Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO

Ngày 03 tháng 02 năm 2012
QUẢN LÝ
BẢO VỆ RỪNG
PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

QUẢN LÝ
Dự án hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (Hợp phần Việt Nam) do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ có qui mô lớn nhất về kinh phí, dài nhất về thời gian đối với lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học tại nước ta.
Điều đáng nói là dự án đã lựa chọn 34 xã nghèo thuộc các tỉnh miền núi của các huyện Tây giang, huyện Giang (Quảng Nam), Hương Hóa, Đắkrong (Quảng Trị), huyện Đông, A Lưới (Thừa Thiên – Huế) để giúp người dân nơi đây có năng lực quản lý, bảo vệ và trồng rừng vì cuộc sống của chính mình và hành lang xanh cho dải miền Trung còn gian khổ.
GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh cho rằng, đây là sự lựa chọn hợp lý, liên quan đến một vùng rất nóng về đa dạng sinh học ở Việt Nam, lại có mối liên quan mật thiết với đa dạng sinh học của Lào, Campuchia. Nhưng để đánh giá được hiệu quả dự án cần khảo sát thực tế hiện tại làm nền so sánh khi dự án kết thúc; đồng thời phải quan tâm tới người dân tại chỗ, bởi con người cũng là thành phần của đa dạng sinh học…
Với 34,083 triệu USD, trong 8 năm, kể từ tháng 4/2011 đến hết tháng 3/2019, các chuyên gia triển khai dự án hy vọng đạt được 3 mục tiêu. Trước hết là tạo dựng khả năng quy hoạch, kế hoạch quản lý hành lang đa dạng sinh học cho từ cấp xã đến cấp tỉnh. Thứ hai là khôi phục sự liên kết các hành lang đa dạng sinh học, tăng diện tích rừng trung bình, rừng giàu thông qua việc trồng rừng tại 34 xã. Thứ 3, là cung cấp các giải pháp tạo sinh kế và các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ gắn với cơ sở hạ tầng qui mô nhỏ góp phần giảm nghèo và cải thiện đời sống cho các dân tộc ít người tại các vùng miền núi nghèo của dự án.
Tuy nhiên,để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi sự nỗ lực của cả Ban Quản lý dự án cấp Trung ương và Ban Quản lý dự án cấp tỉnh. Một khối lượng công việc không nhỏ đang chờ phía trước.
Chỉ riêng việc tạo dựng năng lực cho cộng đồng và tăng cường thể chế quản lý rừng, ngay trong năm 2012 dự án sẽ tiến hành xây dựng và đưa vào sử dụng các kế hoạch quản lý, chính sách và khung pháp lý hành lang đa dạng sinh học đối với ít nhất 530.000 ha đất lâm nghiệp và phi lâm nghiệp tại 34 xã.
Đến năm 2015, hoàn tất các bản đồ quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia và đầu tư của 34 xã và 340km đường ranh giới hành lang. Năm 2016 có ít nhất 13.700 ha rừng có Giấy Chứng nhận sử dụng đất mới, trong đó có 1.500 ha cho các hộ gia đình và 12.200 ha cho các nhóm quản lý tập thể tại thôn bản. Khi dự án kết thúc, có 1.500 người cấp tỉnh, 1.350 người cấp huyện và 5.100 người cấp xã được đào tạo trong các hoạt động của dự án - trong đó 40% là phụ nữ chủ yếu là các dân tộc ít người.
Để phục hồi hành lang đa dạng sinh học, dự án cấp vốn cho phụ nữ trồng phục hồi 10.000 ha rừng giàu, trồng lâm sản ngoài gỗ và nông lâm kết hợp. Đồng thời tiến hành các hoạt động xác định giảm thiểu phát thải do suy thoái và phá rừng tại các nơi thí điểm, làm cơ sở phát triển quỹ bổ sung cho bảo vệ và phục hồi rừng từ nguồn quỹ đặc biệt. Các xã sẽ có quỹ phát triển tiếp nhận khoản tiền phục vụ cho hoạt động phát triển rừng để lưu giữ các bon. Các xã trong dự án còn được thiết lập ô mẫu điều tra, khảo sát về đa dạng sinh học và phác thảo kế hoạch quản lý rừng hướng tới quản lý rừng bền vững. Các đội tuần tra, bảo vệ rừng của xã có nhiệm vụ bảo vệ khoảng 112.000ha rừng trong tổng số 530.000h rừng thuộc hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tại đây.
Cùng với việc được phân bổ kinh phí để cải thiện đời sống người dân, quỹ phát triển của xã còn được dự án cấp các vốn tín dụng nhỏ cho các gia đình vay phục vụ các hoạt động của dự án. Đồng thời mỗi xã còn nhận được 235.000 USD để phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết đối với địa phương như hệ thống cấp nước sạch, nhà vệ sinh, cải thiện và nâng cấp hệ thống giao thông từ các tuyến dường chính đến các chợ với phương châm bảo đảm lợi ích công bằng cho các nhóm người nghèo và dân tộc ít người.
Mừng vì có một dự án qui mô lớn hỗ trợ cho công tác bảo tồn đa da dạng sinh học, hỗ trợ cho cuộc sống những người dân nghèo, nhưng những người được giao trách nhiệm quản lý, triển khai dự án cũng lo lắng vì sự phức tạp của dự án.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay tại buổi Hội thảo khởi động dự án, TS. Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Giám đốc dự án đã thẳng thắn chia sẻ: “Đây là dự án có ý nghĩa, nhưng phức tạp. Bởi phục hồi phát triển rừng đã khó, duy trì bền vững rừng còn khó hơn vì nó liên quan đến nhận thức của các cấp, các địa phương, liên quan đến quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia”. (Tài Nguyên&Môi Trường 2/2)đầu trang(
Gần hai năm nay, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An nợ đồng bào dân tộc ở các huyện Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Tương Dương gần 700 tấn gạo theo chương trình trợ cấp trồng rừng thay thế nương rẫy.
Trước tết Nhâm Thìn 2012, Chính phủ đã phải xuất cấp gạo cứu đói cho hàng ngàn hộ dân chưa nhận được số gạo trên.
Năm 2009, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An làm chủ dự án án trồng rừng thay thế nương rẫy để xóa nghèo cho dân. Theo đó, mỗi hecta rừng trồng mới được cấp không quá 700 kg gạo/năm và mỗi khẩu được cấp bình quân 10 kg gạo/tháng (trong vòng sáu năm). Trong những ngày đầu, cứ hai tháng một lần, cán bộ kiểm lâm phát gạo nên người dân phấn khởi, trồng mới hơn 1.100 ha rừng. Nhưng từ năm 2010 thì dân bắt đầu chờ gạo ăn cho đến nay.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND xã Châu Khê, huyện Con Cuông, cho biết: “Đến nay, khoảng 300 hộ dân ở bản Khe Bu, Khe Nà, Châu Sơn trong xã đã trồng mới được 200 ha rừng nhưng 70% trong số dân đó lại đang thiếu đói. Diện tích nương rẫy phần lớn đã trồng rừng thay thế. Đáng lẽ trong dịp tết Nhâm Thìn vừa rồi họ phải phát một ít gạo cho người dân ăn tết nhưng đến nay vẫn chưa có. Chúng tôi đã kiến nghị lên cấp trên nhiều lần nhưng chưa thấy họ đưa gạo về trả cho dân”.
Cán bộ dự án của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An thì cho biết theo kế hoạch, đầu năm 2012, cán bộ sẽ đi nghiệm thu rừng nhưng chưa dám đi vì sợ dân đòi nợ gạo! Nơi đây đã nhiều lần kiến nghị lên giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An nhưng giám đốc bảo “khất nợ thêm”.
Ngày 2-2, ông Lê Cao Bính, Phó Giám đốc Sở NT&PTNT tỉnh kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An, phân trần: “Việc nợ gạo dân là do không có tiền. Chúng tôi đã kiến nghị lên cấp trên nhiều lần nhưng vẫn chưa được cấp, đang nợ chồng chất”.
Một chủ trương tác động đến hàng ngàn con người nhưng cách thực hiện không đồng bộ, rất khó thuyết phục người dân trong những lần vận động tiếp theo. (Pháp Luật TPHCM 3/2; Tầm Nhìn 3/2)đầu trang(
Theo quyết định vừa được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ký ban hành, từ ngày 2/2 đến hết ngày 31/12/2013, Vườn Quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Nam Định) và Vườn Quốc gia Bạch Mã (tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam) sẽ tổ chức thực hiện thí điểm chia sẻ lợi ích.
Ngày 2/2, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ban hành quyết định thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng với mục đích tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chia sẻ lợi ích, quyền và nghĩa vụ của ban quản lý các khu rừng đặc dụng với cộng đồng địa phương, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân sống ở trong khu rừng đặc dụng và vùng đệm khu rừng đặc dụng.
Việc chia sẻ lợi ích thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm sự thỏa thuận trực tiếp và tự nguyện giữa ban quản lý khu rừng đặc dụng với cộng đồng dân cư thông qua đại diện hợp pháp là hội đồng quản lý; công khai, minh bạch trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện; gắn trách nhiệm của các bên và không làm ảnh hưởng tiêu cực tới mục tiêu bảo tồn của rừng đặc dụng.
Các thôn áp dụng thí điểm ở Vườn Quốc gia Bạch Mã: Ta Rin, Ta Lu, A Sách, A Tin, La Vân và thôn Lập, xã Thương Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Các lợi ích được chia sẻ có 30 loài; các loại nông, lâm, thủy sản được trồng hoặc gây nuôi dưới tán rừng và đất trống trong phân khu phục hồi sinh thái và các khoản thu từ dịch vụ môi trường rừng như dịch vụ thủy điện Thương Nhật, tín chỉ cacbon.
Tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy, các lợi ích thí điểm chia sẻ gồm: Ngao giống tự nhiên (khu vực đất ngập nước thuộc cửa sông Hồng và khu vực ở giữa Cồn Lu - Cồn Ngạn); tôm, cua, cá, nhuyễn thể (rừng ngập nặm trồng phòng hộ trong vùng đệm của 3 xã Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân); tôm, cua, cá, nhuyễn thể (khu vực có rừng ngập mặn tự nhiên); nuôi ngao (phân khu phục hồi sinh thái tại Cồn Lu) và các dược liệu (củ gấu, sài hồ, sâm đất, dứa dại) thuộc rừng phi lao ở Cồn Lu.
Theo quyết định, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân cư trú hợp pháp trong khu rừng đặc dụng và vùng đệm của khu rừng đặc dụng tham gia chia sẻ lợi ích có quyền được khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, nuôi trồng các loại động vật, thực vật tại danh mục các loại được phép khai thác, sử dụng, nuôi trồng được quy định trong thỏa thuận; tham gia, thực hiện thỏa thuận và đề xuất ý kiến với hội đồng quản lý; được bồi dưỡng các kiến thức về bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững rừng đặc dụng.
Bên cạnh đó, phải thực hiện đúng phương án, thỏa thuận chia sẻ lợi ích; các biện pháp bảo vệ rừng và phát triển rừng đặc dụng theo quy định của pháp luật; thông báo kịp thời cho ban quản lý khu rừng đặc dụng những hành vi vi phạm, thông tin về nguồn tài nguyên, những loài phát hiện mới; thông tin kịp thời, ngăn chặn hoặc tham gia việc ngăn chặn những đối tượng có hành vi xâm hại, khai thác trái pháp luật tài nguyên rừng đặc dụng. (Thanh Tra 3/2; Chinhphu.vn 3/2)đầu trang(
Cùng trong ngày 18/1, UBND tỉnh Quảng Trị ban hành hai quyết định thu hồi, cho thuê hơn 3,4 triệu m2 đất để thực hiện trồng cây cao su tại huyện Gio Linh và xây resort tại thị xã Quảng Trị.
Đáng chú ý, Quyết định số 127/QĐ-UBND cho phép thu hồi tới 3.402.807 m2 đất rừng trồng sản xuất của Ban quản lý Dự án 661 Nam Bến Hải tại xã Linh Thượng, huyện Gio Linh để giao cho Công ty TNHH một thành viên Trường Anh thực hiện dự án trồng cây cao su trong thời gian 50 năm.
