệp, giữa người dân với cơ quan chức năng.
Đáng chú ý, có hàng trăm hộ dân thường trú tại tỉnh Bình Phước nhưng đã sang xâm canh lấn chiếm tại các xã thuộc địa bàn các huyện của tỉnh Đắc Nông. Khi cơ quan chức năng tiến hành xử lý thì phát sinh hiện tượng khiếu nại, tố cáo vượt cấp.
Để giải quyết tình trạng này, UBND tỉnh Đắc Nông và UBND tỉnh Bình Phước đã có nhiều nỗ lực phối hợp giải quyết nhưng vẫn chưa dứt điểm.
Đề xuất hướng giải quyết đúng pháp luật, phù hợp thực tiễn, các thành viên tham gia buổi làm việc đã thống nhất quan điểm cần vận dụng quy định, chính sách phù hợp để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, quan tâm đến người dân là đồng bào tại địa phương, người dân từ các địa phương khác di cư đến chưa có đất ở, đất sản xuất.
Quan điểm của UBND tỉnh Đắc Nông tại buổi làm việc là kiến nghị các bộ, ngành có văn bản báo cáo xin Chính phủ cho phép chuyển đổi từ 300 - 500ha rừng nghèo để xây dựng Đề án Quy hoạch, bố trí đất sản xuất lâm nghiệp cho số hộ dân đang bao chiếm, xâm canh trên đất rừng.
Trong điều kiện thực tế, UBND tỉnh Đắc Nông sẽ tiến hành thu hồi lại một phần diện tích của các tổ chức, doanh nghiệp đang sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả để bố trí cho các hộ dân thiếu đất ở, đất sản xuất. Đề xuất này của UBND tỉnh Đắc Nông đã nhận được sự đồng tình của các thành viên tham gia buổi làm việc.
Trên cơ sở tổng hợp ý kiến về định hướng, cách làm để xử lý tình trạng dân bao chiếm, xâm canh tại một số xã của tỉnh Đắc Nông, kết luận buổi làm việc, các Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Chiến Bình, Lê Thị Thủy đã giao Cục II phối hợp cùng các cơ quan chức năng nhanh chóng tiếp thu, hoàn chỉnh báo cáo để lãnh đạo Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ với các nội dung trọng tâm như: Xin chủ trương cho phép UBND tỉnh Đắc Nông lập Dự án Xây dựng điểm dân cư gắn với chủ trương xây dựng nông thôn mới tại các xã đang xảy ra tình trạng xâm canh, bao chiếm đất rừng để người dân có nơi an cư lạc nghiệp.
Nguồn kinh phí sẽ xin bố trí theo các chương trình định canh định cư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Diện tích đất xây dựng điểm dân cư và đất sản xuất cho nhân dân sẽ bố trí từ quỹ đất thu hồi một phần diện tích của các dự án lâm nghiệp, dự án được giao đất của các đơn vị kinh tế nhưng sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả.
Đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Nông, UBND tỉnh Bình Phước tiếp tục quan tâm giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến công tác giao đất, giao rừng đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, phù hợp thực tiễn lịch sử biến động đất đai tại mỗi địa phương, đặc biệt là các huyện giáp ranh.
Trước mắt, cần chủ động đánh giá rõ thực trạng đất rừng; các định nhân thân, hộ khẩu, điều kiện kinh tế của các hộ dân xâm canh… Nâng cao vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy, vai trò chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh Đắc Nông, tỉnh Bình Phước, gắn với quan tâm, hỗ trợ của các bộ, ngành để thực hiện đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong xử lý tình trạng khiếu nại, tố cáo liên quan đến xâm canh, bao chiếm, giao đất, giao rừng tại hai địa phương. (Thanh Tra 28/10) đầu trang(
Vừa qua, tại Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Yên Bái tổ chức khóa tập huấn ToT với chủ đề “Quản lý rừng bền vững và dịch vụ môi trường rừng” cho 30 học viên đại diện là cán bộ khuyến nông, cộng tác viên khuyến nông của hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ.
Mục đích của khóa tập huấn nhằm góp phần thực hiện mục tiêu chung của đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt là phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, từng bước chuyển đổi mô hình theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế và bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững.
Trong thời gian 5 ngày tập huấn, các học viên được trang bị các kiến thức cơ bản về: Quản lý rừng bền vững, chi trả dịch vụ môi trường rừng, chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn, kỹ thuật trồng một số loài cây trong trồng rừng phòng hộ…
Trong quá trình tập huấn, các học viên đã tích cực tham gia đóng góp ý kiến và cùng nhau trao đổi, thảo luận, các câu hỏi của học viên đã được giảng viên nhiệt tình giải đáp như: Đối tượng sử dụng dịch vụ và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiêu chuẩn chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn cho từng loài cây…
Để giúp học viên hiểu rõ hơn những chủ đề được trao đổi trên lớp học, các học viên đã được đi tham quan thực tế mô hình quản lý bảo vệ rừng bền vững tại xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và mô hình được chi trả dịch vụ môi trường rừng bởi nhà máy thủy điện Thác Bà.