Trong khi đó, Quyết định số 129/QĐ-UBND cũng đồng ý để Công ty cổ phần Đầu tư và Du lịch Miền Trung thuê 16.694 m2 đất chưa sử dụng tại phường 1, thị xã Quảng Trị và 5.730 m2 đã thu hồi trước đó nhằm thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu du lịch La Vang – Resort cùng với thời hạn sử dụng 50 năm.
Hai văn bản đều yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh tổ chức bàn giao đất trên thực địa cho hai đơn vị sử dụng trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc. (Thiên Nhiên 3/2)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Mục đích của việc cứu hộ động vật hoang dã là chữa trị, chăm sóc và phục hồi bản năng hoang dã của chúng rồi thả chúng về rừng. Nhưng giờ tìm đâu ra chốn an toàn để thả chúng trở về…
Đứng nhìn hàng chục con gấu đang tự tìm thức ăn trong khu bán hoang dã, anh Dương Duy Cường, cán bộ phụ trách Trung tâm cứu hộ gấu Cát Tiên, thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên, không khỏi chạnh lòng: “Những con gấu này đang trong giai đoạn phục hồi bản năng hoang dã. Chúng được huấn luyện các kỹ năng bảo vệ bản thân, tự kiếm ăn, ghép bầy… để thích nghi với môi trường sau này. Hiện một số con đã có thể tự sống ngoài tự nhiên nhưng trung tâm không biết thả chúng về đâu. Bây giờ cánh rừng nào cũng là nơi nguy hiểm, không chỉ cho riêng loài gấu…”.
Anh Trần Văn Quản là một trong những người có gần 10 năm gắn bó với Trung tâm cứu hộ gấu Cát Tiên. Hằng ngày anh dậy từ mờ sáng để chuẩn bị thức ăn, sau đó cho gấu ăn rồi vệ sinh chuồng trại. Công việc tất bật từ sáng cho đến tối. Vì vậy tính nết, thói quen cũng như những thói hư tật xấu của từng con gấu anh đều biết rõ như lòng bàn tay. Anh Quản kể: “Con SunShine từ tốn, chậm chạp trong khi ăn cũng như lúc vui đùa nên phải cho nó ăn sớm hơn các con khác. Riêng con Hope và Hy Vọng bị mất một cánh tay nên chúng rất khó tính và lười di chuyển. Mỗi lần cho ăn phải dỗ dành, nuông chiều, không thì nó quậy phá, la lối và cào cấu tay như chơi”.
Trong số các con gấu đang được cứu hộ tại trung tâm, Hope và Hy Vọng là hai chú gấu đáng thương nên dành được nhiều sự quan tâm của các nhân viên nhất. Hope khi vào trung tâm đã bị mất một cánh tay do dính phải bẫy của phường săn bắt. Sau đó, chú lại bị người ta nuôi nhốt một thời gian dài để lấy mật nên sức khỏe rất yếu. Khi về trung tâm, chú chỉ nằm một chỗ, thân thể mang rất nhiều bệnh, mắt mờ, da lở loét… Hiện thể trạng của Hope đã dần hồi phục, di chuyển nhanh nhẹn hơn.
Còn Hy Vọng là tên mà anh Dương Duy Cường đặt cho chú gấu khác khi mới tiếp nhận về trung tâm. Khi đó một bàn tay trước của Hy vọng bị bầm dập nên phải huy động một ê-kíp phẫu thuật cắt bỏ phần tay. “Phẫu thuật xong, ai nấy cũng mệt rã rời nhưng ai cũng hy vọng vết thương sẽ lành và không để lại biến chứng. Một anh trong ê-kíp bỗng thốt lên: “Hy vọng nó không sao”. Thế là cái tên Hy Vọng của nó bắt đầu từ đó” - anh Cường kể.
Có chứng kiến cảnh các nhân viên chăm sóc thú mới thấy hết được sự khó nhọc và gian truân. Từ 4 giờ sáng, anh Quản phải dậy để lo bữa ăn cho 42 con gấu. Xong, anh lại nấu cháo để chuẩn bị bữa trưa cho chúng tiếp… Tranh thủ lúc gấu đang ăn, anh và các nhân viên đem thêm thức ăn giấu ở các nơi trong khu bán hoang dã để khi thả chúng đến đấy rong chơi, chúng có thể tự tìm kiếm thức ăn. Đây là khâu quan trọng trong quá trình phục hồi bản năng hoang dã để sau này, khi được thả về rừng, chúng có thể tự tìm kiếm thức ăn và thích nghi với môi trường sống.
Đa phần số gấu ở trung tâm này trước đây từng bị nuôi nhốt để lấy mật, từng bị con người hành hạ dã man nên khi mới về trung tâm chúng thường tỏ ra giận giữ, gầm rú khi thấy có người đến gần. Có nhân viên khi vừa đưa thức ăn vào chuồng đã bị chúng cào cấu, sẵn sàng tấn công. “Những lúc như vậy chúng tôi phải dùng những cử chỉ yêu thương để “cảm hóa” và giúp chúng vượt qua giai đoạn tâm lý khó khăn. Sau một thời gian dài được chăm sóc, dường như chúng cũng cảm nhận được sự an toàn và tình cảm yêu thương của các nhân viên ở đây nên chúng dần tỏ ra thân thiện, ngoan ngoãn. Những nàng gấu dần dần tỏ ra dịu dàng và điệu đàng ra phết, còn các anh gấu cũng vạm vỡ và đằm tính hơn nhiều” - anh Quản cười dí dỏm.
Theo quy trình cứu hộ, khi gấu đã tự tìm kiếm thức ăn thì trung tâm sẽ bắt đầu cho chúng nhập bầy. Thường thì gấu sống từng đôi với nhau. Có thể là hai con đực hoặc hai con cái kết với nhau thành cặp, hoặc cũng có thể cho một con đực một con cái “tái hợp” thành đôi. Các nhân viên cho biết có vài trường hợp gấu cái sinh con, do thấy bóng người, sợ gặp nguy hiểm nên chúng bèn… ăn thịt phức luôn gấu con. Thành ra trung tâm phải ghép hai con đực hoặc hai con cái với nhau để chúng khỏi thụ thai và sinh con.
Khi mới ghép bầy, nhiều con gấu không hợp tính nết nên đâm ra cắn xé, đuổi đánh nhau đến rách cả miệng. “Tội nghiệp nhất là chuyện chú gấu đực không hiểu cơ sự thế nào tự nhiên lại lấy tay cào cấu “của quý” của mình, lôi cả hòn bi ra ngoài. Anh em phải phẫu thuật để cắt bỏ hòn bi và khâu vết thương. Từ đó về sau gấu ta sống đời “hoạn quan”. Có lẽ do cu cậu đang tuổi sung sức “chuyện ấy” nhưng lại bị “cấm vận” nên đâm ra bứt rứt, khó chịu mà làm càn, “bỏ quách đi cho rồi” chăng?” - anh Cường phỏng đoán.
Đưa chúng tôi đi thăm khu bán hoang dã tại trung tâm, anh Cường cho biết: “Hằng ngày chúng tôi cho gấu ra khu bán hoang dã để chúng đánh hơi và tìm kiếm thức ăn. Mặt khác, giúp chúng di chuyển, leo trèo để tạo cảm giác như đang ở trong rừng. Việc này giúp khơi gợi bản năng tự nhiên và quên đi những tập tính bị con người thuần dưỡng khi nuôi nhốt. Dần dần chúng sẽ lấy lại bản năng hoang dã để thích ứng khi được thả về rừng”.
Nói đến đây, giọng anh Cường chùng xuống. Anh nói giờ không thể tìm đâu ra nơi an toàn để thả chúng về với môi trường hoang dã. “Chúng tôi từng khảo sát tất cả các cánh rừng Cát Tiên và phát hiện một số nơi có dấu vết của loài gấu cùng họ với số gấu đang được chăm sóc ở đây.
Về mặt tự nhiên, Cát Tiên là nơi gấu có thể sống được. Nhưng gần đây dấu tích của gấu tại khu vực này không còn nữa. Điều này cho thấy loài gấu đang bị săn bắt và truy lùng ráo riết. Phóng thích những cá thể gấu đang cứu hộ tại đây trong hoàn cảnh này chẳng khác nào đưa chúng vào chỗ chết. Vì vậy chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc cứu hộ nhân đạo, còn thả về tự nhiên thì… chưa biết đến bao giờ!” - anh Cường buồn bã nói. (Pháp Luật TPHCM 3/2)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Hoạt động buôn bán, vận chuyển gỗ lậu diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện Ba Tơ. (Nhân Dân 2/2)đầu trang(
2/2, CA huyện Bù Đốp cho biết đã lập biên bản bàn giao 2,5m3 gỗ cho Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp xử lý.
Trước đó, ngày 1/2, CA phát hiện tại nhà ông Nguyễn Văn Mừng - ngụ xã Thanh Hòa, Bù Đốp - có 2,5m3 gỗ xẻ, thuộc nhóm 2 không rõ nguồn gốc. (Lao Động 3/2)đầu trang(
Ông Phạm Thanh Lâm, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Quảng Nam cho biết, tình trạng khai thác, vận chuyển và mua bán trái phép lâm sản trong dịp Tết Nhâm Thìn 2012 trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể.
Trong dịp mở đợt cao điểm kiểm tra truy quét đối tượng khai thác, vận chuyển, mua bán trái phép lâm sản trên địa bàn Quảng Nam (trước, trong và sau Tết Nhâm Thìn), lực lượng kiểm lâm Quảng Nam đã phối hợp với các lực lượng chức năng tiến hành hàng trăm đợt tuần tra, ngăn chặn, truy quét các đối tượng, tụ điểm thường xảy ra khai thác, vận chuyển và mua bán trái phép lâm sản.
Theo đó đã phát hiện, bắt giữ 88 vụ với tang vật gần 20m3 gỗ tròn và gần 120m3 gỗ xẻ các loại; tạm giữ 12 xe ôtô, 10 xe máy, 2 xe bò, 30 săm xe ôtô và nhiều vật dụng khác. Hiện Chi cục kiểm lâm Quảng Nam đang hoàn thiện hồ sơ để xử lý các đối tượng, tang vật theo quy định của pháp luật.
Theo ông Phạm Thanh Lâm, những năm trước, do công tác triển khai tuần tra truy quét chậm và truy bắt “đầu ngọn” nên lâm tặc có thời gian khai thác tập trung gỗ lậu để tuồn về xuôi.
Năm nay kiểm lâm Quảng Nam đã thực hiện phương châm “ngăn chặn từ gốc,” đã bố trí lực lượng liên ngành ngăn chặn tại những điểm khai thác gỗ nên lượng gỗ lậu do đối tượng xấu khai thác đã giảm đáng kể. Bên cạnh đó, kiểm lâm Quảng Nam được công an tỉnh hỗ trợ, điều động 9 cán bộ, chiến sỹ công an tăng cường chốt tại các trạm là “điểm nóng” của 3 huyện Nam Giang, Phước Sơn và Đông Giang để có biện pháp xử lý kịp thời khi lâm tặc hung hãn tấn công kiểm lâm, nên đã hạn chế tình trạng lộng hành của lâm tặc.
Để hạn chế tình trạng khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn, Chi cục kiểm lâm Quảng Nam đã đề ra kế hoạch xử lý vùng trọng điểm xảy ra các vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng. Tại những huyện có rừng tự nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, các xã có rừng tự nhiên, Ủy ban Nhân dân các huyện phối hợp phát hiện ngăn chặn và xử lý kịp thời tình trạng khai thác gỗ làm nhà tại chỗ không đúng theo quy định.
Tại những địa bàn, tuyến đường trọng điểm về phá rừng, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản như khu vực lòng hồ thủy điện ĐăkMi 4 (huyện Phước Sơn), khu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh (huyện Bắc Trà My), khu vực giáp ranh giữa xã Trà Nam (Nam Trà My) và xã Ngọc Lây (tỉnh Kon Tum)… lực lượng liên ngành tiến hành khoanh vùng để ngăn chặn ngay từ đầu. (VietnamPlus.vn 3/2)đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, trên địa bàn thành phố hiện có gần 25.000 ha rừng. Trên thực tế, rừng ở Hà Nội phần lớn là rừng trồng có tầng thực bì dưới các tán rừng dày nên luôn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao.
Trước thực trạng đó, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho UBND các quận, huyện, thị xã kiện toàn các ban chỉ huy thực hiện các vấn đề cấp bách về bảo vệ rừng (BVR) và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); bên cạnh đó còn thành lập lực lượng BVR ở các thôn, bản. Nhờ đó, hiện nay trên địa bàn thành phố đang có 70 ban chỉ huy cấp bách về BVR&PCCCR, trong đó có 1 ban cấp thành phố; 7 ban cấp huyện; 60 ban cấp xã và 2 ban cấp chủ rừng. Ngoài ra, mỗi xã còn tổ chức 1-2 tổ cơ động PCCCR cấp thôn, bản.
Theo ông Đặng Đình Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, do rừng Hà Nội mới chỉ thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ, chưa thực hiện được giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp, chưa cắm mốc xác định ranh giới trên thực địa nên rừng chưa có chủ thực sự theo quy định của pháp luật. Đây là hạn chế lớn cho công tác BVR ở Hà Nội. (Tài Nguyên&Môi Trường 3/1; Hà Nội Mới 3/2)đầu trang(
Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết: Trong dịp Tết Nguyên đán, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường đã tổ chức kiểm tra hàng chục nhà hàng, quán nhậu để phát hiện những vụ tiêu thụ động vật hoang dã.
Qua kiểm tra, các loại động vật hoang dã trong các quán nhậu, nhà hàng đã giảm hơn trước nhiều. Tuy nhiên đoàn kiểm tra cũng phát hiện một số nơi chế biến món ăn, mua bán rùa, rắn, chim… Những thứ này chỉ có nhiều ở vườn Quốc gia U Minh Hạ.
Vườn Quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau) nằm trên địa giới hành chính của 4 xã: Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời; xã Khánh An, Khánh Lâm, huyện U Minh, với tổng diện tích 8.527ha, trong đó: Diện tích có rừng 7.639ha, trong đó có 1.600ha rừng tràm nguyên sinh, còn lại là rừng tràm tái sinh và rừng trám tự nhiên với tổng trữ lượng gỗ trên 250.000m3.
Đây là rừng tràm nguyên sinh, có Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vồ Dơi quản lý. Ngày 20-1-2006, Chính phủ ra Quyết định 112/TTg thành lập Vườn Quốc gia U Minh Hạ (UMH). Theo quyết định này, Ban Quản lý Vườn Quốc gia UMH được thành lập, với chức năng nhiệm vụ là bảo tồn và tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù, rừng tràm trên đất than bùn.
Bảo tồn và tái tạo nguồn gen của các loài động thực vật quý hiếm, cung cấp nguồn giống sinh vật tự nhiên cho toàn vùng. Sử dụng bền vững tài nguyên rừng, thủy sản và các sản phẩm khác của hệ sinh thái đất ngập nước để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của vùng. Bảo tồn các giá trị văn hóa, tinh thần, di tích lịch sử, bảo vệ khu dự trữ sinh quyển thế giới, góp phần giáo dục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông cho các thế hệ mai sau. Phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan, phát triển du lịch sinh thái và các hoạt động phát triển cộng đồng nông thôn.
Vườn Quốc gia UMH hiện nay có 79 loài thực vật. Động vật có 23 loài thú, 91 loài chim, 36 loài bò sát, 11 loài lưỡng cư và 37 loài cá nước ngọt. Các loài thú có nhiều ở đây gồm: Khỉ, lợn rừng, nai, chồn mướp, rùa, rắn, ba ba… Trước đây, lợn rừng, khỉ, voọc, cầy hương ở đây rất nhiều. Nhưng đến nay, số lượng các loài chim, thú và bò sát quý hiếm ngày càng ít dần. Những loại bị săn lùng nhiều nhất là heo rừng, kì đà, chồn mướp, rùa, rắn, các loại chim... V
ì lợi nhuận, các chủ nhà hàng, quán nhậu đã mua động vật hoang dã quí hiếm để cung cấp cho khách hàng. Dịch vụ tại các nhà hàng ăn uống cao cấp và đặc sản gia tăng với những quảng bá kèm theo nâng giá thu mua động vật rừng quý hiếm đang là sự khuyến khích nạn săn bắt chim, thú tại các vườn quốc gia, các khu rừng đặc dụng, đa dạng sinh học. Với đà này, không bao lâu, động vật hoang dã ở Cà Mau sẽ không còn. Các cơ quan chức năng, nhất là quản lý thị trường tỉnh Cà Mau cần sớm vào cuộc để tăng cường các biện pháp hữu hiệu bảo vệ động vật hoang dã quí hiếm.
Trước tình hình trên, Ban Quản lý Vườn Quốc gia UMH cần tăng cường công tác kiểm tra, bảo vệ tốt động vật hoang dã quí hiếm, trong đó có bảo vệ đàn lợn rừng đang sinh sống ở đây. Cái khó hiện nay là hàng nghìn hộ dân được khoán đất rừng và sản xuất, sinh sống ở vùng đệm Vườn Quốc gia UMH còn rất nghèo. Phương thức quản lý và tổ chức sản xuất chưa được chú trọng đúng mức, nhiều bất hợp lý chưa được tháo gỡ, dẫn tới tình trạng rất khó ngăn cấm và kiểm soát người dân vào rừng săn bắt các loài động vật. Một khó khăn nữa là kinh phí cho hoạt động của Ban Quản lý Vườn Quốc gia, kiểm lâm còn quá eo hẹp. Năm 2006, theo Quyết định 112/TTg của Chính phủ, kinh phí chi cho các hoạt động của Vườn Quốc gia UMH là 145 tỉ đồng. Nhưng đến nay, đã hơn 6 năm, Ban Quản lý Vườn Quốc gia UMH chỉ nhận được trên 20 tỉ đồng, chưa bằng một nửa con số lẻ của nguồn kinh phí đã được phê duyệt (!?).
Vừa qua, Đội Kiểm lâm cơ động và Đội Phòng cháy, Chữa cháy rừng số 1 phối hợp với Phòng Cảnh sát Môi trường (Công an tỉnh Cà Mau), tiến hành thả động vật hoang dã vào Vườn Quốc gia UMH. Lực lượng chức năng đã thả vào rừng 5 con cầy vòi hương. Mỗi con có trọng lượng từ 0,8 đến 1kg. Đây là loài động vật hoang dã quý hiếm được xếp vào nhóm cần được bảo tồn, cấm săn bắt, vận chuyển và buôn bán.
Số động vật quý hiếm này được nuôi nhốt trái phép tại nhà ông Trương Văn Điều, phường 6, thành phố Cà Mau. Trước đó, lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với Cảnh sát Môi trường thu giữ số cầy vòi hương nói trên. Thời gian tới, lực lượng kiểm lâm sẽ tăng cường phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ vi phạm mua bán, vận chuyển và nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép trên toàn tỉnh Cà Mau…
Hiện nay, ngành chức năng và cơ quan quản lý Vườn Quốc gia UMH đã trình phê duyệt kế hoạch đấu thầu khai thác lâm sản năm 2011; đôn đốc, làm việc các nhà thầu thi công tiến độ chậm và báo cáo với các cấp có thẩm quyền (Công ty Hưng Điền không thi công gói thầu số 28) để có biện pháp giải quyết theo quy định; tiếp tục kiểm tra tiến độ thực hiện thi công các công trình, nhắc nhở các nhà thầu thi công đẩy nhanh tiến độ hoàn thành sớm để đưa vào sử dụng.
Những biện pháp trước mắt nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, tài nguyên vốn rừng là: Tiếp tục hoàn chỉnh các văn bản để ban hành thực hiện Quy chế Văn hóa công sở, Quy chế làm việc Vườn Quốc gia UMH, Quy chế công tác văn thư lưu trữ; xây dựng Đề án Tổ chức hệ thống Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia UMH theo Nghị định số 117/NĐ-CP, ngày 20/12/2010 của Chính phủ về hệ thống rừng đặc dụng;
Thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp, Dự án đảm bảo đúng theo nguyên tắc tài chính qui định; lập phương án sản xuất khai thác, quản lý, sử dụng sản phẩm, dịch vụ dưới tán rừng để tăng thu nhập cho cán bộ, công nhân viên đơn vị, trình các cơ quan có thẩm quyền xin chủ trương và biện pháp chỉ đạo triển khai thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm ở đây. (Tài Nguyên&Môi Trường 2/2)đầu trang(
Năm 2011, huyện Bắc Yên đã dành gần 8 tỷ đồng giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ 18.110ha rừng.
Đến đầu tháng 1.2012, huyện đã ký hợp đồng với 2.251 hộ nhận khoán bảo vệ rừng trị giá trên 5 tỷ đồng; hỗ trợ 213 hộ trồng mới 300ha rừng phòng hộ; hỗ trợ giống cây trồng cho 123 hộ trồng 84ha sơn tra; tiếp nhận 71.000 cây giống lâm nghiệp của Tổng Công ty Giấy Việt Nam để giao các hộ trồng 177ha rừng sản xuất. (Nông Thôn Ngày Nay 3/2)đầu trang(
Từ cuối năm 2011 đến nay, rừng đồi, núi ở An Giang không xảy ra sự cố, coi như đạt được mục tiêu của đợt trước, trong và sau Tết Nhâm Thìn. Song, đây chỉ mới là giai đoạn đầu, đòi hỏi công tác bảo vệ rừng cần phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, khi mùa khô 2012 đi dần vào cao điểm và thời tiết diễn biến ngày càng bất lợi.
Tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên tiếp tục củng cố, duy trì và phát huy hiệu quả hoạt động mô hình “sản xuất nông – lâm kết hợp với bảo vệ rừng” do những chủ rừng tham gia trồng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng tại 34 ấp trên địa bàn đồi, núi.
Thực tế năm 2011, có 497 thành viên tham gia bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, đã luân phiên trực gác rừng thường xuyên trong suốt 5 tháng mùa khô, với khoảng 7.650 ngày công lao động, giá trị ước tính xấp xỉ 300 triệu đồng và tiết kiệm được cho ngân sách Nhà nước một khoản tiền thuê mướn lao động trực gác rừng.
Qua đó, cho thấy hiệu quả của công tác Khuyến nông – Khuyến lâm của Chi cục Kiểm lâm An Giang, tạo điều kiện để người nhận khoán trồng rừng, chăm sóc và quản lý rừng có thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống và gắn bó hơn với rừng.
Để nâng cao năng lực chữa cháy rừng, ngoài việc đầu tư hàng trăm bồn chứa nước lâm sinh kết hợp thì Chi cục Kiểm lâm An Giang còn xây dựng thêm hồ chứa nước tại Ô Cây Chương, 2 chòi canh lửa tại xã Lương Phi (huyện Tri Tôn) và An Cư (huyện Tịnh Biên), với tổng vốn hơn 1,1 tỷ đồng.
Ngành cũng đã trang bị 105 máy chữa cháy chuyên dùng, trên 4.000 dụng cụ các loại cho khu vực đồi, núi và đồng bằng. Các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ phòng cháy như: Xây dựng các tuyến băng trắng, chủ động đốt dọn dưới hình thức khoanh vùng cục bộ, đốt tạo vùng đệm, phát dọn chống cháy lan… luôn được chú trọng. Hoạt động phòng cháy chữa cháy rừng có sự thống nhất chỉ đạo, phối hợp từ tỉnh đến huyện và các xã, phường, thị trấn có diện tích rừng; trong đó, thể hiện vai trò nòng cốt là lực lượng Công an, Quân sự, Kiểm lâm và Biên phòng trong công tác chữa cháy.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh hiện có hơn 18.472 héc-ta, trong đó diện tích rừng hơn 12.948 héc-ta bao gồm rừng đồi núi và rừng tràm ở đồng bằng. Tổng diện tích xác định là “vùng trọng điểm cháy” khoảng 6.768 héc-ta, chiếm 68,28% so với diện tích có rừng (huyện Tri Tôn 3.933 héc-ta và huyện Tịnh Biên 2.735 héc-ta).