Phát biểu tại lớp tập huấn, học viên Lê Thị Hải Yến - Phó Trưởng phòng Chuyển giao Tiến bộ kỹ thuật thuộc Trung tâm Khuyến nông Yên Bái cho biết: "Chương trình tập huấn về quản lý rừng bền vững và dịch vụ môi trường rừng rất hữu ích và thiết thực đối với đội ngũ cán bộ, cộng tác viên khuyến nông, qua khóa tập huấn này các học viên trở về địa phương có thể hướng dẫn và tuyên truyền cho người dân về cách quản lý, phát triển rừng bền vững và hiệu quả". (Khuyến Nông VN 29/10) đầu trang(
Bộ Công thương vừa ban hành Thông tư 37/2014/TT-BCT quy định việc tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia.
Theo Thông tư này, từ ngày 8/12 tới sẽ tạm ngừng hoạt động kinh doanh tạm nhập từ Lào và Campuchia để tái xuất sang nước thứ ba đối với gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên thuộc nhóm HS 44.03 và 44.07, theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
Đối với các hợp đồng đã ký trước ngày 8/12, thương nhân được tiếp tục làm thủ tục tạm nhập đến hết ngày 31/12/2014. (Thời Báo Tài Chính VN 29/10; Nông Nghiệp Việt Nam 30/10, tr2) đầu trang(
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính từ đầu năm đến hết tháng 9, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Lào đạt 634 triệu USD, tăng 62% so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam nhập khẩu chủ yếu là gỗ và sản phẩm gỗ. Trong chín tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt tới 490 triệu USD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2013.
Trong khi đó, trị giá xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Lào đạt 330 triệu USD, tăng 7% so với cùng kỳ. Mặt hàng chính Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Lào là sắt thép, xăng dầu, linh kiện, phụ tùng xe máy… (Pháp Luật TPHCM 29/10) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Ya Hội đang quản lý 13.182 ha rừng và đất rừng.
Vụ trồng rừng 2014 ban đã trồng được 57 ha và tạo việc làm theo mùa vụ cho 40 - 50 lao động là bà con đồng bào dân tộc tại chỗ với mức thu nhập từ 150.000 - 170.000 đ/người/ngày.
Ngoài ra, ban còn giao khoán 1.000 ha rừng cộng đồng cho 10 làng ở xã Ya Hội, huyện Đắk Pơ, tỉnh Gia Lai đảm nhận. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/10, tr17) đầu trang(
Hiện nay ở Nghệ An loài cây được lựa chọn để trồng rừng sản xuất chủ yếu là keo lai (trừ một số diện tích có vốn đầu tư nước ngoài).
Cây keo lai có lợi thế sống khoẻ, thích nghi trên nhiều loại lập địa, phát triển nhanh, là cây nguyên liệu dăm, giấy phổ biến dễ tiêu thụ, có chu kỳ kinh doanh ngắn nên thu hồi vốn sớm; nhưng sau khi thu hoạch keo, người dân phải thu dọn sạch hiện trường, làm đất để chuẩn bị chu kỳ trồng mới nên chất đất ngày càng kém đi.
Nếu trồng cây gỗ lớn (chu kỳ sản xuất trên 10 năm), cây bản địa, thời gian cho sản phẩm lâu hơn nhưng giá trị sẽ lớn hơn. Có thể so sánh 3 vụ keo sẽ mất khoảng 23 - 25 năm, cùng với khoảng thời gian này, nếu đầu tư trồng các loại cây gỗ bản địa nhóm 3 (các loại gỗ phổ biến để làm đồ mộc gia dụng) như sao đen, tếch, trường mật, săng lẻ, de, mít, dổi, dạ hương… thì cây gỗ đã có đường kính khoảng 20 - 25cm và có thể thu hoạch với trữ lượng bằng hoặc lớn hơn cây keo lai 7-8 năm tuổi.
Nếu tính giá trị thì gỗ keo lai làm nguyên liệu giấy hoặc gỗ trụ mỏ có giá tối thiểu 400.000 - 500.000 đồng/m3, gỗ nhóm III có giá tối thiểu bình quân 350.000 đồng/m3 (theo bảng giá tối thiểu để tính thuế tài nguyên tại Quyết định 23/2013/QĐ-UBND ngày 23/4/2013 của UBND tỉnh Nghệ An).