Các khu vực: Vĩnh Thượng (xã An Cư), Chà Và (thị trấn Tịnh Biên), Latina và Thalot (xã An Hảo), núi Nam Quy và Rò Leng- vách núi Dài (xã Châu Lăng), Tà Pạ (xã Núi Tô)… được xác định khu vực trọng điểm chặt phá rừng. Còn các địa bàn Khai Trường, An Cư và An Hảo, thị trấn Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên) và Tân Tuyến, Tà Đảnh, Vĩnh Gia (huyện Tri Tôn)… là những nơi xảy ra lấn chiếm đất lâm nghiệp. Khu vực trọng điểm mua bán gỗ và săn bắt động vật hoang dã như: Vĩnh Gia, An Nông, An Phú, Nhơn Hưng, thị trấn Tịnh Biên, Khánh An, Khánh Bình, rừng tràm Trà Sư…
Chi cục Kiểm lâm An Giang cho biết, các huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên và thị xã Châu Đốc đã tổng kết rút kinh nghiệm công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2011 và triển khai phương án năm 2012; đồng thời, rà soát, bổ sung các thành viên vào Ban Chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện.
Theo đó, 25 xã, phường, thị trấn có diện tích rừng đồi núi và đồng bằng trên địa bàn cũng đã xây dựng hoàn chỉnh phương án bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng năm 2012, với phương châm “4 tại chỗ” và quyết tâm “hạn chế thấp nhất các hại khi có sự cố xảy ra”. Đặc biệt, đề cao sự phối hợp và hiệp đồng của các lực lượng đứng trên địa bàn; tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức cổ động trực quan, phóng thanh lưu động và đài truyền thanh địa phương; sử dụng cả 2 thứ tiếng Việt và Khmer đối với các khu vực có đông đồng bào dân tộc.
Phát huy phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, dụng cụ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ), An Giang quyết tâm phòng cháy tốt, chữa cháy kịp thời và hiệu quả “hạn chế thấp nhất các thiệt hại do cháy rừng gây ra”. Đồng thời, tăng cường các biện pháp phòng chống chặt phá rừng và hạn chế thấp nhất các vụ việc vi phạm rừng phát sinh. (Báo An Giang 2/2)đầu trang(
“Trong tuần sau, chúng tôi sẽ họp dân, thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để khởi công làm hàng rào điện bảo vệ voi” - ngày 2/2, ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, nói.
Dự án hàng rào điện bảo vệ voi dài hơn 30 km sẽ được xây trong khu bảo tồn, thuộc xã Phú Lý và xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai), tổng vốn đầu tư gần 9 tỉ đồng, thời gian thực hiện từ năm 2012 đến 2014. Hàng rào có bốn đường dây điện, sử dụng nguồn điện pin mặt trời hoặc mạng lưới điện 220 V nhưng chỉ phát ra với cường độ 800-1000 V/10 mA gây giật, hoảng sợ nhưng không gây chết động vật và con người. Dọc hàng trào điện có gần 1.500 biển báo nguy hiểm và tám cửa (rộng 10-15 m) để lực lượng kiểm lâm và người dân có thể đi lại vào rừng.
Từ năm 2009 đến nay, có bảy voi rừng bị chết ở Đồng Nai, hiện còn khoảng 10 con. (Pháp Luật TPHCM 3/2)đầu trang(
Tạo điều kiện cho voi nhà sinh sản là điều cần tính tới, khi mà đàn voi Tây Nguyên đang dần mai một, và dự kiến 15- 20 năm nữa, sẽ không còn voi nhà nào trên “thủ phủ voi Việt Nam” này. Tuy nhiên, điều này không hề đơn giản, khi mà “không gian yêu” của “những người bạn lớn” ấy đang ngày một thu hẹp.
Một chiều mùa khô, tại vùng hồ Lak (huyện Lak, tỉnh Lâm Đồng). Voi Bék Khăm, chú voi to khỏe nhất Tây Nguyên bấy giờ, cùng cả đàn voi của chủ voi Đàng Năng Long kết thúc ngày chở khách tham quan du lịch. Nài voi Ybrâu có việc đi vội, gọi điện báo: “Cháu cột Bék Khăm ở bụi tre gần nhà, còn con H’Túc (voi cái, bạn của Bék Khăm) thì cột trên núi cao”.
“Không ổn rồi”, anh Long giật mình, chạy ra. Nhìn ánh mắt vằn đỏ, khóe mắt nổi bọt như xà phòng của Bék Khăm, anh nhắc nài mang ngay voi đực lên núi.
“Lên tới nơi, vừa cột xích xong thì Bék Khăm hất ngang chân nài, may mà không thương tích. Ngày hôm sau, 4 nài khác được cử lên núi, định gỡ voi về, cũng đều bị Bék Khăm đuổi đi. Chính chủ voi Đàng Năng Long lên núi, đứng phía sau gọi tên Bék Khăm. Voi quay ngoắt lại, đuổi anh liền. “Voi, khi được chủ gọi đúng tên, mà quay lại, xòe ngang tai ra chứ không vỗ tai là có chuyện rồi, không nên đến gần. Khi đuôi của nó chống lên là voi bắt đầu đuổi. Khi đó chỉ có chạy vắt chân lên cổ mới mong thoát chết”, anh Long cho biết.
Vậy là voi Bék Khăm vào mùa động dục. Xích đã cột chắc, anh Long đinh ninh cứ để voi đó, sau 7 ngày thì voi sẽ dịu đi. Không ngờ ngày thứ 6 thì voi dứt đứt xích, chạy mang theo cả đoạn xích sắt 28 m xuống khu dân cư, gây náo loạn một vùng.
“Nghe mọi người báo, mồ hôi tôi vã ra, lạnh người” - anh Long kể.
Ở Tây Nguyên, sợ nhất là mùa này. Con voi ngày thường hiền lành tới đâu, nhưng đã động dục, thì dữ dội và hung hãn, không thể lường được chuyện gì sẽ xảy ra. Chủ đến, voi cũng đuổi. Thậm chí, lực lượng công an, kiểm lâm được huy động cũng không khống chế nổi voi.
Quần thảo mấy ngày, sau rốt, chính chủ voi cùng 4 thợ bắt voi có kinh nghiệm phải cùng vào cuộc. Chân voi còn đoạn xích đứt, nhóm thợ lừa lấy được đầu xích, quấn vào cây to mong giữ được voi. Bék Khăm chống cự, xô cây to ngã luôn như xe ủi ủi đất. Xích được đưa qua cây thứ 2, quấn nhiều vòng thật chắc. Phải sau 10 ngày bị cầm chân, không được uống nước, mỗi ngày chỉ được ăn 5-6 thân cây chuối thì Bék Khăm mới nguôi ngoai. “Voi bắt đầu nhận biết chủ trở lại, con mắt nhìn mình trìu mến, bớt đỏ. Khi đó, Bék Khăm được tháo xích cho đi uống nước và cho ăn”- anh Long kể.
Voi thường động dục theo mùa, chủ yếu vào mùa khô. Quá trình động dục của những con voi đực to khỏe thường kéo dài dữ dội trong khoảng 10 ngày như vậy, con yếu hơn thì khoảng 7 ngày. Những con voi cái, nhu cầu sinh lý cũng theo chu kỳ. Có những voi cái không bạn tình, vào một số thời điểm nhất định, “tính tình” rất cắm cảu, khó chịu. Xưa ở Tây Nguyên có con voi cái kéo gỗ giỏi, mùa nước lớn lội băng băng qua sông Krông Nô, dù không voi nào qua được. Do đó, nó được gọi là con Tàu Bò, như cái xe tàu bò bọc thép lội nước. “Con voi đó được 126 tuổi. Nó không đẻ lần nào mà cũng không có bạn tình, nhiều lúc thấy tính khí nó thất thường, mình hiểu nỗi khổ của nó mà thương cho nó” – một chủ voi kể lại.
“Biết đặc điểm sinh học của voi để thông cảm cho voi, và để hiểu rằng khi voi không được đáp ứng nhu cầu tự nhiên, thì vật vã dữ dội thế nào” - anh Long phân tích.
Thương voi vật vã vì nhu cầu tự nhiên một, thì lo mười về đàn voi nhà mai một bởi ngày càng ít voi con được sinh ra – đó là tâm lý chung của các chủ voi ở Tây Nguyên hiện nay. Thông tin từ các chủ voi Tây Nguyên: Khoảng 20 năm trở lại đây, không có chú voi con nào được sinh ra từ voi nhà.
Xưa, đàn voi nhà thường được bổ sung từ nguồn voi sinh sản hoặc bắt từ rừng về. Ngày đó, xu hướng bắt từ rừng về nhiều hơn, vì có luật tục kiêng chuyện giao phối của voi, cho dù nếu nhà nào có voi cái sinh ra con thì lại rất mừng. Có nhiều lý do của việc kiêng giao phối, ngày nay, được lý giải là để tránh các nguy cơ có thể xảy ra: Thứ nhất, là nguy cơ xung đột. Ví dụ con đực thích con cái mà con cái không thích thì con cái sẽ bỏ đi. Con cái thích mà cứ bám mãi con đực nhưng con đực không thích thì có khi voi đực đánh con cái, gây thương tích. Lý do thứ 2 là nếu cho hai voi ở với nhau, quyến luyến quá thì voi sẽ lười làm việc; khi voi cái sinh nở cũng mất 3-4 năm chửa đẻ và nuôi con, không làm việc được. Lý do thứ 3 là khi giao phối, voi đực nếu quá to lớn hoặc có ngà thì hay làm tổn thương voi cái. Nếu phối giống mà không thành, có khi chủ voi cái còn... bắt đền vì voi đực làm voi cái bị thương.
“Nay, đồng bào đã thay đổi cách nghĩ và luật tục này rồi” – chủ voi Đàng Năng Long cho biết. Đối với người Tây Nguyên, con voi không chỉ là tài sản vật chất, mà còn là niềm tin tâm linh. Trước sự mai một của đàn voi nhà hiện nay, không chỉ các chủ voi, mà mọi người dân đều trăn trở và chấp nhận chuyện cho voi giao phối, sinh sản.
Tuy nhiên, đến lúc này thì lại gặp những rào cản: Trước hết là khó tìm kiếm một khoảng không gian đủ rộng và riêng tư để voi tìm hiểu bạn tình và giao phối. “Voi khác các động vật khác ở chỗ: Không phải cứ có con đực – con cái là có thể giao phối. Voi kết đôi có lựa chọn. Phải từ 10 -20 con thì chúng mới tìm hiểu, lựa chọn được bạn tình, từ đó mới giao phối, sinh con” – anh Đàng Năng Long cho biết. Do đó, cần khoảng 5- 10 ha rừng, mà phải là rừng tự nhiên, đa dạng các loài thực vật để đảm bảo sinh hoạt hàng ngày của một đàn voi (mỗi con voi, mỗi ngày cần khoảng 150 kg thức ăn, 160- 300 lít nước và muối khoáng). Rừng trồng, thường chỉ một vài loài cây, và chủ yếu trồng một loại cây trồng chính để lấy gỗ, không phù hợp với thói quen ăn uống cần tới khoảng 100 loại cây củ lá rễ khác nhau của voi.
Thêm vào đó, khi voi giao phối, chúng cần một không gian trống trải, yên tĩnh, riêng tư, rộng khoảng vài trăm mét vuông. Lý do: Khi giao phối, voi lâm vào tư thế hớ hênh, không thể tự vệ. Nếu có voi đực khác hoặc con vật khác thì chúng không an toàn. Vì thế voi đực bao giờ cũng đuổi hết các con vật khác trong không gian này, và cả con người.
“Nhưng, nay thì rừng núi đâu còn chỗ? Thả voi ra, có khi mất đuôi, mất ngà, mất cả mạng voi” - anh Long than.
Thực ra, ngay tại Đắk Lắk vẫn còn những diện tích rừng tự nhiên có thể đáp ứng được các yêu cầu của một “vườn sinh sản voi” như vậy. Cách trung tâm huyện Lak khoảng 16 km có Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka. “Nhưng nếu mình thả voi vào, ai trông nom?”- anh Long trần tình.
Thời gian giao phối tự nhiên, không xiềng xích thả trong rừng của voi là khoảng 3 tháng, ảnh hưởng tới thời gian làm việc của voi nhà. Lý do kinh tế này cũng là một rào cản với việc tạo điều kiện cho voi nhà sinh sản. “Thái Lan mỗi năm trả cho chủ voi một số tiền, để đến mùa voi sinh sản thì thả vào rừng tự nhiên cho voi tìm bạn tình, như vậy có lẽ phù hợp” - một số chủ voi cho biết.
Và đây là rào cản nữa: Con voi rất giá trị. Voi đực giá 700- 800 triệu đồng tới 1 tỷ đồng; voi cái cũng 300- 400 triệu đồng. Bảo hiểm voi chưa có, nên dù nếu có khu “quy hoạch sinh sản” e rằng ít có ai dám nhận giữ khối tài sản lớn như vậy, khi mà những kẻ săn trộm, cắt trộm đuôi luôn rình rập. Thêm vào đó voi thuộc diện động vật quý hiếm, thuộc diện quản lý của Nhà nước, khi di chuyển phải xin phép. Mỗi lần cho voi “đi sinh sản”, lại cần giấy tờ, thủ tục phức tạp, liệu các chủ voi có mặn mà?
“Mỗi dịp tụ họp, mọi người lại vun vào, động viên tôi đứng ra chủ trì tạo một không gian sinh sản cho voi. Bản thân tôi cũng đã tìm được một số Mạnh Thường Quân, sẵn sàng hỗ trợ” - anh Đàng Năng Long, người sở hữu nhiều voi nhất Tây Nguyên hiện nay (9 con) cho hay. “Tôi cũng trăn trở trước giải pháp này. Nếu Nhà nước cho tư nhân mượn một khoảng rừng phù hợp thì là điều lý tưởng nhất. Tất nhiên, phải lựa chọn những cá nhân có điều kiện đầu tư, có uy tín và thực sự tâm huyết, có cam kết với Nhà nước; đồng thời Nhà nước phải tiến hành kiểm tra thường xuyên và có cơ chế phạt nặng nếu chủ vườn lấy lý do “mượn rừng” này để xâm hại rừng.
“Tuy nhiên, tôi vẫn chưa mạnh dạn, bởi có điểm còn mâu thuẫn: Cho tư nhân đứng ra tổ chức “không gian yêu” cho voi là hợp lý, bởi giao vào tay tư nhân thì quy mô nhỏ, không tốn bộ máy cồng kềnh với kinh phí lớn. Nhưng, điều này lại kèm theo cái khó: Người được giao rừng có thể không vi phạm cam kết xâm hại rừng, nhưng khó có thể kiểm soát các lực lượng khác, nhất là khi lâm tặc luôn lăm lăm cưa, đục” – anh Long tâm sự.
Luẩn quẩn trong những khó khăn này, một “không gian yêu” của voi vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Trong khi đó, đàn voi nhà Tây Nguyên vẫn mai một từng ngày. (Tin Tức Xuân Nhâm Thìn, tr42)đầu trang(
Không nóng bỏng say đắm như tình sử Vua Voi Ama Kông, nhưng chuyện đời của người đàn ông buôn voi xuyên biên giới có nhiều chi tiết thú vị.
Trong 11 người con của ông Đàng Nhảy chỉ có cậu con trai thứ tư tên Đàng Năng Long là người duy nhất kế thừa nghề nuôi và buôn voi từ bốn đời trước truyền lại. Sở hữu tới 8 con voi trong đó có con trị giá bạc tỉ, anh Long hiện là chủ đội voi nhà lớn nhất Việt Nam và là giám đốc Du lịch Hồ Lắk- một trong những chi nhánh của Cty Cổ phần Du lịch tỉnh Đắk Lắk, suốt ngày tíu tít với những cuộc gọi đặt tua du lịch trên lưng voi.
Dù bận đến mấy, suốt mùa đông Tân Mão anh Long vẫn dành nhiều thời gian điều khiển nhân lực dựng căn nhà sàn dài trông ra mặt hồ rộng mênh mông, dự kiến trước tết Nhâm Thìn khánh thành sẽ tổ chức đoàn viên đại gia tộc, gặp gỡ toàn bộ con cháu dâu rể và … lần đầu tiên tạo dịp hội ngộ cùng lúc cả 3 bà vợ từng gắn bó với người cha đã quá cố.
Chỉ khung nhà sàn với giàn cột gỗ dài tít tắp, anh Long trầm ngâm : Dẫu bề thế vậy, nó vẫn chưa rộng bằng căn nhà lớn kế thừa từ ông ngoại mà mình được sống thời thơ ấu ở buôn Ja!
Ngôi nhà lớn buôn Ja thuộc xã Bông Krang rộng khoảng hai trăm mét vuông, đầm ấm suốt hai thập kỷ sáu, bảy mươi, thời kỳ phát đạt nhất trong nghề buôn voi của ông Đàng Nhảy. Tại đó, ông Nhảy sống cùng bà Hai - bà Nguyễn Thị Nghĩa người Kinh quê Bố Trạch, Quảng Bình và đội nài voi thân tín. Thỉnh thoảng, vợ Cả- bà Hán Thị Sen người Chăm cũng đưa các con từ thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu (Ninh Phước, Ninh Thuận) mang quà đồng bằng lên cho mẹ con bà Hai. Cả hai bà đều hiền lành, ít nói, chẳng xích mích với nhau bao giờ.
Cậu con trai thứ ba của bà Cả tên Quân sinh cùng năm với cậu con trai đầu lòng của bà Hai tên Long. Những đứa con của hai bà vợ sàn sàn như trứng gà trứng vịt, gắn bó với nhau bằng đủ thứ trò vui thôn dã, lần chia tay nào cũng quyến luyến không muốn rời. Năm 1975, khi bà Cả sinh đứa con thứ 8, gái út, cũng là lúc người đẹp mang quốc tịch Lào tên Sao Thong Chăn, vốn là đồng nghiệp buôn voi ưng thuận trở thành vợ Ba của ông Nhảy. Bà Ba không có con, thường ghé thăm bà Hai và chăm sóc giúp đỡ các con chồng.
Ngộ nghĩnh, trong bộ tứ 1 ông 3 bà đó, người nhiều tuổi hơn cả lại chính là cô vợ út họ Sao sinh năm 1923, tuổi ít nhất là bà Cả sinh năm 1938. Ông Nhảy nhỏ hơn vợ Ba tới 7 tuổi, còn bà Hai kém bà Ba chẵn mươi xuân. Tuy nhiên với nhan sắc xinh đẹp rạng ngời, trí tuệ sắc sảo và bản chất phóng khoáng rộng lượng, bà Ba luôn được đại gia đình chồng yêu quý tôn trọng. Mấy chục con người sống quanh ông chủ hộ họ Đàng suốt hàng chục năm vẫn giữ được hòa khí tốt lành.
Rồi 11 người con với 2 bà vợ đầu của ông Nhảy lần lượt lớn lên, đi học xa. Bà Cả về Ninh Thuận, bà Hai chuyển ra thị trấn Liên Sơn. Ông Nhảy ở nhà bà Sao tại buôn AlêA nội thành Buôn Ma Thuột để tiện thực hiện các hợp đồng buôn voi, tặng voi mang tính ngoại giao cho Nhà nước. Sau chuyến đưa voi sang tặng Cuba năm 1985, ông Nhảy lâm bệnh qua đời. Bà Sao cô độc trở về Buôn Đôn sống với mấy cô con gái nuôi. Nhà Lớn buôn Ja vắng vẻ tàn tạ dần, giờ chỉ còn trong ký ức…
Thị trấn Liên Sơn nằm hướng ra hồ Lắk, hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tỉnh Đắk Lắk, lớn thứ hai Việt Nam sau hồ Ba Bể, với diện tích mặt hồ mùa xuân rộng khoảng 500 hecta, còn mùa mưa hồ dâng ngập cả cánh đồng Lắk mênh mông không thấy bến bờ. Giữa đồng còn những hàng cây đánh dấu vị trí hơn nửa thế kỷ trước đã được chọn lập “Sở Kinh tượng” để nuôi đội voi hơn 40 con cho Cựu Hoàng Bảo Đại. Trên ngọn đồi gần đó, năm 1940, Cựu hoàng cho xây tòa Biệt điện kiến trúc đẹp để mỗi khi về Lắk, từ cửa sổ Biệt Điện ngắm bao quát cánh đồng Kinh tượng, buôn Jun có đàn voi lững thững từ rừng về trong nắng gió cao nguyên.
Đàng Năng Long sinh trưởng bên hồ Lắk, thông thạo nhiều ngôn ngữ của đồng bào bản địa. Lớn lên, anh loay hoay đủ nghề nhưng dù làm gì, ở đâu, tiếng gầm của voi vọng về từ hàng cây Kinh tượng vẫn choán đầy tâm trí khiến lòng bứt rứt không yên. Anh bàn với người thân trong họ chung vốn mua voi về nuôi, kinh nghiệm chăm voi học từ những quản tượng từng chăn voi cho Cựu Hoàng. Những năm chín mươi thế kỷ trước, huyện Lắk vẫn còn nhiều voi, chuyên để kéo gỗ cho đồng bào làm nhà hoặc cày ruộng, trả công bằng lúa. Voi cái hiếm khi đẻ, voi đực nuôi mới có lãi vì cứ 3 năm lại cho cưa ngà, mỗi lần cưa được 6-8 ký, bán cho thương lái đến cân tại chỗ được 4-5 lượng vàng.
Anh Long gom vàng bán ngà tiếp tục góp vốn mua bán voi. Bầy voi của anh ngày càng đông thêm. Danh sách thống kê lập tháng 3-2011 cho thấy trong 21 con voi huyện Lắk, anh Long sở hữu 5 con. Nhưng đến cuối năm 2011, anh Long đã là chủ của 8 con. Mỗi con voi đều có quản tượng và nài voi riêng chăm sóc suốt đêm ngày, được tổ chức đầy đủ các lễ nghi vòng đời theo luật tục như lễ đặt tên, lễ nhập buôn, thậm chí cả… lễ cưới! Người tổ chức cưới cho voi, rồi voi lại đi rước dâu trong lễ vu quy cho cô chủ nhỏ.
Tháng Giêng năm 2010, Họa Mi con gái đầu lòng của anh Long vừa tốt nghiệp đại học cưới chồng, được cha mẹ đôi bên đồng lòng tổ chức một lễ đưa dâu độc đáo “không đâu sánh bằng”, bằng đám rước dâu vui nhộn trên lưng 20 con voi, hình ảnh độc quyền từ báo Tiền Phong đã loan đi gây chấn động, nóng bỏng trên vô số báo mạng.
Cắt cử các tua Voi đưa du khách dạo chơi qua hồ xong, anh Long chạy về nhà thăm mẹ, nhờ vợ tiếp tục tìm trong kho tư liệu gia đình những thư từ và ảnh chụp từ nửa thế kỷ trước, rải rác nối tới bây giờ, chuẩn bị cho cuộc đoàn viên đầu xuân mới.
Bà Nghĩa mẹ anh Long tuổi 78 vẫn nhanh nhẹn minh mẫn, khi nghe hỏi mẹ có mong gặp lại bà Cả với bà Ba không, bà cười móm mém: Được đoàn tụ cả đại gia tộc để cùng thắp nén hương tưởng nhớ ông Nhảy trong căn nhà mới bên hồ Lắk, với đàn voi chật sân, thì còn gì bằng! (Tiền Phong Xuân Nhâm Thìn, tr47)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Năm Căn (Chi cục Kiểm lâm Cà Mau) chiều 2-2 cho biết vừa tịch thu, tiêu hủy 350kg sâm đất do bà Nguyễn Kim Hương (trú xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn, Cà Mau) mua trái phép từ những hộ dân sống ven rừng phòng hộ Năm Căn, trên đường mang đi tiêu thụ.
Bà Hương còn bị Hạt Kiểm lâm huyện Năm Căn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 3 triệu đồng. Trước đó, Hạt Kiểm lâm huyện Đầm Dơi cũng phát hiện, tịch thu và tiêu hủy 300kg sâm đất do ông Nguyễn Văn Đẹp (ngụ ấp Hố Gùi, xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn) thu mua trái phép.
Theo cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau, trên thị trường đồn thổi sâm đất chữa được bệnh hen suyễn, tăng cường sinh lực... nên nhiều thương lái ở TP.HCM tìm về vùng ven biển Cà Mau mua với giá cao. Để bắt được sâm đất, một bộ phận cư dân sống bám rừng đã lén đào phá rừng khiến nhiều vạt rừng phòng hộ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. (Tuổi Trẻ 3/2)đầu trang(
Gốc cây có chiều cao 51cm, đường kính chỗ lớn nhất là 67cm, khối lượng khoảng gần 200kg; có các vân gỗ, thớ gỗ với nhiều hoa văn đẹp.