Bên cạnh đó, nếu trồng các loài cây đa tác dụng như thông nhựa, trám đen, trám trắng… thì người sản xuất sẽ có thu hoạch từ lâm sản ngoài gỗ (nhựa thông, nhựa trám, quả trám…) hàng năm vẫn có thể cao hơn so với khai thác gỗ.
Như vậy, về mặt kinh tế trồng cây gỗ lớn, cây bản địa, cây đa tác dụng có lợi gấp ít nhất 2 lần so với trồng keo lai. Về mặt môi trường diện tích trồng rừng cây bản địa trong suốt 25 năm đất được che phủ liên tục bởi lớp thảm thực vật và tán cây rừng, hệ sinh thái rừng phát triển ổn định; còn rừng trồng keo lai bị gián đoạn qua 2 lần khai thác trắng, tương đương 5 - 6 năm đất không có đủ tầng che phủ, điều này không chỉ đất bị xói mòn rửa trôi mất chất mà còn ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, trồng cây bản địa còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn lưu giữ nguồn gen và đa dạng sinh học, điều này có giá trị không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với quốc gia.
Từ tính toán thực tế trên, có thể khẳng định trồng cây bản địa, cây gỗ lớn, cây đa tác dụng dài ngày có lợi ích kép so với trồng keo lai. Khó khăn lớn nhất trong việc trồng cây dài ngày là phải chờ đợi thời gian thu sản phẩm rất lâu nên người sản xuất sẽ không có thu nhập từ rừng trồng trong một thời gian dài. Việc này quá khó với người nghèo hoặc người ít vốn phải vay ngân hàng, vì vậy rất ít hộ đầu tư trồng cây bản địa.
Thiết nghĩ, phát triển trồng cây bản địa, cây gỗ lớn trên diện tích rừng sản xuất rất cần Nhà nước có quyết sách phù hợp hơn đối với trồng cây lâm nghiệp lâu năm, nhằm tạo nên tính bền vững trong ngành Lâm nghiệp. Trên cơ sở “Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp” do Bộ NN & PTNT phê duyệt tại Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2013, chúng tôi xin đề xuất chính quyền các cấp, ngành NN & PTNT và các ngành liên quan một số vấn đề sau:
Công tác quy hoạch, kế hoạch: Rà soát, bổ sung quy hoạch đối với rừng sản xuất một diện tích phù hợp để trồng cây bản địa, cây gỗ lớn; xây dựng nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch trồng cây bản địa, gỗ lớn hàng năm và nghiêm túc chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch.
Về giống cây bản địa: Thực hiện các chủ trương đã có của Chính phủ  và UBND tỉnh, sớm xây dựng rừng giống cây bản địa, trước mắt tiến hành tuyển chọn và chuyển hóa các rừng giống phù hợp tại địa phương và cấp chứng chỉ, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống và người trồng rừng có giống đảm bảo chất lượng và thực hiện đúng quy định quản lý của Nhà nước.
Về chính sách: Ngoài chính sách phát triển rừng sản xuất tại Quyết định 147/2007/QĐ-TTg và Quyết định 66/2011/QĐ-TTg, cần bổ sung chính sách hỗ trợ tăng thêm đối với tất cả các vùng trồng cây bản địa, cây gỗ lớn theo từng nhóm chu kỳ kinh doanh cây trồng để giảm bớt khó khăn và khuyến khích người sản xuất.
Về tuyên truyền: Tuyên truyền về lợi ích kép của cây bản địa, cây gỗ lớn, tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Nhà nước và nhiệm vụ của các cấp, ngành và nhân dân đối với trồng và bảo vệ cây bản địa trên các kênh thông tin đại chúng.
Về khuyến nông, khuyến lâm: Tăng cường tập huấn, đào tạo, hướng dẫn người sản xuất kiến thức tổng hợp để lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện hiện có nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, canh tác nông, lâm kết hợp bằng trồng cây bản địa, cây gỗ lớn xen cây nguyên liệu giấy, cây hàng năm, chăn nuôi và dịch vụ để lấy ngắn nuôi dài.
Đồng thời hướng dẫn nông dân lập kế hoạch sản xuất nông hộ và hạch toán với các dòng sản phẩm ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để phát triển sản xuất theo hướng an toàn, bền vững.  (Báo Nghệ An 29/10) đầu trang(
Là một trong số những vườn ươm giống trồng rừng của tỉnh , vườn ươm giống Nà Pài thuộc trung tâm giống cây trồng vật nuôi tỉnh cũng đang có những biện pháp tích cực chuẩn bị cho vụ trồng rừng năm 2014. Tuy nhiên, khác với mọi năm, năm nay, cây quế đã trở thành loại giống cây chủ lực của vườn ươm.