Đây là gốc cây hóa thạch được gia đình ông Lê Văn Bảy, ở thôn Thọ Nghĩa, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước (Bình Định) phát hiện cách đây hơn một tháng; khi con trai ông đào cát làm đường, ở độ sâu năm mét, bên bờ sông Hà Thanh, thuộc khu vực xã Canh Vinh, huyện Vân Canh.
Tiến sĩ Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng tổng hợp tỉnh Bình Định bước đầu nhận định, nếu xếp theo tuổi địa chất (Kỷ Toàn tân) thì gốc cây hóa thạch này có niên đại khoảng hơn 10 nghìn năm.
Theo PGS.TS Lê Xuân Cảnh, Viện trưởng Tài nguyên sinh vật (Viện KH và CN Việt Nam), sắp tới Viện sẽ cử cán bộ vào phối hợp với Bình Định để kiểm tra, thẩm định lại một cách chuẩn xác hơn. (Nhân Dân 3/2)đầu trang(

PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm qua, được Chi cục lâm nghiệp và Sở NN&PTNT thẩm định phê duyệt, huyện Quỳ Hợp đã chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp, các BQL dự án 147-661 và nhân dân trên địa bàn trồng mới đạt gần 1.420 ha rừng; Tổ chức khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ trên 80.000 ha.
Để tổ chức trồng rừng đạt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra ngay từ đầu năm, Quì Hợp đã chủ động chỉ đạo nhân dân xử lý thực bì, phát dọn hiện trường bảo đảm trồng rừng đúng thời vụ khi điều kiện thời tiết thuận lợi. Các ban quán lý chủ động liên hệ giống, phân bón, làm mới và tu sửa đường giao thông, tạo điều kiện cho nhân dân vận chuyển giống, phân bón phát triển trồng rừng.
Năm 2012, Quỳ Hợp phấn đấu trồng rừng đạt kế hoạch đề ra, và ngay từ tết trồng cây đầu xuân này, huyện đã phát động cán bộ, nhân dân tập trung ra quân trồng cây. (Theo Đài PT – TH Nghệ An 3/2)đầu trang(
Huyện Phù Ninh là một trong những địa phương có phong trào trồng cây, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tích cực góp phần cải tạo môi trường, phát triển kinh tế với những mô hình trang trại chuyên canh cây cảnh, cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trồng cây đã trở thành phong trào rộng khắp ở các địa phương, tầng lớp nhân dân trong huyện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện môi trường. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây huyện đã triển khai tốt công tác rà soát, quy hoạch phát triển các loại rừng; xây dựng chiến lược và triển khai kế hoạch phát triển lâm nghiệp của huyện cho từng giai đoạn; tăng cường liên kết với nhà máy giấy Bãi Bằng, xây dựng được nhiều mô hình điểm trong sản xuất giống cây trồng, phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến giấy trên địa bàn.
Cùng với đó, huyện đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, do vậy diện tích rừng và chất lượng rừng trồng hàng năm được nâng lên; đa dạng sinh học và vốn rừng ngày càng được cải thiện; môi trường sinh thái được bảo vệ, góp phần cùng toàn tỉnh hoàn thành các mục tiêu trồng mới rừng tập trung, chăm sóc, nuôi dưỡng, khoanh nuôi tái sinh, trồng cây lâm nghiệp phân tán và nâng độ che phủ rừng của toàn tỉnh lên 49%. Đáng chú ý, trong phong trào trồng cây, trồng rừng, đã xuất hiện nhiều mô hình, tấm gương sáng, đem lại giá trị hiệu quả kinh tế cao được các cấp uỷ đảng và chính quyền ghi nhận, biểu dương.
Năm 2011, Phù Ninh được đánh giá là một trong những huyện thực hiện tốt kế hoạch trồng cây, trồng rừng, đặc biệt là việc tổ chức trồng cây đầu xuân Tân Mão. Kết quả trồng rừng sau khai thác theo dự án bảo vệ và phát triển rừng đạt 85,3 ha, bằng 100% kế hoạch. Đưa tổng diện tích rừng hiện có của toàn huyện lên trên 3.225 ha, độ che phủ rừng đạt 48%; sản lượng gỗ khai thác trong năm đạt 6.981m3. Ngoài trồng rừng sau khai thác theo dự án bảo vệ và phát triển rừng, các địa phương trong huyện đã phát động nhân dân tận dụng triệt để đất trống để trồng trên 98.000 cây phân tán.
Có thể khẳng định, phong trào trồng cây, trồng rừng ở Phù Ninh nhiều năm qua đã có nhiều tác dụng thiết thực trong việc góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Từ những lợi ích đem lại nên phong trào trồng rừng đã được nhân dân trong huyện tham gia và hưởng ứng tích cực. Tuy nhiên, do đặc thù đất đai không tập trung nên việc trồng rừng ở Phù Ninh khó thực hiện trên những diện tích lớn, mặt khác do vốn đầu tư của nông dân thấp nên hạn chế tới việc đầu tư thâm canh, đẫn đến sản lượng khai thác thấp.
Cùng với nhân dân trong tỉnh, đầu xuân Nhâm Thìn năm nay, nhân dân trong huyện Phù Ninh lại nô nức tham gia Tết Trồng cây. Theo kế hoạch, năm nay huyện sẽ thực hiện trồng lại 100 ha rừng sau khai thác theo dự án bảo vệ và phát triển rừng; khoán bảo vệ rừng phòng hộ 76 ha. Ngoài việc trồng rừng, huyện cũng tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ 85,3ha rừng mới trồng năm thứ nhất.
Những xã không thuộc dự án bảo vệ và phát triển rừng, huyện sẽ vận động, hướng dẫn nông dân trồng mới cây nguyên liệu giấy trên những diện tích đất hoang hoá, ven vở, diện tích đã khai thác cây bạch đàn qua từ 2-3 chu kỳ; đồng thời tổ chức trồng cây bóng mát, cây lấy gỗ ven các trục đường, trường học, nơi công cộng như trụ sở làm việc, nhà văn hoá khu, khu dân cư…nhằm tạo cảnh quan môi trường và khai thác triệt để tiềm năng đất. Phấn đấu toàn huyện sẽ hoàn thành trồng mới từ 20.000 cây trở lên trong vụ xuân 2012.
Theo sự chỉ đạo của huyện, tất cả các xã đều xây dựng kế hoạch trồng cây và lựa chọn loại cây trồng phù hợp trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất trồng rừng vụ xuân và trồng rừng nguyên liệu giấy của chính xã mình. Sau khi hoàn thành trồng đều được giao cho tổ chức, đoàn thể, cá nhân, có trách nhiệm chăm sóc để cây sinh trưởng tốt, không để tình trạng cây chết hoặc kém phát triển.
Đại diện phòng NN và PTNT huyện Phù Ninh cho biết: Để việc trồng cây, trồng rừng đạt kết quả cao, đến nay huyện đã đảm bảo đủ số lượng, chất lượng cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng cả năm 2012. Nếu thời tiết thuận lợi, toàn huyện sẽ hoàn thành kế hoạch trồng cây, trồng rừng theo đúng tiến độ đề ra. Ngoài việc hoàn thành kế hoạch, huyện cũng sẽ có những biện pháp để cây trồng sinh trưởng đạt chất lượng cao. (Báo Phú Thọ 2/2)đầu trang(
2/2, tại trường THCS thị trấn Kỳ Sơn, Ban chỉ đạo phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực huyện Kỳ Sơn đã tổ chức lễ phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Nhâm Thìn 2012.
Với mục đích, ý nghĩa "Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân", việc tổ chức trồng cây đầu năm là hoạt động thường xuyên của các cấp, ngành trong huyện, qua đó tiếp tục tuyên truyền, giáo dục và nâng cao ý thức của các em học sinh, các trường học trong việc tham gia Tết trồng cây và công tác trồng cây, gây rừng. Việc làm lợi ích này tạo cho môi trường, cảnh quan nơi ở, làm việc, đường phố, khu dân cư, trường học thêm xanh, sạch, đẹp.
Ngay sau lễ phát động, đại diện các sở, ngành và hàng trăm học sinh, thầy, cô giáo hai trường tiểu học và THCS thị trấn Kỳ Sơn đã tham gia trồng cây tại khuôn viên nhà trường, mở đầu cho phong trào trồng cây xuân Nhâm Thìn 2012 của huyện.
Tại trường tiểu học, THCS Tân Phong, Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT huyện Cao Phong đã tổ chức phát động “Tết trồng cây” trong các đơn vị, trường học. Đồng chí Bùi Ngọc Dảo, Phó giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh, các phòng chức năng thuộc Sở, cùng đông đảo các em học sinh, thầy cô giáo 2 trường đã tham gia.
Như vậy, đầu năm Nhâm Thìn 2012, ngành GD&ĐT tỉnh đã chọn 3 điểm làm nơi phát động Tết trồng cây trong toàn ngành (trường CĐSP, phòng GD&ĐT Kỳ Sơn và phòng GD&ĐT Cao Phong), coi đây là một tiêu chí trong xếp loại, đánh giá thi đua của các trường, các phòng trong năm học 2011-2012. Được biết, theo đăng ký tại các phòng GD&ĐT huyện, thành phố, cũng như của các trường THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên, gần 100% các đơn vị đều tổ chức “Tết trồng cây”. (Báo Hòa Bình 2/2)đầu trang(
Mục tiêu của tỉnh Kon Tum là đến năm 2015 trồng được 500ha sâm Ngọc Linh (trong đó diện tích thu hoạch khoảng 100ha với sản lượng trên 40 tấn).
Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum Nguyễn Văn Hùng cho biết, tỉnh đã phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của tỉnh đến năm 2020, trong đó xác định sâm Ngọc Linh là 1 trong 9 sản phẩm chủ lực.
UBND tỉnh sẽ giao và cho thuê rừng và đất lâm nghiệp để Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum đầu tư phát triển sâm Ngọc Linh tại huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum với tổng diện tích tự nhiên trong khu vực điều tra là 5.036,8ha (trong đó diện tích trồng sâm Ngọc Linh 1.770,1ha). (Nông Nghiệp Việt Nam 3/2)đầu trang(
Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đặt mục tiêu thời kỳ 2011-2020, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 40 tỷ USD; giá trị sản lượng trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp bình quân 70 triệu đồng.
Theo đó, Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) phải theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền vững của nền nông nghiệp.
Một số chỉ tiêu cụ thể đặt ra là cơ cấu ngành nông lâm thủy sản đến năm 2020 nông nghiệp chiếm 64,7%, lâm nghiệp 2%, thủy sản 33,3%.
Giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân từ 3,5 - 4%/năm; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4,3 – 4,7%/năm. Độ che phủ của rừng đạt 44-45% vào năm 2020. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 40 tỷ USD, trong đó nông nghiệp 22 tỷ USD, lâm nghiệp 7 tỷ USD, thủy sản 11 tỷ USD. Giá trị sản lượng trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp bình quân 70 triệu đồng.
Tầm nhìn năm 2030, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng lên 60 tỷ USD và giá trị sản lượng trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp đạt bình quân 100-120 triệu đồng.
Để đạt các mục tiêu trên, định hướng sẽ khai hoang mở thêm đất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản từ năm 2011-2020 khoảng 1,1 triệu ha, trong đó có 37.000 ha cho trồng lúa.
Đồng thời, bảo vệ quỹ đất lúa ổn định từ năm 2020 là 3,812 triệu ha. Đầu tư công suất chế biến lúa gạo công nghiệp đạt 25 triệu tấn/năm; giảm tổn thất sau thu hoạch lúa còn 5 - 6%; cải thiện chất lượng gạo xuất khẩu. Đến năm 2015, giá trị gia tăng của gạo xuất khẩu tăng 10-15% so với hiện nay do các tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Đối với lâm nghiệp, bố trí diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2020 khoảng 16,2-16,5 triệu ha, tăng khoảng 879 ngàn ha so với năm 2010. Tổ chức lại ngành công nghiệp chế biến gỗ để cân đối giữa năng lực sản xuất và nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định. Khuyến khích xây dựng cơ sở sản xuất, chế biến tổng hợp gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ; đẩy mạnh chế biến ván nhân tạo và bột giấy, giảm dần chế biến và xuất khẩu dăm giấy. Đến năm 2020, tổng công suất gỗ xẻ đạt 6 triệu m3 /năm.
Về thủy sản, định hướng xây dựng các vùng nuôi công nghiệp đối với các đối tượng nuôi chủ lực như: cá tra, tôm sú, tôm chân trắng, nhuyễn thể, cá biển, cá rô phi. Về chế biến thủy sản, lượng hàng hóa xuất khẩu đạt 1,55 triệu tấn vào năm 2015 và tăng lên 1,9 triệu tấn vào năm 2020, tăng công suất chế biến từ 6,5 ngàn tấn/ngày lên 10 ngàn tấn/ngày.
Bên cạnh đó, bố trí ổn định diện tích sản xuất muối 14,5 nghàn ha, sản lượng 2 triệu tấn; trong đó muối công nghiệp 8,5 nghàn ha, sản lượng 1,35 triệu tấn. (Chinhphu.vn 3/2)đầu trang(
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cửa khẩu Lệ Thanh, Gia Lai, trong tháng 1, hơn 800m3 gỗ nhóm I, chủ yếu là gỗ hương trắc, trị giá gần 1,2 triệu USD được nhập từ Campuchia về VN.
Từ sau Tết nguyên đán, mỗi ngày có gân 1.000 tấn sắn lát nhập về VN qua cửa khẩu Lệ Thanh, tăng gấp đôi cùng kỳ năm ngoái. (Tiền Phong 2/2)đầu trang(
Nhằm quy hoạch một số vùng nuôi chim yến trên địa bàn TP, UBND TPHCM vừa giao Sở NN-PTNT thu thập thông tin và tài liệu về nghề nuôi chim yến tại Việt Nam. Đồng thời, tổ chức học tập kinh nghiệm từ các địa phương làm tốt việc quản lý, phát triển nghề nuôi chim yến.
Ngoài ra, TP sẽ tổ chức đoàn đi tham quan học tập kinh nghiệm về công tác quản lý Nhà nước đối với nghề nuôi chim yến tại một số nước trong khu vực, tổ chức hội nghị sơ kết thí điểm việc nuôi chim yến trên địa bàn huyện Cần Giờ.(Người Lao Động 3/2)đầu trang(
Quảng Ninh có gần 427.400ha đất đồi núi, chiếm trên 70% diện tích đất đai tự nhiên của toàn tỉnh, với ưu thế của tỉnh miền núi, ven biển, khí hậu ẩm rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển các loài cây lấy gỗ, lấy nhựa như thông nhựa, thông mã vĩ, keo, bạch đàn...
Đặc biệt với đặc thù điều kiện lập địa trên diện tích đất đồi núi của tỉnh rất thích hợp với các loài cây gỗ quý, đặc sản, các loài cây mang tính bản địa. Dù là tỉnh miền núi nhưng giao thông đi lại giữa các vùng sản xuất trên địa bàn tỉnh lại khá dễ dàng và thuận tiện. Cung đường vận chuyển sản phẩm từ nơi trồng đến nơi tiêu thụ ngắn, không chỉ lợi thế về các cửa khẩu xuất khẩu sản phẩm mà còn có thị trường tiêu thụ nội địa tốt vì là địa phương được Chính phủ quy hoạch vùng trồng rừng gỗ mỏ cung cấp cho ngành Than. Đây là những điều kiện hậu thuẫn khá tốt cho sự phát triển nghề rừng trên địa bàn.
Theo tiến sĩ Hoàng Công Đãng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT: Với sự phân bố về điều kiện tự nhiên, đặc thù khí hậu phân biệt thành 2 khu vực khá rõ nét nên đất đai của tỉnh có thể phát triển trồng được rất nhiều loại cây lâm nghiệp, như khu vực miền Tây ngoài trồng các loài cây lấy gỗ còn là vùng lập địa tốt nhất cho phát triển loài thông nhựa.
Đặc biệt tại khu vực đồi núi của Đông Triều và Yên Tử (Uông Bí) khi khảo sát điều kiện lập địa các nhà khoa học nhận thấy đây là khu vực có điều kiện khí hậu và lập địa rất tốt cho trồng các loại cây gỗ quý hiếm, các loại cây bản địa mà các địa phương cùng ở khu vực miền núi phía Bắc không có được. Khu vực miền Đông với khí hậu ẩm rất tốt cho quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây lấy gỗ như thông, keo, bạch đàn.
Và trên thực tế quá trình phát triển nghề rừng của tỉnh trong những năm qua đã chứng minh điều kiện lập địa của tỉnh với kết quả điều tra của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ, năm 1992 độ che phủ rừng Quảng Ninh chỉ mới 11,9% đến năm 1998 độ che phủ rừng Quảng Ninh đã tăng lên 38%, năm 2011 độ che phủ rừng Quảng Ninh trên 52%, bình quân mỗi năm Quảng Ninh trồng mới được 9.900ha.
Để tạo điều kiện cho phát triển nghề rừng trên địa bàn, trong những năm qua tỉnh đã có rất nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ như rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, khuyến khích đầu tư phát triển nghề rừng, rà soát việc sử dụng đất của các công ty lâm nghiệp quốc doanh để có sự điều chỉnh phù hợp...
Đặc biệt phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước triển khai thực hiện nhiều dự án trồng rừng như: Dự án trồng rừng PAM (4304; 5322), Việt - Đức, bảo vệ môi trường, nguyên liệu, phòng hộ ven biển... chế biến và tiêu thụ sản phẩm gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh và các địa phương lân cận. Vì vậy trong những năm qua đã trồng được gần 30.000ha rừng các loại, tạo cho hàng ngàn hộ dân có việc làm.
Cùng với thu hút các nhà đầu tư tham gia vào phát triển trên lĩnh vực lâm nghiệp, tỉnh cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm từ rừng về thủ tục hành chính, đảm bảo thông thoáng tạo điều kiện cho chủ rừng trong việc tiêu thụ sản phẩm. Và đặc biệt chú trọng công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến lâm với hàng 100ha mô hình trồng rừng thâm canh bằng giống nhập nội, hàng năm tỉnh đã đầu tư từ 500-600 triệu đồng cho nghiên cứu ứng dụng khoa học và sản xuất nông - lâm nghiệp để nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học trong việc tạo cây giống mô, hom có năng suất, chất lượng cao phục vụ cho các chương trình trồng rừng, các giống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái ở địa phương.
Cùng với đó đầu tư trồng được 17,4ha rừng giống thông nhựa (bằng cây ghép); chuyển hoá được 15ha rừng thông nhựa, tuyển chọn được hơn 100ha rừng thông mã vĩ và một số diện tích cây đặc sản khác như hồi, quế... Chính vì vậy đối với một số loài cây bản địa, đến nay về cơ bản Quảng Ninh đã đáp ứng được nguồn hạt giống để cung ứng cho các chương trình trồng rừng trên địa bàn tỉnh và hoà nhập vào mạng lưới cung cấp giống Quốc gia.
Cũng theo khảo sát của các cơ quan chuyên môn thì hiện nay diện tích đất trống, đất chưa có rừng của Quảng Ninh còn nhiều, với ưu thế cả về điều kiện đất đai, khí hậu, giao thông, thị trường tiêu thụ, việc đầu tư phát triển nghề rừng trên vùng đất này chính là đầu tư cho nguồn “vàng xanh”. (Báo Quảng Ninh 3/2)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Voi và có thể là cả tê giác sẽ được đem về nuôi ở Australia nhằm ngăn chặn sự phát triển ngày càng mạnh của một loại cỏ châu Phi, vốn bị coi là nguyên nhân gây ra những vụ cháy rừng trong thời gian qua ở nước này.
Ông David Bowman, giáo sư về biến đổi khí hậu của trường Đại học Tasmania, cho biết: "Có những nghiên cứu cho thấy sự phát triển mạnh của một loại cỏ châu Phi ở miền Nam Australia là nguyên nhân dẫn tới những vụ cháy rừng. Loại cỏ đó quá lớn cho những loài như kangaroo hay bò song đây là loại thức ăn ưa thích của voi và tê giác."
Tuy vậy, ông Bowman cũng cho rằng việc đưa voi sang Australia nuôi để diệt cỏ là một ý tưởng không hợp lý vào lúc này.
Giáo sư Bowman cho rằng: "Để kiểm soát sự phát triển của loài cỏ này, chúng ta có thể nghiên cứu sử dụng thử các chất hóa học. Nếu mang tới voi và tê giác, chúng ta có thể làm xáo trộn môi trường sống của những loài vật bản địa". (VietnamPlus.vn 2/2)đầu trang(
Một bộ trưởng Pháp tuyên bố hơn 100 nước đã tán thành ý tưởng thành lập Tổ chức Môi trường Thế giới (WEO) mà Paris đề xuất.
“Hơn 100 nước đã ủng hộ đề xuất của Pháp”, bà Nathalie Kosciusko-Morizet, Bộ trưởng Sinh thái, Phát triển bền vững, Giao thông và Nhà ở Pháp, phát biểu trong một hội nghị tại Paris hôm 31/1, AFP đưa tin.
Hội nghị tại Paris được tổ chức để các nước đề xuất ý kiến cho sự kiện kỷ niệm 20 năm hội nghị về môi trường và phát triển do Liên Hợp Quốc tổ chức tại thành phố Rio de Janeiro của Brazil vào năm 1992. Vài trăm đại biểu của các chính phủ, viện nghiên cứu và tổ chức xã hội trên khắp hành tinh đã tham gia hội nghị tại Paris.
Một tài liệu do bà Kosciusko-Morizet công bố cho thấy hơn 30 nước châu Âu, 54 nước châu Phi, Thái Lan, Malaysia, Nepal, Chile và Uruguay đã ủng hộ đề xuất của Pháp.
Ý tưởng của Pháp là Tổ chức Môi trường Thế giới (WEO) sẽ hỗ trợ Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), một cơ quan mà giới phân tích phàn nàn là không đủ khả năng giải quyết các vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất như biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ozone, ô nhiễm và chặt phá rừng.
Không chỉ là một cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, WEO sẽ có thẩm quyền thực thi các tiêu chuẩn môi trường quốc tế. Hệ thống tổ chức của nó sẽ bao gồm các cơ quan, chi nhánh và doanh nghiệp ở khắp nơi trên thế giới.
Phát biểu trước các phóng viên, bà Kosciusko-Morizet thông báo Mỹ vẫn chưa ủng hộ đề xuất thành lập Tổ chức Môi trường Thế giới.
“Tuy nhiên, chúng ta đã vượt qua sự khác biệt giữa hai bán cầu bắc và nam trên phương diện số lượng quốc gia”, bà nói.
Nữ bộ trưởng nói WEO nên có thêm chức năng của một cơ sở nghiên cứu kinh tế thế giới, nhờ đó các nước sẽ tìm ra các cơ chế để tăng lợi nhuận kinh tế mà vẫn đảm bảo được hai việc: bảo vệ môi trường và duy trì công bằng xã hội.
“Chủ nghĩa tư bản mới đang lộ diện từ khủng hoảng kinh tế và nó phải là một hệ tư tưởng hướng tới môi trường. Nếu hệ tư tưởng đó không hướng tới môi trường, nó chẳng có gì mới”, bà tuyên bố. (Vnexpress.net 2/2)đầu trang(
Hạ viện Brazil ngày 15/1 vừa qua đã thông qua lệnh cấm của bộ luật lâm nghiệp Brazil theo các chuyên gia, nếu quốc gia này không nghiêm ngặt ngay từ bây giờ, một diện tích rừng rộng lớn ở Amazone có thể sẽ bị phá huỷ bởi nạn chặt phá rừng.
Vấn đề căng thẳng vẫn đang gia tăng: Trong những tuần gần đây, một số nhà hoạt động môi trường cấp cao ở quốc gia rộng lớn này tiếp tục bị sát hại. Những thông tin ban đầu cho thấy, bọn khai thác gỗ lậu đã thuê người dọa dẫm, ám sát, giết hại họ một cách dã man và họ bị bắt buộc phải im lặng.
Các nhà chức trách kêu gọi cần phải có những hành động mạnh tay cần thiết ngay bây giờ. Họ từng giữ im lặng trước những lời chỉ trích thậm tệ từ nhiều phía khi dự luật đang được thảo luận tại Thượng nghị viện. Tuy nhiên, khi ấy, nữ Tổng thống Dilma có quyền phê chuẩn những thay đổi trên nếu đất nước có thể thuyết phục bà vượt qua những áp lực chính trị và thực hiện đúng vai trò của một nhà lãnh đạo thực sự về các vấn đề môi trường.
79% người dân Brazil mong muốn Tổng thống Dilma phủ quyết những thay đổi trong Luật lâm nghiệp này, và tiếng nói từ các nhà hoạt động môi trường của đất nước rộng lớn nhất Mỹ Latin đang gặp phải thách thức từ các nhà vận động hành lang. Vì vậy, các nhà hoạt động môi trường phải huy động các biện pháp để ngăn chặn những người vận động hành lang đang cố thuyết phục chính phủ phủ quyết những thay đổi trong Luật lâm nghiệp lần này.
Các thành viên trong nhóm Avaaz (một tổ chức dân chủ gồm các thành viên đến từ châu Âu, Trung Đông và châu Á thành lập năm 2007 nhằm thu hẹp khoảng cách nhận thức, địa vị giữa các công dân trên thế giới) đang kết hợp lại, thực hiện một cuộc vận động lớn để chấm dứt hành động giết người và chặt gỗ trái phép cũng như bảo vệ tài nguyên rừng của Brazil bằng việc ký vào đơn kiến nghị - sẽ được chuyển tới bà Dilma khi có được 500.000 chữ ký.
Rừng của Brazil rộng lớn và rất quan trọng. Riêng rừng Amazone là không thể thiếu đối với sự sống trên trái đất- cung cấp 20% oxy và 60% nước sạch cho hành tinh chúng ta. Và vì thế, việc bảo vệ cánh rừng này là rất cần thiết.
Đó là lý do tại sao nhiều người coi Brazil là nhà tiên phong trong các vấn đề môi trường, và đó cũng là lý do tại sao Hội nghị thượng đỉnh trái đất, với mục đích ngăn chặn quá trình diệt vong của môi trường hành tinh sẽ được tổ chức tại Rio de Janeiro vào năm tới.
Bên cạnh vấn đề cần giải quyết trên, quốc gia này cũng đang đối mặt với vấn đề phải đưa hàng chục triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo. Và áp lực còn nằm ở khía cạnh khác khi các nhà lãnh đạo muốn thực hiện khai phá rừng để khai thác khoáng sản nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khi điều này diễn ra, sẽ dẫn tới hậu quả, các nhà lãnh đạo chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt mà không quan tâm tới môi trường.
Hiện giờ chỉ có thể trông chờ vào các thành viên của nhóm Avaaz đưa ra những yêu cầu, các nhà chính trị phải có những quyết sách cụ thể trước nguy cơ trên.
Trước đó, đã có những hướng giải quyết. Nguyên Tổng thống Lula, người tiền nhiệm của bà Dilma, đã tích cực trong công tác ngăn chặn nạn chặt phá rừng, khiến Brazil nổi tiếng là nước dẫn đầu trong vấn đề về bảo vệ môi trường. Trong hoàn cảnh hiện nay, các công dân Brazil phải đoàn kết lại để cho bà Dilma đáp lại lời thỉnh cầu.
Ba năm trước, các thành viên nhóm Avaaz đã tới Brazil với những sáng kiến và đã thực hiện được các chiến dịch toàn diện để đem đến những kết quả to lớn mà tất cả mọi người đều mong đợi. Tổ chức trên đã có những bước đi ngoạn mục trong việc thực thi những phê chuẩn của Luật Phòng chống tham nhũng và vận động hành lang để Chính phủ Brazil có vai trò lãnh đạo trong Liên Hiệp Quốc, bảo vệ quyền con người, và can thiệp vào để giúp đỡ các vấn đề dân chủ tại Trung Đông, và thậm chí giúp bảo vệ quyền con người tại châu Phi và các khu vực khác.
Hiện nay, tất cả các thành viên Avaaz trên khắp thế giới kêu gọi toàn cầu hãy bảo vệ rừng. Tổ chức cũng kêu gọi cùng nhau tạo ra một cuộc vận động để có Luật Lâm nghiệp quốc tế và khi ấy, Brazil lại một lần nữa là quốc gia tiên phong thực sự trong vấn đề về môi trường. (An Ninh Thế Giới 3/2)đầu trang(
Cuộc giải cứu 2 sư tử con vào cuối năm 2011 đã làm nổi bật vấn đề buôn lậu động vật hoang dã và hủy hoại sinh thái nghiêm trọng ở châu Phi, đặc biệt là Somali. Ngay cả chính quyền Cộng hòa Dân chủ Congo cũng tuyên bố bất lực trước cuộc chiến chống săn lậu loài khỉ đột ở quốc gia Trung Phi này.
Cuối tháng 12/2011, hai sư tử con được phát hiện và giải cứu trên chiếc tàu neo ở cảng Mogadishu của Somali và sau đó chúng được đưa đến khu bảo tồn đời sống hoang dã ở Nam Phi. Đây là 2 món hàng buôn lậu để cung cấp cho thị trường thú cưng ở vùng Vịnh Arập.
Tiến sĩ địa lý sinh vật Osman Gedow Amir, Chủ tịch của Tổ chức Phát triển Nông nghiệp hữu cơ Somali (SOADO) cho biết nạn buôn lậu động vật hoang dã diễn ra tại Somali và nhu cầu nuôi thú cưng của các quốc gia Vùng Vịnh được cho là cao nhất, sau đó mới đến khu vực Viễn Đông.
Theo nghiên cứu của Osman Amir, loài động vật bị buôn lậu phổ biến hơn sư tử là các loài chim săn mồi quý hiếm như kền kền, đại bàng. Còn người châu Á thường chọn nuôi phần nhiều là loài bò sát như rắn hay tắc kè hoa.
Theo đánh giá của Osman Amir, giá thị trường năm 2011 của 2 sư tử con Grumpy và Scar là vào khoảng 1.000 USD mỗi con. Đây là nghề kinh doanh bất hợp pháp mang lại lợi nhuận béo bở, nạn buôn lậu đang giết hại nhiều quần thể động vật hoang dã và có thể dẫn đến sự tuyệt chủng một số loài đặc hữu địa phương.
Nhưng không chỉ có động vật bị tiêu diệt hàng ngày mà hệ sinh thái Somali cũng đang bị hủy hoại do nhu cầu xuất khẩu một lượng lớn than củi sang các quốc gia Vùng Vịnh. Theo báo cáo của nhóm nhà điều tra Liên Hiệp Quốc, than củi được coi là "vàng đen" đối với nhóm phiến quân Hồi giáo Al Shabaab của Somali.
Con người chính là mối đe dọa lớn nhất của sư tử châu Phi, và theo các chuyên gia loài này có thể sẽ biến mất trong hoang dã trong khoảng chưa đến 10 năm nữa. Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc, quần thể sư tử hoang dã châu Phi đã từ 450.000 con tụt xuống còn chừng 20.000 con trong vòng 50 năm qua, chủ yếu do môi trường sống của chúng bị phá hủy hay bị săn lậu để giết bán bội tạng hoặc cung cấp cho thị trường thú nuôi.
Giới săn lậu sư tử châu Phi chủ yếu là người Mỹ, và liên minh các nhóm bảo vệ đời sống hoang dã kiến nghị Bộ Nội vụ Mỹ đưa sư tử vào danh sách những loài thú quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Điều đó có nghĩa là việc nhập khẩu những hàng hóa liên quan đến sư tử sẽ bị cấm. Jeff Flocken, Giám đốc Quỹ Quốc tế bảo vệ và chăm sóc động vật (IFAW) đặt trụ sở chính ở Washington, cho biết vào giữa những năm 1998 và 2008, 64% trong số 5.663 con sư tử hoang dã châu Phi bị săn lậu để đưa sang Mỹ.
Trong khi đó họ thường chọn săn sư tử đực. Mà theo Dereck và Beverly Joubert - 2 nhà làm phim của National Geographic - những con sư tử đực đầu đàn bị bắn chết sẽ dẫn đến cái chết của nhiều sư tử khác do cuộc chiến tranh giành ngôi vị lãnh đạo bầy đàn bùng nổ.
Theo cảnh báo của giới quan chức bảo vệ đời sống hoang dã, nạn buôn lậu khỉ đột con - mỗi con có giá đến 40.000 USD - cũng đang đe dọa các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Năm 2011 được coi là năm săn lậu khỉ đột hoang dã kỷ lục nhằm cung cấp cho thị trường đang có nhu cầu tăng cao về khỉ đột con. Loài khỉ đột núi châu Phi đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Theo số liệu thống kê, trên thế giới hiện nay chỉ còn lại khoảng 790 khỉ đột núi - trong đó khoảng 480 con sống trong khu Công viên Quốc gia bảo tồn động vật hoang dã Virunga (thuộc lãnh thổ của 3 quốc gia - Cộng hòa Dân chủ Congo, Rwanda và Uganda) và chỉ trên 300 con ở Uganda.
Loài khỉ đột tại những vùng thấp ở phía đông châu Phi còn nhiều song chúng thường sống bên ngoài những khu vực được bảo vệ nên quần thể cũng đang giảm dần. Emmanuel de Merode, Giám đốc Công viên Quốc gia Virunga cho biết, cơ quan bà hết sức lo ngại về thị trường tiêu thụ khỉ đột con đang đà tăng trên thế giới dẫn đến sự lan rộng hoạt động buôn lậu nguy hiểm tại những vùng đất phía đông CHDC Congo nằm dưới sự kiểm soát của phiến quân.
Theo bà Merode, việc bắt giữ 4 con khỉ đột con trong thời gian chưa đầy một năm là hiện tượng cao bất thường nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng khi chỉ một số nhỏ tội phạm bị bắt do chính quyền Congo thiếu kinh phí.
Một khỉ đột con được giải cứu ngày 6/10/2011 khi đội cán bộ kiểm lâm giả làm người có nhu cầu mua khỉ đến từ tỉnh Kirumba gần ranh giới phía tây của Công viên Quốc gia Virunga. Trong chiến dịch bí mật, nhóm kiểm lâm đã tiếp xúc và đồng ý giá mua con khỉ đột sống vùng đất thấp chỉ mới 1 tuổi rưỡi từ nhóm 3 người thợ săn lậu.
Christian Shamavu, người chỉ huy chiến dịch bí mật, cho biết rất có thể khỉ mẹ và những con khỉ đột khác đã bị giết chết vì khó mà giành được khỉ con từ gia đình của nó cho dù nhóm thợ săn lậu không bao giờ thừa nhận điều này.
Cảnh sát Rwanda phát hiện một khỉ đột con sống vùng núi từ tay bọn thợ săn lậu định buôn lậu nó qua biên giới vào tháng 8/2011. Những con khỉ này nói chung đều bị suy kiệt sức khỏe. Nhiều khỉ con mang thương tích khắp mình mẩy do bị trói, một số con bị bệnh, suy dinh dưỡng và hung tợn khác thường do thường xuyên tiếp xúc với bọn tội phạm.
Trước tình hình này, chính quyền CHDC Congo cho biết, họ không thể xác định được điểm đến cuối cùng của khỉ đột con hay những ai đứng đằng sau hoạt động buôn lậu bởi thiếu kinh phí hay thẩm quyền để tiến hành những cuộc điều tra đến nơi đến chốn.
Tuy nhiên, theo Ian Redmond - Chủ tịch Tổ chức Bảo tồn loài khỉ Ape Alliance - có lẽ Trung Đông là thị trường hàng đầu tiêu thụ khỉ đột con, dù thiếu bằng chứng có sức thuyết phục. Còn nhà làm phim điều tra Karl Ammann khẳng định hàng chục con khỉ đột và hàng trăm con tinh tinh bị buôn lậu từ Cameroon qua đường Nigeria đến Ai Cập. (An Ninh Thế Giới 2/2) đầu trang(./.