Để chuẩn bị cho vụ trồng rừng năm 2015 sắp tới, đơn vị đã có kế hoạch dự kiến gieo ươm chừng 50 vạn cây mỡ, lát và trên 2 triệu cây quế phục vụ cho các huyện Chợ Đồn và Chợ Mới.
Trong đó, với cây quế, để kịp thời vụ năm nay, vườn đã tiến hành gieo ươm từ tháng 3 và hiện cây đã lên tốt và đảm bảo phục vụ đủ cho nhu cầu của các địa phương nói trên. Có một thực tế ở vườn ươm Nà Pài cũng như nhiều vườn ươm khác hiện nay đó là quy mô và số lượng cây giống đã giảm so với những năm trước.
Nhiều chủ vườn ươm cho biết: Năm nay bên cạnh những cây trồng truyền thống như keo, mỡ, thì các loại cây như trám, lát, xoan, quế, hồi…cũng là những cây trồng được sử dụng khá nhiều, nhất là trong bối cảnh cây mỡ liên tiếp bị sâu ong gây hại còn những cây trồng kể trên lại phù hợp hơn với loại rừng phân tán cũng như cho hiệu quả kinh tế cao hơn. (Báo Bắc K ạn 28/10) đầu trang(
Người dân vùng cao Quảng Ngãi hàng ngày trầm mình dưới nước lớn mùa mưa lũ để mang vác gỗ keo thuê trong vụ thu hoạch.
Do địa hình đồi dốc hiểm trở, những năm gần đây người dân Quảng Ngãi trồng keo trên núi thường chọn thời điểm thu hoạch vào mùa mưa lũ để tận dụng dòng nước lớn. Sau khi đốn hạ, dân làng sẽ lột vỏ rồi thả từng thân cây trượt xuống sườn núi dọc theo các dòng sông, suối.
Nhiều phụ nữ tham gia vào "đội quân" vận chuyển gỗ keo trên sông Màu, huyện Sơn Tây. Họ làm việc trong dòng nước xiết 7-17h mỗi ngày. Tùy theo số lượng lao động, trung bình mỗi hecta keo trồng trên đỉnh đồi cao cần ít nhất 3 ngày thu hoạch và vận chuyển.
Về việc dân làng chọn mùa mưa lũ để thu hoạch keo trên đồi cao, ông Đinh Văn Oai (xã Sơn Tân, huyện vùng cao Sơn Tây) cho biết nguyên nhân là do đường dân sinh không thể mở đến nơi trồng. Mặt khác, nếu tự mở đường để vận chuyển thì dễ gây hư hại các rẫy keo liền kề.
"Nước suối mùa này lạnh lắm, có hôm cha mẹ phải nhóm lửa bên bờ suối để em sưởi ấm sau mỗi lần chuyển gỗ", Cường học sinh lớp 8 trường THCS Sơn Tân, nói.
Anh Đinh Văn Quân, xã Sơn Tân, huyện Sơn Tây cho hay, vận chuyển gỗ keo trong dòng nước xoáy mùa mưa lũ dễ gặp nguy hiểm nhưng với người trồng rẫy keo trên đỉnh đồi cao thì đây là cách tiện lợi nhất. Còn với các nhân công, ngâm mình trong nước làm việc cơ cực cả ngày nhưng họ kiếm được 100.000 đồng.
Ông Nguyễn Quyết Chiến, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Tân, huyện Sơn Tây, cho biết thêm, dọc theo dòng sông Rin trải dài hơn 20 km có hàng chục điểm vận chuyển gỗ keo dựa theo dòng nước về điểm tập kết gần đường giao thông bán cho thương lái.
Xe tải chở keo về các nhà máy chế biến gỗ dăm xuất khẩu. "Trước đây, mỗi lần thu hoạch keo trên núi cao, dân làng phải vận chuyển đường vòng tốn thời gian, công sức và chi phí lớn. Giờ họ tận dụng sức nước để 'kéo bè' keo xuôi dòng sông, suối vào mùa mưa, đỡ tốn kém nhiều hơn so với trước", ông Chiến nói. (VnExpress 29/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Trung quốc công bố trung tuần tháng 10, giá trị xuất khẩu đồ gỗ nội thất Trung Quốc trong những năm gần đây giảm mạnh.
Ví dụ, trong quý 1 và 2 giảm tới 8,1% đạt 11,31 tỷ USD. Lý do nhu cầu từ thị trường Mỹ và EU giảm mạnh. Đây là hai khu vực chiếm tới 50% thị phần gỗ nội thất của Trung Quốc.
Ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố khác như Mỹ đang tìm kiếm thị trường khác mang tính cạnh tranh hơn như sản phẩm gỗ của Việt Nam, giá cả hợp lý, lại đảm bảo chất lượng, thời gian giao hàng đúng tiến độ. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/10, tr7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng